1. Trang chủ
  2. » Mẫu Slide

Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2009 và những vấn đề cơ bản: Phần 1

20 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thòi, việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước củng sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ thông qua việ[r]

Trang 1

TS ĐINH TRUNG TỤNG

(Chủ biên)

NHỮNG VẤN OẼ Cơ BẢN CỦA

LUẬT TRÁCH NHIỆM

BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

NÃM 2009

NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP

HÀ NỘI - 2009

Trang 2

❖ CHỦ BIÊN

TS Đinh Trung Tụng - Thứ trưỏng Bộ Tư pháp

- PG S TS Dương Đăng Huệ - Vụ trưỏng Vụ Pháp luật Dân

sự - Kinh tê'

- TS Nguyễn Văn Tuân - Tổng biên tập Tạp chí dân chủ và pháp luật

- ThS Nguyễn Thanh Tịnh - Phó Vụ trưỏng Vụ Pháp luật Dân

sự - Kinh tế

- ThS Lê Minh Phương - Chuyên viên Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế

Trang 3

LỜI GIỚI THIỆU

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2009 tại kỳ họp thứ 5, Quổc hội Khóa XII và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng

1 năm 2010 Đây là đạo luật có ý nghĩa quan trọng, lần đầu tiên quy định một cách đồng bộ, chặt chẽ về quyền yêu cầu

và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thưòng thiệt hại do cán

bộ, công chức gây ra trong khi thi hành công vụ Đồng thòi, việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước củng sẽ góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ thông qua việc xác định rõ việc phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do hành vi trái pháp luật của ngưòi thi hành công vụ

và xác dịnh trách nhiệm hoàn trả của họ Chính vì vậy, Luật này có tác động rất lốn đến người dân và các cán bộ, công chức nhà nước

Đế giúp bạn đọc kịp thời tìm hiểu đạo luật này, Nhà xuất ban Tư pháp phối hỢp với Vụ pháp luật Dân sự - Kinh

tê Bộ Tư pháp đã tổ chức biên soạn cuốn sách ^^Những vâ n

đ ề cơ b ả n của L u ậ t T rách n h iệm bồi th ư ờ n g của N h à nước n ă m 2009" Cuốn sách đươc biên soan bởi nhóm

Trang 4

chuyẻn gia đã trực tiếp tham gia vào quá trình soạn thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc!

Hà Nội, tháng 9 /2009

NHÀ XUẤT BẢN T ư PHÁP

Trang 5

Phần thứ nhất

CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT

VỂ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỬNG CỦA NHÀ NưACm

7

Trang 7

I TÌM HIỂU VẾ LUẬT TRÁCH NHIỆM BỔI THUỞNG CỦA NHÀ Nước

1 Sự cán Uilết, mục tiêu ban hành vằ quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Trách nhiệm bốl thường của Nhà nước

/ 1 Sự phát ữỉểtt eáa pháp luật rểừách ahiệm bổỉ nưiaig cùa cơ Quan nhà nước nua các gia! đoạn

Chê định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan

nhà nước đôi vói các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nưốc gây ra trong khi thi hành công vụ đã được xác lập từ lâu ở nước ta Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp

năm 1959 vối việc quy định tại Điêu 29; “Người bị thiệt hại

về hành vi vi phạm pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước có quyền được hồi thường".

Hiến pháp nám 1980 khẳng định pháp luật bảo hộ tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân bên cạnh việc xác định mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử

lý nghiêm minh và người bị thiệt hại có quyền đưỢc bồi

thường (Điều 70 và Điều 73).

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 1980, Điều 24

Bộ luật Tô" tụng hình sự năm 1988 quy định: “Cơ quan đả

làm oan phải khôi phục danh dự, quyền lợi và bồi thường cho người bị thiệt hại Cá nhân có hành vi trái pháp luật

Trang 8

Miữngĩái đế ca bản cùa Luật Trăcli nhiệm bôilM iiw của Nhà iMitonẽm 2009

thì tùy từng trường hỢp mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hỉnh sự'.

Hiến pháp năm 1992 tiếp tục khẳng định nguyên tắc

“Mọi hoạt động xâm phạm lợi ích Nhà nước uà lợi ích hợp

pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật" (Điều 12),

nhưng đã phân biệt hai loại trách nhiệm, trách nhiệm của

cơ quan tiến hành tô" tụng và trách nhiệm của các cơ quan

nhà nưốc khác: Điều 72 quy định trách nhiệm của cơ quan

tô tụng, theo đó, ngưòi bị bắt, bị giam giữ, bị truy tô, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự Ngưòi làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tô, xét xử gây thiệt hại cho người

khác phải bị xử lý nghiêm minh Điều 74 quy định trách

nhiệm của các cơ quan nhà nước khác, theo đó, mọi hành

vi xâm phạm quyền và lợi ích hỢp pháp của tập thể và của công dân phải được xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại

có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự Trên cơ sỏ nguyên tắc chung của Hiến pháp năm 1992 như

đã nêu trên, Bộ luật Dân sự đã quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tô' tụng gây ra tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 1995 như sau:

'"Cơ quan tiến hành tô tụng phải bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của minh gáy ra trong khi thi hành công vụ; trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tô xét

xử và thi hành án.

