Trên tinh thần đó, Bộ giáo dục và đào tạo đã có nhiều thay đổi trong công tác thi cử, trong mục tiêu học tập, thể hiện qua các cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học, dạy học
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân
lực, về khoa học và công nghệ Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế"
và "Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân".
Mục tiêu giáo dục theo tinh thần đổi mới là: Phát triển toàn diện năng lực
và phẩm chất người học Toàn diện ở đây được hiểu là chú trọng phát triển cả
phẩm chất và năng lực con người, cả dạy chữ, dạy người, dạy nghề Giáo dục và đào tạo phải tạo ra những con người có phẩm chất, năng lực cần thiết như trung thực, nhân văn, tự do sáng tạo, có hoài bão và lí tưởng phục vụ Tổ quốc, đồng
thời phải phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm
chủ bản thân, làm chủ đất nước và làm chủ xã hội, có hiểu biết và kĩ năng cơ bản để sống tốt và làm việc hiệu quả
Trong Nghị quyết 29/NQ-TW đã thể hiện rõ mục tiêu thay đổi “phương pháp dạy học từ truyền thụ kiến thức sang tổ chức hướng dẫn định hướng phát triển năng lực nhận thức học sinh” Một trong những phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực nhận thức của học sinh đó là việc dạy học liên môn
Dạy học liên môn là một trong những nguyên tắc quan trọng ở trường phổ thông nói chung, môn hóa học nói riêng Nó góp phần bổ sung lượng kiến thức các môn học khác cho bài học, giúp học sinh say mê, hứng thú học tập, góp phần nâng cao hiệu quả bài học Trên tinh thần đó, Bộ giáo dục và đào tạo đã có nhiều thay đổi trong công tác thi cử, trong mục tiêu học tập, thể hiện qua các cuộc thi vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học, dạy học theo chủ đề tích hợp giành cho giáo viên và học sinh
Trang 2Nhận thấy, Hóa học là môn khoa học thực nghiệm, có rất nhiều kiến thức mới được bổ sung liên tục, các kiến thức hóa học có mối liên quan rất nhiều đến các môn học khác như toán học, vật lí, sinh học, Địa lí Để nâng cao hiệu quả trong dạy học hóa học cần vận dụng kiến thức của các môn học này vào trong các giờ dạy nhằm giải thích các quá trình, hiện tượng thực tế, giải quyết các bài tập liên quan nhằm góp phần nâng cao tính chính xác, khoa học, giúp học sinh
dễ tiếp thu, tăng khả năng tư duy logic Việc sử dụng kiến thức thức liên môn trong dạy học hiện nay đang trở thành xu thế phổ biến
Mặt khác, để tạo sự thu hút chú ý của các học viên TTGDTX trong mỗi bài dạy, tránh hiện tượng nhàm chán, khô cứng bởi kiến thức trừu tượng của hóa học, giúp học viên thấy mối liên hệ gần gũi giữa các môn học với thực tiễn và vai trò của các môn học trong việc giải thích các hiện tượng tự nhiên, thì việc dạy học vận dụng kiến thức liên môn là rất cần thiết
Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn, nhằm đáp ứng nhu cầu, thách thức
đổi mới trong giáo dục hiện nay, tôi mạnh dạn chọn đề tài SKKN: “ Vận dụng
tích hợp liên môn trong dạy học chương 2: Ni tơ- Phot pho, Hóa học 11 tại TTGDTX Huyện Điện Biên nhằm phát triển năng lực của học viên để giải quyết các tình huống học tập gắn với thực tiễn.”
2 Mục đích nghiên cứu
Đưa ra cơ sở lí luận và thực tiễn về phương pháp vận dụng tích hợp liên môn trong dạy học
Xác định thực trạng dạy và học tích hợp liên môn tại TTGDTX Huyện Điện Biên, từ đó bước đầu vận dụng tích hợp liên môn trong dạy học chương 2:
Ni tơ- Phot pho, chương trình hóa học 11 nhằm phát triển năng lực của học viên để giải quyết các tình huống học tập gắn với thực tiễn cuộc sống
3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi triển khai nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu các Phương pháp vận dụng tích hợp liên môn trong dạy học chương 2: Ni tơ- Phot pho, chương trình hóa học 11
Trang 3Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học Hóa học 11 tại TTGDTX Huyện Điện Biên
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận của các phương pháp giảng dạy tích hợp, đặc
biệt là vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học
Phân tích chương trình và nội dung kiến thức hóa học phổ thông, đặc biệt
là kiến thức hóa học chương 2: Nitơ- Photpho, chương trình hóa học 11 – ban cơ bản, để xác định những nội dung có thể sử dụng các kiến thức liên môn trong dạy học
Thiết kế và tổ chức dạy học một số bài trong chương 2: Nitơ- Photpho, chương trình hóa học 11 – ban cơ bản theo hướng vận dụng tích hợp liên môn
Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả và tính khả thi của đề tài nghiên cứu
5 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu, văn bản
để hiểu được cơ sở lí luận của các phương pháp giảng dạy tích hợp liên môn
Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Tổng hợp kinh nghiệm từ thực trạng
dạy và học của thầy và trò tại TTGDTX Huyện Điện Biên thông qua việc dự giờ, trao đổi rút kinh nghiệm từ đồng nghiệp tại đơn vị và các trường bạn
Phương pháp hỗ trợ: Xử lí số liệu, lập bảng biểu, thống kê…
PHẦN II: NỘI DUNG Chương 1: Thực trạng chương trình, sách giáo khoa và những vấn đề cần quan tâm trong dạy học hóa học tại TTGDTX Huyện Điện Biên
1.1 Thực trạng chương trình, sách giáo khoa
Chương trình: Thiết kế nặng, gò bó trong khoảng thời gian cố định, nhiều lúc quá tải so với một tiết học, không liên thông giữa các môn học, cấp học, dẫn đến sự trùng lặp ở một số kiến thức giữa các cấp học
Sách giáo khoa: Biên soạn theo hướng nặng về cung cấp kiến thức để thi
cử, ít chú trọng vấn đề bồi dưỡng năng lực cho học viên Thể hiện dưới hình
Trang 4thức một môn khoa học, nên một số kiến thức hàn lâm không thực sự cần thiết cho thực tế vẫn được đưa vào Nội dung nhiều bài rất khô khan về kiến thức, ít liên hệ với thực tiễn
1.2 Giáo viên
Coi nặng việc truyền thụ kiến thức có trong SGK theo lối dạy nhồi nhét kiến thức để thi cử
Ít vận dụng kiến thức liên môn, chủ đề tích hợp giáo dục, chưa chú trọng việc dạy để giúp Học viên phát triển những năng lực cần thiết nhằm giải quyết các tình huống học tập gắn với thực tiễn cuộc sống, dẫn đến tiết dạy khô khan, kém sinh động, thiếu sự cuốn hút, làm cho học viên rất thụ động trong việc lĩnh hội kiến thức
1.3 Học viên
Đối với học viên TTGDTX Huyện Điện Biên, ý thức, tính tích cực, tự giác, chủ động trong học tập còn rất nhiều hạn chế
Tình trạng phổ biến là hiện tượng ghi nhớ bài học một cách rời rạc, máy móc Không có mối quan hệ giữa các kiến thức liên môn với thực tiễn, nên rất hạn chế về năng lực giải quyết các tình huống học tập gắn với thực tiễn cuộc sống Điều này làm cho học viên cảm thấy nhàm chán trong giờ học, không có động lực, ý thức tích cực trong học tập dẫn đến không yêu thích bộ môn Hóa học
Nhằm khắc phục những hạn chế trong thực trạng đã nêu trên, tôi hoàn toàn đồng tình với giải pháp cấp thiết của Bộ giáo dục và đào tạo đưa ra khi thực hiện quan điểm tích hợp liên môn trong giảng dạy nói chung và đối với môn hóa học nói riêng, nhằm tạo nên sự gắn kết kiến thức của các môn học, giữa nội dung học tập với thực tiễn cuộc sống làm cho việc học tập trở nên có ý nghĩa hơn đối với học viên Từ đó góp phần nâng cao năng lực của người học, giúp đào tạo những con người có đầy đủ phẩm chất và năng lực để giải quyết các vấn
đề của cuộc sống hiện đại
Trang 5Chương 2 : Phương pháp, nội dung và mục đích tích hợp liên môn trong
dạy học Hóa học.
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Thế nào là dạy học tích hợp liên môn
Dạy học liên môn là quan niệm dạy học hiện đại, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh, đồng thời nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các môn học với nhau, những khái niệm, những tư tưởng chung giữa các môn học, tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên quan đến nhau Như vậy thông qua dạy học tích hợp liên môn thì những kiến thức, kỹ năng học được ở môn này có thể sử dụng như những công cụ để nghiên cứu, học tập các môn học khác: Chẳng hạn sử dụng một số kiến thức thuộc các môn: Toán học, vật lí, Sinh học để nghiên cứu về các vấn đề của môn Hóa học
2.1.2 Mục đích, ý nghĩa của dạy học tích hợp liên môn
Việc sử dụng kiến thức liên môn, chủ đề tích hợp sẽ giúp học viên hiểu được sâu sắc các vấn đề Hóa học, thấy được mối liên hệ gần gũi giữa kiến thức môn học với các vấn đề thực tiễn
Việc sử dụng kiến thức liên môn còn giúp học viên củng cố thêm những hiểu biết của mình ở nhiều môn học khác Học viên phải biết đặt các khái niệm
đã học trong từng môn học cũng như giữa các môn học khác nhau, có như vậy thì các em mới thực sự làm chủ được kiến thức
Dạy học tích hợp liên môn giúp khắc phục được tình trạng khô cứng, nặng nề, tản mạn, rời rạc trong dạy học, làm cho học viên hứng thú và say mê hơn với môn Hóa học giúp học viên trở thành người học tích cực, người công dân có năng lực giải quyết tốt các tình huống học tập gắn với thực tiễn cuộc sống
2.1.3 Nội dung và mức độ tích hợp liên môn
Nội dung tích hợp: Hóa học là môn khoa học ứng dụng, thực nghiệm, là môn khoa học của sự sống, kiến thức của môn học gắn liền với các yếu tố tự nhiên, xã hội… Trong dạy học môn Hóa học có thể tích hợp giáo dục với nội
Trang 6dung như: giáo dục ý thức BVMT, giáo dục kỹ năng sống… đặc biệt là những vấn đề mang tính thời sự như: Sự biến đổi khí hậu toàn cầu, sự ô nhiễm môi trường, sự cạn kiệt tài nguyên, hậu quả của nó với việc giải quyết các vấn đề phúc lợi xã hội, vấn đề y tế và chăm sóc sức khỏe…
Mức độ tích hợp:
Tích hợp liên hệ kiến thức (mức độ hạn chế)
Tích hợp bộ phận : chỉ một phần của bài học, của hoạt động thực hiện nội dung giáo dục (mức độ trung bình)
Tích hợp toàn phần: Cả một bài có nội dung trùng khớp với nội dung giáo dục (mức độ cao nhất)
Thường trong các hoạt động dạy học hay sử dụng mức độ tích hợp bộ phận
2.1.4 Ưu điểm của dạy học tích hợp liên môn.
Đối với học viên:
Các chủ đề tích hợp liên môn có tính thực tiễn, các kiến thức gắn liền với kinh nghiệm sống của học viên nên sinh động, hấp dẫn đối với các em, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học viên Học các chủ đề tích hợp liên môn, học viên được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc
Các chủ đề tích hợp liên môn giúp cho học viên không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn
Đối với giáo viên:
Việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của giáo viên không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học viên cả ở trong và ngoài lớp học Do đó, giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học Vì vậy, dạy học theo các chủ đề liên môn không những giảm tải cho giáo viên trong việc dạy các kiến thức liên môn trong môn học của mình mà
Trang 7còn có tác dụng bồi dưỡng, nâng cao kiến thức và kĩ năng sư phạm cho giáo viên, góp phần phát triển đội ngũ giáo viên bộ môn hiện nay thành đội ngũ giáo viên có đủ năng lực dạy học kiến thức liên môn, tích hợp
2.1.5 Yêu cầu của giáo viên và học sinh trong dạy học tích hợp liên môn.
* Với giáo viên:
Việc dạy học liên môn trong Hóa học đòi hỏi người GV không chỉ có những kiến thức vững chắc về bộ môn Hóa học mà còn phải nắm những nội dung, chương trình các bộ môn được giảng dạy ở trường phổ thông để có kiến thức cơ bản về môn được tích hợp
Tích hợp linh hoạt, nhẹ nhàng, đúng địa chỉ, không làm nặng nề hoặc rối tiết học Tránh lan man, biến giờ học Hóa thành học Lý, Sinh hay các môn khác
* Học sinh:
Nêu cao vai trò tích cực chủ động trong việc học tập theo nguyên tắc liên môn, vì ở các em cần huy động những kiến thức của bản thân đã học ở các môn nhằm hiểu sâu sắc, toàn diện, chặt chẽ hơn về các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên
2.2 Cơ sở thực tiễn
Xu hướng tích hợp các môn khoa học tự nhiên trên thế giới
Thực tế giáo dục Việt Nam: quan điểm tích hợp đã được thể hiện trong một số môn học ở bậc tiểu học từ thời Pháp thuộc và ngày nay vẫn được định hướng ở nhiều cấp học
Chương trình Hóa học trong nhà trường phổ thông có nhiều tiềm năng, cơ hội để xác định, xây dựng các nội dung, chủ đề tích hợp trong môn học hoặc với các môn khoa học liên quan như Toán, Lý, Sinh
Định hướng vận dụng quan điểm tích hợp trong giáo dục giai đoạn sau năm 2015 của Bộ Giáo dục - Đào tạo
Trang 8Chương 3: Vận dụng tích hợp liên môn trong dạy học Chương 2: Ni tơ- Phot pho, Hóa học 11 tại TTGDTX Huyện Điện Biên
3.1 Quy trình dạy học tích hợp liên môn:
Giáo viên phải tìm hiểu, nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học tích hợp liên môn, nghiên cứu kỹ nội dung chương trình, SGK môn Hóa và các môn học khác nhằm lựa chọn các nội dung có liên quan đến bộ môn Hóa học
Xây dựng được các chủ đề, các nội dung dạy học tích hợp liên môn, các chủ đề định hướng phát triển năng lực học viên trong từng bài hóa học cụ thể
Tăng cường trao đổi chuyên môn ở trong tổ nhóm và các bộ môn “liên quan” để xác định: mục tiêu dạy học, mục đích và mức độ tích hợp, liên môn, phương tiện dạy học, cách thức tổ chức các hoạt động dạy học
Xây dựng quy trình và tổ chức các hoạt động dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh, nội dung và mức độ dạy học tích hợp liên môn đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học, được thể hiện cụ thể ở các hoạt động của học sinh, hoạt động của giáo viên và thời gian tổ chức cho từng hoạt động (Thiết kế giáo án)
Tổ chức dạy học tích hợp liên môn và rút kinh nghiệm
3.2 Các nội dung tích hợp liên môn trong chương 2: Ni tơ- Phot pho, Hóa học 11 tại TTGDTX Huyện Điện Biên
3.2.1 Vận dụng tích hợp liên môn trong giảng dạy Bài 7: Nitơ
* Giáo án thực hiện:
BÀI 7: NITƠ
I Mục tiêu bài học:
1 Kiến thức:
* Môn vật lý: Học viên nắm được tính chất vật lí của Nitơ là chất khí, không màu, không mùi, không vị, hơi nhẹ hơn không khí Hóa lỏng ở -1960C, hóa rắn ở -2100C Rất ít tan trong nước, không duy trì sự sống và sự cháy
Hiểu được quá trình hình thành sấm, sét
* Môn hóa học: Vị trí, cấu hình electron nguyên tử của nguyên tố Nitơ
Trang 9Cấu tạo phân tử, ứng dụng , trạng thái tự nhiên, điều chế Nitơ trong công nghiệp
Tính chất hóa học đặc trưng của nitơ: tính oxi hóa, tính khử
* Môn sinh học: Học sinh biết được tác dụng của các gốc NO 3-, NH4+ với
sự phát triển của thực vật trên trái đất
2 Kĩ năng:
* Môn hóa học: Hình thành kĩ năng hoạt động nhóm, quan sát, liên hệ thực tế Dự đoán tính chất, kiểm tra dự đoán và kết luận về tính chất hóa học của nito Viết các PTHH minh họa tính chất hóa học của nitơ
* Môn Vật lý, Sinh học: Vận dụng kiến thức giữa các môn học để giải thích hiện tượng thực tế
3 Thái độ:
Giáo dục ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng phân bón cho cây trồng tiết kiệm và hiệu quả
II Chuẩn bị:
GV: Bảng TH các nguyên tố hóa học Hệ thống câu hỏi để học sinh hoạt động, máy chiếu
HS: Xem trước bài ở nhà, có sự liên hệ với thực tiễn địa phương
III Phương pháp:
Dạy học nêu vấn đề, thuyết trình , vấn đáp, thảo luận nhóm
IV Họat động dạy học:
1 Ổn định lớp:
2 Kiểm tra bài cũ: Kết hợp trong dạy học bài mới
3 Bài mới:
Hoạt động 1
GV: Dựa vào HTTH, xác định vị
trí của nitơ, viết cấu hình electron
và CTCT của N2?
HS: Trả lời
I Vị trí và cấu hình electron nguyên tử nitơ:
* Ô số 7, nhóm VA, chu kì 2
* Cấu hình electron : 1s22s22p3
→ Tạo được 3 liên kết cộng hóa trị với các
Trang 10Hoạt động 2
GV: Vận dụng kiến thức môn
Vật lí tìm hiểu về tính chất vật lí
của N 2
GV: Trình chiếu thí nghiệm khi cho
con châu chấu vào lọ chứa khí oxi,
và 1 lọ chứa khí Nitơ yêu cầu HS
nêu các tính chất vật lí của N2? Từ
đó nêu cách thu N2?
HS: Trả lời
GV: Khí nitơ có độc không? Tại
sao
HS: Trả lời
GV: nhận xét và chốt lại kiến thức
Hoạt động 3
GV: Từ đặc điểm cấu tạo hãy nêu
tính chất hóa học cơ bản của nitơ?
HS: Do đặc điểm cấu tạo có liên
kết 3 nên nitơ tương đối trơ về mặt
hóa học Nó có tính oxi hóa và tính
khử vì nitơ có số oxi hóa trung
gian
GV: Yêu cầu HS viết phản ứng xảy
ra giữa N2 và Mg và với H2, xác
định vai trò của các chất phản ứng?
nguyên tử khác
* Cấu tạo phân tử N2 : N ≡ N
II Tính chất vật lý:
Ở điều kiện thường N2 :
- Chất khí, không màu, không mùi, không
vị, hơi nhẹ hơn không khí
- Hóa lỏng ở -1960C, hóa rắn ở -2100C
- Rất ít tan trong nước
- Không duy trì sự sống và sự cháy
III Tính chất hóa học:
* Ở t0 thường, N2 rất bền (trơ)
* Ở t0 cao, N2 là nguyên tố hoạt động
* Với các nguyên tố có độ âm điện bé hơn như hidro, kim loại nitơ tạo hợp chất với
số oxi hóa -3 Trong hợp chất với các nguyên tố có ĐAĐ lớn hơn như oxi, flo, nitơ có các số oxi hóa dương
1 Tính oxi hóa:
a Với kim loại:
* t0 cao : N2 tác dụng được với một số kim