Kết quả mô bệnh của ruột cá chép bị bào tử sợi kí sinh trong ruột và bào nang của bào tử sợi trước điều trị .... Từ những kết quả điều tra và nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh bào tử sợi
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRẦN THỊ DỊU
NGHIÊN CỨU DỊCH TỄ BỆNH DO BÀO TỬ SỢI
(MYXOSPOREA SPP.) KÝ SINH TRONG RUỘT CÁ CHÉP (CYPRINUS CARPIO) VÀ THỬ NGHIỆM THUỐC ĐIỀU
TRỊ TẠI KHU VỰC HẢI DƯƠNG, BẮC NINH
Mã số: 8620301
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Kim Văn Vạn
2 TS Trương Đình Hoài
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài báo cáo này hoàn toàn trung thực, là kết quả của quá trình thực hiện Luận văn tốt nghiệp, không sao chép của bất kì tác giả nào
Tôi xin cam đoan mọi tài liệu tham khảo đã trích dẫn đều được nêu trong phần tài liệu tham khảo
Hà Nội, Ngày 10 tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Thị Dịu
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Kim Văn Vạn và TS.Trương Đình Hoài đã hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình trong qua trình thực hiện đề tài
Tôi xin cảm ơn các thầy cô, các em sinh viên ở phòng thí nghiệm bộ mộn bệnh lý
- Khoa thú y, môi trường và bệnh học thủy sản – Khoa thủy sản đã giúp đỡ cho tôi để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin cảm ơn các hộ nuôi tại tỉnh Hải Dương và Bắc Ninh đã kết hợp và tin tưởng tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu
Hà Nội, Ngày 10 tháng 9 năm 2019
Tác giả luận văn
Trần Thị Dịu
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Hình thái, phân loại, đặc điểm sinh học của cá chép 3
2.1.1 Về vị trí phân loại 3
2.1.2 Về hình thái 3
2.1.3 Về phân bố 4
2.1.4 Về tập tính sống và dinh dưỡng 4
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản 5
2.1.6 Các giai đoạn phát triển của cá chép 5
2.1.7 Các hình thức nuôi cá Chép hiện nay 6
2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh ở cá trên thế giới và Việt Nam 6
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh ở cá trên thế giới 6
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh trên cá tại Việt Nam 10
2.2.3 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép tại Việt Nam 11
2.3 Nghiên cứu về bào tử sợi 13
Trang 52.3.1 Đặc điểm của bào tử sợi 13
2.3.2 Phân loại bào tử sợi 14
2.3.3 Phân bố và lan truyền bệnh bệnh do bào tử sợi 15
2.3.4 Về vòng đời phát triển của bào tử sợi 16
2.3.5 Dấu hiệu bệnh lý cá chép bị bệnh bào tử sợi trong ruột 16
2.3.6 Nghiên cứu bào tử sợi ký sinh ở cá trên thế giới 17
2.3.7 Tình hình nghiên cứu về bào tử sợi ký sinh trên cá tại Việt Nam 18
2.4 Hóa chất phòng trị bệnh ký sinh trùng ở cá trong nuôi trồng thủy sản 19
2.4.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất phòng, trị bệnh ký sinh trùng trong nuôi trồng thủy sản 19
2.4.2 Hóa chất và thuốc phòng trị bệnh ký sinh trùng ở cá 20
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 27
3.1 Thời gian nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm nghiên cứu 27
3.3 Đối tượng nghiên cứu 27
3.4 Vật liệu nghiên cứu 27
3.5 Phương pháp nghiên cứu 27
3.5.1 Phương pháp điều tra 27
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép 28
3.5.3 Phương pháp mô bệnh học 30
3.5.4 Phương pháp thử nghiệm thuốc điều trị bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép 34
3.6 Xử lý số liệu 36
Phần 4 Kết quả và thảo luận 37
4.1 Kết quả nghiên cứu dịch tễ bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép tại Hải Dương 37
4.1.1 Kết quả nghiên cứu dịch tễ bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép nuôi ở ao tại Hải Dương 37
4.1.2 Kết quả nghiên cứu dịch tễ bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép nuôi ở lồng tại Hải Dương 40
4.1.2.1 Kết quả điều tra bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép ở các lồng tại Hải Dương 40
Trang 64.1.3 Kết quả nghiên cứu bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép tại Hải Dương 42
4.1.4 Kết quả mô bệnh của ruột cá chép bị bào tử sợi kí sinh trong ruột và bào nang của bào tử sợi trước điều trị 45
4.2 Kết quả thử nghiệm thuốc điều trị bệnh trùng bào tử sợi kí sinh trên cá chép tại Hải Dương, Bắc Ninh 45
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 48
Tài liệu tham khảo 50
Phụ lục 55
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Số ao nuôi cá chép được khảo sát tại 3 huyện của tỉnh Hải Dương 28
Bảng 3.2 Số lồng nuôi cá chép được khảo sát tại 2 huyện của tỉnh Hải Dương 28
Bảng 3.3 Thuốc và hàm lượng thuốc điều trị cá chép bị bệnh bào tử sợi 35
Bảng 4.1 Diện tích và hình thức nuôi cá trong ao nuôi tại hộ dân 37
Bảng 4.2 Tỷ lệ các loài cá nuôi trong ao 37
Bảng 4.3 Số ao cá chép bị bệnh bào tử sợi kí sinh trong ruột cá chép 38
Bảng 4.4 Tỷ lệ cá chép bị bệnh bào tử sợi diễn biến trong năm 2018 nuôi trong ao tại Hải Dương 38
Bảng 4.5 Kích cỡ cá chết do bị bệnh bào tử sợi 39
Bảng 4.6 Công tác phòng bệnh bào tử sợi của người nuôi tại các ao bị bệnh 40
Bảng 4.7 Kết quả bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép ở các lồng trên sông 40
Bảng 4.8 Tỷ lệ cá chép bị bệnh bào tử sợi nuôi trong lồng diễn biến trong năm 2018 tại Hải Dương 41
Bảng 4.9 Công tác phòng bệnh bào tử sợi của người nuôi tại các lồng bị bệnh 42
Bảng 4.10 Kích thước bào tử của bào tử sợi kí sinh trong ruột cá chép (n=30) 44
Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép 46
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1: Tỷ lệ cá chép bị bệnh BTS diễn biến trong năm 2018 nuôi trong ao
tại Hải Dương 39
Biểu đồ 4.2: Tỷ lệ cá chép bị bệnh BTS trong năm 2018 tại lồng nuôi tại Hải Dương 41
DANH MỤC HÌNH Hình 2.1 Cá Chép (Cyprinus carprio) 3
Hình 2.2 Cá chép bị bệnh bào tử sợi 17
Hình 3.1 Giải phẫu cá 29
Hình 4.1 Bào tử của bào tử sợi kí sinh ở ruột cá chép (100X) 43
Hình 4.2 Bào tử của bào tử sợi kí sinh trong ruột cá chép 43
Hình 4.3 Bào tử của Thelohanellus kitauei chú thích abcd! 44
Hình 4.4 Bào nang trong ruột cá Chép bị bệnh bào tử sợi 45
Hình 4.5 bào tử sợi bị biến dạng và đứt đoạn (HE 40X10) 47
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Trần Thị Dịu
Tên Luận văn: Nghiên cứu dịch tễ bệnh do bào tử sợi (Myxosporea spp.) ký sinh trong ruột
cá chép (cyprinus carpio) và thử nghiệm thuốc điều trị tại khu vực Hải Dương, Bắc Ninh
Ngành: Nuôi trồng Thủy sản Mã số: 8620302 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trong những năm qua nghành nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển Các đối tượng nuôi nước ngọt tương đối đa dạng Cá chép là một trong những đối tượng nuôi quan trọng trong các mô hình nuôi cá nước ngọt mang lại hiệu quả kinh tế cao tại Hải Dương nói riêng và miền bắc nói chung Tuy nhiên trong những năm gần đây dịch bệnh diễn ra khá phức tạp, gây khó khăn và thiệt hại cho người nuôi Một trong những bệnh
xảy ra thường xuyên đó là bệnh bào tử sợi (Myxosporea spp.) Từ những kết quả điều tra
và nghiên cứu phác đồ điều trị bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép tại khu vực Hải Dương và Bắc Ninh , tôi xin rút ra một số kết luận như sau:
Ở Hải Dương, cá chủ yếu được nuôi theo hình thức nuôi ghép Trong đó cá chép được nuôi tại huyện Cẩm Giàng là nhiều nhất chiếm tỷ lệ 29,26%
Tiến hành điều tra 300 ao thuộc 3 huyện Cẩm Giàng, Ninh Giang, Tứ Kỳ và 231 lồng nuôi cá chép trên sông Thái Bình thuộc 2 huyện Nam Sách và Chí Linh Tỷ lệ nhiễm bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép ở lồng bè (12,99%), ít hơn so với cá được nuôi ở ao (22,26%)
Thời gian cá bị bệnh này rải rác trong năm Nhưng cá bị bệnh này và chết nhiều nhất vào các tháng 3 đến tháng 6, tháng 9 đến hết tháng 10 Cỡ cá chết bệnh bào tử sợi nuôi trong ao thường cá đạt từ 500g – 700g chiếm tỷ lệ 45,59%
Các ao, lồng bị bệnh bào tử sợi có dùng thuốc ký sinh trùng bằng phương pháp trộn thuốc vào thức ăn nhưng vẫn bị bệnh là 2,94% và 13,33%
Kích thước của bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép thu được là loài Thelohanellus kitauei
Kết quả kiểm tra mô bệnh học cho thấy bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép làm cho các lông nhung và thành ruột bị phá huỷ, đứt đoạn
Kết quả thử nghiệm thuốc điều trị bệnh trùng bào tử sợi kí sinh trên cá chép: Qua điều trị 40 ao với 4 phác đồ, phác đồ 1 dùng praziquantel với hàm lượng 10mg/kg thể trọng cá không điều trị khỏi Các phác đồ 2,3,4 dùng với các loại thuốc
Trang 11Albendazol kết hợp với Praziquantel, Ivermectin, Albeldazol kết hợp với Triclabendazol điều trị cá bị nhiễm bào tử sợi với tỷ lệ khỏi rất cao lần lượt là 90,21 ± 3,46(%), 85,65% ± 6,08(%), 86,95±6,86(%)
Kết quả kiểm tra mô bệnh học của bào nang bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép sau khi điều trị bị tan ra Khoảng cách với các bào tử với nhau có rất nhiều khoảng trống trong khi mô của các bào nang của cá không được điều trị thì các bào tử xếp dày đặc với nhau, không có khoảng chống Điều đó chứng tỏ với tác dụng của thuốc ở cá khỏi bệnh là rất rõ ràng
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Tran Thi Diu
Thesis title: Epidemiological study on disease caused Myxosporea spp infecting carp
intestines and evaluate the efficacy of drug treatment in Hai Duong and Bac Ninh province
Major: Aquaculture Code: 8620301
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
In recent years, the aquaculture industry has been growing Freshwater fish cultured are relatively diverse Common carp is one of the important freshwater fish species which brings high economic efficiency in both Hai Duong province, and other Northern Vietnamese provinces However, the disease has been occurring complicatedly, resulted in many challenge and economic losses to farmers One of the
most frequent diseases for common carp is caused Myxosporea spp As a results of
surveys and study on the treatment regimen of parasitic filamentous spores in carp intestines in Hai Duong and Bac Ninh, we have obtained:
In Hai Duong, fish are mainly culture in polyculture system Cam Giang district
is the highest district culturing this species, accounted for 29.26%
The surveys were conducted from 300 ponds in 3 districts including Cam Giang, Ninh Giang and Tu Ky and 231 cage culture in Thai Binh river in Nam Sach and Chi
Linh districts The results show that the prevalence of Myxosporea spp infecting carp
intestines in cages (12.99%) was less than those cultured in ponds (22.26%)
The infection time is occurring throughout the year But the outbreaks with high mortalities focused in march to june, september to the end of october The size of dead fish with the disease in ponds usually reaches 500g - 700g, accounting for 45.59%
Diseased fish culture in ponds and cages after using parasitic drug by oral treatment still remained the diseases with 2.94% and 13.33%, respectively
The size of spores in the intestine collected from fish in this study was similar to
Thelohanellus kitauei as described in previous studies conducted by Lingtong et al
(2016) and Kim Van Van (2018)
The histopathology examination show that Thelohanellus kitauei caused damage in
the intestinal walls, if in heavily infection can caused stuck and destroy the fish intestine
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm qua ngành nuôi trồng thủy sản ngày càng phát triển, tổng sản lượng năm 2018 đạt 7,74 triệu tấn Theo đó, giá trị sản xuất toàn ngành thủy sản ước đạt khoảng 228.14 nghìn tỷ đồng, tăng 7.7% so với năm 2017 (tổng cục thống kê, 2018) Sự phát triển của ngành thủy sản đã và đang góp phần tạo ra việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động khắp cả nước Đối với nuôi trồng thủy sản Việt Nam, nuôi cá nước ngọt chiếm hơn một nửa sản lượng nuôi Các đối tượng thủy sản nuôi nước ngọt tương đối đa dạng, phù hợp với phổ thức ăn khác nhau, nhằm tận dụng hết nguồn dinh dưỡng trong chuỗi thức ăn của thủy vực bằng cách nuôi ghép
Cá chép là một trong những đối tượng nuôi quan trọng trong các mô hình nuôi cá nước ngọt, mang lại hiệu quả kinh tế cao đặc biệt là ở các tỉnh miền Bắc
Cá chép có thể nuôi đơn hoặc nuôi ghép , cho năng xuất cao Ngoài ra cá chép còn được nuôi làm cá đặc sản (cá chép giòn)
Cá chép là loại cá ăn tạp, có sức chống chịu tốt với môi trường, là loài rộng nhiệt có thể chịu được nhiệt độ từ 0 – 40ºC, ngưỡng oxy hòa tan trong nước thấp nên có thể nuôi ở nhiều vùng với khí hậu khác nhau Ngoài ra, thành phần protein amino acid trong thịt cá chép tương đương với thành phần protein amino acid mà cơ thể cần, rất dễ dàng để hấp thụ,chứa một lượng khá nhiều các axit béo không bão hòa, chủ yếu là các axit béo không bão hòa omega 3 Cụ thể là 170g thịt fillet tươi có chứa 275 calories, 37,87g protein, 12,21g chất béo Ngoài ra trong thịt cá chép chứa nhiều các nguyên tố khoáng đa và vi lượng, vitamin như:
Ca, Na, K, Fe, Zn, B1, B2, B3,A,D,…
Tuy nhiên, một trong những khó khăn cho người nuôi cá chép những năm gần đây là dịch bệnh diễn ra nhiều, khá phức tạp, gây khó khăn và thiệt hại kinh
tế lớn cho người nuôi Trong đó, bệnh xảy ra thường xuyên và gây khó khăn
trong công tác phòng và trị bệnh đó là bệnh bào tử sợi (Myxosporea spp.) Theo
Bùi Quang tề (1981 - 1985) bào tử sợi ký sinh trên da, vây, thành ruột và cơ cá
Cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giống tỷ lệ mắc bệnh này có trường hợp tới 96% Một số nghiên cứu gần đây chỉ xác định tỷ lệ nhiễm
và cường độ nhiễm bệnh bào tử sợi nhưng chưa đưa ra phác đồ điều trị bệnh, đa
Trang 14phần chỉ dùng phương pháp phòng bệnh ký sinh trùng tổng hợp và chưa mang lại hiệu quả cao Do nhu cầu nuôi ngày càng cao, tình hình bệnh khá phức tạp nên yêu cầu đặt ra là cần tìm ra biện pháp phòng và trị bệnh hiệu quả
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: “Nghiên cứu dịch tễ bệnh do bào tử sợi (Myxosporea spp.) ký sinh trong ruột cá chép (cyprinus carpio) và thử nghiệm thuốc điều trị tại khu vực Hải
Dương, Bắc Ninh”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Xác định được đặc điểm dịch tễ của bệnh bào do tử sợi (Myxosporea spp.)
ký sinh trong ruột cá chép nuôi tại Hải Dương
Thử nghiệm các phác đồ điều trị và tìm ra phác đồ điều trị hiệu quả nhất
cho bệnh do bào tử sợi (Myxosporea spp.) gây ra trên cá chép
1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
Đánh giá sơ bộ tình hình dịch bệnh do bào tử sợi (Myxosporea spp.) ký
sinh trong ruột cá chép tại Hải Dương
Xác định phác đồ điều trị và chủng loại thuốc điều trị hiểu quả nhất để hỗ
trợ cho công tác phòng và trị bệnh do bào tử sợi gây ra
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài đã thành công trong việc tìm ra loại, liều, liệu trình điều trị bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép có ý nghĩa thực tiễn lớn trong công tác phòng bệnh bào tử sợi
Trang 15PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 HÌNH THÁI, PHÂN LOẠI, ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ CHÉP 2.1.1 Về vị trí phân loại
2 bên thiên về phía trên của đầu, khoảng cách 2 mắt rộng và lồi Miệng ở mút mõm, hướng phía trước hình cung khá rộng; rạch miệng chưa tới viền trước mắt Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên, môi dưới phát triển hơn môi trên Màng mang rộng gắn liền với eo, lược mang ngắn thưa Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ Khởi điểm của vây lưng sau khởi ñiểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn chắc và phía sau có răng cưa Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn Vây đuôi
Trang 16phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi dầy và tương đối bằng nhau Vẩy tròn lớn Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
ta nhập thêm các loại cá chép kính, chép trần, chép vảy từ các nước Hungari, Indonesia, Pháp cho lai tạo với cá chép Việt (Nguyễn Duy Khoát, 2017)
2.1.4 Về tập tính sống và dinh dưỡng
Cá Chép sống ở tầng giữa và tầng đáy là chủ yếu, nơi có nhiều mùn bã hữu cơ, thức ăn đáy và cỏ nước, trong các loại mặt nước ao, hồ, đầm, sông, ruộng… Cá chịu được nhiệt độ từ 0 – 40oC, thích hợp ở 20 – 27oC Cá có thể sống trong diều kiện khó khăn khắc nghiệt Cá chép chịu được ngưỡng oxy thấp,
do đó có thể nuôi với mật độ cao Cá chép ăn tạp, thiên về động vật không xương sống ở đáy Trong ống tiêu hóa của cá chép, thức ăn khá đa dạng như mảnh vụn thực vật, hạt, rễ cây, các loài giáp xác, ấu trùng muỗi, ấu trùng côn trùng, thân mềm Tùy theo kích thước cá và mùa vụ dinh dưỡng mà thành phần thức ăn có thay đổi nhất định Cá 3 – 4 ngày tuổi dài 6 – 7,2mm, sống phổ biến ở tầng nước trên là chính Cá được 4- 6 ngày tuổi dài 7,2 - 7,5 mm, sống ở tầng nước giữa, thức ăn chủ yếu là sinh vật phù du Cá 8 – 10 ngày tuổi dài 14,3 – 19mm, các vây bắt đầu hoàn chỉnh, có vẩy, râu, thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy cỡ nhỏ Cá 20 –
28 ngày tuổi dài 19 – 28mm, chủ yếu sống ở tầng đáy, ăn sinh vật đáy, mùn bã hữu cơ và một ít sinh vật phù du Khi trưởng thành, cá chép ăn sinh vật đáy là chính: giun, ấu trùng, côn trùng, nhuyễn thể, giáp xác… Ngoài ra cá còn ăn thêm hạt, củ, mầm thực vật… nuôi trong ao cá ăn tạp Trong nuôi trồng thủy sản, có thể sử dụng các thức ăn chế biến, thức ăn công nghiệp để nuôi cá chép (Nguyễn
Trang 17Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
2.1.5 Đặc điểm sinh trưởng và sinh sản
Cá chép là loài cá có kích thước trung bình Sinh trưởng chiều dài hàng năm của cá chép như sau: 1 tuổi là 17,3 cm; 2 tuổi là 20,6 cm; 3 tuổi là 30,2 cm;
4 tuổi là 35,4 cm; 5 tuổi là 41,5 cm và 6 tuổi là 47,5 cm Tốc độ tăng trưởng giảm dần theo chiều dài nhưng lại tăng đều về khối lượng Sinh trưởng của cá chép phụ thuộc nhiều vào mật độ và thức ăn Cá lớn khá nhanh sau một năm nuôi, có thể đạt 1,5 – 2kg Cá chép nội địa tăng 0,3 – 0,5kg ở năm đầu tiên và 0,7 – 1,0kg
ở năm thứ hai Cá sinh trưởng tốt ở các vùng ruộng trũng và các vực nước nông (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
Cá chép thành thục và sinh sản sau một năm tuổi, chúng có thể sinh sản nhiều lần trong năm Trong ao nuôi, cá chép có thể sinh sản tự nhiên vào mùa xuân và ñầu mùa hạ Khi gặp điều kiện thuận lợi, cá chép cặp đôi tìm bãi có nhiều cây cỏ thủy sinh để đẻ trứng Ở miền Bắc, mùa sinh sản của cá chép thường có hai vụ: Vụ Đông – Xuân từ tháng 2 – 5 và vụ Thu từ tháng 8 – 9 Ở các sông, cá thường di cư vào các bãi ven sông có nhiều cỏ nước Cá chép thường đẻ trứng vào lúc sáng sớm, số lượng trứng phụ thuộc vào kích thước cá
bố mẹ và giống loài, khoảng 15 – 20 vạn trứng/1kg cá cái Cá chép thành thục có thể đẻ tự nhiên trong ao khi có đủ 3 điều kiện sau: Trong ao có cả cá đực và cá cái trong giai đoạn thành thục, có giá thể để cá đẻ trứng lên như rễ bèo, các cây thủy sinh…có điều kiện môi trường thay đổi như: nước chảy, mưa rào…
Trứng cá chép có hình cầu, hơi vàng đục, đường kính trứng 1,2 – 1,8mm Trứng cá chép thuộc loại trứng dính, bám vào các giá thể: cây cỏ, thực vật thủy sinh Nhiệt độ đẻ trứng thích hợp từ 20 – 22oC (Nguyễn Hữu Thọ và Đỗ Đoàn Hiệp, 2004)
2.1.6 Các giai đoạn phát triển của cá chép
Cá chép bột: cá được nở từ trứng cho đến khi tiêu hết noãn hoàng khoảng
từ 1-3 ngày tuổi tùy theo nhiệt độ của môi trường, cá bột thường được giữ trong
cá bể ấp (bình Weis đối với cá đẻ vuốt nhân tạo; bể xi măng đối có bèo với đẻ bán nhân tạo)
Cá Chép hương: là khái niệm của dân gian thể hiện kích cỡ cá như chân hương, còn về khoa học là khái niệm thể hiện cá Chép ở giai đoạn nhỏ được ương từ cá bột trong khoảng 1 tháng.Cá Chép giống: là cá được ương lên từ cá Chép hương, cá có độ tuổi từ 1,5 tháng trở lên, tùy theo kích thước mà có khái
Trang 18niệm cá Chép giống cấp 1, 2 và 3 tương đương cá giống nhỏ 5-10g/con, cá giống
cỡ 20-50g/con và cá giống lớn 100-300g/con
Cá chép thương phẩm: cá chép thương phẩm là cá chép đạt kích cỡ lớn dùng làm thực phẩm cho người tiêu dùng Tùy tập tục và điều kiện kinh tế mà người dân có thể sử dụng kích cỡ khác nhau làm cá thịt Đối với vùng sâu, vùng
xa kích cỡ cá chép trong tự nhiên nhỏ cũng dùng làm cá thịt, xong vùng Đồng bằng Bắc Bộ nếu là cá chép nuôi thường 300g/con trở lên mới sử dụng làm cá thương phẩm, đặc biệt với vùng dân giàu, có điều kiện kinh tế cao lại sử dụng cá thịt khi cá chép lớn hơn 800g/con (Nguyễn Văn Hảo và Ngô Sỹ Vân, 2001)
2.1.7 Các hình thức nuôi cá Chép hiện nay
Giai đoạn bột đến cá hương: cá được ương nuôi trong ao, nguồn thức ăn được tạo ra bằng cách gây màu tự nhiên, bột đậu tương hoặc thức ăn công nghiệp Ở giai đoạn này, không thả ghép với các loại cá khác
Giai đoạn cá giống: cá được thả ghép với các loài cá khác như: cá Trắm,
cá Trôi, cá Mè, Ở giai đoạn này, cá ăn thức ăn đặc trưng theo loài, cá ăn động vật đáy, cám công nghiệp Việc nuôi ghép này để tận dụng được diện tích mặt nước và nguồn thức ăn
Giai đoạn nuôi thương phẩm: cá có thể được nuôi dưới hình thức nuôi đơn hoặc nuôi ghép Hiện nay, hình thức nuôi ghép vẫn chiếm đa số, cá được nuôi ghép với các loài cá: Mè, Trôi, Trắm…Bên cạnh đó, hình thức nuôi đơn theo hướng thâm canh đang phát triển
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU KÝ SINH TRÙNG KÝ SINH Ở CÁ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
2.2.1 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh ở cá trên thế giới
Mới đầu là những nghiên cứu sơ khai của Linnae về ký sinh trùng (1707 – 1778) Tiếp theo đó là các nhà khoa học Liên Xô cũ đã có những nghiên cứu về
ký sinh trùng trên cá toàn diện nhất Viện sỹ Dogiel (1882 – 1956) thuộc viện hàn lâm khoa học Liên Xô cũ đã đưa ra “phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá”, mở ra một hướng phát triển mới cho nghiên cứu về các khu hệ ký sinh trùng trên cá và các loại bệnh do ký sinh trùng gây ra, cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu ký sinh trùng cá vẫn áp dụng Viện sỹ Bychowsky và các cộng sự, năm 1962 đã xuất bản cuốn sách: “Bảng phân loại ký sinh trùng của cá nước ngọt Liên Xô” đã mô tả 1211 loài ký sinh trùng của khu hệ cá nước ngọt Liên Xô
Trang 19Tiếp tục năm 1984, 1985, 1987 công trình nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng cá nước ngọt Liên Xô đã xuất bản thành hai phần gồm ba tập, do Bauer là chủ biên chính, Schulman chủ biên tập 1, Gussev chủ biên tập 2, Bauer chủ biên tập 3 Ngoài ra còn nhiều tác giả nghiên cứu ký sinh trùng lâu năm của Liên Xô cũ Công trình đã mô tả hơn 2.000 loài ký sinh trùng của 233 loài cá thuộc 25 họ cá nước ngọt Liên Xô Có thể nói Liên Xô cũ là nước có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá sớm nhất, toàn diện và đồ sộ nhất
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô cho thấy các loài sán
đơn chủ thuộc một số họ Dactylogyridae, Tetraonchidae có tính đặc hữu rất cao,
mỗi loài cá chỉ bị một số loài sán lá đơn chủ nhất định ký sinh, nghĩa là những loài sán lá đơn chủ chỉ ký sinh ở một ký chủ nhất định Nghiên cứu về sán lá đơn
chủ, Gussev (năm??) cho rằng sự phân loại và tiến hóa của họ Dactylogyridae, Diplozoonidae, Ancyloliscoidae có liên hệ với ký chủ của chúng, sán lá đơn chủ (Monogenea) ở cá nước ngọt chủ yếu ký sinh trên bộ cá Chép Hầu hết giống cá Chép là ký chủ của họ Dactylogyridae và Diplozoonidae (Lê Ngọc Quân, 2005)
Các nước châu Âu khác cũng có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Lom (1958 – 1997) người Tiệp Khắc đã nghiên cứu ký sinh
trùng Ciliophora, Myxozoa, Microspora, Spotozoa và Mastigophora trên động
vật trong đó có cá Lom và G Grupcheva (1976), nghiên cứu ký sinh đơn bào của cá Chép ở Tiệp khắc và Bungari, các tác giả đã so sánh sự xuất hiện bệnh
và mô tả loài mới Năm 1992, Lom và Iva Dykova đã xuất bản cuốn “Ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) của cá” Họ cho biết hiện nay có xấp xỉ 2.420 loài
ký sinh trùng đơn bào (Protozoa) ở cá đã được công bố Nhiều loài gây nguy hiểm cho cá nuôi nước ngọt và nuôi nước biển Cuốn sách đã giới thiệu phương pháp nghiên cứu và hệ thống phân loại của 7 ngành ký sinh đơn bào ở
cá, gồm: ngành trùng Roi (Mastigophora), ngành Opalinata, ngành Amip (Amoebae), ngành trùng Bào tử (Apicomplexa), ngành vi bào tử (Microspora), ngành bào tử (Myxozoa), ngành trùng Lông (Ciliophora)
Châu Phi và Trung Đông đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu ký sinh trùng ở cá, trong đó có Paperna (1961, 1964, 1965, 1996); Kritsky (1960) Năm
1964, Paperna đã nghiên cứu ký sinh trùng đa bào của 29 loài cá nội địa Israel và phát hiện được 116 loài ký sinh trùng Năm 1996, Paperna cho xuất bản cuốn sách “Ký sinh trùng và bệnh truyền nhiễm ở cá Châu Phi”, ông đã mô tả các bệnh
ký sinh trùng ở các trại nuôi cá và phân loại ký sinh trùng quan trọng của cá
Trang 20dây (Chen et al., 1973)
Ở Nhật Bản, công trình đồ sộ nhất của nhà ký sinh trùng học Yamaguti (1958, 1960, 1963, 1971) đã tổng kết kết quả nghiên cứu giun, sán ký sinh ở
động vật và người trên toàn thế giới, xuất bản thành nhiều tập Nagasawa et al
(1989) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Hokkaido - Nhật Bản và xác định được 96 loài ký sinh trùng trong đó 38 loài chưa xác định được tên loài
Ngoài ra, Ấn Độ có nhiều công trình nghiên cứu ký sinh trùng trên cá Năm 1967, Gupta đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào và giun sán ký sinh trên
cá (Agrawal,, 1967) Năm 1976, Gussev nghiên cứu 37 loài cá nước ngọt Ấn Độ, phân loại được 57 loài sán đơn chủ trong đó đã phát hiện 40 loài sán lá đơn chủ
là loài mới đối với khoa học (Singh and Chaudhary, 1976)
Ở một số nước trong khu vực như Thái Lan, công trình nghiên cứu đầu tiên về bệnh ký sinh trùng cá nuôi là của Wilson từ 1926 – 1927, thông báo về hiện tượng rận cá thuộc giống Argulus ký sinh trên cá nước ngọt Thái Lan và đến năm 1928 cũng tác giả này lại miêu tả về bệnh lý trên cá trê Thái Lan có một loài thuộc giống Carligus ký sinh Qua tổng kết, một số nguyên sinh động vật, sán lá
đơn chủ là tác nhân gây bệnh ký sinh trùng như: Chilodonella, Trichodina, Costia, Heneguya, Dactylogyrus, Gyrodactylus Ngoài ra, Paiboon và Aprirum
(1985), khi điều tra khu hệ ký sinh trùng của một số cá sống tự nhiên ở một số vùng của Thái Lan đã phát hiện 16 loài ký sinh trùng, trong đó gồm 3 loài ngoại
ký sinh và 13 loài nội ký sinh ở cá bống tượng (Oxyeleotris marmoratus)
Ở Indonesia, khi nghiên cứu sán dây, sán lá song chủ và giun đầu gai trên
cá nước ngọt ở Java, Louis (1926, 1927, 1933) đã mô tả một giống mới và loài
mới Djombangia penetrans tìm thấy ở cá trê trắng (Clarias batrachus),
Trang 21Isoparorchis eurytremum ở cá Wallago attu Tiếp theo nhà khoa học người Đức Alfred (1932, 1935) đã nghiên cứu ký sinh trùng đơn bào (Ichthyophthyrius multifiliis) ở một số loài cá nước ngọt của Indonesia Đến năm 1952, sự ra đời của
cuốn sách “Những dấu hiệu của những loại ký sinh trùng trên cá nước ngọt ở Indonesia” của tác giả Sachlan thực sự là bước ngoặt trong ngành ký sinh trùng học nước này
Malaysia là nước nghiên cứu ký sinh trùng của cá muộn hơn Trong giai đoạn 1861 – 1973, Furtado và Fernanda có báo cáo về phân loại và hình thái của một số giun sán ký sinh ở cá nước ngọt Malaysia (Richard 1996) Cũng như ở Thái Lan và nhiều nước khác, khu hệ ký sinh trùng ở Malaysia ngày càng phong phú khi sự nghiên cứu được chuyên sâu theo nhiều hướng khác nhau Kritsky and Lim (1995) đã nghiên cứu hệ thống phân loại của sán lá đơn chủ ở cá nước ngọt Malaysia
Ở Philippines tác giả nghiên cứu ký sinh trùng cá sớm nhất là Tubangui (1928 - 1946) Ngay từ năm 1947, Tubangui đã công bố kết quả nghiên cứu một
số loài mới thuộc sán lá đơn chủ (Trematoda – Digenea), giun tròn (Nematoda)
và giun đầu móc (Acanthocephala) Năm 1958, Velasquez đã đề cập đến sự phân loại và chu kỳ sống của ký sinh trùng giun sán Năm 1975, Velasquez xuất bản cuốn sách về sán lá song chủ ở Philipin, tổng khóa phân loại sán lá song chủ
“Digenetic trematodes of Philipin fishes” Trong đó, tác giả mô tả 73 loài thuộc
50 giống 21 họ sán lá song chủ ký sinh trên 27 họ cá của Philippines (Velasquez,
1975) Các tác giả Arthur et al (1997) khi tổng kết nghiên cứu ký sinh trùng của
cá ở Philippines đã điều tra và xác định được 201 loài ký sinh trùng ở 172 loài, gồm: Apicomplexa – 1, Ciliophora – 16, Mastigophora -2, Microspora – 1, Myxozoa – 9, Trematoda -90, Monogennea -22, Cestoda – 6, Nematoda – 20, Acanthocephala – 5, Mollusca -1, Branchiura – 2, Copepoda -21 và Isopoda – 5
Lào có Moravec và Scholz (1988) đã xác định được 11 loại giun tròn (Nematoda) ký sinh ở 10 loài cá nước ngọt Scholz năm 1991 khi điều tra ấu trùng (metacercaria) của Trematoda ở 61 loài cá nước ngọt đã xác định được 14 loài ký sinh trùng
Ở Banglades, Ahmed and Ezaz (1997) đã nghiên cứu ký sinh trùng của
17 loài cá da trơn kinh tế nước ngọt, đã xác định được 69 loài giun sán ký sinh
Ở Mỹ và Canada, Hoffman et al (1998) đã tổng kết nghiên cứu ký sinh
Trang 22trùng cá nước ngọt gồm 416 loài thuộc 36 họ cá nội địa và cá nhập nội ngoài ra còn 114 loài cá nước lợ, cá nhiệt đới và cá biển
Ở một số nước trong khu vực Đông Nam Á đã có các nghiên cứu ký sinh trùng cá từ đầu thế kỷ XX nhưng chưa nghiên cứu toàn diện các nhóm ký sinh trùng, thường chỉ nghiên cứu theo từng nhóm ký sinh trùng như: sán lá song chủ, sán lá đơn chủ hoặc ở một vài loài cá (Kim Văn Vạn & Đinh Thị Thúy, 2008)
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh trên cá tại Việt Nam
Người đầu tiên nghiên cứu ký sinh trùng trên cá tại Việt Nam là nhà ký sinh trùng học người Pháp, bác sỹ Albert Billet (1856 – 1915) Ông đã mô tả một
loài sán lá song chủ mới Distomum hypselobagri (1898) ký sinh trong bóng hơi cá
Nheo ở Việt Nam Chevey và Lemasson (1936) đã nghiên cứu sự ký sinh của trùng
mỏ neo Lernaea carassii, 1933 (syn của L.cyprinacea, 1758) trên cá Chép nuôi
Từ năm 1961 – 1976 Ở Liên Xô cũ, Oschmarin et al (1965) khi điều tra
ký sinh trùng ở hơn 60 loài cá của vịnh Bắc Bộ, đã công bố hơn 20 bài báo trong tạp chí và sách tham khảo Các tác giả đã xác định 190 loài ký sinh trùng giun sán, trong
đó đã mô tả được 9 giống và 37 loài mới đối với khoa học
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về sán ở cá nước ngọt mới chỉ bắt đầu từ những năm 60 ở miền Bắc và từ sau năm 75 ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long Hà Ký là nhà ký sinh trùng học đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng Trong giai đoạn 1960 – 1968, ông đã nghiên cứu trên 16 loài cá kinh tế ở Bắc Bộ – Việt Nam, ông đã xác định được
120 loài ký sinh trùng thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ và 10 lớp trong đó có trùng
roi (Mastigophora) có 2 loài, trùng bào tử (Myxozoa) có 18 loài, trùng lông (Ciliophora) có 17 loài, Monogenea 42 loài, Cestoda 4 loài, Crustacea 15 loài
Trong đó, ông cũng đã mô tả 1 họ, 1 giống và 42 loài mới (Хa Kи, 1968)
Lê Văn Hòa và Phạm Ngọc Khuê (1967), Lê Văn Hòa và Bùi Thị Liên Hương (1969) đã nghiên cứu phân loại giun tròn trên cá ở Nam Bộ Các tác giả đã mô tả 1
giống và 2 loài mới: Pseudoproleptus lamyi, Campanarougetia campanarougetae
Nguyễn Thị Muội và cs (1976), điều tra giun đầu gai ký sinh trên một số loài cá nước ngọt ở đồng bằng Bắc Bộ bước đầu phân loại được 9 loài ký sinh trên 12 loài cá Cùng năm đó, Hà ký và Bùi Quang Tề (1976) đã nghiên cứu ký sinh trùng và bệnh của 6 loại hình cá Chép nuôi và một số loài cá nước ngọt khác
ở đồng bằng Bắc Bộ
Trang 23Từ năm 1981 – 1985, Nguyễn Thị Muội và Đỗ Thị Hoà, khi điều tra ký sinh trùng của 20 loài cá nước ngọt Tây Nguyên đã phát hiện phân loại được 117 loài ký sinh trùng
Hai nhà giun sán học Moravec and Sey (1986,1988,1989,1991)thu mẫu ký sinh trùng của một số loài cá nước ngọt ở sông Hồng đã được cố định tại bảo tàng động vật Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Các tác giả đã phân loại được
16 loài sán lá song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai (Acanthocephala), trong đó đã mô tả 16 loài, 2 giống mới đối với khoa
học Ở miền Nam Bùi Quang Tề và cs (2001) đã điều tra nghiên cứu ký sinh trùng hơn 41 loài cá kinh tế nước ngọt ở đồng bằng sông Cửu Long và biện pháp phòng trị bệnh do chúng gây ra trong giai đoạn 1983-1996 Kết quả xác định được 157 loài, 70 giống, 46 họ thuộc, 27 bộ thuộc 12 lớp, 8 ngành Trong số 157 loài, có 121 loài lần đầu tiên được phát hiện tại Việt Nam
Theo Arthur và Bùi Quang Tề (2006), Việt Nam đã điều tra nghiên cứu được 373 loài ký sinh trùng trên cá, trong đó có 143 loài sán lá song chủ
(Trematoda) thuộc 42 họ, 90 giống Trên cá nước ngọt đã xác định được 48 loài
sán lá song chủ, cá nước lợ, mặn có 95 loài sán lá song chủ ký sinh ở cá
Theo tổng kết của Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), thành phần giống loài
ký sinh trùng ở cá nước ngọt ở Việt Nam rất phong phú Ở nước ta, điều tra nghiên cứu ký sinh trùng của 110 loài cá, thuộc 59 giống, 31 họ đã xác định được
373 loài ký sinh trùng thuộc 132 giống, 83 họ, 18 lớp Trong đó, phân loại được
78 loài, 3 giống, 1 họ phụ mới đối với khoa học Ngoài ra còn một số loài chưa
đủ tài liệu để định danh đến loài
2.2.3 Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng ký sinh trên cá Chép tại Việt Nam
Khi nghiên cứu thành phần giống loài ký sinh trùng trên 6 loại hình cá chép ở Việt Nam, tác giả Bùi Quang Tề (1981 – 1985) đã phát hiện 41 loài ký sinh trùng thuộc 23 giống, 21 họ, 14 bộ, 9 lớp ở cá chép trắng Việt Nam, cá chép vàng, chép kính hung, chép vảy hung, chép lai 1, chép lai 2 Hầu hết các loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp không qua ký chủ trung gian (32 loài chiếm 75%) Trong
đó chú ý nhất là lớp bào tử trùng (Chidosporidia) 10 loại và lớp sán lá đơn chủ (Monogenoidea) 9 loại Thành phần giống loài ký sinh trùng ở từng loại hình cá
chép khác nhau: chép trắng Việt Nam gặp 29 loài, chép vàng gặp 19 loài, chép kính hung gặp 25 loài, chép vảy hung gặp 16 loài, chép lai 1 gặp 37 loài, chép lai 2 gặp
Trang 2411 loài Tuy nhiên, cá chép trắng Việt Nam và chép lai 1 có thành phần giống loài
ký sinh trùng phong phú nhưng mức độ cảm nhiễm thấp Ngược lại, cá chép kính hung và cá chép vảy hung số loài ký sinh trùng không nhiều nhưng mức độ cảm nhiễm một số loài ký sinh trùng rất cao đã gây thành dịch bệnh làm cá chết hàng
loạt Đáng chú ý nhất là loài: Myxobolus chúng thường gây bệnh cho cá chép
Hungari, hao hụt rất lớn trong giai đoạn ương từ bột lên giống Các nhóm tuổi khác nhau thì thành phần loài ký sinh trùng cũng khác nhau như ở cá chép trắng Việt Nam số loài ký sinh trùng có chu kỳ phát triển phức tạp qua ký chủ trung gian tăng dần ở giai đoạn cá giống và cá thịt Nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi tính ăn của
cá chép, cá hương ăn sinh vật phù du sang cá giống và cá thịt ăn sinh vật đáy
BTS ký sinh trên da, mang, vây, thành ruột và cơ cá Theo Bùi Quang Tề (1981-1985) cho biết cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá hương, cá giống thường mắc bệnh BTS với tỷ lệ cảm nhiễm cao (có trường hợp tới 96%), cường độ cảm nhiễm rất cao, bào nang bám dày đặc trên các cung mang làm cá không khép nổi nắp mang
Theo Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007), trùng bánh xe phân bố rộng với tỷ
lệ cảm nhiễm và cường độ cảm nhiễm cao gây tác hại lớn cho cá hương và cá giống ở Việt Nam Tại Đông Nam Á, người ta phát hiện một số loài trùng bánh
xe như Trichodina acuta, T nobilis, T nigra, T pediculus, T domerguei, Tripartiella bulbosa, Trichodinella epizootica ký sinh trên da, vây, mang 2 loài
cá chép Ấnộ
Ở cá, ấu trùng sán lá (ATSL) song chủ Centrocestus fomosanus ký sinh chủ
yếu trên mang Số lượng các loài cá nhiễm ATSL song chủ khá đa dạng, hầu hết là
các loài cá nước ngọt, phổ biến là cá chép (Cyprinus carpio), cá Mè trắng Việt Nam (Hypophthalmichthys harmandi), cá Chim Trắng (Colossoma macropomum)… nuôi
ở Bắc Ninh, Bắc Giang, Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Đồng Bằng sông Cửu Long Theo Bùi Quang Tề điều tra ký sinh trùng trên cá Rô
hu và Mrigal cho thấy tỷ lệ nhiễm: 22,88% (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Trong những năm đây gần, tỷ lệ và cường độ cá nhiễm ATSL song chủ
Centrocestus fomosanus trong các tập ao hồ nuôi miền Bắc rất cao, làm giảm
chất lượng đàn cá nuôi, đặc biệt là cá chép ở giai đoạn cá giống Đã có nhiều nghiên cứu về sán lá song chủ, song phạm vi nghiên cứu còn chưa rộng, hầu hết trung vào nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ở các địa phương (Nguyễn Thị Hà, 2007)
Trang 25Ngoài ra đối với cá tự nhiên, hầu như bị nhiễm các loại ATSL, trong đó ATSL song chủ với tỷ lệ nhiễm rất cao, có thể lên tới 100% (Kim Van Van và Dinh Thi Thuy, 2008)
Theo nghiên cứu của tác giả Hà Ký - Bùi Quang Tề (2007) cho biết hiện ở
cá chép nước ta có Protozoa có 23 loài, Monogenea có 9 loài, Cestoidea có 2 loài, Trematoda có 11 loài, Nematoda có 2 loài, Acanthocephala có 3 loài, Bivalvia có 1 loài, Crustacea có 14 loài
Theo Đặng Việt Dương, 2012 tại Đông Hưng, Thái Bình phát hiện 10 loài
ký sinh trùng ký sinh trên cá chép thương phẩm, trong đó phát hiện nhiều nhất
là nhóm ký sinh trùng đơn bào, Myxobolus artus tỉ lệ nhiễm 29,00% và cường
độ nhiễm là 36,13 bào tử/ trên thị trường kính hiển vi 10 40
Kim Văn Vạn, 2014, có 4 loài ATSL được tìm thấy ký sinh trên cá chép hương,cá chép giống Trên cá chép thương phẩm tìm thấy 3 loài ATSL ruột nhỏ
(Centrocetus formasanus, Haplorchis taichui, Haplorchis pumilio) và 1 loài ATSL
lá gan nhỏ Centrocetus sinesis Bệnh được điều trị thành công khi dùng Praziquantel
trộn trong thức ăn với liều 50; 75mg /kg thể trọng và liệu trình 5 ngày liên tục
Trên địa bàn Hà Nôi năm 2014 đã phát hiện 8 loài bào tử sợi thuộc 2
giống trên cá chép giống, tỷ lệ nhiễm cao nhất là Myxobolus koi chiếm 21,50%,
còn ở Bắc Ninh là 34,50% Trên cá hương đã phát hiện 4 loài bào tử sợi thuộc 2
giống tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh là Myxobolus koi, Myxobolus Toyamai, Myxobolus achmerovi, thelehanellus catlae trong đó myxobolus koi cũng chiếm
cao nhất 22,00% (Trần Hải Thanh, 2014)
2.3 NGHIÊN CỨU VỀ BÀO TỬ SỢI
2.3.1 Đặc điểm của bào tử sợi
Theo Lom and Dykova(1992) bào tử sợi là bào tử có vỏ bọc ngoài khá chắc chắn gồm có 2 mảnh vỏ có kích thước, độ dày bằng nhau, do tế bào chất keo đặc lại mà tạo thành Đường tiếp giáp giữa 2 mảnh vỏ gọi là đường nối mặt, mặt có đường nối gọi là mặt nối( hay gọi là mặt bên), mặt không có đường nối gọi là mặt vỏ (hay gọi là mặt chính) Trong bào tử có cực nang và tế bào chất Tùy theo giống loài khác nhau có số lượng cực nang từ 1 – 4 chiếc Trong mỗi cực nang có 1 sợi thích bào xoắn lò xo Các cực nang thường tập trung ở đầu
phía trước Riêng họ Myxidiidae phân bố cả 2 đầu của bào tử Phần sau của bào
tử có tế bào chất gọi là tế bào mầm gồm 2 nhân và không bào Họ Myxobolidae
Trang 26có túi thành Iode là một loại tinh bột động vật Cá nước ngọt của Việt Nam đã phát triển hơn 40 loài thuộc 6 giống:
Chu kỳ sống của bào tử sợi gồm sinh sản vô tính và hữu tính tiến hành hoàn toàn trên cùng một ký chủ, không qua ký chủ trung gian: Bào tử từ trên thân cá mắc bệnh rơi vào đáy ao hoặc lơ lửng trong nước, bị cá ăn phải hoặc bám vào da, mang cá, vây cá khỏe hay theo thức ăn cảm nhiễm vào ruột cá khỏe Bào tử bị kích thích một chất nào đó trong cơ thể cá, phóng sợi thích bào, cắm vào tổ chức cơ thể, hai mảnh vỏ bị vỡ đôi, tế bào chất ở trong vỏ biến thành biến hình trùng dùng chân giả di chuyển vào các tế bào tổ chức của ký chủ và dừng lại ở đó sinh rưởng và phát triển Thời kỳ này gọi là giai đoạn biến dưỡng Nhân tế bào phân chia qua nhiều lần thành nhiều nhân con Mỗi nhân con có tế bào chất bao quanh hình thành
mầm giao tử (Gametocyte) Nhân mầm giao tử tiếp tục phân chia một số lần thành
6-18 nhân con và cuối cùng hình thành bào tử Mỗi bào tử được tạo nên từ 6 nhân, trong đó có 2 nhân tạo nên vỏ kitin, 2 nhân tạo nên khối nguyên sinh chất, 2 nhân tạo nên cực nang và cuối cùng hình thành nên còn gọi là trùng mang nhầy Quá trình sinh sản cứ tiếp tục cho đến khi tạo ra một số lượng lớn bào tử, thì hình thành bào nang bao xung quanh
Số lượng nhân trong mầm giao tử có khác với số lượng của bào tử được hình thành Nếu những mầm giao tử chỉ sinh sản một bào tử thì nhân của nó có 6-8 cái, người ta gọi mầm giao tử đó là đơn giao tử Nếu mầm giao tử sản sinh hai bào tử thì
số lượng nhân cũng tăng lên gấp đôi và gọi mầm giao tử là song giao tử Thể dinh dưỡng tiếp tục sinh trưởng, số lượng bào tử được hình thành ngày càng gia tăng Tiếp sang giai đoạn bào nang: các tổ chức xung quanh thể dinh dưỡng bị kích thích thoái hóa và thay đổi sinh ra một một lớp màng bao quanh thể dinh dưỡng, gọi là bào nang của trùng bào tử có sợi tơ Kích thước của bào nang có thể nhìn thấy bằng mắt thường Các bào tử sợi ký sinh trên da, mang cá thì bào nang bị bào tử thành thục phá vỡ chui ra rơi vào nước, lại xâm nhập vào ký chủ khác hình thành một chu
kỳ sống mới Các bào tử sợi có sợi tơ ký sinh ở ruột và các cơ quan nội tạng bào tử
có thể qua ống tiêu hóa ra ngoài Bào tử có thể sống lâu trong bùn đáy ao, hồ nên cá
ăn đáy như cá chép, diếc, trôi,…dễ bị nhiễm
2.3.2 Phân loại bào tử sợi
Ngành bào tử Cnidosporidia
Lớp bào tử sợi Myxosporea gồm 3 giống điền hình gây bệnh cho cá:
Trang 27+ Trùng bào tử sợi có 2 cực nang - Myxobolus
+ Trùng bào tử sợi có đuôi – Heneguya
+ Trùng bào tử sợi có 1 sợi nang – Thelohanellus
* Trùng bào tử sợi có 2 cực nang - Myxobolus
Gây bệnh trên cá là các loài thuộc giống Myxobolus Biitschli, 1892, họ Myxobolidae Theloman, 1892 Ngoài những đặc điểm chung của ngành trùng bào
tử sợi Myxobolus có đặc điểm riêng là phía trước bào tử có 2 cực nang, thường các loài có 2 cực nang bằng nhau (Myxobolus koi, Myxobolus artus, Myxobolus seminiformis…) một số ít loài có một cực nang bị thoái hóa (Myxobolus toyamai)
Trong tế bào chất có 1 túi thích Iode Kích thước của từng loài khác nhau
* Trùng bào tử sợi có đuôi -Henneguya
Gây bệnh là các loài thuộc Henneguya Thelohan, 1892, họ Myxobolidae Thelohan, 1892 Bào tử có dạng hình trứng, có 2 cực nang thường ở phía trước cơ thể
Vỏ có 2 mảnh khép lại nhưng ở phần nối phía sau vỏ thường kéo thành đuôi Kích thước các bào tử nhỏ thay đổi theo loài
* Trùng bào tử sợi có 1 sợi nang - Thelohanellus
Gây bệnh là các loài thuộc Thelohanellus Kudo, 1933, họ Myxobolidae
Bào tử có dạng hình trứng hoặc hình quả lê Ngoài đặc điểm chung của họ
Myxobolidae, chúng còn đặc điểm riêng khác với Myxobolus và Henneguya là
phía trước bào tử chỉ có một cực nang Kích thước bào tử tương đối lớn so với
giống Myxobolus và Henneguyae
2.3.3 Phân bố và lan truyền bệnh bệnh do bào tử sợi
Myxobolus spp ký sinh ở hơn 30 loài cá nước ngọt Việt Nam, đã phát hiện được gần 30 loài khác nhau; Thelohaneeus spp ký sinh trên cá chép
giống Bệnh này có thể gặp ở mọi vùng nuôi cá, miền Bắc, miền Trung, Tây
Nguyên và Nam Bộ Mức độ cảm nhiễm Myxobolus, Thelohaneeus ở một số
loài cá khá cao và đã gây thành bệnh làm cá chết hàng loạt, ví dụ: cá chép kính Hungari nhập nội ở giai đoạn cá giống thường bị nhiễm trùng bào tử sợi
(Myxobolus Koi, Myxobolus Toyamai…) tỷ lệ nhiễm đến 96%; cường độ
nhiễm rất cao làm cá không khép nổi nắp mang (Bùi Quang Tề, 1984) Ở nhiệt
độ 30-320C đàn cá chép giống bị nhiễm này thường có tỷ lệ tử vong rất cao
Cá biển cũng thường gặp Myxobolus spp.( Palianskii, 1958)
Trang 282.3.4 Về vòng đời phát triển của bào tử sợi
Vòng đời của BTS (Myxosporea) trải qua các vật chủ khác nhau, theo Wolf và Markiw (1984) vòng đời của Myxosporea xảy ra trên hai ký chủ chia làm 2 giai đoạn là Myxospore và Actinospore, giai đoạn Myxospore xảy ra ở ký
chủ trung gian là động vật có xương sống bậc thấp như cá, giai đoạn Actinospore
ký sinh ở động vật không xương sống thường là giun nhiều tơ nhằm phục vụ cho
sự sinh sản hữu tính Giai đoạn ký sinh trong cá có thể tồn tại trong cơ thể vật chủ dưới dạng hợp bào, có thể là giả hợp bào (thể dinh dưỡng) hay bào nang, đặc trưng của giai đoạn này là trạng thái tế bào trong tế bào, khi những tế bào con được sinh sản nội sinh vẫn còn tồn tại trong tế bào mẹ
Ở cá, chúng ký sinh trong xoang cơ thể hay ký sinh trong các mô Những loài
ký sinh trong xoang cơ thể thường ở trạng thái bám vào biểu mô hay trôi nổi trong dịch của các xoang cơ thể như mật, ống dẫn mật Những loài ký sinh trong mô có thể kýsinh trong hay ngoài tế bào ở nhiều mô khác nhau, thường tạo ra các dạng bào nang ký sinh ở mang, da có kích thước lớn dễ quan sát bằng mắt thường
Myxosporea ký sinh trong cơ thể vật chủ, lấy dinh dưỡng bằng thẩm thấu
và vận chuyển chủ động các chất dinh dưỡng, với dạng bào nang có hoạt động
ẩm bào cao, là những sinh vật kỵ khí bắt buộc hoặc hiếu khí bắt buộc (Lom and Dyková, 1992)
Khi kí sinh vào cơ thể vật chủ, các thể dinh dưỡng lấy chất dinh dưỡng để phát triển, sau đó hoặc chúng phân phối các bào tử trưởng thành vào trong các cơ quan vật chủ hoặc ra ngoài môi trường trở thành bào nang và hủy hoại vật chủ
Khi một bào tử trong môi trường nước, chúng sẽ xâm nhập trở lại cá hay xâm nhập vào ký chủ cuối cùng, có thể xâm nhập trực tiếp qua da, mang, vây cá khỏe, hay nhiễm thông qua ruột khi có trong thức ăn của cá Khi tiếp xúc với cơ thể cá, bào tử bị kích thích bởi cơ thể cá, sẽ phóng sợi thích ty, cắm vào tổ chức
cơ thể, hai mảnh vỏ tách ra, tế bào chất di chuyển, xâm nhập vào các tế bào tổ chức của ký chủ, hoặc theo máu đến ký sinh ở các tế bào tổ chức của các cơ quan
và dừng lại ở đó lấy chất dinh dưỡng để sinh trưởng và phát triển Myxosporea
tồn tại lâu ngoài môi trường, bào tử có thể tồn tại trong nước lạnh với hình thái bình thường hơn một năm (Lom and Dyková, 1992)
2.3.5 Dấu hiệu bệnh lý cá chép bị bệnh bào tử sợi trong ruột
Cá quẫy mạnh nhảy vọt cả lên trên mặt nước, có khi bơi lờ đờ gần mặt nước, dạt gần bờ, bụng trướng to, vảy bụng có thể bong nếu kích cỡ bụng quá
Trang 29lớn Hậu môn giãn rộng hơn bình thường vuốt nhẹ có dịch nhầy màu trắng sữa có lúc hơi hồng Cá bị bào tử sợi ký sinh trong ruột, hút chất dinh dưỡng nên cá bị bệnh bụng chướng to nhưng rất gầy
Thành ruột mỏng, căng, bên trong ruột cá có chứa các bào nang màu trắng sữa hoặc trắng đục, kích cỡ bằng hạt đỗ, hạt lạc hay thậm chí to bằng hạt mít Kèm theo đó là dịch nhày dạng thạch trong suốt hoặc vàng nhạt Khi số lượng bào nang trong ruột quá nhiều có thể gây vỡ ruột, dịch và bào nang tràn ra ngoài xoang bụng được thể hiện hình 2.2 (Kim Văn Vạn và Phạm Thị Thắm, 2018)
Hình 2.2 Cá chép bị bệnh bào tử sợi 2.3.6 Nghiên cứu bào tử sợi ký sinh ở cá trên thế giới
Nghiên cứu bệnh do Myxosporea trên thế giới đã có lịch sử dài, từ những khám phá đầu tiên về Myxosporea những năm 1980 bởi Jurine (1825), đến nay
các nhà khoa học đã phát hiện ra 2180 loài và nhiều loài mới còn đang được
Trang 30nghiên cứu (Lom and Dyková, 2005) Những loài Myxosporea mới vẫn đang là mối nguy đe dọa sự phát triển của nghề nuôi trồng thủy sản thế giới (Lom and Dyková, 2006)
Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về bào tử sợi mang lại giá trị to lớn
về mặt khoa học lẫn thực tiễn:
Dyková, Ivan Fiala,Pin Nie, 2003, đã đưa ra dữ liệu về loài mới Myxobolus longisporus (Myxozoa: Myxobolidae), nhiễm ở mang cá Chép (Cyprinus carpio haematopterus, ở hồ của Trung Quốc
Kálmán MOLNÁR, 2002, nghiên cứu về dấu hiệu bệnh lí và mô bệnh học
của ruột cá Chép bị nhiễm Myxobolus cyprinicola
2.3.7 Tình hình nghiên cứu về bào tử sợi ký sinh trên cá tại Việt Nam
Cho đến nay, Ở Việt Nam đã nghiên cứu và tổng kết được một số bệnh ký sinh trùng thương gặp ở cá giống: bệnh bào tưr sợi, bệnh tà quả trùng, bệnh trùng bánh xe, trùng quả dưa , bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh ấu trùng sán
lá ở mang, bệnh trùng mỏ neo và rận cá (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)
Trong số đó bệnh nguy hiểm nhất do bào tử sợi gây ra Theo các tác giả
Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007 ở Việt Nam đã nghiên cứu ký sinh trùng trên cá chép đã định loại 65 loài ký sinh trùng Ký sinh trùng bào tử sợi đã xác định được 2 giống 11 loài sau đây:
Trang 31Theo Kim Văn Vặn và Phạm Thị Thắm (2018), khi tiến hành điều tra
bệnh bào tử sợi ký sinh trong ruột cá chép ở Hải Dương là loài thelohanellus kitauei Tỷ nhiễm bào tử sợi trên cá chép được điều tra rất cao 31.9%
2.4 HÓA CHẤT PHÒNG TRỊ BỆNH KÝ SINH TRÙNG Ở CÁ TRONG NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
2.4.1 Tình hình sử dụng thuốc và hoá chất phòng, trị bệnh ký sinh trùng trong nuôi trồng thủy sản
Các nhà nghiên cứu ký sinh trùng (KST) cá đều thống nhất chung một quan điểm rằng việc dùng thuốc để chữa trị cho cá là rất khó khăn, tốn kém nên phòng bệnh là chính, tuỳ bệnh và từng điều kiện hoàn cảnh mà chúng ta có thể sử dụng các biện pháp xử lý khác nhau Năm 2001, trong luận án tiến sỹ tác giả Bùi Quang Tề đã nghiên cứu biện pháp phòng bệnh ký sinh trùng trên cá tốt nhất là tạo điều kiện môi trường thuận lợi cho cá nuôi đồng thời diệt được ký sinh trùng,
ao nuôi phải được kiểm tra KST và xử lý nếu cá nhiễm bệnh
Việc dùng thuốc trong nuôi trồng thủy sản có thể đưa lại nhiều lợi ích khác nhau như có thể làm tăng hiệu quả sản xuất, tăng hiệu quả sử dụng thức ăn, tăng tỷ lệ sống sót của đàn ấu trùng trong các trại giống Nhờ tác dụng của các loại thuốc khác nhau đã và đang dùng trong nuôi trồng thủy sản đã làm giảm đáng kể những rủi ro bệnh tật nếu dùng đúng thuốc, đúng liều lượng, đúng thời gian quy định và đặc biệt là giai đoạn sớm của bệnh Tuy nhiên việc dùng thuốc quá lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản nói chung và trong nuôi công nghiệp (nuôi thâm canh) đã và đang phổ biến ở Việt Nam, các nước trong khu vực, có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe con người, phá hủy môi trường sinh thái, làm ảnh hưởng đến chất lượng các đàn giống, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thương phẩm và tạo ra các chủng vi khuẩn kháng thuốc Những ảnh hưởng này càng nặng nề khi những người ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản không có ý thức , hiểu biết ít về hiệu quả và tác dụng của từng loại thuốc mà
họ dùng hàng ngày Trong nuôi thâm canh (nuôi công nghiệp) dùng thuốc là điều không thể tránh khỏi, nhưng để dùng có hiệu quả, giảm đi các tác động phụ vốn
có của thuốc tới môi trường, sức khỏe của con người và vật nuôi, các cơ quan quản lý nhà nước về thuốc thú y thủy sản phải ban hành những quy định nghiêm ngặt về các loại hóa chất được sử dụng và cấm dùng trong nuôi trồng thủy sản
Có biện pháp xử lý thích đáng những người mua và bán những thuốc đã cấm
Trang 32Mặt khác, cần bồi dưỡng nâng cao ý thức và sự hiểu biết cho ngư dân tham gia nuôi trồng thủy sản về tác dụng và hiệu quả hai mặt của tất cả các loại thuốc dùng trong nuôi trồng thủy sản
Theo Alderman(1998), trong nuôi trồng thủy sản, muối ăn (NaCl) là loại hóa chất được sử dụng sớm nhất để hạn chế ký sinh trùng
Đến đầu thế kỷ XIX, KMnO4 được coi như một loại thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh cho cá Năm 1920 và 1930, Formalin được sử dụng trong
thời gian dài để trị bệnh do hai loại ký sinh trùng Gyrodactylus và Dactylogyrus
(Paperna I, 1961)
Trong những năm tiếp theo, nhờ những tiến bộ của khoa học mà nhiều loại thuốc và hóa chất đã được thử nghiệm và đưa vào sử dụng phổ biến như: sulphat đồng (CuSO4), Xanh malachite (hiện nay đã cấm sử dụng) để phòng trừ bệnh do nấm gây ra Sau đó những năm 30 của thế kỷ XX, hệ thống vaccin lần đầu tiên được sử dụng để hạn chế các bệnh do vi khuẩn Đây là bước tiến nhảy vọt của khoa học trong việc làm hạn chế các dịch bệnh xảy ra đối với động vật thủy sản Đến nay vaccine được coi như biện pháp ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh trên cạn cũng như động vật thủy sản (Alderman, 1998)
Từ những năm 1950, CuSO4 được coi là một loại hóa chất sử dụng có hiệu quả trong điều trị nấm, đồng thời CuSO4 cũng là một trong những hóa chất được
sử dụng rộng rãi và lâu đời nhất trong nuôi trồng thủy sản Đầu tiên người ta biết đến CuSO4 như một loại hóa chất diệt tảo Tuy nhiên, chúng vẫn được coi như một loại hóa chất để trị bệnh vi khuẩn, nấm, KST đơn bào, sán lá đơn chủ, giáp xác ký sinh…(Davis, 1953; Brakev, 1961; Herman, 1972; Hoffman, 1972; Mayer, 1974…) Hiệu quả điều trị KST của CuSO4 thì thấy rõ, còn hiệu quả điều trị vi khuẩn còn nghi ngờ
2.4.2 Hóa chất và thuốc phòng trị bệnh ký sinh trùng ở cá
2.4.2.1 BKC 800
- Thành phần: Alkyl Dimethyl Benzyl Ammonium Chloride solution (C6H5CH2N(CH3)2RCl và Inert Ingredients (chất trơ)
Alkyl Dimethyl Benzyl Ammonium Chloride solution tên gọi tắt là BKC
Cơ chế gây độc chính xác của BKC lên sinh vật đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, cơ chế được biết đến là sự ngăn chặn hoạt tính của một số enzyme trong tế bào Cơ chế gây độc của BKC là sự xâm nhập của nhóm
Trang 33lipophilic alkyl vào trong màng tế bào, làm thay đổi tầng kép của phân tử phospholipid, dẫn đến sự suy yếu của màng tế bào và phá hủy màng tế bào Kết quả của quá trình này là làm ngưng trệ quá trình điều khiển các enzyme điều tiết quá trình hô hấp và trao đổi chất của tế bào
Hoạt tính của BKC ít bị ảnh hưởng bởi pH của môi trường ao nuôi, nhưng
về cơ bản hoạt tính sẽ gia tăng khi nhiệt độ và pH tăng, cũng như thời gian tiếp xúc của BKC lên sinh vật Hoạt tính hóa học của BKC sẽ bị giảm hoặc không có tác dụng khi sử dụng với các hợp chất hữu cơ như xà phòng, các hợp chất tẩy rửa
bề mặt tích điện âm như sodium laurisulfate hay sodium dodecyl sulfate (SDS), sodium lauryl ether sulfate (SLES), Hơn nữa, nước có độ cứng và độ đục cao cũng sẽ làm giảm tác dụng của BKC
- Công dụng:
+ BKC có hoạt động bề mặt rất mạnh và có thể dễ dàng đi vào thành hoặc màng của mầm bệnh để phá hủy nguyên sinh chất và phân tử protein của mầm bệnh cũng như giết các loại sinh vật đơn bào, virus, nấm, tảo và mốc
+ Trong nuôi trồng thủy sản, Benzalkonium Chloride có tác dụng diệt khuẩn cao, dùng để tẩy mang trong trường hợp vật nuôi bị bệnh mang đen, phòng
và trị các bệnh do vi khuẩn gây ra như: đứt râu, rụng đuôi, bệnh nấm và nguyên sinh động vật như Zoothamnium Tiêu diệt các loại vi khuẩn gây bệnh trong
nguồn nước nuôi cá như: Aeromonas, Pseudomonas, Flexibacter, Streptococcus, Vibrio, các loại nấm, nguyên sinh động vật gây ra bệnh: lở loét toàn thân, gan
thận có mủ, đỏ mang, đỏ kỳ, thối vây, sưng chướng bụng đồng thời diệt bớt tảo khi mật độ quá dày
+ Diệt bớt tảo khi mật độ quá dày: 1lít/ 3.000 m3nước
+ Xử lý nước ao khi cá mắc bệnh: 1lít/ 2.000 m3 nước, 3 ngày xử lý 1 lần
2.4.2.2.Triclabendazole
- Công thức hóa học:
Trang 34Triclabendazole
- Dược động học:
+ Triclabendazole hấp thu tốt vào máu Sau đó, thuốc nhanh chóng bị oxy hóa trong gan thành sulfoxide, cũng là một chất diệt giun sán hiệu quả Sulfoxide đạt nồng độ cao nhất trong huyết tương 1 ngày sau khi dùng thuốc Sulfoxide tiếp tục được chuyển hóa thành sulfone, nồng độ sulfone trong huyết tương đạt cao nhất 3 ngày sau khi dùng thuốc Cả hai chất này liên kết mạnh với protein huyết tương, chủ yếu là albumin Sulfoxide liên kết ngược với albumin, một phần sẽ được giải phóng trở lại các mô gan, làm tăng khả dụng sinh học của nó và kéo dài hiệu quả của nó Sulfoxide và sulfone thường được phát hiện trong mô và sữa
+ Sự thải trừ chủ yếu là do mật và phân (>90%), nước tiểu (gần 2%), sữa (gần 1%) Khoảng 50% liều dùng sẽ được thả trừ sau 6 ngày điều trị
+ Ở động vật nhai lại, thuốc đi chậm qua dạ dày kép sẽ kéo dài thời gian được hấp thu của thuốc
+ Ở động vật nhai lại, nên giảm lượng thức ăn làm chậm quá trình tiêu
- Cơ chế tác dụng:
+ Triclabendazole cũng giống như các chất thuộc nhóm Benzimidazoles: gắn kết với tubulin, tubulin là một protein cấu trúc của các ống nhỏ Những vi ống này là những cơ quan quan trọng liên quan đến sự di chuyển, phân chia và các quá trình bài tiết của tế bào ở tất cả các sinh vật sống
+ Ở giun sán, việc ngăn chặn các vi chất cản trở sự hấp thu glucose, và cuối cùng sẽ làm cạn lượng glucogen dự trữ Điều này dẫn đến cơ chế điều hòa năng lượng của giun sán bị tê liệt Giun sán sẽ chết đói hoặc bị đào thải ra ngoài
+ Tuy nhiên, Triclabendazole liên kết với một receptor “tubulozole”, cụ thể trong các ống nhỏ của sán, gây trở ngại chủ yếu đến vận chuyển nội bào trong
tế bào chứ không phải sự phân chia tế bào Vì lý do này, nó không có tác dụng gây quái thai như các Benzimidazoles khác Triclabendazole ức chế tổng hợp
Trang 35protein trong sán lá gan, ảnh hưởng đến sản xuất enzyme
- Liều dùng: Đối với động vật nhai lại sử dụng 10mg/kg thể trọng cho hiệu quả điều trị tốt (Phan Thị Hồng Phúc, 2017)
+ Một phần sulfoxide được giải phóng lại dạ cỏ, ở đây hệ vi sinh vật dạ cỏ lại làm nó trở thành Albendazole Điều này, làm tăng khả dụng sinh học của Albendazole ở động vật nhai lại
+ Thải trừ thuốc thông qua mật, phân và nước tiểu Ở động vật nhai lại, 60-70% liều dùng được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng các chất chuyển hóa khác nhau, chất chỉ yếu là sulfoxide Ở cừu, khoảng 14% liều đã được sử dụng thải qua mật, một phần là dưới dạng các chất chuyển hóa có hoạt tính khác nhau
+ Đối với chó, mèo, gia cầm, không có dạ cỏ làm giảm hiệu quả hấp thu Điều này, đòi hỏi khi sử dụng thuốc cần liều cao hơn hoặc thường xuyên hơn để đạt hiệu quả mong muốn Ở cừu và dê Albendazole sulfoxide có thể phát hiện được trong huyết tương trong khoảng 3 ngày, ở chó là dưới 12 giờ
+ Ảnh hưởng của chế độ ăn uống: ở động vật nhai lại, việc giảm lượng