1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện hoài nhơn, tỉnh bình định

94 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 1,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

LÊ NGUYỄN KIM HOÀNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2021

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

LÊ NGUYỄN KIM HOÀNG

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

TẠI HUYỆN HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8850103.01

Người hướng dẫn khoa học: TS Phan Thái Lê

XÁC NHẬN HỌC VIÊN ĐÃ CHỈNH SỬA THEO GÓP Ý CỦA HỘI ĐỒNG

Giáo viên hướng dẫn Chủ tịch hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ khoa học

TS Phan Thái Lê PGS.TS Phạm Quang Tuấn

Hà Nội - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn “Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát

triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định” là công trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc của tác giả, với sự giúp đỡ của

người hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này

là trung thực và chưa từng được công bố

Tác giả luận văn

Lê Nguyễn Kim Hoàng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin tỏ lòng kính trọng, lòng biết ơn sâu sắc và chân thành gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Nhà trường, Ban lãnh đạo Khoa Địa lý, cùng toàn thể quý thầy cô đã giảng dạy, truyền đạt và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện dưới mái trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội

Để hoàn thành đề tài này ngoài sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy TS Phan Thái Lê, giảng viên khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn - người đã trực tiếp hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp này

Tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, chia sẻ, hỗ trợ và động viên về mọi mặt để tôi có thể hoàn thành tốt nhất luận văn tốt nghiệp của mình

Tuy đã có nhiều cố gắng để thực hiện bài luận văn tốt nghiệp một cách hoàn chỉnh nhất, nhưng do thời gian, kinh nghiệm và kiến thức của bản thân còn hạn chế, nên không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Vì vậy, tôi rất mong nhận được

sự góp ý và chỉ dẫn từ quý thầy cô để tôi bổ sung và hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Lê Nguyễn Kim Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

1.1.1 Khái quát về đất, đất đai 4

1.1.2 Sử dụng đất 4

1.1.3 Quy hoạch sử dụng đất 4

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của sử dụng đất hợp lý 4

1.1.5 Nông thôn mới 5

1.1.6 Chương trình xây dựng nông thôn mới 6

1.1.7 Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới 7

1.1.8 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới 8

1.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới 9

1.2.1 Trên thế giới 9

1.2.2 Tại Việt Nam 13

1.2.3 Tại tỉnh Bình Định 20

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOÀI NHƠN 23

2.1 Điều kiện xây dựng nông thôn mới 23

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 23

2.1.1.1 Vị trí địa lí 24

2.1.1.2 Địa chất, địa hình 24

2.1.1.3 Thổ nhưỡng 25

2.1.1.4 Khí hậu, thủy văn 25

2.1.1.5 Tài nguyên đất 26

2.1.1.6 Tài nguyên thủy sản 27

2.1.1.7 Tài nguyên rừng 27

2.1.1.8 Tài nguyên khoáng sản 27

2.1.1.9 Tài nguyên nhân văn 27

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

2.1.2.1 Dân số, dân cư, lao động 28

2.1.2.2 Các ngành kinh tế 29

Trang 6

2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ chương trình xây dựng nông thôn

mới 31

2.2.1 Thực trạng sử dụng đất trước khi xây dựng nông thôn mới 31

2.2.1.1 Thực trạng sử dụng đất 31

2.2.1.2 Thực trạng quản lý 32

2.2.2 Thực trạng sử dụng đất phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới 36

2.2.2.1 Tình hình xây dựng nông thôn mới ở huyện Hoài Nhơn 36

2.2.2.2 Thực trạng sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới 39

2.3 Đánh giá, so sánh thực trạng sử dụng đất với các tiêu chí sử dụng đất trong xây dựng nông thôn mới 50

2.3.1 Đánh giá theo các tiêu chí 50

2.3.2 Đánh giá theo các mặt 52

2.3.2.1 Đánh giá hiệu quả kinh tế 52

2.3.2.2 Đánh giá hiệu quả xã hội 58

2.3.2.3 Đánh giá hiệu quả môi trường 65

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI HUYỆN HOÀI NHƠN 71

3.1 Cơ sở đề xuất 71

3.1.1 Cơ sở pháp lý 71

3.1.2 Cơ sở thực tiễn 72

3.2 Các giải pháp 74

3.2.1 Giải pháp về chính sách, cơ chế 74

3.2.2 Giải pháp nhằm đạt được các tiêu chí về hạ tầng - kinh tế - xã hội 75

3.2.3 Giải pháp nâng cao vai trò của người dân trong xây dựng nông thôn mới 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 82

PHỤ LỤC 84

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

QĐ-UBND Quyết định - Ủy bản nhân dân

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2 1 Bản đồ vị trí huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định 23 Hình 2 2 Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng 34 Hình 2 3 Cây lâm nghiệp được trồng trên đất nông nghiệp tại thị trấn Bồng Sơn năm 2014 36 Hình 2 4 Cơ cấu sử dụng đất huyện Hoài Nhơn 40 Hình 2 5 Hiện trạng sử dụng đất chưa sử dụng 47 Hình 2 6 Sử dụng đất để xây dựng cụm công nghiệp trên địa bàn xã Hoài Tân và thị trấn Tam Quan năm 2019 57

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Bảng tổng hợp kết quả thực hiện tiêu chí huyện nông thôn mới huyện

Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến tháng 7 năm 2019 22

Bảng 2 1 Đơn vị hành chính, dân số và diện tích 28

Bảng 2 2 Diện tích đất theo mục đích sử dụng năm 2014 31

Bảng 2 3 Diện tích đất bằng chưa sử dụng theo đơn vị hành chính 34

Bảng 2 4 Các tiêu chí quốc gia về sủ dụng đất 38

Bảng 2 5 Diện tích đất sản xuất nông nghiệp theo đơn vị hành chính năm 2019 40

Bảng 2 6 Diện tích đất ở tại nông thôn theo đơn vị hành chính năm 2019 43

Bảng 2 7 Diện tích đất bằng chưa sử dụng theo đơn vị hành chính năm 2019 46

Bảng 2 8 Biến động diện tích theo mục đích sử dụng năm 2019 so với năm 2014 48

Bảng 2 9 Bảng so sánh giữa tiêu chí Quốc gia và đạt được theo tiêu chí Quốc gia của huyện năm 2019 51

Bảng 2 10 Bảng đối chiếu tiêu chuẩn về cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội năm 2019 53

Bảng 2 11 Kết quả về thu nhập bình quân đầu người của các xã năm 2019 55

Bảng 2 12 Kết quả giảm hộ nghèo đạt được khi thực hiện xây dựng nông thôn mới năm 2019 56

Bảng 2 13 Kết quả về tỷ lệ lao động có việc làm năm 2019 61

Bảng 2 14 Hiệu quả sử dụng đất vào xây dựng giao thông 63

Bảng 2 15 Kết quả sử dụng đất trước và khi hoàn thành thực hiện xây dựng nông thôn mới theo các chỉ tiêu 67

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Với những áp lực và hiện trạng sử dụng đất đai như hiện nay cho thấy nguồn tài nguyên đất ngày càng khan hiếm và có giới hạn Do đó, đòi hỏi phải có sự đối chiếu hợp lý giữa các kiểu sử dụng đất (SDĐ) đai, loại đất đai và quy hoạch SDĐ đai như thế nào Đồng thời, trước sức ép của sự gia tăng dân số và nhu cầu SDĐ ngày càng lớn để phục vụ cho nhiều mặt thì vấn đề SDĐ hiệu quả đã trở thành sức

ép ngày càng mạnh đối với chúng ta Chính vì thế, SDĐ hiệu quả và bền vững luôn luôn là hướng đi cho sự tồn tại và phát triển của xã hội

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới (XDNTM) là một chương trình cụ thể hóa Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về nông nghiệp (NN), nông dân, nông thôn XDNTM nhằm phát triển toàn diện: Hệ thống cơ sở hạ tầng ngày càng toàn diện tạo điều kiện phát triển kinh tế, giao lưu hàng hóa; cơ cấu kinh tế hợp lý, thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao; môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; xây dựng nếp sống văn hóa thay đổi bộ mặt nông thôn Với 19 tiêu chí trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM đã có tới

12 tiêu chí liên quan đến đất đai và việc SDĐ đai

Vì vậy, để đánh giá một cách khách quan và khoa học về thực trạng SDĐ phục vụ phát triển Chương trình xây dựng Nông thôn mới là hết sức quan trọng giúp cho việc hoàn thành thực hiện các tiêu chí của xây dựng nông thôn mới

Huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định là một địa phương thuần nông, đời sống nhân dân và kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn Cho nên việc xây dựng nông thôn mới là một hướng đi cần thiết để phát huy thế mạnh địa phương và làm thay đổi bộ mặt nông thôn của huyện Thực hiện mục đích đó, trong Nghị quyết huyện Đảng bộ lần thứ XVIII, giai đoạn 2015 - 2020, huyện đã quyết liệt chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương và người dân tập trung thực hiện để đạt chuẩn nông thôn mới trước thời hạn đặt ra Trong các nhiệm vụ đó thì việc SDĐ như thế nào để đạt hiệu quả, cần phải làm gì, có những giải pháp ra sao…, những hướng giải quyết hợp tình

Trang 11

hợp lý các vấn đề tồn đọng của công tác này để tăng hiệu quả SDĐ và quản lý đất đai mà vẫn đảm bảo hài hòa mối quan hệ giữa các lợi ích là vấn đề được quan tâm hàng đầu trong xây dựng NTM của địa phương

Từ những vẫn đề thực tiễn nêu trên, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đánh

giá thực trạng sử dụng đất phục vụ phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định”

2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu:

Đánh giá được thực trạng SDĐ trong việc phục vụ phát triển chương trình XDNTM ở huyện Hoài Nhơn Từ kết quả nghiên cứu đó đề xuất các giải pháp SDĐ hợp lý góp phần đẩy nhanh chương trình xây dựng NTM trên địa bàn huyện Hoài Nhơn nói riêng và các địa phương còn lại trong tỉnh Bình Định nói chung

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được kết quả trên đề tài cần thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu

- Điều tra thực trạng thực hiện kế hoạch SDĐ trong quá trình xây dựng NTM của huyện Hoài Nhơn

- Đánh giá kết quả SDĐ trong xây dựng NTM

- Làm rõ những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện SDĐ trong xây dựng NTM

- Đề xuất các giải pháp để đẩy nhanh phát triển xây dựng nông thôn trên các

huyện còn lại của tỉnh và trên cả nước

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng SDĐ trong phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài được tiến hành trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định lấy theo địa giới hành chính, nguồn bản đồ (VN-2000) đo đạc năm 2004 có chỉnh lý

Trang 12

biến động hàng năm

- Về nội dung, đề tài chủ yếu tập trung đánh giá thực trạng SDĐ phục vụ Chương trình xây dựng Nông thôn mới trong giai đoạn 2016 - 2019

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập và xử lí số liệu: Thu thập và xử lí các kết quả nghiên cứu có liên quan đã tiến hành trước đó, thông tin số liệu liên quan đến tình hình SDĐ, tình hình thực hiện các chính sách đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất…, trên địa bàn huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

- Phương pháp thống kê: sử dụng để thống kê các số liệu về việc SDĐ, các

dự án, công trình từ đó tính được thu nhập bình quân đầu người theo năm, tỷ lệ hộ nghèo giảm so với các năm trước, tỷ lệ lao động có việc làm, tổ chức sản xuất phục

vụ cho mục đích nghiên cứu

- Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá, so sánh: Phương pháp này được tiến hành sau khi đã thu thập thống kê đầy đủ các tài liệu số liệu cần thiết Từ

đó phân tích, tổng hợp, đánh giá, so sánh các dữ liệu để rút ra nhận xét về mặt thuận lợi khó khăn từ đó đưa ra giải pháp khắc phục, phương pháp này đòi hỏi phải phân tích kỹ lưỡng

- Phương pháp điều tra, khảo sát: Khảo sát thực tế, điều tra thực địa, chụp ảnh So sánh, đối chiếu giữa các chương trình, kế hoạch với thực tế tiến độ thực hiện, nắm bắt được nhu cầu sử dụng đất từ đó thấy được những thuận lợi, khó khăn

về tình hình phát triển chương trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Hoài Nhơn

để có đánh giá tổng quan về vấn đề nghiên cứu

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận văn gồm 3 chương: Chương 1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Chương 2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Hoài Nhơn

Chương 3 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất phục vụ cho xây

dựng nông thôn mới huyện Hoài Nhơn

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Khái quát về đất, đất đai

Theo Luật đất đai của Việt Nam năm 2013: [8]“Đất đai là tài sản phẩm của

tự nhiên, là tài nguyên Quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt có trước lao động và cùng với quá trình lịch sử phát triển kinh tế - xã hội Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân

cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng”

1.1.4 Vai trò và ý nghĩa của sử dụng đất hợp lý

Trong các ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng

là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ

Trang 14

trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản)

Trong các ngành nông - lâm nghiệp: Đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu sự tác động của quá trình sản xuất) và công cụ hay phương tiện lao động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi ) Quá trình sản xuất nông - lâm nghiệp luôn liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu quá trình sinh học tự nhiên của đất [11]

Thực tế cho thấy trong quá trình phát triển xã hội loài người, sự hình thành

và phát triển của mọi nền văn minh vật chất - văn minh tinh thần, thành tựu kỹ thuật vật chất - văn hoá khoa học đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản - SDĐ

Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế xã hội, khi mức sống của con người còn thấp, công năng chủ yếu của đất đai là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong SXNN Điều này có nghĩa đất đai đã cung cấp cho con người tư liệu vật chất

để sinh tồn và phát triển, cũng như cung cấp điều kiện cần thiết về hưởng thụ và đấp ứng nhu cầu cho cuộc sống của nhân loại

Nhiều địa phương thực hiện thành công việc xây dựng các cánh đồng mẫu và phát triển các mô hình sản xuất mới; thực hiện chuyển đổi mục đích sử dụng đất hợp lý để tạo quỹ đất phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, theo đó đã góp phần hoàn thành thêm nhiều tiêu chí NTM Trong sử dụng đất xây dựng nông thôn mới, sử dụng đất hợp lý giúp rút ngắn thời gian, tiến độ hoàn thành xây dựng nông thôn mới

1.1.5 Nông thôn mới

Cho đến nay, chưa có một định nghĩa chuẩn xác được chấp nhận một cách rộng rãi về nông thôn Khi nói về nông thôn, thường thì người ta hay so sánh nông thôn với thành thị

Nông thôn và đô thị là những vùng lãnh thổ có những nét nổi bật cơ bản ở chỗ cả hai không có ranh giới rõ rệt, nhưng cả hai đều có mối liên hệ khít với nhau Các khu vực nông thôn luôn gắn với trung tâm của nó – đó là những vùng đô thị, hay chí ít ra cũng mang những nét căn bản của đô thị Trong lòng các vùng nông thôn luôn tồn tại một trung tâm như thế Vì thế, nảy sinh vấn đề là cần định nghĩa

Trang 15

xem đâu là nông thôn, đâu là đô thị, đồng nghĩa với việc xác định đâu thuộc về vùng nông thôn và đâu thuộc về vùng đô thị, khi đó cần chú ý tới sự giáp ranh giữa

2 khu vực này Trong thực tế phát triển xã hội giữa nông thôn và đô thị có một vùng

“mở” pha tạp giữa nông thôn và đô thị, đó là vùng đô thị hóa và vùng ven đô

Như vậy theo ý kiến phân tích của các nhà xã hội học có thể đưa ra khái niệm tổng quát về nông thôn như sau:

Nông thôn là vùng khác với đô thị ở chỗ là ở đó có một cộng đồng chủ yếu là nông dân làm nghề chính là nông nghiệp; có mật độ dân cư thấp hơn; có kết cấu hạ tầng kém hơn; có mức độ phúc lợi xã hội thua kém hơn; có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và hàng hóa thấp hơn

NTM là nông thôn mà trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ NTM

Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội [11]

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng do Chính phủ Việt Nam xây dựng và triển khai trên phạm vi nông thôn toàn quốc, căn cứ tinh thần của Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn (ngày 5 tháng 8 năm 2008)

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 được Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt ngày 4 tháng 6 năm 2010, có tham vọng đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn NTM và đến năm 2020 có 50% số

xã đạt tiêu chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí quốc gia về NTM

1.1.6 Chương trình xây dựng nông thôn mới

Trang 16

Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ bảy BCH Trung ương Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Thủ tướng Chính phủ

đã ban hành Bộ tiêu chí Quốc gia về nông thôn mới (theo Quyết định số TTg, ngày 16/4/2009); đồng thời phê duyệt Chương trình MTQG về XDNTM giai đoạn 2010 – 2020 (theo Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04/6/2010 và Quyết định

491/QĐ-số 1600/QĐ-TTg, ngày 16/8/2016 của thủ tướng Chính phủ)

