1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn bùi mạnh cường, xã nghĩa đạo, huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh

69 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 2,44 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN XUÂN QUỲNH Tên chuyên đề: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI MẠNH CƯỜNG, XÃ NGHĨA ĐẠO, HUYỆN THU

Trang 1

NGUYỄN XUÂN QUỲNH

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI MẠNH CƯỜNG, XÃ NGHĨA ĐẠO, HUYỆN THUẬN THÀNH,

TỈNH BẮC NINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa học: 2016 - 2020

Thái Nguyên, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN XUÂN QUỲNH

Tên chuyên đề:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH SẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI LỢN BÙI MẠNH CƯỜNG, XÃ NGHĨA ĐẠO, HUYỆN THUẬN THÀNH,

TỈNH BẮC NINH”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi Thú y

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập, rèn luyện tại trường và thực tập tại cơ sở, đến nay

em đã hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình Để có được kết quả này, ngoài sự

nỗ lực của bản thân, em luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhà trường, các thầy

cô trong khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp, trang bị cho em những kiến thức cơ bản, kỹ năng thực tiễn để em vững tin bước vào cuộc sống và công tác sau này

Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Thị Thùy Dương luôn giúp đỡ, động viên và hướng dẫn chỉ bảo trong suốt quá trình

thực hiện và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học này

Đồng thời, cho em được gửi lời cảm ơn tới anh Kim Văn Dương - Quản lý trại lợn Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh đã tạo điều kiện giúp đỡ cho em trong suốt quá trình thực tập

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em học tập và hoàn thành tốt quá trình học tập

Trong quá trình thực tập vì chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế, chỉ dựa vào kiến thức đã học cùng với thời gian có hạn nên khóa luận không tránh khỏi sai sót Kính mong nhận được sự góp ý nhận xét của quý thầy cô để đề tài của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 30 tháng 7 năm 2020

Sinh viên

Nguyễn Xuân Quỳnh

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iv

DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT v

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 4

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 4

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại 5

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại 5

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại 6

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 7

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 7

2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ và nuôi con 8

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 16

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản 20

2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên lợn con 27

2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 30

2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 30

2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 31

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 33

3.1 Đối tượng 33

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 33

Trang 5

3.3 Nội dung thực hiện 33

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 33

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 33

3.4.2 Phương pháp thực hiện 33

3.4.3 Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 34

3.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 34

PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 36

4.2 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn tại trại 37

4.2.1 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc đàn lợn 37

4.2.2 Kết quả tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 42

4.2.3 Kết quả một số chỉ tiêu về số lợn con của trại 42

4.3 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh tại trại 43

4.3.1 Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh phòng bệnh 43

4.3.2 Kết quả thực hiện phòng bệnh bằng vắc xin 45

4.4 Kết quả thực hiện quy trình chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn tại trại 48

4.4.1 Kết quả thực hiện quy trình chẩn đoán, điều trị bệnh cho đàn lợn nái 48

4.4.2 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ 50

4.5 Kết quả thực hiện một số công tác khác 52

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 53

5.1 Kết luận 53

5.2 Đề nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 MỘT SỐ HÌNH ẢNH TRONG QUÁ TRÌNH THỰC TẬP

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa 9

Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ 11

Bảng 2.3 Chương trình vắc xin cho lợn 18

Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi của trại từ năm 2017 - 2019 36

Bảng 4.2 Kết quả số lượng lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 37

Bảng 4.3 Chế độ ăn của nái chửa tại trại 39

Bảng 4.4 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái tại trại 42

Bảng 4.5 Một số chỉ tiêu về số lượng lợn con của lợn nái sinh sản 42

Bảng 4.6 Lịch khử trùng trại lợn 44

Bảng 4.7 Kết quả thực hiện vệ sinh, khử trùng tại trại 45

Bảng 4.8 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái nuôi tại trại bằng vắc xin 46

Bảng 4.9 Kết quả thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn con theo mẹ nuôi tại trại bằng vắc xin 47

Bảng 4.10 Tình hình mắc bệnh trên lợn nái tại trại 48

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh trên lợn nái tại trại 49

Bảng 4.12: Tình hình mắc bệnh trên lợn con theo mẹ 50

Bảng 4.13: Kết quả điều trị bệnh trên lợn con 51

Bảng 4.14 Kết quả thực hiện một số công tác khác 52

Trang 8

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Việt Nam là một nước nông nghiệp Nông nghiệp giữ một vị trí hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cùng với trồng trọt, ngành chăn nuôi nói chung

và ngành chăn nuôi lợn nói riêng đang trên đà phát triển và dần trở thành ngành chính trong nền kinh tế nông nghiệp Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, ngành chăn nuôi lợn đã cung cấp một lượng thịt lớn cho tiêu dùng trong nước và đóng góp một phần đáng kể cho xuất khẩu Điều đó được thể hiện qua sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng vật nuôi và quy

mô trang trại, bao gồm cả trang trại trong nhà nước và tư nhân Đồng thời cũng thúc đẩy các ngành khác phát triển như: Công nghiệp chế biến thực phẩm, trồng trọt, thủy sản Trong xu thế đó, Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã cho nhập các giống lợn có năng suất có chất lượng cao nhằm mục đích nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm

Trong các vật nuôi thì lợn mang lại hiệu quả kinh tế khá cao, chính vì vậy trong những năm qua, ngành chăn nuôi lợn nước ta nói riêng đã đạt được nhiều thành tựu mới, xu thế chuyên môn hóa sản xuất, chăn nuôi trong trang trại tập trung ngày càng phổ biến Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu và đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam, phù hợp với nhu cầu của nhân dân Thịt lợn là loài thịt được tiêu dùng phổ biến nhất trong thực đơn của người Việt Nam, chiếm tới 68% tổng tiêu dùng thịt năm 2016 Theo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 29 triệu con, đứng đầu ASEAN, đứng thứ 2 ở Châu Á, nằm trong top 15 nước có đàn lợn lớn nhất thế giới Năm 2015 cả nước có hơn 27,7 triệu con lợn (Thống kê chăn nuôi 10/2015) Năm 2016 cả nước có 29,1 triệu con lợn, tăng gần 1,4 triệu con lợn

so với cùng kỳ năm 2015 (Tổng cục thống kê 10/2016) Năm 2017 cả nước có 27,4 triệu con (Tổng cục thống kê 01/10/2017)

Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan

Trang 9

trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do

đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp

Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này Vì vậy, áp dụng quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ hiệu quả là cần thiết

Xuất phát từ tình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong

điều kiện chăn nuôi hiện nay, em đã tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực hiện

quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn Bùi Mạnh Cường, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh”

1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề

Trang 10

- Áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ nuôi tại trại lợn của cơ sở

- Thực hiện tốt yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề cá nhân

Trang 11

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Trại lợn Bùi Mạnh Cường thuộc xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trại được nằm trên một cánh đồng cách ly với khu dân cư, tổng diện tích trại khoảng 2 ha Nghĩa Đạo là một vùng đất cổ trong vùng văn hóa “Luy Lâu Siêu Loại”, là xã nông nghiệp nằm ở phía Nam huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, xã

có đường quốc lộ 38 chạy qua

Tổng diện tích tự nhiên của xã là 725 ha

Năm 2011 dân số toàn xã là 8000 người

- Phía đông giáp huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương

- Phía tây giáp xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

- Phía nam giáp huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên

- Phía bắc giáp huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh

Xã Nghĩa Đạo cách thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành 7 km, vị trí của xã rất thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài Vị trí của xã rất thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế, xã cách thành phố Bắc Ninh 25 km về phía Bắc, cách thành phố Hải Dương 30 km về phía Nam, đặc biệt chỉ cách thủ đô Hà Nội 30 km theo quốc lộ 282 Nghĩa Đạo là xã nằm giáp danh ba tỉnh: Bắc Ninh, Hải Dương và Hưng Yên Xã có điều kiện phát triển nông nghiệp toàn diện, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ

* Điều kiện khí hậu

Thôn Nhiễm Dương, xã Nghĩa Đạo, huyện Thuận Thành nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có bốn mùa rõ rệt: xuân,

hạ, thu, đông nhưng chủ yếu có hai mùa chính Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 70% lượng mưa cả năm và tập trung vào các tháng 07, 08 và 09, hướng gió mùa chủ đạo theo hướng Đông Nam Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 03

Trang 12

năm sau, tháng 01 và 02 thường có mưa phùn và giá rét kéo dài do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh, gió chủ đạo theo hướng Đông Bắc

Lượng mưa: Mùa mưa tập trung 85% lượng mưa cả năm và kéo dài từ tháng 05 đến tháng 10, tổng lượng mưa trung bình là 1331 mm, lượng mưa tăng dần từ đầu mùa đến giữa mùa và cực đại vào tháng 07 Mùa khô là 5 tháng còn lại, mưa ít, lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm 15% tổng lượng mưa cả năm Tháng 12 là tháng mưa cực tiểu với 12 - 18 mm, lượng mưa của tháng trung bình cao nhất là 254,6 mm

2.1.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Cơ cấu tổ chức trang trại được tổ chức như sau:

- 01 chủ trại

- 01 quản lý trại

- 01 kế toán

- 02 kỹ thuật hỗ trợ của công ty TNHH De Heus

- 03 tổ trưởng (1 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 1 chuồng thịt)

- 13 công nhân

- 06 sinh viên thực tập

- 01 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

- 01 phụ trách ăn uống trong trại

Với đội ngũ cán bộ, công nhân viên như trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau gồm: tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu, tổ chuồng thịt Mỗi tổ thực hiện chuyên biệt công việc hàng ngày một cách nghiêm túc và đúng quy định của trại

2.1.3 Cơ sở vật chất của trại

- Trang trại có tổng diện tích 24.896 m2 gồm: khu chăn nuôi, khu nhà ở, ao

cá, hầm biogas và các công trình phụ khác, đất trồng cây xanh, rau củ quả

- Trại lợn được chia ra làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi làm việc của quản lý trại, kế toán trại và nơi ăn, ở, vui chơi giải trí của công nhân, có nhà ăn, sân bóng là khu vui chơi sau mỗi ngày làm việc mệt nhọc của mọi người Khu sản xuất gồm: 6 chuồng đẻ, 1 chuồng bầu, 2 chuồng an thai (group), 1 chuồng hậu bị, 2 chuồng cách ly, 4 chuồng cai sữa, 5 chuồng thịt

Trang 13

Một số công trình khác phục vụ cho chăn nuôi như: kho cám, phòng tinh, phòng sát trùng, kho chứa vật liệu, kho máy phát điện, kho vôi và một số công trình đang được xây dựng khác

- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn, hiện đại, có hầm biogas tận dụng được hoàn toàn chất thải trong chăn nuôi Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng là hệ thống quạt thông gió, và hệ thống máng ăn với silo tự động rất hiện đại Đặc biệt chuồng an thai quản lý lợn với hệ thống con chíp tự động Hai bên tường chuồng có hệ thống cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,3 m2, cách nền 1,2 m, mỗi cửa số cách nhau 40 cm Trên trần được lắp hệ thống chống nóng bằng tôn lạnh

- Hệ thống chăn nuôi có silo thức ăn tự động từ chuồng nái bầu, chuồng an thai (group), chuồng nái đẻ, nên tiết kiệm được nhân lực và mang lại hiệu quả sản xuất cao

- Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển vi, hệ thống cảm biến nhiệt, nồi hấp cách thủy, tủ sấy và các dụng cụ khác

- Trong khu chăn nuôi đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu đều được đổ

2.1.4 Thuận lợi và khó khăn của trại

* Thuận lợi

- Trại được xây dựng ở vị trí cách xa khu dân cư, thuận tiện giao thông

- Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

- Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc

Trang 14

- Công nhân có tay nghề cao, năng động, nhiệt tình, trách nhiệm với công việc

- Con giống tốt, thức ăn, thuốc chất lượng cao, quy trình chăn nuôi khép kín

và khoa học đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

- Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay

* Khó khăn

- Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn

- Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao

- Dịch tả lợn Châu Phi xảy ra trên diện rộng và rất khó kiểm soát

- Giá lợn giảm nhanh do dịch tả lợn Châu Phi

- Giá thức ăn chăn nuôi mỗi ngày một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi của trang trại

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái

* Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

Tuổi thành thục về tính của gia súc: tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [6] cho rằng, không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả

Trang 15

sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

* Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [14], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi

có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể

mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời

cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110 kg mới nên cho phối

* Chu kỳ động dục

Chu kỳ động dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bào, noãn bào thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ

cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý Tất cả các biến đổi đó được lặp đi, lặp lại có tính chất chu kỳ nên gọi là chu kỳ tính

2.2.2 Quy trình chăm sóc lợn nái sinh sản giai đoạn chửa, đẻ và nuôi con

2.2.2.1 Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái chửa

Yếu tố quan trọng đối với lợn nái mang thai và nuôi con là phải cung cấp đầy

đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết để có hiệu quả sinh sản cao Chế độ dinh dưỡng bao gồm: dinh dưỡng năng lượng, dinh dưỡng protein, ảnh hưởng của khoáng chất, nguyên tố đa vi lượng và ảnh hưởng của vitamin Mức ăn cụ thể cho lợn nái ngoại như bảng sau:

Trang 16

Bảng 2.1 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa

(Đơn vị tính: kg thức ăn/nái/ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái

Nái gầy Nái bình

thường Nái béo

Từ phối giống đến 34 ngày 3,5 3,0 2,5

Từ 35 - 83 ngày sau phối giống 2,7 2,5 2,3

Từ 84 - 112 ngày sau phối giống 3,2 3,0 2,8

Ngày 113 sau phối giống 1,8 1,6 1,4

Ngày cắn ổ đẻ 0,5 - 1,0 0,5 - 1,0 0,5 - 1,0

+ Số bữa cho ăn/ ngày: ngày cho ăn 2 bữa, cho ăn thức ăn hỗn hợp

+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2 - 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

- Không được cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu đủ

do dễ gây sảy thai

+ Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm lượng thức ăn để phòng thức ăn chèn ép thai, bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

- Theo Trần Thanh Vân và cs (2017) [30]: Kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa nhằm phòng sảy thai, làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát dục bình thường

+ Vận động: thời gian vận động hợp lý là 1 - 2 lần/ngày với 60 - 90 phút/lần + Tắm chải: có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác dễ chịu, lợn thoải mái giúp kích thích tính thèm ăn và phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Tắm chải cần tiến hành thường xuyên, đặc biệt trong mùa hè, những ngày thời tiết nóng bức

+ Chuồng trại: phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo, thoáng mát về mùa hè,

ấm áp về mùa đông Chửa kỳ I mỗi lô 3 - 5 con, chửa kỳ II mỗi con 1 lô

Trang 17

2.2.2.2 Chăm sóc lợn nái đẻ và nuôi con

* Kỹ thuật chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có

tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con, nâng cao chất

lượng đàn con

- Quy trình dinh dưỡng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21]: thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Không cho lợn nái ăn thức ăn

có hệ số choán cao gây chèn ép thai sinh ra đẻ non, đẻ khó, hoặc ép thai chết ngạt Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để

có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức

ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe yếu thì không giảm lượng thức ăn mà giảm dung tích của thức ăn bằng cách tăng cường cho ăn các loại thức ăn dễ tiêu hóa Những ngày lợn đẻ phải căn cứ vào thể trạng của lợn nái, sự phát dục của bầu vú

mà quyết định chế độ dinh dưỡng cho hợp lý

- Quy trình chăm sóc lợn nái đẻ

+ Công tác chuẩn bị trước khi đỡ đẻ cho lợn:

Căn cứ vào lịch phối giống để dự kiến ngày đẻ của lợn một cách chính xác,

để phân công người trực đẻ, theo dõi đỡ đẻ cho lợn và can thiệp kịp thời khi cần thiết, tránh những trường hợp đáng tiếc có thể xảy ra

+ Chuẩn bị chuồng cho lợn nái đẻ:

Chuồng đẻ cần được tẩy rửa vệ sinh khử trùng toàn bộ chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, thoáng mát sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh và tiêu độc để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi cho lợn nái vào đẻ

+ Chuẩn bị ô úm lợn con:

Trong quá trình chăm sóc lợn nái đẻ, công việc cần thiết và rất quan trọng đó

là việc chuẩn bị ô úm lợn cho lợn con Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng phòng ngừa lợn mẹ đè chết lợn con, đặc biệt những ngày đầu mới sinh lợn con còn yếu ớt, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe còn rất yếu chưa hồi phục Ô úm

Trang 18

tạo điều kiện để khống chế nhiệt độ thích hợp cho lợn con, đặc biệt là lợn con đẻ vào những tháng mùa đông Ngoài ra, ô úm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tập ăn sớm cho lợn con (để máng ăn vào ô úm cho lợn con lúc 7 - 10 ngày tuổi) mà không

bị lợn mẹ húc đẩy và ăn thức ăn của lợn con Vào ngày dự kiến đẻ của lợn nái, cần chuẩn bị xong ô úm cho lợn con Kích thước ô úm: 1,2m x 1,5m Ô úm được cọ rửa sạch, phun khử trùng và để trống từ 3 - 5 ngày trước khi đón lợn con sơ sinh

+ Chuẩn bị dụng cụ:

Cần chuẩn bị đầy đủ các loại dụng cụ sau: dao, kéo, cồn sát trùng, kìm bấm nanh, kìm bấm số tai, khăn lau hoặc vải màn, bóng sưởi, khay đựng dụng cụ, thùng đựng nước, sổ sách, các loại thuốc như thuốc trợ đẻ, thuốc trợ sức, thuốc kháng sinh

- Những biểu hiện khi lợn nái sắp đẻ:

Bảng 2.2 Những biểu hiện khi lợn sắp đẻ

0 - 10 ngày Vú căng lên và cứng, âm hộ trương mọng

2 ngày Bầu vú cương cứng hơn và tiết ra chất lỏng trong

12 - 14 giờ Nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa

6 giờ Sữa tiết ra nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa

2 - 4 giờ Các vú đều có sữa non vọt thành tia dài

30 phút - 2 giờ Tăng nhịp thở, đi lại không yên

15 - 30 phút Âm hộ tiết ra dịch nhờn màu hồng có lẫn phân su

15 giây - 5 phút Nái nằm nghiêng 1 bên, hơi thở đứt quãng, ép bụng, ép

đùi, quẩy đuôi rặn đẻ

- Kỹ thuật đỡ đẻ và chăm sóc lợn con khi sinh ra:

Theo Nguyễn Văn Trí (2008) [28] nếu lợn nái đẻ bọc thì phải xé bọc ngay, lấy nhanh hết dịch ở miệng và mũi, dùng vải mềm lau sạch mũi miệng cho lợn con Nếu lợn con đẻ ra mà bị ngạt thì hà hơi vào mồm lợn con, nâng 2 chân trước lên xuống trong 5 phút lợn con sẽ sống và khỏe dần

Ngay sau khi đẻ lợn sơ sinh được xách dốc ngược đầu cho nước nhờn trong xoang miệng và mũi chảy ra ngoài, không chảy ngược vào khí quản gây nghẽn đường thở Việc xách dốc ngược cũng giúp máu dồn về não nhờ đó não không bị liệt

Trang 19

Theo Hoàng Thị Phi Phượng và cs (2013) [23]: lợn con sau khi đẻ nên sử dụng bột mistral để làm khô cơ thể giúp lợn con không bị lạnh, làm sạch và nhanh khô cuống rốn đề phòng nhiễm trùng rốn Lợn con nhanh cứng cáp sau khi sinh, dễ dàng tiếp xúc với vú mẹ và sớm được bú sữa đầu Đó chính là nguồn năng lượng cũng như tăng khả năng miễn dịch từ mẹ truyền cho con

Nên úm lợn con nếu nhiệt độ bên ngoài lạnh nhằm tránh tình trạng lợn con tiêu hao năng lượng để chống lạnh, nhiệt độ úm khoảng 30 - 33ºC, nên cho lợn con

bú mẹ luôn hoặc khoảng 1 giờ sau đẻ

Lau sạch vú bằng thuốc sát trùng trước khi cho lợn con bú Làm vệ sinh chuồng trại kỹ lưỡng khi lợn nái đẻ xong, cần giữ cho chuồng trại thoáng mát, tránh nóng, tránh lạnh, tránh gió lùa mưa tạt

Phải cho tất cả lợn con được bú sữa đầu vì sữa đầu chỉ sản xuất trong khoảng

24 giờ sau khi đẻ và lợn con chỉ hấp thu sữa đầu tốt nhất trong 24 giờ sau sinh

* Kỹ thuật chăm sóc lợn nái nuôi con

- Quy trình nuôi dưỡng:

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy

ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:

Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0 - 0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ 1 -

2 - 3 kg tương ứng

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày

+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:

Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)

Trang 20

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

30 phút/ngày, sau tăng dần số giờ vận động lên

Ngoài ra yêu cầu đối với chuồng trại của lợn nái nuôi con là phải đảm bảo luôn khô ráo, sạch sẽ, không ẩm ướt, vì vậy hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống sạch sẽ Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 28 - 30ºC, độ ẩm 70 - 75%

2.2.2.4 Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ

Lợn con giai đoạn theo mẹ có 3 thời kỳ quan trọng, chúng ta cần tìm hiểu rõ

để có biện pháp tác động thích hợp

-Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể mẹ sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy nếu nuôi dưỡng không tốt, lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp

- Thời kỳ 3 tuần tuổi:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần sau khi đẻ và đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó nhu cầu dinh dưỡng

Trang 21

của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng, phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu, để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập ăn sớm cho lợn con

- Thời kỳ ngay sau khi cai sữa:

Là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu

tố cai sữa gây nên Mặc khác thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn

mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ còi cọc, mắc bệnh đường tiêu hóa,

hô hấp

Cho bú sữa đầu

Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong

24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước

bú trước

Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng  globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao

Bổ sung sắt cho lợn con:

Trong những ngày đầu, khi lợn con chưa ăn được, lượng sắt mà lợn con tiếp nhận từ nguồn sữa mẹ không đủ cho nhu cầu của cơ thể, vì vậy lợn con cần được bổ sung thêm sắt

Nhu cầu sắt cần cung cấp cho lợn con ở 30 ngày đầu sau đẻ là 210 mg/ngày Trong đó lượng sắt lợn mẹ cung cấp từ sữa chỉ đạt 10 - 20 mg/ngày, lượng sắt thiếu hụt cho 1 lợn con khoảng 150 - 180 mg, vì vậy mỗi lợn con cần cung cấp thêm lượng sắt thiếu hụt Trong thực tế thường cung cấp thêm 200 mg

