1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Skkn xây dựng hệ thống bài tập vật lý nhằm hỗ trợ việc dạy học theo chương trình phổ thông mới

124 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

trúc năng lực, các phương pháp tổ chức dạy học và hệ thống bài tập bổ trợ nhằm hìnhthành, phát triển năng lực cho học sinh THPT là đề tài được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, là vấn đề mới

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,Phòng Quản lý Khoa học trường Đại học Sài Gòn, cùng với quý thầy cô trường Đạihọc Sài Gòn và các thầy cô ở trường THPT trong địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đãtận tình giúp đỡ và hướng dẫn chúng tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Đặc biệt, chúng tôi xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Đăng Thuấn, giảng viêntrường Đại học Sài Gòn đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn trực tiếp cho chúng tôi trongsuốt quá trình thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu này

Nhóm Tác giả

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 1

DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH SÁCH CÁC BẢNG 6

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH 7

PHẦN I: MỞ ĐẦU 8

PHẦN II: NỘI DUNG 11

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 11

1 NĂNG LỰC 11

1.1 Khái niệm năng lực 11

1.2 Phân loại năng lực 12

1.2.1 Năng lực chung 12

1.2.2 Năng lực đặc thù trong môn Vật lý: 15

1.3 Cấu trúc năng lực 23

1.4 Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 23

1.4.1 Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 23

1.4.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT 26

2 BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 33

2.1 Bài tập Vật lý 33

2.1.1 Vai trò và chức năng của bài tập Vật lý trong dạy học 33

2.1.2 Phân loại bài tập Vật lý 35

2.2 Bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực 36

2.2.1 Khái niệm 36

2.2.2 Đặc điểm 36

2.2.3 Sự cần thiết của việc xây dựng bài tập phát triển năng lực 38

2.2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực 39

3 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 40

3.1 Mục đích khảo sát 40

3.2 Nội dung khảo sát 40

3.3 Phương pháp khảo sát 42

3.4 Đối tượng khảo sát 42

3.5 Kết quả khảo sát và đánh giá thực trạng 42

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG HỆ THỐNG BÀI TẬP VẬT LÝ PHẦN ĐIỆN HỌC -LỚP 11 THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 44

1 MỤC TIÊU DẠY HỌC PHẦN ĐIỆN HỌC 44

2 XÁC ĐỊNH CÁC NĂNG LỰC CẦN HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHO HỌC SINH KHI HỌC XONG PHẦN ĐIỆN HỌC 50

3 HỆ THỐNG BÀI TẬP 50

Trang 3

4 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIÊN

NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ 66

PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68

3.1 Kết luận 68

3.2 Kiến nghị 68

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

PHỤ LỤC 70

Phụ lục 1 70

Phụ lục 2 89

Phụ lục 3 105

Phụ lục 4 111

Phụ lục 5 121

Trang 6

1 Bảng 1: Bảng năng lực đặc thù môn Vật lý được cụ thể hóa từ năng

6 Bảng 6: Chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình Vật lý 11 của Bộ

7 Bảng 7: Bài tập tương ứng cho các năng lực đặc thù của môn Vật lý 51

8 Bảng 8: Bảng giá trị IC phụ thuộc vào thời gian 92

Trang 7

DANH SÁCH CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH

1 Sơ đồ 1: Sơ đồ khái quát quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật

3 Sơ đồ 3: Sơ đồ về các trường hợp đặc biệt của từ trường 118

6 Hình 3: Hình ảnh thực tế dụng cụ cần thiết cho thí nghiệm 55

7 Hình 4: Hình ảnh đồng hồ đo điện năng trong thực tế 57

8 Hình 5: Hình biểu diễn điện trường tác dụng tại M 74

10 Hình 7: Hình biểu diễn 3 điểm A, B, C đặt trong từ trường đều 80

11 Hình 8: Hình biểu diễn ba bản kim loại A, B, C 81

13 Hình 10: Hình mô tả 6 đoạn dây dẫn hình tứ diện đều 92

16 Hình 13: Hình ảnh minh họa qui tắc bàn tay trái 109

17 Hình 14: Hình ảnh khung dây đặt trong từ trường đều 120

18 Hình 15: Hình ảnh gợi ý về các đại lượng Vật lý 122

Trang 8

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, với bối cảnh đất nước đang trên đườnghội nhập quốc tế, tốc độ phát triển xã hội ngày càng nhanh, với những biến đổi liên tục

và không lường, yêu cầu đối với mỗi cá nhân ngày càng cao thì việc đầu tư cho giáodục có ý nghĩa quan trọng quyết định đến chất lượng nguồn nhân lực tương lai của đấtnước Nhận thức được tầm quan trọng của việc tăng cường đổi mới kiểm tra đánh giá,thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, trong những năm qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo

đã tập trung chỉ đạo đổi mới hoạt động giáo dục, nhằm tạo ra sự chuyển biến cơ bản về

tổ chức hoạt động dạy học, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trong các trườngtrung học

Bên cạnh đó, Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị Trung ương 8khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo đã đặt ra yêu cầu mới chogiáo dục nói chung và dạy học Vật lý nói riêng, đó không chỉ cung cấp tri thức, rènluyện kỹ năng mà còn phải phát triển năng lực người học Khái niệm năng lực, cấu

Trang 9

trúc năng lực, các phương pháp tổ chức dạy học và hệ thống bài tập bổ trợ nhằm hìnhthành, phát triển năng lực cho học sinh THPT là đề tài được nhiều nhà nghiên cứuquan tâm, là vấn đề mới chưa có nhiều nghiên cứu đề cập.

Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực được bàn đến nhiều từnhững năm 90 của thế kỉ XX và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế.Giáo dục định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạyhọc, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn, nhằmchuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghềnghiệp Thông qua đó, kết quả học tập được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giáđược; thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục Nên chương trìnhgiáo dục theo định hướng phát triển năng lực có thể hữu ích cho việc đổi mới giáo dục

Trước kế hoạch đổi mới SGK vào năm 2018 theo định hướng phát triển nănglực của người học thì cần có thêm nhiều nghiên cứu, tài liệu để hỗ trợ cho giáo viên,sinh viên các trường sư phạm để có kế hoạch giảng dạy phù hợp Trong đó, việc xâydựng một hệ thống các bài tập tương ứng với việc dạy học và kiểm tra đánh giá theođịnh hướng phát triển năng lực là một việc làm hết sức cần thiết mang tính thực tiễn.Xác định được tầm quan trọng của vấn đề này, nên chúng tôi chọn hướng nghiên cứu

đề tài: “Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần Điện học – lớp 11 THPT theo định hướng phát triển năng lực”.

3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần Điện học - lớp 11 THPT nhằm hìnhthành và bồi dưỡng năng lực cho học sinh

4 CÁCH TIẾP CẬN

Đề tài tiếp cận trực tiếp chương trình Vật lý lớp 11 phần Điện học hiện nay, mà

cụ thể là hệ thống các bài tập Dựa vào tài liệu tập huấn Giáo viên THPT năm 2014của Bộ Giáo dục và đào tạo để tham khảo về các năng lực chuyên biệt của bộ môn Vật

lý, sau đó xây dựng hệ thống các bài tập phù hợp với các loại năng lực này

Trang 10

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiến hành sử dụng phương pháp nghiên cứusau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận: tham khảo tài liệu liên quan đến việc phát triểnnăng lực học sinh

6 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống bài tập Vật lý phần Điện học - lớp 11 THPT theo định hướng pháttriển năng lực

6.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài chỉ khảo sát hệ thống bài tập Vật lý phần Điện học lớp 11 THPT

7 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu lý luận về bài tập Vật lý, phương pháp dạy học bài tập Vật lý

- Nghiên cứu lý luận về năng lực, hình thành và bồi dưỡng năng lực người học

- Xây dựng hệ thống bài tập Vật lý phần Điện học lớp 11 THPT theo định hướng pháttriển năng lực

Trang 11

PHẦN II: NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU

1 NĂNG LỰC

1.1 Khái niệm năng lực

Đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đưa ra khái niệm về năng lực, chẳng hạn:

- Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công

nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD*, 2002) [13]

- Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể họcđược… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứatrong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sửdụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống

thay đổi (Weinert, 2001) [13]

- Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng thái độ vàhứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng

của cuộc sống (Quebec-Ministrere de I’Education, 2004) [1, 13]

- Năng lực là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhânnhư hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh

nhất định (Bộ giáo dục và đào tạo, 2015, Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, ban hành theo quyết định 404/QĐ – TTg năm 2015 của Thủ tướng

Chính phủ; Trang 5)

- Năng lực là đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo- tức là có thể thực hiện

một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó (Từ điển bách khoa Việt Nam, 2002, tập 3, NXB Từ điển bách khoa Hà Nội)

- Là một loại thuộc tính với sự mở rộng nghĩa của từ này- bao hàm không chỉ các đặctính bẩm sinh mà cả những đặc tính hình thành và phát triển nhờ quá trình học tập, rèn

luyện của con người (Hoàng Hòa Bình, Năng lực và đánh giá theo năng lực, Tạp chí

đại học sư phạm TPHCM, số 6, 2015, trang 71)

- Năng lực (Competence) của học sinh là khả năng vận dụng tổng hợp các kiến thức, kĩnăng, thái độ vào giải quyết các tình huống học tập và thực tiễn, thu được những sảnphẩm cụ thể, có thể quan sát, đánh giá được (Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường, 2014,

11

* OECD là tên viết tắt của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Cooperation

Trang 12

Lí luận dạy học hiện đại, cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học,

NXB đại học sư phạm Hà Nội)

- Năng lực là sự kết hợp phức tạp của kiến thức, kĩ năng, giá trị và thái độ cho phép

một người thể hiện hành động hiệu quả của họ trong cuộc sống ( Fred Paas & Tamara van Gog & John Sweller, 2010 Pre-and In-service Preschool Teacher’s Science Teaching Efficacy Beliefs Educational Research Review, Vol 11 (14),

pp 1344-1350)

Từ đó, chúng tôi thống nhất và đưa ra khái niệm năng lực như sau:

“Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của cá nhân vào việc giải quyết các tình huống đặt ra để thu được kết quả có chất lượng cao”

1.2 Phân loại năng lực

Phân loại năng lực là một vấn đề rất phức tạp Kết quả phụ thuộc vào quanđiểm và tiêu chí phân loại Nhìn vào chương trình thiết kế theo hướng tiếp cận nănglực của các nước có thể thấy 2 loại chính: Đó là những năng lực chung và năng lực đặcthù (năng lực cụ thể, năng lực đặc thù) [1]

1.2.1 Năng lực chung

Khái niệm năng lực chung

“Năng lực chung” là năng lực cơ bản, thiết yếu để con người có thể sống và làmviệc bình thường trong xã hội Năng lực này được hình thành và phát triển do nhiềumôn học, liên quan đến nhiều môn học

Phân loại năng lực chung

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về việc phân loại năng lực chung Trong tàiliệu này chúng tôi dựa trên quan điểm của tài liệu Tập huấn giáo viên của Bộ giáo dục

và đào tạo năm 2014 [1]

1 Năng lực tự học

Bản thân phải xác định được nhiệm vụ học tập một cách tự giác, tự hoàn thiệnbản thân, không quá lệ thuộc vào các yêu tô bên ngoài như: điểm số, thành tích…Nănglực tự học được thể hiện qua việc: lập và thực hiện kế hoạch học tập nghiêm túc, nềnếp, thực hiện các cách học, hình thành cách ghi nhớ riêng, phân tích nhiệm vụ học tập

để lựa chọn các nguồn tài liệu phù hợp, các đề mục, các đoạn bài ở sách giáo khoa,sách tham khảo, internet, lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt với đề cương

Trang 13

chi tiết, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa, ghi chú bài giảng của giáo viên theocác ý chính, tra cứu tài liệu ở thư viện nhà trường theo yêu cầu của nhiệm vụ học tập.

Năng lực tự học còn thể hiện qua việc: nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạnchế của bản thân khi thực hiện các nhiệm vụ học tập thông qua lời góp ý của giáo viên,bạn bè, chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập

2 Năng lực giải quyết vấn đề

Bước đầu phân tích được các tình huống trong học tập, tìm ra những tình huống

có vấn đề, sau đó tìm hiểu các thông tin liên quan và từ đó tìm hướng giải quyết Cuốicùng thực hiện các hướng giải quyết đó và nhận ra hướng giải quyết tối ưu nhất

3 Năng lực sáng tạo

Bản thân phải có những ý tưởng sáng tạo riêng, không phụ thuộc vào ngườikhác trong quá trình giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống Khi gặpmột tình huống thực tiễn trong cuộc sống, phải biết xác định và làm rõ thông tin từnhiều nguồn khác nhau Sau đó hình thành ý tưởng dựa trên các nguồn thông tin đã tìmhiểu, lên kế hoạch thực hiện Điều quan trọng ở năng lực sáng tạo là việc phát hiện yếu

tố mới, yếu tố của riêng bản thân và không quá lo lắng về tính đúng sai của ý tưởng

4 Năng lực tự quản lý

Năng lực tự quản lý thể hiện tính độc lập cao trong việc quản lý và được biểuhiện qua việc: nhận ra được các yếu tố tác động đến hành động của bản thân, kiềm chếđược cảm xúc của bản thân trong các tình huống khác nhau.Ý thức được quyền lợi vànghĩa vụ của mình, xây dựng và thực hiện được kế hoạch nhằm đạt được mục đích,nhận ra và có ứng xử phù hợp với những tình huống không an toàn Tự đánh giá, tựđiều chỉnh những hành động chưa hợp lý của bản thân trong học tập và trong cuộcsống hàng ngày

Mặt khác, năng lực tự quản lý còn thể hiện ở việc tự đánh giá được hình thể củabản thân so với chuẩn về chiều cao, cân nặng, nhận ra những dấu hiệu thay đổi của bảnthân trong giai đoạn dậy thì, có ý thức ăn uống, rèn luyện và nghỉ ngơi phù hợp đểnâng cao sức khỏe, nhận ra và kiểm soát được những yếu tố ảnh hưởng xấu tới sứckhỏe và tinh thần trong môi trường sống và học tập

6 Năng lực giao tiếp

Trước bối cảnh hội nhập hiện nay, mỗi cá nhân phải tự trang bị cho bản thân kĩnăng giao tiếp tốt Và việc đó cần được thực hiện qua các bước cơ bản sau đây: bước

Trang 14

đầu biết đặt ra mục đích giao tiếp và hiểu được vai trò quan trọng của việc đặt mụctiêu trước khi giao tiếp Trong quá trình giao tiếp cần khiêm tốn, lắng nghe tích cựctrong giao tiếp, nhận ra được bối cảnh giao tiếp, đặc điểm, thái độ của đối tượng giaotiếp Cần chú ý diễn đạt ý tưởng một cách tự tin, thể hiện được biểu cảm phù hợp vớiđối tượng và bối cảnh giao tiếp.

7 Năng lực hợp tác

Việc tự lập là rất quan trọng, nhưng trong một vài tình huống của cuộc sống thìchúng ta không thể giải quyết tốt công việc mà không cần sự trợ giúp của các cá nhânkhác Nhưng trợ giúp ở đây không có ý nghĩa lệ thuộc hoàn toàn, mà chúng ta phảihợp tác một cách bình đẳng và vì lợi ích chung Một người được xem là có năng lựchợp tác tốt thường có những biểu hiện sau đây: chủ động đề xuất mục đích hợp tác khiđược giao các nhiệm vụ, xác định được loại công việc nào có thể hoàn thành tốt nhấtbằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp Biết trách nhiệm, vai trò của bản thântrong nhóm ứng với công việc cụ thể, phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu đượccác hoạt động phải thực hiện, trong đó tự đánh giá được hoạt động mình có thể đảmnhiệm tốt nhất để tự đề xuất cho nhóm phân công

Nếu là người đứng đầu cần nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thànhviên cũng như kết quả làm việc nhóm, dự kiến phân công từng thành viên trong nhómcác công việc phù hợp Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần việc được giao, góp

ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung, chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viêntrong nhóm Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm, nêumặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm

7 Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông.

Hiện nay, công nghệ hiện đại đang giúp ít rất nhiều cho cuộc sống của chúng ta.Thế nhưng không phải ai cũng có được khả năng sử dụng các công nghệ hiện đại, vìvậy chúng ta phải biết lựa chọn những công nghệ phù hợp với khả năng của bản thân

Ví dụ như cá nhân phải biết sử dụng các chức năng tìm kiếm thông tin, lưu trữu thôngtin, chia sẽ thông tin … của Internet Sử dụng các thiết bị ICT* để thực hiện các nhiệm

vụ cụ thể, nhận biết các thành phần của hệ thống ICT cơ bản, sử dụng được các phầnmềm hỗ trợ học tập thuộc các lĩnh vực khác nhau…

* ICT là cụm từ thường dùng như từ đồng nghĩa rộng hơn cho công nghệ thông tin, nhưng thường là một thuật

ngữ chung để nhấn mạnh vai trò của truyền thông hợp nhất và sự kết hợp của viễn thông ICT bao gồm tất cả các phương tiện kỹ thuật được sử dụng để xử lý thông tin và trợ giúp liên lạc, bao gồm phần cứng và mạng máy tính,

Trang 15

8 Năng lực sử dụng ngôn ngữ.

Năng lực sử dụng ngôn ngữ được thể hiện qua việc: nghe hiểu nội dung chínhhay nội dung chi tiết các bài đối thoại, chuyện kể, lời giải thích, cuộc thảo luận, nóichính xác, đúng ngữ điệu và nhịp điệu, trình bày được nội dung chủ đề thuộc chươngtrình học tập, đọc hiểu nội dung chính hay nội dung chi tiết các văn bản, tài liệu ngắn,viết đúng các dạng văn bản về những chủ đề quen thuộc hoặc cá nhân ưa thích, viếttóm tắt nội dung chính của bài văn, câu chuyện ngắn Phát âm đúng nhị điệu và ngữđiệu, hiểu từ vựng thông dụng được sử dụng trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ,thông qua các ngữ cảnh có nghĩa, phân tích được cấu trúc và ý nghĩa giao tiếp của cácloại câu trần thuật, câu hỏi, câu mệnh lệnh, câu cảm khán, câu khẳng định, câu phủđịnh, câu đơn, câu ghép, câu phức, câu điều kiện

Ngoài ra, trong bối cảnh quốc tế hóa hiện nay, mỗi cá nhân cần trang bị cho bảnthân một vốn kiến thức ngoại ngữ cần thiết

Một cá nhân cần phải biết sử dụng được các thuật ngữ, kí hiệu toán học, tínhchất các số và của các hình học, sử dụng được thống kê toán học trong học tập vàtrong một số tình huống đơn giản hàng ngày, hình dung và có thể vẽ phác thảo các đốitượng, trong môi trường xung quanh, nêu được tính chất cơ bản của chúng Hiểu vàbiểu diễn được mối quan hệ toán học giữa các yếu tố trong các tình huống học tập vàtrong đời sống để áp dụng vào cuộc sống Sử dụng được các dụng cụ đo, vẽ, tính, sửdụng được máy tính cầm tay trong học tập cũng như trong cuộc sống hàng ngày, bướcđầu sử dụng máy vi tính để tính toán trong học tập

1.2.2 Năng lực đặc thù trong môn Vật lý:

Ngoài những năng lực chung, từng môn học ở trường phổ thông với những ưuthế và đặc điểm riêng của mình cũng giúp học sinh phát triển tốt hơn những năng lực

Trang 16

cụ thể Môn Văn học có ưu thế trong việc phát triển năng lực ngôn ngữ, môn Toán có

ưu thế trong việc phát triển năng lực suy luận logic, môn Vật lý có ưu thế trong việcphát triển năng lực thực nghiệm,… Những năng lực cụ thể có thể được phát triển tốtnhờ quá trình học môn học cụ thể như vậy được gọi là các năng lực đặc thù của mônhọc đó

Trong lí luận cũng như thực tiễn, tồn tại 2 quan điểm chính trong việc xác địnhnhững năng lực đặc thù cho từng môn học Một là, xây dựng các năng lực đặc thù dựatrên các biểu hiện của năng lực chung trong môn học cần xây dựng Hai là, xây dựngcác năng lực đặc thù dựa trên đặc điểm của lĩnh vực cần xây dựng

Quan điểm 1: Xây dựng các năng lực đặc thù bằng cách cụ thể hóa các năng lực chung

Ở cách tiếp cận này, từ những năng lực chung đã có, chúng ta xác định xemnhững năng lực chung có những biểu hiện như thế nào trong môn học, và gọi đó là cácnăng lực đặc thù Ví dụ, năng lực tự học có biểu hiện cụ thể trong môn Vật lý là: Tựtìm kiếm thông tin về các hiện tượng, ứng dụng, kiến thức Vật lý; Tự đánh giá được độtin cậy của nguồn thông tin; Tự giác hoàn thành được các nhiệm vụ học tập ở nhà; Tựtóm tắt và hệ thống được các kiến thức thu nhận được; … Và đó chính là các năng lựcđặc thù trong môn Vật lý Với cách tiếp cận này, chúng ta có thể kể ra các biểu hiện cụthể của các năng lực chung ở trong môn học Vật lý như bảng dưới đây

Bảng 1: Bảng năng lực đặc thù môn Vật lý được cụ thể hóa từ năng lực chung [1]

- Đánh giá được mức độ chính xác nguồn thông tin

- Đặt được câu hỏi về hiện tượng, sự vật quanh ta

- Tóm tắt được trọng tâm của nội dung Vật lý bất kì

- Tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy, bản đồ khái niệm, bảngbiểu, sơ đồ khối…

Trang 17

- Tự đặt câu hỏi, thiết kế phương án, tiến hành thí nghiệm đểtrả lời cho các câu hỏi đó.

- Đặc biệt quan trọng là năng lực thực nghiệm

Đặt được những câu hỏi về hiện tượng tự nhiên: Hiện tượng…diễn ra như nào? Điều kiện diễn ra hiện tượng là gì? Các đạilượng trong hiện tượng tự nhiên có mối quan hệ với nhau nhưthế nào? Các dụng cụ có cấu tạo và nguyên tắc hoạt động nhưthế nào?

- Đưa ra các hướng giải quyết khác nhau

- Tiến hành giải quyết các câu hỏi bằng suy luận lí thuyết hoặckhảo sát thực nghiệm

- Khái quát hóa rút ra kết luận từ kết quả thu được

- Đánh giá độ tin cậy và kết quả thu được

3 Năng lực sáng

tạo

- Thiết kế được phương án thí nghiệm để kiểm tra giả thuyết(hoặc dự đoán)

- Lựa chọn được phương án thí nghiệm tối ưu

- Giải được bài tập sáng tạo

- Lựa chọn được hướng giải quyết vấn đề một cách tối ưu

- Sử dụng được ngôn ngữ Vật lý để mô tả hiện tượng

- Lập được bảng và mô tả bảng số liệu thực nghiệm

- Vẽ được đồ thị từ bảng số liệu cho trước

- Vẽ được sơ đồ thí nghiệm

- Mô tả được sơ đồ thí nghiệm

- Đưa ra các cách lập luận logic, biện luận kết quả

6 Năng lực hợp

tác

- Tiến hành thí nghiệm theo nhóm

- Tiến hành thí nghiệm theo các khu vực khác nhau

Nhóm năng lực công cụ (Các năng lực này sẽ được hình thành trong quá trình hình

- Sử dụng phần mềm mô phỏng để mô tả đối tượng Vật lý

Trang 18

- Đọc hiểu được đồ thị, bảng biểu một cách khoa học.

9 Năng lực tính toán - Mô hình hóa quy luật Vật lý bằng các công thức toán

học

- Sử dụng kiến thức toán học để hình thành kiến thức mớihay hệ quả từ những kiến thức đã biết

Quan điểm 2: Xây dựng các năng lực đặc thù dựa trên đặc thù môn học Vật lý

Với cách tiếp cận này, chúng ta sẽ dựa trên đặc thù nội dung, phương phápnhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực đặc thùcho môn học đó Vật lý nói chung và môn Vật lý ở trường THPT nói riêng có nhữngđặc thù như: nội dung đề cập đến các hiện tượng - quy luật tự nhiên; phương phápnghiên cứu chủ đạo là phương pháp thực nghiệm; vai trò chủ yếu là giúp học sinhkhám phá thế giới vật chất, từ đó có cách hành xử phù hợp và có những những sángtạo cụ thể trong cuộc sống Từ những đặc thù đó, có thể kể ra được các năng lực cụ thể

mà môn Vật lý có nhiều ưu thế trong việc hình thành và phát triển cho học sinh như:năng lực giải quyết vấn đề, năng lực hợp tác, năng lực thực nghiệm, năng lực quan sát,năng lực tự học, năng lực tính toán, năng lực giải thích hiện tượng Vật lý, năng lựcsáng tạo … Tuy nhiên việc hình thành, phát triển và đánh giá các năng lực này nhưmột chỉnh thể là rất khó khăn và có nhiều trùng lắp Chẳng hạn như khi học sinh thựchiện thí nghiệm, bản thân các em phải có kỹ năng quan sát để nắm bắt hiện tượng Vật

lý, phải có kỹ năng tính toán để xử lý số liệu thu được Các kĩ năng này là biểu hiệncủa năng lực quan sát và năng lực tính toán Hay nói cách khác lúc này năng lực tínhtoán và năng lực quan sát đang bị trùng lắp trong năng lực thực nghiệm Do đó cầntiếp tục chia nhỏ các năng lực trên thành các năng lực thành phần, rồi gộp các năng lựcthành phần có đặc điểm giống nhau thành các nhóm năng lực thành phần

Cách xác định năng lực đặc thù như trên cũng được nhiều nước trên thế giớinhư Đức, Thụy Sỹ, Áo, Bỉ,… tiếp cận Điển hình là trong chương trình môn Vật lý ởĐức cũng chia thành 4 nhóm năng lực thành phần: nhóm năng lực liên quan đến sửdụng kiến thức Vật lý, nhóm phương pháp nhận thức Vật lý, nhóm năng lực trao đổithông tin, nhóm năng lực đánh giá

Trang 19

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục cũng xác định các năng lực đặc thù Vật lýtheo hướng này Có thể kể ra các trường hợp điển hình dưới đây:

+ Tác giả Nguyễn Văn Biên xác định được 3 hợp phần năng lực (tên gọi của tác giảcho cách nhóm năng lực thành phần), là: Hợp phần nghiên cứu lý thuyết; Hợp phầnthực hiện thí nghiệm; Hợp phần trao đổi và bảo vệ kết quả Mỗi hợp phần năng lực cụthể, tác giả cũng xác định các thành tố, chỉ số hành vi tương ứng

+ Tác giả Phạm Xuân Quế xác định 4 nhóm năng lực là: Nhóm năng lực thành phầnliên quan đến kiến thức Vật lý; Nhóm năng lực thành phần liên quan đến phương phápnhận thức Vật lý; Nhóm năng lực thành phần liên quan đến giao tiếp trong Vật lý;Nhóm năng lực thành phần liên quan đến đánh giá Mỗi nhóm năng lực thành phầnnày cũng được tác giả chỉ ra các năng lực thành phần cụ thể Cách xác định này đượctác giả báo cáo tại hội thảo “Dạy học Vật lý theo định hướng phát triển năng lực” vớinhan đề “Xác định các năng lực được phát triển trong dạy học tích hợp - một trong các

cơ sở xây dựng chương trình môn khoa học tự nhiên” Trong bài báo đó, tác giả đã dựa

trên tài liệu KMK, Kultusministerkonferenz (2005c) Beschlüsse der Kultusministerkonferenz: Bildungsstandards im Fach Physik für den Mittleren Bildungsabschluss Beschluss vom 16.12.2004.

+ Theo Bộ giáo dục và đào tạo (Tài liệu tập huấn hướng dẫn dạy học và kiểm tra đánhgiá theo định hướng phát triển năng lực học sinh cấp THPT, 2014) năng lực đặc thùmôn Vật lý gồm 4 nhóm năng lực thành phần sau: Nhóm năng lực thành phần liênquan đến sử dụng kiến thức Vật lý (K); Nhóm năng lực thành phần về phương pháp(tập trung vào năng lực thực nghiệm và năng lực mô hình hóa) (P); Nhóm năng lựcthành phần trao đổi thông tin (X); Nhóm năng lực thành phần liên quan đến cá nhân(C) Mỗi nhóm năng lực thành phần cũng được chỉ ra các năng lực thành phần cụ thể

Trong nghiên cứu này, chúng tôi xác định 4 nhóm năng lực thành phần là:nhóm năng lực liên quan đến sử dụng kiến thức Vật lý (K), nhóm năng lực thựcnghiệm (N), nhóm năng lực tìm kiếm và trao đổi thông tin (T), nhóm năng lực cá thể(C) Trong từng nhóm năng lực thành phần nhóm chúng tôi xác định các cấp độ vànhững chỉ số hành vi tương ứng với từng cấp độ

Nhóm năng lực liên quan đến sử dụng kiến thức Vật lý (K): Là những năng

lực của bản thân người học trong việc huy động, sử dụng các kiến thức, kĩ năng đã họctrên lớp hoặc thông qua trải nghiệm thực tế của cuộc sống để giải quyết những vấn đề

Trang 20

đặt ra trong những tình huống đa dạng và phức tạp của đời sống Nhóm năng lực liênquan đến sử dụng kiến thức mô tả dưới dạng như sau:

Bảng 2: Bảng năng lực liên quan đến sử dụng kiến thức Vật lý (K)

[K2] Hiểu và vậndụng kiến thức

+ Hiểu nội dung những kiến thức đã táihiện

+ Lựa chọn đúng những kiến thức đã họcvào giải quyết vấn đề trong học tập

+ Vận dụng thành công các kiến thức đã họcvào giải quyết vấn đề trong học tập

+ Xác lập được mối quan hệ giữa kiến thức

đã biết và kiến thức mới

[K3] Chuyển tải kiếnthức vào thực tiễn

+ Giải thích được các hiện tượng ngoài thực

tế bằng các kiến thức đã học

+ Ứng dụng kiến thức Vật lý để suy diễnnguyên lý hoạt động của thiết bị thực tế.+ Nhận ra các mâu thuẫn trong thực tế với líthuyết đã học

Nhóm năng lực thực nghiệm (N): Là một năng lực đặc thù quan trọng của

môn học Vật lý Năng lực thực nghiệm được hiểu là khả năng vận dụng phối hợp kiếnthức, kỹ năng, thái độ nhằm tác động lên đối tượng thực trong các điều kiện khácnhau, từ đó phát hiện quy luật hoặc tìm được vấn đề cần nghiên cứu

+ Quan sát, nhận ra vấn đề cần nghiên cứu

từ hiện tượng Vật lý

+ Đặt ra câu hỏi liên quan đến vấn đề đãphát hiện

Trang 21

[N2] Đề xuất nhữnggiả thuyết để giảiquyết vấn đề Vật lýmới phát hiện.

+ Dự đoán những câu trả lời liên quan đếnvấn đề Vật lý phát hiện

+ Đưa ra các căn cứ đã dự đoán

[N3] Tiến hành thínghiệm kiểm tra vàkết luận

+ Thiết kế được các phương án thí nghiệm.+ Lựa chọn được phương án thí nghiệm tốiưu

+ Tiến hành thành công thí nghiệm

+ Đọc được giá trị, biết ghi kết quả thínghiệm một cách khoa học

+ Biết xử lí số liệu thí nghiệm (vẽ đồ thị,tính trung bình, sai số, …) để tìm ra quyluật

+ Chỉ ra được yếu tố ảnh hưởng đến kết quảthí nghiệm, từ đó biết đề xuất cách khắcphục

Nhóm năng lực tìm kiếm, trao đổi thông tin (T): Là những năng lực liên

quan đến khả năng tìm kiếm, chọn lọc, và trao đổi thông tin của học sinh

Bảng 4: Bảng năng lực tìm kiếm, trao đổi thông tin (T)

+ Xác định được thông tin muốn tìm kiếm.+ Biết cách sử dụng các công cụ tìm kiếmthông tin

+ Lựa chọn và đánh giá độ tin cậy của thôngtin

[T2] Diễn đạt thôngtin

+ Diễn đạt được vấn đề Vật lý bằng ngônngữ Vật lý

+ Nhận xét được thông tin về vấn đề Vật lý

có phù hợp với ngôn ngữ diễn đạt của Vật

Trang 22

+ Biết thảo luận nhóm, trình bày, tranh luậntrong nhóm.

+ Có thể diễn đạt, trao đổi thông tin theonhiều cách khác nhau

Nhóm năng lực cá thể (C): Là những năng lực liên quan đến khả năng học

sinh độc lập hoạt động, đánh giá hoạt động của bản thân và người khác

+ Tự xác lập được hệ thống kiến thức đãhọc

+ Tự sắp xếp kiến thức mới vào hệ thốngkiến thức đã có

[C2] Xác định đượctrình độ hiện có củabản thân

+ Tự mô tả được hệ thống kiến thức của bảnthân

+ Nhìn nhận được các khiếm khuyết củabản thân về kiến thức, kĩ năng Vật lý

[C3] Tự lên kế hoạch

và thực hiện kế hoạchnâng cao trình độ bảnthân

+ Biết xây dựng kế hoạch phù hợp với bảnthân để nâng cao trình độ Vật lý

+ Biết thực hiện kế hoạch đã vạch ra

1.3 Cấu trúc năng lực

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúccủa chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phầnnăng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực được mô tả là sự kết hợp của 4năng lực thành phần: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội vànăng lực cá thể [1]

- “Năng lực chuyên môn” là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng nhưkhả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chínhxác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung chuyên môn và chủyếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động

- “Năng lực phương pháp” là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, địnhhướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề Năng lực phương phápbao gồm năng lực phương pháp chung và năng lực phương pháp chuyên môn Trung

Trang 23

tâm của phương pháp nhận thức là khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ vàtrình bày tri thức Nó được học thông qua việc học phương pháp luận- giải quyết vấnđề.

- “Năng lực xã hội” là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếpứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽvới những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp

- “Năng lực cá thể” là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũngnhư những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kếhoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phốicác thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc- đạo đức vàliên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm

1.4 Hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT

1.4.1 Sự cần thiết của việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT

Đối với chương trình dạy học theo truyền thống việc giáo dục chủ yếu “dựa vào nội

dung/ chủ đề” (content or topic based approach) hoặc là “định hướng đầu vào”

Tiếp cận nội dung là cách tiếp cận nêu ra một danh mục đề tài, chủ đề của một

lĩnh vực/môn học nào đó Tức là tập trung xác định và trả lời câu hỏi: Chúng ta muốn

học sinh biết và hiểu (know-what) cái gì?

Cách tiếp cận này chủ yếu dựa vào yêu cầu nội dung học vấn của một môn khoahọc nên thường mang tính "hàn lâm", nặng về lý thuyết và tính hệ thống, nhất là khingười thiết kế ít chú ý đến tiềm năng, các giai đoạn phát triển, nhu cầu, hứng thú vàđiều kiện của người học

- Ưu điểm của dạy học theo truyền thống:

Truyền thụ cho người học những tri thức mang tính khoa học và có hệ thống

- Nhược điểm dạy học theo truyền thống:

Xã hội ngày càng phát triển nên tri thức thay đổi và lạc hậu nhanh chóng, việc quyđịnh cứng nhắc những nội dung trong chương trình giáo dục được cung cấp trong sáchgiáo khoa và quá trình tiếp thu ở nhà trường nhanh chóng bị lạc hậu so với tri thứchiện đại

Việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà khôngđịnh hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn

Trang 24

Phương pháp kiểm tra, đánh giá còn đơn điệu, thiếu tính đa dạng, chủ yếu thực hiệnđánh giá bằng các bài viết dạng tự luận, trắc nghiệm khách quan, vấn đáp, gây nên

sự nhàm chán trong học tập, không phát huy cao năng lực của học sinh

Phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sảnphẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo vànăng động

Chương trình dạy học tiếp cận năng lực là chương trình tiếp cận dựa vào kết quả đầu

ra (Outcome-based Education – OBE)

Tiếp cận kết quả đầu ra là cách tiếp cận nêu rõ kết quả- những khả năng hoặc kĩ

năng mà học sinh mong muốn đạt được vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhàtrường ở một môn học cụ thể" Nói cách khác, cách tiếp cận này nhằm trả lời câu hỏi:

Chúng ta muốn học sinh biết và có thể làm (know-how) được những gì? Chứ không chỉ biết và hiểu (know-what).

- Ưu điểm dạy học theo tiếp cận năng lực:

Tạo điều kiện quản lý chất lượng kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vậndụng của học sinh

Hình thành cho học sinh khả năng kiểm soát được năng lực để từ đó đánh giá được kếtquả học tập phù hợp với bản thân

Chương trình được thiết kế, tổ chức giúp học sinh có thể chia sẻ, đánh giá lẫn nhau hỗtrợ để đạt được kết quả học tập tốt

Khám phá cơ hội học tập đa dạng

Tạo ra các đồ dùng học tập đại diện cho từng năng lực học sinh

Các khoá học và tài liệu học tập đánh giá phù hợp với các mục tiêu được xác định rõ.Quá trình đào tạo chú trọng vào kết quả học tập hơn là chú trọng giới hạn chươngtrình, thời gian

Dễ dàng nhận biết một cách linh hoạt để thay đổi quản lý, xây dựng chương trình phùhợp với năng lực học sinh thông qua từng giai đoạn đánh giá

Tài liệu được thay đổi một cách linh hoạt để phù hợp với từng năng lực học sinh, họcsinh cũng có thể tự lựa chọn tài liệu phù hợp với năng lực của mình

Giúp người học không chỉ biết học thuộc, ghi nhớ mà còn phải biết làm thông qua cáchoạt động cụ thể, sử dụng những tri thức học được để giải quyết các tình huống docuộc sống đặt ra

Trang 25

Giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng

cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo

- Nhược điểm dạy học theo tiếp cận năng lực:

Nếu vận dụng một cách sai lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì có thểdẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức Ngoài ra chất lượnggiáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực hiện

→ Ngày nay, xã hội ngày một phát triển nên nhiệm vụ xã hội đặt ra cho giáo dục ngày càng cao hơn Giáo dục cần phải giải quyết những mâu thuẫn tri thức ngày càng tăng

mà thời gian đào tạo lại có hạn Giáo dục cần đào tạo ra những con người đáp ứng được những đòi hỏi của thị trường lao động và nghề nghiệp cũng như cuộc sống, có khả năng hòa nhập và cạnh tranh quốc tế Do đó, chúng ta cần phải chuyển từ dạy học định hướng nội dung sang dạy học định hướng phát triển năng lực để giúp cho học sinh hoàn thiện bản thân mình một cách toàn diện về trí, đức, thể, mĩ và ngoài việc học để biết còn có thể vận dụng một cách có khoa học những nội dung kiến thức

đã học được để phát triển năng lực bản thân và tạo điều kiện phát triển chung cho toàn xã hội [1, 12]

1.4.2 Các biện pháp hình thành và phát triển năng lực cho học sinh THPT

Biện pháp 1: Định hướng lại mục tiêu dạy học theo hướng phát triển năng lực cho học sinh

Muốn hình thành và phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt độngdạy học việc đầu tiên là phải xác định được mục tiêu dạy học, từ đó mới có cơ sở đểhình thành nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp với năng lựccủa học sinh Để đạt được các mục đích này cần phải thay đổi mục tiêu kiến thức vàmục tiêu kĩ năng cụ thể như sau:

Đối với mục tiêu kiến thức: Ngoài các yêu cầu về mức độ như nhận biết, tái

hiện kiến thức cần có những mức độ cao hơn như vận dụng kiến thức trong các tìnhhuống, các nhiệm vụ gắn với thực tế Học sinh nắm được hệ thống tri thức khoa họckhách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau

Ngoài việc định hướng lại những mục tiêu về kiến thức không thể bỏ qua việc

định hướng mục tiêu kĩ năng để giúp cho học sinh phát triển năng lực Đối với mục tiêu kĩ năng: yêu cầu học sinh phát triển kĩ năng thực hiện các hoạt động đa dạng Các

mục tiêu này đạt được thông qua các hoạt động trong và ngoài nhà trường Nhấn mạnh

Trang 26

vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức, rèn cho học sinh khảnăng giải quyết vấn đề gắn với thực tiễn một cách linh hoạt.

Biện pháp 2: Đổi mới nội dung dạy học dựa trên những mục tiêu đã đặt ra

Để xây dựng nội dung dạy học theo định hướng phát triển năng lực cần phải:

- Chuyển từ dạy học theo định hướng nội dung – chú trọng kết quả đầu vào sang địnhhướng năng lực – chú trọng kết quả đầu ra

- Chuyển từ đánh giá tổng kết sang đánh giá quá trình; từ đánh giá chủ yếu ghi nhớ,

hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thựctiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo

- Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra gắn với các tình huống thựctiễn, các kiến thức tích hợp, liên môn Chương trình chỉ quy định những nội dungchính theo hướng phát triển năng lực không nên quy định chi tiết

- Trong việc thiết kế bài dạy, cần xác định mục tiêu dạy học về kiến thức, kĩ năng mộtcách rõ ràng, có thể đạt được, đánh giá và có thể kiểm tra

- Trong việc xác định nội dung dạy học, không chỉ chú ý đến các kiến thức kĩ năngchuyên môn mà cần chú ý những nội dung có thể phát triển các năng lực chung như:năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể

- Trong việc thiết kế nội dung dạy học cần bắt đầu từ bình diện vĩ mô: xác định quanđiểm, hình thức tổ chức dạy học phù hợp Từ đó xác định các nội dung dạy học cụ thể

và thiết kế hoạt động của giáo viên và học sinh theo trình tự các tình huống dạy họcnhỏ ở bình diện vi mô

- Không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà còn những nội dungnhằm phát triển năng lực như: Giáo dục cho học sinh nội dung chuyên môn, giáo dụccho học sinh phương pháp – chiến lược, giáo dục cho học sinh giao tiếp xã hội, giáodục cho học sinh tự trải nghiệm, đánh giá [1]

Biện pháp 3: Đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở trường THPT [1]

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tíchcực hoá học sinh về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn

đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt độngtrí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm có ýnghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri

Trang 27

thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tậpphức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp Bằng các hoạtđộng cụ thể như sau:

Một là, cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống

Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương pháp dạyhọc truyền thống quen thuộc mà cần bắt đầu bằng việc cải tiến để nâng cao hiệu quả vàhạn chế nhược điểm của chúng Để nâng cao hiệu quả của các phương pháp dạy họcnày người giáo viên trước hết cần nắm vững những yêu cầu và sử dụng thành thạo các

kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũng như tiến hành bài lên lớp, chẳng hạn như

kỹ thuật mở bài, kỹ thuật trình bày, giải thích trong khi thuyết trình, kỹ thuật đặt cáccâu hỏi và xử lý các câu trả lời trong đàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập.Tuy nhiên, các phương pháp dạy học truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bêncạnh các phương pháp dạy học truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạyhọc mới, đặc biệt là những phương pháp và kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực vàsáng tạo của học sinh Chẳng hạn có thể tăng cường tính tích cực nhận thức của họcsinh trong thuyết trình, đàm thoại theo quan điểm dạy học phát hiện và giải quyết vấn

- Bàn tay nặn bột là một phương pháp dạy học tích cực dựa trên thí nghiệm nghiên

cứu, áp dụng cho việc giảng dạy các môn khoa học tự nhiên "Bàn tay nặn bột" chútrọng đến việc hình thành kiến thức cho học sinh bằng các thí nghiệm tìm tòi nghiêncứu để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sốngthông qua tiến hành thí nghiệm, quan sát, nghiên cứu tài liệu hay điều tra…

- Mô hình VNEN (Viet Nam Escuela Nueva): Chuyển hoạt động, hình thức dạy học

truyền thống: Thầy chủ động hướng dẫn học sinh tìm ra tri thức sang học sinh tự giác

tổ chức các hoạt động học tập của mình Học sinh biết hợp tác và thông qua sự tươngtác giữa các thành viên trong nhóm học tập, học sinh hoàn toàn chủ động để khám phá

và tìm ra tri thức Học sinh tự đánh giá bản thân mình, và được bạn bè đánh giá thông

Trang 28

qua hoạt động nhóm Phối hợp quy trình của các môn học hiện nay với tiến trình 10bước học tập và qui trình 5 bước lên lớp của mô hình VNEN Tức là theo qui trình củatiết dạy các môn học hiện nay giáo viên lồng ghép, thay đổi một số hình thức lên lớp

mà trong đó giáo viên mang tính chủ đạo sang các hoạt động học sinh tự tổ chức cáchoạt động học tập của cá nhân, nhóm, lớp… thông qua các “lô gô” và “lệnh”

- Dạy học theo tình huống (Situated learning): Dạy học được tổ chức theo những chủ

đề phức hợp gắn với các tình huống thực của cuộc sống và nghề nghiệp Quá trình dạyhọc được tổ chức trong một môi trường tạo điều kiện kiến tạo tri thức theo cá nhân vàtrong mối quan hệ xã hội của việc học tập “Giáo dục là chuẩn bị cho người học vàoviệc giải quyết các tình huống của cuộc sống” Việc học cần được liên hệ với các tìnhhuống hiện thực (SoulB Robinsohn 1967)

- Nghiên cứu trường hợp (Case study method): Trong đó người học tự lực nghiên cứu

một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra

- Dạy học dự án (Project – based learning): Học sinh thực hiện một nhiệm vụ học tập

phức hợp gắn liền với thực tiễn, kết hợp lý thuyết với thực hành, tự lực lập kế hoạch,thực hiện và đánh giá kết quả Hình thức làm việc chủ yếu là theo nhóm, kết quả dự án

là những sản phẩm hành động có thể giới thiệu được

- Dạy học theo trạm (learning by station) là cách thức tổ chức dạy học đặt dấu nhấn

vào việc tổ chức nội dung dạy học thành từng nhiệm vụ nhận thức độc lập của cácnhóm học sinh khác nhau Học sinh có thể thực hiện nhiệm vụ theo cặp, theo nhómhoặc hoạt động cá nhân theo một thứ tự linh hoạt Việc phân hóa trong dạy học theotrạm khá là linh hoạt, đa dạng, có thể thực hiện phân hóa theo nội dung, cũng có thể tổchức dạy học theo trạm với sự phân hóa về mức độ hướng dẫn cụ thể, chi tiết hay làkhái quát, định hướng chung thông qua hệ thống phiếu trợ giúp

- Các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học khác như: Khăn trải bàn, mảnh ghép,

bể cá, đổ bi, theo góc, 1 phút, hỏi dây chuyền, hỏi chuyên gia,…

Ba là, kết hợp đa dạng các phương pháp với nhau

Không có một phương pháp dạy học toàn năng phù hợp với mọi mục tiêu và nộidung dạy học Mỗi phương pháp và hình thức dạy học có những ưu, nhựơc điểm vàgiới hạn sử dụng riêng Vì vậy việc phối hợp đa dạng các phương pháp và hình thứcdạy học trong toàn bộ quá trình dạy học là phương hướng quan trọng để phát huy tínhtích cực và nâng cao chất lượng dạy học

Trang 29

Bốn là, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác.

Đối với việc dạy học truyền thống việc truyền thụ kiến thức chỉ theo một chiều giáoviên đọc chép, giáo viên hoạt động là chủ yếu nên học sinh trở nên thụ động, tiếp nhậnkiến thức một cách máy móc Phương pháp dạy học phát triển năng lực chú trọng đếnviệc tích cực hoá học sinh hoạt động trí tuệ, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề,những tình huống trong cuộc sống, tham gia các hoạt động nhóm, vì vậy cần đổi mớimối quan hệ giữa giáo viên và học sinh theo hướng cộng tác trao đổi qua lại lẫn nhau.Giáo viên hướng dẫn cho học sinh tự tìm tòi kiến thức

Năm là, vận dụng dạy học theo định hướng hành động

Dạy học định hướng hành động là quan điểm dạy học nhằm làm cho hoạt độngtrí óc và hoạt động chân tay kết hợp chặt chẽ với nhau Trong quá trình học tập, họcsinh thực hiện các nhiệm vụ học tập và hoàn thành các sản phẩm hành động, có sự kếthợp linh hoạt giữa hoạt động trí tuệ và hoạt động tay chân Đây là một quan điểm dạyhọc tích cực hoá và tiếp cận toàn thể Vận dụng dạy học định hướng hành động có ýnghĩa quan trong cho việc thực hiện nguyên lý giáo dục kết hợp lý thuyết với thực tiễn,

tư duy và hành động, nhà trường và xã hội

Dạy học theo dự án là một hình thức điển hình của dạy học định hướng hànhđộng, trong đó học sinh tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ học tập phức hợp,gắn với các vấn đề thực tiễn, kết hợp lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm cóthể công bố Trong dạy học theo dự án có thể vận dụng nhiều lý thuyết và quan điểmdạy học hiện đại như lý thuyết kiến tạo, dạy học định hướng học sinh, dạy học hợp tác,dạy học tích hợp, dạy học khám phá, sáng tạo, dạy học theo tình huống và dạy họcđịnh hướng hành động

Sáu là, vận dụng dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề:

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là quan điểm dạy học nhằm phát triểnnăng lực tư duy, khả năng nhận biết và giải quyết vấn đề Học sinh được đặt trong mộttình huống có vấn đề, đó là tình huống chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, thông quaviệc giải quyết vấn đề, giúp học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và phương pháp nhậnthức Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là con đường cơ bản để phát huy tính tíchcực nhận thức của học sinh, có thể áp dụng trong nhiều hình thức dạy học với nhữngmức độ tự lực khác nhau của học sinh

Trang 30

Các tình huống có vấn đề là những tình huống khoa học chuyên môn, cũng cóthể là những tình huống gắn với thực tiễn Trong thực tiễn dạy học hiện nay, dạy họcphát hiện và giải quyết vấn đề thường chú ý đến những vấn đề khoa học chuyên môn

mà ít chú ý hơn đến các vấn đề gắn với thực tiễn Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng việc giảiquyết các vấn đề nhận thức trong khoa học chuyên môn thì học sinh vẫn chưa đượcchuẩn bị tốt cho việc giải quyết các tình huống thực tiễn Vì vậy bên cạnh dạy học pháthiện và giải quyết vấn đề, lý luận dạy học còn xây dựng quan điểm dạy học theo tìnhhuống

Bảy là, tăng cường sử dụng phương tiện và công nghệ thông tin hợp lý trong dạy học.

Phương tiện dạy học có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạyhọc, nhằm tăng cường tính trực quan và thí nghiệm, thực hành trong dạy học Việc sửdụng các phương tiện dạy học cần phù hợp với mối quan hệ giữa phương tiện dạy học

và phương pháp dạy học Hiện nay, việc trang bị các phương tiện dạy học mới cho cáctrường phổ thông từng bước được tăng cường Tuy nhiên các phương tiện dạy học tựlàm của giáo viên luôn có ý nghĩa quan trọng, cần được phát huy

Đa phương tiện và công nghệ thông tin vừa là nội dung dạy học vừa là phươngtiện dạy học trong dạy học hiện đại Đa phương tiện và công nghệ thông tin có nhiềukhả năng ứng dụng trong dạy học Bên cạnh việc sử dụng đa phương tiện như mộtphương tiện trình diễn, cần tăng cường sử dụng các phần mềm dạy học cũng như cácphương pháp dạy học sử dụng mạng điện tử (E-Learning) Phương tiện dạy học mớicũng hỗ trợ việc tìm ra và sử dụng các phương pháp dạy học mới Webquest là một ví

dụ về phương pháp dạy học mới với phương tiện mới là dạy học sử dụng mạng điện

tử, trong đó học sinh khám phá tri thức trên mạng một cách có định hướng

Tám là, sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo.

Kỹ thuật dạy học là những cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong cáctình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Các kỹthuật dạy học là những đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học

Chín là, tăng cường các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn.

Phương pháp dạy học có mối quan hệ biện chứng với nội dung dạy học Vì vậybên cạnh những phương pháp chung có thể sử dụng cho nhiều bộ môn khác nhau thìviệc sử dụng các phương pháp dạy học đặc thù có vai trò quan trọng trong dạy học bộ

Trang 31

môn Các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn được xây dựng trên cơ sở lý luận dạyhọc bộ môn Ví dụ: Thí nghiệm là một phương pháp dạy học đặc thù quan trọng củacác môn khoa học tự nhiên; các phương pháp dạy học như trình diễn vật phẩm kỹthuật, làm mẫu thao tác, phân tích sản phẩm kỹ thuật, thiết kế kỹ thuật, lắp ráp môhình, các dự án là những phương pháp chủ lực trong dạy học kỹ thuật; phương pháp

“Bàn tay nặn bột” đem lại hiệu quả cao trong việc dạy học các môn khoa học;…

Biện pháp 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học

Đổi mới phương pháp dạy học cần gắn liền với đổi mới về đánh giá quá trìnhdạy học cũng như đổi mới việc kiểm tra và đánh giá thành tích học tập của học sinh.Đánh giá kết quả học tập là quá trình thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin,giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên nhân, đưa ra nhữngquyết định sư phạm giúp học sinh học tập ngày càng tiến bộ

Có thể sử dụng một số công cụ đánh giá nhằm phát triển năng lực:

- Xây dựng phiếu hướng dẫn đánh giá theo tiêu chí (Rubic) là bảng thang điểm chi tiết

mô tả đầy đủ các tiêu chí mà người học cần đạt được Nó là công cụ đánh giá chínhxác mức độ đạt chuẩn của học sinh và cung cấp thông tin phản hồi để học sinh tiến bộkhông ngừng Nội dung Rubric tập hợp các tiêu chí liên hệ với mục tiêu học tập vàđược sử dụng để đánh giá hoặc thông báo về sản phẩm, năng lực thực hiện hoặc quátrình thực hiện nhiệm vụ học tập

- Hồ sơ học tập là bộ sưu tập có hệ thống các hoạt động học tập của học sinh trong

thời gian liên tục Nó giúp giáo viên và học sinh đánh giá sự phát triển và trưởng thànhcủa học sinh.Thông qua hồ sơ học tập, học sinh hình thành ý thức sở hữu hồ sơ học tậpcủa bản thân, từ đó biết được bản thân tiến bộ đến đâu, cần hoàn thiện ở mặt nào

- Một số công cụ đánh giá khác như: Ghi chép ngắn là việc đánh giá thường xuyên

thông qua quan sát học sinh trong lớp học, thẻ kiểm tra nhằm đánh giá kiến thức củahọc sinh trước, trong và sau mỗi bài học hoặc sau mỗi chủ đề học tập, tập san có thểđược sử dụng để đánh giá quy trình học tập và sự phát triển của học sinh Chúng cóthể ở dạng mở hoặc giáo viên cung cấp các câu hỏi, hướng dẫn cách làm

Đánh giá theo năng lực không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làmtrung tâm của việc đánh giá mà là khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong nhữngtình huống ứng dụng khác nhau Đánh giá kết quả học tập theo từng giai đoạn phát

Trang 32

triển nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trongviệc cải thiện kết quả học tập của học sinh.

Đánh giá kết các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học cầnphải:

- Dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học,từng hoạt động, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theođịnh hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của mỗi cấp học

- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáoviên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của giađình, cộng đồng

- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm pháthuy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá

- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, cókhả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học

Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên được thểhiện qua một số đặc trưng cơ bản sau:

- Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so sánh năng lựccủa học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng môn học ở từng chủ

đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học

- Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo các công đoạn cơ bản là: Xác địnhloại quyết định mà chúng ta sẽ phải đề ra, xác định các tiêu chí, thu thập thông tinthích hợp có giá trị và đáng tin cậy, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả họctập và ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy và học [1, 13]

2 BÀI TẬP VẬT LÝ VÀ BÀI TẬP VẬT LÝ THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

2.1 Bài tập Vật lý

Bài tập là hệ thống những câu hỏi, bài toán nhằm giúp con người xử lý, rèn

luyện những vấn đề nào đó (bài toán: bất cứ vấn đề nào đưa ra cần giải quyết theo cáchtính toán) [2]

Bài tập Vật lý là bài tập đặt ra đòi hỏi phải giải quyết bằng những suy luận logic,

những phép toán và thí nghiệm dựa trên cơ sở các định luật, các thuyết Vật lý

Trang 33

Theo nghĩa rộng, bài tập Vật lý được hiểu là mỗi vấn đề xuất hiện do nghiêncứu tài liệu giáo khoa cũng chính là một bài toán đối với học sinh Sự tư duy tích cựcluôn là việc giải bài tập.

2.1.1 Vai trò và chức năng của bài tập Vật lý trong dạy học

Trong quá trình dạy học Vật lý, các bài tập Vật lý có vai trò và chức năng quantrọng đặc biệt, chúng được sử dụng theo những mục đích khác nhau:

- Bài tập Vật lý có thể được sử dụng như là phương tiện nghiên cứu tài liệu mới

- Bài tập tạo ra tình huống có vấn đề để bước vào dạy bài mới

- Bài tập giúp cho việc ôn tập đào sâu, mở rộng kiến thức

Khi giải các bài tập, học sinh phải nhớ lại các công thức, định luật, kiến thức đãhọc, có khi đòi hỏi phải vận dụng một cách tổng hợp các kiến thức khái quát trừutượng trong cả một chương, một phần hoặc giữa các phần, vào những trường hợp cụthể rất đa dạng, nhờ đó mà học sinh sẽ hiểu rõ hơn, ghi nhớ vững chắc các kiến thức đãhọc, nắm được những biểu hiện cụ thể của chúng trong thực tế, phát hiện ngày càngnhiều những hiện tượng, khái niệm hoặc chịu sự chi phối của các định luật hay thuộcphạm vi ứng dụng của chúng Ngoài những ứng dụng quan trọng trong kỹ thuật, bàitập Vật lý sẽ giúp cho học sinh thấy được những ứng dụng muôn hình, muôn vẻ trongthực tiễn của các kiến thức đã học

Các khái niệm, định luật Vật lý rất đơn giản, nhưng biểu hiện của chúng trong

tự nhiên lại rất phức tạp Bài tập sẽ giúp cho học sinh phân tích để nhận biết đượcnhững trường hợp phức tạp

- Bài tập có thể là điểm khởi đầu dẫn dắt đến kiến thức mới

Với trình độ toán học đã phát triển, nhiều khi các bài tập được sử dụng mộtcách khéo léo có thể dẫn học sinh đến những suy nghĩ về một hiện tượng mới hoặc xâydựng một khái niệm mới để giải thích hiện tượng mới do bài tập phát hiện ra

- Giải bài tập Vật lý rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo vận dụng lý thuyết vào thực tiễn,rèn luyện thói quen vận dụng kiến thức khái quát

Có thể xây dựng rất nhiều bài tập có nội dung thực tiễn Khi giải các bài tập đókhông chỉ làm cho học sinh nắm vững hơn các kiến thức đã học, mà còn tập cho họcsinh quen với việc liên hệ lý thuyết với thực tế vận dụng kiến thức đã học giải quyếtnhững vấn đề đặt ra trong cuộc sống như giải thích các hiện tượng cụ thể của thực tiễn,

dự đoán các hiện tượng có thể xảy ra trong thực tiễn

Trang 34

- Giải bài tập là một trong những hình thức làm việc tự lực cao của học sinh.

Trong khi giải bài tập, do phải tự mình phân tích các điều kiện của đầu bài, tự xâydựng những lập luận, kiểm tra và phê phán những kết luận mà học sinh rút ra được nên

tư duy học sinh được phát triển, năng lực làm việc tự lực của họ được nâng cao, tínhkiên trì được phát triển

- Giải bài tập Vật lý góp phần làm phát triển tư duy sáng tạo của học sinh, bồi dưỡngphương pháp nghiên cứu khoa học cho học sinh

Trong khi giải bài tập học sinh phải huy động các thao tác tư duy để xây dựngnhững lập luận, thực hiện việc tính toán, có khi phải tiến hành thí nghiệm, thực hiệncác phép đo, xác định sự phụ thuộc hàm số giữa các đại lượng, kiểm tra các kết luậncủa mình (đánh giá kết quả giải quyết) Trong những điều kiện đó tư duy logic, tư duysáng tạo của học sinh được phát triển, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực làm việcđộc lập của học sinh được nâng cao

- Giải bài tập Vật lý để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thức của học sinh

Bài tập Vật lý cũng là phương tiện hiệu quả để kiểm tra mức độ nắm vững kiến thứccủa học sinh Tuỳ theo cách đặt câu hỏi kiểm tra, ta có thể phân loại được các mức độnắm vững kiến thức của học sinh, khiến cho việc đánh giá chất lượng kiến thức củahọc sinh được chính xác

- Thông qua bài tập Vật lý có thể rèn luyện cho học sinh những đức tính tốt và tácphong làm việc khoa học

Khi giải bài tập học sinh có thể rèn luyện được tính tự lực cao, tính kiên trì vượtkhó, tính cẩn thẩn, tính khiêm tốn học hỏi…

2.1.2 Phân loại bài tập Vật lý

Có rất nhiều cách phân loại bài tập Vật lý Nếu dựa vào phương tiện giải, có thểchia bài tập Vật lý thành bài tập định tính, bài tập tính toán, bài tập thí nghiệm, bài tập

đồ thị Nếu dựa vào mức độ khó khăn của bài tập đối với học sinh, có thể chia bài tậpthành bài tập tập dượt, bài tập tổng hợp, bài tập sáng tạo

a Bài tập định tính

Bài tập định tính là bài tập mà khi giải học sinh không cần phải thực hiện cácphép tính phức tạp hay chỉ làm những phép tính đơn giản, có thể tính nhẩm được

Trang 35

Muốn giải bài tập định tính học sinh phải thực hiện những phép suy luận logic,

do đó phải hiểu rõ bản chất của các khái niệm, định luật Vật lý và nhận biết đượcnhững biểu hiện của chúng trong các trường hợp cụ thể

Đa số các bài tập định tính yêu cầu học sinh giải thích hoặc dự đoán một hiệntượng xảy ra trong những điều kiện xác định

Bài tập định tính có thể sử dụng một hình vẽ đơn giản, bài tập định tính có thểchuyển thành một dạng của bài tập thí nghiệm

b Bài tập tính toán

Bài tập tính toán là những bài tập mà muốn giải chúng ta phải thực hiện mộtloạt phép tính và kết quả là thu được một đáp số định lượng Có thể chia bài tập tínhtoán ra làm hai loại: bài tập tập dượt và bài tập tổng hợp

c Bài tập tính toán tập dượt

Bài tập tính toán tập dượt là những bài tập cơ bản, đơn giản, trong đó chỉ đề cậpđến một hiện tượng, một định luật và sử dụng một vài phép tính đơn giản Những bàitập này có tác dụng củng cố kiến thức cơ bản vừa học, làm cho học sinh hiểu rõ ýnghĩa của các định luật và các công thức biểu diễn chúng, sử dụng các đơn vị Vật lý vàthói quen cần thiết để giải những bài tập phức tạp hơn

d Bài tập tính toán tổng hợp

Bài tập tính toán tổng hợp là bài tập mà muốn giải nó thì phải vận dụng nhiềukhái niệm, định luật, dùng nhiều công thức Loại bài tập này có tác dụng đặc biệt giúpcho học sinh đào sâu, mở rộng kiến thức, thấy rõ những mối liên hệ khác nhau giữacác phần của chương trình Vật lý, tập cho học sinh biết phân tích những hiện tượngthực tế phức tạp ra thành những phần đơn giản tuân theo một định luật xác định

đ Bài tập thí nghiệm

Bài tập thí nghiệm là bài tập đòi hỏi phải làm thí nghiệm để kiểm chứng lời giải

lý thuyết hoặc để tìm những số liệu cần thiết cho việc giải bài tập

Bài tập thí nghiệm cũng có thể có dạng định tính hoặc định lượng

Vận dụng các định luật Vật lý để lý giải các hiện tượng mới là nội dung chínhcủa bài tập thí nghiệm

e Bài tập đồ thị

Trang 36

Bài tập đồ thị là bài tập trong đó các số liệu được dùng làm dữ kiện để giải phảitìm trong các đồ thị cho trước hoặc ngược lại đòi hỏi học sinh phải biểu diễn quá trìnhdiễn biến của hiện tượng nêu trong bài tập bằng đồ thị.

Nếu theo tiêu chí mục đích dạy học ta có bài tập củng cố kiến thức, bài tập rèn luyện kĩnăng, bài tập hình thành và phát triển năng lực

2.2 Bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực

Các thành tố quan trọng trong việc đánh giá việc đổi mới xây dựng bài tập là:

Sự đa dạng của bài tập, chất lượng bài tập, sự lồng ghép bài tập vào giờ học và sự liênkết với nhau của các bài tập

Những đặc điểm của bài tập định hướng phát triển năng lực:

Yêu cầu của bài tập

- Có mức độ khó khác nhau

- Mô tả tri thức và kỹ năng yêu cầu

- Định hướng theo kết quả

2.2.2.2 Hỗ trợ học tích lũy

- Liên kết các nội dung qua suốt các năm học

- Làm nhận biết được sự gia tăng của năng lực

- Vận dụng thường xuyên cái đã học

2.2.2.3 Hỗ trợ cá nhân hóa việc học tập

- Chẩn đoán và khuyến khích cá nhân

- Tạo khả năng trách nhiệm đối với việc học của bản thân

- Sử dụng sai lầm như là cơ hội

2.2.2.4 Xây dựng bài tập trên cơ sở chuẩn

- Bài tập luyện tập để bảo đảm tri thức cơ sở

- Thay đổi bài tập đặt ra (mở rộng, chuyển giao, đào sâu và kết nối, xây dựng tri thứcthông minh)

Trang 37

- Thử các hình thức luyện tập khác nhau.

2.2.2.5 Bao gồm cả những bài tập cho hợp tác và giao tiếp

- Tăng cường năng lực xã hội thông qua làm việc nhóm

- Lập luận, lí giải, phản ánh để phát triển và củng cố tri thức

2.2.2.6 Tích cực hóa hoạt động nhận thức

- Bài tập giải quyết vấn đề và vận dụng

- Kết nối với kinh nghiệm đời sống

- Phát triển các chiến lược giải quyết vấn đề

2.2.2.7 Có những con đường và giải pháp khác nhau

- Nuôi dưỡng sự đa dạng của các con đường, giải pháp

- Đặt vấn đề mở

- Độc lập tìm hiểu

- Không gian cho các ý tưởng khác thường

- Diễn biến mở của giờ học

2.2.2.8 Phân hóa nội tại

- Con đường tiếp cận khác nhau

- Phân hóa bên trong

- Gắn với các tình huống và bối cảnh

2.2.3 Sự cần thiết của việc xây dựng bài tập phát triển năng lực

Trong quá trình xây dựng hệ thống bài tập đối với chương trình bài tập truyềnthống có những hạn chế như sau:

- Tiếp cận một chiều, ít thay đổi trong việc xây dựng bài tập, thường là những bài tậpđóng

- Thiếu về ứng dụng, chuyển giao cái đã học sang vấn đề chưa biết cũng như các tìnhhuống thực tiễn cuộc sống

- Kiểm tra thành tích, chú trọng các thành tích nhớ và hiểu ngắn hạn

- Quá ít ôn tập thường xuyên và bỏ qua sự kết nối giữa cái đã biết và cái mới

- Tính tích lũy của việc học không được lưu ý đến một cách đầy đủ…

Còn đối với bài tập tiếp cận năng lực, những ưu điểm nổi bật là:

- Trọng tâm không phải là các thành phần tri thức hay kỹ năng riêng lẻ mà là sự vậndụng có phối hợp trên cơ sở một vấn đề mới đối với người học

Trang 38

- Rèn luyện cho học sinh những kĩ năng và kĩ xảo, phát triển năng lực tư duy độc lập

và nâng cao hiệu quả tự học

- Tiếp cận năng lực không định hướng theo nội dung học trừu tượng mà luôn theo cáctình huống cuộc sống của học sinh, theo “thử thách trong cuộc sống” Nội dung họctập mang tính tình huống, tính bối cảnh và tính thực tiễn

- So với dạy học định hướng nội dung, dạy học định hướng phát triển năng lực địnhhướng mạnh hơn đến học sinh và các quá trình học tập

Hệ thống bài tập định hướng phát triển năng lực chính là công cụ để học sinhluyện tập nhằm hình thành, phát triển năng lực chuyển giao những vấn đề, tình huốngvào thực tiễn cuộc sống và là công cụ để giáo viên và các cán bộ quản lý giáo dụckiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh và biết được mức độ đạt chuẩn của quá trìnhdạy học

Trang 39

2.2.4 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực.

Bước 1: Xác định mục tiêu dạy học (phần Điện học)

Dựa vào chuẩn kiến thức, kỹ năng cần đạt đã được quy định trong mỗi bài củaphần “Điện học” để xác định mục tiêu dạy học (được quy định trong tài liệu: chươngtrình giáo dục phổ thông cấp THPT) Cụ thể, mục tiêu dạy học ứng phần Điện học nhưsau:

Cung cấp cho học sinh những kiến thức khoa học cơ bản phần Điện học Thôngqua đó có thể giúp học sinh giải thích được các hiện tượng thường gặp trong cuộcsống, cũng như rèn luyện cho học sinh phương pháp đặc thù của môn Vật lý là phươngpháp thực nghiệm Giúp học sinh làm quen với các cơ chế hoạt động của các dụng cụ,thiết bị điện để phần nào hướng nghiệp cho học sinh phổ thông

Bước 2: Xác định các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh khi học phần Điện học với từng kiến thức cụ thể

Dựa vào các năng lực chuyên biệt của môn Vật lý và mục tiêu dạy học phầnĐiện học (đã xác định trong bước 1) để xác định các năng lực cần hình thành và phát

Xác định mục tiêu dạy học (Phần Điện học)

Xác định các năng lực cần hình thành và phát triển cho học sinh

khi học phần Điện học với từng kiến thức cụ thể

Sắp xếp các bài tập thành một hệ thống nhằm tối ưu hóa việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh

Xây dựng các bài tập để hình thành và phát triển các năng lực trên

Sơ đồ 1: Sơ đồ khái quát quy trình xây dựng hệ thống bài tập Vật lý theo định hướng phát triển năng lực.

Trang 40

triển cho học sinh Các năng lực cụ thể (đặc thù cho môn Vật lý) được chỉ rõ ở mục1.2.3 của chương 1.

Bước 3: Xây dựng các bài tập để hình thành và phát triển các năng lực trên

Từ các năng lực đã xác định ở bước 2 và nội dung kiến thức phần Điện học đểxây dựng các bài tập phù hợp nhằm hình thành và phát triển các năng lực đó

Bước 4: Sắp xếp các bài tập thành một hệ thống nhằm tối ưu hóa việc hình thành

và phát triển năng lực cho học sinh

Theo trình tự các bài từ 1 đến 25 thuộc 5 chương: I, II, III, IV, V trong SGKVật lý 11 cơ bản Tương ứng với bài tập từ 1 đến 130 trong phụ lục I, chúng tôi xếp

chúng vào bảng các năng lực trình bày ở “Bảng : Bài tập tương ứng cho các năng lực đặc thù của môn Vật lý ”.

3 THỰC TRẠNG CỦA VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 3.1 Mục đích khảo sát

Tìm hiểu thực trạng việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở cáctrường phổ thông trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh

3.2 Nội dung khảo sát

Để điều tra thực trạng của việc hình thành và phát triển năng lực, chúng tôi cóthiết kế mẫu phiếu “Khảo sát ý kiến về việc dạy học và kiểm tra đánh giá theo địnhhướng phát triển năng lực” như sau:

PHIẾU KHẢO SÁT Ý KIẾN VỀ VIỆC DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁTHEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC

Thầy (cô) đã từng nghe và tìm hiểu về việc dạy học theo định hướng tiếp cận năng lực bao giờ chưa?

 Có

 Chưa

 Đã từng nghe nhưng chưa tìm hiểu, nghiên cứu

Các câu từ 2 đến 6: thầy (cô) có thể chọn nhiều phương án

Theo quan điểm của thầy (cô), “năng lực” được hiểu là gì?

 Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn

 Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêucầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt

Ngày đăng: 29/03/2021, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w