1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TIÊU LUẬN TRIẾT HỌC, QUAN HỆ BIỆN CHỨNG CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

15 103 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 47,78 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, vấn đề ô nhiễm môi trường đang là chủ đề nóng trên các mặt báo và nhận được rất nhiều sự quan tâm của người dân. Trong đó, vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị đặc biệt là ô nhiễm không khí ở Hà Nội đã và đang ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn. Không khí sạch là không thể thiếu đối với con người trong sinh hoạt và sản xuất mà hiện nay tại thủ đô Hà Nội nguồn sống đặc biệt quan trọng này đang ô nhiễm ở mức báo động. Do vậy, cần có những giải pháp cấp thiết cho vấn đề ô nhiễm không khí nghiêm trọng này tại Hà Nội hiện nay. Với tính cấp thiết trên nên em chọn đề tài nghiên cứu là: “ Vận dụng mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng để phân tích vấn đề ô nhiễm không khí tại Hà Nội hiện nay”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cách đây hàng nghìn năm, Nho giáo đã được hình thành ở Trung Quốc và nhanh chóng được truyền bá ra nhiều nước khác nhau, trong đó có Việt Nam Trải qua một khoảng thời gian dài, Nho giáo ở Việt Nam không ngừng phát triển, lớn mạnh và đã tạo nên một dấu ấn sâu đậm trong việc hình thành đạo đức, nhân cách con người Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam Việc nghiên cứu tư tưởng đạo đức Nho giáo là cần thiết nhằm kế thừa những giá trị tốt đẹp trong cách ứng xử của con người Việt Nam nói chung và cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng là rất có ý nghĩa Khi mà quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế tại Việt Nam và sự cạch tranh rất gay gắt giữa các ngân hàng Vậy nên, việc nghiên tư tưởng đạo đức Nho giáo nhằm đánh giá những mặt tích cực và hạn chế để từ đó tiếp tục và phát huy những giá trị tốt đẹp và khắc phục những điểm hạn chế của những ảnh hưởng đó

2 Đối tượng nghiên cứu

Những tư tưởng đạo đức Nho giáo ảnh hưởng tới đạo đức xã hội của cán

bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm

3 Phương pháp nghiên cứu

Tiểu luận sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp kết hợp với phương pháp logic và lịch sử để nguyên cứu

4 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu tư tưởng đạo đức Nho giáo Đánh giá những mặt tích cực và hạn chế của nó và áp dụng nó vào cho cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm

để từ đó phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của tư tưởng đạo đức Nho giáo

Trang 2

5 Cái mới của đề tài

Trong xã hội Việt Nam hiện nay, vấn đề đạo đức của con người là vấn đề càng ngày càng nóng Sự suy thoái đạo đức của một bộ phận không nhỏ các cán

bộ trong các ngành nghề, nhất là trong ngành ngân hàng đang làm giảm niềm tin của người dân Các vụ án kinh tế có liên quan đến ngành ngân hàng càng ngày càng nhiều khiến chúng ta cần phải quan tâm hơn đến vấn đề đạo đức của cán

bộ ngành ngân hàng Chính vì những đạo lí của Nho giáo trong việc rèn luyện đạo đức con người mà con người trong xã hội Việt Nam thời đại trước có tư tưởng đạo đức rất tốt đẹp Điều này chứng tỏ tư tưởng đạo đức Nho giáo quan trọng như thế nào trong xã hội hiện nay Việc tìm hiểu tư tưởng đạo đức Nho giáo giúp cho mọi người dân Việt Nam nói chung và cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm nói riêng phát triển vững mạnh trong thời đại mới hiện nay