Trang 9

PhẳillMÌíiaấÌ Các quy định ptiáp hiệt vế trách nhiệm M i llMÒnB CM

Cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm yêu cầu người

đã gây ra thiệt hại phải hoàn trả khoản tiền mà minh đã bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của pháp luật, nếu người có thảm quyền đó có lỗi trong khi thi hành công vụ”.

Cụ thế hoá quy định của Bộ luật Dân sự, ngày 03/5/1997 Chính phủ đã ban hành Nghị định sô 47/CP về giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, ngưòi có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tô tụng gây ra

Ngay sau khi Nghị định sô 47/CP ra đòi, để quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Nghị định sô" 47/CP, các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nưốc trong lĩnh vực có liên quan đă ban hành nhiều văn bản hưóng dẫn, cụ thể là: Ngày 04/6/1998, Ban Tố chức - Cán bộ Chính phủ (nay là

Bọ Nội vụ) đã ban hành Thông tư so 54/1998/TT-TCCP hướng dẫn thực hiện một sô" nội dung Nghị định sô" 47/CP;

ngày 30/3/1998 Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số

38/1998/TT-BTC hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách nhà nước cho bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức, ngưòi có thẩm quyền của cơ quan nhà nước, cơ quan tiến hành tô tụng gây ra

Trong những năm gần đây vấn đê bồi thường thiệt hại cho ngưòi bị oan đo người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng gây ra đưọlc Đảng ta đặc biệt quan tâm, cụ thể: Chỉ thị

s ố 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị chỉ rõ “ cùng với việc phát hiện và chú trọng giải quyết kịp thời các vụ án

có dấu hiệu oan, sai, cần khẩn trương nghiên cửu xây dựng

11

Trang 10

Nhùng vấh đẽ ca bán của ũiệtĩrảch nhiệm bốì Illin g cúa Nhà iMiÉî năm 2009

cơ chế, chính sách đê bồi thường thiệt hại với các trường hỢp

bị oan, sai do cơ quan tiến hành tố tụng gãy ra " Nghị

quyết sô 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị vê

một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thòi gian

tới đã yêu cầu Khẩn trương ban hành và thực hiện nghiêm túc các văn bản pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với những trường hỢp oan, sai trong hoạt động tô tụng".

Quán triệt đầy đủ yêu cầu Chỉ thị số 53-CT/TW và Nghị quyết so 08-NQ/TW, ngày 17/3/2003, u ỷ ban thường

vụ Quổc hội đã ban hành Nghị quyết số 388/2003/NQ- ƯBTVQHll bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người

có thẩm quyền trong hoạt động tô tụng gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị quyết sô" 388)

Ngày 25/3/2004, Viện kiếm sát nhân dân tôi cao, Toà án nhân dân tốì cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng

và Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 01/2004/TTLT-

VKSÑDTC-BCA-TANDTC-BTP-BQP-BTC hưóng dẫn việc

thực hiện Nghị quyết số 388 (sau đây gọi tắt là Thông tư sô'

01) Ngày 13/5/2004, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tôì cao đã ban hành Chỉ thị sô 04 vê việc triển khai thi hành

Bộ luật Tô" tụng hình sự và yêu cầu Viện kiểm sát các cấp tiến hành tổng rà soát lập danh sách những người bị oan thuộc trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát nhâii dân Tiếp đó, ngày 28/Õ/2004, Viện kiểm sát nhân dân tôl cao đã

có văn bản hướng dẫn Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phô" trực thuộc trung ương thực hiện việc tổng rà soát; ngày 01/6/2004, đã có hướng dẫn thống nhất mở sổ thụ

Trang 11

Ptiẩhlhứ nhất Các quy định pháp luậlvẩfrảch nhiệm bối B iiiờ n g cú allià i^

lý vụ việc giải quyết đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người bị oan và hưóng dẫn vê các trình tự, thủ tục giải quyết bồi thưòng; Toà án nhân dân tôi cao đã ban hành

Công văn số 72/2004/KHXX ngày 21/4/2004 hướng dẫn cụ

thể hơn vê thẩm quyền và các thủ tục bồi thưòng của ngành

toà án theo quy định của Nghị quyết số 388; Bộ Công an đã

ban hành Thông tư số 18/2004/TT-BCA ngày 09/11/2004 hưóng dẫn bồi thường thiệt hại cho các trường hỢp bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô" tụng hình sự thuộc Công an nhân dân gây ra

Ngày 26/11/2003, tại kỳ họp thứ 4, Quôc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tô tụng hình sự năm 2003, sửa đổi, bố sung một cách cơ bản, toàn diện các quy định tô" tụng hình

sự của nưóc ta cho phù hỢp với yêu cầu của thực tiễn Bộ luật Tô" tụng hình sự năm 2003 đã tiếp tục ghi nhận quyển được bồi thưòng thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan tại Điều 29 như sau:

“Người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tô' tụng hình sự gây ra có quyền đưỢc hồi thường thiệt hại

và phục hồi danh dự, quyền lợi.

Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tô'tụng hình sự

đã làm oan phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự quyền lợi cho người bị oan; người đã gày thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật".

Bộ luật Dân sự năm 2005 thay thê Bộ luật Dân sự năm

13

Trang 12

1995 đã tiếp tục ghi nhận trách nhiệm bồi thưồng thiệt hại của cán bộ, công chức và ngưòi có thẩm quyền của cơ quan

tô tụng, cụ thể:

- “Cơ quan tổ chức quản lý cán bộ, công chức phải bồi

thường thiệt hại do cán bộ, công chức của m ình gây ra trong khi thi hành công vụ.

Cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức có trách nhiệm yêu cầu cán bộ công chức phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu cán bộ, công chức có lỗi trong khi thi hành công vụ"(Điều 619).

- “Cơ quan tiến hành tố tụng phải bồi thường thiệt hại

do người có thẩm quyền của minh gây ra khi thực hiện nhiệm vụ trong quá trinh tiến hành tố tụng.

Cơ quan tiến hành tô tụng có trách nhiệm yêu cầu người

có thăm quyền đã gây thiệt hại phải hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật, nếu người có thẩm quyền

có lỗi trong khi thi hành nhiệm vụ'' (Điều 620).

Ngày 18 tháng 6 năm 2009, Quốc hội nưóc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội Khóa XII Việc Quốc hội ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nưóc là một sự kiện quan trọng,

có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, bảo vệ các quyền

Trang 13

PliẳHĩiứntiấtCáciiiiyđỊrtiiHiápluậtvếừảcti nhiệm Hối IhiiờngcúaMiànưác

và lợi ích hỢp pháp của cá nhân, tố chức bị thiệt hại, đồng thòi góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ỏ nước ta hiện nay

ỉ.2 Sự Cần Uilết ban tiàah Luậ! Trách nhiệm bùì ỉhưừig của Nhà nưác a) Việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm góp phần thực hiện nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đã đề ra

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm, có tính chiến lược của Đảng và Nhà nước ta hiện nay là xây dựng Nhà nưóc pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

mà một trong những yêu cầu cơ bản của nhà nưóc pháp quyền là phải tôn trọng và bảo đảm các quyền của công dân, trong đó có quyền được nhà nước bồi thường thiệt hại

do công chức của mình gây ra trong khi thi hành công vụ

Đê thực hiện nhiệm vụ này, trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nưóc ta đã ban hành nhiều nghị quyết có liên quan đến việc xây dựng pháp luật để thực hiện trách nhiệm bồi thường của mình đối với các thiệt hại gây ra trong một sô" lĩnh vực hoạt động nhạy cảm, nhất là trong

hoạt động tô" tụng hình sự, cụ thể là Chỉ thị số 53/CT-TƯ

ngày 21/3/2000 của Bộ Chính trị về một sô công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm

2000, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 cua Bộ Chính trị về một sô" nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thòi gian tối đã yêu cầu Mói đây, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X đã tiếp tục yêu cầu: Các cơ

15

Trang 14

Nlaing vail đấ cơ iiản cua Luật nlilệin Mil ihưBng GÚa Nhà imớc năm 2B09

quan có thẩm quyền phải đền bù thích đáng cho công dân

và doanh nghiệp về những thiệt hại cả danh dự và vật chất

do những quyết định trái pháp luật gây ra ” Đặc biệt,

Nghị quyết sô" 48/NQ-TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị

về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thốhg pháp luật đến năm 2010, định hưóng đến năm 2020 đã yêu cầu khẩn trương ban hành Luật về bồi thường nhà nước Việc ban hành đạo luật này sẽ góp phần hoàn thiện một cách cơ bản

cơ chê pháp lý để người bị thiệt hại có thể bảo vệ tốt hơn các quyền, lợi ích hỢp pháp của mình, đồng thòi nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ các quyền đó như một biểu hiện của Nhà nước pháp quyền mà Đảng ta đang chủ trương xây dựng

bj Việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà

nước nhằm thiết lập một cơ chế pháp lý mới, đồng bộ, hiệu quả, góp phần bảo vệ một cách tối hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị công chức nhà nước gây thiệt hại

Trước khi Luật Trách nhiệm bồi thưòng của Nhà nước được ban hành, ở nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước đốỉ vói các thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra trong khi thi hành công

vụ Hệ thống này gồm những văn bản chủ yếu sau đây:

- Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001);

- Bộ luật Dân sự năm 1995 (được thay thế bằng Bộ luật Dân sự năm 2005);

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w