Xét cả về tính chất, chức năng và nội dung hoạt động, cơ quan báo chí không thể được xem là một doanh nghiệp thuần túy, bởi vì doanh nghiệp được thành lập là để kinh doanh còn cơ quan bá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, dưới sự
hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Thành Lợi
Các số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, phát hiện mới là trung
thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học
nào trước đây Luận văn có sử dụng, phát triển, kế thừa một số tư liệu, số
liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu liên quan đến
nội dung đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Hà My
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và thực hiện luận văn Cao học, tôi đã nhận được rất nhiều sự chỉ dẫn nhiệt tình của các thầy, cô giáo Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN) và Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tôi vô cùng quý trọng, biết ơn sự chỉ bảo đó và xin được chân thành gửi lời tri ân đến toàn thể các thầy, cô giáo Đặc biệt, tôi xin ngỏ lời cám ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Nguyễn Thành Lợi đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn Và hơn hết, trong quá trình làm luận văn, tôi đã học tập ở thầy một tinh thần nghiên cứu khoa học nghiêm túc, cẩn thận, tỉ mỉ và một thái
độ làm việc hết mình Xin được gửi đến thầy sự biết ơn và lòng kính trọng chân thành nhất
Cám ơn Ban Lãnh đạo cơ quan Thông tấn xã Việt Nam, tổng biên tập tòa soạn báo Le Courrier du Vietnam, bạn bè và đồng nghiệp tại cơ quan luôn sẵn sàng giúp đỡ tôi, tạo điều kiện để tôi tham gia hoàn thành chương trình đào tạo sau đại học
Cám ơn gia đình và những người thân yêu đã luôn tin tưởng, động viên
và ủng hộ
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế nhất định Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của Hội đồng Khoa học, của quý thầy, cô giáo cùng với sự góp ý của bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện có chất lượng tốt hơn
Hà Nội, tháng 10 năm 2020
Nguyễn Hà My
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 13
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 14
7 Bố cục luận văn 15
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ 16
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu 16
1.1.1 Báo chí 16
1.1.2 Kinh tế báo chí 18
1.1.3 Nguồn thu và nguồn chi của báo chí 21
1.1.4 Báo chí – truyền thông trong kỷ nguyên số 22
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động kinh tế báo chí 26
1.3 Đặc điểm, tính chất, phạm vi, và nội dung của hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí 29
1.3.1 Đặc điểm, tính chất, phạm vi và mức độ hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí 29
1.3.2 Nội dung chủ yếu của hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí 34
1.4 Những yếu tố tác động đến hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí 37
1.4.1 Những điều kiện và tiền đề tổ chức, thực hiện hoạt động kinh tế của các cơ quan báo chí 37 1.4.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ
Trang 6quan báo chí 38
Tiểu kết chương 1: 47
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG QUA KHẢO SÁT CÁC BÁO CỦA THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM 48
2.1 Tổng quan về Thông tấn xã Việt Nam và các báo Thể thao & Văn hóa và báo Việt Nam News trong diện khảo sát 48
2.1.1 Tổng quan về Thông tấn xã Việt Nam 48
2.1.2 Hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại Thông tấn xã Việt Nam hiện nay 49
2.1.3 Giới thiệu các cơ quan báo chí thuộc diện khảo sát 54
2.2 Thực trạng hoạt động kinh tế báo chí truyền thông qua khảo sát tại báo Thể thao & Văn hóa và Việt Nam News 57
2.2.1 Báo Thể thao & Văn hóa 57
2.2.2 Báo Việt Nam News 71
2.3 Đánh giá chung về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các báo được khảo sát trong Thông tấn xã Việt Nam 80
2.3.1 Thành công và nguyên nhân thành công 80
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân hạn chế 84
Tiểu kết chương 2: 87
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG TẠI THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM TRONG KỈ NGUYÊN SỐ 88
3.1 Những xu hướng phát triển hoạt động kinh tế báo chí truyền thông ở Việt Nam hiện nay 88
3.1.1 Xu hướng tự chủ về tài chính và sự hình thành nền kinh tế báo chí 88
3.1.2 Đa dạng hoạt động kinh tế báo chí truyền thông 90
3.1.3 Xu hướng hình thành mô hình hoạt động tổ hợp báo chí 92
3.1.4 Xu hướng thương mại hóa báo chí 94
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế báo chí truyền thông của Thông tấn xã Việt Nam trong kỉ nguyên số 96
Trang 73.2.1 Nâng cao chất lượng nội dung, hoàn thiện phát triển kênh phát hành và
quảng cáo 96
3.2.2 Tăng số lượng phát hành các ấn phẩm 101
3.2.3 Tăng nguồn thu từ các hoạt động kinh tế đối với báo mạng điện tử 105
3.2.4 Đào tạo nguồn nhân lực quản lý và làm kinh tế báo chí 107
3.2.5 Phát huy sáng tạo cá nhân, trách nhiệm của các đoàn thể thuộc tòa soạn; nâng cao hiệu quả hoạt động của tòa soạn 108
3.2.6 Mở rộng hợp tác, liên kết trong và ngoài nước 111
3.2.7 Tăng cường tìm hiểu kinh tế báo chí truyền thông trên thế giới, tiếp thu, chọn lọc kinh nghiệm để phát triển kinh tế báo chí truyền thông 113
3.3 Đề xuất kiến nghị 114
3.3.1 Đối với Thông tấn xã Việt Nam 114
3.3.2 Đối với Báo Thể thao & Văn hóa và Báo Việt Nam News thuộc diện khảo sát 116
Tiểu kết chương 3: 119
KẾT LUẬN 120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 123
PHỤ LỤC 129
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội
KT-XH Kinh tế - Xã hội
Nxb Nhà xuất bản
PGS TS Phó Giáo sư Tiến sĩ
TT&VH Thể thao & Văn hóa
TTXVN Thông tấn xã Việt Nam
VH-XH Văn hóa – Xã hội
XHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 9NỘI DUNG SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình tổ chức của Báo TT & VH 55
Sơ đồ 2.2 Mô hình tổ chức báo Việt Nam News 57
Sơ đồ 2.3 Mô hình kênh phát hành Báo TT &VH 59
Sơ đồ 2.4 Mô hình kinh doanh của Báo TT&VH 60
Sơ đồ 2.5 Mô hình kênh phát hành Báo Việt Nam News 72
Sơ đồ 2.6 Mô hình kinh doanh của Báo Việt Nam News 73
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Bảng giá quảng cáo Báo TT&VH năm 2018 (đơn vị đông/kỳ) –
Nguồn: Báo TT &VH năm 2018 62 Hình 2.2 Bảng giá quảng cáo báo việt nam news năm 2019 (đơn vị đông/kỳ)
– Nguồn: Báo Việt Nam News năm 2019 75
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Số lượng báo in TT&VH phát hành trong 2 năm 2018-2019 (đơn
vị: triệu bản) 64 Biểu đồ 2.2 Số lượng người truy cập vào website của báo điện tử TT&VH
trong hai năm 2018-2019 (đơn vị: triệu người) 65 Biểu đồ 2.3 Doanh thu từ phát hành và quảng cáo tại Báo TT&VH trong năm
2018- 2019 (đơn vị: tỷ đồng) 66 Biểu đồ 2.4 Cơ cấu các nguồn thu tại Báo TT&VH trong năm 2019 (đơn
vị %) 67 Biểu đồ 2.5 Số lượng người truy cập vào website của báo điện tử Việt Nam
News trong hai năm 2018-2019 (đơn vị: triệu người) 77 Biểu đồ 2.6 Doanh thu từ phát hành và quảng cáo tại Báo Việt Nam News
trong năm 2018- 2019 (đơn vị: tỷ đồng) 79
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ sau năm 1986 đến nay kinh tế Việt Nam đang từng bước phát triển, cùng với đó, nền báo chí nước ta cũng đã dần khởi sắc, thoát khỏi sự đơn điệu, một chiều theo hướng ngày càng phong phú về nội dung cũng như hình thức thể hiện, đa dạng hơn về chủng loại và đáp ứng nhu cầu của độc giả Dễ nhận thấy, báo chí Việt Nam đã có nhiều đổi mới và vươn lên mạnh
mẽ cả về số lượng và chất lượng Các tờ báo đã không ngừng tăng số lượng phát hành, các đài truyền hình không ngừng cho ra mắt những kênh mới mang tính chuyên biệt cao… Cùng với sự phát triển của hoạt động báo chí được manh nha phát triển và ngày càng trở thành mặt không thể thiếu ở mỗi
cơ quan báo chí
Hiện nay, vẫn còn nhiều các quan niệm khác nhau về kinh tế báo chí Hai chỗ dựa quyết định cho nền kinh tế báo chí chính là sản phẩm hàng hóa báo chí truyền thông và dịch vụ quảng cáo trên các phương tiện truyền thông
Xã hội càng phát triển thì yêu cầu thông tin báo chí càng tăng lên, do đó, nhu cầu về sản phẩm hàng hóa báo chí cũng tăng lên Nền kinh tế tăng trưởng nhanh dẫn đến nhu cầu ngày càng lớn về quảng cáo nhằm đưa hàng hóa, dịch
vụ đến người tiêu dùng Mặt khác, sự phát triển kinh tế báo chí truyền thông còn dẫn đến sự tác động có tính hai mặt vào đời sống báo chí truyền thông: thứ nhất là nó mang lại nguồn lực tài chính quan trọng, đảm bảo cho sự tiếp tục phát triển, tăng cường cơ sở vật chất, đổi mới thiết bị kỹ thuật công nghệ,
mở mang thêm các nguồn thông tin, tài liệu, cũng như công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ những người làm báo Nói theo cách này thì kinh tế báo chí trở thành động lực phát triển cho báo chí; thứ
Trang 12hai, sự phát triển kinh tế báo chí dẫn tới hiện tượng thương mại hóa báo chí, hay là sự xuất hiện những sản phẩm báo chí thuần túy hàng hóa, chỉ quan tâm thu lợi nhuận, không quan tâm đến chức năng thông tin tuyên truyền hoặc coi chức năng thông tin, tuyên truyền như vỏ bọc cho hoạt động kinh tế
Đảng và Nhà nước ta khuyến khích các cơ quan báo chí tự chủ tài chính là đúng đắn nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước, nhưng đây là một công việc hoàn toàn không dễ dàng đối với các cơ quan báo chí
Để trang trải chi phí sản xuất, các cơ quan báo chí thực hiện kinh doanh thông qua hai hoạt động chính là phát hành và quảng cáo Kết quả kinh doanh này tùy thuộc vào nhiều yếu tố, không phải lúc nào cũng thuận lợi Liên tiếp những năm gần đây cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến suy giảm kinh tế trong nước đã tác động rất lớn tới tình hình sản xuất kinh doanh giữa các doanh nghiệp nói chung, trong đó, có các cơ quan báo chí hoạt động tự chủ, tự trang trải về tài chính Theo thống kê của Cục báo chí, Bộ Thông tin & Truyền thông, trong số 982 cơ quan báo, tạp chí được cấp phép hoạt động, chỉ
có hơn 300 cơ quan báo chí cân đối được thu – chi có lãi Tuy nhiên, trong số hơn 300 cơ quan này cũng có năm lỗ, năm lãi
Luật Báo chí xác định báo chí là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và là diễn đàn của nhân dân với nhiệm vụ chủ yếu là tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, định hướng dư luận xã hội Như vậy, báo chí là đơn vị vì sự nghiệp, nhưng là đơn vị sự nghiệp đặc thù, là một ngành nghề đặc biệt Xét cả về tính chất, chức năng và nội dung hoạt động, cơ quan báo chí không thể được xem
là một doanh nghiệp thuần túy, bởi vì doanh nghiệp được thành lập là để kinh doanh còn cơ quan báo chí phải thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình, sản phẩm báo chí không phải là một thứ hàng hóa bình thường, mà là một sản phẩm có tác động mạnh mẽ tới nhận thức và hành vi xã hội Xét về mặt công
Trang 13nghệ, sản phẩm báo chí là sản phẩm có chất xám và công nghệ cao
Vì vậy, có thể nói vấn đề kinh tế báo chí đã trở thành mối quan tâm thường xuyên của các nhà báo và các nhà quản lý, nhà nghiên cứu báo chí trên các diễn đàn, trong các trường đào tạo báo chí và trong các hội nghị báo chí thời gian gần đây Tuy nhiên, thực tế hiện nay có rất ít những công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế báo chí
Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) là cơ quan thuộc Chính phủ, thực hiện chức năng của một hãng thông tấn quốc gia bao gồm: (1) Thu thập, cung cấp thông tin báo cáo tham khảo phục vụ lãnh đạo trong chỉ đạo, điều hành; (2) Thu thập, cung cấp thông tin cho hệ thống cơ quan báo chí trong nước; (3) Cung cấp thông tin trực tiếp đến công chúng thông qua các loại hình báo, tạp chí in, báo điện tử, truyền hình; (4) Giữ vai trò chủ đạo trong công tác thông tin đối ngoại của quốc gia Về tổ chức bộ máy và tài chính, Thông tấn xã Việt Nam là đơn vị sự nghiệp có thu công lập, được nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm kinh phí hoạt động thường xuyên để thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao
kinh doanh báo chí từ năm 1982, với sự ra đời của bản “Tin nhanh España
triển và giữ vị trí hàng đầu trong lĩnh vực báo chí nước ta Những năm đầu thập niên 90, nhiều ấn phẩm của TTXVN được công chúng đón nhận và yêu
mến như: Các bản Tài liệu tham khảo, báo Thể thao và Văn hóa, báo Tuần
Tin Tức, báo Việt Nam News, báo Le Courier du Vietnam và bản tin kinh tế
Vietnam Plus (2008), Truyền hình Thông tấn (2010), đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng trong tình hình mới Trong giai đoạn này, các đơn vị báo chí của TTXVN cũng tích cực khai thác tiềm năng trong kinh tế thị trường,
Trang 14nguồn thu từ phát hành và quảng cáo khá cao và ổn định
Nam Trong thời kỳ kinh tế khó khăn như hiện nay, cũng như các cơ quan báo chí khác, TTXVN gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì, phát triển hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của mình Tuy nhiên, với một định hướng đúng đắn TTXVN vẫn được đánh giá là một trong những cơ quan báo chí hàng đầu Việt Nam, với doanh thu ổn định và tiếp tục tăng những hoạt động phát triển
Tính đến nay vẫn chưa có nghiên cứu, đánh giá cụ thể nào về thực trạng
tổ chức hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại TTXVN được thực hiện
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn vấn đề “Hoạt
động kinh tế báo chí truyền thông của Thông tấn xã Việt Nam trong kỉ nguyên số” để làm đề tài luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo nhiều nghiên cứu, từ lâu nay, hoạt động kinh tế luôn là yếu tố then chốt, sống còn đối với các cơ quan báo chí tư nhân trên thế giới Bên cạnh việc phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí của công chúng, hầu hết các đơn vị truyền thông tư nhân ở nước ngoài được coi là những công ty, tập đoàn kinh
tế Kinh tế báo chí truyền thông đem lại nguồn thu lớn cho quốc gia, chủ yếu
là các loại thuế
Cuốn Báo chí trong kinh tế thị trường của tác giả người Nga
Grabennhicốp (Nxb Thông tấn, năm 2003) đã đề cập những đặc trưng của báo chí trong điều kiện thị trường Tác giả phân tích, so sánh sự khác nhau giữa hoạt động của tòa soạn báo chí theo chủ nghĩa xã hội và trong điều kiện thị trường Và đặc biệt, trong tác phẩm này, tác giả sử dụng khái niệm “hàng hóa – báo chí”, coi sản phẩm báo chí là hàng hóa
Trang 15Trong cuốn Truyền thông đại chúng - từ thông tin đến quảng cáo của
tác giả Jacques Locquin (Nguyễn Ngọc Kha dịch, Nxb Thông tấn, năm 2004) Tác giả cuốn sách cũng đã đề cập đến mối quan hệ giữa quảng cáo và truyền thông đại chúng Trong đó nhấn mạnh quảng cáo đóng vai trò chủ chốt để tạo nguồn thu của các cơ quan truyền thông và nhận định về những tiềm năng to lớn của quảng cáo đối với cơ quan có hoạt động kinh tế báo chí
Tháng 2, năm 2006, lần đầu tiên Hội thảo Kinh tế báo chí thế giới lần thứ 7 được tổ chức tại Châu Á Hội thảo diễn ra tại Bắc Kinh (Trung Quốc) với chủ đề “Sản nghiệp báo chí”, Toàn cầu hóa”, “Đa dạng hóa”, “Nhận biết
và tán đồng” – do GS Kinh tế báo chí hàng đầu thế giới Robert G Picard khởi xướng được đánh giá có ý nghĩa rất quan trọng trong việc thúc đẩy công tác kinh tế báo chí ở Châu Á
Từ những thành công của những Tập đoàn truyền thông lớn trên thế giới trong hoạt động kinh tế báo chí, nhiều nhà nghiên cứu đã nghiên cứu và cho ra đời những tác phẩm có thể làm cẩm nang cho các cơ quan truyền thông
khác có tham gia làm dịch vụ báo chí – truyền thông Đó là cuốn Bí quyết
thành công của các thương hiệu truyền thông hàng đầu thế giới của tác giả
Mark Tungate (do Trung An biên dịch, Nxb Trẻ, năm 2007) Trong đó, tác giả cuốn sách có đề cập đến bí quyết thành công của các thương hiệu truyền thông nổi tiếng trên thế giới như: CNN, BBC, Reuter… với những bí quyết, chiến thuật giới thiệu và bán các sản phẩm ra công chúng Điểm chung nhất đi đến thành công của các thương hiệu này là việc điều hành, xây dựng phát triển cơ quan báo chí như một doanh nghiệp, tập đoàn
Vì tầm quan trọng và lợi ích của báo chí nên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu, sách, báo bàn về vấn đề kinh tế báo chí Tuy nhiên, sự khác biệt về chế độ chính trị, văn hóa, xã hội khiến chúng ta không thể áp dụng nguyên văn các lý thuyết của thế giới vào việc điều hành, tổ chức hoạt động kinh tế báo chí truyền thông ở Việt Nam mà chỉ tham khảo, nghiên cứu để kế
Trang 16thừa có chọn lọc vào phương pháp khi khảo sát và phân tích các sản phẩm, dịch vụ báo chí
2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam chưa có nhiều các cuốn sách viết chuyên sâu về vấn đề kinh tế báo chí, tuy nhiên trong các nghiên cứu của mình tác giả luận văn có tìm hiểu được một số nghiên cứu đề cập đến hoạt động kinh tế báo chí như:
Cuốn Định hướng hoạt động và quản lý báo chí trong điều kiện nền
kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2002, tác
giả Trần Quang Nhiếp cũng đã bàn về vấn đề định hướng hoạt động và quản
lý báo chí trong điều kiện nền kinh thị trường nước ta hiện nay
Cuốn Báo chí thế giới xu hướng phát triển, Nxb Thông tấn, năm 2008,
tác giả Đinh Thị Thúy Hằng tập trung phân tích các “trường phái”, các xu hướng phát triển của báo chí hiện đại trên thế giới và sức ép kinh tế - tài chính cũng là vấn đề đặt ra đối với các cơ quan báo chí truyền thông
Cuốn Tổng quan lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam 1925 - 2010, Nxb
Chính trị Quốc gia, do tác giả Đào Duy Quát (chủ biên), Đỗ Quang Hưng, Vũ Duy Thông đã có những đánh giá về thời kỳ đổi mới từ năm 1986, báo chí bắt đầu đổi mới cách nghĩ, cách làm theo hướng thị trường Nhất là ở miền Nam, một số tờ báo đã tự mình phát hành, từng bước chủ động động “kinh doanh” báo chí Đây chính là sự đổi mới rất cơ bản về tư duy làm báo của Việt Nam ở thời điểm đó
Trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, năm 2012, tác giả
Nguyễn Văn Dững đã đề cập đến chức năng kinh tế - dịch vụ của báo chí, theo ông thì chức năng này đang trở thành vấn đề được các cơ quan báo chí quan tâm
Cuốn Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam,
Nxb Chính trị Quốc gia, năm 2012, tác giả Dương Xuân Sơn đã đề cập đến sự phát triển kinh tế của Việt Nam, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới
Trang 17chính trị Trong đó, có đề cập đến vấn đề toàn cầu hóa, thách thức của nền kinh tế
Cuốn Tìm hiểu kinh tế Truyền hình, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm
2013, tác giả Bùi Chí Trung đã khái quát về lý luận kinh tế học truyền thông, cấu trúc thị trường truyền thông; cạnh tranh trên thị trường truyền thông, xu hướng phát triển của thị trường truyền thông trong năm tới; một số kinh nghiệm phát triển kinh tế truyền hình…
Cuốn Một số vấn đề Kinh tế báo in, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội,
năm 2015, các tác giả Đinh Văn Hường, Bùi Chí Trung đã xác lập một cách
cơ bản hệ thống các học thuyết kinh tế truyền thông đang phổ cập trên thế giới hiện nay; hệ thống hóa các quan điểm, định hướng của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế; qua đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị để báo in nước ta hoạt động kinh tế năng động, hiệu suất, hiệu quả cao trước yêu cầu bối cảnh mới
Trong cuốn Kinh tế báo chí, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2017, tác giả
Bùi Chí Trung đã đưa ra hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn khoa học trong vấn đề vận hành xây dựng một nền kinh tế báo chí Việt, tập trung giải quyết những vấn đề chính của kinh tế báo chí như: Các mô hình kinh doanh, kinh tế báo chí trên nền tảng kỹ thuật số, hội tụ và đa phương tiện; kĩ năng phân tích thị trường và xây dựng chiến lược kinh doanh, những vấn đề cơ bản, từ đó hướng đến những vấn đề thực tiễn trong hoạt động kinh doanh báo chí hiện nay ở Việt Nam
Những hội thảo, tham luận bàn về kinh tế báo chí hiện nay như: Kinh tế
báo chí là con đường sống còn của các cơ quan báo chí của PGS.TS Nguyễn
Thành Lợi (Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam, Tổng biên tập
Tạp chí Người làm báo); Gợi mở mô hình kinh tế báo chí trong thời đại
Trang 18truyền thông số của Nguyễn Huy Hoàng (Tổng giám đốc Good Media); Kinh
tế báo chí là yếu tố quyết định thành công của quy hoạch báo chí của Nguyễn
Thanh Lâm (Cục Trưởng Cục Báo chí (Bộ TT&TT)) Đều cho rằng: “xã hội
càng phát triển, quảng cáo không còn bị “nhốt” trong quan niệm “kiếm thêm”, mà là nguồn thu chính để báo chí tồn tại phù hợp với sự phát triển chung của xã hội Do đó, hơn lúc nào hết các cơ quan báo chí truyền thông cần xây dựng bộ phận và đội ngũ những người làm truyền thông, quảng cáo chuyên nghiệp, tránh hiện tượng núp bóng nhà báo để “xin” quảng cáo Thực
tế cho thấy, ngay từ những năm 1990, một số cơ quan báo chí đã yêu cầu phóng viên “tỏa” đi “chạy” quảng cáo, dựa trên mối quan hệ và lĩnh vực mình theo dõi, đồng thời kiếm “hoa hồng” từ nguồn đó Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, các tòa soạn nên thay đổi chiến lược, xây dựng các bộ phận truyền thông – quảng cáo một cách bài bản và chuyên nghiệp mới có thể phát triển kinh tế báo chí ổn định và bền vững lâu dài, tránh gặp những rủi ro không đáng có”
Đây là những công trình, tài liệu nghiên cứu cơ bản để chúng tôi bám sát cho nghiên cứu của mình
Ngoài ra, còn có một số các luận án, luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn
đề này, cụ thể như:
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Thời báo kinh tế Việt Nam
trong hoạt động kinh doanh báo chí thời kỳ hội nhập quốc tế” của Đặng Đình
Nam tại trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), năm 2008 Tác giả luận văn đã tiến hành xác định những quan điểm, khái niệm cơ bản về hoạt động kinh doanh báo chí và một số đặc điểm trong hoạt động kinh doanh báo chí ở Việt Nam; khảo sát, đánh giá và nhận xét về hoạt động kinh doanh của Thời báo Kinh tế Việt Nam qua tìm hiểu về mô hình, hoạt động sản xuất thông tin, các hoạt động kinh tế và đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của
Trang 19Thời báo Kinh tế Việt Nam; đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm phát triển hoạt động kinh doanh báo chí ở một số nước như Trung Quốc và Singapore; đề xuất một số kiến nghị về phát triển kinh doanh báo chí ở Việt Nam và Thời báo Kinh tế Việt Nam
Luận án tiến sĩ Báo chí học “Nghiên cứu sự phát triển của Truyền hình
từ góc độ kinh tế học truyền thông” của Bùi Chí Trung tại trường Đại học
Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), năm 2012 Tác giả luận án đã hệ thống hóa các học thuyết về kinh tế học truyền thông, kinh tế học truyền hình đang phổ cập trên thế giới, phân tích so sánh và đưa ra nhận thức mới trong môi trường truyền thông Việt Nam Tác giả khẳng định khả năng vận dụng lí luận kinh tế truyền thông trong hoạt động thực tiễn Phân tích thực trạng hoạt động kinh tế truyền hình tại Việt Nam những năm qua, đưa xu hướng phát triển chính yếu, những kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động kinh tế truyền hình Việt Nam hiện nay và trong tương lai
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ công chúng “Xu hướng phát
triển quảng cáo điện thoại di động tại Việt Nam” của Nguyễn Thùy Dương tại
Học viện báo chí và Tuyên truyền, năm 2012 Tác giả luận văn cũng đã đi sâu phân tích lý luận và diện mạo quảng cáo trên di động ở Việt Nam, trong đó một phần không nhỏ đề cập đến quảng cáo báo chí trên điện thoại di động Đây là khía cạnh trong hoạt động kinh tế báo chí hướng tới
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Báo chí của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam với hoạt động kinh tế báo chí” của Phạm Khánh Giang tại
trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), năm 2013 Tác giả luận văn đã tiến hành hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động kinh tế báo chí ở Việt Nam; khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kinh tế của các cơ quan báo chí thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận: Tạp chí Mặt trận
và Báo Đại đoàn kết; đồng thời đưa ra những đề xuất liên quan đến hoạt động kinh tế báo chí của các cơ quan báo chí của Trung ương Mặt trận Tổ quốc
Trang 20Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2015 và tầm nhìn đến 2020
Luận văn thạc sĩ của chuyên ngành Báo chí học “Phát triển về kinh tế
báo điện tử qua hình thức kinh doanh trên điện thoại di động” Lê Đình Hải
Học viện báo chí và tuyên truyền, năm 2013 Tác giả luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của hình thức kinh doanh trên điện thoại di động dưới góc nhìn kinh tế học truyền thông Đưa ra thực trạng áp dụng hình thức đó của các báo điện tử ở Việt Nam; đồng thời giải thích những lý do vì sao phải áp dụng hình thức kinh doanh mới: bởi doanh thu báo in sụt giảm do
có sự dịch chuyển dần sang báo điện tử, doanh thu quảng cáo có chiều hướng tăng không đáng kể, do đó thu phí báo điện tử là sự tất yếu để duy trì hoạt động Tác giả đưa ra các hình thức làm kinh tế trên báo điện tử hiện nay, so sánh với một số cách làm kinh tế của các tờ báo uy tín trên thế giới (The New York Times, Financial Times…) từ đó đề cập vấn đề Paywall là điều tất yếu Giải quyết những thực trạng đang đặt ra cho nền kinh tế báo chí, tác giả đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này về phương diện quan điểm nhận thức về vấn đề thu phí, nâng cao chất lượng về nhân sự
và sản phẩm báo chí, học hỏi tiếp cận có chọn lọc phù hợp với cơ chế quản lý, công chúng báo chí Việt Nam
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Hoạt động kinh tế báo chí
của đài phát thanh và truyền hình Vĩnh Long hiện nay” của Đào Thị Tuyết
Vân tại Học viện báo chí và tuyên truyền, năm 2015 Tác giả luận văn đã tiến hành hệ thống hóa những vấn đề lý luận về báo chí và kinh tế báo chí nói chung, kinh tế báo chí tại các Đài PT-TH nói riêng; khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng về tổ chức hoạt động kinh tế báo chí tại Đài PT&TH Vĩnh Long, đặc biệt làm nổi bật những nội dung hoạt động kinh tế báo chí tại Đài PT-TH Vĩnh Long, tìm hiểu những cách thức tổ chức hoạt động kinh tế báo chí; đồng thời đi tìm những nguyên nhân đạt được để các Đài PT-TH địa
Trang 21phương có thể tham khảo học tập kinh nghiệm từ một mô hình tổ chức hoạt động kinh tế báo chí có hiệu quả như Đài PT-TH Vĩnh Long Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế báo chí tại các Đài PT-TH địa phương nói chung và Đài PT-TH Vĩnh Long nói riêng
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Mô hình phát triển kinh tế
báo chí truyền thông của một số nước Đông Nam Á và kinh nghiệm tham chiếu cho báo chí Việt Nam (Khảo sát các trường hợp Thái Lan, Singapore, Malaysia, Indonesia) của Nguyễn Tuyết Hoa tại Học viện báo chí và tuyên
truyền, năm 2015 Trên cơ sở nghiên cứu mô hình phát triển kinh tế báo chí truyền thông một số nước Đông Nam Á, luận văn bước đầu rút ra những kinh nghiệm có thể tham chiếu cho vấn đề phát triển kinh tế báo chí truyền thông Việt Nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Phân tích hoạt động kinh
tế báo chí cơ quan báo mạng điện tử (nghiên cứu trường hợp báo điện tử vietnamnet năm 2015)” của Ngô Cao Tùng tại Học viện báo chí và tuyên
truyền, năm 2016 Luận văn đã làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động kinh tế báo chí tại Báo điện tử VNN, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế báo chí của Báo điện tử VNN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Vấn đề kinh tế báo chí Hải
Phòng trong kỉ nguyên số” của Dương Tuấn Dũng tại Học viện báo chí và
tuyên truyền, năm 2017 Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động kinh tế báo chí ở một số cơ quan báo chí địa phương tại thành phố Hải Phòng, luận văn đi đến tổng kết, đánh giá hoạt động và đề xuất một
số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động kinh tế báo chí của báo chí Hải Phòng trong thời đại số hóa truyền thông
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học “Năng lực cạnh tranh của
quảng cáo truyền hình Việt Nam trong kỷ nguyên số” của Nguyễn Thị Sinh tại
Trang 22trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (ĐHQGHN), năm Luận văn đã tập trung phân tích thực trạng, đánh giá năng lực của quảng cáo truyền hình hiện nay và đưa ra những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành quảng cáo truyền hình ở Việt Nam, góp phần giữ vững sự ổn định phát triển của các cơ quan truyền hình, tạo tiền đề nâng cao chất lượng nội dung đáp ứng yêu cầu của các khách hàng trong tình hình mới
Nhìn chung, các công trình, bài nghiên cứu đã bước đầu đề cập một số vấn đề hoạt động kinh tế báo chí truyền thông Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại TTXVN trong kỉ nguyên số Chính vì vậy có thể nói đây là lần đầu tiên có đề tài luận văn nghiên cứu về hoạt động kinh tế báo chí tại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm
vụ sau đây:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của TTXVN
- Khảo sát thực trạng, những thành công và hạn chế của hoạt động kinh
tế báo chí truyền thông tại TTXVN trong kỉ nguyên số
Trang 23- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế tại một số đơn vị báo chí của TTXVN trong kỉ nguyên số
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động kinh tế báo chí truyền thông một số đơn vị báo chí của TTXVN trong kỉ nguyên số gồm: báo TT&VH, Báo Việt Nam News
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn khảo sát hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại Báo TT&VH, Báo Việt Nam News, sở dĩ chúng tôi lựa chọn 2 cơ quan báo này đại diện cho TTXVN bởi vì:
Báo TT&VH là đơn vị sự nghiệp có thu hạch toán phụ thuộc TTXVN xuất bản, tự chủ tự chịu trách nhiệm trong hoạt động tài chính, chịu sự quản
lý và chỉ đạo trực tiếp của TTXVN
Báo Việt Nam News là tòa soạn đầu tiên và vẫn là duy nhất cho đến nay vẫn đang thực hiện mô hình hạch toán độc lập tự đảm bảo 100% chi phí hoạt động xuất bản
- Thời gian nghiên cứu khảo sát hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại Báo TT&VH, Báo Việt Nam News từ tháng 01/2018-12/2019
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận là văn dựa vào Đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về báo chí – truyền thông và kinh tế học, đặc biệt về hoạt động kinh tế báo chí
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của các khoa học xã hội như:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tác giả tập hợp đọc, tổng hợp các tài
Trang 24liệu liên quan đến đề tài, phân tích các luận điểm, quan niệm của các nhà nghiên cứu, từ đó hệ thống hóa thành các vấn đề lí luận
- Phương pháp khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân loại, phân tích, diễn giải, quy nạp: tác giả luận văn tiến hành khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân
loại, phân tích, diễn giải, quy nạp tất cả các hoạt động kinh tế báo chí diễn
ra tại Thông tấn xã Việt Nam trên cơ sở các tiêu chí lý thuyết đặt ra để có được các kết quả phân tích trong luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tác giả luận văn lập chủ đề, câu hỏi
phỏng vấn, chọn mẫu đối tượng trả lời là các chuyên gia về kinh tế, các nhà báo nhằm có được những ý kiến tư vấn, đánh giá khách quan về vấn đề được nghiên cứu Thời gian thực hiện phỏng vấn tháng 12/2019 Cụ thể, tác giả luận văn đã phỏng vấn Lãnh đạo TTXVN, Lãnh đạo báo Thể thao và Văn hóa
và báo Việt Nam News
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn có thể góp phần làm sáng rõ nội dung về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại TTXVN nói chung và một số đơn vị báo chí tại
thêm vai trò của kinh tế báo chí đối với hoạt động và sự phát triển của nền báo chí Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể trở thành nguồn tài liệu tham khảo tin cậy cho những nhà nghiên cứu, sinh viên, học viên các chuyên ngành báo chí và những ai quan tâm
về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại TTXVN trong kỉ nguyên số
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Vận dụng kết quả nghiên cứu, đề tài có cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động kinh tế báo chí truyền thông tại TTXVN nói chung và một số đơn vị báo chí tại TTXVN như: báo TT&VH; Báo Việt Nam News nói riêng, nhằm
Trang 25giúp TTXVN hoạch định lại mô hình hoạt động, tổ chức bộ máy, xây dựng chiến lược hoạt động kinh tế - dịch vụ…
7 Bố cục luận văn
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ Lục, Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương sau đây:
Chương 1 Cơ sở lý luận về hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của
các cơ quan báo chí Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh tế báo chí truyền thông qua khảo
sát các báo của Thông tấn xã Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế báo chí
truyền thông tại Thông tấn xã Việt Nam trong kỉ nguyên số
Trang 26CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH TẾ BÁO CHÍ TRUYỀN
THÔNG CỦA CÁC CƠ QUAN BÁO CHÍ
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Báo chí
Theo cách gọi truyền thống, báo chí xuất phát từ hai chữ là “báo” có nghĩa là thông báo; “chí” là giấy, đó là báo làm bằng giấy Thuật ngữ báo chí đầu tiên được dùng chỉ loại hình báo in Hiện nay khái niệm báo chí dùng để chỉ tất cả các loại hình truyền thông đại chúng, bao gồm: báo viết (báo in), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình), báo điện tử Thuật ngữ báo chí được dùng đầu tiên chỉ loại hình báo in
Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học định nghĩa báo chí
gắn liền với truyền thông và được hiểu theo nghĩa chung nhất và trừu tượng
nhất là “quá trình chuyển dữ liệu giữa các đơn vị chức năng” [57, tr 1053]
Trong tài liệu Một số nội dung cơ bản về nghiệp vụ báo chí, xuất bản
(tập 2) do Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền
thông (thuộc Bộ TT&TT) thì “báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng
truyền tải thông tin về các sự kiện, sự việc, hiện tượng đang diễn ra trong hiện thực khách quan một cách nhanh chóng, chính xác và trung thực đến đông đảo công chúng nhằm tích cực hóa đời sống thực tiễn” [58, tr 36]
Trong cuốn sách Xã hội học truyền thông đại chúng, tác giả Trần Hữu Quang thì khẳng định: “báo chí truyền thông là một quá trình truyền
đạt, Tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập các mối quan hệ giữa con người với con người” Theo đó, tác giả định nghĩa: “truyền thông đại chúng là quá trình truyền đạt thông tin một cách rộng rãi đến mọi người trong xã hội thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng như phát thanh, truyền hình” [44, tr 3]
Trang 27Theo tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn Cơ sở lý luận báo chí có
cách hiểu báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến phát triển theo từng ngày và
có tác động chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nhưng đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, thậm chí trong các sách, giáo trình chính thức bằng tiếng Việt, kể cả tiếng nước ngoài cũng chưa thấy đưa ra khái niệm báo chí là gì, báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất và cơ chế hoạt động [12, tr 53]
Điều 3 luật báo chí quy định: báo chí nói trong luật này là báo chí Việt Nam, bao gồm: báo in (báo, tạp chí, bản tin thời sự, bản tin thông tấn), báo nói (phát thanh), báo hình (truyền hình, chương trình nghe nhìn thời sự được thực hiện bằng phương tiện kỹ thuật khác nhau), báo điện tử (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài Điều 3 luật báo chí chưa được xem như một định nghĩa chính thức về báo chí nhưng với cách liệt kê như trên đã chỉ rõ các loại hình báo chí trong xã hội và sẽ được làm căn cứ chủ yếu để tìm hiểu các nội dung liên quan đến quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí
Nói tóm lại, báo chí là những xuất bản phẩm định kỳ như nhật báo hay tạp chí, nhưng cũng để chỉ các loại hình truyền thông khác nhau như truyền hình, đài phát thanh Báo chí, dựa trên những điều tra, tìm hiểu để làm sáng tỏ đời sống xã hội, văn hóa Đây chính là bộ máy chính quyền để tìm hiểu thông tin, phổ biến và phân tích tin tức Đây là cơ quan ngôn luận, cung cấp thông tin và ý kiến về mọi vấn đề Chính vì thế, báo chí thường được gọi là quyền lực thứ tư Quyền lực này, nếu được nhân dân sử dụng đúng sẽ góp phần nói lên sự thật, góp phần nói lên nguyện vọng của người dân, qua đó, cải tiến bộ máy xã hội
Trang 281.1.2 Kinh tế báo chí
Khái niệm kinh tế báo chí có rất nhiều cách hiểu khác nhau Cụ thể:
Từ năm 2009, ông Nguyễn Gia Qúy – nguyên Phó chủ tịch Hội nhà báo
thành phố Hà Nội, trong quá trình nghiên cứu đề tài “Phát triển kinh tế báo
chí Hà Nội trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã nhận định rằng thuật ngữ “kinh tế báo chí” cần được hiểu theo
nghĩa rộng Trước hết, “kinh tế báo chí là cách người ta tổ chức hoạt động
báo chí, bảo đảm cho sự tồn tại, phát triển của tờ báo, nâng cao đời sống người làm báo; đồng thời góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước”
[45, tr 15]
Tiếp theo, Kinh tế báo chí có thể được hiểu là báo chí tham gia làm kinh tế trong khuôn khổ pháp luật quy định Trong hoạt động kinh tế báo chí, các cơ quan báo chí sẽ cung cấp những sản phẩm dịch vụ và thực hiện những hoạt động kinh tế khác trong khuôn khổ pháp luật cho phép nhằm duy trì và phát cơ quan, đơn vị mình
Nhìn lại khái niệm về thuật ngữ “kinh tế”, nếu đặt từ này trong thuật ngữ “kinh tế báo chí” thì đây là thuật ngữ để chỉ một ngành kinh tế cụ thể,
mà có thể tạo ra hàng hóa và dịch vụ Trong khi đó, báo chí thuộc nhóm ngành Thông tin và Truyền thông, được quy định tại Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg, ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ Trong đó nêu rõ: hệ thống ngành kinh tế ở nước ta gồm có 21 nhóm ngành, 642 hoạt động kinh tế cụ thể
Tác giả Bùi Chí Trung trong cuốn Tìm hiểu kinh tế truyền hình cũng cho rằng: “Kinh tế truyền thông là hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp
truyền thông trong quá trình sử dụng con người, cơ sở vật chất, kỹ thuật, tài chính để đi đến hiệu quả tối đa mà các doanh nghiệp truyền thông nói riêng và công nghiệp truyền thông nói chung có thể đạt được” [54, tr 24]
Từ những quan điểm trên có thể hiểu rằng, kinh tế báo chí là cách tổ
Trang 29chức các hoạt động báo chí dựa trên quan điểm phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa để đem lại hiệu quả về kinh tế cho các cơ quan báo chí Từ đó, các cơ quan báo chí có thể tự đảm bảo sự tồn tại
và phát triển của mình, đồng thời cải thiện và ngày càng nâng cao đời sống cán bộ, phóng viên, viên chức và lao động trong cơ quan
Tóm lại, có thể hiểu rằng Kinh tế báo chí là những hoạt động kinh tế
của cơ quan báo chí, bằng chính các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đặc thù của mình và các hoạt động sản xuất kinh doanh khác luật pháp cho phép, nhằm đem lại nguồn thu trang trải chi phí hoạt động của các cơ quan báo chí và chăm lo cho đội ngũ, giảm nhẹ gánh nặng ngân sách
Các thành tố (hay bộ phận) cấu thành của kinh tế báo chí chính là sản phẩm hàng hóa, dịch vụ đặc thù của mình và các hoạt động sản xuất kinh doanh khác luật pháp cho phép
Như vậy, nếu phân tích một cách đơn giản, cơ quan báo chí có hai hoạt động chính là hoạt động chính trị xã hội và hoạt động kinh tế Hoạt động chính trị của cơ quan báo chí là thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, nhiệm vụ chính trị được thể hiện trong tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí Còn hoạt động kinh tế, dịch vụ nhằm đem lại nguồn thu bảo đảm cho cơ quan báo chí hoạt động, phát triển bền vững Trước đây, báo chí chỉ có hoạt động tuyên truyền, còn hoạt động kinh tế của cơ quan báo chí chỉ mới xuất hiện, sau này hoạt động kinh tế của cơ quan báo chí trở thành một trong những chức năng của báo chí Hoạt động này đan xen nhau, trong đó hoạt động chính trị xã hội là hoạt động chính yếu nhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao Nhìn một cách tổng thể, nếu tất cả các cơ quan báo chí đều thực hiện tốt chức năng kinh tế thì sẽ giảm đáng kể nguồn kinh phí từ ngân sách Hoạt động kinh tế của một cơ quan báo chí đó là những hoạt động kinh doanh mang lại nguồn thu cho cơ quan báo chí đó Hoạt động này không cần
Trang 30phân biệt có tính chất báo chí hay không Mỗi cơ quan báo chí có cách thức hoạt động kinh doanh khác nhau, có cơ quan có hai hình thức, có cơ quan có
ba, bốn, năm hình thức với quy mô, mức độ hoạt động, hiệu quả khác nhau Kinh tế báo chí sẽ có điểm trùng với hoạt động kinh tế của một cơ quan báo chí, cụ thể là các hoạt động: phát hành, quảng cáo, tổ chức sự kiện chúng vừa có tính báo chí vừa mang lại nguồn thu cho cơ quan báo chí; sự khác biệt ở chỗ nó không bao gồm những hoạt động không có tính chất báo chí như: tư vấn về việc làm, diễn đàn hợp tác giữa các cơ quan báo chí và các đơn vị, doanh nghiệp; các dịch vụ khác như: phát hành sách báo, đầu tư xuất bản, in ấn, chế bản, mua bán vật tư, thiết bị máy móc ngành in, xây cao
ốc kinh doanh
Xét về hoạt động kinh tế báo chí của các cơ quan báo chí, có thể nói những chuyển động trong khu vực báo chí diễn ra chậm hơn so với khu vực kinh doanh, sản xuất khác của xã hội Thậm chí, cho tới nay vẫn còn nhiều người e ngại khi nhắc đến chuyện báo chí làm kinh tế Nhưng không thể phủ nhận rằng: báo chí đang ngày càng khẳng định vai trò của mình trong lĩnh vực kinh tế Nhìn nhận một cách tổng quát, có thể thấy trong xã hội đang hình thành một nền kinh tế báo chí Hai chỗ dựa quyết định của nền kinh tế báo chí là sản phẩm hàng hóa báo chí truyền thông và dịch vụ quảng cáo trên các phương tiện truyền thông
Sự phát triển kinh tế báo chí dẫn đến sự tác động có tính hai mặt vào đời sống báo chí truyền thông Thứ nhất, nó mang lại nguồn lực tài chính quan trọng, trở thành động lực phát triển cho báo chí Thứ hai, sự phát triển kinh tế báo chí dẫn tới hiện tượng thương mại hóa báo chí, hay sự xuất hiện những sản phẩm báo chí thuần túy hàng hóa, chỉ quan tâm thu lợi nhuận, không quan tâm đến chức năng thông tin tuyên truyền hoặc coi chức năng thông tin tuyên truyền như vỏ bọc cho hoạt động kinh tế
Trang 311.1.3 Nguồn thu và nguồn chi của báo chí
Khái niệm nguồn thu trong cơ quan báo chí là những thu nhập mang lại cho
hoạt động của một đơn vị mà cụ thể trong cơ quan báo chí Ở đây, nguồn thu chính
là các thu nhập từ hoạt động phát hành, quảng cáo báo chí; các hoạt động xã hội, hoạt động bên lề khác có thu và đem lại lợi nhuận cho cơ quan đó
Hiện nay, tại các cơ quan báo chí ở Việt Nam đang hoạt động với một
số cơ chế như sau:
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động) Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động thường xuyên, phần còn lại được ngân sách nhà nước cấp (gọi tắt là đơn vị
sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động)
Đơn vị có nguồn thu sự nghiệp thấp, đơn vị sự nghiệp không có nguồn thu, kinh phí hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động (gọi tắt là đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động)
Giống như các doanh nghiệp khác, các cơ quan báo chí có nguồn thu cũng phải chịu hai loại thuế là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng (VAT)
Các hình thức kinh doanh nằm trong hoạt động kinh tế của cơ quan báo chí bao gồm:
Bán sản phẩm qua đại lý: hình thức này được các cơ quan báo in sử
dụng để đưa sản phẩm báo chí tới công chúng Tùy vào số lượng bán được, các đại lý sẽ được hưởng tỷ lệ “hoa hồng” nhất định
Bán sản phẩm qua đường bưu điện: đây cũng là một hình thức phát
hành sản phẩm báo chí phổ biến thông qua hợp đồng giữa cơ quan báo chí
và bưu điện
Trang 32Bán sản phẩm tại tòa soạn: hình thức này do nhân viên phát hành của
cơ quan báo trực tiếp đứng bán, hoặc do phóng viên, hoặc giao cho các văn phòng đại diện thực hiện phát hành
Quảng cáo: quảng cáo xem lẫn các bài viết; quảng cáo trên trang bìa;
quảng cáo trang ruột; quảng cáo chân trang
Các nguồn thu khác: phát hành sách báo; đầu tư xuất bản; in ấn, chế
bản; mua bán vật tư, thiết bị, máy móc ngành in; tư vấn, bảo trợ thông tin; tổ chức sự kiện; chương trình từ thiện; các chương trình văn hóa, văn nghệ, thể thao, các cuộc thi sắc đẹp
Khái niệm nguồn chi: đó là các khoản chi thường xuyên cho hoạt động tồn
tại của một cơ quan báo chí, bao gồm từ chi phí in ấn, phát hành, quảng cáo tới chi trả lương, thưởng, tới đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng, chi phí đào tạo và các chi phí khác (hoa hồng quảng cáo, nhuận bút, lương cộng tác viên, các hoạt động từ thiện
xã hội )
1.1.4 Báo chí – truyền thông trong kỷ nguyên số
Kỷ nguyên số là thời đại của khoa học - kỹ thuật, các lĩnh vực khoa học cơ bản đã đạt được những phát minh to lớn mà dựa vào đó, con người đã ứng dụng vào kỹ thuật và sản xuất để phục vụ cuộc sống của mình Trong những phát minh công cụ sản xuất mới, thì có ý nghĩa quan trọng bậc nhất là sự ra đời của máy tính điện tử, máy tự động và hệ thống máy tự động
Là một bộ phận không thể tách rời khỏi sự phát triển của xã hội và con người, cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại đã đem lại sự thay đổi to lớn mang tính bước ngoặt trong sự phát triển của xã hội Sự phát triển mạnh mẽ về khoa học
kỹ thuật đã tạo ra những bước nhảy vọt chưa từng thấy trong quá trình phát triển của lực lượng sản xuất và năng suất lao động, làm xuất hiện thêm nhiều ngành nghề sản xuất mới có liên quan đến sự tiến bộ của khoa học và công nghệ (công nghệ tên lửa, điện tử, vi sinh ) và thay đổi hoàn toàn cơ cấu các ngành kinh tế ở
Trang 33nhiều khu vực Trong khi cách mạng công nghiệp chứng kiến nền sản xuất từ thủ công sang cơ khí hóa, cách mạng khoa học – kỹ thuật cho thấy sự tác động hóa cao độ của nền sản xuất dựa trên việc điện tử hóa và ứng dụng các thành tựu mới nhất của công nghệ vào sản xuất Ngoài ra, tất cả những thay đổi to lớn trong công nghệ và sản xuất tạo ra những thiết bị sinh hoạt, hàng tiêu dùng mới làm thay đổi hoàn toàn lối sống của con người trong xã hội
Không nằm ngoài sự vận động của thời đại, những thành tựu của cách mạng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ phát thanh, truyền hình và đặc biệt là internet đã tạo ra sự bùng nổ thông tin trên phạm vi toàn cầu Sự phát triển của báo chí – truyền thông trên cơ sở đó là tất yếu và là một thực
tế khách quan làm thay đổi nhanh chóng cả về nội dung và hình thức của loại hình báo chí - truyền thông truyền thống Theo hình thức truyền thông thông thường, thông tin được truyền tải mang tính đơn nhất về hình thức thể hiện, công chúng chỉ có thể được tiếp cận thông tin bằng cách đọc, nghe hoặc xem, nhưng với phương thức truyền thông đa phương tiện, tính chất đơn nhất ấy đã bị phá vỡ, khi thể hiện một nội dung thông tin trên các website, người ta có thể vừa thể hiện bằng chữ viết (text), vừa trình bày, minh họa bằng hình ảnh (picture, video), âm thanh (audio) Đó là đặc thù của phương thức truyền tải thông tin đa phương tiện Với cách trình bày này, công chúng được tiếp nhận thông tin bằng cách thỏa mãn các giác quan khác nhau, tạo nên hiệu ứng tương tác mạnh mẽ nhất so với các loại hình truyền thông truyền thống
Các cơ quan báo chí – truyền thông muốn theo kịp trình độ phát triển chung của xã hội thì cần phải đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác sự
đa dạng của thông tin trong phạm vi một quốc gia hay một khu vực cũng như không thể giới hạn trong một phương thức truyền thông cụ thể nào Trong một thời gian hình thành và phát triển ngắn, loại hình truyền thông đa phương tiện đã
có một vị trí khá vững chắc và có thể khẳng định nó sẽ là xu hướng phát triển
Trang 34mạnh mẽ nhất về mặt phương thức truyền thông cả hiện tại và tương lai
Sự phát triển nhanh chóng của internet và các loại hình báo chí khác đã tạo sức ép lớn, buộc các cơ quan báo chí phải tìm ra phương hướng phát triển thích hợp, nếu như muốn sản phẩm báo chí được công chúng tiếp nhận Phương hướng
ấy được thể hiện khá rõ ở sự đa dạng hóa về loại hình thức và phương tiện ở các
cơ quan báo chí lớn Hầu như tất cả các cơ quan báo chí đều có trang website song hành với loại hình báo chí truyền thống
Một số tờ báo đơn nhất đã thực sự trở thành những cơ quan báo chí đa phương tiện với việc xuất bản đồng thời nhiều loại hình sản phẩm báo chí khác nhau như: nhật báo, tuần báo, nguyệt san, chuyên san, báo điện tử Sự tồn tại đồng thời các loại hình sản phẩm báo chí truyền thông khác nhau cho phép các cơ quan báo chí có thể mở rộng phạm vi ảnh hưởng, tạo điều kiện cho các loại hình sản phẩm hỗ trợ lẫn nhau về mặt tài chính, quảng bá thương hiệu, cũng như tận dụng các khả năng khai thác thông tin, tư liệu Việc ứng dụng các tiến bộ của công nghệ thông tin đã gắn liền với việc phát triển và tích hợp tốt các loại hình sản phẩm báo chí, tạo ra hiệu ứng tốt cơ chế truyền thông và hiệu quả thông tin, góp phần “chú trọng và nâng cao tính tư tưởng, phát huy mạnh mẽ chức năng thông tin, giáo dục,
tổ chức và phản biện xã hội của các phương tiện thông tin đại chúng vì lợi ích nhân dân và của đất nước”, các loại hình truyền thông đa phương tiện đã góp phần
“phát triển và mở rộng việc sử dụng internet, đồng thời có biện pháp quản lý, hạn chế mặt tiêu cực, ngăn chặn có hiệu quả hoạt động lợi dụng internet để truyền bá
tư tưởng phản động, lối sống không lành mạnh
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên mô hình phương thức truyền thông đa phương tiện tuy mới hình thành nhưng còn bộc lộ nhiều hạn chế và yếu kém như: Thứ nhất, việc mở rộng các hoạt động của cơ quan báo chí mới chỉ được sử dụng thuần túy ở góc độ công nghệ mà chưa thực sự khai thác và sử dụng nó như một công cụ để xử lý và phổ biến thông tin Thế mạnh của internet là nó có thể tạo
Trang 35ra giao thức tương tác hai chiều giữa nguồn thông tin và người tiếp nhận Tuy vậy, người sử dụng nói chung và công chúng báo chí nói riêng hầu như chỉ dừng lại ở góc độ giải trí là chính, đơn giản và một chiều, các công cụ phản hồi, tương tác hầu như không được thiết lập hoặc không biết cách nào để thiết lập Những tiện ích vô cùng hữu hiệu như email có rất ít người sử dụng, đó là thực tế ở nước ta Vì vậy, với nhiều cơ quan báo chí, internet, trang website riêng hay hộp thư điện tử chỉ mang tính biểu tượng của truyền thông đa phương tiện thời thượng Công chúng có thể click chuột vào một đường dẫn đến nhiều báo điện tử, trang tin của nhiều cơ quan và có thể rất thất vọng với những trang thông tin chết và đã quá lâu rồi không được cập nhập
Thứ hai, việc mở rộng theo hướng truyền thông đa phương tiện mà không có chiến lược khai thác sẽ dẫn tới việc lãng phí trong đầu tư Nhất là các khoản đầu tư cho nội dung thông tin liên quan đến hình ảnh và âm thanh phải đầu tư rất lớn về vật chất, kỹ thuật nhân lực Các trang website “chết” phần nhiều là do không có thông tin đưa lên, hoặc do thông tin không hấp dẫn, không “hot” nên không hấp dẫn được người truy cập, hệ lụy của nó nằm trong sự so sánh với các loại hình báo chí khác cùng cơ quan chủ quản sẽ lép vế, dẫn đến tình trạng sống dở, chết dở Thứ ba, truyền thông đa phương đòi hỏi năng lực lãnh đạo và quản lý phải rất cao và đồng bộ, nhìn nhận ở góc độ quản lý nguồn nhân lực cho vấn
đề này còn chưa được quan tâm, bồi dưỡng đào tạo đúng mức Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông đa phương tiện nhưng thiếu quy hoạch chung vừa
là sự lãng phí vừa làm giảm hiệu quả của truyền thông Cùng một nội dung thông tin người ta có thể khai thác được ở quá nhiều nguồn khác nhau sẽ tạo
ra tâm lý rằng hình như thông tin đó coppy của nhau, không có bản sắc riêng,
do đó nhiều nguồn thông tin trở nên mờ nhạt, thiếu chính xác, nhất là với các nguồn tin trên các trang báo điện tử
Thứ tư, sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các cơ quan truyền thông, nhất
Trang 36là phát triển truyền thông theo hướng đa phương tiện tạo ra sự cạnh tranh và chạy đua ghê gớm cả về việc khai thác, sử dụng và truyền bá thông tin Cạnh tranh là động lực cho sự phát triển tích cực, nhưng có thể buộc nhiều cơ quan báo chí chạy theo việc hấp dẫn công chúng bằng mọi cách, chạy theo thỏa mãn nhu cầu thị hiếu tầm thường, kích động bạo lực, tình dục, đề cập quá sâu vào chuyện riêng tư cá nhân
1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động kinh tế báo chí
Trong hệ thống quan điểm của Đảng ta về báo chí, ngay cả trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và thời kỳ trước năm 1986, những quan niệm
về kinh tế báo chí được đề cập tuy nhiên chỉ mang tính sơ khai và không thật nhấn mạnh Trong thời kỳ 1930-1945, trong một số văn kiện rất hạn chế, Đảng đã giải quyết 4 vấn đề cơ bản về báo chí vô sản – báo chí cách mạng: những vấn đề nội dung báo chí, về những nguyên tắc của báo chí vô sản, về nghiệp vụ báo chí, về tổ chức lực lượng cán bộ, phương tiện báo chí
Thời kỳ 1975-1986, là thời kỳ đặc biệt của báo chí và cách mạng Việt Nam Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đề ra đường lối chung cho cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng như khẳng định lại những quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nước về vai trò to lớn của báo chí, chỉ ra những định hướng lớn, chức năng và nhiệm vụ trước mắt của báo chí Tiếp theo đó, các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (6/1977), Trung ương 3 (1/1978), Trung ương 6 (8/1979) (khóa IV), trong phần công tác tư tưởng và văn hóa, có bao hàm cả những quan điểm của Đảng về đánh giá, nêu nhiệm vụ cho công tác báo chí Ngày 10/01/1984, Ban
Bí thư ra chỉ thị số 32-CT/TW về Tăng cường công tác quản lý báo chí” có nêu rõ tình hình thực trạng báo chí của đất nước, công tác quản lý báo chí, những mặt mạnh, những khuyết điểm, khẳng định lại vai trò của báo chí trong hệ thống công tác quản lý báo chí trong hệ thống công tác tư tưởng và quy định thêm một số điểm cụ thể nhằm đưa công tác quản lý báo chí vào nề nếp Như vậy, cùng với sự
Trang 37phát triển của hệ thống báo chí trong cả nước trong thời kỳ đổi mới, hệ thống quan điểm của Đảng về báo chí, quan điểm về kinh tế báo chí ngày càng được đổi mới
về tư duy, nhận thức và ngày càng hoàn thiện hơn
Chỉ thị 22/CT-TW ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị khóa VII khẳng định
lại những định hướng của Đảng: “Chính phủ xem xét để cấp vốn hoạt động cho
một số báo, tạp chí, nhà xuất bản, chủ yếu là báo, tạp chí, sách lý luận chính trị,
xã hội, phổ biến kiến thức, khoa học kỹ thuật có nhiều khó khăn trong việc tăng số lượng phát hành; xem xét tính thuế doanh thu và thuế tức hợp lý trong hoạt động báo chí-xuất bản hoặc có hình thức tái đầu tư cho các hoạt động này Ngân sách hàng năm để tài trợ cho báo chí, xuất bản phải có cơ chế quản lý chặt chẽ, phân
bổ đúng địa chỉ, phù hợp với yêu cầu định hướng công tác tư tưởng, văn hóa của Đảng” [6, tr 1]
Chưa có thời kỳ nào Đảng và Nhà nước ta lại ban hành nhiều văn bản thể hiện hệ thống quan điểm về Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý báo chí, đầy đủ, nhất quán như thời kỳ đổi mới, hội nhập Đây là môi trường, điều kiện chính trị thuận lợi cho báo chí nước ta đổi mới:
Chỉ thị 63 của Ban Bí thư trung ương Đảng ngày 25/7/1990 về Tăng cường
sự lãnh đạo của đảng về công tác báo chí – xuất bản; Chỉ thị 08 CT-TW ngày 31/3/1992 của Ban Bí thư về Tăng cường sự lãnh đạo và quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác báo chí - xuất bản; Chỉ thị số 22 của Bộ Chính trị ngày 17/10/1997 về Tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí – xuất bản; Chỉ thị 37 của Ban Bí thư (2004) về Tiếp tục nâng cao vai trò, chất lượng hoạt động của Hội nhà báo Việt Nam trong thời kỳ mới; Chỉ thị 52 của Ban Bí thư (22/7/2005) về Phát triển và quản lý báo điện tử ở nước ta hiện nay Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) (2002) về Nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa X) (2007) về Công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới
Trang 38Quốc hội thông qua Luật báo chí (1999)
Nghị định số 51 (2002) của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa, đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí
Về khía cạnh kinh tế, có thể nói những chuyển động trong khu vực báo chí diễn ra chậm hơn nhiều so với các khu vực kinh doanh, sản xuất của xã hội Vào đầu những năm 1990, khi quan hệ thị trường đã được khẳng định rõ ràng và trở thành đòi hỏi trong quản lý, phát triển của các doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế, thì hầu như các cơ quan báo chí còn lạ lẫm với vấn đề tự chủ tài chính Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay đã có hàng trăm cơ quan báo chí đã hoàn toàn
tự chủ về tài chính, tự đảm bảo được nguồn kinh tế - kỹ thuật cho các hoạt động nghiệp vụ cũng như khả năng mở rộng sản phẩm
Có thể thấy trong xã hội đang hình thành một nền kinh tế báo chí Hai chỗ dựa quyết định cho nền kinh tế báo chí truyền thông và dịch vụ quảng cáo Xã hội càng phát triển thì yêu cầu thông tin báo chí càng tăng lên, do đó nhu cầu về sản phẩm hàng hóa báo chí cũng tăng lên Nền kinh tế tăng trưởng nhanh dẫn đến nhu cầu ngày càng lớn về quảng cáo nhằm đưa hàng hóa, dịch vụ đến người tiêu dùng Như vậy, nền kinh tế báo chí Việt Nam đang có cơ hội thuận lợi cho sự phát triển
Do điều kiện nền kinh tế và đặc thù báo chí cách mạng nước ta, Đảng và Nhà nước vừa tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài nhưng vừa thận trọng trong quan điểm xây dựng các tập đoàn báo chí ở Việt Nam Khi các tập đoàn báo chí ra đời, phát triển theo cơ chế tự chủ tài chính, không thể tránh khỏi sự chi phối của các quy luật kinh tế thị trường như các doanh nghiệp kinh tế Vì vậy, vấn đề đặt ra phải
có luật pháp và cơ chế như thế nào để chi phối, định hướng chính trị đối với những thế lực kinh tế, thế lực truyền thông chính trị ấy phục vụ cho mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội
Tại Đại hội lần thứ IX Hội Nhà báo Việt Nam (12-14/8/2010), khi đề cập đến đổi mới hoạt động báo chí hiện nay, nhiều tham luận của các đại biểu cho rằng
Trang 39nước ta cần tiến tới một nền báo chí tự chủ Sau gần 30 năm đổi mới, hoạt động quản lý báo chí đã và đang được hoàn thiện cả về hành lang pháp lý, tổ chức, bộ máy và cơ chế điều hành Đó là điều kiện quan trọng, không thể thiếu, góp phần thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí đất nước Tuy nhiên, cũng còn một số vấn đề còn bất cập hoặc chưa đáp ứng kịp yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, nhất là phát triển kinh tế báo chí Đảng ta cũng khuyến khích tìm hiểu mô hình kinh tế báo chí thông qua một số tập đoàn báo chí tiêu biểu trên thế giới, để từ
đó, học hỏi và rút ra những kinh nghiệm cho thực tiễn báo chí Việt Nam trong việc học tập xây dựng mô hình tập đoàn báo chí
Có thể thấy sau 34 năm đổi mới, các quan điểm của Đảng về kinh tế báo chí truyền thông cũng như kinh tế của các ngành văn hóa khác ngày càng tiến gần hơn với sự vận động của quy luật kinh tế thị trường Đây là cơ
sở để Nhà nước xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp hơn với hoạt động đặc thù của báo chí truyền thống
1.3 Đặc điểm, tính chất, phạm vi, và nội dung của hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí
1.3.1 Đặc điểm, tính chất, phạm vi và mức độ hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí
- Đặc điểm hoạt động kinh tế báo chí truyền thông:
Nhìn trên bình diện sự vận động của thế giới, có thể thấy phát triển kinh tế là một trong những yếu tố quyết định sự hưng thịnh của mỗi quốc gia, dân tộc Cho
dù thế giới có xoay chuyển theo hướng nào thì lợi ích kinh tế cũng được đặt lên hàng đầu
Bản chất của hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố hoạt động kinh tế - dịch vụ xã hội Vì vậy, đặc điểm hoạt động kinh tế báo chí có tính chất đặc thù so với các hoạt động kinh tế khác:
Trang 40Thứ nhất, hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí là hoạt động kinh tế diễn ra trong lĩnh vực sản xuất và cung ứng các giá trị tinh thần phục vụ nhu cầu đời sống tinh thần của xã hội
Thứ hai, trong hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí phải luôn luôn xử lý tốt mối quan hệ giữa kinh doanh và phục vụ - phục vụ nhiệm vụ chính trị là mục tiêu, còn kinh doanh là phương tiện để thực hiện mục tiêu ấy
Thứ ba là kinh tế báo chí là các hoạt động kinh tế trong một lĩnh vực đặc thù – lĩnh vực tư tưởng văn hóa không phải là lĩnh vực sản xuất kinh doanh đơn thuần
Và thứ tư, đối tượng kinh doanh trong hoạt động kinh tế báo chí truyền thông là những đối tượng mang tính đặc thù, khác với các đối tượng kinh doanh khác: hàng hóa mang tính đặc thù; dịch vụ chủ yếu là thông tin, kết nối
- Tính chất của hoạt động kinh tế báo chí truyền thông:
Hoạt động kinh tế báo chí truyền thông chỉ mang tính chất phục vụ là chủ yếu, bởi lẽ, sự tồn tại của bất kỳ cơ quan nào cũng xuất phát từ yếu tố chính trị - xã hội, không phải từ tất yếu kinh tế Vì vậy, mục tiêu hoạt động kinh tế báo chí truyền thông của các cơ quan báo chí là để phục vụ nhiệm vụ chính trị tốt hơn, hiệu quả hơn
Sản phẩm hàng hóa và dịch vụ trong hoạt động kinh tế báo chí truyền thông
là sản phẩm, dịch vụ công ích là chủ yếu – phục vụ nhiều người, càng nhiều người