Trang 22

Nên tiêm sắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động

Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong

Tập cho lợn con ăn sớm

Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: Đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm

tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ

Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%)

Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm

ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức

ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung

Lợn cai sữa sớm lúc 24 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 7 - 10 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ

Trang 23

2.2.2.5 Động dục trở lại sau đẻ

Theo Lê Hồng Mận (2002) [19], động dục trở lại sau đẻ là:

- Lợn nái có hiện tượng động dục trở lại sau khi đẻ 3 - 4 ngày hoặc 30 ngày, thấy nhiều ở cá giống lợn nội Lúc này bộ máy sinh dục của lợn mẹ chưa hồi phục, trứng chín chưa đều cho nên không nên cho lấy đực Hơn nữa cho phối giống ngay thì lợn chửa vừa nuôi bào thai, vừa tiết sữa nuôi con không thể đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ lấy lại sức khỏe sau khi đẻ Lợn con thúc bú mẹ có chửa có thể sẩy thai

- Chỉ có sau khi cai sữa lợn con (cai sữa sớm 28 - 35 ngày, cai sữa muộn 50 -

55 ngày) khoảng 3 - 5 ngày thì lợn nái động dục trở lại, cho phép phối giống dễ đậu thai, và trứng chín nhiều sẽ có nhiều con

- Có thể áp dụng phương pháp bỏ đói nái sau khi tách con để động dụng trở lại Ngày thứ 1 cho nhịn ăn, nhịn uống nước Ngày thứ 2 cho ăn 1/3 khẩu phần ăn bình thường Ngày thứ 3 cho ăn 2/3 khẩu phần ăn bình thường Ngày thứ 4 cho ăn khẩu phần bình thường Ngày thứ 5, 6 nái sẽ động dục

2.2.3 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

* Phòng bệnh

Trong quy trình chăn nuôi, khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế và ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, tập trung chủ yếu các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị, bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Đặc biệt trong gai đoạn dịch tả lợn Châu Phi đang diễn biến phức tạp, việc tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi được cẩn trọng hơn bằng phương pháp: phun sút, cọ, rửa sạch các thiết bị chăn nuôi và toàn bộ khu vực chuồng nuôi, nạo vét phân làm sạch đường dẫn chất thải, để khô sau đó phun nước vôi và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi phát

Trang 24

hiện có lợn nhiễm bệnh hoặc chết do dịch tả lợn Châu Phi chuồng được làm sạch và khử trùng toàn bộ, để trống chuồng tối thiểu 45 ngày, thời gian càng lâu càng tốt

Và với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun khử trùng kỹ (pha dung dịch khử trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [22], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức

đề kháng của đàn lợn

Lê Văn Tạo và cs (1993) [24] cho biết, vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi

khuẩn tồn tại trong môi trường, đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều kiện

ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli, bệnh sẽ nổ ra

vì vậy mà khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại

Ở thời điểm hiện tại việc phòng bệnh là điều quan trọng hơn cả, với sự nguy hiểm của bệnh dịch tả lợn Châu Phi khiến cho người chăn nuôi hoang mang lo sợ

Do đó, việc chủ động phòng tránh và phát hiện kịp thời lợn mắc bệnh, giúp giảm thiểu tối đa hậu quả do dịch bệnh gây ra

- Phòng bệnh bằng vắc xin

Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà

Trang 25

trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…)

đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó, chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

Bảng 2.3 Chương trình vắc xin cho lợn

Loại lợn Tuần tuổi Vắc xin sử dụng

Tuần mang thai Vắc xin sử dụng

10 tuần mang thai Dịch tả

11 tuần mang thai Mycoplasma

12 tuần mang thai Lở mồm long móng

4 Tháng 1 lần Giả dại

80 và 100 ngày E.coli

15 tuần mang thai Tiêm tẩy giun

6 tháng 1 lần Tiêm circo tổng đàn nái

14 ngày sau đẻ Vắc xin khô thai

Trang 26

Loại lợn Tuần tuổi Vắc xin sử dụng

3 tuần tuổi Suyễn lần 2 + Circo

Lợn sau khi

cai sữa

5 tuần tuổi Dịch tả lần 1

6 tuần tuổi APP lần 1

7 tuần tuổi Giả dại

9 tuần tuổi Tụ dấu

10 tuần tuổi Dịch tả lần 2

11 tuần tuổi

12 tuần tuổi APP lần 2

13 Tuần tuổi Tẩy ký sinh trùng

(Theo lịch vắc xin của trại)