Chương trình mục tiêu Quốc gia về XDNTM được triển khai trên địa bàn các

xã trong phạm vi cả nước, nhằm phát triển nông thôn toàn diện, với nhiều nội dung liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, hệ thống chính trị cơ sở Theo Lê Xuân Tâm (2014) thì đây là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng trên địa bàn nông thôn toàn quốc

Theo đó, Chương trình MTQG về XDNTM gồm 11 nội dung, với Bộ tiêu chí quốc gia gồm 19 tiêu chí, nhằm XDNTM có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn PTNT với phát triển đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ ổn định, giầu bản sắc văn hoá dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh chính trị được giữ vững; đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng tăng cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình thực hiện cần tuân thủ theo 5 nguyên tắc và phương pháp tiếp cận đó là: (1) Lấy xã làm địa bàn tổ chức thực hiện; (2) Xây dựng NTM dựa theo Bộ tiêu chí quốc gia; (3) Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng; (4) Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn, hỗ trợ; (5) Là chương trình khung của phát triển nông thôn tổng hợp[12]

1.1.7 Nội dung chương trình xây dựng nông thôn mới

Phát triển nông thôn là một quá trình và được thể hiện trên nhiều mặt như: Kinh tế nông thôn, xã hội nông thôn, địa lý tự nhiên và môi trường nông thôn Việc nghiên cứu nông thôn có thể đi sâu vào các khía cạnh cụ thể hơn như các vấn đề hoạt động của nông nghiệp và công nghiệp hóa nông thôn, dân số và lao động nông

Trang 17

thôn, đời sống của các tầng lớp dân cư nông thôn (Mai Thanh Cúc, 2005)

PTNT không thể tách rời nông thôn với đô thị mà trái lại cần phải thể hiện mối quan hệ chặt chẽ, cộng sinh giữa nông thôn với thành thị trong vùng nghiên cứu, dựa theo các tiêu chí của phát triển kinh tế - xã hội, chính trị, văn hóa, và môi trường PTNT chỉ có thể đạt kết quả tốt trên cơ sở tăng trưởng kinh tế Nguyên tắc chính của phát triển nông thôn là phải có tính bền vững đối với phát triển con người, phát triển kinh tế, môi trường, phát triển các tổ chức khi phát triển nông thôn Phát triển nông thôn cần có tính hợp tác và tính toàn diện và tính cộng đồng thể hiện ở các mặt sau (Mai Thanh Cúc, 2005):

- Dân chủ và an toàn

- Bình đẳng và công bằng xã hội

- Bền vững chất lượng cuộc sống cho người dân

- Sự tham gia của người dân trong hợp tác với Chính phủ

- Tôn trọng quá khứ của tổ tiên và quyền lợi của các thế hệ mai sau

- Tăng cường và đa dạng hóa nền kinh tế nông thôn

- Đảm bào cho người dân có lợi ích từ các hoạt động của địa phương họ

- Thúc đẩy phồn vinh lâu dài ở nông thôn hơn là chỉ chú trọng lợi ích trước mắt

- Giảm thiểu sử dụng tài nguyên không có khả năng tái tạo

- Sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và không gây ô nhiễm và ảnh hưởng xấu đến môi trường

- Nâng cao năng lực của các tổ chức phù hợp với mức độ phát triển, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý tất cả các hoạt động phát triển con người, kinh tế và môi trường

- Không gây ra loại chi phí không được hỗ trợ trong tương lai …

1.1.8 Các tiêu chí xây dựng nông thôn mới

Theo Quyết định số 1980/QĐ-TTg ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Thủ tướng chính phủ, về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2016-

Trang 18

2020 đã quy định 19 tiêu chí của NTM là: Quy hoạch; Giao thông: Thủy lợi; Điện; Trường học; Cơ sở vật chất văn hóa; Cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn; Thông tin và truyền thông; Nhà ở dân cư; Thu nhập; Hộ nghèo; Lao động có việc làm; Tổ chức sản xuất; Giáo dục và đào tạo; Y tế, Văn hóa; Môi trường và an toàn thực phẩm; Hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật; Quốc phòng và an ninh

* Các nhóm tiêu chí: gồm 5 nhóm

- Nhóm I: Quy hoạch (có 01 tiêu chí)

- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí)

- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí)

- Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí)

- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí)

1.2 Tình hình xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Trên thế giới

* Mỹ phát triển ngành “kinh doanh nông nghiệp”

Mỹ là nước có điều kiện tự nhiên cực kỳ thuận lợi để phát triển nông nghiệp Vùng Trung Tây của nước này có đất đai màu mỡ nhất thế giới Lượng mưa vừa đủ cho hầu hết các vùng của đất nước; nước sông và nước ngầm cho phép tưới rộng khắp cho những nơi thiếu mưa

Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm được đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty

đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng Cũng giống như một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn

Trang 19

Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhưng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều Đôi khi được sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn Vào năm 1940, Mỹ có 6 triệu trang trại và trung bình mỗi trang trại có diện tích khoảng 67 ha, đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, số trang trại chỉ còn 2,2 triệu nhưng trung bình mỗi trang trại có diện tích 190 ha Cũng chính trong khoảng giai đoạn này, số lao động nông nghiệp giảm rất mạnh - từ 12,5 triệu người năm 1930 xuống còn 1,2 triệu người vào cuối thập niên 90 của thế kỷ trước - dù cho dân số của Mỹ tăng hơn gấp đôi Và gần 60% trong số nông dân còn lại đó đến cuối thế kỷ này chỉ làm việc một phần thời gian trên trang trại; thời gian còn lại họ làm những việc khác không thuộc trang trại để

bù đắp thêm thu nhập cho mình [11]

* Tình hình thực hiện quy hoạch nông thôn mới tại Nhật Bản

Từ thập niên 70 của thế kỷ trước, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tương xứng với sự phát triển chung của cả nước Nhật Bản Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào

“Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu được nhiều thắng lợi rực rỡ Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phương trên đất nước Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu được những thành công nhất định trong phát triển nông thôn của đất nước mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”

Những kinh nghiệm của phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” được những người sáng lập, các nhà nghiên cứu đúc rút để ngày càng có nhiều người, nhiều khu vực và quốc gia có thể áp dụng trong chiến lược phát triển nông thôn, nhất là phát triển nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa đất nước mình [11]

* Hàn Quốc thực hiện phong trào Làng mới

Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu người của Hàn Quốc

Trang 20

chỉ có 85 USD; phần lớn người dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá Là nước nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thường xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đưa đất nước thoát khỏi đói, nghèo

Phong trào Làng mới (SU-Saemaul Undong) ra đời với 3 tiêu chí: cần cù (chăm chỉ), tự lực vượt khó, và hợp tác (hiệp lực cộng đồng) Năm 1970, sau những

dự án thí điểm đầu tư cho nông thôn có hiệu quả, Chính phủ Hàn Quốc đã chính thức phát động phong trào SU và được nông dân hưởng ứng mạnh mẽ Họ thi đua cải tạo nhà mái lá bằng mái ngói, đường giao thông trong làng, xã được mở rộng, nâng cấp; các công trình phúc lợi công cộng được đầu tư xây dựng Phương thức canh tác được đổi mới, chẳng hạn, áp dụng canh tác tổng hợp với nhiều mặt hàng mũi nhọn như nấm và cây thuốc lá để tăng giá trị xuất khẩu Chính phủ khuyến khích và hỗ trợ xây dựng nhiều nhà máy ở nông thôn, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho nông dân

Bộ mặt nông thôn Hàn Quốc đã có những thay đổi hết sức kỳ diệu Chỉ sau 8 năm, các dự án phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn cơ bản được hoàn thành Trong 8 năm từ 1971-1978, Hàn Quốc đã cứng hóa được 43.631km đường làng nối với đường của xã, trung bình mỗi làng nâng cấp được 1.322m đường; cứng hóa đường ngõ xóm 42.220km, trung bình mỗi làng là 1.280m; xây dựng được 68.797 cầu (Hàn Quốc là đất nước có nhiều sông suối), kiên cố hóa 7.839km đê, kè, xây 24.140 hồ chứa nước

và 98% hộ có điện thắp sáng Đặc biệt, vì không có quỹ bồi thường đất và các tài sản khác nên việc hiến đất, tháo dỡ công trình, cây cối, đều do dân tự giác bàn bạc, thỏa thuận, ghi công lao đóng góp và hy sinh của các hộ cho phong trào

Từ đó, tạo phong trào cơ khí hóa trong SXNN, áp dụng công nghệ cao, giống mới lai tạo đột biến, công nghệ nhà lưới, nhà kính trồng rau, hoa quả đã thúc đẩy năng suất, giá trị sản phẩm nông nghiệp, tăng nhanh Năm 1979, Hàn Quốc đã có 98% số làng tự chủ về kinh tế

Phong trào SU của Hàn Quốc đã biến đổi cộng đồng vùng nông thôn cũ thành cộng đồng NTM ngày một đẹp hơn và giàu hơn Khu vực nông thôn trở thành

xã hội năng động có khả năng tự tích lũy, tự đầu tư và tự phát triển Phong trào SU,

Trang 21

với mức đầu tư không lớn, đã góp phần đưa Hàn Quốc từ một nước nông nghiệp lạc hậu trở nên giàu có [11]

* Thái Lan

Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân

Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với các hình thức, như tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị; phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, từ đó góp phần ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết những mâu thuẫn

có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong SXNN Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước…

Thái Lan đã tập trung phát triển các ngành mũi nhọn như sản xuất hàng nông nghiệp, thủy, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nhất là các nước công nghiệp phát triển

Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được

Trang 22

nhiều ngoại tệ cho đất nước Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình Mỗi làng một sản phẩm [11]

Một số kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, nông thôn nêu trên cho thấy, những ý tưởng sáng tạo, khâu đột phá và sự trợ giúp hiệu quả của nhà nước trên cơ sở phát huy tính tự chủ, năng động, trách nhiệm của người dân để phát triển khu vực này, có ý nghĩa và vai trò hết sức quan trọng đối với việc công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành công nông nghiệp - tạo nền tảng thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

1.2.2 Tại Việt Nam

Để đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng mô hình nông thôn mới cấp xã tại các địa phương, năm 2008, Ban Chỉ đạo Trung ương triển khai việc thực hiện đề án về chương trình xây dựng thí điểm mô hình nông thôn mới theo chủ trương của Nghị quyết số: 26-NQ/TW “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Ðề án đã lựa chọn 11

xã có mức phát triển trung bình khá thuộc 11 tỉnh, thành phố, đại diện cho các vùng khác nhau của đất nước, với mục tiêu là xây dựng 11 xã trở thành các mô hình điểm

về nông thôn mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo 5 nội dung lớn thể hiện 5 đặc trưng về nông thôn mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa được Nghị quyết số: 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) đề ra và được

cụ thể hóa thành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới bao gồm 19 tiêu chí do thủ tướng chính phủ ban hành kèm theo quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/4/2009 Sau khi được Ban Chỉ đạo Trung ương thẩm định, góp ý, đã được Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới các tỉnh, thành phố phê duyệt và đang được tích cực triển khai thực hiện để rút ra những kinh nghiệm thiết thực, phục vụ việc triển khai thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới trong phạm vi cả nước

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về tiến trình xây dựng mô hình phát triển nông thôn mới và nghiên cứu tình hình phát triển nông thôn của nước ta trong những năm qua cho thấy xây dựng mô hình nông thôn mới là sự nghiệp mang tính chiến lược, việc xây dựng nông thôn mới ở mỗi vùng có những kết quả khác nhau, nhưng có thể khái quát thành những kinh nghiệm trong quá trình

Trang 23

xây dựng để có thể đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát triển nông, lâm nghiệp phù hợp điều kiện cụ thể từng nơi, phát triển trang trại với quy mô hợp lý, phát triển sản xuất liên ngành nông, lâm - công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp - dịch vụ Phát triển nhanh kết cấu hạ tầng nông thôn như giao thông, điện thuỷ lợi, thông tin liên lạc, các chợ nông thôn Tăng cường ứng dụng các thành tựu mới của khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất Mở rộng và phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm Phát triển giáo dục, y tế, xây dựng các cộng đồng văn hóa mới, nhân rộng các mô hình xã hội nông thôn, giải quyết căn bản các tệ nạn xã hội Định canh, định cư, phát triển các vùng sâu, vùng xa, vùng cao gắn với xóa đói, giảm nghèo Coi trọng các chính sách phát triển kinh tế nông thôn Phát triển hài hòa giữa kinh tế nông thôn và môi trường

Xây dựng và phát triển mô hình nông thôn mới là sự nghiệp to lớn của đất nước xây dựng mô hình nông thôn mới vừa trực tiếp nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đa số người dân đang sống ở nông thôn, vừa tạo tiền đề để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần ổn định chính trị xã hội, bảo vệ môi trường Tuy vậy đây là vấn đề rất rộng lớn và phức tạp

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển đó, nên cần có các chỉ tiêu rất cụ thể

để đánh giá

Xây dựng mô hình nông thôn mới nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh Thực trạng phát triển nôngthôn đã đạt được những kết quả đáng kể, song với mục tiêu cần đạt và so với nông thôn của các nước phát triển, nông thôn Việt Nam vẫn còn lạc hậu, vẫn còn quá nhiều khó khăn, thách thức Vì vậy xây dựng mô hình nông thôn mới là cần thiết, là sự nghiệp hết sức to lớn và đặc biệt quan trọng đối với cả nước nói chung và huyện Hoài Nhơn nói riêng

* Xây dựng nông thôn mới tỉnh Phú Yên

Theo báo cáo của UBND tỉnh, qua 10 năm tập trung huy động mọi nguồn lực xây dựng NTM, đến nay, hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được nâng cấp làm thay

Trang 24

đổi cơ bản cảnh quan môi trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Các tiêu chí xây dựng NTM từ đạt thấp sau đó nâng lên rồi hoàn thiện

Theo Văn phòng Điều phối XDNTM tỉnh, tổng nguồn lực thực hiện đề án Bê tông hóa đường giao thông nông thôn và miền núi là 1.373,3 tỉ đồng Trong đó, ngân sách tỉnh hỗ trợ trên 690,4 tỉ đồng; ngân sách huyện là 198,3 tỉ đồng; ngân sách xã là 29,5 tỉ đồng và nhân dân đóng góp 454,8 tỉ đồng

Đối với tiêu chí thủy lợi (Tiêu chí 3), toàn tỉnh hiện có 304 công trình, trong

đó 43 công trình hồ chứa thủy lợi, 115 công trình đập dâng, 146 trạm bơm tưới Thời gian qua, hệ thống thủy lợi, đê kè được đầu tư, nâng cấp theo hướng đa mục tiêu Theo đó, kênh mương nội đồng được kiên cố từ 773km (năm 2015) thì nay tăng lên 2.123,6/2.167km, đạt 98%, kiên cố hóa kênh mương tăng thêm 1.350,6km

so với giai đoạn 2011-2015 Đến nay, có 86/88 xã đạt tiêu chí thủy lợi, chiếm 98% tổng số xã toàn tỉnh, tăng thêm 80 xã so với năm 2011, tăng 27 xã so với năm 2015

Phong trào xây dựng NTM lan tỏa sâu rộng từ đồng bằng đến miền núi Năm

2019, huyện miền núi Sơn Hòa có 2 xã Sơn Định, Sơn Xuân được UBND tỉnh công nhận xã đạt chuẩn MTM (trước đó, Sơn Hòa cũng đã có hai xã là Sơn Hà, Sơn Nguyên được UBND tỉnh công nhận đạt chuẩn NTM) Đối với xã Sơn Định, năm

2017, đạt 13/19 tiêu chí, thời gian qua, xã phấn đấu thực hiện các tiêu chí còn lại, trong đó có tiêu chí khó đối với vùng miền núi là tiêu chí số 11 (hộ nghèo) và tiêu chí số 12 (lao động có việc làm)

* Xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ngãi

Sau gần 10 năm triển khai thực hiện, phong trào xây dựng NTM đã thực sự

có sức lan tỏa mạnh mẽ, rộng khắp, được cả hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân cả nước nhiệt tình hưởng ứng, tích cực tham gia

Tổng nguồn vốn thực hiện chương trình là hơn 15.691 tỷ đồng Từ nguồn vốn này đã đầu tư từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân Đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao

Hiện nay, toàn tỉnh có 59 xã được công nhận đạt chuẩn NTM, chiếm 36%

Trang 25

tổng số xã và không còn xã dưới 5 tiêu chí Số tiêu chí bình quân/xã là 14,15, tăng hơn 10 tiêu chí so với năm 2011, tăng hơn 5 tiêu chí so với cuối năm 2015 Toàn tỉnh có 3 thôn được công nhân khu dân NTM kiểu mẫu Huyện Nghĩa Hành, Huyện

Tư Nghĩa được công nhận đạt chuẩn NTM

Qua 4 năm triển khai thực hiện đề án tái cơ cấu nông nghiệp, giá trị sản xuất toàn ngành từ năm 2015 đến 2018 mỗi năm bình quân tăng 5,5% Sau 3 năm đã giảm được gần 18.500 hộ nghèo

Tuy nhiên, nguồn lực của Nhà nước đầu tư trực tiếp cho chương trình chưa đáp ứng được yêu cầu Kết quả xây dựng NTM không đồng đều ở các địa phương,

ở các xã miền núi tiêu chí đạt được còn thấp Số tiêu chí bình quân/xã là 14,15, thấp hơn so với bình quân chung của cả nước (15,26)

* Xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Bình

Trong 10 năm (2010 - 2020), nếu như kết quả huy động nguồn lực xây dựng NTM của cả nước với tỷ lệ 10,9% ngân sách địa phương, 8,3% người dân và cộng đồng đóng góp; thì ở Thái Bình, những tỷ lệ này cao vượt trội, tương ứng: 51,4% và 18,2% Cụ thể, tổng nguồn vốn huy động đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn của tỉnh (bằng tiền, ngày công, xi măng tỉnh hỗ trợ 1.281.854 tấn, hiến đất, tài sản, ) ước khoảng 22.236 tỷ đồng Trong đó: Nguồn ngân sách Trung ương hỗ trợ 1.456,7

tỷ đồng (chiếm 6,5%); nguồn ngân sách tỉnh 5.201 tỷ đồng (chiếm 23,4%); nguồn ngân sách huyện, thành phố 1.911 tỷ đồng (chiếm 8,6%); nguồn ngân sách xã 4.303,7 tỷ đồng (chiếm 19,4%); nguồn vốn lồng ghép từ các dự án khác 2.870 tỷ đồng (chiếm 12,9%); nguồn vốn huy động từ các doanh nghiệp, tổ chức 1.259,3 tỷ đồng (chiếm 5,7%); nguồn vốn tín dụng 1.177,6 tỷ đồng (chiếm 5,3%); nguồn huy động nhân dân đóng góp (cả kêu gọi con em xa quê) 4.056,9 tỷ đồng, chiếm 18,2% (tiền mặt, ngày công đóng góp, hiến đất, ) Với các nguồn lực đầu tư, toàn tỉnh đã cứng hóa 1.275,51 km kênh mương cấp 1 loại 3; xây dựng và nâng cấp 3.780,58 km đường giao thông nội đồng; 1.090,22 km đường trục xã; 1.910,93 km đường trục thôn; 3.192,17 km đường nhánh cấp 1 trục thôn; 2.215 km đường ngõ xóm; 29 trạm bơm; 248 cống đập; đầu tư mới 23 trạm cấp nước sạch, nâng cấp và mở rộng phạm

Trang 26

vi cấp nước 34 trạm cấp nước sạch; 207 trường trung học cơ sở, tiểu học và mầm non; 85 nhà văn hóa xã; 984 nhà văn hóa thôn; 125 sân thể thao xã; 130 sân thể thao thôn; 180 trạm y tế; 137 chợ nông thôn; 99 xã hoàn thành nâng cấp lưới điện nông thôn; 247 khu xử lý rác thải và lò đốt rác; 21 nghĩa trang được quy hoạch và xây dựng mới; hỗ trợ xây dựng, nâng cấp trên 6.100 nhà ở cho người có công, người nghèo,

Đặt mục tiêu đến năm 2020, cơ bản hoàn thành xây dựng NTM, trên 80% số

xã đạt tiêu chí NTM, các xã còn lại đạt 18 tiêu chí/xã, 06 huyện trở lên đạt tiêu chí NTM; song, kết quả thực tế đạt được của Thái Bình đã vượt chỉ tiêu các nghị quyết của tỉnh đề ra, cũng như chỉ tiêu Chính phủ giao cho tỉnh Đến nay, tỉnh Thái Bình có 100% số xã, 100% số huyện được công nhận đạt chuẩn NTM và Thành phố Thái Bình hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM Lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về kết quả xây dựng NTM ở các địa phương, đại đa số các hộ dân đều phấn khởi, hài lòng và cho rằng đây là một chủ trương đúng đắn, đem lại nhiều thành tựu quan trọng Nhìn lại cả một hành trình xây dựng nông thôn mới ở Thái Bình, không thể không thừa nhận bộ mặt nông thôn thực sự đổi mới và khởi sắc với kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường; SXNN nói riêng, phát triển kinh tế nói chung tăng trưởng ổn định; thu nhập và chất lượng đời sống người dân được cải thiện và nâng cao; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, dân chủ ở cơ sở được phát huy [18]

* Xây dựng nông thôn mới tỉnh Đắk Lắk

Ngày 05/4, Văn phòng UBND tỉnh ban hành Thông báo Kết luận số VPUBND của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk tại Hội nghị sơ kết phong trào thi

59/TB-đua “Đắk Lắk chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016-2020

Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, đến nay toàn tỉnh có 43 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt tỷ lệ 28,3%), bình quân đạt 13,84 tiêu chí/xã; không còn xã đạt dưới 5 tiêu chí; thành phố Buôn Ma Thuột đã hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 trong năm 2018 và đang hoàn tất thủ tục, hồ sơ trình cấp thẩm quyền công nhận Trong 3 năm (2016 – 2018), toàn tỉnh đã

Trang 27

huy động hơn 13.653 tỷ đồng để thực hiện Chương trình, trong đó vốn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương là 1.518 tỷ đồng và các nguồn huy động khác đặc biệt nguồn đóng góp của nhân dân là 1.300 tỷ đồng

Để thực hiện hiệu quả Chương trình xây dựng NTM trong thời gian tới, UBND tỉnh đề nghị các cấp, các ngành, địa phương cần tập trung rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu, kế hoạch xây dựng NTM đã đề ra nhằm tiếp tục phấn đấu hoàn thành đạt hiệu quả cao; đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng về xây dựng NTM bằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú nhằm triển khai sâu rộng và thiết thực phong trào thi đua “Đắk Lắk chung sức xây dựng nông thôn mới”; tiếp tục đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương thực hiện hiệu quả các nội dung của Chương trình xây dựng NTM nhằm sớm hoàn thành các tiêu chí NTM theo hướng chú trọng vào chất lượng

và bền vững Trong đó lưu ý cần đẩy mạnh tiến độ hoàn thiện cơ cấu hạ tầng thiết yếu trên địa bàn xã, tập trung ở các xã nghèo, đặc biệt khó khăn; ưu tiên huy động các nguồn lực để hỗ trợ 51 thôn, buôn thuộc 4 xã biên giới của tỉnh theo đề án hỗ trợ thôn, bản, ấp của xác xã đặc biệt khó khăn; tiếp tục ưu tiên, thúc đẩy và hỗ trợ phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị nhằm tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá chất lượng cao, mang tính đặc trưng của địa phương, chú trọng đẩy mạnh công tác triển khai Chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP) giai đoạn 2018 – 2020; nâng cao chất luợng đời sống văn hóa, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn xã hội, gắn kết chặt chẽ xây dựng NTM với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, xây dựng và triển khai Đề án “Phát triển du lịch nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới [20]

* Bài học kinh nghiệm

Trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM

ở các một số tỉnh nghiên cứu, rút ra một số kinh nghiệm:

Một là, nơi nào cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm chính trị cao, quyết liệt, quyết đoán trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một cách thống nhất, đồng bộ, xác định rõ nội dung trọng tâm, trọng điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo

và phù hợp điều kiện thực tiễn cụ thể của từng địa bàn thì nơi đó tình hình có sự

Trang 28

chuyển biến tốt và đạt kết quả cao theo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra; hiện thực hóa phương châm hành động của cả hệ thống chính trị và người dân, đó là phải đạt được

"bốn chữ đồng": đồng lòng, đồng thuận, đồng hành và đồng tiến, thì dù việc gì

khó khăn đến đâu cũng thực hiện được và thực hiện có kết quả

Hai là, trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ xây dựng NTM phải xác định và thể hiện "bốn rõ", đó là: Rõ về trách nhiệm của từng tổ chức; Rõ

về nội dung, nhiệm vụ phải thực hiện của từng tổ chức; Rõ về phương thức, biện pháp, cách thức tổ chức thực hiện của tổ chức mình; Rõ về kết quả đạt được do tổ chức mình tạo ra

Ba là, đối với trách nhiệm của chính quyền, nhất là đối với chính quyền cơ

sở phải bảo đảm "bốn sâu sát", đó là: Sâu sát tình hình sản xuất và đời sống của nông dân; Sâu sát với thực tiễn địa bàn cơ sở; Sâu sát với nhu cầu, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân; Sâu sát với tình hình diễn biến của thị trường nông sản hàng hóa để thực hiện tốt công tác định hướng, hướng dẫn, hỗ trợ tích cực nông dân phát triển sản xuất, đáp ứng được yêu cầu của thị trường, nâng cao thu nhập của người nông dân Từ đó người dân có điều kiện để tiếp tục tham gia đóng góp xây dựng NTM

Bốn là, đối với cán bộ, đảng viên, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cơ sở phải thực hiện nghiêm, đầy đủ "bốn phải", đó là: Phải ưu tiên tập trung dành thời gian, công sức, trí tuệ để lãnh đạo, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc tổ chức thực hiện; Phải gần gũi, tôn trọng, thấu hiểu, đối thoại, giải thích, giải đáp, giải quyết kịp thời, có kết quả những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra đối với nông dân trong quá trình sản xuất và đời sống; Bản thân và gia đình phải gương mẫu thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ nơi cư trú; Phải thống nhất giữa lời nói đúng và việc làm đúng để làm gương tốt, tạo sự lan tỏa nhằm phát huy hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ

Năm là, đặc biệt coi trọng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động và "Dân vận khéo" với cách thức, phương pháp tuyên truyền cụ thể, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ để nông dân hiểu và nhận thức đúng và đầy đủ về trách nhiệm, vai trò chủ thể

Trang 29

của mình, hiện thực hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân quyết định, dân làm, dân giám sát, dân thụ hưởng"; ngoài sự hỗ trợ của nhà nước, vấn đề có ý nghĩa quan trọng là phải biết phát huy trí tuệ và sức mạnh của nhân dân, huy động hợp lý các nguồn lực trong dân để xây dựng NTM; mọi huy động đóng góp của dân phải được bàn bạc, công khai, dân chủ, đồng thuận cao trong cộng đồng dân cư để nhân dân hiến kế, đề xuất cách thức thực hiện, khi nhân dân thấy được kết quả, lợi ích thiết thực, từ đó tăng thêm lòng tin, đồng lòng, đồng thuận, đồng hành của nhân dân trong quá trình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xây dựng NTM

1.2.3 Tại tỉnh Bình Định

Chương trình XDNTM ở Bình Định bắt đầu từ năm 2011, theo Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 22/8/2011 của Tỉnh ủy Bình Định về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh về

“Xây dựng NTM của tỉnh giai đoạn 2011-2015, tầm nhìn đến năm 2020

Tháng 10 năm 2019, tại thành phố Quy Nhơn, Ban chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh Bình Định tổ chức Hội nghị tổng kết Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM tỉnh Bình Định, giai đoạn 2011-2020 Chương trình xây dựng NTM nhận được sự quân tâm, chỉ đạo sâu sát, kịp thời của Ban chỉ đạo xây dựng NTM tỉnh, các ngành, các cấp từ tỉnh đến huyện, xã Chương trình đã làm thay đổi nhận thức của đại đa số người dân, thu hút họ chung tay xây dựng NTM Từ chỗ số đông còn

tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào đầu tư của Nhà nước đã chuyển dần sang chủ động, tự tin tham gia tích cực vào xây dựng NTM Xây dựng NTM trở thành phong trào sôi nổi khắp cả tỉnh

Nông thôn mới trở thành hiện thực, hệ thống hạ tầng nông thôn phát triển mạnh mẽ, làm thay đổi bộ mặt nhiều vùng nông thôn Điều kiện sống vật chất và tinh thần của phần lớn dân cư nông thôn được nâng lên rõ rệt SXNN hàng hóa được chú trọng và có chuyển biến, góp phần tích cực nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn Vai trò của các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể ở nhiều nơi được phát huy, dân chủ ở nông thôn được nâng lên về chất Những nơi xây dựng NTM thành công, niềm tin của người dân vào các chủ trương, chính sách, sự lãnh đạo của

Trang 30

các cấp ủy Đảng và chính quyền được nâng cao

Kết quả đạt được đến nay, tỉnh Bình Định có 02 đơn vị cấp huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM năm

2018 là huyện Hoài Nhơn và huyện An Nhơn Tổng kết 5 năm (2011-2015) tỉnh Bình Định được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động hạng nhất kèm 40 tỷ tiền thưởng xây dựng hạ tầng kinh tế xã hội về thành tích dẫn đầu khu vực Duyên hải Nam Trung bộ và Tây nguyên Tổng kết giai đoạn 2011-2020, tỉnh Bình Định

có 77/121 xã đạt chuẩn NTM (vượt chỉ tiêu phấn đấu Nghị quyết Tỉnh Đảng bộ lần thứ 19)

Mục tiêu phấn đấu năm 2020, công nhận huyện Tuy Phước đạt chuẩn NTM

và dự kiến công nhận ít nhất 08 xã đạt chuẩn NTM năm 2020; lũy kế đến năm 2020

có ít nhất 85 xã công nhận đạt chuẩn NTM và 04 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn, hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM

Bước sang giai đoạn 2021-2025, Bình Định tiếp tục triển khai có hiệu quả các nội dung của Chương trình đảm bảo chất lượng và bền vững; phát huy những thế mạnh và tiềm năng, lợi thế của từng địa phương, từng vùng; khắc phục triệt để những yếu kém tồn tại, góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình để dần thu hẹp khoảng cách giữa các vùng của tỉnh; đảm bảo thực sự nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn; bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống

Bình Định phấn đấu mục tiêu giai đoạn 2021-2025, công nhận 03 huyện đạt chuẩn NTM, gồm Phù Cát, Phù Mỹ, Tây Sơn; nâng tổng số đơn vị cấp huyện đạt chuẩn NTM là 7/11 huyện, huyện, thành phố; xây dựng 01 huyện NTM kiểu mẫu; 85% số xã đạt chuẩn NTM; 85% số thôn (làng) thuộc xã khó khăn được công nhận đạt chuẩn NTM; thu nhập bình quân đầu người dân nông thôn đến năm 2025 tăng ít nhất 1,8 lần so với năm 2020

Trang 31

Bảng 1 1 Bảng tổng hợp kết quả thực hiện tiêu chí huyện nông thôn mới

huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến tháng 7 năm 2019

TT Tên tiêu chí Nội dung tiêu chí tiêu Chỉ thực hiện Kết quả

Kết quả tự đánh giá của huyện

1 Quy hoạch Có quy hoạch xây dựng trên địa bàn huyện

2 Giao thông

Hệ thống giao thông trên địa bàn huyện đảm

Tỷ lệ km đường huyện đạt chuẩn theo quy

Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện đạt chuẩn,

có các hoạt động văn hóa - thể thao phù hợp kết nối với các xã có hiệu quả

7 Môi trường

Hệ thống thu gom, xử lý chất thải rắn trên địa

Cơ sở sản xuất, chế biến, dịch vụ (công nghiệp, làng nghề, chăn nuôi, chế biến lương thực - thực phẩm) thực hiện đúng các quy định về bảo vệ môi trường

Văn phòng ĐP Chương trình NTM cấp huyện

Nguồn: UBND huyện Hoài Nhơn, Bình Định

Qua bảng trên, kết quả thực hiện tiêu chí huyện NTM huyện Hoài Nhơn cho thấy đến giữa năm 2019, tất cả các tiêu chí về XDNTM đã đạt được, hoàn thành mục tiêu XDNTM

Trang 32

CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN

HUYỆN HOÀI NHƠN

2.1 Điều kiện xây dựng nông thôn mới

2.1.1 Điều kiện tự nhiên

Hình 2 1 Bản đồ vị trí huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định

Trang 33

2.1.1.1 Vị trí địa lí

Huyện Hoài Nhơn (nay là thị xã Hoài Nhơn từ ngày 01/6/2020) nằm ở phía bắc tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn 87 km Có Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt thống nhất Bắc - Nam đi qua, là cửa ngõ giao lưu kinh tế quan trọng ở phía bắc tỉnh Bình Định, là điểm đầu mối giao thông quan trọng đến các huyện Hoài

Ân, An Lão và là vùng đất giàu truyền thống cách mạng, có nhiều tiềm năng về đất đai, lao động, ngành nghề

Tọa độ địa lý từ 1080 56' đến 1090 06'50" kinh độ Đông và 140 21' 20" đến

140 31'30" vĩ độ Bắc

- Phía Bắc giáp huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi)

- Phía Nam giáp huyện Phù Mỹ - (tỉnh Bình Định)

- Phía Tây giáp huyện Hoài Ân và An Lão

- Phía Đông giáp Biển Đông

* Đơn vị hành chính: Toàn huyện có 17 đơn vị hành chính gồm 6 xã và 11

phường: Các xã gồm: Hoài Sơn, Hoài Châu, Hoài Châu Bắc, Hoài Phú, Hoài Mỹ, Hoài Hải, các phường gồm: Hoài Hảo, Hoài Tân, Hoài Đức, Hoài Xuân, Hoài Thanh, Hoài Thanh Tây, Hoài Hương, Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc, Bồng Sơn, Tam Quan

2.1.1.2 Địa chất, địa hình

a) Địa chất: Trên địa bàn huyện có 3 loại đá chính, gồm: đá Granite, đá Gneis và đá Bazan được phong hóa thành 9 nhóm đất chính chiếm phần lớn diện tích của huyện đặc biệt ở vùng đồi núi Thành phần cơ giới nhẹ, đất chua, nghèo các chất dinh dưỡng dễ tiêu

Địa chất động lực ổn định, không xảy ra động đất, sụt lún khu vực Địa chất công trình tốt, thuận lợi cho việc xây dựng phát triển

b) Địa hình: Địa hình huyện Hoài Nhơn có xu hướng thấp dần về hướng Đông Bắc và chia làm 2 dạng địa hình chính:

- Dạng địa hình đồng bằng: Được bao bọc bởi các dãy núi như một thung

Trang 34

lũng 3 mặt (Bắc, Tây, Nam) với độ cao trung bình 8m - 10m, nơi cao nhất giáp các dãy núi là 25 m, nơi thấp nhất là giáp biển 1 m

- Dạng địa hình đồi núi thấp: Núi nối liền nhau thành một dãy hình cung, độ cao bình quân là 400 m, thấp nhất là 100 m, cao nhất là 725 m (núi La Vuông, Hoài Sơn)

Nhìn chung, 2 dạng địa hình này mang đặc điểm khác nhau, chi phối đến sản xuất nông, lâm nghiệp của huyện

2.1.1.3 Thổ nhưỡng

Theo số liệu thống kê, tính đến 31/12/2018, huyện Hoài Nhơn có tổng diện tích tự nhiên 420,84 km2 (42.084,36 ha) trong đó:

- Diện tích ĐNN: 346,60 km2 (34.660,73 ha), chiếm 82,36%;

- Diện tích đất phi nông nghiệp: 70,47 km2 (7.047,28 ha), chiếm 16,75%;

- Diện tích đất chưa sử dụng: 3,76 km2 (376,35 ha), chiếm 0,89%

2.1.1.4 Khí hậu, thủy văn

- Khí hậu: Hoài Nhơn có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Nam Trung bộ, với đặc trưng:

+ Mùa khô: Từ tháng I đến tháng VIII, lượng mưa rất ít, độ ẩm thấp Đặc biệt mùa này có gió Tây khô nóng kéo dài khoảng 35 ngày - 40 ngày

+ Mùa mưa: Từ tháng IX đến tháng XII, lượng mưa chiếm đến 75-80% lượng mưa năm, độ ẩm cao >86% Đặc biệt mùa này có gió mùa Đông Bắc và bão

có tốc độ gió mạnh, xoáy, kéo theo mưa lớn, gây nên lũ lụt

- Nhiệt độ: Nền nhiệt độ cao, ánh sáng dồi dào, chênh lệch ngày đêm không lớn Nhiệt độ trung bình cả năm: 26,270C, thấp hơn trung bình toàn tỉnh khoảng 0,30C Tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (23,30C); tháng có nhiệt độ cao nhất

là tháng 6, tháng 7 (30,50C), biên độ nhiệt ngày đêm trung bình 50C - 80C

- Lượng mưa, bốc hơi, số giờ nắng:

+ Lượng mưa trung bình năm: 2.100 mm, cao hơn mức trung bình toàn tỉnh (1.900 mm) Mùa mưa tập trung trong 4 tháng, chiếm khoảng 75% tổng lượng mưa

Trang 35

cả năm, trùng với mùa bão nên thường gây lũ lụt Chế độ mưa phân bố không đều, tập trung theo mùa, chủ yếu vào 4 tháng mùa mưa (tháng VIII, IX, X và XI), chiếm

>75% tổng lượng mưa năm

+ Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm đạt khoảng 1.400 mm

+ Số giờ nắng trong năm khoảng 2.360 giờ, tháng 12 có số giờ nắng ít nhất (khoảng 109 giờ), tháng IV và tháng V có số giờ nắng nhiều nhất trong năm (245 giờ -250 giờ)

- Độ ẩm không khí: trung bình: 80%; độ ẩm không khí thấp nhất: 75% (tháng VII), cao nhất 86% (tháng X)

- Thủy văn: Huyện Hoài Nhơn có sông Lại Giang được hội tụ bởi sông Kim Sơn (Hoài Ân) và sông An Lão (An Lão) hợp lại, chảy qua địa bàn huyện Hoài Nhơn rồi đổ ra cửa biển An Dũ (Hoài Hương) Đây là con sông lớn nằm ở phía Nam huyện, có lưu lượng bình quân 58,6 m3/s, tương ứng với lượng nước đạt 1.844

m3/năm Ngoài ra, còn có một số sông, suối nhỏ chủ yếu nằm ở phía Bắc huyện

Nguồn nước ngầm ở Hoài Nhơn có trữ lượng không lớn song chất lượng tốt Tổng trữ lượng khai thác dự báo tại khu vực Tam Quan đạt 898 m3/ngày

2.1.1.5 Tài nguyên đất

Hoài Nhơn có 02 vùng chính sau:

- Vùng núi phía Bắc, Tây và Nam huyện, núi nối liền nhau thành một dãy hình cung và gắn liền với vùng gò đồi chiếm khoảng 48% tổng diện tích tự nhiên Loại đất chủ yếu là đất đỏ vàng tầng mỏng 30 - 50 cm lẫn nhiều đá Thảm thực vật phát triển từ trung bình đến khá Vùng đồi gò phân bố chủ yếu ở khu vực phía Tây huyện, đây là địa hình chuyển tiếp giữa vùng núi với vùng đồng bằng Loại đất chủ yếu là đất xám, đất đỏ vàng tầng dày từ 50 - 70 cm Phần lớn diện tích này đã được khai thác vào SXNN

- Vùng đồng bằng và ven biển phân bố thành dải tập trung ven biển Diện tích chiếm 52% tổng diện tích tự nhiên Diện tích này trồng các nông sản chính là lúa, hoa màu và cây công nghiệp hàng năm Đây là vùng có địa hình bằng phẳng, đất đai có độ phì nhiêu cao, có khả năng tưới tiêu chủ động, nên hiện tại và lâu dài

Trang 36

là vùng sản xuất cây lương thực và cây công nghiệp hàng năm tập trung quy mô lớn của huyện và tỉnh

- Với đặc điểm trên, kinh tế huyện phát triển thành hai vùng khá rõ nét vùng kinh tế ven biển dọc Quốc lộ 1A và vùng gò đồi trước núi và vùng núi

2.1.1.6 Tài nguyên thủy sản

Hoài Nhơn có bờ biển dài 24 km với 02 cửa biển Tam Quan và An Dũ Vùng biển Hoài Nhơn có khoảng 500 loài cá, trong đó 38 loài cá có giá trị về kinh tế, quý hiếm và có giá trị xuất khẩu cao

Cùng với hoạt động khai thác thủy sản, nghề nuôi trồng thủy sản ở Hoài Nhơn cũng từng bước mang lại hiệu quả kinh tế cao Huyện chú trọng tập huấn chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người dân trong nuôi trồng thủy sản, khuyến khích người dân đầu tư đa dạng đối tượng nuôi theo từng vùng, nuôi tôm theo hướng an toàn sinh học, thân thiện môi trường, nâng cao giá trị kinh tế Năm

2019, diện tích thả tôm nuôi vụ chính của huyện là 124,7 ha; diện tích thu hoạch 123,5 ha, năng suất đạt 9,87 tấn/ha, sản lượng đạt hơn 1.200 tấn

2.1.1.7 Tài nguyên rừng

Hoài Nhơn có 20.084,86 ha đất lâm nghiệp, trong đó đất rừng sản xuất: 12.061,56 ha, rừng phòng hộ 8.023,30 ha Phân bố ở phía Tây huyện, giáp các huyện Hoài Ân, huyện An Lão Rừng sản xuất chủ yếu trồng cây keo lai cho thu nhập kinh tế ổn định

2.1.1.8 Tài nguyên khoáng sản

Khoáng sản trên địa bàn huyện tương đối đa dạng như: Cát trắng phân bố ở

xã Hoài Châu, đá xanh phân bố ở xã Hoài Châu Bắc, đá Granite phân bố ở xã Hoài Phú, đất sét phân bố ở Xã Hoài Đức và xã Hoài Tân, đát Laterit ở Hoài Hương, Hoài Xuân, Hoài Thanh và Hoài Tân, khoáng sản kim loại vàng ở Xã Hoài Đức, Titan ở các xã ven biển

2.1.1.9 Tài nguyên nhân văn

Hoài Nhơn là vùng đất văn hóa, giàu truyền thống cách mạng; là một trong

Trang 37

những cái nôi của nền văn hóa cổ Sa Huỳnh, văn hóa Chăm, nơi sinh danh nhân văn hóa Đào Duy Từ, là bậc khai quốc công thần, nhà quân sự, chính trị, văn hóa của đất nước Trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, Chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của huyện Hoài Nhơn được thành lập tháng 8/1930 tại thôn Cửu Lợi Tây, xã Tam Quan Nam

Hoài Nhơn có nhiều di tích lịch sử cách mạng tiêu biểu được xếp hạng di tích cấp quốc gia, cấp tỉnh như: Di tích Danh nhân văn hóa Đào Duy Từ, di tích cuộc biểu tình năm 1931 tại cây số 7 Tài Lương, di tích chiến thắng Đồi Mười, di tích nơi cập bến Tàu không số

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

2.1.2.1 Dân số, dân cư, lao động

Bảng 2 1 Đơn vị hành chính, dân số và diện tích STT Đơn vị hành chính cấp xã Dân số (người) Diện tích (km2)

Nguồn: Chi cục thống kê huyện Hoài Nhơn năm 2019

Tính đến 01/4/2019, huyện Hoài Nhơn có 208.121 người (đã bao gồm dân số quy đổi) trong đó dân số trong độ tuổi lao động là 110.861 người, cơ cấu lao động trên địa bàn như sau:

Trang 38

+ Lao động phi nông nghiệp: 84.876 người, chiếm 76,56%;

+ Lao động nông nghiệp: 25.985 người, chiếm 23,44%

2.1.2.2 Các ngành kinh tế

a Nông nghiệp

Ủy ban nhân dân huyện Hoài Nhơn đã ban hành Quyết định số UBND ngày 28/12/2017 về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững giai đoạn 2016-2020 Với mục tiêu chung nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững dựa trên đổi mới hình thức tổ chức sản xuất; đẩy mạnh liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gắn với áp dụng khoa học - công nghệ; chuyên môn hóa sản xuất, tạo việc làm ổn định, phân công lại lao động; góp phần nâng cao thu nhập và đời sống của dân cư ở nông thôn, bảo vệ môi trường sinh thái và xây dựng NTM Tổng giá trị sản

11766/QĐ-xuất nông - lâm - ngư nghiệp năm 2019 đạt 5.063,4 tỷ đồng, tăng 5,2% so với năm

2017

- Trên lĩnh vực trồng trọt: Sử dụng trên 98% giống lúa cấp 1, nguyên chủng Hàng năm, đưa các giống lúa mới có năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, ứng dụng các quy trình sản xuất tiên tiến đã mang lại hiệu quả đột phá bước đầu, tăng năng suất, chất lượng lúa, lạc và các loại cây trồng, năng suất lúa bình quân đạt trên

64 tạ/ha, sản lượng đạt trên 83.793 tấn Đến nay, trên 95% diện tích đất SXNN được cơ giới hóa từ khâu làm đất đến gieo trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến góp phần tiết kiệm chi phí, giải phóng sức lao động, đảm bảo thời vụ, phòng tránh thiên tai, là tiền đề quan trọng để xây dựng nền nông nghiệp hiện đại Công tác chuyển đổi

cơ cấu cây trồng được chú trọng, đã chuyển đổi trên 5.000 ha sản xuất 3 vụ lúa sang

02 vụ lúa/năm, chuyển đổi cây trồng cạn trên đất lúa thiếu nước; Ngoài lúa, cây lạc được bố trí luân canh vùng sản xuất trên đất màu, đất bãi bồi ven sông, suối và luân canh trên đất lúa, năng suất lạc bình quân 26 tạ/ha, sản lượng 3.000 tấn/năm Có nhiều mô hình trồng rau an toàn, rau nhà lưới, nhà màng gắn với ứng dụng công nghệ cao được đầu tư thâm canh sản xuất Quy hoạch các trang trại trồng cây ăn quả tập trung có ứng dụng công nghệ cao kết hợp chăn nuôi 173 ha Đến nay, triển khai thực

Trang 39

hiện trên địa bàn huyện 50 ha bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế Giá trị sản phẩm thu nhập trên 1 ha đất trồng trọt đạt 104,1 triệu đồng

- Trên lĩnh vực chăn nuôi: Có bước chuyển mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang hướng phát triển chăn nuôi trang trại, gia trại gắn với thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp phòng chống dịch bệnh Đẩy mạnh chương trình nạc hóa đàn heo và phát triển đàn bò thịt chất lượng cao Năm 2019, đàn heo trên 140.000 con, heo hướng nạc chiếm 89%/tổng đàn; đàn bò trên 27.000 con, tỷ lệ bò lai trên 80%; đàn trâu 2.400 con; đàn gia cầm trên 939.000 con; một số vật nuôi mới như hươu, nai, chồn hương, heo rừng, nhím phát triển Giá trị chăn nuôi đạt 924,9 tỷ đồng [16]

b Công nghiệp

Theo phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển cụm công nghiệp tỉnh Bình Định đến năm 2025, định hướng đến năm 2035 [9] Trên địa bàn huyện Hoài Nhơn được quy hoạch 11 cụm công nghiệp với diện tích 281,9 ha Trong những năm qua, huyện đã tập trung xây dựng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn Đến nay, đã thành lập và quy hoạch chi tiết 10/11 cụm công nghiệp diện tích 231,9 ha, 01 cụm công nghiệp chưa thành lập Tổng diện tích đã cho thuê 110,1 ha/167,2 ha đất công nghiệp, tỉ lệ lấp đầy cụm công nghiệp là 65,9% Có 31 doanh nghiệp đang đầu tư, sản xuất kinh doanh tại 09 cụm công nghiệp, gồm những ngành nghề chính: chế biến lâm sản, chế biến mây tre lá xuất khẩu, sản xuất oxy nitơ, sản xuất hàng may mặc, vật liệu xây dựng, kho phân phối hàng hóa, Trong đó, có 06 cụm công nghiệp đã hoạt động với 19 công ty đã đầu tư sản xuất kinh doanh Tính đến nay, trên địa bàn huyện có trên 452 công ty, doanh nghiệp; 8.281 cơ sở sản xuất

và hộ kinh doanh cá thể và 04 làng nghề (1 làng nghề bánh tráng, bún số 8; 01 làng nghề các sản phẩm từ dừa và 02 làng nghề chiếu cói) đang hoạt động; giải quyết việc làm cho trên 35.000 lao động Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và làng nghề năm 2019 đạt 6.817,9 tỉ đồng [16]

c Thương mại - dịch vụ - du lịch

Thương mại - dịch vụ - du lịch trên địa bàn huyện khá phát triển, hình thành nhiều kênh phân phối, hàng hóa đa dạng đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng; hoạt động

Trang 40

kinh doanh thương mại - dịch vụ tăng trưởng khá, doanh thu năm 2019 đạt 3.129,9

tỷ đồng, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 106,94 triệu USD (tương đương 2.500 tỷ đồng) Các dịch vụ bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin, tín dụng, ngân hàng, vận tải, bảo hiểm phát triển mạnh Các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, mở rộng ngành nghề và các mặt hàng kinh doanh Công tác xúc tiến thương mại được các cấp chính quyền và các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh quan tâm Sản phẩm công nghiệp và sản phẩm của các làng nghề truyền thống được duy trì và phát triển, đủ sức cạnh tranh trên thị trường; nhiều sản phẩm tham gia xuất khẩu mang lại ngoại

tệ cao (sản phẩm chế biến từ gỗ, dăm gỗ, may mặc,…) [16]

Được sự quan tâm, chủ trương định hướng của các cấp có thẩm quyền chú trọng việc phát triển ngành du lịch nhằm phát huy tiềm năng vốn có của huyện Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch được quan tâm Huyện đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển du lịch huyện, giai đoạn 2018 - 2020 Phối hợp triển khai công tác lập Quy hoạch phát triển du lịch khu vực phía Bắc tỉnh đến năm 2020, định hướng đến năm 2030; truyền thống cộng đồng, bồi dưỡng nâng cao nhận thức về du lịch, nghiệp vụ du lịch cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư có hoạt động dịch vụ du lịch, phát triển du lịch cộng đồng tại Xã Tam Quan Nam, Tam Quan Bắc

2.2 Đánh giá thực trạng sử dụng đất phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới

2.2.1 Thực trạng sử dụng đất trước khi xây dựng nông thôn mới

Ngày đăng: 29/03/2021, 07:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w