1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại tín nghĩa thuộc liên kết công ty agriviet

75 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 2,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN DUY CƯƠNG Tên đề tài: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI TRANG TRẠI TÍN NGHĨA - ỨNG HÒA – HÀ NỘI” KHÓA LUẬN

Trang 1

NGUYỄN DUY CƯƠNG

Tên đề tài:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI

TRANG TRẠI TÍN NGHĨA - ỨNG HÒA – HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Thái Nguyên – năm 2020

Trang 2

NGUYỄN DUY CƯƠNG

Tên đề tài:

“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO ĐÀN LỢN NÁI VÀ LỢN CON THEO MẸ NUÔI TẠI

TRANG TRẠI TÍN NGHĨA - ỨNG HÒA – HÀ NỘI”

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y

Giảng viên hướng dẫn: TS Hà Văn Doanh

Thái Nguyên – năm 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tốt nghiệp này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo trường đại học Nông lâm Thái Nguyên Đặc biệt thầy cô giáo khoa chăn nuôi thú y đã truyền đạt cho em kiến thức quý báu và bổ ích trong suất những năm học vừa qua cũng như trong quá trình thực tập tốt nghiệp

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo:TS Hà Văn Doanh

đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong xuất quá trình thực tập

Em xin trân thành cảm ơn anh chị ban lãnh đạo cũng như toàn thể nhân viên công ty thuốc thú y Agriviet, Và toàn thể quản lý, kĩ sư và công nhân trang trại lợn giống Tín Nghĩa đã tạo mọi điều kiện tốt nhận để em được học hỏi.và hoàn thành tốt khóa luận thực tập tốt nghiệp

Em xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã giúp đỡ động viên em trong xuất thời gian hoàn thành khóa luận này

Trong quá trình thực tập và hoàn thiện báo cáo do kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chế,nên báo cáo khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những thiếu sót và khiếm khuyết Em kính mong nhận được sự góp ý của thầy

cô để khóa luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng năm

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại từ năm 2017 đến tháng 11/2019 5

Bảng 3.1 Công việc hàng ngày chuồng lợn chửa 26

Bảng 3.2 Công việc hàng tuần ở chuồng lợn nái chửa 27

Bảng 3.3 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa 29

Bảng 3.4 Công việc hàng ngày chuồng đẻ 33

Bảng 3.5 Công việc hàng tuần chuổng đẻ 33

Bảng 3.6 Quy định chỉnh thức ăn lợn nái chuồng đẻ 33

Bảng 3.7 Thực hiện nuôi dưỡng chăm sóc lợn con 36

Bảng 3.8 Quy định cắt số tai lợn con 37

Bảng 3.9 Lịch tiêm phòng vắc xin cho lợn tại trại 42

Bảng 4.1 Kết quả về số lượng lợn trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 45

Bảng 4.2 Một số chỉ tiêu số lượng lợn con tại trại nái 45

Bảng 4.3 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 46

Bảng 4.4 Kết quả phòng bệnh bằng vắc xin phòng bệnh cho lợn nái 47

Bảng 4.5 Kết quả phòng bệnh cho lợn con bằng thuốc và vắc xin 48

Bảng 4.6: Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn nái tại trại 49

Bảng 4.7: Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái 49

Bảng 4.8 : Kết quả chẩn đoán bệnh trên đàn lợn con theo mẹ 52

Bảng 4.9 Kết quả điều trị lợn con theo mẹ 53

Bảng 4.10: Kết quả thực hiện các thao tác trên lợn tại trại 54

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

MỤC LỤC iii

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục dích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.1 Điều kiện cơ sở thực tập 3

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn 6

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề 6

2.2.1 Đặc điểm sinh lí sinh dục của lợn 6

2.2.2 Những nguyên tắc và biện pháp phòng bệnh, điều trị bệnh 11

2.2.3.Cơ sở tài liệu về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời gian thực tập 15

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước 23

2.3.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước 23

2.3.2 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài 23

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 25

3.1 Đối tượng 25

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 25

3.3 Nội dung thực hiện 25

3.4 Các chỉ tiêu thực hiện 25

3.5 Các phương pháp thực hiện: 25

3.5.1 Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại và tình hình hình phát triển công ty thuốc thú y Agriviet: 25

Trang 6

3.5.2 Phương pháp thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái và lợn con

theo mẹ 25

3.6 Phương pháp phòng và điều trị bệnh trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ 37

3.6.1 Nguyên tắc phòng bệnh: 37

3.6.2 Phương pháp chẩn đoán và điều trị bệnh gặp trên đàn lợn nái và lợn con tại trại 44

3.6.3 Phương pháp xử lý số liệu 44

PHẦN 4 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ THẢO LUẬN 45

4.1 Thực hiện công tác chăm sóc nuôi dưỡng 45

4.2 Một số chỉ tiêu số lượng lợn con tại trại nái 45

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Tín Nghĩa 46

4.3.1 Kết quả thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 46

4.3.2 Công tác phòng bệnh bằng vắc xin trên lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ 47

4.4 Kết quả chẩn đoán và điều trị cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại Tín Nghĩa 49

4.4.1 Tình hình mắc bệnh tại trại 49

4.4.2 Kết quả điều trị bệnh ở đàn lợn nái tại trại 49

4.4.3 Kết quả chẩn đoán bệnh cho đàn lợn con tại trại 52

4.5 Kết quả thực hiện công tác khác tại cơ sở 53

4.5.1 Kỹ thuật phát hiện lợn nái động dục, thụ tinh nhân tạo và khai thác tinh mà em đã được học tại trại: 55

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59

5.1 Kết luận 59

5.2 Đề nghị 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 611 PHỤ LỤC

Trang 7

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu đối với đời sống con người.Trong đó chăn nuôi lợn đang trở thành yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế Chăn nuôi lợn cung cấp nguồn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho con người

- Chăn nuôi lợn cung cấp nguồn nguyên liệu của ngành công nghiệp chế biến như thịt đóng hộp, thịt xông khói…

- Chăn nuôi lợn giúp cân bằng môi trường sinh thái giữa cây trồng vật nuôi và con người

Chăn nuôi lợn góp phần làm phát triển nền kinh tế hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại đặc biệt mô hình trang trại VAC Với mục tiêu đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành mũi nhọn trong ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa hiện đại hóa nói chung

Chính vì sự quan trọng của ngành chăn nuôi và để hoàn thành chương trình học trong nhà trường thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành Thực hành đi đôi với lí thuyêt” Giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với sinh viên để hệ thống toàn bộ những kiến thức đã học nâng cao tay nghề đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn đáp ứng nhu cầu thực tiễn của sản xuất Nắm được phương pháp tổ chức tiến hành nghiên cứu, ứng dụng khoa học kĩ thuật vào trong sản xuất chăn nuôi, sáng tạo khi ra trường để trở thành cán bộ khoa học có chuyên môn đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước

Xuất phát từ những cơ sở khoa học thực tiến trên, được sự đồng ý của ban chủ nghiệm khoa chăn nuôi thú y – trường đại học nông lâm Thái Nguyên cùng với sự tận tình của các thầy cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện

chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng điều trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trang trại Tín Nghĩa thuộc liên kết Công

ty Agriviet”