Trang 3

NỘI DUNG

1 Giới thiệu khái quát về tư tưởng đạo đức Nho giáo

Từ khi còn nhỏ, chúng ta đã được dạy rất nhiều điều Ví như, nói năng lễ phép với người trên, phải kính trên nhường dưới, phải có hiếu với ông bà, cha

mẹ, phải chăm lo học hành để sau này cha mẹ được nhờ Chúng ta tiếp nhận những thông tin ấy một cách vô thức, tiếp nhận như một lẽ dĩ nhiên phải thế mà chúng ta không biết rằng những điều chúng ta được dạy ấy không tự nhiên mà

có Những đạo lí ấy theo con người lớn lên và hằn sâu vào trong nếp suy nghĩ, trở thành một phần trong cái bản ngã khó có thể thay đổi của con người mình Điều này cho ta thấy Nho giáo không chỉ quan trọng trong thời phong kiến mà còn rất cần thiết trong cuộc sống hiện đại ngày nay Những suy nghĩ lệch lạc hay đúng đắn là do người ấy tiếp nhận những kiến thức như thế nào mà thôi

- Nho giáo sơ khai

Nho giáo là một trường phái do Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay còn gọi là Trọng Ni, người nước Lỗ (551 - 479 trước Công nguyên, thời Xuân Thu - Chiến quốc) sáng lập Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu,

xã hội loạn lạc, Khổng tử phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo

Khổng Tử là người mở đường vĩ đại của lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại Ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung quốc

cổ đại Ông đã hệ thống những tri thức tư tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi là Nho giáo Học thuyết của ông được hai nhà tư tưởng là Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển Mạnh

Tử theo hướng duy tâm, Tuân Tử theo hướng duy vật Trong lịch sử sau này

Trang 4

dòng Khổng Mạnh có ảnh hưởng lâu dài nhất Từ nhà Hán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà tư tưởng phát triển và sử dụng theo môi trường xã hội của nó

Tư tưởng trung tâm của Nho giáo là những vấn đề về chính trị, đạo đức của con người và xã hội Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Kinh Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại Học Sau

đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "Tư tưởng Khổng – Mạnh" Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo

và Nho gia Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học còn Nho giáo mang tính tôn giáo Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành

- Sự phát triển của Nho giáo tại Việt Nam

Mười thế kỷ sau công nguyên, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầng lớp Nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội Thành phần trí thức

ưu tú bấy giờ là những nhà tu, đặc biệt là các cao tăng Thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các sư tiếp thu luôn Nho học Thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ các thời Nhà Ngô, Nhà Đinh, Nhà Lê, trí thức tài đức ra giúp triều đình là các đạo sĩ và thiền sư Một số thiền sư có công dạy các tục gia đệ tử trở thành nhân tài giúp nước, như sư Khánh Vân và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lý Công Uẩn, sư Trí ở núi Cao Dã là thầy của Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa

Trang 5

Lễ tắc của Nho giáo được chắt lọc và Việt hóa, làm thành các nghi thức quan hôn tang tế, và đạo nghĩa là nội dung tu thân tề gia, tiếp nhân xử thế Tuy chịu ảnh hưởng hài hòa của cả Nho - Phật - Ðạo, nhưng từ gia đình, thân tộc cho tới làng nước, ở đâu cũng thấy người Việt lấy đạo đức Nho giáo làm chuẩn mực giao tiếp Thậm chí cho tới ngày nay, trong việc kết hôn, cúng giỗ, tang

ma, hầu hết người theo các tôn giáo khác vẫn giữ những nét chính của nghi lễ Nho giáo

Nho học Việt Nam phát triển từ thế kỷ XI, sang đời Nguyễn thì suy Nho học mở đường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử mà nhờ đó thúc đẩy văn học phát triển, văn hóa được nâng cao Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều, tư tưởng học thuật của tiên Nho Việt Nam hầu như không còn lưu lại gì cho đời sau nghiên cứu Nên nói đến Nho giáo Việt Nam, cái nổi bật hình như không phải là tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai trò chính trị của sĩ phu trong lịch sử

Việc học hành thời xưa rất được coi trọng, vì vậy, năm 1076 vua Lý Nhân Tông mới cho xây dựng Văn Miếu Quốc Tử Giám, một trường được coi là trường đại học đầu tiên ở Việt Nam và trên thế giới Văn Miếu được xây dựng năm 1070, thờ Khổng Tử, các bậc Hiền triết của Nho giáo và Tư nghiệp Quốc

Tử Giám Chu Văn An, người thầy tiêu biểu đạo cao, đức trọng của nền giáo dục Việt Nam Năm 1076, nhà Quốc Tử Giám được xây kề sau Văn Miếu, ban đầu

là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận cả các học trò giỏi trong thiên hạ

Suốt mười thế kỷ, triết học Nho giáo đã được các trẻ em mới cắp sách đến trường tiếp cận qua những bài học vỡ lòng lấy từ các sách Ấu học ngũ ngôn, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự,… Nhà giáo là các thầy đồ, thuộc tầng lớp sĩ phu, đứng đầu trong năm giai tầng xã hội: sĩ, nông, công, thương và binh

Trang 6

- Tư tưởng đạo đức Nho giáo ở Việt Nam

Cốt lõi của Nho giáo là Nho gia Đó là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội Để tổ chức xã hội có hiệu quả, điều quan trọng nhất là phải đào tạo cho được người cai trị kiểu mẫu và người lý tưởng này gọi là quân tử (quân là

kẻ làm vua, quân tử chỉ tầng lớp trên trong xã hội, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thấp kém về điạ vị xã hội; sau "quân tử" còn chỉ cả phẩm chất đạo đức: những người cao thượng, phẩm chất tốt đẹp, phân biệt với "tiểu nhân" là những người thiếu đạo đức hoặc đạo đức chưa hoàn thiện Điều này có thể được

lí giải bởi đối tượng mà Nho giáo hướng đến trước tiên là những người cầm quyền) Để trở thành người quân tử, con người ta trước hết phải "tự đào tạo", phải "tu thân" Sau khi tu thân xong, người quân tử phải có bổn phận phải "hành đạo" (Đạo không đơn giản chỉ là đạo lí Nho gia hình dung cả vũ trụ được cấu thành từ các nhân tố đạo đức, và Đạo ở đây bao chứa cả nguyên lí vận hành chung của vũ trụ, vấn đề là nguyên lí đó là những nguyên lí đạo đức do Nho gia

đề xướng (hoặc như họ tự nhận là phát hiện ra) và cần phải tuân theo Trời giáng mệnh làm vua cho kẻ nào có Đạo, tức là nắm được đạo trời, biết sợ mệnh trời Đạo vận hành trong vũ trụ khi giáng vào con người sẽ được gọi là Mệnh Khổng Tử đặt ra một loạt Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội

Tam cương và Ngũ thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo Tam tòng

và Tứ đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo Khổng Tử cho rằng người trong

xã hội giữ được Tam cương, Ngũ thường, Tam tòng, Tứ đức thì xã hội được an bình

Tam cương là ba mối quan hệ, gồm: Quân thần là trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ Phụ tử là cha hiền con hiếu Cha có nghĩa vụ nuổi dạy con cái, con phải hiếu đễ và nuôi dưỡng cha khi cha

về già Phu phụ là chồng phải yêu thương và đối xử công bằng với vợ, vợ chung thủy tuyệt

Trang 7

Ngũ thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân là lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật Nghĩa là cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải Lễ là sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người Trí là sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai Tín là giữ đúng lời, đáng tin cậy Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: Tại gia tòng phụ là người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha Xuất giá tòng phu là lúc lấy chồng phải theo chồng Phu tử tòng tử là nếu chồng qua đời phải theo con

Tứ đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có đó là: Công là khéo léo trong việc làm Dung là hòa nhã trong sắc diện Ngôn là mềm mại trong lời nói Hạnh là nhu mì trong tính nết

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị Nội dung của công việc này được công thức hóa thành "Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ" Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ - gia đình, cho đến lớn - trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ) Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm

Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình

Chính danh nghĩa là mỗi người cần phải nhận thức và hành động theo đúng cương vị, địa vị của mình: Vua phải ra đạo vua, tôi phải ra đạo tôi, cha phải ra đạo cha, con phải ra đạo con, chồng phải ra đạo chồng, vợ phải ra đạo vợ Nếu như mọi người không chính danh thì xã hội ắt trở nên loạn lạc Không thể có một xã hội bình trị khi mà nguyên tắc chính danh bị vi phạm

Trong Nho giáo, Khổng Tử đặc biệt đề cao giữa danh và thực Thực do học, tài và phận quy định

Trang 8

2 Kết quả nghiên cứu

2.1 Đặc trưng đạo đức xã hội của cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm

Ngày nay, Nho giáo vẫn còn vô cùng quan trọng trong đời sống tinh thần trong xã hội Việt Nam hiện nay Tuy rằng không phải ai cũng dễ dàng nhận ra điều này Nhưng thực tế là Nho giáo đã xâm nhập sâu và trong tiềm thức mỗi chúng ta Như chính cái cách bạn nói chuyện với ai đó, người ta dễ có cảm tình hơn với người ăn nói nhỏ nhẹ dễ nghe, duyên dáng, dịu dàng Hay một chàng trai dễ bị đánh đổ bởi một cô gái đảm đang trong nội trợ gia đình Không phải là tất cả nhưng hầu hết những đánh giá của chúng ta trong đời sống hàng ngày đều dựa trên khuôn phép của Nho giáo từ xa xưa Và vô tình chúng ta sử dụng những khuôn phép ấy để đánh giá một ai đó mà tự thân không biết được rằng những khuôn phép ấy từ đâu mà có

Người ta luôn khát khao được hoàn thiện bản thân, và cái hoàn thiện đến mức Chân - Thiện - Mỹ trong đạo Phật ấy lại được lấy nền tảng là những lễ nghĩa trong Nho giáo Cũng không có gì là khó hiểu bởi cả Nho giáo và Phật giáo đều được truyền bá khá rộng rãi khắp châu Á, đặc biệt là ở Trung Hoa và Việt Nam Những lễ nghĩa ấy ăn sâu vào suy nghĩ con người, người ta làm theo những quy tắc ấy bằng phản xạ, một cách vô thức như thể một điều gì đó rất hiển nhiên

Nho giáo có ảnh hưởng rất lớn đối với người đi trước, những người được sinh ra khi mà Nho giáo vẫn còn thịnh trị trong xã hội Và thời nay nó vẫn còn nguyên giá trị bởi con người biết cách truyền lại cho con cháu cái gọi là truyền thống, cái gọi là những điều răn dạy của người xưa

Trang 9

2.2 Thực trạng ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Nho giáo đến cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm

2.2.1 Những ảnh hưởng tích cực

Con người ngày trước và cả ngày nay để thể hiện mình là người có học thức thường học thật giỏi rồi vinh quy bái tổ chứ không hề biết rằng cái quan trọng hơn của Nho giáo nằm ở 5 chữ “Nhân, Lễ, Nghĩa, Trĩ, Tín” Đây chính là cốt lõi sâu xa của Nho giáo Trong cách ứng xử giữa các cán bộ Vietcombank Hoàn Kiếm cũng không xa rời 5 chữ ấy

- Thứ nhất: là Nhân, đối xử với nhau hằng ngày tại Vietcombank Chi

nhánh hoàn Kiếm mọi người đối xử bằng chữ Nhân chính là dung cái tâm để nói chuyện, để xử sự với nhau Nếu họ cứ có chút mâu thuẫn gì với nhau là đem nhau ra là hành xử như luật rừng không chút lương tâm thì ấy không được Người ta gọi là những người như thế là vô giáo dục, vô học vì vậy, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng rất cần có được chữ nhân trong tâm

Con người ngày nay càng cần phát huy hơn nữa chữ tâm ấy Hằng năm trong ngân hàng Vietcombank Chi nhánh Hoàn kiếm mọi người cán bộ đều có tấm lòng hướng đến các miền tổ quốc và làm những công việc thiện nguyện và quyên góp cứu đói cho bà con vùng lũ lụt, ủng hộ người nghèo mà ít ai làm được

Với cán bộ Vietcombank Chi nhánh Hoàn Kiếm họ làm việc rất có trách nhiệm và bên cạnh đó họ còn tham gia vào các hoạt động tình nguyện giúp đỡ cộng đồng Họ đi đến những miền quê nghèo khó nhất của đất nước để giúp đỡ người dân nơi đây Cái chữ tâm trong tim khi rực cháy sẵn sàng làm bất cứ điều

gì có thể giúp dược cho người khác Khát khao được cống hiến, khát khao được sống những ngày có ý nghĩa đã như ngọn đuốc soi đường dẫn lối cho họ làm những điều đúng đắn nhất

Trang 10

- Thứ hai: là Lễ, ngày xưa, người ta đối với nhau bằng những lễ giáo

phong kiến tưởng chừng như khô cứng nhưng thực ra cũng rất bền vững Trong quan hệ giữa các đồng nghiệp với nhau và cấp trên với cấp dưới chúng ta cũng cần có một Lễ, nó giúp mọi người tôn trọng nhau hơn trong quan hệ công sở Vì trong công việc mọi người đều tôn trọng lẫn nhau thì sẽ giúp cho mọi thứ trở nên suôn sẻ, thuận lợi, trách gây mất hòa khí trong nội bộ Chi nhánh

Còn Lễ trong gia đình giúp cho cán bộ Chi nhánh Hoàn Kiếm có thể tăng thêm tình cảm gia đình, từ những hành động cử chỉ tưởng như nhỏ nhặt tưởng chừng như không cần thiết đó trong mối quan hệ vợ chồng, cha – con, mẹ - con

đó có thế giúp cho gia đình yên ấm hòa hợp Mà gia đình hòa hợp, yên vui và hạnh phúc giúp cho cuộc sống mỗi cán bộ trở nên vui vẻ hơn

- Thứ ba: là Nghĩa, chữ Nghĩa là sự công bằng trong công việc, trong công

việc cán bộ nào làm sai đều phải bị xử lý không thể có chút tình cảm hay quan

hệ mà bỏ qua nó khiến cho trong nội bộ Chi nhánh nảy sinh bất mãn từ trong lòng mỗi cán bộ

- Thứ tư: là Trí, kẻ Trí là kẻ khôn ngoan mỗi cán bộ phải biết suy xét điều

phải trái, biết minh triết bản thân trong cảnh nguy nan, biết phân biệt kẻ xấu người tốt để xử lý vấn đề sao cho hợp lí nhất Nếu có lỡ làm điều xấu thì phải kiểm điểm lại bản thân và sửa sai ngay Và trong mỗi cán bộ cũng không nên nói xấu sau lưng người khác tránh hạ thấp uy tín bản thân

- Thứ năm: là Tín, bậc quân tử vì chữ Tín mà hành xử Tín là tin mình, tin

người Nhờ chữ Tín đó mà thành Người Vì tự tin vào mình nên dù ai không biết tài đức của mình, mình cũng không buồn không oán Tự tin vào tài đức của mình, càng ngày càng trau dồi và trang bị thêm những kiến thức bấy giờ mọi người biết mình cũng không muộn Vì có tin nhau nên trong công việc mới dễ dàng hoàn thành và không gặp trở ngại Cán bộ trong Chi nhánh mà không tín thì trong nội bộ sẽ lục đục không có tính gắn kết ở mỗi bộ phận từ đó các công việc sẽ xử lý một cách chậm chạp ảnh hưởng rất lớn tới Chi nhánh

Ngày đăng: 29/03/2021, 13:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w