Xác định nhân tố nào là quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,… - Đánh giá thực trạng về chất lương đào tạo nguồn nhân lực của Nhà trường trong những năm qua, th
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN MẠNH THẮNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT - ĐỨC VĨNH PHÚC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Ngô Văn Vượng
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài khóa luận “Nâng cao chất lượng đào tạo
nguồn nhân lực tại trường cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc” là công
trình nghiên cứu của cá nhân tác giả Các thông tin và số liệu được đề cập đến trong đề tài nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và dựa trên các luận cứ thực tế tiếp cận Những kết quả thu được qua đề tài nghiên cứu là của bản thân tác giả
cùng với sự hướng dẫn giúp đỡ của TS Ngô Văn Vượng Tất cả các kết quả
đạt được chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, ngày tháng 7 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Đề tài khoá luận này được thực hiện và hoàn thành tại trường Đại học kinh tế và quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên Để hoàn thành công trình này tác giả xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
- TS Ngô Văn Vượng là thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tác giả xác định phương hướng nghiên cứu và xây dựng nội dung của luận văn trong suốt quá trình nghiên cứu
- Phòng đào tạo nghề - Sở Lao động thương binh và xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập các báo các về công tác dạy nghề của tỉnh Vĩnh Phúc trong các năm
- Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc đã tạo điều kiện để tác giả làm thực nghiệm, lấy số liệu về đề tài nghiên cứu của mình tại các phòng, khoa, trung tâm của nhà trường
Thái Nguyên, ngày tháng 7 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mạnh Thắng
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Những đóng góp mới của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO 6
1.1 Một số khái niệm về chất lượng, chất lượng đào tạo 6
1.1.1 Chất lượng 6
1.1.2 Chất lượng đào tạo 8
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo 11
1.2.1 Nỗ lực của bản thân học sinh trong học tập 11
1.2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý 12
1.2.3 Hệ thống nội quy, quy chế của Nhà trường 14
1.2.4 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học 15
1.2.5 Chương trình, giáo trình 17
1.2.6 Cơ sở vật chất 19
1.2.7 Nguồn lực tài chính 20
1.2.8 Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp 22
1.3 Các nguyên tắc đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực 23
1.3.1 Nâng cao chất lượng phải đảm bảo phù hợp với khả năng của học sinh 25 1.3.2 Nâng cao chất lượng phải đảm bảo cho học sinh phát triển toàn diện 26
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.3 Nâng cao chất lượng đào tạo phải trong giới hạn tài chính 26
1.3.4 Nâng cao chất lượng đào tạo nghề phải đảm bảo tính đồng bộ giữa các ngành nghề đào tạo 27
1.3.5 Mục tiêu đào tạo phải đảm bảo học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp 28
1.3.6 Chất lượng đào tạo và mối quan hệ giữa Nhà trường với Doanh nghiệp 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 32
2.1.1 Chất lượng là gì? 32
2.1.2 Chất lượng đào tạo là gì? 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 32
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu đã công bố 32
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 33
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 34
2.3 Các chỉ tiêu sử dụng đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 35
CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT - ĐỨC VĨNH PHÚC 36
3.1 Giới thiệu chung về trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 36
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của nhà trường 36
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 37
3.2 Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 43
3.2.1 Thực trạng và kết quả 43
3.2.2 Thực trạng cơ sở vật chất của Nhà trường 53
3.2.3 Thực trạng khả năng tài chính 56
3.2.4 Thực trạng nghiên cứu khoa học và xây dựng chương trình, giáo trình 57
3.3 Đánh giá chung 59
3.3.1 Ưu điểm 59
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3.3.2 Nhược điểm 60
3.3.3 Nguyên nhân 61
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 63
CHƯƠNG 4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ VIỆT - ĐỨC VĨNH PHÚC 65
4.1 Mục tiêu của công tác đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 65
4.1.1 Mục tiêu chung 65
4.1.2 Các mục tiêu cụ thể 65
4.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 66
4.2.1 Hoàn thiện xây dựng nội quy, quy chế của Nhà trường 66
4.2.2 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ giáo viên và cán bộ quản lý 69
4.2.3 Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất 73
4.2.4 Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà trường và Doanh nghiệp 76
4.2.5 Hoàn thiện công tác kiểm định chất lượng dạy nghề 81
4.3 Kết quả thăm dò ý kiến về tính cấp thiết của đề tài 84
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 89
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 91
1 Kết luận 91
2 Khuyến nghị 92
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động TB&XH 92
2.2 Đối với UBND tỉnh Vĩnh Phúc 92
2.3 Đối với trường cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 96
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo
TB&XH : Thương binh và xã hội
KT - XH : Kinh tế - Xã hội
UBND : Uỷ ban nhân dân
BHXH : Bảo hiểm xã hội
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Thông tin về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và nhân viên 40
Bảng 3.2: Kết quả tuyển sinh của nhà trường từ năm 2008 - 2012 43
Bảng 3.3: Kết quả tốt nghiệp qua các năm học 46
Bảng 3.4: Kết quả học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp 48
Bảng 3.5: Kết quả học sinh có việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp 49
Bảng 3.6: Kết quả học sinh được doanh nghiệp đặt hàng 50
Bảng 3.7: Ý kiến của doanh nghiệp về chất lượng lao động 51
Bảng 3.8: Thông tin về cơ sở vật chất của Nhà trường 53
Bảng 3.9: Tình hình tài chính của Nhà trường 56
Bảng 3.10: Bảng tổng hợp tên đề tài nghiên cứu khoa học 58
Bảng 4.1: Bảng tổng hợp kết quả điều tra khảo sát về tính khả thi của đề tài 86
Trang 9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển đào tạo nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng được Đảng
và Nhà nước hết sức quan tâm nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Đào tạo nghề cho người lao động giữ một
vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực của mỗi quốc gia trên thế giới, vì lực lượng lao động được đào tạo nghề bao giờ cũng là lực lượng sản xuất trực tiếp và đông đảo nhất trong cơ cấu lao động kỹ thuật Thực hiện tốt việc đào tạo nghề sẽ giúp cho mỗi quốc gia có được đội ngũ công nhân kỹ thuật có trình độ chuyên môn cao, tay nghề giỏi, khắc phục được tình trạng thừa thầy, thiếu thợ, đáp ứng đầy đủ nhu cầu lao động kỹ thuật cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Là một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân, dạy nghề có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, phục
vụ cho chiến lược phát triển kinh tế, xã hội Bởi lẽ cần phải khẳng định rằng:
Từ các quốc gia phát triển đến những nước đang phát triển, nhu cầu về lao động có kỹ năng nghề là rất lớn Muốn nền kinh tế của đất nước phát triển thì
xã hội cần phải có những lao động thành thạo tay nghề và có ý thức tổ chức kỷ luật, có nhân cách và có óc sáng tạo Vì vậy, mỗi quốc gia phải hình thành hệ thống đào tạo nghề thích hợp để đáp ứng nhu cầu đó Nếu không có sự đột phá
về đào tạo nghề thì nhất định sẽ ảnh hưởng lớn đến tốc độ phát triển kinh tế, thua kém các nước trong khu vực vì trình độ tay nghề và số lượng công nhân chất lượng cao của một số nước đang không ngừng tăng Trong những năm qua, được sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và sự cố gắng của các cấp, các ngành, công tác dạy nghề đã có bước chuyển biến mạnh, phát triển cả về quy mô và chất lượng, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, những thay đổi nhanh chóng của kỹ thuật công nghệ và nhu
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cầu đa dạng của người lao động học nghề, lập nghiệp phục vụ phát triển kinh tế
- xã hội Hệ thống dạy nghề đã bắt đầu được đổi mới và phát triển, chuyển từ
hệ thống dạy nghề trình độ thấp với hai cấp trình độ đào tạo sang hệ thống dạy nghề với ba cấp trình độ đào tạo: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề Các cơ sở dạy nghề được phát triển theo quy hoạch rộng khắp trên toàn quốc,
đa dạng về hình thức và loại hình đào tạo
Nhiệm vụ trên đặt ra cho công tác đào tạo nghề những trách nhiệm nặng nề, trong đó có trách nhiệm xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa - hiện đại hóa, đào tạo được đội ngũ nhân lực có trình độ cao, nắm vững
và ứng dụng các tri thức trong thực tiễn, đổi mới và chuyển giao công nghệ,
thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Vĩnh Phúc là một tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển, cơ cấu kinh tế đang phát triển theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp trong nền kinh tế Với thành công trong phát triển kinh tế - xã hội đã tạo cho tỉnh một vị thế mới Vĩnh Phúc đã trở thành tỉnh có ngành công nghiệp phát triển và đang trở thành trung tâm công nghiệp lớn của vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc
Tuy nhiên số lao động qua đào tạo trong tỉnh còn chưa đáp ứng tương xứng với sự phát triển của các ngành công nghiệp trong tỉnh Bởi vậy đào tạo nghề cho người lao động là vấn đề bức xúc và là một trong những chỉ tiêu
chiến lược trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm của tỉnh Nghị
quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV đã nêu rõ “lấy nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông làm nền tảng; lấy đào tạo nghề, đào tạo lao động chất lượng cao làm khâu đột phá”
Trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc là một trong những trường được đầu tư trọng điểm của tỉnh và được Bộ Lao động TB&XH quyết định đầu tư thành trường dạy nghề chất lượng cao giai đoạn 2012 - 2015
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hiện nay Nhà trường được Ủy ban nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo nghề theo 3 cấp trình độ: Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề, Sơ cấp nghề Trên chặng đường hơn 12 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, trường
đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ được giao, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của tỉnh Tuy vậy, công tác đào tạo của trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc cũng còn rất nhiều điểm hạn chế, bất cập như nguồn tài chính cấp cho đào tạo; cơ sở vật chất; trình độ đội ngũ giáo viên giảng dạy, hệ thống nội quy, quy chế, Chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động trên địa bàn trong và ngoài tỉnh
Là một cán bộ đang công tác tại trường và trực tiếp phụ trách công tác đào tạo, với tâm huyết nghề nghiệp và sự tin tưởng tuyệt đối vào sự
phát triển của Nhà trường nên tôi đã chọn đề tài “Nâng cao chất lượng đào
tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc”
Với mong muốn đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, đóng góp vào chiến lược phát triển chung của nhà trường, đưa trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc ngày càng phát triển, khẳng định được uy tín của nhà trường và trở thành một trong những trường trọng điểm về đào tạo nghề chất lượng cao trên toàn quốc
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo và chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
- Khảo sát chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
- Đề xuất những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Phạm vi không gian nghiên cứu
- Nghiên cứu những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của các cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
- Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
3.2 Phạm vi thời gian nghiên cứu
Những vấn đề nội dung luận văn nghiên cứu tập trung vào giai đoạn
2010 - 2012
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề liên quan đến chất lượng và chất lượng đào tạo, các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc Xác định nhân tố nào là quyết định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực,…
- Đánh giá thực trạng về chất lương đào tạo nguồn nhân lực của Nhà trường trong những năm qua, thông qua các mặt như kết quả học tập của học sinh; tỷ lệ học sinh có việc làm và có việc làm ổn định; thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học; khả năng tài chính và sự phối hợp giữa Nhà trường và doanh nghiệp,…
- Thông qua việc xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo và đánh giá thực trạng cơ sở vật chất của Nhà trường Tác giả đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Nhà trường và thông qua việc khảo sát tính khả thi của đề tài đã được cán
bộ, giáo viên trong Nhà trường đánh giá là phù hợp với phương hướng và mục tiêu của Nhà trường giai đoạn 2012 - 2015 và những năm tiếp theo, nhằm đưa trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc thành 1 trong 26 trường nghề chất lượng cao của cả nước
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu; tài liệu tham khảo; phụ lục; kiến nghị và đề xuất;
… luận văn có kết cấu gồm có 4 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng và chất lượng đào tạo
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
Chương 4: Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
Do hạn chế về mặt thời gian, nên mặc dù đã được sự hướng dẫn tận
tình của Thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Văn Vượng và nỗ lực của tác giả,
nhưng luận văn vẫn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được
sự góp ý từ phía Quý thầy cô, các chuyên gia và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Chất lượng theo quan niệm cũ:
+ Chất lượng là “Tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc)… làm cho sự vật (sự việc) này phân biệt với sự vật (sự việc) khác” (theo Từ điển tiếng Việt phổ thông)
+ Chất lượng là: “Cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật” hoặc là:
“Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác sự vật kia” (theo Từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB Giáo dục, 1998)
+ Chất lượng là “Mức hoàn thiện, là đặc trưng so sánh hay đặc trưng tuyệt đối, dấu hiệu đặc thù, các dữ kiện, các thông số cơ bản” (theo Oxford Pocket Dictionary)
+ Chất lượng là “Tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu người sử dụng” (Tiêu chuẩn Pháp - NFX 50-109)
+ Theo Kaoru Ishikawa (Nhật Bản) thì “Chất lượng là sự thoả mãn nhu cầu với chi phí thấp nhất” Chất lượng phải dựa trên căn bản là đào tạo, huấn luyện và giáo dục thường xuyên Chính vì vậy chất lượng phụ thuộc
80 - 85% vào ban lãnh đạo
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
+ Theo W.Edwards Deming (Mỹ) thì “Chất lượng là mức độ dự báo được
về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” Chất lượng đạt được cần thiết phải có sự tham gia của toàn thể nhân viên Nhưng lãnh đạo chịu trách nhiệm 90% về các vấn đề liên quan đến chất lượng
+ Chất lượng là “Mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có”, trong đó yêu cầu được hiểu là các nhu cầu hay mong đợi đã được công bố, ngầm hiểu hay bắt buộc (Theo định nghĩa của bộ tiêu chuẩn ISO 9000: 2000)
+ Chất lượng là “Mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu” (Theo định nghĩa của bộ tiêu chuẩn ISO 9001:2008)
- Chất lượng theo quan điểm mới:
Định nghĩa về chất lượng đưa ra trong Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN -
ISO 8402 là “Chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo các
tiêu chuẩn và mục tiêu đã đề ra” Đây là một định nghĩa khá hợp lý, hoàn
chỉnh và thông dụng nhất hiện nay Nó phát huy được những mặt tích cực và khắc phục được những hạn chế của các khái niệm trước đó, ở đây chất lượng được xem xét một cách toàn diện và rộng rãi hơn
Trên đây là một số định nghĩa tiêu biểu về chất lượng, mỗi định nghĩa được nêu ra dựa trên những cách tiếp cận khác nhau về vấn đề chất lượng và
do đó mỗi một quan niệm đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng
- Quan điểm của tác giả về chất lượng là sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng theo các tiêu chuẩn và mục tiêu đề ra Trong Nhà trường thì chất lượng đào tạo được đánh giá bởi quá trình học tập và rèn luyện của học sinh khi đang học tập tại trường thông qua kết quả học tập của học sinh, tỷ lệ học sinh
có việc làm sau khi tốt nghiệp và sự đánh giá cao của các doanh nghiệp sử dụng lao động sau khi học sinh tốt nghiệp, …
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.1.2 Chất lượng đào tạo
Chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng là những thuật ngữ, khái niệm cơ bản được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau “Chất lượng” phản ánh thuộc tính đặc trưng, giá trị, bản chất của sự vật và tạo nên sự khác biệt (về chất) giữa sự vật này và sự vật khác Theo quan điểm triết học “Chất lượng” hay
sự biến đổi về chất là kết quả của quá trình tích lũy về lượng (quá trình tích lũy, biến đổi) tạo nên những bước nhảy vọt về chất của sự vật và hiện tượng
Chất lượng đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo được phản ánh ở các đặc trưng về phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu, chương trình đào tạo theo các ngành nghề cụ thể (Trần Khánh Đức - Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục)
Quan điểm Một số nước phương tây cho rằng “Chất lượng đào tạo của một trường phụ thuộc vào chất lượng hay số lượng đầu vào của trường đó ” Quan điểm này được gọi là “quan điểm nguồn lực” có nghĩa là: Nguồn lực = Chất lượng
Theo quan điểm này, một trường tuyển được học sinh giỏi, có đội ngũ giáo viên giảng dạy uy tín, có cơ sở vật chất có trang bị các phòng thí nghiệm phòng thực hành, giảng đường, các thiết bị tốt nhất được xem là trường có chất lượng cao
Quan điểm này đã bỏ qua sự tác động của quá trình đào tạo diễn ra rất
đa dạng và liên tục trong thời gian học sinh học tập trong trường Sẽ khó biện thích trường hợp một trường đã có nguồn lực “đầu vào” dồi dào cả số lượng
và chất lượng nhưng lại có những hoạt động đào tạo hạn chế hoặc ngược lại, một trường có những nguồn lực khiêm tốn, nhưng đã cung cấp cho người học một chương trình hiệu quả
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trong lĩnh vực sản - xuất kinh doanh chất lượng của sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, qui trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính về sử dụng kể cả về mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng người tiêu dùng v v các đặc tính chất lượng có thể được thể hiện qua các chỉ
số kỹ thuật - mỹ thuật, mức tiêu thụ của sản phẩm trên thị trường và có thể so sánh dễ dàng với các sản phẩm khác cùng loại và đương nhiên chúng có các giá trị, giá cả khác nhau
Trong lĩnh vực giáo dục phổ thông, chất lượng giáo dục được phản ánh trước hết ở các phẩm chất và năng lực của người học (nhân cách học sinh) được hình thành và phát triển thông qua quá trình giáo dục ở các bậc, cấp học theo các mục tiêu giáo dục tương ứng, phù hợp với nhu cầu và trình độ phát triển của xã hội
Trong lĩnh vực đào tạo nghề, chất lượng đào tạo nguồn nhân lực với đặc trưng sản phẩm là “con người lao động” có thể hiểu là kết quả (đầu ra) của quá trình đào tạo và được thể hiện cụ thể ở các phẩm chất, giá trị nhân cách và giá trị sức lao động hay năng lực hành nghề của người tốt nghiệp tương ứng với mục tiêu đào tạo của từng ngành đào tạo trong hệ thống đào tạo Với yêu cầu đáp ứng nhu cầu nhân lực của thị trường lao động, quan niệm về chất lượng đào tạo không chỉ dừng ở kết quả của quá trình đào tạo trong nhà trường với những điều kiện đảm bảo nhất định như cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên … và còn phải tính đến mức độ phù hợp và tính thích ứng của người lao động như tỷ lệ học sinh có việc làm sau tốt nghiệp, năng lực hành nghề tại các vị trí làm việc cụ thể ở các doanh nghiệp, cơ quan, các cơ sở sản xuất, cơ sở kinh doanh dịch vụ, khả năng phát triển nghề nghiệp Tuy nhiên cần nhấn mạnh rằng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trước hết phải
là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của người tốt nghiệp Quá trình thích ứng với thị trường lao động không chỉ phụ thuộc vào chất lượng đào tạo mà còn phụ thuộc vào các yếu tố khác của thị trường như quan hệ cung - cầu, giá cả sức lao động, chính sách sử dụng và
bố trí công việc của Nhà nước và người sử dụng lao động Do đó khả năng thích ứng còn phản ánh cả về hiệu quả đào tạo ngoài xã hội và thị trường lao động Chất lượng đào tạo nguồn nhân lực được đánh giá thông qua quá trình khảo sát tại các doanh nghiệp có sử dụng lao động là học sinh đã tốt nghiệp của Nhà trường được thể hiện qua các tiêu chí sau:
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo
1.2.1 Nỗ lực của bản thân học sinh trong học tập
- Trong quá trình học tập, người học đóng vai trò chủ đạo trong việc tiếp thu và lĩnh hội kiến thức, cho nên người học có ý nghĩa quyết định đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Mặc dù các điều kiện đảm bảo chất lượng như: chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, có tốt đến đâu nhưng năng lực của người học quá yếu hoặc người học không tích cực, không chủ động học tập và không tham gia vào quá trình học tập thì cũng không đạt kết quả
- Trong cấu trúc của hoạt động học tập, thành tố tâm lý quan trọng nhất
là động cơ học tập Hoạt động học tập chỉ có kết quả cao khi xuất hiện nhu cầu học tập, các điều kiện và môi trường học tập tốt
- Trong hoạt động học tập, học sinh đóng vai trò chủ thể, bản thân người học phải chủ động, tự giác tích cực trong việc tiếp thu kiến thức
- Đối với học sinh, học tập là việc tiếp thu kiến thức, hành động của người học nhằm thu nhận kiến thức mới, hình thành và phát triển các kỹ năng trí tuệ và hành động nghề nghiệp, góp phần hình thành và phát triển nhân cách đúng đắn trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp của mỗi cá nhân trong xã hội Các kiến thức và kỹ năng mới bao giờ cũng được hình thành và phát triển dựa trên vốn kiến thức và kỹ năng lao động cơ bản Vì vậy quá trình học tập đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa các hoạt động tư duy lôgíc và cảm xúc, giữa trí tuệ và tình cảm, giữa nhận thức và hành động Để học sinh tiếp thu hiệu quả quá trình giảng dạy phải coi học sinh là chủ thể của quá trình học tập và biện pháp quan trọng là tích cực hóa quá trình nhận thức của học sinh
“Tích cực hóa là tập hợp các hoạt động nhằm chuyển biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập.”
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Như vậy, việc tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh đòi hỏi một quá trình lâu dài, toàn diện khi phối hợp hoạt động giữa gia đình, nhà trường và xã hội Trong đó phải hình thành cho học sinh ý thức, thái độ nghề nghiệp Động cơ học tập của học sinh học nghề có ý nghĩa quan trọng đến chất lượng đào tạo Muốn nâng cao chất lượng đào tạo phải tuyển chọn được học sinh có đủ năng lực và động cơ học tập đúng đắn, đồng thời mỗi giáo viên phải có tác động tích cực đến thái độ nghề nghiệp của học sinh Học sinh có động cơ học tập đúng đắn sẽ chủ động, tích cực, tự giác hoàn thành nhiệm vụ học tập Xu thế đổi mới phương pháp dạy học sẽ tăng cường tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh và tăng tính hành dụng cho học sinh, hướng tới
mục tiêu học tập hiện đại là: “Học để biết, học để làm, học để tồn tại và học
để chung sống với mọi người”
1.2.2 Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý
Giáo viên có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp GD&ĐT, giáo viên là nhân tố ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng và hiệu quả GD&ĐT
Lịch sử phát triển của GD&ĐT trong tiến trình phát triển của xã hội loài
người ngay từ thời xa xưa đã thể hiện vai trò quan trọng “không thầy đố mày làm nên” của nhà giáo đối với sự phát triển và thành đạt của các cá nhân trong
đời sống xã hội nói chung và hoạt động lao động nghề nghiệp nói riêng bên cạnh sự nuôi dạy của gia đình và quá trình tự học tập, rèn luyện của bản thân
Và ngày nay tầm quan trọng của đội ngũ nhà giáo cũng được Đảng ta khẳng
định: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” Muốn có chất lượng tốt phải có được đội ngũ nhà giáo tốt Trong lĩnh
vực dạy nghề, giáo viên có vai trò là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến chất lượng đào tạo, bởi vì giáo viên chính là người vạch kế hoạch, tổ chức,
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hướng dẫn, giám sát quá trình học tập và giáo dục học sinh Chính họ là người kết hợp gia đình với xã hội nhằm góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học sinh Từ đó giúp học sinh sau khi ra trường có thể tự hành nghề, đảm bảo cuộc sống gia đình và bản thân Vì vậy đòi hỏi người giáo viên dạy nghề phải có trình độ chuyên môn, năng lực thực hành vững vàng, có khả năng tự đánh giá, có hiểu biết xã hội, có nhân cách sư phạm và lòng yêu nghề sâu sắc, có trách nhiệm với học sinh và phải tác động đến tính tự giác, tự học
và lòng yêu nghề của học sinh Như nhà sư phạm nổi tiếng người Đức đã nói:
“Người ta chỉ học thực sự khi có lòng yêu nghề và yêu thầy Phải làm cho học viên tìm được niềm vui trong học tập Không có chuyện người ta phải biết mà chỉ có thể là người ta muốn biết”(Hans - Georg Godamer)
Chất lượng đào tạo đạt được khi đảm bảo mục đích đào tạo đặt ra đó là: Đào tạo người lao động có kiến thức, trình độ, phát triển nhân cách, đặc biệt tạo nên việc học tập suốt đời cho người học Do sự phát triển của khoa học công nghệ, yêu cầu của sự hội nhập với xu thế toàn cầu hóa đòi hỏi người học phải thường xuyên cập nhật kiến thức mới, kỹ năng giao tiếp, kiến thức văn hóa - xã hội, nên người thầy phải là tấm gương sáng về tinh thần học tập cho học sinh noi theo
Ngoài nhiệm vụ truyền đạt kiến thức cho học sinh, giáo viên phải là người tiên phong đi đầu trong công tác quản lý đào tạo, là đội ngũ trực tiếp tham gia công tác quản lý chất lượng đào tạo Có thể nói rằng, trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình phát triển giáo dục nói chung và dạy nghề nói riêng Vai trò, vị trí và trách nhiệm lớn lao của đội ngũ giáo viên dạy nghề luôn được khẳng định và ghi nhận Từ đó đòi hỏi đội ngũ giáo viên dạy nghề phải luôn cố gắng tự hoàn thiện mình, cập nhật kiến thức chuyên môn xã hội, rèn giũa tay nghề, đổi mới phương pháp giảng dạy, hoàn thiện nhân cách nhà giáo đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của xã hội và đóng góp vai trò quan
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo
1.2.3 Hệ thống nội quy, quy chế của Nhà trường
Để nâng cao hiệu quả dạy nghề theo phương châm “Học đi đôi với hành” và “gắn đào tạo với thực tiễn”, việc đổi mới phương pháp giảng dạy được Ban giám hiệu các Nhà trường coi trọng hàng đầu Để đạt được mục tiêu
đó thì hệ thống các văn bản pháp quy của Nhà trường và công tác tổ chức, thực hiện các văn bản đó là một công việc hết sức quan trọng
Phòng thanh tra khảo thí và kiểm định chất lượng của Nhà trường có chức năng tham mưu cho Ban giám hiệu về những phương pháp về kiểm tra giám sát các hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình, nội dung, quy chế đào tạo, quy chế thi, kiểm tra cấp văn bằng, chứng chỉ; thực hiện các quy định về giáo trình, bài giảng và các điều kiện cần thiết khác đảm bảo chất lượng đào tạo ở tất cả các loại hình đào tạo của nhà trường
Phòng công tác học sinh sinh viên có chức năng xây dựng kế hoạch quản lý, giáo dục toàn diện học sinh, sinh viên gắn với các hoạt động đào tạo chính khóa và ngoại khóa cho từng năm học; Theo dõi, đánh giá hoạt động của giáo viên chủ nhiệm lớp; thiết lập, ghi nhận, báo cáo thông tin từ học sinh, phụ huynh học sinh, giáo viên chủ nhiệm đến lãnh đạo nhà trường và ngược lại; Thực hiện công tác theo dõi, hướng dẫn và giải quyết chế độ chính sách cho học sinh
- Để đạt được hiệu quả trong đào tạo Nhà trường đã ban hành các hệ thống các văn bản về nội quy, quy chế như: Quy chế tuyển sinh hàng năm; Quy
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chế quản lý học sinh, sinh viên; Quy chế đào tạo, quản lý điểm, …
1.2.4 Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
"Phương pháp dạy học là một thành tố hết sức quan trọng của quá trình dạy học Khi đã xác định được mục đích, đã xây dựng được nội dung chương trình dạy học thì phương pháp dạy của thầy và học của trò sẽ quyết định chất lượng quá trình đào tạo nguồn nhân lực" Cùng một nội dung
nhưng học sinh có hứng thú, tích cực học tập hay không; có để lại ấn tượng sâu sắc và khơi dậy tình cảm lành mạnh trong tâm hồn các em hay không, phần lớn phụ thuộc vào phương pháp giảng dạy của người thầy Trong quá trình dạy học, việc tìm tòi những phương pháp dạy học thích hợp cho mỗi bài học nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của giờ học là hoạt động sáng tạo chủ yếu, thường xuyên của người thầy giáo
Phương pháp là con đường, cách thức mà giáo viên sử dụng tác động vào học sinh, định hướng và hướng dẫn học sinh chủ động tìm hiểu và lĩnh hội kiến thức cũng như hình thành các kỹ năng và thái độ cần thiết theo mục đích đã định sẵn Trong đào tạo nghề, phương pháp dạy thực hành chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm đang được coi trọng Đối với phương pháp đào tạo nghề có một số đặc điểm sau:
- Phương pháp đào tạo nghề được hiểu là tổ hợp cách thức phối hợp hoạt động chung của giáo viên và học sinh, nhằm giúp học sinh nắm vững kiến thức và hình thành kỹ năng, kỹ xảo
- Phương pháp dạy học thực hành là đặc biệt quan trọng trong đào tạo nghề, vì 60 - 70% thời lượng dạy nghề là dạy thực hành, mặt khác hình thành
kỹ năng cho học sinh là yếu tố quan trọng nhất trong mục tiêu đào tạo nghề
Để dạy thực hành tốt giáo viên phải có thao tác mẫu rất chuẩn xác để học sinh làm theo, bên cạnh đó phải kịp thời uốn nắn các sai lệch của học sinh
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Dạy học lấy giáo viên làm trung tâm: trong đó sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống, giáo viên trình bày giải thích, hoạt động của học sinh chủ yếu ghi chép, nhớ và tái hiện thông tin, tiếp thu kiến thức một cách thụ động Sự tham gia của học sinh giới hạn bởi những vấn đề mà người thầy
đã giảng, không khí lớp học mang nặng tính hình thức
- Dạy học lấy học sinh làm trung tâm: “Trong phương pháp này toàn
bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng, hứng thú của học sinh Mục đích là nhằm phát triển ở học sinh kỹ năng, năng lực độc lập học tập và biện quyết các vấn đề Không khí trong lớp học linh hoạt, cởi mở về mặt tâm lý Giáo viên và học sinh cùng nhau xem xét các khía cạnh của vấn
đề Học sinh được giúp đỡ để tự biện quyết vấn đề” Loại phương pháp này
tạo điều kiện cho học sinh phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
Trong dạy học không thể có phương pháp dạy học nào được coi là tối
ưu Có nhiều trường hợp có thể áp dụng cùng một phương pháp dạy học để biện quyết các nhiệm vụ dạy học khác nhau, truyền đạt những nội dung khác nhau, nhưng cũng có những trường hợp đã áp dụng nhiều phương pháp dạy
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
học để biện quyết cùng một mục đích dạy học, cùng một nội dung dạy học Như vậy, tùy thuộc vào các đối tượng người học, mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, loại hình đào tạo mà chúng ta sử dụng hoặc kết hợp các phương pháp đào tạo khác nhau nhằm đạt được mục tiêu và kết quả đào tạo như mong muốn
1.2.5 Chương trình, giáo trình
Chương trình, giáo trình có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng đào tạo, bởi với cách tiếp cận chương trình đào tạo gồm cả yêu cầu và phương thức kiểm tra đánh giá sẽ tác động đến cách dạy và cách học của giáo viên và học sinh trong nhà trường Trước tầm quan trọng của chương trình, giáo trình trong đào tạo nghề với đầu ra của quá trình đào tạo, cho nên để đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo thì vấn đề hàng đầu là chương trình và giáo trình đào tạo phải được thiết kế đảm bảo chất lượng, phù hợp với các điều kiện thực hiện và sử dụng chương trình đó
Trên thế giới, chương trình đào tạo thường được sử dụng bằng thuật ngữ
“Curriculum” Mỗi nước có các quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo Theo các chuyên gia giáo dục thì việc nghiên cứu chương trình đào tạo là một trong những lĩnh vực khó nhất của giáo dục, bởi chương trình đào tạo thay đổi theo sự phát triển của xã hội và chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: người dạy, người học, phụ huynh học sinh, nhà tuyển dụng, tôn giáo, chính trị, nên có nhiều quan niệm khác nhau về chương trình đào tạo Tùy theo cách lý biện khác nhau mà có cách hiểu khác nhau về chương trình đào tạo
Theo Tim Wentling (1993): Chương trình đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động đào tạo Hoạt động đó có thể chỉ là một khóa học kéo dài vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm Nó cho biết toàn bộ nội dung cần đào tạo, chỉ ra những gì có thể trông đợi ở người học sau khi kết thúc khóa học
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nó phác họa quy trình cần thiết để thực hiện nội dung đào tạo và cũng chỉ ra phương pháp đào tạo, hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập tất cả được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ
Theo White (1995): Chương trình đào tạo là bản kế hoạch phản ánh các mục tiêu mà trường theo đuổi, nó cho ta biết nội dung, phương pháp dạy và học cần thiết để đạt mục tiêu đã đề ra
Theo Nghị định 43/NĐ-CP: Chương trình đào tạo là văn bản cụ thể hóa mục tiêu giáo dục, quy định phạm vi mức độ và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp, hình thức hoạt động, giáo dục, chuẩn mực và cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp và toàn bộ một bậc học, cấp học, trình độ đào tạo
Tuy những quan niệm có khác nhau, song đều thừa nhận rằng các bộ phận cấu thành một chương trình đào tạo là: Mục tiêu đào tạo; nội dung đào tạo; phương pháp đào tạo; quy trình đào tạo; hình thức tổ chức; cách thức kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo Chúng gắn kết với nhau như một chỉnh thể đảm bảo thực hiện tốt mục tiêu, nội dung đào tạo và đáp ứng nhu cầu, lợi ích của người học
Cơ sở để xây dựng chương trình đào tạo nghề phải căn cứ vào yêu cầu thực tế sản xuất dịch vụ về: Nội dung, trình độ do vị trí nghề đòi hỏi, căn cứ vào mục tiêu đào tạo của Nhà nước và căn cứ vào tiến bộ của khoa học và điều kiện của cơ sở đào tạo nghề Chương trình đào tạo phải được định kỳ bổ sung, điều chỉnh dựa trên việc tham khảo chương trình chuẩn của Việt Nam
và Quốc tế, các ý kiến phản hồi tứ phía các nhà tuyển dụng lao động, học sinh tốt nghiệp, các tổ chức giáo dục và tổ chức khác, nhằm phát triển nguồn nhân lực phát triển KT - XH
Chương trình đào tạo ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo, đồng
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thời các hoạt động của nhà trường đều xoay quanh việc thực hiện chương trình đào tạo đề ra từ cơ cấu bộ máy đến việc tuyển chọn giáo viên, từ việc lập
kế hoạch đào tạo đến các hoạt động khác như: Phòng đào tạo, phòng công tác học sinh sinh viên …, thư viện, mối quan hệ giữa các bộ phận, mối quan hệ giữ nhà trường với các đơn vị sử dụng nhân lực,
Như vậy, nội dung chương trình đào tạo là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu của quá trình đào tạo Để quá trình đào tạo đạt chất lượng cũng như nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thì yếu tố đầu tiên và cơ bản là cơ sở đào tạo phải xác định đúng mục tiêu cũng như nội dung chương trình đào tạo
1.2.6 Cơ sở vật chất
1.2.6.1 Hệ thống phòng học
Trong các trường dạy nghề các phòng học thực hành đóng vai trò vô
cùng quan trọng, “là một thành phần cơ bản trong các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ các chức năng đào tạo của nhà trường.” Đó là nơi tổ chức các
hoạt động dạy thực hành cơ bản trong chương trình đào tạo của nhà trường ngoài ra nó có thể đảm nhiệm một số nhiệm vụ khác như sản xuất ra sản phẩm, trưng bày giới thiệu ngành nghề đào tạo
1.2.6.2 Hệ thống thiết bị dạy học
Căn cứ theo đặc điểm của từng nhóm nghề, người ta chia thiết bị dạy
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
học ra làm hai loại:
- Các thiết bị dạy học dùng chung cho nhiều ngành nghề, thường là những thiết bị truyền tin để hỗ trợ cho sự truyền đạt nội dung bài giảng của giáo viên cũng như giúp cho quá trình nhận thức của học sinh được thuận lợi như: máy chiếu, máy ghi âm, ti vi, camera, máy vi tính…
- Các thiết bị chuyên dùng cho từng ngành nghề gồm thiết bị mang tin (sách giáo khoa, tranh ảnh, bản vẽ, sơ đồ, ), các mô hình học cụ, các thiết bị
để thực hành (máy hàn, máy tiện, máy phay …)
Tuy nhiên, để có thiết bị hiện đại đáp ứng được yêu cầu đào tạo đối với các trường nghề trong điều kiện đất nước còn khó khăn như hiện nay là rất khó và đặc biệt với sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ càng là cản trở lớn cho các trường trong việc đầu tư thiết bị dạy học Để đáp ứng được yêu cầu đào tạo, mỗi trường phải coi trọng công tác tự làm các thiết bị, phương tiện dạy học, điều đó còn giúp giáo viên và học sinh hiểu sâu hơn về bài học, cũng như rèn luyện tay nghề Để học sinh có điều kiện tiếp cận với công nghệ mới hiện đại phù hợp với thực tế sản xuất thì Nhà trường cần phải
có mối liên hệ chặt chẽ với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
1.2.7 Nguồn lực tài chính
1.2.7.1 Nguồn tài chính do ngân sách cấp
- Nguồn tài chính từ ngân sách Nhà nước cấp cho công tác đào tạo nghề được xác định là khoản đầu tư chính và quan trọng nhất cho hoạt động dạy nghề Việc xác định mức đầu tư ngân sách Nhà nước cho dạy nghề được tiến hành hàng năm căn cứ vào luật ngân sách, các hướng dẫn thi hành luật ngân sách, GDP, cân đối tổng thu, chi ngân sách Nhà nước, định hướng đầu tư của Nhà nước đối với dạy nghề Đề xuất đầu tư từ các địa phương, bộ ngành căn
cứ vào quy định của Nhà nước về định mức chi cho dạy nghề
- Đầu tư ngân sách Nhà nước cho dạy nghề đảm bảo tăng hàng năm, năm sau không thấp hơn năm trước về số lượng tiền đầu tư bao gồm đầu tư về
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cơ sở vật chất và đầu tư mỗi chỉ tiêu đào tạo do Nhà nước đặt hàng
1.2.7.2 Nguồn tài chính thu từ học phí
- Mức thu học phí được thu theo quy định của Nhà nước và của Nhà trường trên cơ sở chi phí đào tạo theo từng ngành nghề và mức thu học phí chung của các trường trên địa bàn
- Đối với các trường dạy nghề công lập thì nguồn thu từ học phí là nguồn tài chính lớn thứ hai Tuy nhiên đối với các trường dạy nghề do đối tượng học sinh chủ yếu là con em ở khu vực nông thôn có điều kiện kinh tế chưa cao nên mức thu học phí còn ở mức thấp
1.2.7.3 Các nguồn thu khác
- Nguồn thu từ doanh nghiệp: Nguồn thu huy động từ doanh nghiệp vào các hoạt động dạy nghề được thực hiện thông qua việc khuyến khích doanh nghiệp thành lập các cơ sở dạy nghề, hỗ trợ và liên kết các cơ sở dạy nghề trong đào tạo, ứng dụng sản xuất, trả công cho người học nghề khi họ tham gia hoặc trực tiếp làm ra sản phẩm cho doanh nghiệp trong quá trình đào tạo
- Nguồn thu từ sản xuất, kinh doanh dịch vụ: Các cơ sơ dạy nghề được thành lập cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề và giáo viên của Nhà trường thực hành, thực tập nâng cao tay nghề và có thêm thu nhập Việc thành lập cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ và các hoạt động sản xuất, kinh doanh của Nhà trường được thực hiện theo quy định của pháp luật
- Nguồn thu từ đầu tư nước ngoài: Cũng như các doanh nghiệp, các nhà đầu tư nước ngoài được khuyến khích đầu tư vào hoạt động dạy nghề thông qua việc thành lập các cơ sở dạy nghề, các dự án hợp tác phát triển dạy nghề, đóng góp tài chính tự nguyện cho dạy nghề Nguồn đóng góp này cho dạy
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghề chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong hoạt động dạy nghề
1.2.8 Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp
- Mối quan hệ giữa nhà trường và các doanh nghiệp là mối quan hệ biện chứng giữa nhà sản xuất và người sử dụng sản phẩm Trong đó, nhà trường đóng vai trò là nhà sản xuất, các doanh nghiệp đóng vai trò là người sử dụng sản phẩm, các sản phẩm chính là học sinh tốt nghiệp
- Nhà nước Việt Nam đã khẳng định “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là đột phá chiến lược,
… Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp với cơ sở đào tạo”
- Theo quy hoạch nguồn nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, chỉ tính riêng số lao động trong các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng lên 15 triệu người vào năm 2015 và đến năm 2020 tăng lên 20 triệu người Nhu cầu đào tạo nghề mới cho lao động mới tuyển dụng là rất lớn, chưa kể nhu cầu đào tạo lại số lao động hiện có
Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:
- Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc triển khai xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo theo quy chế chung do
Bộ Lao động TB&XH và Tổng cục Dạy nghề ban hành, mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phải xét đến tính đặc thù của các doanh nghiệp là nơi tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp
- Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khoá cho học sinh
- Ngoài kinh phí nhà nước cấp, doanh nghiệp cần đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo: kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia và thợ bậc cao
- Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng qua việc hoạch định nhu cầu đào tạo: số lượng, cơ cấu ngành nghề, hình thức đào tạo
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề)
Những nguyên tắc của mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp:
- Sự liên kết đảm bảo mục tiêu đào tạo đã đề ra, không làm ảnh hưởng tới quy trình đào tạo của nhà trường cũng như tiến độ sản xuất của doanh nghiệp, mà trái lại nó phải góp phần vào sự phát triển chung của cả hai đơn vị,
có lợi cho cả cơ sở đào tạo và doanh nghiệp
- Sự kết hợp phải mang tính chất giáo dục: nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực cho học sinh (không quá chú trọng về mặt kinh tế)
- Sự kết hợp này phải có tính chất vừa sức với giáo viên và học sinh trong quá trình thực tập tại doanh nghiệp (sức khoẻ, năng lực, công nghệ, )
Những điều kiện đảm bảo mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp:
- Cấp vĩ mô: Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhằm tăng cường mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp Có tổ chức điều hành mối quan hệ này
Các quy định của Nhà nước đối với doanh nghiệp liên quan tới đào tạo: thuế đào tạo, tỷ lệ lao động có kỹ thuật trong tổng số người lao động, cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực,…
Thành lập các đơn vị sản xuất trong các trường dạy nghề như Nghị quyết TW2 khoá VIII đã đề ra, như chính sách về đầu tư cho các trường dạy nghề
- Cấp vi mô (phía nhà trường): Đổi mới bộ máy và phương thức điều hành nhằm tăng cường mối quan hệ: thành lập phòng đối ngoại, có các quy định, chế độ rõ ràng đối với phương thức liên kết
1.3 Các nguyên tắc đánh giá chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Theo quan điểm mới, tiếp cận với hệ thống đánh giá mới của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO (International Labour organization), hiện nay
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
đánh giá chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng có hai đối tượng cần nghiên cứu để đánh giá Đó là đánh giá chất lượng đào tạo nghề qua năng lực hành nghề của học sinh sau khi tốt nghiệp tại trường nghề và đánh giá cơ sở đào tạo
Chất lượng đào tạo nghề phụ thuộc vào nhiều yếu tố có quan hệ biện chứng với nhau Đó là việc xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức quá trình đào tạo, kiểm tra, đánh giá và thi tốt nghiệp Do đó, khi
tiến hành đánh giá chất lượng đào tạo, cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:
- Đánh giá chất lượng đào tạo phải căn cứ vào chuẩn trình độ chuyên môn kiến thức, kỹ năng và thái độ theo mục tiêu đào tạo
- Phương pháp đánh giá phải đảm bảo tính khoa học, khách quan, thống nhất theo những tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề trong cả 3 khâu: đầu vào, quá trình đào tạo và đầu ra Kết quả đánh giá cuối cùng là sự tổng hợp kết quả tại 3 khâu trên
- Phải kết hợp đánh giá trong với đánh giá ngoài Đội ngũ đánh giá phải bao gồm các thành viên là: Cán bộ quản lý đào tạo nghề, giáo viên giỏi, các chuyên gia, kỹ thuật viên giỏi của các doanh nghiệp có sử dụng lao động là học sinh đã tốt nghiệp của Nhà trường
- Đảm bảo tính công khai, công bằng, dân chủ trong đánh giá, việc đánh giá phải được thể hiện bằng văn bản theo quy định của Nhà nước
- Đảm bảo chất lượng là quá trình xảy ra trước và trong khi thực hiện Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước đầu tiên Chất lượng của sản phẩm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuối theo những tiêu chuẩn nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kỳ khâu nào Đảm bảo chất lượng phần lớn là trách nhiệm của người lao động, thường làm việc trong các đơn vị độc
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thể có vai
trò nhất định trong đảm bảo chất lượng (Nguyễn Đức Chính, 2002)
- Đảm bảo chất lượng đào tạo nguồn nhân lực được thực hiện dựa trên
3 nguyên tắc cơ bản, bao gồm:
Một là: Tiếp cận từ đầu với khách hàng và nắm rõ các yêu cầu của họ
Điều này có ý nghĩa hết sức quan trọng vì đó là cơ sở để giúp ta xây dựng các qui trình và tiêu chuẩn cho sản phẩm đầu ra có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của khách hàng
Hai là: Mọi thành viên trong trường cùng tham gia áp dụng triết lý
người học là trên hết và mỗi người trong đơn vị đều quan tâm tới chất lượng
và đều có trách nhiệm liên quan đến chất lượng Đảm bảo chất lượng chỉ có thể thực hiện khi từng người, từng tổ nhóm phối hợp với nhau một cách ăn ý nhịp nhàng và thống nhất
Ba là: Mọi bộ phận trong trường đều phải có trách nhiệm trong việc
đảm bảo chất lượng, điều này có nghĩa khi có vấn đề về chất lượng thì không chỉ có bộ phận đảm bảo chất lượng chịu trách nhiệm mà tất cả các phòng ban cũng phải chịu trách nhiệm Chỉ có vậy thì hoạt động đảm bảo và nâng cao chất lượng mới được thực sự quan tâm thích đáng
1.3.1 Nâng cao chất lượng phải đảm bảo phù hợp với khả năng của học sinh
- Nhà trường thực hiện đào tạo theo chương trình khung của Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động TB&XH quy định Trong quá trình đào tạo Nhà trường phải tiến hành định kỳ hàng năm rà soát, điều chỉnh, bổ sung chương trình đào tạo trên cơ sở điều tra khảo sát ý kiến đánh giá của đại diện doanh nghiệp; cán bộ quản lý; giáo viên; học sinh đang học và học sinh đã tốt nghiệp
để điều chỉnh cho phù hợp
- Quá trình đánh giá chất lượng đào tạo phải đảm bảo đúng quy trình, đúng mục đích trên nguyên tắc lấy học sinh làm trung tâm Đảm bảo chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy của giáo viên,… sau khi tiến hành rà
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
soát điều chỉnh phải tạo ra một chương trình đào tạo phù hợp với năng lực học tập của học sinh và yêu cầu của doanh nghiệp
1.3.2 Nâng cao chất lượng phải đảm bảo cho học sinh phát triển toàn diện
- Trong chương trình đào tạo tại các trường dạy nghề, ngoài việc cung cấp
hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cho người học thì việc trang bị những kiến thức nền tảng là rất quan trọng và mang tính cấp thiết Một cá nhân không thể phát triển toàn diện và không thể đáp ứng được yêu cầu của xã hội nếu chỉ có
“tay nghề” mà không có những hiểu biết về lịch sử, văn hoá đất nước mình, nếu chỉ giỏi về chuyên môn mà không có kỹ năng nói và viết tiếng mẹ đẻ
- Giáo dục toàn diện sẽ tạo ra những sản phẩm con người mới, ở đó họ
có được những tri thức khoa học và những tri thức xã hội để có thể áp dụng vào thực tiễn và đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của đời sống nhất là trong bối cảnh hiện nay
- Môi trường giáo dục nghề nghiệp phải luôn gắn với giáo dục đạo đức nghề nghiệp để trở thành công dân tốt Cần phải tăng cường nguồn lực trong
và ngoài nhà trường cho giáo dục đạo đức, hình thành các chuẩn đạo đức (định hướng giá trị sống) Cần khoa học hóa việc giáo dục đạo đức lối sống,
để học sinh trở thành chủ thể các giá trị đạo đức và văn hóa, trong đó đặc biệt lưu ý đến ý thức xây dựng và phát huy giá trị của gia đình
- Tăng số giờ hoạt động ngoại khoá nhằm tạo cho học sinh rèn luyện những kỹ năng sống cần thiết, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, mời các đại diện doanh nghiệp đến để tư vấn, giới thiệu và định hướng nghề nghiệp cho các em học sinh sau khi tốt nghiệp ra trường Để sau khi ra học sinh tốt nghiệp ra trường đến các đơn vị sử dụng lao động phỏng vấn xin việc có những kỹ năng về giao tiếp, xử lý công việc đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng
1.3.3 Nâng cao chất lượng đào tạo phải trong giới hạn tài chính
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
- Để giải bài toán nâng cao chất lượng đào tạo trong giới hạn tài chính
là một việc làm không đơn giản vì nó liên quan đến tới cả một hệ thống và quy trình đào tạo Nhưng nói như vậy không có nghĩa là không có lời giải, vậy để làm được thì cần phải có ba yếu tố quan trọng có ý nghĩa quyết định là: Con người; hạ tầng cơ sở; trang thiết bị phục vụ cho đào tạo và năng lực hội nhập quốc tế
- Có thể thấy, yếu tố con người luôn là yếu tố quyết định hàng đầu, chi phối trực tiếp vào quá trình đào tạo trong Nhà trường Yếu tố con người nói đến ở dây
đó là người học, đội ngũ thầy cô giáo, đội ngũ cán bộ quản lý Để phục vụ cho một giáo viên đứng lớp phải kèm theo một đội ngũ phục vụ từ khâu lên chương trình, thời khóa biểu, chuẩn bị cơ sở vật chất, thiết bị giảng dạy, tức là có cả một đội ngũ phục vụ trong toàn hệ thống Trình độ chuyên môn của người thầy, năng lực nghiệp vụ của cán bộ phục vụ là then chốt Nhưng con người đó có chuyên nghiệp, có nỗ lực lao động không, điều kiện làm việc của họ có tốt không sẽ tác động quan trọng đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
- Trong một giới hạn về tài chính nhất định thì sự phối hợp nhịp nhàng giữa ba yếu tố trên sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực Do vậy cần phải có người quản lý giỏi để giải quyết tốt mối quan hệ cần thiết này và người quản lý phải có đủ trình độ, năng lực để thể hiện trách nhiệm quản lý các nhà trường trong giai đoạn hiện nay
1.3.4 Nâng cao chất lượng đào tạo nghề phải đảm bảo tính đồng bộ giữa các ngành nghề đào tạo
- Để đảm bảo tính đồng bộ giữa các ngành đào tạo thì ở cấp quản lý vĩ
mô các nhà quản lý cần nghiên cứu để có cái nhìn chiến lược lâu dài theo xu hướng phát triển của thị trường lao động, từ đó sẽ giảm tình trạng ngành thì thừa học sinh ngành lại thiếu học sinh Để làm tốt công việc này thì cần có nhiều sự tính toán phân tích tỉ mỉ của các nhà quản lý Nghiên cứu sự thay đổi
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
biến động của nền kinh tế, cơ cấu ngành trong nước để từ đó có một tầm nhìn chiến lược, một giải pháp hiệu quả thúc đẩy nền kinh tế phát triển Đào tạo ra một nguồn lao động chất lượng phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
- Đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất cho tất cả các ngành mà Nhà trường đang đào tạo nhằm mục đích tạo ra nguồn nhân lực có trình độ kỹ năng nghề
đồng đều ở tất cả các nghề Cần chú trọng công tác đào tạo để đào tạo ra
những học sinh có chất lượng, có khả năng làm việc thì chương trình đào tạo cũng cần gắn với thực tiễn tại các doanh nghiệp, chúng ta cần dần những thay đổi chương trình đào tạo để phù hợp với thực tế hơn
- Cần có một tiêu chuẩn để đánh giá khả năng đào tạo của các trường Cao đẳng nghề hiện nay nhằm hạn chế tình trạng có quá nhiều trường được thành lập song chất lượng đào tạo lại thấp không đáp ứng được những tiêu chuẩn xã hội đòi hỏi
1.3.5 Mục tiêu đào tạo phải đảm bảo học sinh có việc làm sau khi tốt nghiệp
- Có được việc làm sau khi ra trường là mong muốn mỗi bạn học sinh ngay khi còn ngồi trên ghế nhà trường nhưng để có cơ hội việc làm rộng mở thì không những cần có sự cố gắng của các bạn học sinh mà còn cần sự cố gắng của Nhà trường và các cấp quản lý Cần có một chiến lược lâu dài trong đào tạo nghề hiện nay thì mới có thể tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực cho đất nước
- Các doanh nghiệp cần tạo điều kiện, giúp đỡ cho học sinh có nhiều
cơ hội để tiếp cận với công việc Từ đó học sinh sẽ có thể đóng góp công sức
và gắn bó với các doanh nghiệp hơn, tạo ra mối liên hệ chặt chẽ và hiệu quả giữa Nhà trường và doanh nghiệp Bên cạnh đó cần có một cầu nối linh hoạt hiệu quả giữa các trung tâm giới thiệu việc làm để học sinh thuận lợi hơn trong việc tìm kiếm công việc phù hợp với bản thân
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.3.6 Chất lượng đào tạo và mối quan hệ giữa Nhà trường với Doanh nghiệp
Mối quan hệ giữa nhà trường và các doanh nghiệp là mối quan hệ biện chứng giữa nhà sản xuất và người sử dụng sản phẩm Trong đó, nhà trường đóng vai trò là nhà sản xuất, các doanh nghiệp đóng vai trò là người sử dụng sản phẩm, các sản phẩm chính là học sinh tốt nghiệp Mối quan hệ này phản ánh chất lượng sản phẩm đào tạo
Mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt:
- Sự phối hợp giữa nhà trường và doanh nghiệp trong việc triển khai xây dựng mục tiêu và nội dung chương trình đào tạo theo quy định của Bộ Lao động TB&XH và Tổng cục Dạy nghề ban hành, mặt khác khi xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo phải xét đến tính đặc thù của các doanh nghiệp là nơi tiếp nhận học sinh sau khi tốt nghiệp
- Tuyển sinh và tổ chức thi tốt nghiệp cuối khoá cho học sinh Đánh giá chất lượng đào tạo nghề
- Ngoài kinh phí nhà nước cấp, doanh nghiệp cần đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo: Kinh phí, tài liệu, máy móc thiết bị, các chuyên gia và thợ bậc cao
- Phối hợp trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng qua việc hoạch định nhu cầu đào tạo: số lượng, cơ cấu ngành nghề, hình thức đào tạo (đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghề)
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước ta Lao động có tay nghề là một bộ phận quan trọng của nguồn nhân lực, trực tiếp lĩnh hội, áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, phát triển kinh tế chung của đất nước Với kết quả nghiên cứu của chương 1 chúng ta có cái nhìn sơ bộ về chất lượng nói chung và chất lượng đào tạo nói riêng Chất lượng đào tạo là sự đáp ứng của người lao động theo nhu cầu của thị trường, của khách hàng, được bảo đảm bằng chất lượng quá trình từ đầu vào, quá trình dạy học và đầu ra - sản phẩm đào tạo Quan niệm đúng về chất lượng đào tạo có ý nghĩa quyết định trong việc xác định đúng miền chất lượng theo nhu cầu của các loại khách hàng, thiết kế mục tiêu và chương trình đào tạo phù hợp và tổ chức tốt quá trình đào tạo nhằm đáp ứng nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội
Có rất nhiều yếu tố tác động làm ảnh hướng đến quá trình đào tạo, trong
đó có các yếu tố bên trong là học sinh đóng vai trò quyết định đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực của Nhà trường Một yếu tố cũng rất quan trọng cho quá trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đó là đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên trong toàn trường Ngoài ra còn các yếu
tố khác như cơ chế chính sách, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất,
Bên cạnh các yếu tố bên trong và bên ngoài, yếu tố chủ quan, khách quan, thì những yếu tố như: chương trình đào tạo, cơ sở vật chất, mối quan hệ giữa nhà trường và doanh nghiệp sử dụng lao động Đây cũng là các yếu tố mà Nhà trường cần có sự quan tâm nhiều hơn trong giai đoạn hiện nay, sự liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp để tạo nên sức mạnh góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao, đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Vấn đề kiểm định chất lượng đào tạo nói chung và kiểm định chất lượng dạy nghề nói riêng nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo Qua công tác kiểm định chất lượng dạy nghề Nhà trường sẽ biết được những điểm mạnh, điểm yếu nhằm khắc phục những tồn tại đang diễn ra nhằm phát huy được tổng thể năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong toàn trường cùng chung sức tham gia quản lý chất lượng đào tạo nguồn nhân lực
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm chung của toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên trong Nhà trường Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động là mục tiêu không phải của riêng cá nhân nào, riêng của Nhà trường mà là của cả một hệ thống chính trị xã hội nhằm mục đích nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng
sự nghiệp CNH - HĐH
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu không phải chỉ là vấn đề lý luận mà còn là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn, bởi chính phương pháp nghiên cứu quyết định thành công của mọi quá trình nghiên cứu khoa học Với đề tài
“Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề
Việt - Đức Vĩnh Phúc” tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp thu thập số liệu; phương pháp xử lý số liệu; phương pháp phân tích số liệu và sử dụng các số liệu khác để nghiên cứu, …
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu
2.1.1 Chất lượng là gì?
2.1.2 Chất lượng đào tạo là gì?
2.1.2.1 Đánh giá chất lượng sử dụng những tiêu chí nào?
2.1.2.2 Thực trạng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc
2.2.2.3 Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức Vĩnh Phúc cần có những giải pháp gì?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu đã công bố
- Để đánh giá được thực trạng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực tại trường Cao đẳng nghề Việt - Đức V ĩnh Phúc, đề tài kết hợp sử dụng hai nguồn phân tích là phân tích định tính và định lượng Hai phương pháp phân tích này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làm sáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu
- Thu thập và tính toán từ những số liệu đã công bố của Tổng cục dạy nghề, các viện nghiên cứu, các trường đại học, các tạp chí, báo chí chuyên ngành và những báo cáo khoa học đã được công bố, các nghiên cứu ở trong