Trang 8

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài

1.2.1 Mục dích

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại cơ sở

- Xác định và thực hiện quy trình phòng, điều trị bệnh và nuôi dưỡng đàn lợn nái,lợn con tại cơ sở

- Nắm được các loại thức ăn dành cho lợn nái, khẩu phần ăn và cách cho lợn nái ăn qua từng giai đoạn

- Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết và kinh nghiệm thực tế

- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng xuất tại cơ sở

1.2.2 Yêu cầu

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn tại Công ty thuốc thú y Agriviet

- Xác định tình hình nhiễm bệnh trên đàn nái

- Nắm vững quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái và lợn con

- Thực hiện tốt các yêu cầu quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ học tập để nâng cao kĩ thuật tay nghề cho bản thân

Trang 9

PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1 Điều kiện cơ sở thực tập

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Trang trại chăn nuôi lợn thuộc lien kết công ty thuốc thú y Agriviet thuộc địa bàn xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội có vị trí:

- Phía bắc và tây bắc Liên Bạt giáp các xã Quảng Phú Cầu và Trường Thịnh

- Phía đông và đông bắc giáp các xã Phương Tú và Phú Túc (huyện Phú Xuyên

- Phía tây và phía nam giáp thị trấn Vân Đình

2.1.1.2 Khí hậu

- Khí hậu có đủ 4 mùa: Xuân, hạ (hè), thu, đông

- Lượng mưa trung bình hằng năm: 1900mm

- Nhiệt độ trung bình: 23,3°C, chênh lệch khá cao giữa các mùa Mùa hè lên tới 36-37°C, mùa đông xuống tới 9-10°C

- Số giờ nắng trong năm: 1400 giờ

- Độ ẩm tương đối trung bình: 70 - 85%

2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức của trang trại

Cơ cấu tổ chức của trại bao gồm:

2.1.1.4 Cơ sở vật chất của trại

* Trại Tín Nghĩa thuộc lien kết Công ty thuốc thú y Agriviet có tổng diện tích khoảng 2 ha đất để xây dựng trang trại, nhà điều hành, nhà ở công nhân, bếp ăn, vườn cây ao cá, kho vật tư, hệ thống biogas sử lí chất thải và các công trình phụ khác (Trong đó diện tích chuồng nuôi là 1 ha)

Trang 10

- Khu nhà ở công nhân gồm 1 phòng khách (ở và làm việc của quản lí) 1 nhà bếp ăn và 5 phòng ở cho công nhân Khu nhà ăn được xây dựng sạch sẽ đầy đủ các thiết bị tiện nghi như tủ lạnh điều hòa…

- Khu chăn nuôi được bố trí xây dựng trại quy mô 600 nái gồm các giống Landrace, Yorshire và Duroc Khu vực chăn nuôi gồm kho thuốc, kho cám nhà tắm sát trùng, nhà kho để vật tư trang thiết bị sửa chữa trong chuồng nuôi và kho chất sát trùng (vôi bột,sút…)

* Trại được chia làm 3 khu:

- Khu cách li (khu nguy hiểm): là khu được xây dựng bên ngoài cổng trại được xây dựng gồm tủ xông foocmon+ thuốc tím để xông các trang thiết bị cá nhân hay vật dụng… trước khi đưa vào khu nhà ở Và nhà tắm sát trùng, hệ thống sát trùng các phương tiện và người trước khi vào khu nhà ở, kho để phương tiện hoặc đồ dùng không cần thiết cho vào khu nhà ở

- Khu nhà ở và sinh hoạt cho công nhân và phòng khách (khu nguy cơ)

- Khu chăn nuôi (khu sạch-khu an toàn) là khuân viên chăn nuôi được xây và bao lưới kín Gồm 2 chuồng lợn nái chửa (nuôi nhốt nái chửa và đực giống) 4 chuồng nái đẻ, 1 chuồng cách li nuôi hậu bị và 3 chuồng cai sữa Một số công trình khác như: nhà tắm, kho thuốc, kho cám có hệ thống UV, kho để vật tư và chất sát trùng… Và nhà tắm sát trùng cho công nhân từ khu nhà ở vào khu chăn nuôi, phòng pha tinh, hệ thống sát trùng tự động Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín, hệ thống sát trùng

tự động Đầu chuồng có hệ thống giàn mát, cuối chuồng có hệ thống quạt gió thông

và hệ thống cảm biến nhiệt Phòng pha tinh có các dụng cụ hiện đại như: kính hiển

vi, hệ thống cảm biến nhiệt, tủ nâng nhiệt, nồi hấp cách thủy và các thiết bị khác

- Nguồn nước lợn uống và thải rửa chuồng …(nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi) được sử lý qua bể lọc 2 lớp cát và được đưa vào khu chăn nuôi qua hệ thống ống ngầm

* Cơ cấu đàn lợn của trại Tín Nghĩa

Đối tượng nuôi của trại là lợn nái sinh sản, lợn hậu bị, lợn đực giống và lợn thương phẩm Các giống lợn được nhập từ nước ngoài như Yorkshire, Landrace, Duroc

Qua điều tra từ số liệu sổ sách theo dõi của trại trong 3 năm (2017 - 11/2019) thì cơ cấu đàn lợn nái được thể hiện qua bảng 4.1

Trang 11

Bảng 2.1 Tình hình chăn nuôi của trại từ năm 2017 đến tháng 11/2019

(con)

Năm 2018 (con)

T11 - Năm 2019 (con)

(Nguồn: Quản lí trại)

Qua bảng 2.1 cho thấy: Số lượng lợn nái sinh sản có xu hướng tăng qua các năm Cụ thể năm 2017 là 250 con, năm 2018 số nái sinh sản tăng lên 340 con và đến tháng 11 năm 2019 số nái sinh sản tăng lên 400 con, có thể thấy sau 3 năm số lượng lợn nái sinh sản tăng lên 150 con Nái hậu bị cũng có xu hướng giảm qua các năm từ

110 con năm 2017 đến năm 2018 là 90 con nhưng đến tháng 5 năm 2019 số nái hậu

bị không có do diễn biến phức tạp của dịch tả châu phi trại không tăng đàn, mục đích chính là nhằm thay thế số lợn loại thải hằng năm vì nhiều nguyên nhân như già yếu, sức sinh sản kém, bệnh tật nên trại giảm số nái nhằm hạn chế tối đa rủi ro có thể xảy ra Có thể thấy số lợn convà lợn nái sinh sản là cao nhất vì đây là trang trại sản xuất giống hạt nhân do đó cơ cấu của trại chủ yếu là lợn nái và lợn con theo mẹ Số lợn đực giống khai thác qua các năm từ 7 con năm 2017 tăng lên 11 con năm 2018

và đến tháng 11 năm 2019 giảm xuống 8 con nguyên nhân do tình hình dịch tả châu phi trại không tiến hành nhập thêm đực giống, số lượng 8 con đực giống phối 400 nái vẫn đáp ứng tốt về chỉ tiêu sinh sản Do trại tăng nái sinh sản qua từng năm cũng như quá trình chăm sóc nuôi dưỡng lợn mẹ, lợn con và thao tác thụ tinh nhân tạo tốt số lợn con tăng lên cụ thể số con cai sữa TB/nái/lứa của năm 2017 là 10,2 con/nái/lứa năm 2018 là 10,4/nái/lứa năm 2019 là 10,5/nái/lứa Cũng như chất lượng con giống tốt,quá trình chăm sóc điều trị quản lí tốt nên nái sinh sản TB đẻ được 2,3 lứa/năm

Trang 12

2.1.2 Thuận lợi và khó khăn

- Gía thức ăn chăn nuôi ngày càng một tăng khiến chi phí thức ăn tăng cao gây ảnh hưởng tới chăn nuôi trang trại

- Lợn giống nhập ngoại nên khả năng thích nghi điều kiện khí hậu Việt Nam kém, đòi hỏi kĩ thuật chăm sóc đặc biệt

- Vị trí nằm cánh đồng nên việc tiêu diệt và kiểm sát vật mang trùng (chuột…)

và nguồn nước lưu thông xung quanh trại còn nhiều khó khăn

2.2 Cơ sở tài liệu liên quan đến chuyên đề

2.2.1 Đặc điểm sinh lí sinh dục của lợn

2.2.1.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

-> Sự thành thục về tính:

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối

Sự thành thục về tính của lợn sớm hay muộn phụ thuộc vào: giống, chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu, chuồng trại

- Giống: Các giống khác nhau thì thời gian thành thục về tính cũng khác nhau Những giống thuần hóa sớm hơn thì tính thành thục sớm hơn những giống thuần hóa

Trang 13

muộn, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn

Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [7] cho rằng: Tuổi động dục đầu tiên ở lợn nội (Ỉ, Móng Cái) rất sớm từ 4 - 5 tháng khi khối lượng đạt từ 20 – 25 kg Ở lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần, ở lợn lai F1 (có sẵn máu nội) động dục bắt đầu lúc 6 tháng tuổi khi khối lượng cơ thể đạt 50 – 55 kg Ở lợn ngoại động dục muộn hơn so với lợn lai, tức là lúc động dục 6 - 7 tháng khi lợn có khối lượng 60 – 80 kg Tuỳ theo giống, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng và quản lý

mà có tuổi động dục lần đầu khác nhau Lợn Ỉ, Móng Cái có tuổi động dục lần đầu vào 4 - 5 tháng tuổi (121 - 158 ngày tuổi), các giống lợn ngoại (Yorkshire, Landrace)

có tuổi động dục lần đầu muộn hơn từ 7 - 8 tháng tuổi

- Chế độ dinh dưỡng:

John Nichl (1992) [18] chỉ rõ: Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái Thường những lợn được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn những lợn được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn nái được nuôi trong điều kiện dinh dưỡng tốt sẽ thành thục

ở độ tuổi trung bình 188,5 ngày (6 tháng tuổi) với khối lượng cơ thể là 80 kg Nếu hạn chế thức ăn thì sự thành thục về tính sẽ xuất hiện lúc 234,8 ngày (trên 7 tháng tuổi) và khối lượng cơ thể là 48,4 kg Dinh dưỡng thiếu làm chậm sự thành thục

về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố hướng dục Nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục, do sự tích luỹ mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng, đồng thời quá béo sẽ ảnh hưởng tới các hocmon oestrogen và progesterone trong máu làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục

- Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng:

Theo Dwane R Zimmernan Edepurkhiser (1992) [5], mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn nái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu – Đông, Điều này có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức Những con được chăn thả tự do thì xuất hiện thành thục sớm hơn những con nuôi nhốt trong chuồng 14 ngày (mùa Xuân) và 17 ngày (mùa Thu) Mùa Đông, thời gian chiếu sáng

Trang 14

trong ngày thấp hơn so với các mùa khác trong năm, bóng tối còn làm chậm tuổi thành thục về tính so với những biến động ánh sáng tự nhiên hoặc ánh sáng nhân tạo

12 giờ mỗi ngày

- Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc Nghĩa là, sau khi con vật đã thành thục về tính thì vẫn tiếp tục sinh trưởng lớn lên, đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [7] cho rằng: Không nên cho phối giống ở lần động dục đầu tiên vì ở thời kỳ này cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, chưa tích tụ được chất dinh dưỡng nuôi thai, trứng chưa chín một cách hoàn chỉnh Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con cái lâu bền cần

bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục lần đầu rồi mới cho phối giống

-> Sự thành thục về thể vóc:

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [11], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi

có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên, lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục Trong giai đoạn lợn thành thục về tính

mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ, điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Vì vậy, không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn nái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi, khối lượng đạt 40

- 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 – 110 kg mới nên cho phối

- Chọn bộ phận sinh dục:có số vú nhiều (số vú lớn hơn hoặc bằng 12 vú),cân đối,khoảng cách giữa các vú đều lộ rõ,không có vú lép,vú kẹ

- Chọn những con con có âm hộ phát triển (không chọn con có âm hộ quá bé hoặc dị dạng)

2.2.1.2 Đặc điểm sinh dục sinh lí lợn cái

+ Sự hình thành trứng chín và sự rụng trứng

Khi gia súc cái thành thục về tính, dưới tác dụng của hoocmon FSH của tuyến yên

sẽ kích thích noãn bào ở miền vỏ buồng phát triển thành noãn baò trứng chín nổi lên bề

Trang 15

mặt của buồng trứng và tiết ra hóc môn sinh dục cái đổ vào máu gây hưng phấn thần kinh làm con vật động dục Đồng thời dưới tác dụng của hóc môn LH của tuyến yên, kích thích trứng chín rụng giải phóng tế bào trứng

+ Các giai đoạn của chu kỳ tính: chu kỳ tính của gia súc gồm 3 giai đoạn

Giai đoạn cân bằng: sau giai đoạn ức chế, trước giai đoạn hưng phấn, giai đoạn này trứng phát triển chín và nổi lên bề mặt của buống trứng Biểu hiện của con vật; tính tình trầm lặng, ăn uống bình thường, không thích gần con đực, không thích giao phối cuối giai đoạn này xuất hiện hưng phấn thần kinh

Giai đoạn hưng phấn (động dục): biểu hiện tính dục rõ nhất là hưng phấn thần kinh; con vật kêu rống, phá chuồng, bỏ ăn, tìm con đực, thích gần con đực, đòi giao phối, cuối thời kỳ này trứng rụng

Giai đoạn ức chế: Tính hưng phấn giảm dần và mất hẳn, con vật trần tĩnh, ăn uống trở lại bình thường, không tích gần con đực, không thích giao phối Ở thời kỳ này thể vàng hình thành và hoạt động thời gian ngắn thì tiêu biến

-Thời điểm phối giống thích hợp:

Theo Nguyễn Thiện và Nguyễn Tấn Anh (1993) [20], trứng rụng tồn tại trong

tử cung từ 2 – 3 giờ và tinh trùng sống trong âm đạo lợn cái từ 30 – 48 giờ Thời điểm phối giống thích hợp nhất đối với lợn nái ngoại và lợn nái lai là vào chiều ngày thứ 3

và sáng ngày thứ 4, tính từ lúc bắt đầu động dục Đối với lợn nái nội sớm hơn một ngày là vào cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3 do thời gian động dục ở lợn nái nội ngắn hơn Thời điểm phối giống có ảnh hưởng đến tỷ lệ đậu thai và sai con Phối sớm hoặc phối chậm đều đạt kết quả kém nên cho nhảy kép hoặc thụ tinh nhân tạo kép vào thời điểm tối ưu

Trang 16

+ Đẻ

Đẻ là hoạt động sinh lý bình thương của gia súc cái; khi thai phát triển hoàn chỉnh, con mẹ đẩy thai, màng nhau và các sản phụ ra ngoài hoàn toàn Đẻ Là một phản xạ không điều kiện dưới sự chỉ đạo của thần kinh và thể dịch Trước khi đẻ con vật có biểu hiện về toàn thân và cục bộ hệ sinh dục

Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và khả năng sinh sản.Khi gia súc thành thục về tính,bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục Con cái có biểu hiện động dục,con đực có phản xạ giao phối

2.2.1.3.Đặc điểm sinh lí sinh dục của lợn đực

Lợn đực giống: 2 dịch hoàn to đều, không treo cao, không trễ quá thấp, da bao quanh tinh hoàn trơn nhẵn

+ Sự hình thành tinh trùng

Khi gia súc đực thành thục về tính, cơ quan sinh dục bắt đầu sinh tinh trùng Tinh trùng được sinh ra trong các ống sinh tinh nhỏ của dịch hoàn và trước khi phóng tinh Sự hình thành tinh trùng liên tục theo kiểu làn sóng

Đặc tính sinh lý của tinh trùng là vận động độc lập và tiến thẳng ngược dòng trong tử cung của con cái Sức sống của tinh trùng phụ thuộc vào môi trường, nếu môi trường nóng quá thì tinh trùng sẽ chết, nếu nhiệt độ dưới 00C thì tinh trùng sẽ rơi vào trạng thái tiềm sinh

+ Giao phối

Là chuỗi phản xạ phức tạp bao gồm phản xạ hưng phấn, phản xạ cương cứng dương vật, phản xạ nhảy và phản xạ phóng tinh đưa tinh trùng con đực vào đường

Trang 17

sinh dục con cái để gặp trứng Quá trình này thực hiện dưới sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương và mang tính bẩm sinh

+ Các chỉ số tần suất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển lợn

+ Nhiệt độ, tần số hô hấp và nhịp tim

Tuổi/Trọng lượng Nhiệt độ trực tràng Tần số

hô hấp

Nhịp tim (trên phút)

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2004) [21], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nhiều nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng bệnh tật xảy ra trên đàn lợn Phần lớn các biện

Trang 18

pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Lê Văn Tạo và cs (1993) [22], vi khuẩn E coli gây bệnh ở lợn là vi khuẩn

tồn tại thường trực trong môi trường và đường tiêu hoá của vật chủ Khi môi trường quá ô nhiễm do vê ̣sinh chuồng trại kém, nước uống thức ăn bi ̣nhiễm vi khuẩn, điều

kiện ngoại cảnh thay đổi, lợn giảm sức đề kháng dễ bi ̣cảm nhiễm E coli, bệnh sẽ nổ

ra Vì vậy, khâu vê ̣sinh, chăm sóc có một ý nghĩa to lớn trong phòng bệnh Trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ trong chuồng phải đảm bảo từ 27 - 300C đối với lợn sơ sinh và 28 - 300C với lợn cai sữa Chuồng phải luôn khô ráo, không ẩm ướt Giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm

áp vào mùa Đông và đầu Xuân Nên dùng các thiết bị sưởi hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [19], từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5%

hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bị chăn nuôi:

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa Hè, ấm áp mùa Đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng và để trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần phải vệ sinh tổng thể và triệt để Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/ tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn

Trang 19

nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

- Phòng bệnh bằng vắc xin:

Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [10], vắc xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới – vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch, làm cho động vật

có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vắc xin) mới có miễn dịch

+ Diệt căn bệnh: Là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh: Phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh: Chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [10], các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

Trang 20

+ Hộ lý: Cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: Chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

+ Dùng hóa dược: Phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuộc được truyền cho những thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản

sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

Trang 21

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.3.Cơ sở tài liệu về một số bệnh thường gặp tại cơ sở trong thời gian thực tập

Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [8], nguyên nhân gây ra bệnh

viêm tử cung chủ yếu do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgaris, Klebriella, dung huyết

E.coli, còn có thể do trùng doi (Trichomonas foetus) và do nấm Candida albicans

Mặt khác, khi gia súc đẻ, nhất là trường hợp đẻ khó phải can thiệp, niêm mạc

tử cung bị xây sát và tạo các ổ viêm, mặt khác các bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, lao… thường gây viêm tử cung, âm đạo

* Triệu chứng:

Theo Nguyễn Văn Thanh (2007) [23], khi lợn nái bị viêm tử cung, các chỉ tiêu lâm sàng như thân nhiệt và tần số hô hấp đều tăng Lợn bị sốt theo quy luật: sáng sốt nhẹ 39 - 39,5°C, chiều sốt cao 40 - 41°C

Con vật ăn kém, sản lượng sữa giảm, đôi khi con vật cong lưng rặn

Từ cơ quan sinh dục chảy ra hỗn dịch lẫn nhiều mạch tổ chức, mùi hôi tanh, có màu trắng đục, hồng hay nâu đỏ Khi nằm lượng dịch chảy ra nhiều hơn

Theo Nguyễn Văn Thanh (2004) [24], tuỳ vào vị trí tác động của quá trình viêm đối với tử cung của lợn nái, người ta chia thành ba thể viêm: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung

Trang 22

* Hậu quả:

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9]; Trần Thị Dân (2004) [6], khi lợn nái

bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn đến sảy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của

cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt

vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tửcung tiết

nhiều prostaglandin F2α (PGF 2α ), PGF 2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng

cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng

bị phá huỷ, không tiết progesterone nữa, do đó hàm lượng progesterone trong máu

sẽ giảm, làm cho trương lực co của cơ tử cung tăng, nên gia súc cái có chửa dễ bị sảy thai

Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu

Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Theo Trần Thị Dân (2004) [6], lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ Hiện tượng viêm tử cung âm ỉ kéo dài từ lứa đẻ trước đến lứa đẻ sau là nguyên nhân làm giảm khả năng sinh sản Mặt khác, viêm tử cung là một trong các nguyên nhân dẫn đến hội chứng MMA (viêm tử cung, viêm vú và mất sữa), từ đó làm cho tỷ lệ lợn con nuôi sống thấp Đặc biệt, nếu viêm tử cung kèm theo viêm bàng quang thì còn ảnh hưởng tới hoạt động của buồng trứng

* Phòng bệnh:

Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [17] cho biết: cần vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú

Theo Lê Văn Năm (1999) [16], khi đỡ đẻ bằng tay phải sát trùng kĩ bằng cồn, xoa trơn tay bằng vaselin hoặc dầu lạc

Trang 23

Cho lợn nái chửa thường xuyên vận động, đảm bảo ăn uống đầy đủ, vệ sinh sạch sẽ

Kiểm tra nghiêm ngặt dụng cụ dẫn tinh và không để nhiễm khuẩn

Không sử dụng lợn đực bị nhiễm khuẩn đường sinh dục để nhảy trực tiếp hoặc lấy tinh

Phòng bệnh truyền nhiễm Leptospirosis, Brucellosis bằng cách dùng vắc xin

đúng quy định, đúng thời gian cho đàn lợn sinh sản tránh những trường hợp bị sốt đột ngột gây sảy thai

* Điều trị:

+ Điều trị cục bộ:

Bơm rửa tủ cung ngày 1-2 lần, mỗi lần 2-4 lít nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 0,1% hay nước muối sinh lí 0,9% sau đó bơm hoặc đặt kháng sinh như: penicilin 2-3 triệu UI, tetramycine hay sulfanilamide 2-5g hoặc clorazol 4-6 viên vào tử cung

để chống viêm

+ Điều trị toàn thân:

Tiêm hạ sốt analgin 2-3 ống/ngày

Tiêm thuốc : hydrocortizone, dectancyl

Tiêm thuốc trợ sức: VTM B1, C, B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm, không dùng chung vitamin C với khấng sinh peniciline, sufamid

Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxine ngày 1-2 ống, liên tiếp 2-3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường

2.2.3.2.Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân:

Theo Trần Minh Châu (1996) [4], khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng

cách, chuồng bẩn thì vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm

nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày

Trang 24

đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây

viêm

+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này, vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh

+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không

bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm (Trương Lăng, 2000) [12]

+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá

ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm

* Triệu chứng:

Ngô Nhật Thắng (2006) [25] cho biết: viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi cũng lan ra toàn bộ các vú Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau Lợn nái giảm ăn, trường hợp nặng thì bỏ ăn, sốt cao 40,5 - 42oC kéo dài trong suốt thời gian viêm, sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh lợn mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy tọp, tỷ lệ chết cao 30 - 100% (Lê Hồng Mận, 2002) [15] Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có những cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện những mảnh cazein màu vàng, xanh lợn cợn, đôi khi có máu

* Hậu quả:

Khi bị viêm vú, sản lượng sữa của lợn nái giảm, trong sữa có nhiều chất độc, sữa không đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con hoặc khi lợn con bú sữa sẽ dẫn đến tiêu chảy, ốm yếu, sức đề kháng giảm, dễ mắc bệnh và trọng lượng cai sữa thấp

Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó chữa, lợn nái có thể chết

Viêm vú kéo dài dẫn đến teo đầu vú, vú hóa cứng, vú bị hoại tử ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái ở lứa đẻ sau

* Điều trị:

Sử dụng clamoxin s 1ml/15kgTT kết hợp với oxytocin: 2ml/con và xoa bóp chườm ấm bầu vú

Trang 25

2.2.3.3.Bệnh sót nhau

* Nguyên nhân:

Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [26], nguyên nhân dẫn đến sót nhau ở lợn là sau khi đẻ tử cung co bóp yếu; Trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng; Trong thức ăn thiếu các chất khoáng, nhất là Ca và P; Tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức

Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ, làm viêm dính với tử cung hoặc trong quá trình đỡ đẻ, nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn sót lại một ít trong tử cung Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

* Triệu chứng:

Trần Ngọc Bích và cs (2014) [1] cho biết, khi lợn nái bị sót nhau có triệu chứng: con vật đứng nằm không yên, nhiệt độ hơi tăng, thích uống nước, sản dịch chảy ra có màu nâu Để dễ phát hiện có sót nhau hay không khi đỡ đẻ cho lợn người

ta thường gom toàn bộ nhau lại cho đến khi lợn đẻ xong, đếm số nhau ra và số lợn con sẽ phát hiện lợn con có sót nhau hay không

Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau

Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41°C trong vòng 1 -

2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu Căn cứ vào mức độ sát nhau người ta chia ra làm 2 loại:

+ Sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ nhau thai nằm lại trong tử cung Khi mắc thường là có một phần treo lơ lửng ở mép âm môn

+ Sót nhau không hoàn toàn: Ở động vật đơn thai một phần màng nhau còn dính lại trong tử cung con mẹ Đối với động vật đa thai một số nhau ra ngoài, một số nhau còn sót lại trong tử cung con mẹ

* Điều trị:

Can thiệp kịp thời ngay khi lợn nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh những tổn thương Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra, dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục

Trang 26

2.2.3.4.Bệnh viêm khớp

* Nguyên nhân:

Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis gây viêm khớp lợn

cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường xảy ra ở lợn con 1 - 6 tuần tuổi

Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, rốn, vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng

* Triệu chứng:

Lợn đi khập khiễng, khớp chân sưng Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau

* Điều trị:

- Dufamox 15% LA.INJ, tiêm bắp 1ml/ 10 kg TT

- Tiêm analgin: 1ml/10 kg TT/ 1lần/ ngày

- Điều trị liên tục trong 3 ngày

- Ngoài ra hạn chế cho lợn di chuyển đi lại, những tấm đan bị hỏng, kém chất lượng cần phải thay thế

2.2.3.5 Bệnh ghẻ:

+ Triệu trứng: Thông thường khi thấy trên bề mặt da của lợn xuất hiện các nốt

đỏ Thấy lợn hầu như không ngồi, nằm yên một chỗ chúng tỏ ra ngứa ngáy khó chụi, hay có hành động cọ sát vào khung chuồng

+ Phòng và điều trị:

- Điều trị: Cách ly toàn bộ lợn ghẻ vào một khu riêng biệt Dọn dẹp phun sát trùng định kì 2-3 lần/tuần trong và ngoài chuồng Tắm rửa sạch sẽ lợn bệnh Sử dụng thuốc tiêm có thành phần Ivermectin tiêm cho mỗi con 1 mũi duy nhất và tăng sức đề kháng cho lợn bằng các bổ sung diện giải, VTM, các nguyên tố vi lượng…

Lưu ý Ivermesctin không ảnh hưởng lợn mang thai Sau khi điều trị mà thấy lợn không khỏi, hãy kiểm tra lại toàn bộ vệ sinh của trại, rất có thểm mầm bệnh vẫn cồn lưu cữu trong trại Sauk hi phát hiện lợn bệnh tiêm càng sớm càng tốt

Phòng ghẻ lợn trên tổng đàn: Dọn dẹp vệ sinh chuồng nuôi thường xuyên để chuồng luôn kho và ấm Phun sát trùng định kì 1-2 lầm/tuần trong và ngoài trại Định

kì tiêm phòng theo lịch cho các đối tượng lợn

Trang 27

+Hậu quả: Lợn mang thai nhiễm ghẻ cơ thể ngứa ngáy khó chụi làm cho cơ thể bị stress nên ảnh hưởng đến đầu con sinh ra và dễ mắc bệnh khác Lợn nái nuôi con nhiễm ghẻ sinh con ra con bị nhiễm theo làm cho lợn con bị stress dễ mắc bệnh tiêu chảy hoặc phụ nhiễm các bệnh khác, phổ biến nhất là viêm da đóng vảy do Staphylococus

2.3.2.6 Một số bệnh thường gặp trên lợn con:

* Bệnh viêm phổi

Lứa tuổi bị bệnh: Bệnh thường sảy ra lợn con sau cai sữa và lợn choai, đặc biệt

là lợn lúc 7 tuần tuổi trở lên

- Nguyên nhân bệnh viêm phổi do nhiều nguyên nhân gây ra, trong đó có Mycoplasma hyponeumoniae gây ra

- Triệu trứng và bệnh tích:

+ Cấp tính: Thường gặp trong đàn lần đầu bị nhiễm bệnh, viêm phổi nặng, ho ran, thở khó, sốt và tỉ lệ chết cao Tuy nhiên những triệu trứng này biến động và mất

đi khi bệnh nhẹ đi

+ Mãn tính: Thường gặp trong đàn có mầm bệnh xuất hiện nhiều lần, ho kéo dài và ho nhiều lần (ho kiểu chó ngồi) Một số con bị hô hấp nặng và biểu hiện triệu trứng viêm phổi, sẽ có khoảng 30-70% số lợn có bệnh tích tổn thương phổi khi mổ khám

- Chẩn đoán: Dựa trên tiền sử bệnh trong trại, dấu hiệu lâm sàng và phương pháp phòng thí nghiệm Mổ khám thấy có bệnh tích phổi hóa gan trên thùy phổi trước

Bệnh phân trắng lợn con là bệnh của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa Bệnh sảy

ra quanh năm, tùy theo ảnh hưởng của thời tiết mà phát sinh, phát triển Bệnh thường phát sinh vào mùa muwakhi thời tiết ẩm thấp thay đổi đột ngột, lứa tuổi mắc bệnh trầm trọng nhất là lợn từ 1-21 ngày tuổi

- Nguyên nhân:

Trang 28

+ Do điều kiện vệ sinh, dinh dưỡng cho lợn con không đảm bảo Quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ không đầy đủ, nhất là giai đoạn lợn mẹ mang thai bị thiếu nhiều chất dinh dưỡng, khoáng, nhất là sắt, coban, can xi Làm bào thai kém phát triển, do đó lợn con sơ sinh dễ bị bệnh phân trắng Bên cạnh đó, lợn con ỉa phân trắng còn do rối loạn trao đổi chất vì lợn con bú sữa mẹ kém phẩm chất, thiếu dinh dưỡng, nhất là thiếu sắt không được bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng cho lợn con trong giai đoạn bú mẹ, lợn con rất cần nước, thiếu nước chúng sẽ uống nước bẩn dẫn đến mắc các chứng về đường ruột

+ Do đặc điểm sinh lí của lợn con Khi mới sinh hệ điều tiết thân nhiệt của lợn con chưa hoàn chỉnh, sẽ không thích nghi với ựu thay đổi bất thường của thời tiết, khí hậu và lượng mỡ dưới da của lợn con lúc mới sinh chỉ có khoảng 1% Bởi vậy, nếu khí hậu thay đổi, lợn con mất cân bằng giữa hai quá trình sản nhiệt và thải nhiệt, khí hậu thay đổi bất thường sẽ khiến lợn mắc bệnh

Bệnh tiêu chảy trên lợn con do E.coli có thể xảy ra ở bất kì độ tuổi theo mẹ nào nhưng thường có hai thời kì cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổ

- Triệu trứng:

+ Lợn con bú ít rồi bỏ ăn hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo

+ Tiêu chảy, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân

+ Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Màu phân lúc đầu trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, có mùi tanh, khắm đặc trưng

*Bệnh cầu trùng trên lợn

Bệnh cầu trùng trên lợn thường gây bệnh cho heo từ 7-21 ngày tuổi Trong giai đoạn đầu mới nhiễm bệnh, lợn con thường tiêu chảy phân màu trắng sữa, sau đó tùy thuộc vào mầm bệnh kế phát mà heo có các biểu hiện triệu chứng nặng nhẹ khác nhau như tiêu chảy phân màu vàng, xám, xanh lá cây hay thậm chí phân có lẫn cả máu

Ở giai đoạn sau, khi ruột bị tổn thương, mất khả năng tiêu hóa sữa nên ta cũng

có thể thấy heo con nôn ra sữa Lợn vừa nôn, vừa tiêu chảy dẫn đến mất nước trầm trọng, lông xù Tỷ lệ chết có thể lên đến 20% hoặc cao hơn nếu có các mầm bệnh kế phát nguy hiểm như E.coli, Clostridium hay Rotavirus…

+ Phòng bệnh

Trang 29

2.3 Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước

Ở Việt Nam, một số nhà khoa học đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13], bệnh viêm tử cung do vi khuẩn Streptococcus

và Colibacilus nhiễm qua cuống rốn của lợn con sang lợn mẹ do đẻ khó, sát nhau,

sảy thai hay qua dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây xát tạo các ổ viêm nhiễm trong tử cung, âm đạo

Theo Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng)

Theo Phạm Hữu Doanh và Lưu Kỷ (2003) [7], trước khi đẻ lau, xoa vú và tắm cho lợn nái Cho con đẻ đầu tiên bú ngay sau đẻ 1 giờ, mài răng nanh lợn con Chườm nước đá vào bầu vú để giảm sưng, giảm sốt Tiêm kháng sinh penicillin liều 1,5 - 2 triệu đơn vị với 10ml nước cất tiêm quanh vú Nếu nhiều vú bị viêm thì pha loãng liều thuốc trên với 20 ml nước cất, tiêm xung quanh các vú viêm Tiêm trong 3 ngày liên tục

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [9], bệnh viêm đường sinh dục ở lợn chiếm

tỷ lệ cao từ 30 - 50%, trong đó viêm cơ quan bên ngoài ít, chiếm tỷ lệ 20%, còn lại 80% là viêm tử cung Viêm tử cung là một quá bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sinh sản sau đẻ Quá trình viêm hủy các tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái

Trong quá trình mang thai lợn ăn nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị

2.3.2 Tổng quan nghiên cứu ở nước ngoài

Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học

kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã

Trang 30

đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao

Theo Bilkei (1994) [29], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc sinh do nhiễm

vi khuẩn E coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương khác Theo

Urban (1983) [33]; Bilkei (1994) [2], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh

thường có chứa các vi khuẩn E coli, Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy

nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng

tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh Do đó theo Gardner J.A.A và cs (1990) [30]; Smith và cs (1995) [31]; Taylor (1995) [32], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh Winson khi mổ khám những lợn vô sinh đã xác định được nguyên nhân do cơ quan sinh sản là 52,5%, lợn nái đẻ lứa đầu là 32,1%, lợn nái cơ bản có những biến đổi bệnh lý viêm vòi tử cung có mủ

Ở Pháp các tác giả Pierre brouillt và Bernarrd faroult (2003) [21] đã nghiên cứu và kết luận: Điều trị bệnh viêm vú trong thời kỳ cho sữa là một yếu tố cơ bản trong khống chế bệnh viêm vú Nó phải được tiến hành sớm và đạt kết quả, việc xác định nguyên nhân không chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng mà còn phải căn cứ vào các chỉ tiêu chăn nuôi và các kết quả phòng thí nghiệm Sự hiểu biết đầy đủ các phương pháp điều trị, nhất là về dược lực học và dược động học cho phác đồ điều trị tốt hơn

Các nghiên cứu của Trekaxova A.V và cs (1983) [29] về chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp dùng Novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 8 - 10cm Dung dịch novocain còn được

bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần

Trang 31

PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

3.1 Đối tượng

- Lợn nái sinh sản ( lợn nái ngoại gồm các giống Yorkshire, Landrace)

- Lợn con theo mẹ

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành

- Địa điểm: Trại lợn giống Tín Nghĩa là trại thuộc liên kết với công ty thuốc Agriviet ở xã Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội

- Thời gian tiến hành: Từ ngày 18/05/2019 đến ngày 18/11/2019

3.3 Nội dung thực hiện

- Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại lợn Tín Nghĩa

- Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng

- Thực hiện quy trình AN TOÀN SINH HỌC phòng dịch tả lợn Châu Phi

- Biện pháp phòng, trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ

- Quy trình thực hiện» an toàn sinh học» phòng dịch tả lợn Châu Phi

- Kết quả phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ

3.5.1.1.Đánh giá tình hình chăn nuôi tại trại

3.5.2 Phương pháp thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái và lợn con theo mẹ

Trang 32

Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho lợn nái và lợn con theo mẹ được tiến hành theo quy trình đang thực hiện tại trại

* Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái chửa

Mục tiêu nuôi dưỡng:

-Thai phát triển bình thường không sảy thai chết thai

- Lợn nái đủ dinh dưỡng và tiết sữa tốt và ít bị hao mòn trong thời kì nuôi con

- Lợn con sinh ra đồng đều và đạt khối lượng tiêu chuẩn sơ sinh của giống

( Nguồn: quản lý trại)

Bảng 3.1 Công việc hàng ngày chuồng lợn chửa

9h00-11h00

Vệ sinh khu phối

Ép lợn chậm giống, cai sữa

Điều trị lợn, Tắm lợn, vệ sinh (mùa hè)

Kĩ thuật

Công nhân

15h00-15h45 Thử lợn, ép lợn, báo tinh, chuyển lợn sang khu

phối

Kĩ thuật

15h45-17h00 Pha tinh, lấy tinh, phối lợn, ghi chép

Vệ sinh chuồng, dọn máng, kiểm tra chỉnh quạt

Kĩ thuật

17h00-18h00

Vệ sinh chuồng trại, sát trùng xunh quanh

Kiểm tra nhiệt độ chỉnh quạt, dàn mát Làm theo phân công của quản lý

công nhân

Trang 33

Bảng 3.2 Công việc hàng tuần ở chuồng lợn nái chửa Chủ Nhật Chuyển lợn nái chửa lên chuồng đẻ

Thứ 2, 3 Chuẩn bị ô lợn bầu để nhận heo nái cai sữa

Thứ 4 Điều chỉnh khẩu phần cám

Thứ 5 Tiêm phòng vacxin lợn nái bầu

Thứ 6 Nhận lợn nái cai sữa

Thứ 7 ATSH và 5S

Nguồn: Quản lý trại

*Quy trình chăm sóc lợn nái chửa chuồng nái chửa:

Quy trình chuồng nuôi:

+) Ngày 1: Đuổi lợn cai sữa từ chuồng nái đẻ về chuồng nái chửa

+) Ngày thứ 3: Ép lợn cai sữa mới đuổi về

+) Ngày thứ 4: Điều chỉnh thức ăn

+) Ngày thứ 5:Tiêm phòng Vắc xin cho lợn

+) Ngày thứ 7: Đuổi lợn lên chuồng đẻ sắp xếp lại lợn theo tuần

Chi tiết:

Ngày thứ 2: Đuổi lợn cai sữa từ chuồng đẻ về chuồng nái chửa:

- Căn cứ tỷ lệ phối theo tuần, biết được số lượng cần phối trong một tuần là bao nhiêu con (hiện tại trại là 17-18 con/tuần)

- Tỷ lệ phối để đạt theo yêu cầu căn cứ vào số lượng lợn cai sữa đuổi về và số lượng hậu bị, nái có vần đề chờ phối, heo lốc đến kỳ Như vậy có thể đảm bảo số lượng lợn cần phối

Ngày thứ 3 Vấn đề ép lợn, thử lợn

- Sau khi lợn cai sữa đuồi về chuồng nái chửa, ngày thứ nhất ko cho lợn ăn, Ngày thứ 2,3 bắt đầu ép lợn Mục đich: kích thích cho lợn lên giống nhanh Ngày thứ 3,4,5 kiêm tra lợn đã lên giống hay chưa (phê) => (Phối)

Chú ý: đối với heo từ ngày 4, 5 nếu phế ta phối như sau: Nếu sáng phê chiều phối, chiều phê thì sáng hôm sau phối Đối với lợn sau 5 ngày, phê lúc nào phối lúc đó

- Ngoài ra, đối với lợn nái có vấn đề chờ phối, hậu bị chờ phối cũng phải chú

ý tới kỳ lên giống của lợn

Trang 34

Ngày thứ 4 Điều chỉnh thức ăn: Chỉnh thức ăn căn cứ vào tuần phối của lợn nái + Từ phối giống đến 21 ngày

+ Từ 22 đến 84 ngày sau phối

+ Từ 85 đến 100 ngày sau phối

+ Từ 101 đến 103 ngày sau phối

+ Ngày 114 sau phối giống

Tuy nhiên căn cứ vào thể trạng lợn nái để cho ăn ở mức phù hợp (3- 3.5 kg/ngày)

+ Đối với lợn hậu bị Trung bình cho ăn 2 kg/ngày

+ Lợn đực: cho ăn thức ăn 3010, lượng ăn 3- 3.5 kg/ngày

- Mục đích: Cho ăn đúng tạo điều kiện để lợn có thể trạng tốt nhất khi phối, khi mang thai và khi đẻ

Ngày thứ 5: Tiêm vắc xin:

+ Đối Với lợn Hậu bị nhập về

Từ 0- 7 ngày tiêm vắc xin tai xanh (PRRS)

- Từ 7 – 14 ngày tiêm vắc xin khô thai (PAVO)

- Từ 14-21 ngày Tiêm vắc xin dịch tả (CSF)

- Từ 21-28 ngày Tiêm vắc xin giả dại (PR Vacp)

- Từ 20 – 35 ngày tiêm vắc xin LMLM

- Từ 35 – 42 ngày tiêm vắc xin tai xanh mũi 2 (PRRS)

- Từ 42 – 49 ngày tiêm vắc xin khô thai mũi 2 (PAVO)

+ Đối với lợn Nái:

- Tuần thứ 10 mang thai tiêm vacxin dịch tả

- Tuần thứ 12 mang thai tiêm vắc xin LMLM

+ Tổng đàn:

- Tháng 3, 7, 11 tiêm vắc xin tai xanh

- Tháng 4, 8, 12 Tiêm vắc xin giả dại

+ lợn Nọc:

- Tháng 2, 8 Tiêm xin dịch tả

- Tháng 3, 7, 11 tiêm vắc xin tai xanh

- Tháng 4, 8, 12 Tiêm vắc xin giả dại

+ 6 Tháng tiêm gẻ tổng đàn (sáu tháng tiêm nhắc lại) (Tháng 6 => Tháng 12)

* chú ý:

Trang 35

- Phòng ngừa dịch bệnh xảy ra

- Căn cứ vào các tiêu chí, căn cứ số lượng lợn đặt vắc xin và sắp xếp làm vắc xin hợp lý

Thứ 7 Đuồi lợn đến tuần đẻ lên chuồng đẻ, sắp xếp lại heo theo tuần

Căn cứ vào tuần phối ta biết được khi nào cần đuổi lợn nái lên chuồng đẻ (thời gian đuổi, số lượng) Từ đó ta có thể tính toán được để sắp xếp chuồng.( cai sữa chuồng đẻ, vệ sinh chuồng đẻ.)

