Xác định một số yếu tố nguy cơ của dịch LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019 .... Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu - Xác đị
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
SANGVIAN CHANTHAVONG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỊCH LỞ MỒM LONG MÓNG TRÊN ĐÀN DÊ Ở HUYỆN BUN NƯA, TỈNH PHÔNG SA LY - LÀO TỪ NĂM 2016
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Sangvian Chanthavong
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Bá Tiếp, khoa Thú y đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu - Tổ chức - Phôi thai học, Khoa thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trạm thú y Bun Nưa, Phòng Dịch tễ Chi cục thú y Phông Sa Ly và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2019
Tác giả luận văn
Sangvian Chanthavong
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract x
Phân 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
Phân 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Bệnh nở mồm long móng 3
2.1.1 Virus gây bệnh 3
2.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh 5
2.1.3 Đường xâm nhập và cơ chế gây bệnh của virus 6
2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích 9
2.1.5 Dịch tễ học 10
2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM 11
2.2.1 Trên thế giới 11
2.2.2 Tại Lào 16
2.3 Yếu tố nguy cơ 19
2.3.1 Khái niệm 19
2.3.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ 19
2.3.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu 19
Phân 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2 Thời gian nghiên cứu 20
Trang 5iv
3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 20
3.4 Nội dung nghiên cứu 20
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Đánh giá thực trạng chăn nuôi dê và tình hình dịch LMLM ở dê trên địa bàn huyện Bun Nưa tỉnh Phông Sa Ly năm 2016 - 2019 21
3.5.2 Xác định một số yếu tố nguy cơ của dịch LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019 21
Phân 4 Kết quả và thảo luận 23
4.1 Thực trạng chăn nuôi tại huyện Bun Nưa 23
4.1.1 Thực trạng chăn nuôi tại tỉnh Phông Sa Ly 23
4.1.2 Tình hình chăn nuôi của tỉnh Phông Sa Ly 26
4.1.3 Tình hình dịch LMLM ở dê tại Tỉnh Phông Sa Ly năm 2018 - 2019 28
4.1.4 Tình hình tiêm vacxin LMLM ở dê tại Phông Sa Ly năm 2018 - 2019 29
4.1.5 Tình hình chăn nuôi và dịch LMLM ở dê trên địa bàn huyện Bun Nưa năm 2019 30
4.2 Tình hình dịch lmlm trên dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 33
4.2.1 Phân bố dịch theo thời gian 33
4.2.2 Thực trạng dịch LMLM ở dê tại các địa phương của huyện Bun Nưa năm 2019 35
4.2.3 Bệnh LMLM theo các loại dê tại Bun Nưa năm 2019 36
4.2.4 Tình hình hình thức chăn nuôi tại các hộ điều tra 37
4.2.5 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi tại các hộ điều tra 38
4.2.6 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi 39
4.2.7 Vệ sinh và khử trùng trong chăn nuôi của các hộ được điều tra 40
4.2.8 Tình trạng xử lý chất thải trong chăn nuôi tại các hộ được điều tra 40
4.3 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ gây bệnh lmlm ơ dê tại Bun Nưa năm 2019 41
4.3.1 Ảnh hưởng của địa điểm nuôi dê nằm gần đường giao thông chính 41
4.3.2 Ảnh hưởng của địa điểm gần chợ gia súc sống đến nguy cơ mắc LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa 42
4.3.3 Mối liện hệ giữa tiêm phòng và bệnh LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa 43
4.3.4 Nguồn gốc con giống không rõ ràng và nguy cơ măcs bệnh LMLM 43
Trang 6v
4.3.5 Ảnh hưởng của vệ sinh tiêu độc định kỳ đến nguy cơ mắc LMLM ở dê 44
4.3.6 Ảnh hưởng của bán chạy dê khi đang có dịch đến nguy cơ LMLM 45
4.3.7 Xử lý chất thải xả thẳng ra ngoài môi trường 46
4.3.8 Sử dụng nước ao, hồ để nuôi dê và nguy cơ mắc LMLM 47
Phân 5 Kết luận và kiến nghị 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Kiến nghị 49
Tài liệu tham khảo 50
Phụ lục 54
Trang 7vi
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
Trang 8vii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi năm 2016 26
Bảng 4.2 Tình hình chăn nuôi năm 2017 26
Bảng 4.3 Tình hình chăn nuôi năm 2018 27
Bảng 4.4 Tình hình chăn nuôi năm 2019 27
Bảng 4.5 Tình hình dịch LMLM ở dê tại Tỉnh Phông Sa Ly năm 2018 28
Bảng 4.6 Tình hình dịch LMLM ở dê tại Tỉnh Phông Sa Ly năm 2019 29
Bảng 4.7 Tình hình tiêm vắc xin LMLM ở dê tại Phông Sa Ly năm 2018 29
Bảng 4.8 Tình hình tiêm vacxin LMLM ở dê tại Phông Sa Ly năm 2019 30
Bảng 4.9 Tổng đàn dê tại Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019 31
Bảng 4.10 Tổng số hộ chăn nuôi dê tại Huyện Bun Nưa năm 2019 31
Bảng 4.11 Quy môn chăn nuôi dê tại 6 xã của Huyện Bun Nưa 32
Bảng 4.12 Dịch LMLM ở dê tại 6 xã của huyện Bun Nưa năm 2019 35
Bảng 4.13 Tình hình bệnh LMLM theo các loại dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 37
Bảng 4.14 Hình thức chăn nuôi dê tại các hộ điều tra (n = 140) 38
Bảng 4.15 Tình hình sử dụng thức ăn chăn nuôi dê (n = 140) 38
Bảng 4.16 Nguồn nước sử dụng trong chăn nuôi dê 39
Bảng 4.17 Vệ sinh và khử trùng trong chăn nuôi dê (n = 140) 40
Bảng 4.18 Tình trạng xử lý chất thải tại các hộ nuôi dê (n = 140) 40
Bảng 4.19 Ảnh hưởng của đường giao thông chính đến nguy cơ mắc LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa 41
Bảng 4.20 Ảnh hưởng của địa điểm nuôi gần chợ gia súc sống đến dịch LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 42
Bảng 4.21 Mối liên hệ giữa tiêm phòng và số hộ chăn nuôi có dịch LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 43
Bảng 4.22 Mối liên hệ giữa nguồn gốc con giống và dịch LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 44
Bảng 4.23 Mối liên hệ giữa vệ sinh tiêu độc định kỳ và dịch LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 45
Bảng 4.24 Mối liên hệ giữa bán chạy dê khi có dịch và bệnh LMLM tại huyện Bun Nưa năm 2019 46
Bảng 4.25 Xả chất thải nuôi dê và nguy cơ LMLM 46
Bảng 4.26 Kết quả phân tích yếu tố hộ chăn nuôi sử dụng nước ao hồ 47
Trang 9viii
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Lưu hành của virus LMLM trên thế giới từ 2013-2017 15
Hình 2.2 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1997 18
Hình 2.3 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1998 18
Hình 4.1 Bản đồ hành chính nước Lào 24
Hình 4.2 Bản đồ hành chính tỉnh Phông Sa Ly 25
Hình 4.3 Quy mô nuôi dê của các hộ chăn nuôi tại huyện Bun Nưa 32
Hình 4.4 Dịch LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa năm 2019 33
Hình 4.5 Xã có dịch LMLM ở dê tại Bun Nưa năm 2019 34
Hình 4.6 Số mắc bệnh LMLM ở dê tại các xã của huyện Bun Nưa năm 2019 36
Hình 4.7 Tỷ lệ mắc bệnh LMLM trên các loại dê tại Bun Nưa năm 2019 37
Trang 10ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Sangvian CHANTHAVONG
Tên Luận văn: Đánh giá thực trạng chăn nuôi và một số yếu tố ảnh hưởng đến dịch Lở
mồm long móng trên đàn dê ở huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly-Lào từ năm 2016 đến
tháng 9 năm 2019
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
- Xác định được thực trạng chăn nuôi của huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly,
- Xác định được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố làm phát sinh và lây lan dịch lở mồm long móng trên đàn dê, là cơ sở cho các biện pháp phòng chống dịch bệnh LMLM ở dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi dê và tình hình dịch bệnh LMLM ở dê được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ
- Điều tra với bảng hỏi (phiếu điều tra) với các hộ chăn nuôi, kết hợp phỏng vấn cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin
- Phân tích các yếu tố nguy cơ theo bản tương liên
Kết quả chính và kết luận
- Đàn dê của tỉnh Phông Sa Ly và của huyện Bun Nưa tăng dần nhưng không
nhiều từ năm 2016 đến nay
- Dịch LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa với 6 xã của huyện có dịch với tổng
số 171 dê mắc bệnh và 40 con phải tiêu hủy
- Đa số hộ nuôi nhỏ lẻ, chăn thả tự nhiên, sử dụng thức ăn tự nhiên, dùng nước ao hồ; vệ sinh chuồng trại hàng tháng và dùng chất thải nuôi dê làm phân bón hoặc xả thẳng ra môi trường
Đã xác định được 8 yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan bệnh LMLM ở dê tại huyện gồm: Nuôi dê gần đường giao thông chính; nuôi dê gần khu vực chợ buôn bán gia súc; dê không được tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nuôi dê không
rõ nguồn gốc con giống, không vệ sinh chăn nuôi thường xuyên, bán chạy dê trong thời gian có dịch và xả thẳng chất thải ra môi trường
Trang 11
x
THESIS ABSTRACT
Master candidate: Sangvian CHANTHAVONG
Thesis title: Retrospective study on the husbandry status and evaluation of risk factors
for the circulation of foot and mouth disease in goats in Bun Nưa district, Phông Sa Ly provine, Lao from 2016 to September 2019
Major: Veterinary Medicine Code: 8640101 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives
- To understand the status of animal husbandary of Bun Nua district, Phong Sa
Ly province
- To identify risk factors of FMD in goat in Bun Nua district, Phong Sa Ly province as the background for preventional and interventional programs
Materials and Methods
- Data collection from archives of the local statistical office, department of animal health and veterinary station
- Survey with questionnaires for primary data and information
- Identify the risk factors for the generation and spread of FMD in goats in Bun Nua district, Phong Sa Ly province in 2019
Main findings and conclusions:
- Goat husbandry in Phông Sa Ly province and Bun Nưa district has slowly
changed since 2016 shown in the number of goat heads and herd sizes
- The FMD outbreak in Bun Nưa in 2019 affected the number of 171 goats among that 40 goats were culled
- The majority of goat farming households were small scale, used natural materials for goat feeding, pond and lake water for drinking Most of the households cleaned goat houses once a month and the waste was directly used as manure
- Eight risks factors for circulation and spread of goat FMD were identified as:
farming close to main roads; farming near live animal markets; no vaccination; unidentified-source of started; lack of animal hygien, selling goats during outbreaks and direct discharges of animal waste into surrounding environment
Trang 12
1
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bệnh lở mồm long móng (LMLM) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên bò, cừu và lợn tại nhiều quốc gia Cuối thế kỷ XIX, dịch đã lan rộng ở châu Âu, kéo dài hơn 10 năm, gây bệnh cho hàng chục triệu bò và cừu Nửa đầu những năm 50 của thế kỷ XX, một vụ dịch mới kéo dài gây thiệt hại lớn cho đàn gia súc ở nhiều nước châu Âu Ở châu Á và châu Phi, bệnh cũng lây lan nhanh và rộng, hầu hết các quốc gia ở hai châu lục này Điều làm đau đầu các nhà dịch tễ học là tại nhiều quốc gia và khu vực, sau nhiều năm liên tục tiêm phòng vacxin cho đàn gia súc và áp dụng các biện pháp kiểm soát bệnh nghiêm ngặt, bệnh không xuất hiện nhưng cuối cùng vẫn bùng phát lại và lây lan mạnh (Nguyễn Ngọc Hải, 2007) Trong vài năm gần đây, chăn nuôi dê ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào
đã phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, việc phát triển chăn nuôi loài gia súc này vẫn gặp phải nhiều khó khăn Một trong những yếu tố nguy cơ phải kể đến là bệnh LMLM Đây là bệnh truyền nhiễm của loài dê, có thể gây chết nhiều dê, tỷ
lệ chết từ 60-90 %; số còn lại không chết thì còi cọc, chậm lớn, làm giảm năng suất chăn nuôi và ảnh hưởng đến chất lượng thịt và thậm chí tiềm ẩn mầm bệnh lây lan cho các đàn khác
Bệnh gây nhiều thiệt hại cho chăn nuôi dê ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện nay bệnh LMLM đã được Bộ Nông nghiệp đưa vào kế hoạch xây dựng chương trình phòng chống từng bước khống chế để loại trừ Cũng vì lý do
đó mà LMLM là một trong số các bệnh được quy định phải tiêm phòng bắt buộc
và phải công bố dịch Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, nên kết quả của việc tiêm phòng còn thấp, dẫn đến đàn dê không được miễn dịch
Huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly có tổng đàn dê dẫn đầu cả tỉnh Phông Sa
Ly Tuy nhiên, hiện nay người chăn nuôi tại các huyện vẫn luôn gặp nhiều vấn đề khó khăn trong việc phòng một số bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh LMLM Theo báo cáo của văn phòng ngành thú y tỉnh Phông Sa Ly, bệnh LMLM vẫn trong danh sách các bệnh phải tiêm phòng hàng năm Vấn đề này đồng nghĩa với việc người chăn nuôi và các cơ quan chức năng vẫn thường xuyên đối mặt với bệnh LMLM
Trang 132
Các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh và lây lan dịch gồm loại hình nuôi
và quản lý đàn; chất lượng vacxin và tỷ lệ đàn được tiêm vacxin; giết mổ và vận chuyển dê và các sản phẩm từ dê; các dịch bệnh khác trên đàn dê Xuất
phát từ những vấn đề nếu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
thực trạng chăn nuôi và một số yếu tố ảnh hưởng đến dịch Lở mồm long móng trên đàn dê ở huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly-Lào từ năm 2016 đến tháng 9 năm 2019”
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Xác định được các yếu tố nguy cơ gây phát sinh và lây lan dịch LMLM, làm căn cứ xây dựng các biện pháp phòng chống dịch bệnh LMLM tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: Các hộ chăn nuôi dê trên địa bàn huyện Bun Nưa, tỉnh Phông
Sa Ly
- Thời gian: Tháng 1 năm 2019 đến tháng 9 năm 2019
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
Cung cấp thông tin cùng những luận chứng về tình hình mắc bệnh LMLM
và các yếu tố nguy cơ gây bệnh trên địa bàn huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019 Từ kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được sử dụng để định hướng cho các nghiên cứu sau này và giúp cho việc xây dựng các chương trình khống chế bệnh LMLM trên địa bàn huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly
Trang 143
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
2.1.1 Virus gây bệnh
Lở mồm long móng (LMLM) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus
LMLM thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus Virus gây bệnh có nhiều type
đa type và dễ biến đổi Các type virus tuy gây ra triệu chứng giống nhau, nhưng lại không tạo miễn dịch chéo Triệu chứng đặc trưng của bệnh do virus này là sốt cao, hình thành các mụn nước ở niêm mạc miệng, chân, kẽ móng, trên da và vú con cái (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2012) Có 7 type virus A, O, C, Asia 1, SAT 1, SAT 2, SAT 3 Ở khu vực Đông Nam Á thường thấy 03 type là O, A và Asia1 Ở Lào đã phát hiện type O, type A và Asia 1 Bệnh LMLM có nhiều tên gọi khác nhau: Foot and mouth diseease (FMD); Aphaetae Epizooticae (Latin) ;Feivre Aphteuse (tiếng Pháp); Feivre Aftosa (tiếng Tây Ban Nha) hay Hoof and mouth disease
Hình thái và cấu tạo:
Virus gây bệnh LMLM là loại virus nhỏ nhất có kích thước từ 20-30 mm, hình đa diện có 20 mặt đều, virus có thể qua được các máy lọc Berkefeld,
Chamberland và màng lọc Seizt (Nguyễn Như Thanh, 2001)
Hạt virus chứa 30% acid nucleic, đó là một đoạn ARN chuỗi đơn, có khối lượng phân tử 8.6 KiloDalton, hợp thành bởi 8000 nucleotit và có hệ số
sa lắng là 35S, không có tính sinh kháng thể và đặc tính kháng nguyên nhưng
có vai trò trong quá trình gây nhiễm (Hyattsville, 1991) Vỏ capsid của virus
có hơn 60 đơn vị (capsome) Mỗi capsome có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là VP 1, VP 2, VP 3 và VP 4 VP 1, VP 2 và VP 3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối xứng còn VP 4 là protein ở bên trong capxit, kết dính RNA virus với mặt trong của capsid VP 1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định virus trên tế bào, đóng vai trò quan trọng nhất trong cơ chế gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên chính tạo ra kháng thể chống lại virus Vì thế, gen mã hoá VP 1 đã được giải mã và là căn cứ để phân chia chúng ra
thành các serotype và các subtype Sự sai khác về bộ gen là nguyên nhân tạo
ra các biến chủng, đặc biệt thông qua sự đa dạng của VP 1
Hằng số lắng (S) của hạt virus hoàn chỉnh (virion) là 140S; phần vỏ capsid không có RNA là 75S; mảnh protein của capsid bao quanh RNA (dài
Trang 154
8 kilobases) là 12S khi bị tác động bởi nhiệt độ, môi trường acid hoặc nồng độ ion thấp
Virus LMLM không có vỏ bọc mà được bao bọc bởi một lớp lipid do đó
chúng có sức đề kháng cao với các dung môi hữu cơ (cồn, este ) (Eble, 2007)
Phân loại virus LMLM:
Virus LMLM có 2 đặc tính đặc biệt liên quan đến dịch tễ học, đó là tính có đa type và tính dễ biến đổi kháng nguyên, các type tuy gây ra những triệu chứng, bệnh tích giống nhau, nhưng lại không gây miễn dịch chéo
Theo hệ thống phân loại mới nhất do hội nghị Quốc tế về virus học lần thứ
11 tại Sydney, Australia năm 1999 quy định thì virus được phân loại như sau: Virus thuộc họ Picornaviridae, giống Aphthovirus, Virus LMLM gồm
7 type khác nhau: O; A; C; SAT-1; SAT-2; SAT-3 và Asia 1
Người ta phân biệt các type, subtype, các biến chủng và theo mức độ sinh miễn dịch chéo Hiện nay có trên 80 subtype đã biết
- Type A có 32 subtype: A 1 đến A 32 và có các chủng: A 1 Babaria, A 2 Spain, A 3 Purlenberg, A 4 Hansen, A 5 Westerwald, Greece A 5, A 8 Parma, A Kemron, ABC, AGB, Brasil 1/50(Santos), Spain 1/59 (Banjio), Thai 1/60, A Belem,
A Guarruhos, A Zulia (Venezuela), A Suipacha, (Argentine), USSR 1/64, Kenya 3/64, Iraq 24/64, Kenya 46/55, Acruizairo, A Argentine 59, A Argentine 66, A Colombia 67, Folatli, A Peru 69, A Uruguay 68, Colombia 69, A Venezuela
- Type O có 11 subtype: O1 đến O11 và các chủng virrus bao gồm: Lombardy, O2 Bresia, Venezuela, India 1/62, OVI, Polan 1/59, Brasil 1/60, Kenya 102/60, Philipines 2/58, Indonesia 1/62
Trang 165
Một trong số đó không cho miễn dịch chéo với nhau
Các subtype mới xuất hiện nhiều và không theo quy luật Tuy vậy, tại một thời điểm cụ thể, chỉ có một subtype nhất định gây bệnh tại các khu vực bệnh LMLM (Taylo, 1986)
Tầm quan trọng của một subtype ở chỗ là một vacxin chỉ có thể sản xuất
sử dụng cho một vùng do subtype cụ thể xuất hiện tại nơi đó Người ta đã chứng minh trong một ổ dịch phát ra, lúc dầu do một chủng (type) virus hoặc dưới chủng (subtype) virus gây nên, sau đó cũng trong ổ dịch đó người ta lại phân lập được chủng virus hoặc dưới chủng virus LMLM khác Điều này được giải thích do virus LMLM rất dễ biến đổi để thích nghi, tồn tại và phát triển thông qua động vật cảm thụ (Tô Long Thành và cs., 2006)
Về khả năng sinh đột biến của virus LMLM, giả định nguyên nhân là do dùng vacxin không gây được miễn dịch đầy đủ cho con vật, đã thúc đẩy quá trình đột biến
ở các chủng thực địa (Tô Long Thành, 2000)
Một ổ dịch xảy ra do các type hoặc các subtype và cũng có thể là do cả hai hoặc đơn lẻ từng type hoặc subtype
Virus LMLM vẫn thường giữ được các đặc tính của nó khi sinh sản Nhưng cũng có thể trong quá trình nhân lên cao độ trong một ổ dịch, một sự biến dị làm nảy sinh một biến chủng mới Một số tác giả đã quan sát sự biến đổi từ một type này sang type khác (Manig và Lazlo thấy type A, C biến thành type O, Dimnit thấy type O biến thành type C, Malzarot thấy type O biến thành type A5) Do tính chất đa loại này mà có những con vật đã lành bệnh rồi lại mắc bệnh sau một thời gian ngắn Người ta thấy những con trâu, bò mắc bệnh lại sau 10 ngày, có khi mắc bệnh 3 lần trong một tuần (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978)
2.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh
Virus LMLM không có vỏ bọc, do đó chúng có sức đề kháng cao với dung môi hữu cơ (cồn, ete ) nhưng lại mẫn cảm với ánh sáng mặt trời, axit, formon (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Vius khá bền vững trong điều kiện tự nhiên, thích nghi nhất với pH trong khoảng 7,2-7,6 và có thể tồn tại ở pH 6,7-9,5 nếu nhiệt độ giảm xuống ở mức 4°C hoặc thấp hơn Ở pH < 5 hoặc > 11 virus bị vô hoạt nhanh Vì vậy, trên thực tế không nên dùng cồn để làm chất khử trùng Khi virus ở trong các dịch tự nhiên đang khô đi trong phân, nước tiểu hay rơm rạ, chất độn chuồng thì tính gây bệnh của virus
Trang 176
tương đối bền vững với tác động vô hoạt (Lê Minh Hà, 2000) Ở nhiệt độ 60-70°C virus chết sau 5-15 phút, đun sôi 1000C chết ngay lập tức Ngược lại ở nhiệt độ lạnh
có thể bảo tồn virus: trong tủ lạnh, virus sống được 425 ngày
Với ánh sáng yếu: Trên đồng cỏ, virus sống ít nhất 2 tháng về mùa đông, 3 ngày về mùa thu, virus còn hoạt lực 4 tuần lễ trên lông bò Trong đất
ẩm ướt virus có thể sống hàng năm
Sức đề kháng của virus phụ thuộc phần lớn vào chất chứa nó Virus có sức
đề kháng tương đối mạnh khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein, ví dụ trong cỏ khô virus sống được 8-15 tuần, trong tuỷ xương dài, phủ tạng virus có thể sống 40 ngày Trong tổ chức và mô bào, virus có sức đề kháng mạnh với những chất hoá học sát trùng có thể giết được vi khuẩn khác
Virus có thể tồn tại được khoảng 5-10 tuần ở những nơi thời tiết mát, đặc biệt là ở các mô bào hoặc ở các tổ chức ngoài cơ thể với điều kiện pH không thấp hơn 6,5 Tại chuồng của trâu bò virus có thể duy trì khoảng 14 ngày, ở trong đồ phế thải của động vật được khoảng 39 ngày, trên bề mặt của phân ở mùa thu được
28 ngày và ở mùa đông được 67 ngày Virus có thể sống lâu hơn ở trong thức ăn,
ở lông trâu bò được 4 tuần, trong nước thải được trên 130 ngày Trong các sản phẩm của động vật, virus bị bất hoạt khi có sự axit hoá của sữa và thịt
Đối với hoá chất, virus có sức đề kháng mạnh với những chất sát trùng thông thương: Crezon 3% sau 6 giờ, Clorofoc 1% 20 ngày virus vẫn còn độc lực Vì thế phải dùng chất sát trùng mạnh NaOH 1% diệt virus trong 1-10 phút Tôt nhất dùng nước vôi 5-10%, forrmon 2% diệt trong 6 giờ (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001) Do virus có lớp ngoài cùng là lipit nên nó có khả năng đề kháng với các chất hữu cơ như cồn, este… Tuy nhiên, virus lại mẫn cảm với acid, formol Vì vậy, có thể dùng các loại axit nhẹ để tiêu diệt virus trên
cơ thể con vật như: dấm ăn, phèn chua, chanh, khế, axit citric, axit axetic 5%
2.1.3 Đường xâm nhập và cơ chế gây bệnh của virus
Trang 187
quả không chắc chắn và đòi hỏi liều virus cao hơn
Có nhiều nhân tố gây phát tán mầm bệnh gồm động vật cảm nhiễm, sự tiếp xúc trực tiếp hay gián tiếp, mật độ n u ô i , điều kiện môi trường và các biện pháp kiểm soát sự nhân lên của bệnh
Sự lây truyền chính của virus LMLM qua không khí, sự tiếp xúc trực tiếp và thông qua đường thức ăn nước uống Nhìn chung virus LMLM xâm nhập qua đường hô hấp
Cơ chế của sự lây truyền virus LMLM, sự di chuyển của động vật cảm nhiễm đóng vai trò quan trọng nhất, tiếp theo sự trao đổi sản phẩm động vật Một hoặc hơn một động vật trong đàn nhiễm bệnh, số virus LMLM thải ra môi trường là rất lớn, virus LMLM có thể phát tán rất xa bởi các động vật mang trùng hoặc ủ bệnh, các phương tiện vận chuyển như xe tải vận chuyển thức ăn, chim, chó hoang, các động vật nuôi như chó và mèo, loài gặm nhấm và các động vật có xương sống khác, vector cơ học Rác bao gồm các mảnh thức ăn chưa được nấu chín và xương từ những động vật nhiễm bệnh là nguồn gây nhiễm ở dê Con người có thể hít hoặc là nơi ẩn náu của virus LMLM trong thời gian 24 giờ
và cũng là nguồn lây nhiễm cho động vật
Nét đặc trưng của bệnh LMLM là sự bài thải virus LMLM trước khi động vật bị nhiễm có những dấu hiệu lâm sàng, giai đoạn ủ bệnh dài phụ thuộc từng chủng virus LMLM, sự phơi nhiễm và con đường lây nhiễm Virus LMLM lây nhiễm qua đường không khí sẽ phát bệnh từ 4-5 ngày, ở động vật bị bệnh và bài thải virus LMLM lên đến 4 ngày trước khi có những dấu hiệu lâm sàng đầu tiên Virus LMLM lây theo đường không khí phát tán trên khoảng cách 60 km ở đất liền và 200 km ở biển so với nơi xảy ra Nhân tố đóng vai trò quan trọng nhất trong việc phát tán virus LMLM là gió, độ ẩm cao, điều kiện thích hợp nhất cho virus LMLM là độ ẩm trên 60%, không khí ổn định (Riemann, 2008)
Trang 198
sốt, cuối giai đoạn sốt, virus nhân lên và gây ra các mụn nước thứ phát ở nơi những tế bào thượng bì đang phân chia mạnh như niêm mạc, xoang miệng, vành móng, kẽ móng, đầu vú bò sữa, mõm dê Mụn nước phát triển to dần ra, nhô lên nhưng không bao giờ sinh mủ khi không có vi trùng kế phát
Sau khi mụn vỡ, những vết tích trên thượng bì được lấp bằng nhanh chóng, không để lại sẹo do tế bào của lớp Manpighi vẫn nguyên vẹn Mụn nước chỉ loét khi nhiễm khuẩn kế phát, vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử xâm nhập gây bệnh lý cục bộ ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết, con vật có thể chết Thời kì nung bệnh thường từ 1-3 ngày khi gây bệnh thực nghiệm: 2-7 ngày hoặc 11 ngày khi gây bệnh trong tự nhiên (Tô Long Thành và cs., 2005) Virus LMLM xâm nhập vào động vật chủ theo đường hô hấp hoặc theo vết sước trên da, đầu tiên chúng nhân lên với số lượng nhỏ tại nơi xâm nhập
(Domingo et al., 2002) Vùng yết hầu của động vật nhai lại được coi như vùng
sinh bệnh ban đầu của virus LMLM, sau đó virus LMLM xâm nhập vào tổ chức lympho vùng hầu hay các hạch liên quan rồi đi vào máu (Lê Minh Hà, 2000) Thời kì đầu virus LMLM ở trong máu có trước sự phát triển những mụn nước
đặc trưng (Domingo et al., 2002)
Sau khi vào máu, virus LMLM được đưa đến các vị trí thứ cấp gồm các cơ quan tuyến, hạch lympho khác và biểu mô quanh mồm, chân, nơi phát sinh các mụn nước (Lê Minh Hà, 2000)
Mụn nước dày đặc sẽ xuất hiện ở viền móng, vòm khẩu cái, mõm, lưỡi, đầu vú (Callens, 1997) Virus LMLM có thể qua đường sinh dục, qua các niêm mạc khác, qua da của vành móng (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Trong một số trường hợp, do nguyên nhân chưa rõ, virus lưu hành trong máu rồi sinh sản trong các chân cầu của tim nếp nhăn cơ tim, gây bại huyết, thoái hoá cơ tim, viêm cơ tim Hiện tượng viêm cơ tim này không phải
do virus trực tiếp gây ra mà do liên cầu khuẩn và tụ cầu khuẩn trước đây đã chui vào cơ tim bị virus làm tổn thương (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Thể ác tính của bệnh LMLM ở con vật trưởng thành xuất hiện triệu chứng rõ ràng khi mụn nước giai đoạn khỏi, ở con non hiện tượng thoái hoá cơ tim có thể làm con vật chết trước khi mụn nước thứ phát xuất hiện
Virus có thể xâm nhập vào phôi thai qua đường tuần hoàn con mẹ, do
đó gia súc có chửa thường hay sẩy thai khi mắc bệnh LMLM
Trang 20“lở mồm long móng” theo cách đặt tên của Việt Nam Tên gọi quốc tế bắt nguồn
từ chữ aphta có nghĩa là “mụn nước” (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Thời gian ủ bệnh nói chung ở trâu bò từ 2-3 ngày, ở dê dài hơn Với các triệu chứng chính bao gồm: Sốt (do virus LMLM và do nhiễm trùng thứ cấp); mệt mỏi, dáng đi ủ rũ; tỷ lệ chết cao ở động vật non (có thể bị chết 24 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên) Gia súc mắc bệnh đi khập khiễng do các bệnh tích ở móng Ở
dê , ít thấy các mụn nước ở miệng, mà triệu chứng chính là dáng đi khập khiễng, què quặt do bị các mụn nước ở móng Trong trường hợp mạn tính, móng chân của dê thường để lại vết màu xanh (dê trắng) Trường hợp bị bội nhiễm vi trùng thứ phát, các móng chân thường phát triển thành các mụn hoại tử
- Các mụn nước trên miệng, mõm, lưỡi, xoang miệng và trên vú: sự xuất hiện của các mụn nước ở các khu vực kể trên thường thấy nhất ở bò, nhất
là bò sữa các vết thương nghiêm trọng hơn Các mụn nước này có hình thái tương tự như các mụn nước ở vành móng Trong xoang miệng, các mụn nước thường nằm ở mặt trên của lưỡi, nhiều khi chúng hội nhập gây ra các vết bong niêm mạc rất lớn Do bị viêm nhiễm xoang miệng và do đau họng nên vật bệnh bị chảy nước dãi nhiều hơn bình thường
- Con vật bệnh thường đau khi nhai (nhất là bò và dê) nên bỏ ăn Nguyên nhân của tử vong do bệnh LMLM do đói do không ăn được mà chết (gia súc trưởng thành); virus gây ra bệnh cấp tính mà chết, nhiều khi chưa kịp có triệu chứng và các bệnh tích điển hình (thường gặp ở con non) Gia súc cái mang thai
dễ bị sảy thai ( đặc b i ệt ở d ê)
Triệu chứng LMLM ở dê:
- Thời gian nung bệnh dài: từ 2 đến 12 ngày
- Sốt không liên tục, thân nhiệt hạ thấp ở một số dê nhiễm bệnh nặng
- Dê nhiễm bệnh thường có những biểu hiện ban đầu như đi khập khiễng, Các bệnh tích mụn nước có thể thấy ở dê, thường là ở mõm; phần gốc lưỡi dê
Trang 2110
nên kiểm tra phát hiện lâm sàng thường khó khăn hơn Các mụn nước xung quanh vành móng chân thường dễ thấy hơn và con vật thường rất đau Dê có bệnh tích ở móng đôi khi quan sát thấy hiện tượng dê đứng trên đầu móng, trông giống như “đi rón rén” Ở những dê nhiễm bệnh nặng, phần sừng của móng chân
có thể bị tróc ra sau khi có những mụn nước Dê con có thể chết mà không có dấu hiệu nào của bệnh LMLM do bị suy tim
- Đối với con cái mang thai giai đoạn cuối có thể bị xẩy thai
- Trên dê, các triệu chứng lâm sàng của LMLM không thể phân biệt được với các bệnh có mụn nước khác như viêm miệng mụn nước, ngoại ban có mụn
nước, và các bệnh mụn nước ở dê (Callis et al., 1986)
Bệnh tích:
- Bệnh tích chủ yếu của bệnh LMLM là các mụn nước nằm ở xong miệng,
gờ vành móng, đầu vú và móng chân Nói cách khác chủ yếu nằm ngoài cơ thể Bệnh tích bên trong chủ yếu là hoại tử các cơ, trong đó chủ yếu là cơ tim tạo ra cái gọi là “tim vằn hổ” Khi mổ động vật, chúng ta thấy mặt ngoài của tim có các vết xuất huyết, có vệt như da hổ gọi là tim vằn hổ Đây là bệnh tích có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát giết mổ Các bệnh tích khác (loét niêm mạc, thoái hóa tụy) không có ý nghĩa nhiều (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
2.1.5 Dịch tễ học
Sự lây lan:
Virus LMLM thường thâm nhập vào cơ thể vật mẫn cảm qua niêm mạc đường hô hấp Cần chú ý rằng lúc này kháng thể trung hòa có trong huyết thanh gia súc không có ảnh hưởng gì đến virus cả (đây chính là cơ chế tạo ra các con vật mang trùng) (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) Sau khi phát triển ở vùng hầu, chúng thâm nhập vào máu gây ra sốt và các bệnh tích ở những nơi như đã
kể trên Vật mắc bệnh thường bài thải virus rất sớm, thậm chí trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng
Một con dê sản sinh ra một lượng virus gấp 3000 lần con bò và trong một phút số lượng virus mà nó thải ra đủ để gây nhiễm cho 70.000 con bò (nhất là chủng A và C) (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) Ngoài ra bệnh còn có khả năng lây lan trực tiếp qua các dụng cụ, vật dụng dùng trong chăn nuôi Thậm chí, khi đến thăm gia đình chăn nuôi có vật bệnh cũng đủ để sau đó ta đem virus về gây bệnh cho gia súc của gia đình mình
Trang 2211
Các con đường bài thải virus:
- Virus LMLM có thể được bài thải qua đường hô hấp, nước bọt, máu, sữa, nước tiểu, bào thai , tinh dịch, phôi đông lạnh, lông Vì vậy, sản phẩm động vật là nguồn lây nhiễm bệnh LMLM
- Gia súc sau khi khỏi bệnh vẫn mang virus trong cơ thể và tiếp tục bài thải mầm bệnh gây nhiễm cho các súc vật mẫn cảm Truyền bệnh LMLM chủ yếu thông qua không khí trong một khu vực (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
- Nhiều gia súc mang trùng là nguồn lây nhiễm nên nhiều quốc gia không tiêm phòng mà tìm cách phát hiện gia súc mang trùng rồi giết đi
Dê sau khi khỏi bệnh hoặc tiêm phòng hầu như không có khả năng mang trùng Do vậy, người ta nói dê là loài miễn dịch vô trùng, còn trâu bò, cừu là loài động vật miễn dịch mang trùng đối với bệnh LMLM
Phương thức lây lan:
- Tiếp xúc trực tiếp giữa các con vật
- Lây lan theo sự di chuyển của gia súc và các sản phẩm chăn nuôi
- Qua đường không khí
- Thông qua người chăn nuôi, cán bộ thú y, dụng cụ, phương tiện dùng trong chăn nuôi
- Qua việc vứt xác, phân, nước tiểu gia súc, nước rửa thịt khi mổ theo các dòng nước chảy (sông suối) Đây là đặc điểm riêng biệt ở các nước kém phát triển cần đặt vấn đề về cách phòng chống bệnh
- Sự lây lan rất đặc biệt và rất nhanh chóng
Trang 2312
1514 ở Ý, sau đó bệnh được phát hiện ở Bắc Ý, Pháp, Anh và nhiều nước châu Âu khác (Hyattsville, 1991) Năm 1897, tác nhân gây bệnh được hai nhà khoa học người Đức có tên là Loeffler và Frosch tìm ra, tác nhân này được chứng minh là có thể qua được màng lọc (Đào Trọng Đạt, 2000) Những năm đầu thế kỷ 20 (1920), nhiều công trình nghiên cứu chi tiết về bệnh này mới được thực hiện (Andersen, 1980) Năm 1922, Valée và Carré phát hiện ra tính đa dạng của huyết thanh miễn dịch chống virus (type O và A), năm 1926 Waldman và Trautwein tìm ra virus type C, Lawrence cũng phát hiện ra type SAT 1, SAT 2, SAT 3 từ các mẫu bệnh phẩm gửi đến từ châu Phi, type Asia 1 từ Ấn Độ, Miến Điện và Hồng Kông
Ở châu Âu: Cuối thế kỷ 19, bệnh xuất hiện ở Nga, sau đó lây lan nhanh sang nhiều nước châu Âu khác như Đức, Hà Lan, Thụy Sĩ, Bỉ, Hung ga ri, Áo, Đan Mạch, Pháp, Ý làm cho hàng chục triệu trâu bò mắc bệnh (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978; Văn Đăng Kỳ, 2008)
Ở châu Mỹ: Từ 1870 Đến 1929, xuất hiện 9 ổ dịch tại các bang của Mỹ như New England, Porland, Maine (1880), Boston, New England (1884), chủ yếu
là do nhập khẩu gia súc mang trùng từ nước khác Năm 1870, bệnh cũng phát ra
ở Canada Tại Mexico, dịch phát ra trong các năm 1946-1954, tại Canada năm 1951-1952 và Argentina năm 1953 (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958) Năm 2000 dịch LMLM xảy ra ở Nam Bra-xin (type O), Áchen ti na (type A), U
ru guay (type O), Bo li via (type O và A), Co-lum-bia (type O và A), Peru (type A), Ecuado (type O)
Ở châu Phi: Dịch LMLM xảy ra tại nhiều nước, cả ở Bắc Phi và Nam Phi (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Năm 2001 dịch LMLM type O xảy ra ở Uganda, tại Malawi type SAT 1, tại Zimbawe type SAT 2
Ở châu Á: Dịch LMLM phát sinh ở Ấn Độ (1929, 1952 ), Indonesia (1952), Philippin (1902), Myanma (1936, 1948), Malaysia (1939), Thái Lan (1952), Cam-pu-chia (1931, 1946, 1952), Trung Quốc (1951) (Nguyễn Vĩnh Phước, 1978) Nhìn chung có 3 type thường xuyên gây bệnh LMLM ở khu vực các nước Đông Nam Á đó là type O, A và Asia 1 (Văn Đăng Kỳ, 2008)
Năm 2000, tại châu Á có trên 30 quốc gia có bệnh LMLM Các type huyết thanh lưu hành chủ yếu là type O (24 quốc gia, trong đó có Việt Nam), type A (6 quốc gia), Asia 1 (Thái Lan, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Grudia), SAT 2 (ở Ảrập Xê út,
Ku uết), một số quốc gia khác (Armenia, Azerbaijan, Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất, Ấn độ) chưa xác định được type virus (Thomson, 2002)
Trang 2413
Trong những năm gần đây, các nước như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan, Malaysia, Myanma đều có dịch
Virus LMLM thu thập vào tháng 10 năm 2012 tại miền nam Thái Lan tất
cả đều cùng loại A/ASIA Sea-97 Dịch LMLM mới đã được báo cáo trong tháng
7 năm 2013 ở bayan-ULGII, Tây Mông Cổ (gần biên giới Trung Quốc và nằm trong phạm vi 25-30 Km từ biên giới Nga và từ Đông Kazakhstan) gây ra bởi loại virus LMLM type A Các sublineage chưa rõ
Theo báo cáo tình hình dịch bệnh LMLM hàng tháng trên thế giới của tổ chức FAO vào tháng 6 năm 2013 (Donald King, 2013) Từ năm 2010 đến 2013 virus LMLM chia làm 7 vùng (pool) tùy thuộc vào đặc điểm của virus Các nước thuộc vùng Đông Nam Á và Trung Quốc thuộc vùng 1 (pool 1)
Virus LMLM có 07 Serotype: O, A, Asia 1, SAT 1, SAT 2, SAT 3 và C,
từ 2004 không phát hiện được serotype C
Virus LMLM lưu hành tại vùng 1 và vùng 2, cả hai vùng đều có 03 Serotype virus LMLM lưu hành là O, A và Asia 1, nhưng đặc điểm của các virus này là khác nhau giữa hai vùng
LMLM type A/Iran-05 đã gây ra một đợt bùng phát ở Krasnodar Krai, Tây Nam nước Nga (subtype chưa biết) và chưa có sẵn loại vác xin phù hợp với virus này FAO đánh giá có nguy cơ lan rộng của virus này trong vùng
LMLM type A /ASIA Sea-97 lưu hành trong khu vực giữa Đông Á vào năm 2012-2013 Phân tích di truyền của loại virus LMLM type A (A GDMM-CHA-2013-S (LVRI)), được thu thập tháng 3 năm 2013 từ gia súc và
dê ở Bắc Trung Quốc (Quận Chengbey, Tây Ninh, Thanh Hải) và kiểu gen của một virus phân lập ở Nga (A/Zabaikalsky/RUS/2013) được lấy mẫu vào tháng 3 năm 2013 từ gia súc trong Molodezhny, huyện Priargunsky, Zabaikalsky kray, Đông - Nam Liên Bang Nga (gần biên giới Trung Quốc) cho thấy mối quan hệ di truyền gần gũi (cả hai đã có đặc tính di truyền tương đồng 99,06 % trong vùng mã hóa VP1)
Trong năm 2013 có số ca bệnh do serotype A gấp 3 lần số ca bệnh
do serotype O (Donald King, 2013)
Virus LMLM thu thập vào tháng 10 năm 2012 tại miền Nam Thái Lan (Nakhon Pathom) là A/ASIA Sea-97 Dịch LMLM tháng 7 năm 2013 ở Bayan-ULGII, Tây
Trang 2514
Mông Cổ (gần biên giới Trung Quốc và nằm trong phạm vi 25-50 km từ biên giới Nga
và từ Đông Kazakhstan do type A Các sublineage di truyền vẫn chưa rõ
Một số subtype của virus LMLM type A-Iran 05 vẫn lưu hành ở vùng Tây Âu-Á vào năm 2013 và được xác định là A/Asia /Iran-05 SIS-12 (Pakistan); A/ Asia /Iran-05 SIS-10 (tương đồng 100% với phân lập từ Pakistan vào năm 2012)
và A/ Asia /Iran-05 AFG-07 (Iran) và 05 Iran SIS-10, 05 Iran USK11, Iran-05 WES-11, A-Iran 05 AMS12; A- BAB12 Iran-05 (Thổ Nhĩ Kỳ) Chủng LMLM mới đã nhanh chóng lây lan từ Nam Á (Thái Lan, Việt Nam) đến khu vực phía Bắc Trung/Đông Á, từ Nam và Đông Âu - Á (Pakistan, Iran) đến các vùng lãnh thổ Tây Á (Thổ Nhĩ Kỳ) đặt ra mối đe dọa cho châu Âu
A-Nhiều đợt dịch LMLM bùng phát do virus LMLM type A và O ở các vùng khác nhau của Trung Quốc, chủ yếu là type O (O/Mya-98) và Panasia O (O/Mya-98) nhiễm ở trâu, bò, dê, cừu Tuy nhiên, loại O (O/Panasia) chủ yếu ảnh hưởng đến trâu, bò
Trong 7 type virus, Type A có nhiều biến chủng nhất gây khó khăn trong phòng bệnh Trong tháng 10 năm 2012 phòng thí nghiệm tham chiếu Fibright đã nhận được 360 mẫu bệnh phẩm, có 290 mẫu bệnh phẩm đạt tiêu chuẩn phân lập, kết quả phân lập có 5 serotype được phát hiện là O, A, SAT 1, SAT 2, Asia 1 Số
ca bệnh do serotype A gấp 2 lần số ca bệnh do serotype O, khoảng 30% số mẫu gửi đến phòng thí nghiệm tham chiếu của Thế giới không đạt tiêu chuẩn để xét nghiệm (Ngô Thanh Long, 2013)
Ở Trung Quốc trong năm 2013 số ca bệnh do serotype A gấp 3 lần số ca
bệnh do serotype O (Donald King, 2013)
Tại Thái lan, từ 2011-2013, số ca bệnh do serotype A gấp 2 lần số ca
bệnh do serotype O Trong hai năm 2012-2013 đã có 7 mẫu được thu thập và gửi đến WRL để giải trình tự Tất cả đều là type A SEA-97 Có sự liên quan rất chặt chẽ (giống 99,06% cấu trúc protein VP1) với ASEA-97 phân lập từ Nga và Trung Quốc Điều này cho thấy virus LMLM đã lưu hành phổ biến trên phạm vi rộng lớn trong một thời gian tương đối ngắn, mối đe dọa nguy cơ nhiễm bệnh của gia súc trong khu vực, trong vùng lân cận và sự lây lan nhanh chóng của các vi rut subtype mới
Tại Campuchia dịch LMLM từ năm 2011-2013 chỉ phát hiện được
serotype O (Donald King, 2013)
Trang 2615
Tại Việt Nam năm 2011-2013 virus LMLM chỉ phát hiện được serotype
O, A (Donald King, 2013) Từ năm 2013 đến 2017 virus LMLM chia làm 7 vùng (pool) tùy thuộc vào đặc điểm của virus Virus LMLM có 07 Serotype: O, A, Asia 1, SAT 1, SAT 2 và SAT 3
Virus LMLM lưu hành tại vùng 1, 2 và vùng 3, cả ba vùng đều có 03 Serotype virus LMLM lưu hành là O, A và Asia 1 Vùng 4 là Serotype O, A, SAT 1, SAT 2 và SAT 3 Vùng 5 là Serotype O, A, SAT 1 và SAT 2 Vùng 6 là Serotype O, A, SAT 1, SAT 2 và SAT3 Vùng 7 là Serotype O và A (Daniel Gizaw, 2018)
Hình 2.1 Lưu hành của virus LMLM trên thế giới từ 2013-2017
Nguồn: Daniel Gizaw (2018)
Trang 27Năm 1997 dịch sảy ra tại tỉnh Luongphabang, Chăm Pa Sắc và Sa Văn
Na Khêt với tổng số 1204 dê của 58 thôn thuộc13 huyện Kết quả từ các mẫu thu thập cho thấy serotype O chiếm 16,4% ở Luongphabang và 23,4% ở tỉnh Chăm Pa Sắc Sero-type A và Asia1 có tỷ lệ thấp hơn Tổng số 26 mẫu kiểm tra từ tháng 12/1997 đến tháng 12 năm 1998 có 10 mẫu thuộc type O; 3 mẫu type Asia I và 13 mẫu là âm tính Năm 1998, dịch LMLM do type Asia1 đã sảy ra tại huyện Vangvieng tỉnh Viêng Chăn Tháng 9 năm 1998, một vụ dịch LMLM lớn hơn ở huyện Sa Ma Khy Xay tỉnh Ắt Tạ Pư sau đó lan sang bốn huyện khác của tỉnh và huyện Pac Song của tỉnh Chăm Pa Sác Số lượng động vật mắc bệnh trong vụ dịch Ắt Tạ Pư và Chăm Pa Sác được ước tính khoảng 5.810 con trong tổng số 27.600 con vật (chiếm 21% tổng đàn) Các mẫu được thu thập và gửi đến Phòng thí nghiệm LMLM Pừbright, Vương
quốc Anh (Vongthilath et al.,1998).Năm 2003 ở một số tỉnh của Lào bệnh
phát ra nhiều tại các tỉnh giáp biên giới nhưng Không có thông tin chi tiết
Năm 2008 bệnh LMLM xảy ra ở tỉnh Ắt Tạ Pư làm 285 con gia súc mắc bệnh (Attapeu veterinary office, 2008) Tháng 2 năm 2008 bệnh LMLM xảy ra ở huyện Thu La Khôm, tỉnh Viêng Chăn làm 540 con dê mắc bệnh, 23 con bị chết (Manichanh, 2008)
Năm 2010 dịch LMLM xảy ra tại huyện Viêng Xay, tỉnh Hua Phăn làm
310 con gia súc mắc bệnh trong đó có 2 con trâu, 15 con dê bị chết (Houaphanh veterinary office, 2010)
Năm 2011 dịch LMLM xảy ra tại tỉnh Phông Sa Ly có 5 huyện như: huyện May, huyện Bun Tay, huyện Khóa, huyện Phông Sa Ly và huyện Nhọt
U làm gia súc mắc bệnh có 2.919 con trâu, 1.298 con bò, 3.457 con lợn và 1.213 con dê Trong đó có gia súc bị chết 616 con trâu, 199 con bò, 915 con
Trang 2817
lợn và 192 con dê (chi cục Thú y tỉnh Phông Sa Ly, 2011) Năm 2016 dịch LMLM xảy ra tại huyện Bun Nưa, huyện May và huyện Săm Phăn làm 653 con dê mắc bệnh, 110 con dê bị chết (chi cục Thú y tỉnh Phông Sa Ly, 2016) Năm 2018 dịch LMLM xảy ra tại tỉnh Phông Sa Ly làm 1.253 con dê mắc bệnh, 357 con dê bị chết (chi cục Thú y tỉnh Phông Sa Ly, 2018) Năm 2019 dịch LMLM xảy ra tại làm 1.020 con dê mắc bệnh, 242 con dê bị chết (chi cục Thú y tỉnh Phông Sa Ly, 2019)
Từ năm 2012-2014 bệnh LMLM đã xảy ra ở một số tỉnh nhưng không có thông tin chi tiết Tháng 4 năm 2015 bệnh xảy ra ở huyện Xăng Thong và huyện Pác Ngưm, Thủ đô Viêng Chăn làm 3.108 con dê mắc bệnh (Department of Livestock, 2015) Năm 2016 dịch LMLM xảy ra tại tỉnh Chăm Pa Sắc làm 200 con dê mắc bệnh 40 con bị chết (Champasack veterinary office, 2016)
Năm 2017 dịch phát ra mạnh tại các tỉnh miền bắc
- Tỉnh Hua Phăn: Dịch xảy ra tại huyện Mương Ét, huyện Xăm Tay, huyện Xiêng Kho và huyện Xăm Nưa làm 10.413 con dê mắc bệnh, 119 con
dê bị chết (chi cục Thú y tỉnh Hua Phăn, 2017) Cuối năm 2017 tại huyện Viêng Xay, bệnh LMLM xảy ra làm 3.600 gia súc mắc bệnh, 729 con dê bị chết do virus serotype O (Ngutvilai, 2017)
- Tỉnh Luong Năm Tha: Dịch xảy ra tại huyện Nalae, Sing, Long, Vieng
Phu Kha làm 2.250 gia súc mắc bệnh với 215 con bị chết và dịch xảy ra ở trên
cả trâu, bò, lợn và dê (Chi cục Thú y tỉnh Luong Năm Tha, 2017)
- Tỉnh Luongphabang: Bệnh LMLM phát ra tại các huyện làm 1.917 con
dê mắc bệnh do virus serotype O (Luongphabang veterinary office, 2017)
- Tỉnh Xay Nhạ Bu Ly: Huyện Khóp, huyện Bo Ten Bệnh LMLM phát ra tại các huyện giáp biên giới Thái Lan nhưng Không có thông tin chi tiết (Department of Livestock, 2017)
Trang 2918
Hình 2.2 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1997
Hình 2.3 Bản đồ giám sát sự lưu hành của bệnh LMLM tại Lào năm 1998
Trang 302.3.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ
Có 3 con giá trị so sánh xác suất tùy theo phương pháp nghiên cứu dịch tễ
Đó là tỷ số chênh lệch OR (Odd Ratio), tỷ số tỷ lệ nhiễm PR (Prevalence Ratio)
và nguy cơ tương quan RR (Relative Risk)
2.3.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu
Nghiên cứu (điều tra) hồi cứu là điều tra ngược thời gian để tìm ra yếu tố nguy cơ đã làm cho bệnh xảy ra Một cách làm nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu bệnh chứng (case control-study) Người ta chọn một số gia súc có bệnh gọi là nhóm bệnh và một số gia súc không bệnh gọi là nhóm đối chứng và so sánh xem giữa 2 nhóm này có những điểm gì khác biệt Nhưng sự khác biệt này chủ yếu là
do các yếu tố tác động đến gia súc ở 2 nhóm Các cá thể chịu tác động của các yếu tố nói trên được coi là nhóm phơi nhiễm
Phân tích hồi quy logic đa tầng, nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo, 2003) Tỷ số chênh OR > 1 cho thấy gia súc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ có khả năng dương tính huyết thanh học với virus LMLM tăng lên Ngược lại, nếu
OR < 1 cho thấy nguy cơ gia súc dương tính huyết thanh học với virus LMLM giảm đi OR =1 cho thấy không có ảnh hưởng của yếu tố nguy cơ lên xác suất gia súc cho kết quả dương tính huyết thanh học với virus LMLM
Trang 3120
PHẦN 3 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Địa điểm: Huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly, CHDCND Lào
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Thời gian: Tháng 1/2019 đến tháng 9/2019
3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Đàn dê nuôi tại tỉnh Phông Sa Ly
- Các hộ gia đình nuôi dê tại huyện Bun Nưa
- Vật liệu nghiên cứu: Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra các hộ chăn nuôi; kết hợp phỏng vấn cán bộ thú y để thu thập thêm thông tin
Thu thập thông tin: Qua phiếu điều tra và phỏng vấn cán bộ Thú y và người chăn nuôi (140 phiếu)
Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm:
Tình hình chăn nuôi dê: Nguồn giống, nguồn cung cấp thức ăn, phương thức chăn nuôi
Tình hình vệ sinh: Chất lượng chuồng trại, vệ sinh chuồng trại, nguồn cung cấp nước, xử lý chất thải
Điều kiện tự nhiên khí hậu: Thời tiết hay xảy ra dịch, xử lý khi có dịch, khử trùng tiêu độc chuồng trại khi có dịch, tổng số dê khi có dịch, số lượng dê bị tiêu hủy Trong chăn nuôi dê: Điều tra 140 phiếu tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa
Ly năm 2019
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Thực trạng chăn nuôi tại huyện Bun Nưa
+ Chăn nuôi của huyện Bun Nưa trong mối hực trạng chăn nuôi tỉnh Phôn Tổng số đàn gia súc, gia cầm của huyện Bun Nưa từ năm 2016-2019
+ Thực trạng đàn dê tại huyện năm 2016-2019 Tổng đàn, quy mô nuôi dê + Các vấn đề điều tra: Nguồn giống, nguồn cung cấp thức ăn, phương thức chăn nuôi, tình hình vệ sinh: Chất lượng chuồng trại, vệ sinh chuồng trại, nguồn cung cấp nước, xử lý chất thải
Trang 3221
Điều kiện tự nhiên khí hậu: Thời tiết hay xảy ra dịch, xử lý khi có dịch, khử trùng tiêu độc chuồng trại khi có dịch, tổng số dê khi có dịch, số lượng
dê bị tiêu hủy
- Tình hình dịch LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019
Xác định một số yếu tố nguy cơ của bệnh LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1 Đánh giá thực trạng chăn nuôi dê và tình hình dịch LMLM ở dê trên địa bàn huyện Bun Nưa tỉnh Phông Sa Ly năm 2016 - 2019
- Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi dê
và tình hình dịch bệnh LMLM ở dê được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ của Cục thống kê, Chi cục thú y, Trạm thú y (số liệu thứ cấp) về các chỉ tiêu:
+ Tổng số dê (con)
+ Số dê mắc bệnh LMLM (con)
+ Số dê bị tiêu hủy (con)
- Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra các hộ chăn nuôi; Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin
3.5.2 Xác định một số yếu tố nguy cơ của dịch LMLM trên đàn dê tại huyện Bun Nưa, tỉnh Phông Sa Ly năm 2019
Điều tra thu thập các dữ liệu, số liệu qua các phiếu điều tra trực tiếp dựa trên các yếu tố đánh giá, phỏng vấn sâu cán bộ kỹ thuật và người chăn nuôi về các thông tin bao gồm:
- Đường giao thông chính
- Gần chợ buôn bán giết mổ động vật và sản phẩm động vật
- Không tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
- Nguồn gốc con giống không rõ ràng
- Không sử dụng thuốc sát trùng để vệ sinh tiêu độc định kỳ
- Bán chạy dê
- Xử lý chất thải xả thẳng ra ngoài môi trường
- Sử dụng nước ao, hồ đề chăn nuôi
Xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 các dữ liệu để biết được số
Trang 3322
hộ chăn nuôi dê mắc bệnh và không mắc bệnh LMLM
Sử dụng phần mềm Epicalc 2000 để xác định yếu tố nguy cơ có liên quan hay không liên quan đến việc phát sinh và lây lan dịch bệnh LMLM theo
phương pháp nghiên cứu bệnh – chứng hay hồi cứu (case-control studies):
Có mắc Không mắc
OR > 1: Yếu tố nguy cơ có liên quan đến bệnh (nguy cơ tăng)
OR = 1: Không có ảnh hưởng, khác nhau giữa hai nhóm
OR < 1: Nguy cơ giảm (khi đối tượng nghiên cứu được bảo vệ)
+ Giả thuyết:
Ho: Không có mối liên hệ giữa yếu tố nguy cơ với việc phát sinh và lây lan bệnh LMLM
H1: Đối thuyết của Ho
Tính khi bình phương (Chi-square) theo công thức:
(T/ad - bc / - (T/2)) 2 (Chi-squarè) =
Trang 3423
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 THỰC TRẠNG CHĂN NUÔI TẠI HUYỆN BUN NƯA
4.1.1 Thực trạng chăn nuôi tại tỉnh Phông Sa Ly
Phông Sa Ly là một tỉnh nắm ở miền Bắc - Lào, tỉnh Phông Sa Ly ở phía bắc tiếp giáp với Trung Quốc ở phía nam, tỉnh Luang Phạ Bang về phía đông, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và phía tây, tỉnh Ou Đôm Say Tỉnh Phông Sa Ly có 7 huyện như là Phông Sa Ly, Bun Nưa, Bun Tay, Nhọt U, Săm Phăn, May và Khóa, có 529 lạng, có 36.530 gia đình, dân số 176.802 người trong
đó nữ 87.258 người; gồm 15 bộ tộc Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh là: 16,270
km2, địa hình phong phú có cao nguyên và núi đến 99 %
Tỉnh có lợi thế về phát triển nông nghiệp, có vị trí địa lý thuận lợi là gần các thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm từ nông nghiệp, gần các trung tâm công nghiệp các thành phố lớn như Yun Nan (Trung Quốc), Ou Dom Xay, Luang Năm Tha; Gần các cửa khẩu quốc tế Tay Trang tỉnh Điện Biên (Việt Nam), các điều kiện tốt để phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu (cổng thông tin điện
tử tỉnh Phông Sa Ly)
Trang 3524
Hình 4.1 Bản đồ hành chính nước Lào
Trang 3625
Hình 4.2 Bản đồ hành chính tỉnh Phông Sa Ly