Để giải quyết vấn đè nghiên cứu, tác giả đưa ra 03 câu hỏi nghiên cứu sau: 1 Thực trạng mượn liên thư viện giữa các thư viện công cộng Việt Nam đang diễn ra như thế nào?, 2 Những yếu tố
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN ANH PHƯƠNG
MÔ HÌNH DỊCH VỤ MƯỢN LIÊN THƯ VIỆN CHO
HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN ANH PHƯƠNG
MÔ HÌNH DỊCH VỤ MƯỢN LIÊN THƯ VIỆN CHO
HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG
Hà Nội - 2020
Trang 31
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Mô hình dịch vụ mượn liên thư viện cho hệ
thống thư viện công cộng Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi,
được thực hiện nghiêm túc dưới sự hướng dẫn của TS Đỗ Văn Hùng Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Nếu có điều gì sai sót, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày……… tháng……… năm 2020
Học viên
Trần Anh Phương
Trang 42
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn với đề tài “Mô hình dịch vụ mượn liên thư viện cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam” tác giả đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ từ các cá nhân và đơn vị
Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các quý thầy cô giảng dạy tại Khoa Thông tin - Thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội
& Nhân văn đã tận truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn - TS
Đỗ Văn Hùng, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để đề tài có thể được thực hiện và hoàn thành
Tác giả xin trân trọng cảm ơn những đồng nghiệp đang công tác tại các cơ quan, thư viện công cộng đã cộng tác, giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập thông tin, thực hiện luận văn
Xin trân trọng gửi đến gia đình, bạn bè, người thân những tình cảm chân thành vì đã luôn giúp đỡ, động viên kịp thời trong suốt khoá học cũng như quá trình tác giả thực hiện luận văn
Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Trần Anh Phương
Trang 53
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 9
1 Đặt vấn đề nghiên cứu 9
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu 11
3 Câu hỏi nghiên cứu 19
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 19
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 20
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 20
7 Phương pháp nghiên cứu 20
8 Bố cục luận văn 21
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ MƯỢN LIÊN THƯ VIỆN 23
1 1 Khái niệm 23
1.2 Tiền đề của dịch vụ mượn liên thư viện 24
1.3 Lịch sử phát triển 26
1.4 Lợi ích của dịch vụ mượn liên thư viện 30
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mượn liên thư viện 32
1.6 Mô hình mượn liên thư viện trên thế giới 38
1.7 Tiểu kết 49
2.1 Giới thiệu về hệ thống thư viện công cộng Việt Nam 50
2.2 Thực trạng mượn liên thư viện của hệ thống thư viện công cộng Việt Nam 55
2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mượn liên thư viện 59
2.4 Đánh giá 87
Trang 64
2.5 Tiểu kết 91
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH MƯỢN LIÊN THƯ VIỆN DÀNH CHO HỆ THỐNG THƯ VIỆN CÔNG CỘNG VIỆT NAM 92
3.1 Mô hình tập trung 92
3.2 Mô hình dịch vụ mượn liên thư viện phân tán 97
3.3 Mô hình mượn liên thư viện kết hợp: 98
3.4 Các bước xây dựng mô hình dịch vụ mượn liên thư viện kết hợp 100
3.5 Qui trình mượn liên thư viện 105
3.6 Một số kiến nghị, đề xuất 106
3.7 Tiểu kết 109
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 1 119
PHỤ LỤC 2 129
PHỤ LỤC 3 138
Trang 75
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Bộ VHTTDL Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
ĐHQG-HCM Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tiếng Anh
Trang 86
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2 1 Tần suất NDT là giảng viên/giáo viên/nhà nghiên cứu sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 61
Bảng 2 2 Tần suất NDT là cán bộ hành chính, quản lý sử dụng thư viện
và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 62
Bảng 2 3 Tần suất NDT là học sinh, sinh viên sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 63
Bảng 2 4 Tần suất NDT là hưu trí sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 63
Bảng 2 5 Tần suất NDT là lao động tự do sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 64
Bảng 2 6 Nhu cầu về dịch vụ MLTV của NDT tại các TVCCVN 64Bảng 2 7 Tỉ lệ sử dụng các dịch vụ thông tin – thư viện của NDT 67Bảng 2 8 Đánh giá của NDT về hệ thống sản phẩm, dịch vụ thông tin – thư viện 68
Bảng 2 9 Thói quen sử dụng thông tin, tài liệu của NDT 69Bảng 2 10 Đánh giá của NDT về mức độ đáp ứng của NLTT 71Bảng 2 11 Cơ cấu nhân sự tại các bộ phận làm việc và trình độ học vấn của CBTV 74
Bảng 2 12 Trình độ và kĩ năng của CBTV 76Bảng 2 13 Đánh giá của NDT về CBTV 77Bảng 2 14 Mức độ hiểu biết của CBTV đối với MLTV và các tiêu chuẩn
có liên quan đến MLTV 82
Bảng 2 15 Đánh giá của CBTV về khả năng tham gia MLTV của 84Bảng 3.1 Nội dung của bộ qui tắc dành cho các thư viện khi tham gia mượn liên thư viện……….101
Trang 9Biểu đồ 2 5 Nguyên nhân các thư viện công cộng Việt Nam chưa triển khai dịch vụ mượn liên thư viện 59
Biểu đồ 2 6 Cơ cấu thành phần người dùng tin tại các thư viện công cộng Việt Nam 60
Biểu đồ 2 7 Tần suất người dùng tin là giảng viên/giáo viên/nhà nghiên cứu sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 61
Biểu đồ 2 8 Tần suất người dùng tin là cán bộ hành chính, quản lý sử dụng thư viện và nhờ người quen mượn tài liệu từ thư viện khác 62
Biểu đồ 2 9 Nhu cầu về dịch vụ mượn liên thư viện của người dùng tin 65 Biểu đồ 2 10 Tỉ lệ các phần mềm quản trị thư viện đang sử dụng 78 Biểu đồ 2 11 Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại thư viện hỗ trợ cho dịch vụ mượn liên thư viện 79
Biểu đồ 2 12 Mức độ hiểu biết của cán bộ thư viện đối với mượn liên thư viện và các tiêu chuẩn có liên quan đến mượn liên thư viện 82
Biểu đồ 2 13 Mức độ ảnh hưởng của yếu tố sẵn sàng tham gia Error! Bookmark not defined
Biểu đồ 2 14 Phần trăm kinh phí mà các thư viện có thể đóng góp để xây
dựng, triển khai và duy trì dịch vụ mượn liên thư việnError! Bookmark not defined
Trang 108 Biểu đồ 3 1 Tỉ lệ các thư viện cho rằng cần có một đơn vị/tổ chức đầu mối để điều phối hoạt động 95
Trang 119
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Mục tiêu của luận văn chính là đánh giá thực trạng mượn liên thư việntại
hệ thống thư viện công cộng Việt Nam, để từ đó đưa ra một mô hình mượn liên thư viện phù hợp cho hệ thống này Vấn đề nghiên cứu đặt ra là các thư viện công cộng Việt Nam mặc dù nằm trong một hệ thống khá thống nhất, tuy nhiên lại chưa tiến hành các dịch vụ mượn liên thư viện hay trao đổi nguồn thông tin lẫn nhau một cách phổ biến Vậy đâu là nguyên nhân của vấn đề này và giải pháp là gì
Để giải quyết vấn đè nghiên cứu, tác giả đưa ra 03 câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Thực trạng mượn liên thư viện giữa các thư viện công cộng Việt Nam đang diễn ra như thế nào?, (2) Những yếu tố tác động đến việc triển khai dịch vụ mượn liên thư viện cho hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam?, và (3) Mô hình mượn liên thư viện nào phù hợp với hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam? Để trả lời cho các câu hỏi này, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu; phương pháp điều tra khảo sát bằng bảng hỏi và cuối cùng là phương pháp mô hình hóa
hệ thống
Các kết quả chính của luận văn bao gồm: hệ thống hóa được hệ thống lý thuyết về mượn liên thư viện; khảo sát và đánh giá thực trạng mượn liên thư viện tại hệ thống thư viện công cộng, có thể thấy hoạt động mượn liên thư viện rất hạn chế; nhận diện và đánh đánh giá 11 yếu tố tác động đến hoạt động mượn liên thư viện trong bối cảnh Việt Nam; đề xuất mô hình mượn liên thư viện và một số giải pháp triển khai mô hình này vào thực tế Hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
Trang 1210
MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, hiện tượng
“bùng nổ thông tin” đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu Từ năm 2006, mỗi ngày trên thế giới có khoảng 2000 trang tạp chí khoa học kỹ thuật được in ra, mỗi năm có tới 5 triệu bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học xuất bản định kỳ[31] Sau gần 15 năm, những con số này đều tăng lên đáng kể theo cấp số nhân Điều này cũng đặt các thư viện vào những khó khăn khi phải thu thập toàn
bộ lượng tài liệu này Bên cạnh đó, không phải thư viện nào cũng có đủ kinh phí
để bổ sung tài liệu Điều này dẫn đến một xu hướng hợp tác liên thông trao đổi
và chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các cơ quan thông tin – thư viện Thay vì hoạt động một cách độc lập như trước đây thì các thư viện sẽ kết nối với nhau theo một hình thức phù hợp với điều kiện thực tiễn của đơn vị mình nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn những nhu cầu tin đa dạng của người dùng tin
Các thư viện trên thế giới đã liên kết với nhau tạo thành một tổ chức liên hợp để có thể chia sẻ tài nguyên thư viện với mục tiêu luôn đáp ứng được các yêu cầu về tài nguyên thư viện khi mà họ cần Tổ chức liên hợp thư viện lớn nhất trên thế giới hiện nay cung cấp cho thư viện khả năng để làm việc này là Tổ chức thư viện thế giới OCLC – Online Computer Library Center được thành lập năm 1967 tại Ohio – Hoa Kỳ Từ ý tưởng của khối liên hiệp các Thư viện Đại học Ohio muốn thử nghiệm khả năng thành lập một trung tâm xử lý kỹ thuật tập trung, cái tên OCLC ban đầu được hiểu theo nghĩa là Trung tâm Thư viện trường Đại học Ohio (Ohio College Library Center) Trong suốt thời gian mới thành lập, mục tiêu chính của OCLC là xây dựng một mạng lưới thư mục liên hợp giữa các thư viện thành viên của Đại học Ohio và tiếp đó là các thư viện trên toàn nước Mỹ
Sản phẩm cốt lõi phục vụ cho ý tưởng chia sẻ tài nguyên của OCLC đã được hình thành và phát triển đi cùng với quá trình phát triển của OCLC từ ngày
Trang 1311
thành lập đến nay đó là Cơ sở dữ liệu mục lục liên hợp toàn cầu Worldcat WorldCat được biết đến như một CSDL mục lục liên hợp toàn cầu Cho đến thời điểm cuối tháng 12-2016, WorldCat chứa một lượng dữ liệu khổng lồ gồm trên
380 triệu biểu ghi thư mục (bib-record), tương ứng với 2,4 điểm vốn tài liệu (holding) tại các thư viện, trong đó bao gồm dữ liệu của trên 48 triệu đầu mục tài liệu số nội sinh (institutional repository) và 18 triệu sách điện tử (ebook) Dịch vụ mượn liên thư viện toàn cầu (Worldshare Interlibrary Loan - ILL): Dựa trên CSDL mục lục liên hợp Worldcat mà các thư viện đã tham gia xây dựng và đóng góp, từ đó các thư viện sẽ có thể lựa chọn sử dụng dịch vụ mượn liên thư viện của OCLC.Hiện nay dịch vụ mượn liên thư viện của OCLC có sự tham gia của một số nhà cung cấp dịch vụ mượn tài liệu lớn và uy tín như: Thư viện Quốc hội Mỹ; Thư viện Quốc gia Canada; Thư viện Anh Quốc Số lượng các thư viện hiện đang tham gia trong hệ thống mượn liên thư viện của OCLC gồm hàng chục nghìn thư viện và đây là dịch vụ mượn liên thư viện có phạm vi lớn nhất thế giới
Tại Việt Nam, với gần 30 năm đổi mới, đất nước ta đã từng bước trưởng thành và đang có những bước tiến vững chắc trong quá trình hội nhập và phát triển Ngành Thông tin – thư viện nước ta nói chung và hệ thống thư viện công cộng nói riêng với chức năng đặc thù lưu trữ, phổ biến thông tin và tri thức đã góp phần không nhỏ vào sự thành công của công cuộc đổi mới Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập đòi hỏi các thư viện phải không ngừng nâng cao vai trò trong việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, phát triển văn hóa đọc, tuyên truyền và phổ biến mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các thành tựu khoa học công nghệ tới với mọi người dân
Dù đã có nhiều những phát triển vượt bậc về cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông, trình độ cán bộ thư viện,…song hệ thống thư viện công cộng Việt Nam vẫn còn một số tồn tại Trên thực tế, hiện nay các thư viện đang phải đối mặt với hai bài toán quan trọng, thứ nhất là ngân sách hoạt động
Trang 1412
cho các thư viện được cấp không đều, với một số thư viện còn bị cắt giảm ngân sách dành cho các hoạt động của mình, điều này dẫn đến bài toán thứ hai đó là hiện nay không có một thư viện nào có thể đáp ứng được 100% các yêu cầu của bạn đọc về mượn tài liệu in, tài liệu số…Việc không đáp ứng được nhu cầu của bạn đọc khi họ đến thư viện có thể gây ra một số vấn đề khiến cho người dùng tin không còn có hứng thú lên thư viện nữa
Vì vậy, để phát huy tối đa vai trò của các thư viện công cộng trong giai đoạn mới cần xây dựng dịch vụ mượn liên thư viện (MLTV) cho hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam (TVCCVN)
Xuất phát từ vai trò, tầm quan trọng và yêu cầu thực tiễn, tác giả chọn đề
tài: “Xây dựng mô hình mượn liên thư viện cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp phần hoàn thiện
lý luận về dịch vụ mượn liên thư viện Đồng thời, nắm bắt được thực trạng dịch
vụ mượn liên thư việntại hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam Để từ đó, tìm ra những cơ sở khoa học để có sự đánh giá khách quan về những điểm mạnh
và những khó khăn các thư viện gặp phải khi triển khai cũng như sự tác động của các yếu tố cấu thành nên dịch vụ này Đồng thời, đề xuất mô hình phù hợp
và khả thi cho việc triển khai dịch vụ mượn liên thư viện cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay ở một số nơi, như Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) đã xây dựng, triển khai đưa vào sử dụng Hệ thống Thư viện ĐHQG-HCM; là một mạng lưới các thư viện liên thông, liên kết, cùng phối hợp cung cấp các nguồn tài nguyên thông tin và các dịch vụ thông tin cho tất cả độc giả là giảng viên, nhà nghiên cứu, sinh viên và cán bộ viên chức của ĐHQG-HCM Hệ thống thư viện ĐHQG-HCM gồm các thư viện của các đơn vị thành viên trong ĐHQG-HCM: thư viện Trường Đại học Bách Khoa, thư viện Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên, thư viện Trường Đại học Khoa học Khoa học Xã
Trang 1513
hội và Nhân văn, thư viện Trường Đại học Quốc tế, thư viện Trường Đại học Kinh tế - Luật, thư viện Trường Đại học Công nghệ thông tin, thư viện Viện Môi trường và Tài nguyên Hệ thống cung cấp 2 dịch vụ dùng chung là mượn liên thư viện và truy cập cơ sở dữ liệu
Đối với hệ thống thư viện chuyên ngành có Hệ thống liên thư viện ngành
Y Trung tâm Tích hợp dữ liệu, Cục Công nghệ thông tin, Bộ Y tế đã xây dựng trang web cho Hệ thống nhằm tích hợp, chia sẻ, quản lý nguồn tài nguyên thông tin giữa các thư viện trong ngành, đáp ứng rộng rãi nhu cầu thông tin của độc giả, phục vụ cho các công tác quản lý, đào tạo, nghiên cứu khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân Danh mục tài liệu bao gồm sách, bài trích, luận văn, luận án và các đề tài nghiên cứu có liên quan đến lĩnh vực y tế
• Xây dựng mục lục liên hợp trực tuyến:
“Phát huy vai trò của công nghệ thông tin trong việc xây dựng mục lục trực tuyến tại thư viện các trường đại học” của tác giả Quản Thị Hoa đăng trong Hội thảo thư viện toàn quốc “Nền tảng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin Thư viện phục vụ đổi mới giáo dục ĐH-CĐ trong thời kỳ hội nhập; Nghiên cứu “Xây dựng mục lục liên hợp trực tuyến cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam” : Đề tài Nghiên cứu khoa học của nhóm tác giả: Trần Hữu Huỳnh, Trần Thị Quý và Đỗ Văn Hùng; “Nghiên cứu xây dựng mục lục liên hợp
trực tuyến cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam” (2005) - Luận văn của
tác giả Đỗ Văn Hùng
Các tài liệu này đều đề cập tới vai trò của việc xây dựng mục lục liên hợp trực tuyến và các giải pháp nhằm xây dựng mục lục liên hợp trực tuyến cho các thư viện đại học nhằm phát huy vai trò của công nghệ thông tin trong hoạt động; vai trò của thư viện trong công tác học tập và giảng dạy trong các trường đại học hiện nay
Bài viết “Hiệu quả của mục lục Quốc gia trong việc chia sẻ thông tin thư mục ở Sri Lanka” của tác giả R.A.A.S Ranaweera cho biết khối lượng thông tin được công bố trên thế giới trong vài thập kỷ qua đã tăng lên và đồng thời thông
Trang 1614
tin bị lỗi thời nhanh chóng Tình trạng này ảnh hưởng trực tiếp đến các thư viện,
vì thư viện là nơi thu thập, lưu trữ thông tin mới tạo này và phổ biến chúng Do phương pháp công nghệ thay đổi liên tục và chi phí tài liệu cao, các thư viện không thể thu thập tất cả tài liệu đang được sản xuất trên thế giới đã tạo ra một tình huống khó khăn trong các thư viện, đặc biệt là ở các nước đang phát triển
Chia sẻ thông tin hoặc tài nguyên thông qua hợp tác thư viện giúp các thư viện thực hiện dịch vụ cân đối và cập nhật thông tin cho bạn đọc của mình Mục lục liên hợp là một trong những công cụ thư mục quan trọng được sử dụng rộng rãi Tác giả cung cấp khái niệm về mục lục liên hợp là các thông tin thư mục về
bộ sưu tập của nhiều loại thư viện với vị trí của thư viện sở hữu thông tin Có mục lục liên hợp Quốc gia và quốc tế
Trong hội thảo do IFLA tổ chức lần thứ 69, tác giả Philip Hider (2003) với bài viết “Ưu điểm của mục lục liên hợp theo mô hình mượn liên thư viện tập trung” đã xem xét mục lục liên hợp trong bối cảnh cung cấp tài liệu liên thư viện, cũng như hoàn cảnh tạo ra và khiến chúng trở nên quan trọng hơn khi thư viện đưa ra quyết định về việc áp dụng mô hình hệ thống nào làm cơ sở của dịch
vụ cung cấp tài liệu Một nghiên cứu ngắn gọn về 2 mục lục liên hợp của 2 thư viện lớn ở Singapore sau khi áp dụng mô hình phân tán Kết quả chỉ ra rằng nội dung của mục lục liên hợp theo kiểu phân tán có thể kém hơn đáng kể so với nội dung của cơ sở dữ liệu trung tâm, và đặc biệt là về nhiều mặt: trùng lặp; tính không nhất quán, lỗi, thiếu sót
• Thực trạng và giải pháp chia sẻ nguồn lực thông tin tại thư viện công cộng:
Bài báo “Chia sẻ nguồn lực thư viện trong thời kỳ sơ khởi của Google” của tác giả Beth Posner, người dịch Trần Thị Phượng: cho rằng không có thư viện nào có thể sở hữu toàn bộ tài liệu mà bạn đọc cần vì vậy các thư viện cần
có sự chia sẻ nguồn lực thông tin Đây cũng chính là hình thức mượn liên thư viện (InterLibrary Loan - ILL) Bài viết nêu rõ triển vọng của ILL đối với người dùng tin, đối với các thư viện tham gia ILL cũng như đối với toàn xã hội Bên
Trang 17sự cần thiết phải chia sẻ nguồn lực thông tin do “cung không đủ cầu” Từ ví dụ
về Dự án NAILLD (North American and ILL Document Delivery Project) của
Mỹ cho phép người sử dụng có thể tìm và mượn tài liệu từ 1 thư viện thành viên khác thông qua thư viện cơ sở của họ, tác giả đã đề xuất giải pháp chia sẻ nguồn lực thông tin tại Việt Nam
Bài báo “Ứng dụng CNTT vào chia sẻ nguồn lực thông tin – thư viện” của tác giả Phạm Thúc Trương Lương giới thiệu khái niệm và công nghệ của một số ứng dụng liên kết nguồn lực thông tin Và khẳng định việc ứng dụng CNTT sẽ giúp thay đổi về lượng và chất trong những hoạt động liên kết và chia sẻ nguồn lực thông tin, nhằm cạnh tranh với báo chí, truyền hình, internet Qua đó, củng
cố vai trò của thư viện là kênh cung cấp tri thức và thông tin quan trọng cho cộng đồng
Tác giả Nguyễn Trọng Phượng của bài viết: “Xu hướng phối hợp, liên kết xây dựng chia sẻ nguồn lực thông tin tại Việt Nam” cũng chỉ ra các nguyên nhân khiến việc phối hợp giữa các thư viện chưa đạt hiệu quả, từ đó đề xuất giải pháp cho hệt thống các thư viện công cộng, các thư viện trường đại học cũng như các thư viện chuyên ngành
• Xu hướng liên kết các thư viện trường đại học trong triển khai hoạt động dịch vụ thư viện số
Thư viện đại học, với vai trò là môi trường học tập thứ hai sau giảng đường là nơi cung ứng tri thức, phát huy ý thức tự học năng động cho người học; là địa chỉ tin cậy trong việc cung cấp những thông tin khoa học mới mẻ, những thành quả công trình nghiên cứu khoa học của các cán bộ giảng viên và
Trang 1816
sinh viên trong trường, là nơi kết nổi, chia sẻ các kinh nghiệm về nghiên cứu khoa học, khuyến khích nghiên cứu khoa học trong toàn trường cũng như bổ sung và cập nhật những kiến thức mới, những phương pháp giảng dạy tiên tiến
hỗ trợ cho việc học tập và giảng dạy thêm sinh động và hấp dẫn là nền tảng cho việc đổi mới giáo dục, thay đổi phương thức giáo dục tiếp cận người học, nâng cao chất lượng đào tạo cũng như khẳng định được vai trò của thư viện trong nhà trường
Tuy nhiên, thực tế nguồn lực thông tin thư viện các trường vẫn còn nhiều bất cập và chưa đồng bộ dẫn đến việc khó có thể liên kết, chia sẻ cơ sở dữ liệu trong hệ thống các thư viện, cũng như tạo điều kiện cho bạn đọc tiếp cận thông tin thông qua các công cụ tra cứu hiện đại theo xu hướng mở không bị bó hẹp bởi ranh giới địa lý, vùng, miền giảm bớt áp lực về kinh phí cho các thư viện trong cùng hệ thống
Có nhiều bài viết đã đưa ra giải pháp chia sẻ nguồn lực thông tin cho thư viện các trường đại học như: “Chia sẻ nguồn lực thông tin thư viện trong hệ thống thư viện trường đại học Việt Nam” của tác giả Vũ Văn Tiệp; “Xây dựng
và bổ sung chia sẻ nguồn tin điện tử trong liên hiệp thư viện các trường đại học
kỹ thuật” của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy; “Đề xuất đổi mới thư viện đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế” của tác giả Nguyễn Huy Chương;
“Liên kết các thư viện đại học trong triển khai hoạt động dịch vụ thư viện số” của nhóm tác giả Võ Thị Hồng Vân và Trần Thị Hiền
• Tổng quan về dịch vụ mượn liên thư viện:
Trong bài viết “Mượn liên thư viện: Một phần không thể thiếu của chia sẻ tài nguyên thông tin toàn cầu” của tác giả Robert A Seal (2002) có bàn về vấn
đề toàn cầu hóa thông tin và quản lý thư viện Tại nơi ông làm việc – Thư viện Trường đại học Christian ở bang Texas.Vào những năm 2000, hầu hết các hoạt động đều được tự động hóa Thư viện phát triển bộ sưu tập bằng cách tư vấn trực tuyến cơ sở dữ liệu và bằng cách sử dụng các trang Web của nhà cung cấp, dịch vụ mượn liên thư viện hầu như được tự động hóa hoàn toàn: xác minh, giao
Trang 1917
dịch và truyền tải tài liệu chủ yếu thực hiện thông qua Internet Nhưng những thay đổi quan trọng này không xảy ra trong một sớm một chiều mà đó là một quá trình song song với sự phát triển trong công nghệ và quản lý thư viện, cũng như những thay đổi trong nhận thức hướng tới chia sẻ tài nguyên Bên cạnh đó, tác giả cũng chia sẻ những quan điểm của mình về thực tế mà các thư viện đang phải đối mặt, nhu cầu về MLTV, lợi ích của MLTV, vai trò của IFLA (Liên đoàn Quốc tế các Hội và Cơ quan thư viện), sự ảnh hưởng của khoa học công nghệ đối với chia sẻ nguồn nói chung và MLTV nói riêng; rào cản và thách thức khi các thư viện triển khai dịch vụ MLTV Cuối cùng, tác giả đề xuất một số biện pháp giải quyết
Bài viết “Từ bộ sưu tập địa phương đến bộ sưu tập toàn cầu: sức mạnh của dịch vụ mượn thư viện”, tác giả Neil Gaiman (2013) cho rằng việc triển khai dịch vụ này sẽ giúp các thư viện đáp ứng được nhiều hơn nhu cầu tin của người dùng tin, chứng minh giá trị liên tục của các bộ sưu tập có trong thư viện Người dùng tin và xã hội rõ ràng cũng nhận được các lợi ích khi sử dụng dịch vụ MLTV, họ được phép tiếp cận, khai thác và sử dụng nhiều nguồn tin chất lượng,
kế thừa tinh hoa, thành tựu từ các thế hệ trước và đóng góp tri thức cho tương lai, trở thành công dân toàn cầu Cán bộ thư viện sẽ có cơ hội được tiếp xúc, làm việc với nhiều người từ các nền văn hóa khác nhau, chính sự đa dạng này sẽ giúp họ nâng cao kĩ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ,…Lúc này, họ cũng sẽ trở thành “thủ thư toàn cầu”, “thủ thư không biên giới” Cán bộ thư viện là cầu nối từ bộ sưu tập của thư viện mình đến các bộ sưu tập trên toàn thế giới, mang đến một khả năng liên kết rộng lớn và phát huy được những sức mạnh tiềm tàng của nó
Tác giả Xiaoxia Yao (2015) thông qua bài viết “Tổng quan các hoạt động chia sẻ nguồn tin tại Trung Quốc” quan điểm trình bày về những lợi ích của việc chia sẻ nguồn Hiệp hội chia sẻ nguồn Trung Quốc bao gồm: Hệ thống thông tin
và Thư viện học thuật Trung Quốc Thư viện Khoa học xã hội và Nhân văn Trung Quốc, Thư viện của Hiệp hội Kỹ thuật số Trung Quốc, Thư viện công
Trang 2018
nghệ và khoa học tự nhiên Tác giả trình bày các nội dung chính của hoạt động chia sẻ nguồn: mục lục trực tuyến, tích hợp các nguồn tài nguyên thông tin, MLTV và vấn đề vận chuyển tài liệu, lưu trữ các nguồn tin công cộng, đánh giá
và thống kê số liệu
• Liên hợp thư viện:
Tác giả M Muthu (2013), với bài viết “Chia sẻ nguồn tài nguyên tại các thư viện: Vai trò quan trọng của Liên hợp” đã nêu rõ: Chia sẻ tài nguyên chính
là việc chia sẻ tài nguyên thư viện của một số thư viện tham gia trên cơ sở nguyên tắc hợp tác Điều này có thể áp dụng khi chia sẻ tài liệu, nhân lực, dịch
vụ, không gian và thiết bị Nội dung chủ yếu của bài viết đưa ra khái niệm về chia sẻ tài nguyên, lý do cần chia sẻ, các phương pháp, phương tiện để thực hiện, các lĩnh vực cần hợp tác, chia sẻ Ngoài ra tác giả còn trình thêm về khái niệm, ưu điểm, hạn chế, các thách thức về việc chia sẻ tài nguyên qua môi trường internet Giới thiệu về Liên hiệp thư viện và các loại hình, chức năng của chúng, ưu điểm và nhược điểm
Các tác giả Sue McGillivray, Amy Greenberg, Lucina Fraser, CanadaOphelia Cheung đã viết bài “Các yếu tố chính cho sự thành công của liên hiệp các thư viện ở Canada về mượn liên thư viện” Bài viết mang đến cái nhìn tổng quát việc xác định các yếu tố liên quan đến triển khai thành công hệ thống mượn liên thư viện dùng chung của Hội đồng các Thư viện Đại học Ontario (OCUL), gồm 20 thư viện của các trường trực thuộc trường đại học Ontario Trình bày những thuận lợi và khó khăn khi triển khai phần mềm VDX của OCLC và giờ đây người dùng tin của thư viện có thể đồng thời tìm kiếm các thư mục trên toàn thế giới, gửi và theo dõi tiến độ của các yêu cầu cũng như nhận tài liệu một cách nhanh chóng Phân tích sau khi triển khai cho thấy một số yếu tố chính góp phần vào sự thành công đó là: lập kế hoạch, lãnh đạo, hỗ trợ tài chính,
hỗ trợ kỹ thuật, sự hợp tác, cam kết của nhân viên, tập trung vào cán bộ thư viện
và người dùng tin làm trung tâm, đào tạo và đánh giá
• Mô hình mượn liên thư viện:
Trang 2119
Chương 1 của Báo cáo Công nghệ Thư viện (quyển 49, số 1) “Chia sẻ tài nguyên trong thư viện: Khái niệm, Sản phẩm, Công nghệ và Xu hướng” trình bày một số phương pháp tiếp cận khái niệm có sẵn cho các thư viện theo cách
họ cung cấp quyền truy cập tài liệu cho người dùng tin ngoài bộ sưu tập mà thư viện họ sở hữu Các mô hình chia sẻ tài nguyên được đề cập bao gồm tập trung
và phân tán; thực hiện một môi trường chia sẻ tài nguyên để kết nối các hoạt động triển khai ILS nhằm cho phép mượn và cung cấp tài liệu thông qua dịch vụ cung cấp tài liệu hoặc hệ thống cho mượn liên thư viện toàn cầu
• Chuẩn và tiêu chuẩn thư viện về xử lý tài liệu, hạ tầng công nghệ thông tin hỗ trợ MLTV:
“Về vấn đề áp dụng thống nhất AACR2 trong giảng dạy và trong công tác biên mục” của tác giả Nguyễn Thị Đào giới thiệu chung về quy tắc biên mục AACR2 Thông qua nghiên cứu, tác giả chia sẻ những thuận lợi và khó khăn khi
áp dụng AACR2 ở Việt Nam Đặc biệt, bài viết còn đưa ra hững vấn đề cần thống nhất khi áp dụng AACR2 ở Việt Nam
Bài viết “Áp dụng MARC 21 & AACR2 tại thư viện tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” của tác giả Yến Thanh trình bày quan điểm chỉ đạo của Thư viện Quốc gia Việt Nam khi tìm hiểu, nghiên cứu, biên soạn 2 chuẩn mô tả này Bên cạnh đó, tác giả cũng nói về những thuận lợi và khó khăn mà Thư viện tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gặp khi áp dụng chuẩn mô tả Từ đó, đề xuất các kiến nghị phù hợp
Tác giả Nguyễn Ngọc Bích với bài viết ” Thực trạng việc phổ biến và áp dụng DDC tại các thư viện Việt Nam” Trong bài viết, tác giả tóm lược lộ trình triển khai DDC cùng với sự trăn trở, quyết tâm của các nhà chuyên môn, các nhà quản lý đã cùng nhau phối hợp thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu thống nhất, chuẩn hoá và hội nhập với cộng đồng thư viện thế giới Ban đầu DDC được áp dụng tại Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQGVN), sau đó lần lượt là các thư viện trong hệ thống công cộng và các thư viện đa ngành, chuyên ngành Cuối bài viết, tác giả đánh giá thực trạng
Trang 22không trùng lặp với các đề tài khác
3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi 1: Thực trạng mượn liên thư viện giữa các thư viện công cộng Việt Nam đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 2: Những yếu tố tác động đến việc triển khai dịch vụ mượn liên thư viện cho hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam?
Câu hỏi 3: Mô hình mượn liên thư viện nào phù hợp với hệ thống các thư viện công cộng Việt Nam ?
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích thực trạng của các yếu tố tác động đến việc triển khai dịch vụ liên thư viện của hệ thống thư viện công cộng Việt Nam, đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, hạn chế, tìm ra những nguyên nhân chủ quan và khách quan Qua đó, đề xuất mô hình mượn liên thư viện phù hợp với điều kiện thực tiễn của hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về dịch vụ mượn liên thư viện
Khảo sát thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc triển khai dịch vụ mượn liên thư viện của các thư viện trong hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
Đề xuất mô hình mượn liên thư viện cho hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
Trang 2321
5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ mượn liên thư viện
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài xây dựng một mô hình về dịch vụ mượn liên thư viện
có thể áp dụng cho hệ thống các thư viện công cộng tại Việt Nam Mô hình này
có thể được dùng cho các thư viện khác tham khảo, nghiên cứu, nhằm triển khai dịch vụ mượn liên thư viện
Các trường có ngành Thông tin – Thư viện có thể sử dụng kết quả này để triển khai nội dung đào tạo liên quan đến hợp tác chia sẻ thông tin giữa các thư viện và trung tâm thông tin
7 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu:
Tiến hành tìm kiếm, thu thập và đánh giá các tài liệu có liên quan đến đề tài này, đó là: các đề tài nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, các báo cáo thống kê của Tổng cục thống kê cũng như các báo cáo của các thư viện công cộng được tiến hành khảo sát Trên những cơ sở đó, tác giả phân tích các nội dung có liên quan đến dịch vụ mượn liên thư viện Kết quả đầu ra, của phương pháp này giúp
Trang 2422
tác giả xây dựng cơ sở lý luận, xây dựng khung lý thuyết để triển khai các bước tiếp theo
Điều tra khảo sát bằng bảng hỏi:
Tác giả chỉ tiến hành khảo sát thư viện công cộng cấp tỉnh/thành, không triển khai khảo sát các cấp nhỏ hơn như quận/huyện Đã triển khai khảo sát 50 trên tổng số 63 thư viện tỉnh/thành phố, và phát 1140 bảng hỏi cán bộ thư viện
và lãnh đạo thư viện, thu lại được 1117 phiếu; phát 800 phiếu cho bạn đọc và thu về 747 phiếu
Việc phân tích các thông tin, dữ liệu từ bảng hỏi này sẽ căn cứ để đánh giá một cách khách quan thực trạng các yếu tố tiền đề để triển khai dịch vụ mượn liên thư viện của các thư viện công cộng Việt Nam Đồng thời, chỉ ra nhu cầu triển khai dịch vụ, quy mô và các mối tương quan giữa các yếu tố và thông tin được phân tích
Phương pháp mô hình hóa hệ thống:
Xem xét đối tượng nghiên cứu như một tổng thể, sử dụng sơ đồ để mô tả các mối quan hệ, liên hệ có tính quy luật có trong thực tế nghiên cứu, phản ánh được các mối quan hệ, liên hệ đó của các yếu tố cấu thành hệ thống Ngoài ra, phương pháp này cũng có thể giúp đưa ra dự báo, dự đoán, đánh giá các tác động của các yếu tố quản lý hệ thống
8 Bố cục luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ mượn liên thư viện
Chương 2: Thực trạng và các yếu tố tác động mượn liên thư viện tại
hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
Trang 2523
Chương 3: Mô hình mượn liên thư viện cho hệ thống thư viện công cộng ở Việt Nam
Trang 26Theo Hiệp hội Dịch vụ Người dùng và Tài liệu Tham khảo (RUSA) -
một bộ phận của Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ cho rằng: MLTV là quá trình thư viện yêu cầu tài liệu từ thư viện khác sở hữu tài liệu hoặc cung cấp tài liệu cho thư viện khác Tài liệu được cung cấp bao gồm sách, tài liệu nghe nhìn cũng như bản sao của các bài báo, chương sách, đoạn trích [47]
Theo Tiêu chuẩn quốc tế ISO 10160:2015 - Dịch vụ MLTV cung cấp
khả năng yêu cầu cho mượn các tài liệu có thể trả lại, chẳng hạn như sách, hoặc yêu cầu tài liệu không thể trả lại, chẳng hạn như bản sao các bài báo…Trọng tâm của hoạt động MLTV là mục thư mục, có thể là một cuốn sách, tạp chí định
kỳ, tạp chí, vi dạng, v.v Ứng dụng MLTV liên quan đến các thủ tục mượn, cho mượn loại tài liệu này giữa các thư viện hoặc trao đổi các bản sao của chúng.[49]
Theo Virginia Boucher (1997), thuật ngữ MLTV bao gồm cả việc mượn
và cho mượn - yêu cầu tài liệu và gửi tài liệu, bao gồm cả việc cung cấp các bản sao của tài liệu Về bản chất, mục đích của việc MLTV là để thay mặt bạn đọc của thư viện khác mượn hoặc lấy bản sao của tài liệu thư viện không có trong bộ sưu tập địa phương và cho mượn hoặc cung cấp bản sao tài liệu thư viện mà thư viện khác yêu cầu [63]
Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5453:2009 (ISO 5127:2001) về Thông
tin và tư liệu - Từ vựng: “Mượn giữa các thư viện: Chuyển giao tài liệu từ một thư viện hay cơ quan lưu trữ đến một nơi khác trong khoảng thời gian xác định theo các điều kiện cụ thể” [28]
Trang 2725
Theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10274:2013 về Hoạt động thư viện - Thuật ngữ và định nghĩa chung: “Mượn (loan) là chuyển giao vật lý tài liệu từ
nơi lưu trữ đến một địa điểm khác trong khoảng thời gian xác định[27]
Khoản 7 Điều 3 trong Luật thư viện có ghi rõ: “Liên thông thư viện là
hoạt động liên kết, hợp tác giữa các thư viện nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện, kết quả xử lý tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện.” [26]
Theotác giả Lê Văn Viết, “Mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư
viện (viết tắt là MGT) là hình thức phục vụ bạn đọc khi sử dụng nguồn lực thông tin của các thư viện, cơ quan thông tin khác cả trong nước lẫn nước ngoài
để đáp ứng nhu cầu đọc và thông tin của người dùng thư viện mình.” [37]
Trên cơ sở các khái niệm trên, tác giả tiếp cập: MLTV là một dịch vụ thư viện, ở đó người dùng có thể thông qua thư viện của mình (đã đăng ký thẻ bạn đọc) mượn một tài liệu (tài liệu in hoặc số) từ một thư viện khác (mà người dùng không phải là bạn đọc của thư viện đó) Về bản chất đây là giao dịch điện tử giữa các thư viện với nhau, nhằm mục đích mượn, chia sẻ thông tin, tài liệu để phục vụ bạn đọc
1.2 Tiền đề của dịch vụ mượn liên thư viện
Hiện nay có thể thấy hầu hết các thư viện công cộng tại Việt Nam đều hoạt động một cách độc lập hoặc nếu có sự liên kết cũng rất hời hợt Vì vậy, để
có thể hoàn thành được bức tranh tổng thể với sứ mệnh mang tri thức, thành tựu nhân loại phục vụ cộng đồng, các thư viện công cộng Việt Nam (TVCCVN) nên hướng đến việc ghép lại những mảnh nhỏ để có thể phát triển, trở thành một mảnh lớn hơn, và mảnh lớn này sẽ có nhiều cơ hội và khả năng để vươn tầm kết nối với các mảnh ghép đa dạng khác trên toàn thế giới
Tiền đề cơ bản cho việcMLTV là việc không có thư viện nào có thể tự tin đáp ứng mọi nhu cầu của bạn đọc Bên cạnh đó, thông tin và giá thành tài liệu cũng liên tục tăng, trong khi nguồn tài chính và kho tàng của thư viện có hạn
Trang 2826
Điều này khiến các thư viện chịu một sức ép: một bên phải đáp ứng nhu cầu của người dùng tin, một bên không làm phát sinh thêm nguồn kinh phí vốn đã hạn hẹp Sức ép này đã đưa thư viện lại với nhau trên cơ sở hợp tác tự nguyện, các bên đều có lợi và hình thành nên dịch vụ MLTV
Nếu các thư viện triển khai MLTV thì nguồn lực thông tin (NLTT) của tất
cả thư viện thành viên sẽ có quy mô lớn hơn, đa dạng hơn và độc đáo hơn gấp nhiều lần bộ sưu tập của từng thư viện thành viên sở hữu Một nghiên cứu của Byerly được thực hiện năm 1996 về các thư viện học thuật ở Ohio (Mỹ) đã chứng minh cho điều này: 31 thư viện ở Ohio giữ 5,7 triệu tên tài liệu trong đó trung bình mỗi thư viện chỉ giữ khoảng 23% tên tài liệu trên tổng số 5,7 triệu [58] Như vậy cho thấy nếu các thư viện liên kết lại với nhau thì bạn đọc có thể khai thác tới 5,7 triệu tên tài liệu mà không thể có một thư viện riêng lẻ nào ở Ohio có thể sở hữu hết
Như phần giới thiệu của Luật MLTV quốc gia của Hoa Kỳ, năm 1993, giải thích, "việc trao đổi tài liệu giữa các thư viện ở Hoa Kỳ là một yếu tố quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ thư viện" Việc MLTV là điều cần thiết đối với sự phát triển của các thư viện ở mọi loại hình và quy mô
Tại Việt Nam, để đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhất thiết phải tăng cường nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của mỗi người dân, mỗi tổ chức ở tất cả các ngành, các lĩnh vực Vì vậy, Nhà nước và Bộ VHTT&DL đã thể hiện sự quan tâm thông qua những văn bản qui phạm pháp luật, các đề án, dự án, như “Đề án Đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ trong hoạt động thư viện ở Việt Nam”, hàng loạt các Tiêu chuẩn Quốc gia đã và đang được xây dựnglà cơ sở, tiền đề để dịch vụ MLTV được thực hiện
Trang 2927
1.3 Lịch sử phát triển
Dịch vụ MLTV không phải là một khái niệm mới Thực tiễn việc mượn
và cho mượn tài liệu đã xảy ra từ thế kỷ thứ 8 ở châu Âu Một bản sao thế kỷ thứ
8 của Thánh Augustine’s De Trinitate trong Thư viện Bodleian chứa một trang ban đầu để trống ở cuối bản thảo, trong đó ghi “…vào khoảng năm 800 , Anglo-Saxon đã nhập vào một danh sách nhỏ các cuốn sách.” Bản dịch và phân tích của Elias A Lowe về danh sách này và các chú thích đã chứng minh rằng danh sách có thể là một “danh mục” các bản thảo trong thư viện cổ của St Kilian’s ở Würzburg, và một số cuốn sách đã được gửi đến Holzkirchen và tu viện ở Fulda
Ba thư viện này gần về mặt địa lý, với nhà thờ Holz là phụ thuộc của tu viện Fulda Thư viện của Fulda là lớn nhất ở Đức
Mãi cho đến khoảng 200 năm sau Peiresc, bằng chứng về việc MLTV quốc tế được chính thức hóa bắt đầu xuất hiện trở lại Trên thực tế, cuối thế kỷ
19, nhiều thư viện thậm chí không cho bạn đọc thân thiết của họ mượn tài liệu
Ví dụ, Biblioteca Nacional de Madrid của Tây Ban Nha, được thành lập vào năm 1711 bởi Vua Felipe V, bị pháp luật cấm cho phép bạn đọc của thư viện mang tài liệu thư viện về nhà, ít hơn nhiều so với việc cho mượn tài liệu quốc tế
Tại Hoa Kỳ vào năm 1876, Samuel Green, giám đốc thư viện của Thư viện công cộng Worchester đã đề xuất một hệ thống chính thức cho dịch vụ MLTV cho các thư viện công cộng ở Hoa Kỳ đến Châu Âu làm ví dụ:
Ở nhiều nơi thuộc Châu Âu, bạn đọc có thể dễ dàng truy cập sách thuộc các thư viện ở các nước xa xôi Nếu họ được thông báo chính xác những cuốn sách có giá trị, thông tin và thậm chí cả bản thảo được gửi từ thư viện này đến thư viện khác
Trong một cuộc cách mạng vào năm 1883, chính phủ Áo tuyên bố rằng các thư viện địa phương có thể cho các thư viện nước ngoài mượn mà không cần
có sự cho phép rõ ràng của chính quyền trung ương Nhiều quốc gia đã làm theo điều này Cuối cùng, vào đầu những năm 1900, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ -
Trang 30Mặc dù thông lệ MLTV quốc tế của Châu Âu đã ngừng trong chiến tranh, sau khi chiến tranh kết thúc, Đức và Anh đã tích cực khôi phục dịch vụ MLTV giữa các nước châu Âu Vì cả Đức và Anh đều giữ lại danh mục liên hiệp của
họ, qua đó tất cả các yêu cầu về tài liệu đều được thực hiện Dịch vụ MLTV - liên lục địa cũng phát triển nhanh chóng Năm 1926, Thư viện Quốc hội Mỹ đã cho các thư viện bên ngoài Washington, D.C mượn 2.964 tập, bao gồm Canada, Đức, Ý và Na Uy
Dịch vụMLTV quốc tế gia tăng dẫn đến việc tạo ra Liên đoàn Hiệp hội Thư viện Quốc tế (IFLA) vào năm 1927 và đến năm 1928, nhiều quốc gia ở Châu Âu một lần nữa lại tham gia vào hoạt động MLTV một cách chính thức
Theo A.G Drachmann, Trợ lý Thư viện tại Đại học Thư viện ở Copenhagen, nhiều nước Châu Âu đã sử dụng hình thức MLTV quốc tế sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất Từ năm 1918 đến năm 1928, Thư viện Hoàng gia Đan Mạch đã mượn sách và bản thảo từ 86 thư viện khác nhau từ bên ngoài Đan Mạch, và họ cho các thư viện bên ngoài Đan Mạch mượn 1321 cuốn sách
Trang 3129
sau đó đã gửi yêu cầu đến Bibliothèque Nationale Cuốn sách sau đó được gửi đến từng văn phòng cho đến khi cuối cùng nó đến được với người đã yêu cầu ở thư viện Đan Mạch “Một giáo sư Đan Mạch từng muốn có một bản thảo được gửi từ Paris Nó mất chín tháng và tiêu tốn của anh ta khoảng 12 đô la Thủ thư trả lại trực tiếp - giá 50 xu ” Các quốc gia khác, chẳng hạn như Anh, vẫn chưa thiết lập một hệ thống chính thức MLTV mặc dù việc mượn tài liệu không chính thức được thực hiện thường xuyên
Năm 1934, ít nhất 38 quốc gia trên toàn thế giới đang triển khai dịch vụ MLTV Kết quả của việc trao đổi sách quốc tế trơ nên phổ biến, rộng rãi, năm
1935 IFLA được yêu cầu ban hành các quy định
Chiến tranh thế giới lần thứ 2 đã phá hủy thông lệ quốc tế về MLTV, và phải đến năm 1947, IFLA mới bắt đầu thảo luận về việc khởi động lại dịch vụ MLTV Tuy nhiên, nhiều quốc gia thiếu mục lục liên hợp, điều này gây khó khăn cho việc cho mượn tài liệu Cuối cùng, vào năm 1954, các quy tắc quốc tế mới được thiết lập đã dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng trong việc mượn và cho mượn tài liệu
Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã chậm chạp trong việc tiếp tục triển khai trở lại dịch
vụ này Mặc dù một số thư viện Hoa Kỳ miễn cưỡng bắt đầu cho Châu Âu mượn tài liệu sau chiến tranh, nhưng phải đến năm 1959, sau khi ALA ban hành Quy trình MLTV Quốc tế cho các Thư viện Hoa Kỳ, phần lớn các thư viện Hoa
Kỳ sẵn sàng tiếp tục cho mượn tài liệu của họ trong Đại Tây Dương
Thống kê của Hiệp hội các Thư viện nghiên cứu ARL 1993/94 (Association of Research Libraries, 1995) cho thấy sự gia tăng việc mượn của các thư viện Hiệp hội các Thư viện Nghiên cứu là 99% và sự gia tăng MLTV là 50% trong những năm từ 1986 đến 1994 Một trong những hướng đi mới thú vị nhất là động thái cho phép bạn đọc thực hiện các yêu cầu trực tiếp và không qua trung gian đối với tài liệu từ các thư viện khác Được phát triển bởi các công nghệ của Internet, theo các tiêu chuẩn như Z39.50 và Z39,63, và ngày càng có nhiều giao diện thân thiện với người dùng hơn
Trang 3230
Tổ chức liên hợp thư viện lớn nhất trên thế giới hiện nay cung cấp cho thư viện khả năng để MLTV là Tổ chức thư viện thế giới OCLC – Online Computer Library Center được thành lập năm 1967 tại Ohio – Hoa Kỳ Từ ý tưởng của khối liên hiệp các Thư viện Đại học Ohio muốn thử nghiệm khả năng thành lập một trung tâm xử lý kỹ thuật tập trung, cái tên OCLC ban đầu được hiểu theo nghĩa là Trung tâm Thư viện trường Đại học Ohio (Ohio College Library Center) Trong suốt thời gian mới thành lập, mục tiêu chính của OCLC là xây dựng một mạng lưới thư mục liên hợp giữa các thư viện thành viên của Đại học Ohio và tiếp đó là các thư viện trên toàn nước Mỹ Sản phẩm cốt lõi phục vụ cho
ý tưởng chia sẻ tài nguyên của OCLC đã được hình thành và phát triển đi cùng với quá trình phát triển của OCLC từ ngày thành lập đến nay đó là Cơ sở dữ liệu mục lục liên hợp toàn cầu Worldcat
Dịch vụ MLTV toàn cầu (Worldshare Interlibrary Loan - MLTV): Dựa trên cơ sở dữ liệu (CSDL) mục lục liên hợp Worldcat mà các thư viện đã tham gia xây dựng và đóng góp, từ đó các thư viện sẽ có thể lựa chọn sử dụng dịch vụ MLTV của OCLC Sau khi đã đăng ký sử dụng các thư viện có thể xây dựng chính sách MLTV trong phạm vi địa phương cũng như trên phạm vi toàn cầu Hiện nay dịch vụ MLTV của OCLC có sự tham gia của một số nhà cung cấp dịch vụ mượn tài liệu lớn và uy tín như: Thư viện Quốc hội Mỹ; Thư viện Quốc gia Canada; Thư viện Anh Quốc Số lượng các thư viện hiện đang tham gia trong hệ thống MLTV của OCLC gồm hàng chục nghìn thư viện và đây là dịch
vụ MLTV có phạm vi lớn nhất thế giới
Ba hệ thống thư mục trực tuyến này đã đóng một vai trò to lớn trong việc cung cấp hỗ trợ tự động cho việc sản xuất, xử lý và phổ biến thông tin thư mục theo yêu cầu của các thư viện Năm 1999 và 2006, WLN và RLG lần lượt hợp nhất với OCLC Với những thay đổi này, OCLC trở thành thư mục quốc gia duy nhất ở Hoa Kỳ
Trong những năm 1980, nhiều thư viện bắt đầu triển khai các hệ thống thư viện tích hợp tại địa phương, bao gồm cả danh mục trực tuyến (OPAC) Về mặt
Trang 3331
nào đó, sự phát triển này thể hiện một bước lùi về việc chia sẻ tài nguyên, vì OPAC cho phép các thư viện tạo các bản ghi cho một số tài liệu có sẵn cho người dùng địa phương mà không yêu cầu cung cấp chúng cho các thư viện khác Sự bùng nổ trong việc sử dụng mạng máy tính từ giữa đến cuối những năm 1980 đã bù đắp phần nào cho hạn chế này bằng cách cho phép những người
sử dụng tìm kiếm trong mục lục trực tuyến của các thư viện khác
Năm 1975, IFLA thành lập văn phòng MLTV Quốc tế để hỗ trợ một số ít các thư viện trong việc mượn tài liệu Năm 1978, IFLA sửa đổi Quy tắc năm
1954 với việc ban hành MLTV quốc tế: Nguyên tắc và Hướng dẫn thủ tục
“Trong khi các quy tắc không có hiệu lực bắt buộc, và trong khi mọi quốc gia phải xác định cách thức thực hiện xen kẽ, các hướng dẫn này được khuyến khích mạnh mẽ đối với từng quốc gia và thư viện làm cơ sở MLTV quốc tế ”
Nguyên tắc đã được cập nhật một lần nữa vào năm 2006 và cung cấp khuyến nghị cho các thư viện Nhiều thư viện trên thế giới xem xét và tuân theo các khuyến nghị của IFLA, bao gồm cả Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ
1.4 Lợi ích của dịch vụ mượn liên thư viện
1.4.1 Đối với các cơ quan thông tin – thư viện
Các thư viện thành viên tham gia dịch vụ MLTV sẽ có quyền khai thác,
và sử dụng nguồn lực thông tin của các đơn vị khác trong cùng hệ thống Ngoài khả năng cung cấp các tài liệu sẵn có của thư viện mình còn có thể cung cấp các tài liệu mà thư viện không có sẵn – thuộc quyền sở hữu của thư viện khác thông qua dịch vụ MLTV
Nhu cầu về thông tin ngày càng cao đã tạo ra một khó khăn cho các thư viện vì ngân sách hiện nay không theo kịp với sự gia tăng nhanh chóng của giá sách và đặc biệt là các tài liệu học thuật, chuyên ngành Càng nhiều tài liệu được xuất bản thì các thư viện càng ít có khả năng mua bổ sung được hết Bằng việc tải các biểu ghi thư mục trong hệ thống, các thư viện sẽ tránh được được tình
Trang 34Đối với mỗi một thư viện thành viên, bằng cách đóng vai trò như một cầu nối đến tài liệu sách, báo của thư viện ở xa, tài liệu trực tuyến hoặc các các dịch
vụ trong thư viện của riêng họ - dịch vụ MLTV giúp kết nối cộng đồng địa phương của họ đến thế giới thông tin rộng lớn hơn và phát huy tối đa sức mạnh tiềm tàng của nó Bên cạnh đó, cũng hình thành văn hoá hợp tác giữa các thư
viện
1.4.2 Đối với người dùng tin
Dịch vụ MLTV là một chiến lược quan trọng để đảm bảo rằng các học giả
và nhà nghiên cứu có cơ hội học tập, làm việc và thực hiện nghiên cứu trong một môi trường giàu tài nguyên, cho phép khám phá, phân tích và đúc kết dẫn đến việc tạo ra kiến thức mới
Việc tra cứu, tìm kiếm thông tin, tài liệu trở nên dễ dàng hơn Chỉ cần một vài thao tác đơn giản, bạn đọc có thể tìm thấy tài liệu mình cần ở các thư viện khác thông qua một điểm truy cập duy nhất Thông tin trên biểu ghi thư mục trong mục lục liên hợp sẽ chỉ rõ thư viện đang sở hữu tài liệu mà bạn đọc cần
1.4.3 Đối với hệ thống thư viện công cộng Việt Nam:
Để có thể triển khai dịch vụ MLTV, các thư viện thành viên tham gia cần xây dựng 1 hệ thống mục lục liên hợp trực tuyến Mục lục liên hợp trực tuyến sẽ phản ánh rõ ràng, chính xác tình trạng về nguồn lực thông tin của các thư viện
Từ đó, sẽ có những phân tích, đánh giá kịp thời nhằm đưa ra các chính sách phù hợp để nâng cao cả chất lượng, số lượng nguồn lực thông tin, đáp ứng tối đa nhu cầu của bạn đọc Đồng thời, đề ra các chiến lược phát triển chung của HTTVCC
Trang 3533
Việc các thư viện trong cùng hệ thống tham gia dịch vụ MLTV không chỉ
có ý nghĩa về việc hỗ trợ lẫn nhau về việc cung cấp tài liệu đáp ứng nhu cầu tin,
mà còn làm gia tăng mối quan hệ gắn kết, hợp tác, chia sẻ vì mục đích chung
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến mượn liên thư viện
1.5.1 Vai trò của ngưỡi lãnh đạo
Vai trò của người lãnh đạo được thể hiện không chỉ phụ thuộc vào chức danh họ đảm nhiệm mà nó còn phụ thuộc vào thái độ, nhận thức và hành động
Thái độ của những người làm công tác quản lý, lãnh đạo cũng như của cán bộ thư viện đối với hoạt động hợp tác, liên kết đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động hợp tác liên thư viện Trong bối cảnh việc hợp tác giữa các thư viện tại Việt Nam còn chủ yếu dựa trên những mối quan hệ sẵn có chứ chưa mang tính hệ thống và bắt buộc thì thái độ hợp tác sẽ trở thành yếu tố quan trọng quyết định việc tạo dựng và duy trì sự hợp tác lâu dài
Bên cạnh đó, hợp tác đồng nghĩa với việc cán bộ thư viện tại các đơn vị thành viên sẽ phải làm việc với nhau trong một thời gian dài Trong quá trình đó
sẽ không tránh khỏi những mâu thuẫn hay bất đồng quan điểm trong cách làm việc Việc thiếu đi thái độ hợp tác giữa các cá nhân cũng sẽ dẫn đến việc hợp tác không hiệu quả khi họ không tìm ra được sự thống nhất trong các dự án hợp tác
Mỗi một thư viện, cơ quan thông tin có những đặc trưng phát triển riêng
và đi theo chính sách, quy định của người điều hành nó Hành động của các nhà lãnh đạo được thể hiện thông qua những quyết định Quyết định của lãnh đạo luôn có tác động lớn đến sự phát triển thư viện nói chung và các sản phẩm dịch
vụ thư viện nói riêng Việc đưa ra các chính sách phát triển và phương hướng xây dựng cho từng loại hình sản phẩm dịch vụ thư viện luôn cần sự quan tâm, hiểu biết và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan
1.5.2 Người dùng tin và nhu cầu tin
Trang 3634
Nghiên cứu NDT là một trong những nhiệm vụ quan trọng của bất kỳ cơ quan thông tin – thư viện nào với mục tiêu là không ngừng nâng cao khả năng thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ
NDT được coi là đối tượng phục vụ, là khách hàng, là người tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của cơ quan thông tin giống như mọi khác hàng của các dịch vụ xã hội Đồng thời, NDT được coi là người sản xuất "nguyên liệu thông tin" cho hoạt động của cơ quan thông tin Sau khi nhận được dịch vụ thông tin – thư viện theo yêu cầu, NDT tham gia vào hầu hết các hoạt động thông tin: như đánh giá nguồn tin, giúp đỡ lựa chọn và bổ sung tài liệu, hiệu chỉnh các hoạt động thông tin- thư viện Do vậy, yếu tố này có sự ảnh hưởng tích cực đến dịch
vụ MLTV
1.5.3 Sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ mượn liên thư viện
Sản phẩm và dịch vụ thông tin là kết quả của các hoạt chuyên môn nghiệp
vụ của thư viện, giữ vai trò như một chiếc cầu nối giúp NDT có thể tiếp cận, khai thác và sử dụng NLTT của thư viện đó
Sản phẩm thông tin là kết quả của quá trình xử lý thông tin trong dây chuyền thư viện, và chúng tạo thành hệ thống công cụ để kiểm soát một hay một
số nguồn thông tin, tài liệu nào đó Vì vậy, chúng được sử dụng trong quá trình tìm kiếm thông tin, tài liệu
Dịch vụ thông tin được xác định là toàn bộ các công việc, hoạt động, quá trình hay phương thức mà các thư viện tổ chức thực hiện nhằm đáp ứng các loại nhu cầu thông tin của cộng đồng người đọc của mình [34]
MLTV cũng là 1 loại dịch vụ thông tin – thư viện với bản chất là 1 giao dịch điện tử Và để có thể thực hiện được MLTV, cần có những sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ như: tra cứu trên website của thư viện, dịch vụ tư vấn và hỗ trợ tìm kiếm thông tin, photo tài liệu, thông báo qua email, điện thoại và chat hỗ trợ,
1.5.4 Nguồn lực thông tin
Trang 3735
Đối với khái niệm về nguồn lực thông tin, hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau Theo tác giả Nguyễn Hữu Hùng “Nguồn lực thông tin là một dạng sản phẩm trí óc, trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng” [10]
Tác giả cho rằng, NLTT chỉ những tài liệu thuộc các định dạng khác nhau: sách, báo, tạp chí, tài liệu số,… NLTT chứa đựng lượng tri thức khổng lồ của nhân loại, được đúc kết từ nhiều thế hệ Việc tổ chức, khai thác và sử dụng
có hiệu quả NLTT sẽ giúp các thế hệ sau có thể kế thừa những thành tựu của thế
hệ trước, tránh nghiên cứu trùng lặp, tiết kiệm thời gian và công sức
Vị thế xã hội của thư viện được chứng minh thông qua qua việc lưu giữ, bảo tồn các giá trị thành văn của dân tộc, nâng cao dân trí, tạo ra điều kiện để NDT có thể thuận lợi sử dụng thư viện, kể cả ở vùng sâu vùng xa, và đặc biệt là mức độ đáp ứng NCT
1.5.5 Cơ chế, chính sách
Thể chế là căn cứ về nguyên tắc để hình thành chính sách và chính sách giữ vai trò tác động trực tiếp đến sự vận hành của cơ chế Như vậy, cơ chế và chính sách có quan hệ hữu cơ, tương hỗchính sách - đó là những chủ trương thích ứng với các đặc điểm và điều kiện KT-XH của từng giai đoạn phát triển và nhằm vào việc bảo đảm cho sự vận hành đúng hướng và tích cực của cơ chế
Chính sách nhìn tổng thể gồm có chính sách cơ bản và chính sách “ứng phó” Chính sách cơ bản là các chính sách có tính lâu dài (chiến lược) như: Chính sách dài hạn, chính sách trung hạn và chính sách có tính “ứng phó” với những đặc thù phát sinh, trong chừng mực nào đó có thể gọi là “sách lược”
1.5.6 Nguồn nhân lực, chất lượng cán bộ thư viện
Trong bất cứ một hoạt động nào, yếu tố con người cũng giữ vai trò quyết định và có tính chất quyết định Vì vậy, chất lượng của các dịch vụ luôn phụ thuộc vào người tạo ra chúng Nếu người cán bộ có trình độ, có nghiệp vụ vững, chuyên môn sâu sẽ tạo ra được những sản phẩm và dịch vụ làm hài lòng người
Trang 38Để đảm bảo được vai trò đó, CBTV phải học cách sử dụng công nghệ và trở thành cầu nối thông tin với những người tìm kiếm nó, chứ không phải là chủ
sở hữu nguồn tài nguyên kiến thức như trước đây, CBTV cần xác định được những nhu cầu thông tin mà NDT cần, đồng thời phải biết tổ chức, quản lý, giới thiệu, khai thác các nguồn lực thông tin trong thư viện, hiểu được ý nghĩa, nội dung cơ bản nguồn lực thông tin thư viện mà mình đang quản trị, biết hướng dẫn bạn đọc khai thác, sử dụng thông tin phục vụ cho công việc của mỗi NDT
1.5.7 Cơ sở vật chất, hạ tầng công nghệ thông tin
Hạ tầng CNTT bao gồm hệ thống máy chủ, máy trạm, hệ thống internet, phần mềm quản trị thư viện Hiện nay, yếu tố CNTT, cơ sở vật chất, trang thiết
bị thư viện đã và đang là yếu tố quan trọng cho sự phát triển thư viện
MLTV thực chất là một giao dịch điện tử được thự hiện trong môi trường mạng Internet thông qua giao thức TCP/IP, chuẩn tra cứu liên thư viện Z39.50 Như vậy, rõ ràng công tác thư viện sẽ đòi hỏi đầu tư cao và chất lượng về hạ tầng CNTT, cơ sở vật chất với nhiều trang thiết bị hiện đại, giúp người làm thư viện “làm chủ” và điều hành hiệu quả các thiết bị
1.5.8 Các tiêu chuẩn về dữ liệu và công nghệ
Để người sử dụng có thể nhanh chóng thu thập được nhiều thông tin cần dùng, thư viện phải là nơi phục vụ dữ liệu thông tin nhất quán, chính thống và tin cậy Công tác xử lý tài liệu cần được áp dụng các chuẩn, tiêu chuẩn quốc tế, tạo lập dữ liệu thống nhất, các thư viện có thể sử dụng kết quả thông tin của nhau, tránh lãng phí về thời gian, nhân lực
Trang 3937
Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO: Tiêu chuẩn là tài liệu được thiết lập bằng cách thỏa thuận và do một tổ chức được thừa nhận và phê duyệt nhằm cung cấp những qui tắc hướng dẫn hoặc đặc tính cho các hoạt động hoặc kết quả hoạt động để sử dụng chung và lặp đi lặp lại nhằm đạt được mức độ trật
tự tối ưu trong một khung cảnh nhất định
Theo Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kĩ thuật năm 2006 thì tiêu chuẩn là qui định về đặc tính kĩ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nanang cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này
Từ điển trực tuyến về thư viện và thông tin học (ODLIS) đưa ra định nghĩa về tiêu chuẩn thư viện: Tiêu chuẩn là các tiêu chí ho hội nghề nghiệp, cơ quan có thẩm quyền về đánh giá, kiểm định hoặc các cơ quan chính phủ xây dựng nhằm đo lường và đánh giá các dịch vụ thư viện, vốn tài liệu và các chương trình hoạt động
Chuẩn hóa trong lĩnh vực thư viện bao gồm: việc xác lập và áp dụng chuẩn (tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ hoặc có liên quan đến hoạt động thư viện) với mục đích kiểm soát, đánh giá, đảm bảo cho các hoạt động diễn ra chất lượng, hiệu quả khi phục vụ và nâng cao năng suất làm việc của CBTV Đồng thời, đây cũng là cơ sở để các TVCCVN đẩy mạnh việc hợp tác, chia sẻ, MLTV trong nước và hướng đến mục tiêu xa hơn là quốc tế Đối tượng của việc chuẩn hóa chính là các sản phẩm, dịch vụ cũng như các qui trình hoạt động trong thư viện
Chuẩn nghiệp vụ là những tiêu chuẩn đã được nghiên cứu, lựa chọn và áp dụng cho một lĩnh vực Đối với ngành thư viện, đây là những qui tắc, qui định
mà khi CBTV làm việc cần áp dụng để tạo ra những sản phẩm, dịch vụ đáp ứng tốt nhất NCT của NDT
Các tiêu chuẩn được áp dụng bao gồm các tiêu quốc tế và tiêu chuẩn quốc gia Các tiêu chuẩn quốc tế được đưa ra bởi các tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO,
Trang 4038
IFLA, trải qua quá trình xem xét mà chúng có thể được áp dụng ngay hoặc cần sửa đổi một vài nội dung để phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng nước Tiêu chuẩn quốc gia bao gồm các qui tắc, các văn bản hướng dẫn thực hiện cho các hoạt động, được sử dụng chung và có thể được sửa đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn
1.5.9 Sự sẵn sàng hợp tác của các thư viện
MLTV phụ thuộc rất lớn vào sự hợp tác giữa các thư viện với nhau Để có thể hợp tác trước hết cần đến sự tự giác, để có sự tự giác thì đầu tiên các thư viện cũng cần nhận thức được tầm quan trọng và lợi ích của việc chia sẻ, hợp tác nói chung và MLTV nói riêng
Đối với các TVCC dù rằng có chung sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ, tuy nhiên, việc tổ chức các hoạt động thông tin diễn ra trong mỗi thư viện lại có sự khác nhau Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên xã hội, dân sinh của địa phương mà thư viện có những cách thức phát triển cho phù hợp Khi đó, việc hợp tác sẽ buộc các thư viện tìm ra tiếng nói chung, tạo điều kiện thuận lợi cho nhau để cùng khai thác NLTT, sử dụng sản phẩm và dịch vụ một cách có hiệu quả, hướng tới mục tiêu đáp ứng tối đa nhu cầu bạn đọc
1.5.10 Vấn đề bản quyền
Sự ràng buộc với luật quyền tác giả (bản quyền) khiến các thư viện ở Việt Nam đứng trước những thách thức không nhỏ Vấn đề bản quyền trong số hóa tài liệu cũng như trong môi trường số là rất phức tạp Các điều ước quốc tế và hệ thống pháp luật quốc gia đã tiếp cận và điều chỉnh những vấn đề mới nảy sinh trong môi trường số, tuy nhiên đó vấn là vấn đề không chỉ của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, cơ quan quản lý nhà nước cũng như những người khai thác,
sử dụng tác phẩm để số hóa một cách hợp pháp Như vậy cán bộ thư viện và lãnh đạo các cơ quan thông tin thư viện cần nắm rõ những tác phẩm nào, hành vi nào vi phạm bản quyền tác giả
1.5.10 Chi phí duy trì, triển khai dịch vụ