Yêu cầu:

+ Trước khi chuyển lợn nái lên chuồng đẻ, chuồng đẻ đã được vệ sinh sạch sẽ, sát trùng

+ Nên chuyển lợn lên đẻ trước ngày đẻ từ 5-7 ngày (tốt nhất)

Bảng 3.3 Lượng thức ăn cho lợn nái ngoại giai đoạn chửa

(Đơn vị tính: kg thức ăn/ nái/ ngày)

Giai đoạn

Thể trạng lợn nái

Nái gầy Nái bình

Thường Nái béo

Từ phối giống đến 21 ngày 2,3-2,6 2-2,4 1,8-2,2

Từ 22 - 84 ngày sau phối giống 2,4-2,8 2-2,6 1,8-2,4

Từ 85 - 100 ngày sau phối giống 3-3,8 2,6-3 2,4-2,6

Từ 101 - 113 ngày sau phối giống 3-3,5 2,6-3 2,2-2,4

Nguồn: Quản lý trại

+ Số bữa cho ăn/ ngày: ngày cho ăn 3 bữa (sáng -trưa- chiều)

+ Vào mùa đông những ngày nhiệt độ dưới 15ºC, lợn nái cần cho ăn thêm 0,2

- 0,3 kg/con/ngày để bù phần năng lượng mất đi do chống rét

- Không cho lợn nái chửa ăn thức ăn ẩm mốc, khô dầu bông, lá đu đủ do dễ gây sảy thai

+ Trước khi đẻ 1 tuần cần giảm lượng thức ăn để phòng thức ăn chèn ép thai, bệnh sưng vú do căng sữa sau khi đẻ

Trang 36

- Chăm sóc lợn nái chửa: kỹ thuật chăm sóc, quản lý lợn nái có chửa nhằm phòng sảy thai, làm tốt công tác bảo vệ thai, làm cho thai sinh trưởng phát dục bình thường

+ Tắm chải: có tác dụng làm sạch da, thông lỗ chân lông để tăng cường trao đổi chất, gây cảm giác dễ chịu, lợn thoải mái giúp kích thích tính thèm ăn và phòng chống bệnh ký sinh trùng ngoài da Tắm chải cần tiến hành hàng ngày, đặc biết trong mùa hè, những ngày thời tiết nóng bức

+ Chuồng trại: phải đảm bảo vệ sinh thú y, khô ráo, thoáng mát về mùa hè, ấm

áp về mùa đông

- Những vấn đề cần lưu ý trong chăn nuôi nái chửa

+ không cho lợn nái ăn quá nhiều: sẽ dẫn đến lợn nái béo gây khó đẻ, có thể

đè chết con tiết sữa kém

+ không để lợn ăn quá ít sẽ dẫn đến dễ mắc bệnh,thiếu sữa nuôi con,lợn nái hao mòn nhiều trong giai đoạn nuôi và lâu động dục khi cai sữa

+ Đảm bảo đủ VTM và khoáng trong khẩu phần ăn: Thiếu chất khoáng,xương lợn con kém phát triển,lợn nái chửa có nguy cơ bại liệt hai chân sau

+ Một số loại thức ăn không nên dùng cho nái chửa: bỗng,bã rựu nếu cho lợn nái ăn nhiều dễ gây sảy thai.khô dầu bông có thể gây chết thai.Lá đu đủ vì làm giảm nhịp tim gây khả năng nuôi thai kém

* Quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đẻ

- Quy trình chăm sóc

Việc chăm sóc lợn mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất

và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ,

có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ

- Trật tự bố trí và mục đích:

+ Trật tự bố trí: Thông thường trước khi đẻ 7-10 ngày lợn được đưa lên chuồng

đẻ, ở chuồng đẻ cơ cơ bản bố chí như chuồng mang thai, cần lưu ý một số điều là:

Lợn đưa lên đẻ có cùng tuần phối

Ưu tiên con có ngày đẻ sớm nhất và sếp từ cuối chuồng đẻ lên

Trang 37

Nếu lợn có cùng ngày đẻ dự kiến ưu tiên con bụng to lên trước

+ Mục đích

Nhằm tránh lợn đẻ sớm 3-4 ngày

Dễ dành cho việc tăng giảm thức ăn cho lợn

Chuồng khô ráo tránh vi khuẩn xâm nhâp vào đầu vú và âm hộ lợn nái

Khi lợn đẻ can thiệp kịp thời Dễ dàng việc chăm sóc nuôi dưỡng, đồng thời

dễ dàng việc cai sữa

- Chuẩn bị chuồng đẻ: Phải chuẩn bị chuồng đẻ trước khi đưa lợn từ chuồng bầu lên 5-7 ngày Chuồng đẻ phải làm mới bằng các biện pháp sau:

+ Toàn bộ đan nhựa phải được đưa ra hố vôi ngâm trong từ ½- 1 ngày trước khi tiến hành rửa

+ Trong thời gian ngâm tấm đan tiến hành rửa bên trong trước, lấy xà phòng chà thật sạch khung chuồng và các ngóc ngách của chuồng Sau đó dùng máy áp xuất rửa sạch

+ Sau khi rửa xong để khô dáo và tiến hành phun sát trùng chuồng và đóng cửa chuồng để xông tối thiểu 1 đêm

- Kiểm tra nhiệt độ chuồng:

+ Đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp 26-28 độ C

+ Đối với lợn con nhiệt độ thích hợp 30 – 33 độ C

Như vậy, ta thấy sự chênh lệch nhiệt độ thích hợp rất lớn của lợn con và lợn

mẹ, do đó cần có những biện pháp giải quyết sau:

+ Đối với lợn mẹ: Kiểm tra thường xuyên hệ thống dàn mát, hệ thống quạt Căn cứ vào từng thời điểm để có biện pháp tăng hoặc giảm hệ thống quạt thích hợp

Chú ý:

+ Nếu mùa hè ta nên điều chỉnh bằng hệ thống dàn mát+ quạt

+ Nếu mùa đông nên điều chỉnh nhiệt độ bằng hệ thống quạt + bạt

+ Đối với lợn con: Phải có ổ úm riêng cho từng chuồng, ổ úm bao bọc kín, có lót nền, có bóng sưởi và lối ra vào lợn con

- Biết khi nào lợn sẽ đẻ: Dựa vào ghi chép ngày phối tính ngày đẻ dự kiến, và quan sát cẩn thận từng lợn mẹ hằng ngày vào cuối kì có chửa như vùng bụng to ra âm

hộ sưng và các núm vú căng là đặc điểm cơ bản thăm dò ngày đẻ Nếu thấy xuống sữa thường chứng tỏ lợn sắp đẻ trong vòng 24h Trong giai đoạn đầu tiêm sữa có màu

Ngày đăng: 29/03/2021, 09:20

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm