Vì vậy, cần có một quy định pháp luật về xuất hàng hóa Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước làm lá chắn để có căn cứ xử lý các doanh nghiệp gian lận cũng như bảo vệ cho các doa
Trang 1NGUYỄN MẠNH TRUNG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC – THỰC TRẠNG
VÀ KIẾN NGHỊ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
TP Hồ Chí Minh – Năm 2020
Trang 2NGUYỄN MẠNH TRUNG
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT
VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC – THỰC TRẠNG
Trang 3Tôi tên là Nguyễn Mạnh Trung – là học viên lớp Cao học Khóa 28 chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn thạc sĩ luật học với đề tài “Hoàn thiện quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước - Thực trạng và kiến nghị” (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”)
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung được trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn tận tình của người Thầy hướng dẫn khoa học là Tiến sĩ Trần Vân Long, cám ơn Thầy đã chỉ ra những hạn chế trong nghiên cứu của bản thân cũng như nội dung Luận văn
Trong Luận văn tôi có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và
có thể kiểm chứng Các số liệu, thông tin được sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực
Học viên thực hiện
NGUYỄN MẠNH TRUNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TÓM TẮT LUẬN VĂN
ABSTRACT
LỜI NÓI ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu 4
2.1 Giả thuyết nghiên cứu 4
2.2 Câu hỏi nghiên cứu 4
3 Tình hình nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 7
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết 7
5.1 Phương pháp nghiên cứu 7
5.2 Khung lý thuyết 7
6 Ý nghĩa khoa học, giá trị ứng dụng của đề tài 7
7 Kết cấu của đề tài 7
CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC 9
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA, SẢN XUẤT HÀNG HÓA, XUẤT XỨ HÀNG HÓA, LƯU THÔNG HÀNG HÓA, HÀNG GIẢ VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI 9
1.1.1 Khái quát về hàng hóa 9
1.1.2 Sản xuất hàng hóa 12
1.1.3 Xuất xứ hàng hóa 15
Trang 51.2 SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA CÓ
XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC 24
1.2.1 Các vụ việc gian lận về xuất xứ hàng hóa Việt Nam 24
1.2.1.1 Vụ việc của Công ty Cổ phần Tập đoàn Asanzo 24
1.2.1.2 Vụ việc khăn lụa của Khaisilk 28
1.2.1.3 Vụ việc lô hàng nguyên liệu nhôm trị giá 4.3 tỷ USD ở Bà Rịa - Vũng Tàu 29
1.2.2 Đánh giá các vụ việc gian lận xuất xứ hàng hóa 29
1.2.3 Sự cần thiết ban hành quy định xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước 31
Tiểu kết luận Chương 1 37
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 38
2.1 KHÁI QUÁT CÁC QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM38 2.1.1 Đối với hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu 38
2.1.1.1 Quy tắc xác định xuất xứ hàng hóa 39
2.1.2 Về ghi nhãn hàng hóa 42
2.1.3 Chỉ dẫn địa lý 43
2.1.4 Theo thương hiệu 44
2.2 THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM 45
2.2.1 Theo quy định hiện hành 45
2.2.1.1 Nhóm hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu 46
2.2.1.2 Nhóm hàng hóa lưu thông trong nước 51
2.2.2 Dự thảo Thông tư quy định về cách xác định sản phẩm, hàng hóa là sản phẩm, hàng hóa của Việt Nam hoặc sản xuất tại Việt Nam 58
Tiểu kết Chương 2 63
Trang 63.1 QUY ĐỊNH XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO LUẬT PHÁP CỦA CÁC NƯỚC64
3.1.1 “Made in USA” theo pháp luật Mỹ 64
3.1.1.1 Chế tài xử lý vi phạm xuất xứ hàng hóa theo pháp luật Mỹ 68
3.1.2 Một số nước trên Thế Giới 68
3.1.2.1 Chế tài xử lý vi phạm theo quy định của các nước trên Thế Giới 71
3.2 KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC 73
Tiểu kết Chương 3 80
KẾT LUẬN 81 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7ATIGA Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN
AFTA Khu vực mậu dịch tự do ASEAN hoặc thuế suất ưu đãi tối huệ
quốc C/O Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa
CPTPP Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
EVFTA Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FTA Hiệp định thương mại tự do
FTC Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ- Federal Trade
Commission GSP Chương trình Ưu đãi thuế quan phổ cập
MFN Thuế suất ưu đãi tối huệ quốc
VAC Hàm lượng giá trị gia tăng
Trang 8TÓM TẮT LUẬN VĂN
Việc mở cửa hội nhập kinh tế của nước ta đã thúc đẩy cho hàng hóa xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và các nước trên Thế Giới ngày càng gia tăng cũng như tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa trong nước được phát triển Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp đã lợi dụng chính sách mở cửa để nhập hàng hóa nước ngoài nhưng gắn nhãn mác sản xuất tại Việt Nam để trốn thuế cũng như hưởng chính sách ưu đãi
từ nhà nước Dẫn đến việc ngân sách nhà nước bị thất thoát, các doanh nghiệp làm
ăn chân chính không đủ sức cạnh tranh, người tiêu dùng bị thiệt hại, lừa dối Tuy nhiên, hiện nay mới chỉ có quy định về hàng hóa xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, chứ chưa có một quy định về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước Do đó, đã tạo ra một khoảng trống pháp luật để các doanh nghiệp lợi dụng để gian lận xuất xứ hàng hóa nhằm trục lợi Vì vậy, cần có một quy định pháp luật về xuất hàng hóa Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước làm lá chắn để có căn cứ xử lý các doanh nghiệp gian lận cũng như bảo
vệ cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính được cạnh tranh công bằng, bảo vệ ngân sách nhà nước không bị thất thoát và bảo vệ người tiêu dùng sử dụng hàng hóa
có nguồn gốc rõ ràng
Bài viết này hướng đến việc phân tích, bình luận quy định của pháp luật hiện hành về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam, cụ thể là Nghị định 31/2018/NĐ-CP ngày
08 tháng 3 năm 2018 về hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa
và Thông tư 05/2018/TT-BCT ngày 03 tháng 4 năm 2018 của Bộ Công Thương quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa để chỉ ra những bất cập, lỗ hổng khi chưa có quy định đối với việc xác định hàng hóa lưu thông trong nước do Việt Nam sản xuất hay của Việt Nam Đồng thời, bài viết đưa ra những kiến nghị, đề xuất cho pháp luật Việt Nam
Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: từ cơ sở lý luận và các vụ việc điển hình, phân tích và nêu ra thực trạng cũng như sự cần thiết ban hành quy định pháp
Trang 9luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước; Phương pháp phân tích, đối chiếu, đánh giá nhằm khái quát quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam để chỉ ra những hạn chế của quy định pháp luật; Phương pháp so sánh, đánh giá, phân tích: So sánh với quy định của các nước để đưa ra kiến nghị quy định pháp luật về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
Từ những phân tích trên, Luận văn muốn hướng đến hoàn thiện quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước trên cơ sở dự thảo Thông tư của Bộ Công Thương đưa ra để quy định pháp luật được áp dụng sẽ có hiệu quả cao Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ hệ thống lại các quy định hiện hành để có cái nhìn khái quát về tình hình ban hành các văn bản quy định pháp luật, đồng thời phân tích những bất cập của dự thảo quy định về xác định xuất xứ đối với hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước, phân tích quy định của nước ngoài về xác định xuất xứ hàng hóa để từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện quy định về xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước
Vì vậy, luận văn có giá trị ứng dụng trong việc xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước tại Việt Nam
Từ khóa: Hàng hóa, Xuất xứ hàng hóa, Sản xuất tại Việt Nam, Hàng hóa của Việt Nam, Lưu thông trong nước
Trang 10ABSTRACT
The opening of our country's economic has boosted the increase of imports and exports among Vietnam and other countries around the world as well as facilitating the development of domestic goods production In addition, a number of businesses have taken advantage of the open policy to import foreign goods but labeled their products “made in Vietnam” to evade taxes as well as enjoy preferential policies from the state As a result, the state budget is lost, genuine businesses are not competitive enough, consumers are damaged and deceived However, at present, there are only regulations on Vietnamese origin for exported goods, but not for Vietnamese goods circulating domestically Therefore, it created inadequacy in law that enterprises taking advantage of it to fraud for profit Therefore, there should be a legal regulation on the origin of Vietnamese goods circulating domestically as a shield to have a legal grounds for punishing fraudulent businesses as well as protecting legitimate businesses to compete fairly in the market, protecting the state budget from loss and ensuring consumers use goods of clear origin
This article aims to analyze and declaim on the provisions of the current law
on goods originating in Vietnam, specifically Decree 31/2018 / ND-CP dated March
8, 2018 on guiding the Law on Management Foreign trade policy on origin of goods and Circular 05/2018 / TT-BCT dated April 3, 2018 of the Ministry of Industry and Trade detailing the Law on Foreign Trade Management regarding origin of goods to point out inadequacies and losses when there is a gap in the absence of regulations for determining domestically circulated goods produced by Vietnam or made in Vietnam At the same time, the article gives recommendations and suggestions for the laws of Vietnam
To implement this topic, the author uses the following research methods: Methods of analysis, evaluation, synthesis: from theoretical basis and typical cases, analyzing and stating the current situation such as the need to promulgate legal
Trang 11provisions on Vietnamese origin for goods circulating domestically; Methods of analysis, comparison and assessment to generalize legal provisions on origin of goods and practical application in Vietnam to point out the limitations of legal provisions; Method of comparison, assessment, analysis: Compare with regulations
of other countries to propose legal provisions on Vietnamese origin for goods circulated domestically
From the above analysis, the purpose of the thesis is to complete the legal provisions on goods originating in Vietnam circulating in the country on the basis
of the draft Circular of the Ministry of Industry and Trade Accordingly, the application of legal regulations will be highly effective The thesis will systematize the current regulations to have an overview of the promulgation situation of legal documents, and analyze the shortcomings of the draft regulations on identification origin of goods circulating domestically, analyzing foreign regulations on the determination of origin of goods in order to propose solutions and recommendations
to improve regulations on determination of goods of Vietnamese origin Southern circulation in the country
Therefore, the thesis has application value in determining the origin of goods circulating domestically in Vietnam
Keywords: Goods, Origin of goods, Made in Vietnam, Goods of Vietnam, Domestic
circulation
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào khoảng thời gian tháng 6 năm 2019, một loạt các phòng sự điều tra về Tập đoàn Asanzo dù được chứng nhận là “Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn”, quảng bá sử dụng “đỉnh cao công nghệ Nhật Bản” nhưng sự thực lại không phải như vậy Các phóng sự điều tra cho thấy công ty Asanzo đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm "đánh lận con đen", nhập hàng nguyên chiếc từ Trung Quốc nhưng lại dán mác Việt Nam để qua mặt người tiêu dùng cùng các cơ quan chức năng Thậm chí còn phát hiện Asanzo lập nên các công ty "ma", không
có thật, để nhập hàng Asanzo từ Trung Quốc, sau đó bí mật đưa về các nhà máy của Asanzo tại Việt Nam Không chỉ vậy, Asanzo có hẳn một quy trình ráp màn hình ti
vi tại nhà máy Asanzo mà công nhân phải tuân theo việc bỏ tem "made in China" Gây hoang mang và bức xúc trong dư luận1
Đối với vụ việc Asanzo, không có căn cứ để xác định các sản phẩm do Công
ty Asanzo sản xuất ghi xuất xứ Việt Nam là hàng hóa giả mạo xuất xứ dù Công ty Asanzo nhập toàn bộ thành phẩm từ nước ngoài nhưng trước khi nhập về Việt Nam thì thành phẩm đã được rã ra thành từng linh kiện Đây chính là lỗ hổng pháp luật
mà qua vụ việc Asanzo thì các nhà làm luật mới phát hiện ra Việc chưa có quy định
về xác định xuất xứ hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, các doanh nghiệp sẽ mua thành phẩm từ nước ngoài, rã ra thành linh kiện rồi nhập về để hưởng ưu đãi về thuế, trốn thuế, sau đó về Việt Nam sẽ lắp rắp đơn giản để gắn nhãn xuất xứ Việt Nam cạnh tranh trực tiếp với các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa trong nước và người tiêu dùng sẽ bị lừa dối vì cứ nghĩ sản phẩm
do người Việt sản xuất, tin dùng và ủng hộ chứ không nghĩ sản phẩm này hoàn toàn của nước ngoài
1 Nhóm PV (24/10/2019), Asanzo trốn thuế như thế nào?, link truy cập:
https://tuoitre.vn/asanzo-tron-thue-nhu-the-nao-2019102407553654.htm , truy cập ngày 23/11/2019
Trang 13Theo Nghị định số 43 của Chính phủ về nhãn hàng hóa thì doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam hoặc nhập khẩu hàng hóa tiêu thụ tại thị trường Việt Nam phải thực hiện việc ghi nhãn hàng hóa trừ một số trường hợp khác không bắt buộc ghi nhãn, trong đó nhãn hàng hóa bắt buộc phải thể hiện một số nội dung như tên của hàng hóa là gì, tên và địa chỉ của doanh nghiệp chịu trách nhiệm đối với hàng hóa đó, xuất xứ của hàng hóa là từ đâu và các nội dung có liên quan khác tùy theo hàng hóa Đối với nội dung về xuất xứ của hàng hóa thì Nghị định số 43 chỉ đưa ra quy định đối với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu hàng hóa tự xác định xuất xứ và tự ghi xuất xứ trên nhãn hàng hóa với nguyên tắc phải bảo đảm tính chính xác, tính trung thực cũng như phải tuân thủ theo các quy định pháp luật hoặc hiệp định mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết Việc quy định về ghi xuất xứ hàng hóa trên nhãn hàng hóa của Nghị định số 43 vừa có mặt tích cực là tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu hàng hóa tự chịu trách nhiệm trong việc xác định xuất xứ hàng hóa nhưng cũng phát sinh một số điểm hạn chế
Cụ thể:
- Dù đã ban hành nhiều quy định về xuất xứ hàng hóa, trong đó có việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là có xuất xứ Việt Nam tại Nghị định 31/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2018 về hướng dẫn Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa và Thông tư 05/2018/TT-BCT ngày 03 tháng 4 năm
2018 của Bộ Công Thương quy định chi tiết Luật Quản lý ngoại thương về xuất xứ hàng hóa nhưng mới chỉ áp dụng cho hàng xuất khẩu và hàng nhập khẩu, giúp hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế nhập khẩu theo cam kết tại các hiệp định thương mại tự
do hoặc phục vụ các mục tiêu khác của quản lý ngoại thương Với hàng hóa sản xuất, bao gồm cả sản xuất từ đầu vào nhập khẩu, và sau đó lưu thông trong nước, hiện chưa có quy định như thế nào thì được gắn nhãn "sản phẩm của Việt Nam" hay
"sản xuất tại Việt Nam"
- Việc thiếu các quy định về việc như thế nào thì một sản phẩm được coi là
"sản phẩm của Việt Nam" hay "sản xuất tại Việt Nam" đối với hàng hóa lưu thông trong nước đã làm cho tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa lúng túng khi muốn ghi
Trang 14chính xác xuất xứ hàng hóa trên nhãn sản phẩm theo quy định của Nghị định 43 Ở chiều ngược lại, một số mặt hàng dù chỉ trải qua các công đoạn gia công, lắp ráp, chế biến đơn giản tại Việt Nam nhưng cũng gắn nhãn "sản xuất tại Việt Nam" khiến người tiêu dùng bức xúc nhưng các cơ quan chức năng lại không có căn cứ để xử lý
Đến nay ngày càng có nhiều phát hiện về tình trạng gian lận thương mại thông qua giả mạo xuất xứ Việt Nam2 Xuất phát từ vị thế địa chính trị, cuộc chiến thương mại của các nước lớn đang diễn ra, dẫn đến có hiện tượng gian lận xuất xứ ở nhiều nước để trốn tránh trừng phạt, đồng thời hưởng ưu đãi thuế từ các Hiệp định Thương mại tự do (FTA)
Bên cạnh đó, thương hiệu hàng hóa của Việt Nam ngày càng có chất lượng, được sự tin dùng của nước ngoài Do đó, nhiều đối tượng lợi dụng việc này để bán hàng hóa kém chất lượng Tình trạng hàng hóa gian lận xuất xứ Việt Nam để xuất khẩu đi nước ngoài hưởng ưu đãi thuế quan hoặc lẩn tránh các biện pháp trừng phạt, lẩn tránh thuế cao đang diễn ra phức tạp và ngày càng tinh vi Đây là lý do để lấy xuất xứ “Made in Vietnam” nhằm xuất khẩu hàng hóa đi các quốc gia khác Ngoài
ra, nắm bắt tâm lý người Việt ngày càng ưa chuộng hàng Việt Nam nên nhiều doanh nghiệp đã mượn cách này để lẩn tránh và trốn thuế, xâm hại trực tiếp tới quyền lợi người tiêu dùng, đi ngược lại cuộc vận động “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Từ những lý do trên, có thể thấy gian lận xuất xứ không chỉ dừng lại ở việc mượn xuất xứ để xuất khẩu, nhập khẩu mà còn gian lận để tiêu thụ trên thị trường
nội địa Do đó, tôi xây dựng đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước - Thực trạng và kiến nghị” để đóng góp hoàn thiện chính sách phù hợp với thực tiễn và mang tính
nghiêm minh của pháp luật để chặn đứng việc gian lận ngày càng gia tăng
2 Nguyễn Quỳnh/VOV.VN (15/11/2019), Nguy cơ hàng hóa Việt Nam bị giả mạo
xuất xứ ngày càng lớn, link truy cập: gia-mao-xuat-xu-ngay-cang-lon-978598.vov, ngày truy cập: 28/8/2020
Trang 15https://vov.vn/kinh-te/nguy-co-hang-hoa-viet-nam-bi-2 Giả thuyết, câu hỏi nghiên cứu
2.1 Giả thuyết nghiên cứu
- Quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước hiện nay vẫn chưa được quy định, do đó cần phải bổ sung và hoàn thiện
- Tình trạng lợi dụng kẽ hở pháp luật để hợp thức hóa hàng hóa do nước ngoài sản xuất được gắn nhãn sản xuất tại Việt Nam lưu thông trong nước dẫn đến việc các doanh nghiệp làm ăn chân chính không thể hoạt động và phát triển, sản xuất kinh doanh hàng hóa bị đình trệ, công ăn việc làm của người lao động bị ảnh hưởng Đây là một trong những tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế, đến các doanh nghiệp đang hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng
2.2 Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu :
Câu 1: Tại sao cần có các quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước?
Câu 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước?
Câu 3: Quy định các nước trên Thế Giới về xuất xứ hàng hóa đưa đến bài học kinh nghiệm gì cho pháp luật Việt Nam?
3 Tình hình nghiên cứu
Qua nghiên cứu một số luận văn của các tác giả gồm:
1 Nguyễn Hoàng Tuân (2017), Quy tắc xuất xứ hàng hóa với việc áp dụng thuế quan ưu đãi của Việt Nam trong cộng đồng kinh tế ASEAN, luận án tiến sĩ
Kinh tế, Hà Nội
Luận án đã khái quát được quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam vào cộng đồng kinh tế Asean vào năm 2015, thông qua việc cắt giảm, loại bỏ thuế quan mạnh mẽ từ sau 2015 nên việc áp dụng quy tắc xuất xứ hàng hóa càng đóng vai trò quan trọng trong hội nhập của Việt Nam vào cộng đồng kinh tế Asean Luận
án đã hệ thống hóa về mặt lý luận và thực tiễn các quy định có liên quan đến quy tắc xuất xứ hàng hóa và thuế quan ưu đãi áp dụng trên thế giới cũng như trong cộng
Trang 16đồng kinh tế Asean, hạn chế trong việc áp dụng quy tắc xuất xứ hàng hóa với việc
áp dụng thuế quan ưu đãi và các giải pháp có liên quan để thực hiện tốt các quy định xuất xứ hàng hóa nhằm gia tăng hoạt động xuất khẩu và hạn chế nhập siêu
Tuy nhiên, luận án chỉ tập trung nghiên cứu quy tắc xuất xứ hàng hóa đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu, chưa đi sâu vào việc áp dụng quy tắc xuất xứ hàng hóa đối với hàng nhập khẩu để sản xuất hàng hóa lưu thông trong nước
2 Trần Viết Long (2019), Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay, luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội;
Luận án đã đánh giá kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo pháp luật hải quan là hoạt động quan trọng, có tính liên tục và cấp thiết, nhất là xu thế hội nhập thương mại quốc tế xuyên quốc gia hiện nay Quá trình đánh giá các quy định pháp luật và thực tiễn làm cơ sở để nâng cao kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới sẽ giúp đồng bộ với các quy định của pháp luật thương mại, thuế, đầu tư, quản lý ngoại thương và các hệ thống pháp luật khác Từ đó tạo hành lang pháp lý hữu hiệu đối với hoạt động nhập khẩu hàng hóa qua biên giới Kiểm soát hàng hóa nhập khẩu là công cụ hữu hiệu trong quản lý nhà nước khi thực thi chính sách pháp luật thương mại quốc tế Luận án đã đề xuất xác lập hệ thống pháp lý và cơ chế kiểm soát hàng hóa nhập khẩu qua biên giới theo tinh thần tinh giản thủ tục, hướng đến áp dụng tích hợp kiểm soát hệ thống điện tử thông minh, tăng cường hậu kiểm thay vì tiền kiểm để hàng hóa nhập khẩu được lưu thông nhanh, tạo đà mua bán hàng hóa qua biên giới được thúc đẩy
Mặc dù, luận án đưa ra việc kiểm soát hàng hóa nhập khẩu theo pháp luật hải quan bằng hệ thống điện tử thông minh để hàng hóa nhập khẩu được lưu thông nhanh, tạo đà mua bán hàng hóa qua biên giới được thúc đẩy chứ chưa chỉ ra việc hạn chế cũng như lợi dụng để gian lận thương mại, chưa đưa được kiến nghị kiểm soát hàng hóa nhập khẩu theo pháp luật hải quan sẽ là cánh cửa bảo vệ, đi đầu trong công tác ngăn chặn hàng hóa giả mạo xuất xứ, hàng hóa gian lận vào thị trường
Trang 173 Trần Văn Bình (2006), Đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ của Hải Quan, Luận văn thạc sĩ, Thành phố Hồ Chí
Minh
Luận văn đã chỉ ra được hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ của Hải Quan, các đối tượng buôn lậu thay đổi phương thức thế nào, tinh vi ra sao Năng lực đấu tranh và trình độ nghiệp vụ của lực lượng Hải Quan ngày càng được nâng cao Việc đấu tranh vẫn còn nhiều hạn chế do lực lượng mỏng, công tác phối hợp với các lực lượng khác vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ
Dù luận văn đã đưa ra được hiệu quả trong đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ của Hải Quan nhưng vẫn chưa xây dựng được công tác chống buôn lậu trong việc chống gian lận thương mại xuất xứ hàng hóa, lợi dụng việc buôn lậu để nhập khẩu hàng hóa giả mạo xuất xứ làm ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp, quyền lợi của người tiêu dùng
4 Nguyễn Đăng Phú (2004), Đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu tại thành phố Hồ Chí Minh trong tình hình hiện nay, luận văn thạc sĩ luật học, TP Hồ
Chí Minh
Luận văn đã chỉ ra những điểm mạnh trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm buôn lậu tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, công tác phối hợp giữa các lực lượng chức năng trong việc đấu tranh chống buôn lậu, thủ đoạn của các đối tượng buôn lậu ngày càng tinh vi thế nào Tuy nhiên, luận văn vẫn chưa chỉ ra được việc đấu tranh đối với các đối tượng buôn lậu đưa hàng hóa gian lận xuất xứ tiêu thụ tại thành phố Hồ Chí Minh thế nào
Qua đó, các nghiên cứu trên vẫn chưa chỉ rõ được vấn đề còn tồn tại của hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước, cũng như hạn chế của các quy định pháp luật chưa quy định đầy đủ và cụ thể, tạo kẽ hở cho một số doanh nghiệp lợi dụng lợi thế của xuất xứ hàng hóa Việt Nam để trục lợi, trốn thuế cũng như tác động đến người tiêu dùng và các doanh nghiệp làm ăn chân chính
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 184.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian : Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu tại Việt Nam, ngoài ra
có so sánh với một số quy định pháp luật các nước trên Thế Giới
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu theo mốc thời gian từ năm 2015 đến năm
2020
5 Phương pháp nghiên cứu, khung lý thuyết
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Chương 1: Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp: từ cơ sở lý luận và các
vụ việc điển hình, phân tích và nêu ra thực trạng cũng như sự cần thiết ban hành quy định pháp luật về hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước;
Chương 2: Phương pháp phân tích, đối chiếu, đánh giá nhằm khái quát quy định pháp luật về xuất xứ hàng hóa và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam để chỉ ra những hạn chế của quy định pháp luật;
Chương 3: Phương pháp so sánh, đánh giá, phân tích: So sánh với quy định của các nước để đưa ra kiến nghị quy định pháp luật về xuất xứ Việt Nam đối với hàng hóa lưu thông trong nước
6 Ý nghĩa khoa học, giá trị ứng dụng của đề tài
Trang 19Việc chưa có quy định về xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam lưu thông trong nước sẽ làm ảnh hưởng đến nền sản xuất trong nước, của những doanh nghiệp chân chính, cũng như thất thoát từ ngân sách nhà nước Do đó, cần ban hành quy định pháp luật về xác định hàng hóa có xuất xứ Việt Nam Tuy nhiên, để quy định pháp luật đạt được hiệu quả cần đánh giá những ưu điểm, hạn chế của quy định hiện hành, nghiên cứu các quy định nước ngoài về xác định xuất xứ hàng hóa
7 Kết cấu của đề tài
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
Chương 3: QUY ĐỊNH VỀ XUẤT XỨ HÀNG HÓA THEO LUẬT PHÁP CỦA CÁC NƯỚC VÀ CÁC KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Trang 20CHƯƠNG 1: SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU
THÔNG TRONG NƯỚC
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNG HÓA, SẢN XUẤT HÀNG HÓA, XUẤT XỨ HÀNG HÓA, LƯU THÔNG HÀNG HÓA, HÀNG GIẢ VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái quát về hàng hóa
Cùng với quá trình phát triển của xã hội, nhu cầu trao đổi, mua bán sản phẩm nhằm phục vụ nhu cầu bản thân của mỗi người ngày càng cao Mỗi người trong xã hội đều có một số nhu cần căn bản là ăn uống, mặc, ở,… nhưng họ không thể tự sản xuất ra mọi thứ có thể đáp ứng tất cả nhu cầu của mình mà phải thông qua trao đổi, mua bán với người khác và hàng hóa ra đời từ đó Do đó, hàng hóa đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội và tồn tại trong hình thái xã hội nào cũng có mối quan hệ đến hàng hóa
Trước đây, trong kinh tế chính trị Mác – Lênin đã đưa ra khái niệm về hàng
hóa “là sản phẩm lao động có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán” 3 Từ quan điểm Mác – Lênin thì hàng hóa được tạo ra từ
sức lao động của con người và thành quả từ sức lao động đó có thể được trao đổi, mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
Đến nay, thuật ngữ “hàng hóa” đã được đưa vào trong các văn bản Luật do Quốc Hội ban hành Cụ thể, Luật Thương mại năm 1997 đã liệt kê hàng hóa gồm
“máy móc, thiết bị, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác được lưu thông trên thị trường, nhà ở dùng để kinh doanh dưới hình thức cho thuê, mua, bán” Đến Luật Thương mại năm 2005 đã bao hàm và đầy đủ hơn về
3 Nguyễn Quang Hạnh và Nguyễn Văn Lịch biên soạn, Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, Học viện Bưu chính viễn thông-Hà Nội, 2006, tr30
Trang 21hàng hóa: “Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; Những vật gắn liền với đất đai” Tuy nhiên, theo Luật Giá năm 2012 thì hàng hóa lại bao hàm cả động sản và bất động sản: “hàng hóa là tài sản có thể trao đổi, mua, bán trên thị trường, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con người, bao gồm các loại động sản và bất động sản” 4 Tuy có sự khác nhau về từ ngữ giữa các văn bản
nhưng chung quy lại thì hàng hóa đều có mục đích cuối cùng là dùng để trao đổi, mua bán nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người trong xã hội
Trong hàng hóa luôn tồn tại hai thuộc tính căn bản gồm giá trị sử dụng và giá trị, nếu không có hai thuộc tính này thì hàng hóa sẽ không được dùng để trao đổi, mua bán và cũng không được xem là hàng hóa
Trước hết, chúng ta sẽ tìm hiểu về giá trị sử dụng của hàng hóa Giá trị sử dụng của hàng hoá là công dụng của hàng hóa nhằm để thỏa mãn nhu cầu của xã hội, con người Hàng hóa nào cũng có một hay nhiều công dụng nhất định Chính từ công dụng của hàng hóa (tính lợi ích) mà làm cho hàng hóa có giá trị sử dụng Lấy
ví dụ, công dụng của bánh mì là để ăn, vậy giá trị sử dụng của bánh mì là để ăn… Giá trị sử dụng của hàng hoá còn là những thuộc tính lý, hóa (thuộc tính tự nhiên)
từ hàng hóa quyết định Do đó, theo kinh tế chính trị thì giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn Ví dụ: thuộc tính tự nhiên của nước là chất lỏng không màu, không mùi, không vị, vì vậy nước được sử dụng trong sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp Giá trị sử dụng của hàng hoá được hình thành trong quá trình phát triển của khoa học – kỹ thuật và từ lực lượng sản xuất Do đó, xã hội càng phát triển, tiến bộ thì kéo theo sự phát triển của lực lượng sản xuất và từ đó giá trị sử dụng sẽ tăng lên, chủng loại giá trị sử dụng ngày càng đa dạng, phong phú và chất
lượng giá trị sử dụng ngày càng cao Giá trị sử dụng của hàng hoá là giá trị sử dụng
thỏa mãn cho nhu cầu của xã hội, của người tiêu dùng chứ không phải để thỏa mãn cho người sản xuất trực tiếp ra hàng hóa đó Giá trị sử dụng thông qua trao đổi, mua bán để đến với người tiêu dùng hàng hóa Qua đó có thể thấy người sản xuất hàng hóa luôn phải quan tâm đến nhu cầu của xã hội, của người tiêu dùng để sản phẩm
4 Khoản 1 Điều 4 Luật Giá năm 2012
Trang 22được tạo ra thỏa mãn nhu cầu đó thì hàng hóa mới có thể trao đổi, mua bán được Trong nền sản xuất hàng hóa, thì giá trị sử dụng được xem là vật mang giá trị trao đổi và dĩ nhiên người ta sẽ không trao đổi những vật phẩm không có giá trị sử dụng
Thuộc tính thứ hai của hàng hóa chính là giá trị của hàng hoá nhưng để hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi, giá trị trao đổi là quan hệ về số lượng trao đổi theo một tỷ lệ giá trị sử dụng này được trao đổi với giá trị sử dụng khác Ví dụ: 1 mét vải bằng 5 kg lúa (hay nói cách khác là 1 mét vải có giá trị trao đổi bằng 5 kg lúa), ở đây tỷ lệ trao đổi của vải và lúa là 1/5 Tại sao lúa và vải có thể trao đổi cho nhau dù chúng khác nhau về bản chất và giá trị sử dụng, cụ thể lúa
có giá trị sử dụng là để ăn và vải có giá trị sử dụng là để mặc Tuy nhiên giữa lúa và vải có một điểm chung, đó là vải và lúa đều từ sản phẩm lao động của con người tạo
ra Từ cái chung đó mà lúa và vải có thể trao đổi được cho nhau Việc trao đổi lúa
và vải thật chất là việc trao đổi hao phí lao động từ hàng hóa tạo ra Do đó hao phí lao động để tạo ra hàng hóa là cơ sở chung cho việc trao đổi hàng hóa và tạo ra giá trị của hàng hóa
Từ khái niệm giá trị trao đổi có thể đưa ra khái niệm giá trị của hàng hoá chính là lao động của người sản xuất đã bỏ ra để tạo ra hàng hóa và kết tinh vào hàng hóa Giá trị trao đổi chỉ là phần biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, còn giá trị là nội dung, cơ sở của giá trị trao đổi Giá trị là biểu hiễn của mối quan hệ trao đổi hàng hóa giữa những người sản xuất, khi nào còn sản xuất và trao đổi hàng hóa thì khi đó người sản xuất vẫn còn quan tâm đến giá trị Vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử
Hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sử dụng và giá trị có quan hệ chặt chẽ với nhau, vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Mặt thống nhất của hai thuộc tính hàng hóa biểu hiện ở chỗ là hai thuộc tính này cùng tồn tại đồng thời trong một hàng hóa Ví dụ, không khí tự nhiên có giá trị sử dụng (thỏa mãn nhu cầu của xã hội, con người) nhưng không có giá trị (không do lao động tạo ra, không có kết tinh lao động) nên không được xem là hàng hóa Ngược lại, một vật có giá trị nhưng không có giá trị sử dụng cũng không trở thành hàng hóa vì người sản xuất sẽ không
Trang 23được lợi gì và cũng không thể mua bán hay trao đổi được Mâu thuẫn giữa hai thuộc
tính của hàng hoá thể hiện ở chỗ: thứ nhất, giá trị sử dụng của hàng hóa khác nhau thì khác nhau về chất (vải, lúa…) Tuy nhiên, giá trị của hàng hóa khác nhau lại đồng nhất về chất (đều kết tinh từ lao động); thứ hai, giá trị và giá trị sử dụng có sự tách rời nhau về không gian và thời gian Giá trị được thực hiện trong lĩnh vực lưu thông và thực hiện trước Giá trị sử dụng được thực hiện sau, trong lĩnh vực tiêu dùng Người sản xuất chủ yếu quan tâm tới giá trị nhưng để đạt được giá trị thì người sản xuất phải tập trung đến giá trị sử dụng, ngược lại thì người tiêu dùng lại chủ yếu quan tâm đến giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng nhưng để có giá trị sử dụng thì họ phải trao đổi giá trị với người sản xuất ra hàng hóa có giá trị
sử dụng đó Vì vậy, trước khi muốn có giá trị sử dụng hàng hóa phải có giá trị của hàng hóa vì nếu không có giá trị sẽ không có giá trị sử dụng Mâu thuẫn giữa giá trị
và giá trị sử dụng của hàng hóa là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng khoảng sản xuất thừa 5
để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức nền kinh tế xã hội trong đó phổ biến và chủ yếu là sản xuất hàng hoá Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng hoá” 6 Theo Mác – Lênin thì sản xuất hàng hóa không nhằm mục đích thỏa mãn
nhu cầu của người sản xuất mà để đáp ứng nhu cầu của người khác, do đó có thể
5 Nguyễn Quang Hạnh và Nguyễn Văn Lịch biên soạn, Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, Học viện Bưu chính viễn thông-Hà Nội, 2006, tr30
6 Nguyễn Quang Hạnh và Nguyễn Văn Lịch biên soạn, Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, Học viện Bưu chính viễn thông-Hà Nội, 2006, tr28
Trang 24hiểu rằng sản xuất hàng hóa chính là tạo ra được giá trị sử dụng cho hàng hóa và người sản xuất sẽ thu về giá trị của hàng hóa đó
Hiện nay, trong các văn bản quy định pháp luật đã đưa ra các khái niệm về
sản xuất một cách đầy đủ như tại Nghị định 31 thì “Sản xuất là các phương thức để tạo ra hàng hóa bao gồm trồng trọt, khai thác, thu hoạch, chăn nuôi, gây giống, chiết xuất, thu lượm, thu nhặt, săn bắt, đánh bắt, đánh bẫy, săn bắn, chế tạo, chế biến, gia công hay lắp ráp.”7 Đến năm 2020 thì Nghị định 98 lại có một khái niệm
khác về sản xuất, cụ thể là “Sản xuất là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động chế tạo, chế bản, in, gia công, đặt hàng, sơ chế, chế biến, chiết xuất, tái chế, lắp ráp, pha trộn, san chia, sang chiết, nạp, đóng gói và hoạt động khác làm ra hàng hóa.”8
Từ các khái niệm trong các văn bản quy định pháp luật hiện hành thì sản xuất hàng hóa chính là các hoạt động tạo ra hàng hóa gồm một hay nhiều công đoạn khác nhau Tuy nhiên để có thể hiểu rõ hơn về sản xuất hàng hóa, chúng ta hãy cùng phân tích điều kiện ra đời cũng như sự tồn tại của sản xuất hàng hóa
Trước tiên, để có sản xuất hàng hóa thì cần có sự phân công lao động xã hội, phân công lao động xã hội chính là sự chuyên môn hóa quá trình sản xuất và phân chia lao động của xã hội vào từng ngành, từng lĩnh vực khác nhau Nhờ có phân công lao động xã hội mà mỗi người, nhóm lao động chỉ tập trung sản xuất ra một hoặc một số sản phẩm khác nhau Từ đó, năng suất lao động sẽ ngày một tăng do cải tiến máy móc, phương tiện sản xuất, tay nghề người lao động ngày càng nâng cao dẫn đến sản phẩm thặng dư tạo ra ngày càng nhiều và thúc đẩy sự trao đổi hàng hóa Ngoài ra, sản phẩm do mỗi người tạo ra sẽ có giới hạn và không đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của bản thân mỗi người, do đó xuất hiện sự trao đổi sản phẩm với nhau cũng chính là nguyên nhân có phân công lao động xã hội
Trang 25Tóm lại, phân công lao động chính là tiền đề của sản xuất hàng hóa và thúc đẩy nhu cầu mua bán trao đổi hàng hóa trong xã hội nhưng phân công lao động chưa đủ để sản xuất hàng hóa ra đời và tồn tại mà còn cần một điều kiện nữa, điều kiện đó chính là phải có sự tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất, điều này có nghĩa người sản xuất sẽ là những chủ thể độc lập, từ đó sản phẩm do họ làm
ra sẽ do họ sở hữu và chi phối Điều kiện này sẽ quyết định bản chất của sự trao đổi chính là trao đổi mua bán hàng hóa Sự tách biệt này chủ yếu xuất phát từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất quy định Bên cạnh đó, sự tách biệt này còn xuất phát từ các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất cùng với sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng đối với tư liệu sản xuất quyết định
Vì vậy, phân công lao động xã hội và tách biệt về mặt kinh tế giữa những người sản xuất sẽ là điều kiện cần và đủ để hình thành nên sản xuất hàng hóa, thiếu một trong hai sẽ không có sản xuất hàng hóa
Từ hai điều kiện dẫn đến sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa có thể thấy từ phân công lao động xã hội thì hàng hóa do người sản xuất hàng hóa tạo ra là sản phẩm mang tính lao động xã hội vì sản phẩm đó nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu của xã hội Tuy nhiên, sự tách biệt về mặt kinh tế thì lao động của người sản xuất lại mang tính lao động tư nhân vì nó mang tính độc lập của cá nhân và lao động tư nhân có thể sẽ phù hợp hoặc không phù hợp với lao động xã hội Dẫn đến mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội cũng chính là mâu thuẫn cơ
bản của sản xuất hàng hóa và là nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng sản xuất thừa.
Trong sản xuất hàng hóa luôn có hai đặc trưng cơ bản Đặc trưng thứ nhất thì sản xuất hàng hóa là tạo ra sản phẩm nhằm mục đích để mua bán, trao đổi chứ không phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của người sản xuất ra hàng hóa đó, khác với việc sản xuất tự cung tự cấp là tạo ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ của nội bộ gia đình hay đơn vị sản xuất Và đặc trưng thứ hai của sản xuất hàng hóa
là cạnh tranh gay gắt trong trao đổi, mua bán hàng hóa
Ngoài hai đặc trưng cơ bản nêu trên thì sản xuất hàng hóa còn có ba ưu thế
để thúc đẩy sự phát triển hàng hóa, nâng cao đời sống xã hội và thỏa mãn nhu cầu
Trang 26của con người Đầu tiên, sản xuất hàng hóa nhằm mục đích thúc đẩy sản xuất phát triển vì đặc trưng của sản xuất hàng hóa không nhằm thỏa mãn nhu cầu của cá nhân người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường
Vì vậy, nhu cầu của thị trường càng lớn càng tạo động lực để sản xuất ngày càng phát triển Thứ hai, sản xuất hàng hóa sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển vì đặc trựng của sản xuất hàng hóa là sự cạnh tranh gay gắt trong trao đổi, mua bán hàng hóa Muốn giành thắng lợi trong cuộc cạnh tranh này thì người sản xuất phải tăng năng suất lao động, năng lực sản xuất kinh doanh, cải tiến kỹ thuật và chất lượng sản phẩm để hàng hóa sản xuất ra được tiêu thụ nhiều hơn và lợi nhuận thu
về ngày càng nhiều Từ đó sẽ thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Cuối cùng, sản xuất hàng hóa giúp thỏa mãn và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân Việc mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm và trao đổi mua bán nguyên vật liệu cho sản xuất sẽ thúc đẩy việc sản xuất hàng hóa, tạo điều kiện cho việc giao lưu văn hóa, kinh tế giữa các địa phương trong nước và các nước trên Thế Giới ngày càng phát triển, tạo điều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân
Tuy có những ưu thế nổi bật thúc đẩy việc lưu thông hàng hóa, phát triển xã hội, nâng cao đời sống của còn người thì sản xuất hàng hóa vẫn tồn tại nhiều mặt hạn chế, cụ thể: mục đích của sản xuất hàng hóa là để bán thu lại lợi nhuận, do đó người sản xuất chỉ quan tâm đến giá trị hàng hóa là chính chứ không tập trung vào giá trị sử dụng của hàng hóa Dẫn đến, việc sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, phân hóa giàu-nghèo và cạnh tranh không lành mạnh, không công bằng giữa người sản xuất hàng hóa, tiềm ẩn gây thiệt hại kinh tế, phá hoại môi trường sinh thái, xã hội,…9
1.1.3 Xuất xứ hàng hóa
Xuất xứ hàng hóa là cơ sở để xác định nguồn gốc, nơi sản xuất ra hàng hóa
đó Theo Công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung thì xuất xứ hàng hoá “là nước tại đó
9 Nguyễn Quang Hạnh và Nguyễn Văn Lịch biên soạn, Kinh tế chính trị Mác –
Lênin, Học viện Bưu chính viễn thông-Hà Nội, 2006, tr28
Trang 27hàng hoá được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”10
Còn theo Luật Thương mại năm 2005 thì xuất xứ hàng hoá được định nghĩa
như sau: “Là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp
có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó”11 Định nghĩa xuất xứ hàng hóa này cũng được Nghị định 31 nhắc lại và có bổ sung một số từ ngữ nhưng không đáng kể và không làm thay đổi bản chất của xuất
xứ hàng hóa là “nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó”.12
Từ quy định của công ước quốc tế và quy định của Việt Nam có thể thấy, tuy
có sự không đồng nhất về từ ngữ nhưng định nghĩa về xuất xứ hàng hóa là tương tự nhau, đều xem xuất xứ hàng hóa là quốc tịch của hàng hóa Với việc quốc tế hóa việc sản xuất ra hàng hóa thì một hàng hóa có thể được sản xuất từ nhiều quốc gia
và mỗi quốc gia sẽ tham gia vào một hay nhiều giai đoạn để tạo ra hàng hóa nhưng quốc tịch của hàng hóa được xác định dựa vào quốc gia sản xuất hoặc thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đáp ứng được tiêu chuẩn mà các quốc gia đã
có thỏa thuận thương mại
Xuất xứ hàng hóa cũng là cơ sở để nhà nước áp và tính thuế xuất khẩu, nhập khẩu cũng như thực hiện các công việc kiểm tra, giám sát việc lưu thông hàng hóa trên thị trường Các nước phát triển trên Thế Giới xem xuất xứ hàng hóa như một công cụ để bảo vệ hạn ngạch nhập khẩu, chống bán phá giá để kiểm soát hàng hóa
10 Theo Phụ lục chuyên đề K của Công ước quốc tế về hài hoà và đơn giản hoá thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung 1999)
11 Khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005
12 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 31/2018/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2018 của Chính Phủ
Trang 28nhập khẩu từ nước ngoài Việc ký kết các Hiệp định thương mại song phương và đa phương sẽ thúc đẩy việc trao đổi, mua bán hàng hóa giữa các nước, do đó xác định chính xác xuất xứ hàng hóa sẽ là căn cứ để hàng hóa được hưởng thuế suất ưu đãi hay không cũng như ngăn ngừa việc gian lận xuất xứ để hưởng ưu đãi
Hiện nay, Việt Nam đang ký kết thỏa thuận FTA cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) hoặc thuế suất ưu đãi tối huệ quốc (MFN) hoặc ưu đãi đặc biệt khác để áp dụng thuế suất ưu đãi đặc biệt đối với hàng hóa có xuất xứ từ các nước
và vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký thỏa thuận, đối với hàng hóa từ các nước chưa
ký thỏa thuận về đối xử tối huệ quốc và ưu đãi đặc biệt với Việt Nam thì được áp dụng biểu thuế suất thông thường Chính vì vậy, xuất xứ hàng hóa là căn cứ để áp dụng chính sách thuế của các quốc gia trong hoạt động thương mại
Đối với một số mặt hàng, ngành hàng đã có thương hiệu, được công nhận trên trường quốc tế thì không chỉ thương hiệu của hàng hóa khẳng định chất lượng sản phẩm mà còn thể hiện uy tín của xuất xứ hàng hóa (nước sản xuất ra hàng hóa) trên thị trường quốc tế (cụ thể là thương hiệu Sony, Honda của Nhật Bản)
Tại các thời điểm bùng phát dịch bệnh thì xuất xứ hàng hóa là cơ sở để ngăn chặn từ ban đầu việc nhập khẩu hàng hóa có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng và môi trường Chính phủ các nước sẽ căn cứ vào tình hình dịch bệnh để đưa ra các biện pháp ngăn chặn hàng hóa có xuất xứ từ các nước
có dịch Ví dụ như cấm nhập khẩu thịt bò Anh khi có dịch bò điên tại Anh, đóng biên giới để ngăn chặn việc nhập hàng hóa từ Trung Quốc khi bùng phát dịch Covid tại Trung Quốc
Xuất xứ hàng hóa còn đóng vai trò giúp cho việc thu thập dữ liệu hàng hóa nhập khẩu để từ đó Chính phủ các nước sẽ có các chính sách cân bằng cán cân thương mại một cách kịp thời và chính xác
1.1.4 Lưu thông hàng hóa
Lưu thông hàng hóa chính là việc đưa hàng hóa ra trao đổi, mua bán trên thị trường, còn hàng hóa lưu thông là hàng hóa đã được mang ra trưng bày, khuyến mại, bảo quản, vận chuyển và lưu trữ trong quá trình mua bán Hai khái niệm này
Trang 29đã được quy định tại các văn bản của Chính phủ, cụ thể tại Nghị định 43 của Chính
phủ đã đưa ra khái niệm về lưu thông hàng hóa chính là “hoạt động trưng bày, khuyến mại, vận chuyển và lưu giữ hàng hóa trong quá trình mua bán hàng hóa, trừ trường hợp vận chuyển hàng hóa của tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa từ cửa khẩu về kho lưu giữ”13 Còn hàng hóa lưu thông được định nghĩa tại Nghị định 98
của Chính phủ như sau “hàng hóa lưu thông trên thị trường gồm hàng hóa được trưng bày, khuyến mại, bảo quản, vận chuyển và lưu giữ trong quá trình mua bán hàng hóa”.14
Việc điều tiết quá trình lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào quy luật cung cầu Khi thị trường có cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ giảm và ngược lại khi thị trường có cung nhỏ hơn cầu thì giá cả hàng hóa sẽ tăng Việc tăng lên hay giảm đi của giá cả hàng hóa sẽ ảnh hưởng đến kinh tế thị trường, người kinh doanh sẽ có xu hướng vận chuyển hàng hóa từ nơi có giá thấp đến nơi
có giá cao, từ nơi thừa hàng hóa đến nơi khan hiếm hàng hóa và từ đó sẽ tác động đến các nhà sản xuất hàng hóa sẽ thu hẹp quy mô sản xuất đối với các mặt hàng đang dư thừa hay mở rộng sản xuất đối với các mặt hàng khan hiếm Quá trình này
là sự điều tiết một cách tự động của cơ chế thị trường và cũng là mặt tích cực của quy luật cung cầu
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường tự do cạnh tranh thì người sản xuất thường chạy theo lợi nhuận là chính nên không xác định được tổng cầu của thị trường dẫn đến sản xuất dư thừa, hàng hóa được đưa ra lưu thông quá nhiều dẫn đến khủng hoảng chu kỳ của thị trường, đây cũng chính là mặt trái của quy luật cung cầu Nhưng nếu nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước lại khác, Nhà nước sẽ đứng giám sát, điều tiết cung cầu của thị trường, khắc phục được việc sản xuất dư thừa, cũng như không đưa hàng hóa ra lưu thông quá nhiều khi có sự mất
Trang 30cân đối lớn về nhu cầu của thị trường, hạn chế được việc khủng hoảng chu kỳ do điều tiết tự phát của cơ chế thị trường
Theo Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 thì cá nhân, tổ chức sản xuất, nhập khẩu hàng hóa trước khi đưa ra lưu thông trên thị trường phải đảm bảo
về chất lượng và thực hiện việc ghi nhãn hàng hóa15, nghiêm cấm việc thông tin, quảng cáo sai sự thật hoặc có hành vi gian dối về chất lượng sản phẩm, hàng hóa, về nguồn gốc và xuất xứ hàng hóa16 Một trong những nội dung bắt buộc của nhãn hàng hóa là xuất xứ hàng hóa Có thể thấy hàng hóa muốn đưa ra lưu thông ngoài việc phải đảm bảo chất lượng thì việc thể hiện thông tin về xuất xứ hàng hóa trên nhãn hàng hóa là bắt buộc và việc gian lận về xuất xứ hàng hóa là hành vi bị nghiêm cấm Có thể thấy Nhà nước đã đưa ra các quy định rất rõ ràng và chặt chẽ
để đảm bảo cho hàng hóa lưu thông và lưu thông hàng hóa phải đúng theo quy định pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cũng như ngăn chặn việc gian lận xuất xứ hàng hóa để trục lợi
1.1.5 Hàng giả
Hiện nay trong lý thuyết và ngoài thực tiễn vẫn luôn tồn tại nhiều khái niệm
về hàng giả Đầu tiên, theo tác giả cần phải tìm hiểu khái niệm về thế nào là giả:
“Giả có nghĩa không phải là thật mà được làm với bề ngoài giống như cái thật để người khác tưởng là thật” 17
Theo từ điển Bách khoa toàn thư thì “Hàng giả là hàng làm bắt chước theo mẫu mã của loại hàng thật nào đó đang được lưu hành, nhưng không bảo đảm đủ tiêu chuẩn về phẩm chất hoặc không có giá trị sử dụng, hoặc không có giá trị sử dụng đầy đủ, nhất là đối với mặt hàng thông dụng và có nhu cầu lớn Về hình thức, các loại hàng giả rất giống hàng thật, vì kĩ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi Người làm hàng giả cũng có khi sử dụng một phần nguyên liệu, các loại bao bì, tem
15 Điều 10, Điều 12 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007
16 Khoản 9 Điều 8 Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007
17 Từ điển Tiếng việt, Nhà xuất bản văn hoá (1998), trang 405
Trang 31nhãn của hàng thật để lừa gạt người mua” 18 Khái niệm này về cơ bản chỉ đưa ra lý
thuyết về hàng giả chứ chưa phải là một quy định pháp lý để thể hiện bản chất của hàng giả
Dưới góc độ pháp lý thì thuật ngữ “hàng giả” lần đầu tiên được đưa vào trong văn bản quy phạm pháp luật kể từ khi đất nước được thống nhất, cụ thể là trong Pháp lệnh Trừng trị tội đầu lậu cơ, buôn, làm hàng giả, kinh doanh trái phép năm 198219 Điều 5 của Pháp lệnh quy định về Tội làm hàng giả hoặc buôn bán
hàng giả với hình phạt có thể lên đến tù chung thân Tuy nhiên, khái niệm hàng giả vẫn chưa được làm rõ trong Pháp lệnh
Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước ta khi thống nhất đất nước được ban hành vào năm 1985 đã đưa ra quy định Tội làm hàng giả, Tội buôn bán hàng giả tại Điều
176 thuộc nhóm Tội kinh tế Dù đã đưa ra quy định chi tiết và có chế tài xử phạt nghiêm minh hơn so với Điều 5 của Pháp lệnh năm 1982 nhưng Bộ luật hình sự năm 1985 vẫn không đưa ra được định nghĩa về hàng giả
Văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đưa ra được định nghĩa về hàng giả là Nghị định 140/HĐBT ngày 25/4/1991 của Hội đồng Bộ trưởng quy định về việc kiểm tra, xử lý hoạt động sản xuất buôn bán hàng giả Điều 3 của Nghị định này
quy định: “Hàng giả theo Nghị định này, là những sản phẩm, hàng hoá được sản xuất ra trái pháp luật có hình dáng giống như những sản phẩm, hàng hoá được Nhà nước cho phép sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ trên thị trường; hoặc những sản phẩm, hàng hoá không có giá trị sử dụng đúng với nguồn gốc, bản chất tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”
Điều 4 của Nghị định 140/HĐBT nêu cụ thể 6 trường hợp được coi là hàng
giả, bao gồm: “1) Sản phẩm có nhãn giả mạo; 2) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn hiệu hàng hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hóa đã được đăng ký, bảo hộ; 3) Sản phẩm, hàng hóa mang nhãn không đúng với nhãn sản phẩm đã đăng ký với cơ
Trang 32quan tiêu chuẩn đo lường chất lượng; 4) Sản phẩm hàng hóa ghi dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam khi chưa được cấp giấy chứng nhận và dấu phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam; 5) Sản phẩm, hàng hóa đã đăng ký hoặc chưa đăng ký chất lượng với
cơ quan Tiêu chuẩn đo lượng chất lượng mà có mức chất lượng thấp hơn mức tối thiểu cho phép; 6) Sản phẩm, hàng hóa có giá trị sử dụng không đúng với nguồn gốc, bản chất, tự nhiên, tên gọi và công dụng của nó”
Sau Nghị định 140/HĐBT năm 1991 thì khái niệm hàng giả tiếp tục được thể hiện vào trong nhiều văn bản pháp luật, từ các văn bản pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, hình sự đến các văn bản pháp luật về kinh doanh thương mại, bảo hộ sở hữu trí tuệ, hải quan, bao gồm cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ Có thể thấy trong từng hoàn cảnh, bối cảnh lịch sử và nhu cầu đầu tranh chống hàng giả trong từng lĩnh vực mà khái niệm hàng giả có thể được hiểu theo nghĩa khác nhau Trải qua qua các giai đoạn, khái niệm hàng giả trong pháp luật Việt Nam ngày càng
có sự phát triển, hoàn thiện hơn20
Năm 2013, Chính phủ đã ban hành Nghị định 08 về quy định xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả Tại Điều 4 của Nghị định này đả nêu ra 4 trường hợp được coi là hàng giả, gồm: Hàng hóa giả về nội dung; Hàng hóa giả về hình thức; Hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; Trường hợp các sản phẩm tem, nhãn, bao bì giả Tuy nhiên, Nghị định này sau đó đã được thay thế nhanh chóng bởi Nghị định 185/2013/NĐ-CP và đến thời điểm hiện tại là Nghị định số 98/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ người tiêu dùng8 Nghị định này thay thế một loạt các văn bản mới ban hành trước đó về xử phạt hành chính, trong
đó bao gồm cả Nghị định 08 về xử phạt hành chính đối với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả Khái niệm hàng giả được quy định tại khoản 7 và khoản 8 Điều 3 Nghị định 98, theo hình thức liệt kê, từ điểm a đến điểm e Mặc dù có mức độ chi tiết cao hơn các văn bản trước đây về khái niệm hàng giả, về cơ bản, quy định của
20 Trần Ngọc Việt, Hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về hàng giả và về
đấu tranh phòng, chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Tạp chí NN&PL số 8/2001
Trang 33Nghị định 98 mới đây không có sự khác biệt so với quy định tại Nghị định 08 Theo
cả hai văn bản này, khái niệm hàng giả bao gồm bốn trường hợp:
Thứ nhất, trường hợp giả về nội dung: “Hàng hóa có giá trị sử dụng, công dụng không đúng với nguồn gốc bản chất tự nhiên, tên gọi của hàng hóa; hàng hóa không có giá trị sử dụng, công dụng hoặc có giá trị sử dụng, công dụng không đúng
so với giá trị sử dụng, công dụng đã công bố hoặc đăng ký; Hàng hóa có ít nhất một trong các chỉ tiêu chất lượng hoặc đặc tính kỹ thuật cơ bản hoặc định lượng chất chính tạo nên giá trị sử dụng, công dụng của hàng hóa chỉ đạt mức từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng hoặc ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; Thuốc giả theo quy định tại khoản 33 Điều 2 của Luật Dược năm 2016 và dược liệu giả theo quy định tại khoản 34 Điều 2 của Luật Dược năm 2016; Thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật không có hoạt chất; không có đủ loại hoạt chất đã đăng ký; có hoạt chất khác với hoạt chất ghi trên nhãn, bao bì hàng hóa; có ít nhất một trong các hàm lượng hoạt chất chỉ đạt từ 70% trở xuống so với mức tối thiểu quy định tại quy chuẩn kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng đã đăng ký, công bố áp dụng”;
Thứ hai, trường hợp giả về hình thức (giả mạo nhãn hàng hóa, bao bì hàng
hóa), bao gồm: “Hàng hóa có nhãn hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa ghi chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ tổ chức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu, phân phối hàng hóa; giả mạo mã số đăng ký lưu hành, mã số công bố, mã số mã vạch của hàng hóa hoặc giả mạo bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo về nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa hoặc nơi sản xuất, đóng gói, lắp ráp hàng hóa”;
Thứ ba, trường hợp các sản phẩm là tem, nhãn, bao bì giả cũng được coi là
hàng giả: “Tem, nhãn, bao bì hàng hóa giả gồm đề can, nhãn hàng hóa, bao bì hàng hóa, các loại tem chất lượng, dấu chất lượng, tem truy xuất nguồn gốc, phiếu bảo hành, niêm màng co hàng hóa hoặc vật phẩm khác của tổ chức, cá nhân kinh doanh có chỉ dẫn giả mạo tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân khác; giả mạo tên
Trang 34thương mại, tên thương phẩm, mã số mã vạch, mã số đăng ký lưu hành, mã số công
bố của hàng hóa hoặc bao bì hàng hóa của tổ chức, cá nhân khác” 21
1.1.6 Gian lận thương mại
Để có thể hiểu được khái niệm gian lận thương mại, chúng ta cần nghiên cứu
về hành vi gian lận trong lĩnh vực thương mại Hành vi gian lận thương mại là hành
vi sử dụng thủ đoạn gian dối, mánh khóe và lừa lọc nhằm mục đích thu được khoản lợi bất chính trong hoạt động thương mại mà lẽ ra những khoản lợi này họ không được hưởng Chủ thể của hành vi gian lận thương mại gồm người mua, người bán hoặc cả người mua và người bán thông qua việc trao đổi, mua bán hàng hóa
Gian lận thương mại là hành vi đã có từ lâu trong lịch sử, từ khi có sản xuất hàng hóa và hàng hóa được mang ra trao đổi mua bán trên thị trường, có người mua, người bán nhằm thu được giá trị của hàng hóa thì lúc đó cũng có thể sẽ xuất hiện gian lận thương mại Việc sản xuất hàng hóa phát triển, thị trường trao đổi mua bán hàng hóa càng được mở rộng, các sản phẩm đưa ra trao đổi mua bán trên thị trường ngày càng nhiều, tiêu chuẩn và chủng loại hàng hóa càng đa dạng, phong phú, đa công dụng thì gian lận thương mại cũng phức tạp và tinh vi hơn
Ngày nay việc tiến hành xã hội hóa toàn cầu là điều khó thực hiện nhưng việc toàn cầu hóa kinh tế lại là một tất yếu khách quan mà điều này sẽ dẫn đến gian lận thương mại mang tính toàn cầu phụ thuộc vào sự khác biệt của mỗi quốc gia Gian lận thương mại ở Việt Nam không phải mới phát sinh mà từ thời xa xưa đã có gian lận thương mại được đúc kết lại thành câu “Buôn gian, bán lận” nhằm cảnh báo cho mọi người thủ đoạn kinh doanh gian dối, lừa lọc khách hàng, đó cũng là một mặt trái của việc kinh doanh Hiện nay, đất nước chúng ta đang phát triển theo định hướng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường
có sự điều tiết của nhà nước Cơ chế thị trường tất yếu phải có sự cạnh tranh giữa các cá nhân, tổ chức kinh doanh mà cạnh tranh chính là việc đấu tranh giữa các mặt đối lập nhằm giải quyết mâu thuẫn để tạo ra sự phát triển với các điều kiện có lợi
21 Khoản 7 và khoản 8 Điều 1 Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26 tháng 8 năm
2020 của Chính Phủ
Trang 35nhất Tuy nhiên cốt yếu cuối cùng của việc cạnh tranh cũng sẽ là lợi nhuận Trong cạnh tranh sẽ làm xuất hiện các hình thức và thủ đoạn gian lận thương mại ngày càng tinh vi và phức tạp hơn như trốn thuế, hưởng ưu đãi thuế quan, lừa dối người tiêu dùng,…Tóm lại, có thể nhận định gian lận thương mại chính là sự biểu hiện ra bên ngoài của hành vi gian lận được thực hiện trong lĩnh vực thương mại nhằm thu được lợi nhuận bất hợp pháp.22
Hiện nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật quy định hoặc đề cập đầy đủ khái niệm về gian lận thương mại Tuy nhiên, thuật ngữ gian lận thương mại
đã được các cơ quan nhà nước và các tổ chức sử dụng rộng rãi dựa trên những cảm tính chủ quan
1.2 SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ HÀNG HÓA
CÓ XUẤT XỨ VIỆT NAM LƯU THÔNG TRONG NƯỚC
1.2.1 Các vụ việc gian lận về xuất xứ hàng hóa Việt Nam
1.2.1.1 Vụ việc của Công ty Cổ phần Tập đoàn Asanzo
Ngày 21/6/2019, báo Tuổi Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh lần lượt đăng tải các
bài viết Điều tra: Asanzo - hàng Trung Quốc “đội lốt” hàng Việt và Công ty “ma” nhập hàng Trung Quốc cho thương hiệu Việt “chất lượng cao”.23 Trong đó, nội dung các bài viết chỉ ra rằng Tập đoàn Asanzo dù được chứng nhận là “Hàng Việt Nam chất lượng cao do người tiêu dùng bình chọn”, quảng bá sử dụng 'đỉnh cao công nghệ Nhật Bản' nhưng sự thực lại không phải như vậy
Phóng sự điều tra của Tuổi Trẻ cho thấy công ty Asanzo đã sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi nhằm "đánh lận con đen", nhập hàng nguyên chiếc từ Trung Quốc nhưng lại dán mác Việt Nam để qua mặt người tiêu dùng cùng các cơ quan chức năng Thậm chí còn phát hiện Asanzo lập nên các công ty "ma", không có thật, để nhập hàng Asanzo từ Trung Quốc, sau đó bí mật đưa về các nhà máy của Asanzo tại
22 Đề tài khoa học cấp Bộ-Trường Đại học Thương mại, Gian lận trong hoạt động thương mại quốc tế-Một số giải pháp phòng, chống trong thời gian tới, Hà Nội, 2002
23 Nhật Quang (21/6/2019), Các nhà bán lẻ điện máy chờ thông tin chính thức về vụ
Asanzo hàng Trung Quốc đội lốt hàng Việt Nam, link truy cập dien-may-cho-thong-tin-chinh-thuc-ve-vu-asanzo-hang-trung-quoc-doi-lot-viet-nam-
http://cafef.vn/cac-nha-ban-le-20190621233717171.chn, truy cập ngày 17/10/2019
Trang 36Việt Nam Không chỉ vậy, Asanzo cho công nhân gỡ tem "made in China" trên sản phẩm rồi dán đè tem "xuất xứ Việt Nam" trước khi tung ra thị trường Có hẳn một quy trình ráp màn hình ti vi tại nhà máy Asanzo mà công nhân phải tuân theo việc
bỏ tem "made in China"
Ngay sau khi phát hiện vụ việc, Hội doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao đã quyết định tước danh hiệu và tước quyền sử dụng nhãn hiệu chứng nhận hàng Việt Nam chất lượng cao đối với Asanzo Theo bà Vũ Kim Hạnh - Chủ tịch Hội doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao thì hành vi nhập hàng Trung Quốc ghi xuất xứ Việt Nam của Asanzo đã gây tổn thương nghiêm trọng đến niềm tin của người tiêu dùng vào hàng Việt Đồng thời, bà Hạnh cũng xin lỗi người tiêu dùng và các doanh nghiệp làm ăn chân chính về sai sót của Hội khi chứng nhận Asanzo là hàng Việt Nam chất lượng cao
Về cáo buộc "Nhập khẩu nguyên chiếc và lắp ráp đơn giản tại xưởng":
Thông tin toàn bộ linh kiện của tivi đều được nhập khẩu, Asanzo thực tế chỉ lắp ráp với các bước rất đơn giản, ông Phạm Văn Tam – Chủ tịch Công ty Cổ phần Tập đoàn Asanzo – diễn giải 3 phần quan trọng nhất là bo mạch, panel lưng và màn hình kính Trong đó, tất cả bo mạch và panel lưng phải nhập từ Trung Quốc do Việt Nam chưa sản xuất được Đồng thời, Trung Quốc cũng là quốc gia có thế mạnh về linh kiện này và nhiều nước khác cũng nhập tương tự Asanzo Riêng màn hình kính,
Asanzo nhập bởi Samsung qua công ty con tại Đài Loan, Trung Quốc
Tính chung, ba bộ phận trên (bo mạch, panel, màn hình) chiếm 70% cấu thành sản phẩm; 30% còn lại là những chi tiết phụ trợ sản xuất trong nước, bao gồm đâu đó 30 chi tiết sản phẩm
Tựu trung, với những luận điểm trên, ông Tam cho rằng việc dán nhãn mác
"Made in Vietnam" tại vị trí cuối tivi khi hoàn thiện trên dây chuyền tại nhà máy Asanzo là không vi phạm Tham chiếu theo Nghị định 31/2018/NĐ-CP có quy định chung về xuất xứ, ghi nhận xuất xứ Việt Nam chỉ được ghi để cấp Giấy chứng nhận
Trang 37xuất xứ hàng hóa (C/O) xuất khẩu và hoàn thuế24 Tuy nhiên, Phạm vi điều chỉnh trong Nghị định chỉ quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu25 mà không có bất cứ quy định nào liên quan đến việc nếu sản phẩm lưu hành trong nội địa thì có được ghi xuất xứ Việt Nam hay không
Do đó, Asanzo theo ông Tam không vi phạm pháp luật, vì không có quy định cụ thể với hàng lưu hành nội địa Khi được hỏi có một phép so sánh với
những đơn vị khác rằng tỷ lệ nội địa bao nhiêu là được dán mác "Made in Vietnam" trên sản phẩm, ông Tam cho rằng có và Công ty ghi là phù hợp26
Sau khi xảy ra vụ việc trên thì Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo Bộ Tài chính – Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo 389 quốc gia chủ trì, chủ động phối hợp với các Bộ Công an và Bộ Công Thương cũng như các cơ quan liên quan khẩn trương thẩm tra, xác minh vụ việc Asanzo nhập khẩu sản phẩm, linh kiện sản xuất tại nước khác, sau đó lắp ráp đơn giản và gắn nhãn xuất xứ Việt Nam để bán ra thị trường Việt Nam, xác định các vi phạm để tiến hành xử lý nghiêm theo đúng quy định của pháp luật Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Tài chính và Bộ Công Thương chỉ đạo các cơ quan chức năng như Hải quan, Quản lý thị trường… tiến hành rà soát lại việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước cũng như chức trách nhiệm vụ được giao đối với vụ việc này để kiểm điểm và làm rõ vai trò trách nhiệm theo đúng quy định của pháp luật
Kết quả thanh tra của Tổng cục Hải quan trong vụ Asanzo cho thấy “có 58 công ty có hoạt động mua bán linh kiện, hàng hoá với Asanzo, trong đó có 14 công
ty bỏ trốn, 4 công ty không tồn tại địa chỉ theo đăng ký kinh doanh, 7 công ty ngừng hoạt động; 1 công ty không hoạt động tại địa chỉ đăng ký kinh doanh và có 32 công
ty đang hoạt động Đáng chú ý, từ 20/10/2016 đến 30/6/2019, Công ty Asanzo làm
24 Điều 5 Nghị định 31/2018/NĐ-CP
25 Điều 1 Nghị định 31/2018/NĐ-CP
26 Lệ Chi (29/10/2019), Chủ tịch Asanzo: “Bốn dấu hiệu vi phạm không đủ căn cứ
buộc tội”, link truy cập: khong-du-can-cu-buoc-toi-4003956.html, ngày truy cập: 10/8/2020
Trang 38https://vnexpress.net/chu-tich-asanzo-bon-dau-hieu-vi-pham-thủ tục hải quan nhập khẩu 26 tờ khai hải quan, tổng kim ngạch nhập khẩu là 171,6 triệu đồng”27 Mặt hàng nhập khẩu được khai với mục đích sử dụng để làm hàng mẫu (không thanh toán) gồm bảng mạch điện tử lắp ráp ti vi, lo go bằng kim loại, cáp tín hiệu, tấm LCD mẫu, bo mạch điện tử xử lý tín hiệu ti vi;…
Đặc biệt, thể hiện tại tờ khai hải quan thì hàng hóa có xuất xứ Trung Quốc Bên cạnh đó, qua công tác điều tra và thẩm tra xác minh thì Tổng cục Hải quan đã
có văn bản chuyển hồ sơ sang cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khởi tố vụ án
"buôn lậu" đối với Công ty TNHH sản xuất thương mại Sa Huỳnh về việc nhập khẩu hàng hóa là linh kiện dùng để lắp ráp lò nướng thủy tinh nhưng thực tế khi kiểm tra thì phát hiện hàng hóa chứa bên trong container là 1.300 bộ lò nướng thủy tinh có gắn nhãn hiệu Asanzo và phiếu bảo hành có in dòng chữ: “Asanzo - Đỉnh cao công nghệ Nhật Bản” Toàn bộ hàng hóa trong container không có tem nhãn thể hiện xuất xứ hàng hóa Do đó, cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành quyết định khởi tố vụ án đối với Công ty về hành vi buôn lậu
Đối với vi phạm về thuế của Asanzo, Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận dựa vào sổ sách kế toán cũng như hóa đơn chứng từ do Công ty Cổ phần Tập đoàn Asanzo cung cấp thì năm 2019 Công ty có mua điều hòa nhiệt độ từ Công ty TNHH Đầu tư Xuất Nhập Khẩu Trần Thoàn, Công ty TNHH Đầu tư sản xuất An Thiên, Công ty TNHH đầu tư Thương mại Việt Tài; có hợp đồng gia công đối với Công ty Công ty Cổ phần công nghệ thông tin VTB để tiến hành gia công, lắp ráp một phần và trực tiếp gia công, lắp ráp thành phẩm là điều hòa nhiệt độ Thành phẩm sau đó được Tập đoàn Asanzo xuất bán cho Công ty TNHH điện lạnh Asanzo; ngoài ra Công ty Trần Thoàn cũng xuất bán trực tiếp mặt hàng điều hòa nhiệt độ cho Công ty TNHH điện lạnh Asanzo Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh xác định Tập đoàn Asanzo đã không xuất hóa đơn đúng quy định và để ngoài sổ
27 Duyên Duyên (05/9/2019), Kết quả thanh tra của Tổng Cục Hải Quan vụ Asanzo: 14 công ty bỏ
trốn, 04 công ty không tồn tại, link truy cập: vu-asanzo-14-cong-ty-bo-tron-4-cong-ty-khong-ton-tai-
http://vneconomy.vn/ket-qua-thanh-tra-cua-tong-cuc-hai-quan-
20190905105054634.htm?fbclid=IwAR0ZNEjTLZwEFg9j2y2UKeYHt1_RHWl18Wy-K1sCF8wFhHuC2h-FNCv3TZU , truy cập ngày 23/10/2019
Trang 39sách kế toán một khoản thu đối với việc bán hàng cho Công ty TNHH điện lạnh Asanzo Tập đoàn này cũng không thực hiện việc khai thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng Cũng theo Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh thì hành vi Tập đoàn Asanzo sử dụng bất hợp pháp hóa đơn (mặt hàng trên hóa đơn là điều hòa nhiệt độ nhưng thực tế lại là linh kiện điều hòa nhiệt độ) để hạch toán đầu vào của hàng hóa thành phẩm và dùng để khai thuế chính là hoạt động thương mại với mục đích là trốn thuế tiêu thụ đặc biệt Tập đoàn Asanzo còn có hành vi vi phạm là sử dụng hóa đơn đầu vào ghi cao hơn giá trị giao dịch cũng nhằm mục đích trốn thuế Cơ quan Thuế xác định sau khi Tập đoàn Asanzo và các công ty trực thuộc chuyển tiền cho các doanh nghiệp “ma” do Tập đoàn Asanzo lập ra thì tiền được chuyển về lại cho Tập đoàn Asanzo cũng như các công ty trực thuộc28
1.2.1.2 Vụ việc khăn lụa của Khaisilk
Cuối năm 2017, một khách hàng đặt mua sản phẩm khăn lụa Khaisilk tại cửa hàng số 113 đường Hàng Gai, quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội để làm quà tặng cho Công ty đã phát hiện việc cắt nhãn “Made in China” và gắn nhãn “Made in Vietnam” lên sản phẩm nên đã đăng lên mạng xã hội và phản ánh tới báo chí, Bộ Công thương đã chỉ đạo lực lượng Quản lý thị trường vào cuộc kiểm tra đồng loạt các cửa hàng của Khaisilk trên toàn quốc và phát hiện nhiều sai phạm
Báo cáo kiểm tra từ Bộ Công Thương cho biết thì khăn lụa của Khaisilk không có thành phần silk như Công ty đã công bố Còn theo thống kê của cơ quan Hải quan thì trong vòng 3 năm 2006 đến 2009 thì Công ty - đơn vị quản lý thương hiệu Khaisilk có nhập khẩu các sản phẩm thời trang từ Thái Lan và Trung Quốc Trước áp lực dư luận và phản ánh của báo chí, ông Hoàng Khải chủ tịch tập đoàn Khaisilk đã phải thừa nhận với truyền thông việc bán lụa có xuất xứ “made in China” trong hệ thống cửa hàng của mình Khải Đức (chiếm hơn 50% sản phẩm lụa trong toàn hệ thống) và gửi lời xin lỗi đến người tiêu dùng sản phẩm lụa Khaisilk
28 Nhóm PV (24/10/2019), Asanzo trốn thuế như thế nào?, link truy cập:
https://tuoitre.vn/asanzo-tron-thue-nhu-the-nao-2019102407553654.htm, truy cập ngày 23/11/2019
Trang 40Từ năm 2009 đến ngày 15/10/2017 thì công ty không còn thực hiện hoạt động nhập khẩu các mặt hàng thời trang và từ năm 2012 cho đến nay, Công ty cũng không thực hiện việc sản xuất, gia công cũng như đặt gia công các sản phẩm thời trang từ các công ty, cơ sở trong nước Thay vào đó, Công ty mua lại thành phẩm từ các
doanh nghiệp, cửa hàng trên thị trường về gắn mác Khaisilk. 29
Căn cứ vào các vi phạm và trị giá tang vật, cũng như sự phức tạp vụ việc của Công ty TNHH Khải Đức, cơ quan quản lý thị trường Bộ Công Thương đã chuyển
hồ sơ sang cơ quan cảnh sát điều tra để mở rộng điều tra vụ việc
1.2.1.3 Vụ việc lô hàng nguyên liệu nhôm trị giá 4.3 tỷ USD ở Bà Rịa - Vũng Tàu
Năm 2019, Tổng cục Hải quan đã phát hiện và ngăn chặn việc một doanh nghiệp tại Bà Rịa – Vũng Tàu là Công ty TNHH Nhôm Toàn Cầu nhập khẩu nguyên liệu nhôm trị giá 4,3 tỷ USD để gia công đơn giản lấy xuất xứ Việt Nam nhằm xuất khẩu để hưởng được ưa đãi thuế quan từ Mỹ đối với mặt hàng nhôm có xuất xứ Việt Nam30 Do chênh lệch thuế nhập khẩu của Mỹ đánh vào mặt hàng nhôm Trung Quốc lên đến 374%, còn đối Việt Nam là 15% nên các doanh nghiệp Trung Quốc tìm cách xuất khẩu nhôm sang các nước thứ ba để lẩn tránh thuế nhập khẩu từ Mỹ áp lên
Ngoài việc phối hợp với Bộ Công An, Bộ Công Thương và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tổng Cục Hải quan còn phối hợp với cơ quan Hải quan Mỹ để xác minh vụ việc có dấu hiệu gian lận xuất xứ Việt Nam để hưởng lợi
về thuế suất hay không và Chính phủ Mỹ đã cử đặc vụ từ Bộ An ninh nội địa Mỹ tới Việt Nam để cùng phối hợp điều tra vụ việc Do đó, theo thông tin từ Tổng cục Hải quan thì toàn bộ lô hàng nhôm nguyên liệu nêu trên chưa thể xuất khẩu
1.2.2 Đánh giá các vụ việc gian lận xuất xứ hàng hóa
29 Nguyễn Hoài (31/5/2019), Khởi tố vụ Khaisilk bán hàng Trung Quốc gắn mác
‘made in Viet Nam’, link truy cập: quoc-gan-mac-made-in-vietnam-3932029.html, ngày truy cập 25/8/2020
https://vnexpress.net/khoi-to-vu-khaisilk-ban-hang-trung-30 Thái Bình (Hải quan online) 28/10/2019, Chặn đứng cả triệu tấn nhôm trị giá
hơn 4 tỷ USD định đội lốt xuất xứ Việt Nam đi Mỹ, link truy cập:
lot-xuat-xu-viet-nam-di-my-114139.html, ngày truy cập: 11/11/2020