* Điều trị bệnh

Theo Nguyễn Bá Hiên và cs (2012) [10], nguyên tắc để điều trị bệnh:

- Toàn diện: phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, sử dụng thuốc

- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để nhanh khỏi bệnh và hạn chế lây lan

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

- Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng

Trang 27

hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì

có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

- Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản

sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

+ Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị

và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.4 Một số bệnh thường gặp trên lợn nái sinh sản

Hội chứng đẻ khó

Rặn đẻ yếu: Đặc trưng các cơn co thắt cơ tử cung và thành bụng của gia súc

mẹ vừa yếu vừa ngắn Có 3 dạng cơn co thắt và rặn đẻ yếu:

- Cơn co thắt yếu nguyên phát bắt đầu từ khi mở cổ tử cung và xảy ra trùng với cơn rặn đẻ nguyên phát

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra sau khi co thắt và rặn đẻ mạnh nhưng không có kết quả

Trang 28

- Cơn co thắt và rặn đẻ yếu thứ phát xảy ra do bào thai không di chuyển được Các cơn co thắt và rặn đẻ yếu nguyên phát, thông thường, quan sát thấy khi vi phạm chế độ chăm sóc nuôi dưỡng gia súc chửa và thiếu vận động, cũng như khi bị bệnh làm suy yếu sức khỏe của con mẹ Cần can thiệp để cứu lợn con và mẹ (Trần Văn Bình, 2010) [36]

Bệnh viêm tử cung

* Nguyên nhân gây bệnh viêm tử cung

Lợn là loài sinh sản đa thai, khả năng sinh sản ngày càng cao nên bộ phận sinh dục hoạt động nhiều, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập nhất là trong điều kiện dinh dưỡng không phù hợp, điều kiện chăm sóc vệ sinh kém thì bệnh dễ xảy ra

Trần Ngọc Bích và cs, (2016) [1]: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh, đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ

lệ 74,13%

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm phá huỷ các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [15], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

+ Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường Phối giống quá sớm lợn nái tơ, nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối giữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

+ Bệnh kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: Sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

Trang 29

+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

+ Lợn nái sinh ra đều mang vi khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết chảy ra tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [25]: Kết quả khảo sát tình hình mắc bệnh viêm tử cung trên 620 lợn nái ngoại nuôi tại một số trại tại vùng Bắc Bộ cho thấy:

Tỷ lệ nhiễm viêm tử cung ở đàn lợn tương đối cao, biến động từ 36,57 - 61,07%

Tỷ lệ mắc tập trung ở những lợn nái đẻ lứa đầu đến lứa thứ 8

Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5] cho biết, nguyên nhân gây

viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus) và các loại

Proteus vulgaris, Klebriella, E coli…

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do sây sát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày cá biệt tới 6 -

7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng

và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có thể có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [7], triệu chứng viêm tử cung thể hiện qua 3 thể viêm:

+ Viêm nội mạc: Lợn có biểu hiện sốt nhẹ, dịch viêm có màu trắng hoặc xám

và có mùi tanh Con vật có phản ứng đau nhẹ, phản ứng co bóp tử cung giảm nhẹ

+ Viêm cơ: Lợn có biểu hiện sốt cao, dịch viêm có màu hồng hoặc nâu đỏ và

có mùi tanh thối Con vật có phản ứng đau rõ rệt, phản ứng co bóp tử cung yếu ớt

Trang 30

Viêm cơ tử cung thường kế phát từ nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm xuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tổ chức làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương cho mạch quản và lâm ba quản, từ đó làm lớp cơ và một ít lớp tương mạc của tử cung bị hoại tử

+ Viêm tương mạc: Lợn có biểu hiện sốt rất cao, dịch viêm có màu nâu rỉ sắt

và có mùi thối khắm Con vật rất đau kèm triệu chứng viêm phúc mạc, phản ứng co bóp tử cung mất hẳn

* Điều trị: Dùng kháng sinh Dufamox - G (Amoxicillin) với liều 1 ml/10 kg

TT trong 5 - 7 ngày liên tục, mỗi lần tiêm cách nhau 48 giờ, kết hợp dùng oxytocin

từ 2 - 3 ngày với liều 2 ml/con/lần để đẩy dịch sản, thụt rửa ngày 2 lần với cồn iod pha loãng

* Hậu quả của bệnh viêm tử cung:

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8], Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó lượng progesterone trong máu giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai phát triển kém hoặc thai chết lưu

Lớp nội mạc của tử cung có nhiệm vụ tiết các chất vào lòng tử cung để giúp phôi thai phát triển Khi lớp nội mạc bị viêm cấp tính, lượng progesterone giảm nên khả năng tăng sinh và tiết dịch của niêm mạc tử cung giảm, do đó bào thai nhận được ít hoặc không nhận được dinh dưỡng từ mẹ nên phát triển kém hoặc chết lưu

Trang 31

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của

vi khuẩn E coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố

tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mãn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết progesterone

Progesterone ức chế thuỳ trước tuyến yên tiết ra LH, do đó ức chế sự phát triển của noãn bào trong buồng trứng, nên lợn nái không thể động dục trở lại được

và không thải trứng được

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh

đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm độ mắn đẻ Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA, từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

- Do kế phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

- Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy,

vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus sp và Arcanobacterium pyogenes

(Christensen R V và cs, 2007) [32]

- Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm sây sát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000) [17]

Trang 32

- Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ

mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm

như: E.coli, Streptococus, Staphylococus, Klebsiella… (Đỗ Duy Hùng, 2011) [13]

- Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm sây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú

- Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm

- Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

* Triệu chứng

Bình thường bệnh viêm vú xảy ra ngay sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 5 - 7 ngày có khi đến một tháng Theo Ngô Nhật Thắng (2006) [26], viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm

ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [19]

* Điều trị: Dùng Dufamox - G (Amoxicillin) liều 1 ml/10 kg TT liên tục 5 -

7 ngày giúp kháng viêm bề mặt, ngoài ra kết hợp chườm đá lạnh vùng vú và tiến hành vắt cho tia sữa không bị tắc

* Hậu quả của bệnh viêm vú:

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái nuôi con giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Trang 33

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

Khi lợn mẹ bị viêm vú, không nên cho lợn con bú ở những vùng bị viêm Dùng các phương pháp nhân tạo như chườm nóng, xoa bóp nhẹ lên vùng vú bị sưng (Đỗ Duy Hùng, 2011) [13]

Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [12] cho biết: Trước khi đẻ cần lau vú, xoa

vú, tắm cho lợn nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con

Bệnh sát nhau:

Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra

* Nguyên nhân

- Sau khi đẻ tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng

- Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Canxi và Phospho

- Nhau mẹ và nhau con dính lại với nhau do con vật mắc các bệnh truyền nhiễm đặc biệt bệnh sảy thai truyền nhiễm, hoặc do cấu tạo của nhau

* Triệu chứng

Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:

- Sát nhau hoàn toàn: toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn

- Sát nhau không hoàn toàn: ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một

số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ

* Điều trị

Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây

ra viêm tử cung, tiêm kháng sinh Dufamox - G liều 1 ml/10 kg TT Cần can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm Oxytocin (2 ml/con/lần) dưới da để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài

Trang 34

2.2.5 Một số bệnh thường gặp trên lợn con

Hội chứng tiêu chảy ở lợn con

- Theo Nguyễn Đức Thủy (2015) [27], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý ở đường tiêu hóa, có liên quan đến rất nhiều yếu tố, có yếu tố là nguyên nhân nguyên phát, có yếu tố là nguyên nhân thứ phát, nhưng việc phân biệt rạch ròi giữa hai nguyên nhân này là rất khó khăn Tuy nhiên cho dù bất cứ nguyên nhân nào gây ra tiêu chảy thì hậu quả của nó cũng gây ra viêm nhiễm, tổn thương thực thể đường tiêu hóa và cuối cùng là dẫn đến nhiễm trùng Qua nhiều nghiên cứu cho thấy, nguyên nhân bị tiêu chảy ở lợn là do một số nguyên nhân sau đây:

Theo Lê Thị Hoài (2008) [11], tiêu chảy là một hiện tượng bệnh lý có liên quan đến nhiều yếu tố Vì vậy, việc phân biệt giữa các nguyên nhân gây tiêu chảy là rất khó khăn Môi trường ngoại cảnh là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức đề kháng của cơ thể gia súc Khi có sự thay đổi các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, mưa, nắng, điều kiện chuồng nuôi đều ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn đặc biệt là lợn con theo mẹ, do cấu tạo và chức năng sinh lý chưa ổn định và hoàn thiện, khi gặp các yếu tố bất lợi dễ gây stress dẫn đến nhiều bệnh trong đó có tiêu chảy

- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Bùi Tiến Văn (2015) [29], thì một số vi

khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột là E coli, Samonella sp, Shigella,

Klebsiella… đó là những vi khuẩn quan trọng gây rối loạn tiêu hóa ở người và

nhiều loài động vật

- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung

- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần

Ngày đăng: 29/03/2021, 09:21

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm