1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

khảo sát tỷ lệ sa sút trí tuệ và các yếu tố liên quan theo thang điểm mmse ở người bệnh cao tuổi tại phòng khám lão khoa bệnh viện đại học y dược thành phố hồ chí minh

114 58 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIẾNG ANHADL Activities of Daily Living Hoạt động sống cơ bản hàng ngày Hội tâm lý học Hoa Kỳ Chỉ số khối cơ thểCHSA Canadian Study of Health and Aging Nghiên cứu về Sức khỏe và Lão hóa

Trang 2

BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CHUYÊN NGÀNH: NỘI KHOA (LÃO KHOA)

MÃ SỐ: 8720107

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y HỌC

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS THÂN HÀ NGỌC THỂ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN



Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp là công trình nghiên cứu của cá nhântôi Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa được ai công bốtrong bất kỳ công trình nào khác

TP Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 11 năm 2020

Tác giả

Trịnh Thị Bích Hà

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ Danh mục các hình- sơ đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Tổng quan về người cao tuổi 4

1.1.1 Định nghĩa người cao tuổi 4

1.1.2 Quá trình già hóa dân số 5

1.2 Sa sút trí tuệ……… ……… 6

1.2.1 Khái niệm SSTT 6

1.2.2 Lão hóa não và SSTT 6

1.2.3 Chẩn đoán sớm SSTT 7

1.2.4 Các yếu tố nguy cơ của SSTT 8

1.2.5 Đánh giá thần kinh tâm lý ở người bệnh SSTT 11

1.2.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT 12

1.2.7 Các giai đoạn của SSTT 14

1.2.8 Các bệnh đi kèm ở người bệnh SSTT 15

1.2.9 Các nghiên cứu xác định tỷ lệ SSTT 16

Trang 5

1.3.1 Định nghĩa hoạt động chức năng 21

1.3.2 Thang điểm đánh giá về hoạt động chức năng hàng ngày 21

1.3.3 Mối liên quan giữa SSTT và hạn chế HĐCN 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25

2.1 Đối tượng nghiên cứu 25

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.3 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu 28

2.5 Phân loại và định nghĩa biến số 30

2.6 Y đức của nghiên cứu 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36

3.1 Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 36

3.1.1 Tuổi 36

3.1.2 Giới 37

3.1.3 BMI 37

3.1.4 Hoàn cảnh xã hội ………38

3.1.5 Hội chứng lão hóa 40

3.2 Tỷ lệ SSTT và suy giảm nhận thức nhẹ ở người cao tuổi 43

3.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với SSTT 44

3.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân trắc với SSTT 44

3.3.2 Mối liên quan giữa hoàn cảnh xã hội với SSTT 46

3.3.3 Mối liên quan giữa các hội chứng lão hóa với SSTT 48

3.3.4 Mối liên quan giữa các bệnh đi kèm với SSTT 52

3.3.5 Mối liên quan giữa tình trạng sử dụng đa thuốc với SSTT 54

3.3.6 Các yếu tố liên quan SSTT bằng mô hình hồi quy đa biến 55

Chương 4 BÀN LUẬN 58

4.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu 58

4.2 Đặc điểm SSTT 60

4.2.1 Tỷ lệ SSTT 60

Trang 6

4.2.2 Tỷ lệ mắc suy giảm nhận thức nhẹ 62

4.2.3 Các giai đoạn SSTT 63

4.3 Mối liên quan giữa một số yếu tố với SSTT 64

4.3.1 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân trắc với SSTT 64

4.3.2 Mối liên quan giữa hoàn cảnh xã hội với SSTT 65

4.3.3 Mối liên quan giữa các hội chứng lão hóa với SSTT 67

KẾT LUẬN 77

KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Bảng thu thập số liệu Phụ lục 2: Đánh giá hoạt động sống cơ bản hàng ngày ADL Phụ lục 3: Đánh giá hoạt động sinh hoạt hàng ngày IADL Phụ lục 4: Một số tiêu chuẩn chẩn đoán

DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU

QUYẾT ĐỊNH CHẤP THUẬN (CHO PHÉP) CỦA HỘI ĐỒNG ĐẠO ĐỨC TRONG NGHIÊN CỨU Y SINH HỌC CỦA ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG

BẢN NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI PHẢN BIỆN 1

BẢN NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI PHẢN BIỆN 2

GIẤY XÁC NHẬN ĐÃ BỔ SUNG, SỬA CHỮA LUẬN VĂN THEO Ý KIẾN HỘI ĐỒNG

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TIẾNG VIỆT

BTTMCB Bệnh tim thiếu máu cục bộ

SGNT Suy giảm nhận thứcSSTT Sa sút trí tuệ

Trang 8

TIẾNG ANH

ADL Activities of Daily Living

Hoạt động sống cơ bản hàng ngày

Hội tâm lý học Hoa Kỳ

Chỉ số khối cơ thểCHSA Canadian Study of Health and Aging

Nghiên cứu về Sức khỏe và Lão hóa của Canada

DSM The Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders

Hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thầnGDS Geriatric Depression Scale

Thang điểm trầm cảm người cao tuổi

GPCog General Practitioner Assessment of Cognitive

Trắc nghiệm đánh giá nhận thức giành cho bác sĩ đa khoaHIV Human Immunodeficiency Virus

Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phảiIADL Instrumental Activities of Daily Living

Hoạt động sinh hoạt hàng ngàyICD International Classification of Diseases

Phân loại bệnh tật quốc tếMCI Mild cognitive impairment

Suy giảm nhận thức nhẹ

MIS Memory Impairment Screen

Trang 9

MMSE Mini-Mental State Exam

Trắc nghiệm đánh giá tâm thần tối thiểuNPI Neuropsychiatric inventory

Trắc nghiệm đánh giá triệu chứng tâm thần kinhWHO World Health Organization

Tổ chức Y tế thế giới

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Phân loại MCI các giai đoạn của SSTT 29

Bảng 3.1 Đặc điểm về tuổi của mẫu nghiên cứu 36

Bảng 3.2 Đặc điểm về nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu 36

Bảng 3.3 Một số đặc điểm về hoàn cảnh xã hội 38

Bảng 3.4 Một số đặc điểm về đánh giá suy yếu, lão khoa 40

Bảng 3.5 Các bệnh lý đi kèm thường gặp và tình trạng đa bệnh, đa thuốc 41

Bảng 3.6 Tỷ lệ SSTT và MCI ở người bệnh cao tuổi 43

Bảng 3.7 Tỷ lệ các giai đoạn SSTT theo nhóm tuổi 44

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tuổi với SSTT và MCI 44

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, giới tính với SSTT 45

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa hoàn cảnh xã hội với SSTT 46

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa té ngã, suy yếu với SSTT 48

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa hạn chế ADL với SSTT 49

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa hạn chế ADL theo giai đoạn SSTT 50

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa loại hoạt động ADL bị hạn chế với SSTT 50

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa các bệnh đi kèm với SSTT 52

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa tình trạng đa thuốc với SSTT 54

Bảng 3.17 Các yếu tố liên quan SSTT bằng mô hình hồi quy đa biến 55

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1 Phân bố giới tính của dân số nghiên cứu 37Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ % BMI theo nhóm 37

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Già hóa dân số là hiện tượng mang tính chất toàn cầu, số lượng người từ

60 tuổi trở lên hiện nay trên thế giới là khoảng 600 triệu người và sẽ tăng gấpđôi vào năm 2025, trong đó gần ba phần tư số này thuộc về các nước đang pháttriển [116] Việt Nam cũng không ngoại lệ, nước ta đã chính thức bước vào giaiđoạn già hóa dân số với tỷ lệ người từ 60 tuổi trở lên là 10,1% và người từ 65tuổi trở lên là 7,2% [19] Chúng ta đang phải đối mặt với sự gia tăng các bệnhmạn tính - một nhóm bệnh đặc trưng của tuổi già, điển hình là tình trạng sa súttrí tuệ, với tỷ lệ mắc SSTT tăng gấp đôi mỗi 5 năm sau 60 tuổi [95]

Sa sút trí tuệ (SSTT) là hội chứng rất thường gặp ở NCT, là một trongnhững nguyên nhân gây tàn phế, tăng tần suất nhập viện và ảnh hưởng rất nhiềuđến chất lượng sống ở NCT [62] Khoảng 6-10% người trên 60 tuổi mắc SSTT

Tỷ lệ mắc mới SSTT tăng nhanh, từ 0,2 - 0,5% ở tuổi 60, tăng lên 4-11% ở tuổi

85 Theo WHO, năm 2015 số người SSTT trên thế giới là 47,5 triệu người, dựbáo đến năm 2030, con số này tăng lên 75,63 triệu người, đến năm 2050 con sốnày sẽ tăng gấp ba lần khoảng 135,5 triệu, trong đó 71% là ở các nước có thunhập thấp và trung bình [118]

Trên thế giới, có rất nhiều nghiên cứu xác định tỷ lệ hiện mắc SSTT vàcác vấn đề liên quan Nghiên cứu của Prine năm 2010 cho thấy tần suất SSTT

do mọi nguyên nhân ở người từ 60 tuổi trở lên là từ 5% đến 7%, cao nhất ởvùng châu Mĩ La Tinh chiếm tới 8,5% Nghiên cứu này cũng ước tính rằng, sốlượng người mắc SSTT sẽ tăng gấp đôi mỗi 20 năm, từ 35,6 triệu người trongnăm 2010 đến 65,7 triệu người trong năm 2030 và lên tới 115,4 triệu người vàonăm 2050 Trong đó, 58% người SSTT sống ở các nước có thu nhập thấp hoặcthu nhập trung bình [95] Tại bệnh viện, tỷ lệ này cao hơn rất nhiều, vì người

Trang 14

bệnh mắc SSTT thường có xu hướng nhập viện nhiều lần hơn, nguy cơ nhậpviện ở người bệnh mắc SSTT cao gấp 1,4- 3,6 lần so với những người bệnhkhông bị SSTT [75] Nghiên cứu của tác giả Mukadam năm 2011, tổng hợp cácnghiên cứu về SSTT tại bệnh viện tại nhiều khoa phòng khác nhau như khoaCấp Cứu, khoa Nội, khoa Ngoại, khoa Lão… cho thấy tỷ lệ SSTT là từ 19 đến63%, trong đó, tác giả nhận định tỷ lệ này ở khoa Lão và các đơn vị Lão Khoachiếm tỷ lệ cao nhất [80] Tại Việt Nam, các nghiên cứu về SSTT trên NCT đaphần được thực hiện tại cộng đồng trong phạm vi quận, thành phố như tại ThànhPhố Hồ Chí Minh là 4,8% [20], thành phố Huế là 9,4% [46], 2 quận tại Hà Nội

là 4,2% [4] Các nghiên cứu thực hiện tại bệnh viện thường được thực hiện trênđối tượng người bệnh sau đột quỵ, tại khoa Nội Thần Kinh hoặc tại khoa NộiTiết trên đối tượng NCT mắc đái tháo đường, và có ít nghiên cứu tiến hành tạiPhòng khám Lão khoa, nơi tập trung rất nhiều người bệnh cao tuổi [4],[20][15], [18], [20] Do đó, rất cần thiết tiến hành các nghiên cứu xác định tỷ lệ hiệnmắc SSTT ở đối tượng NCT đến khám tại Phòng khám Lão khoa, nhằm nângcao nhận thức về bệnh lý này ở bác sĩ Lão khoa, giúp phát hiện sớm và điều trịSSTT hiệu quả hơn

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm tìm ra tỷ lệ sa sút trítuệ và suy giảm nhận thức nhẹ ở Phòng khám Lão khoa BV Đại học Y DượcTPHCM, từ đó nâng cao nhận thức về bệnh lý này ở các bác sĩ Lão khoa vàphát hiện sớm bệnh lý này ở người bệnh cao tuổi để có chiến lược can thiệphiệu quả, cải thiện chất lượng sống, cũng như giảm hậu quả nặng nề của bệnhSSTT cho NCT, gia đình và xã hội

Trang 15

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

Xác định tỷ lệ SSTT và các yếu tố liên quan theo thang điểm MMSE ởngười bệnh cao tuổi tại Phòng khám Lão khoa Bệnh viện Đại học Y DượcThành phố Hồ Chí Minh

MỤC TIÊU CỤ THỂ

1 Xác định tỷ lệ SSTT theo thang điểm MMSE ở người bệnh cao tuổitại Phòng khám Lão khoa Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố HồChí Minh

2 Xác định mối liên quan giữa một số yếu tố với SSTT: tuổi, giới, trình

độ học vấn, bệnh đi kèm, vấn đề sử dụng thuốc ở người bệnh cao tuổitại Phòng khám Lão khoa Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố HồChí Minh

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Tổng quan về Người cao tuổi

1.1.1 Định nghĩa người cao tuổi

Định nghĩa người cao tuổi (NCT) có sự khác nhau tùy theo giai đoạn pháttriển của lịch sử xã hội cũng như của các nền văn hoá khác nhau Các nhà quản

lý xã hội hiện nay dựa vào định nghĩa NCT để quy định tuổi hưu và như vậytuỳ theo chính sách xã hội mà có những định nghĩa khác nhau về NCT

Năm 1980, Liên hợp quốc lấy tuổi 60 làm mốc qui ước để phân định mộtlứa tuổi cần quan tâm về mặt sức khỏe, tổ chức xã hội, phòng bệnh và chữabệnh: những người từ 60 tuổi trở lên là NCT [17]

Tại Việt Nam, Điều 2 của Luật NCT do Quốc Hội thông qua ngày 23 tháng

11 năm 2009 đã nêu rõ: “NCT được quy định trong luật này là công dân nướcViệt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên” Luật NCT đã quy định trách nhiệm của các cơquan tổ chức, gia đình và các cá nhân trong chăm sóc, bảo vệ quyền lợi và lợiích hợp pháp của NCT [17]

Trong y học lão khoa, cần phân ra [11]:

• 60 - 69 tuổi: sơ lão

• 70 – 79 tuổi: trung lão

• ≥ 80 tuổi: đại lão

Sự già hoá dân số, theo định nghĩa của các nhà nhân khẩu học, xảy ra khidân số từ 60 tuổi trở lên chạm ngưỡng 10% hoặc dân số từ 65 tuổi chạm ngưỡng

Trang 17

giới (phần lớn do giảm những nguyên nhân gây tử vong) Sự gia tăng NCT kèmgiảm tỷ lệ sinh đã làm gia tăng đáng kể số lượng những người trên 60 tuổi và

sẽ tiếp tục gia tăng trong vòng 50 năm tới [17]

1.1.2 Quá trình già hoá dân số

Hiện nay tỷ lệ NCT trên thế giới ngày càng tăng Số NCT (≥ 60 tuổi) trênthế giới sẽ tăng từ 600 triệu người năm 2000 lên gần 2 tỷ người năm 2025.Thống kê tại Hoa Kỳ cho thấy vào năm 2000 có 35 triệu người (12,4% dân số)

≥ 65 tuổi; con số này sẽ gia tăng tới 71 triệu (19,6%) vào năm 2030 và 82 triệu(20,3%) vào năm 2050 [17], [56] Quá trình già hóa làm tăng nguy cơ bệnh tật

và tàn phế; do đó sẽ tăng gánh nặng cho toàn xã hội Vì vậy công tác chăm sócsức khỏe ban đầu với mục tiêu phát hiện bệnh sớm và ngăn ngừa biến chứngcho NCT là hết sức quan trọng

Tỷ lệ NCT tại Việt Nam, cũng tuân theo xu hướng già hoá dân số trên thếgiới, dần sẽ chiếm một tỷ trọng cao trong toàn bộ dân số Theo Tổng cục thốngkê: dân số Việt Nam đến hết năm 2010 là 87,84 triệu người, NCT là 8,1 triệungười, chiếm tỷ lệ 9,2%, vượt hơn 9 triệu người trong 6 tháng đầu năm 2011.Ước tính đến 2029 tỷ lệ này xấp xỉ 17% [17] Số liệu thực tế cho thấy nước tabước vào giai đoạn già hóa dân số vào năm 2012 (tỷ lệ NCT ≥ 60 tuổi chiếm10,2%) [2], [17]

Tuổi già đi kèm với sự suy giảm chức năng các cơ quan, giảm khả năng

bù trừ Tình trạng tàn phế không ngừng gia tăng ở NCT nhưng chưa được thật

sự quan tâm ở nước ta Các yếu tố nguy cơ như thói quen hằng ngày lúc trẻthậm chí cho đến lúc cao tuổi như: hút thuốc lá, uống nhiều rượu bia, chế độ ănquá nhiều chất béo, ít vận động có tác động rất lớn lên quá trình bệnh tật và tànphế ở NCT

Trang 18

Trong điều trị và chăm sóc NCT, bác sỹ lâm sàng cần phải đánh giá toàndiện gồm: bệnh cấp và mạn tính kèm theo, sự suy giảm chức năng, các vấn đềtâm thần và xã hội cũng tác động lên nhiều mặt về sức khỏe và chất lượng cuộcsống của NCT.

1.2 Sa sút trí tuệ

1.2.1 Khái niệm SSTT

SSTT là một nhóm các rối loạn nhận thức đặc trưng bởi giảm trí nhớ,khó khăn trong việc diễn đạt ngôn ngữ, hoạt động, nhận diện đồ vật và rối loạnchức năng thực hiện, khả năng lập kế hoạch, tổ chức và trừu tượng, tình trạngnày ảnh hưởng đến các hoạt động sống nâng cao hàng ngày [39]

1.2.2 Lão hóa não và SSTT

NCT có thể có một số biểu hiện như giảm chú ý, kém tập trung, khó ghinhớ… Đó là những hậu quả của quá trình lão hóa não và có thể do suy giảmhoạt tính của các chất dẫn truyền thần kinh, nhất là của hệ dopamine Hình dướiđây minh họa sự tiến triển từ lão hóa bình thường đến SSTT:

Nhận thức bình thường

Triệu chứng báo trước SSTT

Lão hoá não

Suy giảm nhận thức Ổn định hoặc

cải thiện

SSTT khác Bệnh Alzheimer SSTT mạch máu Lão hoá não và SSTT

Hình 1.1 Lão hóa não và SSTT

Trang 19

Các biến đổi này không liên quan đến một bệnh lý thần kinh và thườngđược coi là do quá trình lão hóa sinh lý cùng với giảm mật độ xương, giảm độlọc cầu thận… Vấn đề được quan tâm là phải phân biệt các biến đổi sinh lý vớicác biển hiện bệnh lý trước các triệu chứng nghi ngờ có rối loạn chức năngnhận thức ở NCT, nhằm phát hiện sớm SSTT để có hướng xử trí phù hợp kịpthời Sự chuyển biến từ hoạt động nhận thức bình thường sang rối loạn nhậnthức thường diễn ra với tính chất nối tiếp, qua một giai đoạn trung gian với đặcđiểm là suy giảm nhận thức nhẹ (MCI).

1.2.3 Chẩn đoán sớm SSTT

Chẩn đoán kịp thời là chẩn đoán được xác lập khi NB hoặc người thânnhận biết những triệu chứng và đi khám bệnh, hoặc triệu chứng được nhận biếtbởi thầy thuốc Các nghiên cứu cho thấy có một khoảng trống có ý nghĩa từ lúckhởi phát triệu chứng đến lúc được chẩn đoán, đặc biệt là ở SSTT khởi phátsớm Thầy thuốc đa khoa cần cảnh giác với các triệu chứng SGNT ở người ≥

75 tuổi Tầm soát SGNT trong cộng đồng giúp chẩn đoán sớm Tuy nhiên,chương trình tầm soát có thể gây tâm lý lo lắng cho cộng đồng, gia tăng nhucầu cần được chăm sóc y tế sớm hơn Một tổng quan hệ thống không thấy thửnghiệm ngẫu nhiên có đối chứng nào đánh giá lợi ích – bất lợi của tầm soátSGNT trong cộng đồng Do đó, không đủ bằng chứng ủng hộ việc tầm soátSGNT trong cộng đồng Đột quỵ làm tăng nguy cơ SGNT, SGNT sau đột quỵlàm tăng nguy cơ SSTT SGNT mạch máu (vascular cognitive impairment) làSGNT do tất cả các thể của bệnh lý mạch máu não (gồm đột quỵ và không độtquỵ), từ SGNT nhẹ đến SSTT Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh toàn bộ của SGNT mạchmáu ở NB đột quỵ cao hơn so với ở NB có bệnh mạch máu não không đột quỵ

Tỷ lệ này tùy thuộc vào thời điểm đánh giá sau đột quỵ, số lần đột quỵ vàphương pháp đánh giá, từ 61% trong giai đoạn cấp tính đến 21- 66% từ sau batháng đến 14 năm Pendlebury và Rothwell phân tích gộp 73 nghiên cứu cho

Trang 20

thấy tần suất SSTT sau đột quỵ từ 7,4% trong các nghiên cứu ở dân số bị độtquỵ lần đầu và không có SSTT trước đó đến 41,3% trong các nghiên cứu dựavào số liệu bệnh viện ở NB đột quỵ tái phát (có hay không có SSTT trước độtquỵ) [91].

Người cần được đánh giá tầm soát SSTT gồm người

có khiếm khuyết về nhận thức hoặc hành vi tiến triểngợi ý SSTT được ghi nhận bởi người đó, ngườithân/người chăm sóc hoặc thầy thuốc

1.2.4 Các yếu tố nguy cơ của SSTT

Tuổi: Tuổi là một yếu tố nguy cơ được khẳng định trong hầu hết các

nghiên cứu dịch tễ học về sa sút trí tuệ Tuổi càng cao thì khả năng mắc SSTTcàng cao Tỷ lệ mắc SSTT tăng gấp đôi sau mỗi độ 5 năm ở lứa tuổi trên 60 trởlên [62] Điều này có thể phản ánh sự tích lũy của các tổn thương bệnh lý, cáctổn thương nhỏ đối với não như vi chấn thương, các tổn thương tế bào, các phảnứng viêm, các bệnh lý của chất trắng do tắc các mạch máu nhỏ tích lũy dần theothời gian và sẽ bộc lộ bệnh cảnh lâm sàng khi đạt đến một ngưỡng nhất định

Giới: Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ mắc SSTT ở nữ giới cao hơn

nam giới [26],[43] Phụ nữ thường có nguy cơ bị SSTT do bệnh Alzheimer caohơn nam giới, và trong khi nam giới có nguy cơ bị SSTT do nguyên nhân mạch

Trang 21

khác biệt về hóc môn giới tính, hoặc các yếu tố tác động của môi trường kinh

tế xã hội thì cần nhiều nghiên cứu để chứng minh

Về mối liên quan với tiền sử gia đình: do sự khác biệt về gen, gen

APOEε4 có liên quan với nguy cơ phát triển bệnh Một số nghiên cứu tìm ramột số tiền liên quan trên nhiễm sắc thể 1; 14; 21 Con có bố hoặc mẹ manggien đột biến có khoảng 50% nguy cơ mắc SSTT sớm [14]

Các yếu tố tiền sử bệnh tật: Một số nghiên cứu đã tìm ra yếu tố nguy

cơ của SSTT là đái tháo đường, THA, đột quỵ, chấn thương đầu, bệnhParkinson, béo phì [13], [110]

Học vấn: Tỷ lệ mắc SSTT ở những người có trình độ văn hóa thấp lớn

hơn ở những người có trình độ cao Học vấn có thể đóng những vai trò khácnhau trong SSTT và có thể có nhiều vai trò cùng phối hợp, học vấn không chỉ

là một yếu tố chỉ điểm của kích thích nhận thức, mà còn phản ánh chỉ số thôngminh, tình trạng kinh tế xã hội Một cách giải thích nữa là những người có họcvấn thấp sẽ dễ được chẩn đoán lâm sàng là SSTT hơn là những người có họcvấn cao [13], [94]

Hoạt động xã hội, hoạt động giải trí: tham gia tích cực các hoạt động

tư duy, kích thích não bộ làm giảm nguy cơ mắc SSTT [14]

Hoạt động thể lực: Luyện tập đều đặn, ngay cả các hoạt động thể lực có

cường độ thấp như đi bộ cũng phối hợp làm giảm nguy cơ mắc SSTT và suygiảm nhận thức

Các yếu tố thuộc nếp sống: Hút thuốc lá, uống rượu làm tăng nguy cơ

mắc SSTT mạch máu Chế độ dinh dưỡng nhiếu axít béo có thể tác động lên sựphát triển của SSTT và bệnh Alzheimer qua nhiều cơ chế khác nhau như vữa

xơ động mạch và viêm

Trang 22

Tình trạng suy yếu: Các nghiên cứu tại nhiều nước trên dân số khá lớn

đã chứng minh tình trạng suy yếu làm tăng nguy cơ SSTT [31], [63]

Tình trạng đa bệnh: Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa

tình trạng đa bệnh với SSTT, những người cao tuổi có tình trạng đa bệnh thì

có tỷ lệ SSTT cao hơn so với những người cao tuổi không bị đa bệnh [40],[120]

Tình trạng đa thuốc: Nghiên cứu trên thế giới cho thấy có mối liên quan

giữa tình trạng sử dụng đa thuốc với SSTT, những người cao tuổi có sử dụng

đa thuốc thì có tỷ lệ SSTT cao hơn so với những người không sử dụng đa thuốc[79], [67], [89]

Các yếu tố nguy cơ ở mức phân tử: liên quan mật thiết đến sự biến đổi

của protein Tau và các phân đoạn Amyloid

Hình 1.2: Một số yếu tố nguy cơ SSTTNguồn: Alzheimer's society 2016 [23]

Trang 23

1.2.5 Đánh giá thần kinh tâm lý ở người bệnh SSTT

Đánh giá thần kinh tâm lý là một phần quan trọng trong khám suy giảmnhận thức Ngoài việc lượng giá mức độ SSTT và chức năng nhận thức, đánhgiá thần kinh tâm lý còn xác định được rối loạn của từng lĩnh vực khác nhau,

do vậy, giúp cho chẩn đoán phân biệt Đánh giá thần kinh tâm lý bao gồm việc

áp dụng các trắc nghiệm thần kinh nhận thức (neurocognitive tests) chuẩn Các

bộ trắc nghiệm được thiết kế cho từng nhu cầu đánh giá, do vậy, cần cân nhắckhi chọn trắc nghiệm thần kinh tâm lý Thứ nhất, cân nhắc độ nhạy theo mụcđích như xác định xem có suy giảm nhận thức hay đánh giá mức độ suy giảmnhận thức Thứ hai, là tính hiệu quả, nghĩa là thời gian tối thiểu đủ đáp ứng nhucầu đánh giá Thứ ba là tính hợp lý của trắc nghiệm sàng lọc và cuối cùng làgiá trị bình thường chuẩn đáng tin cậy [14]

Các trắc nghiệm thường sử dụng trong sàng lọc SSTT:

Trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần thu nhỏ (Mini Mental StateExamination) của Folstein năm 1975, bao gồm 11 yếu tố đánh giá Khả năngđịnh hướng, trí nhớ ngắn hạn, tự tập trung/ tính toán, chức năng ngôn ngữ, chứcnăng định hình [50]

Trắc nghiệm đánh giá nhận thức Montreal (Montreal CognitiveAssessment) của Nasreddine năm 2005, bao gồm các mục nối điểm, vẽ hìnhkhối, gọi tên, danh sách 5 hình, đọc dãy số, nhắc lại, đọc từ, xác định điểmtương đồng, định hướng [82]

Mini-Cog của Borson năm 2000: bao gồm các mục nhắc lại ba từ, vẽđồng hồ [32]

Thang điểm đánh giá bệnh Alzheimer - phần nhận thức (Alzheimer’sDisease Assessment Scale Cognitive - ADAS-Cog) của Rosen năm 1984, bao

Trang 24

gồm 11 mục đánh giá nhận thức (trí nhớ, định hướng, ngôn ngữ và dùng độngtác) [100].

Trắc nghiệm đánh giá nhận thức giành cho bác sĩ đa khoa GPCog(General Practitioner Assessment of Cognitive) của Brodaty năm 2004, baogồm các mục định hướng thời gian, vẽ đồng hồ, kể lại sự việc mới và nhắc lại

1.2.6 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT

SSTT được chẩn đoán trên lâm sàng dựa trên các tiêu chuẩn của Phân loạibệnh tật quốc tế lần thứ 10 (ICD -10) hoặc DSM – 5

1.2.6.1 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo ICD-10 [117]

A Suy giảm trí nhớ ngắn hạn (gần) và trí nhớ dài hạn (xa)

B Có ít nhất một trong các bất thường sau: Suy giảm tư duy trừu tượng,suy giảm phán đoán, nhận xét, các rối loạn khác của chức năng thần kinh caocấp, biến đổi nhân cách

C Suy giảm quan hệ xã hội và nghề nghiệp do các rối loạn về trí nhớ và

Trang 25

D Không xuất hiện trong bối cảnh đang bị mê sảng.

E Có sự hiện diện của các yếu tố sau đây:

1- Có bằng chứng về bất thường thực thể đã gây ra những suy giảm vềtrí tuệ và suy giảm về chức năng trí tuệ

2- Các suy giảm về trí nhớ và chức năng trí tuệ không là hệ quả của mộtbệnh tâm thần khác

1.2.6.2 Tiêu chuẩn chẩn đoán SSTT theo DSM – 5

Tiêu chuẩn này ra đời năm 2013 bởi Hội Tâm Thần Hoa Kỳ [27] TrongDSM – 5, họ không dùng thuật ngữ SSTT, thay vào đó họ đưa ra thuật ngữ mới

“các rối loạn nhận thức thần kinh” Rối loạn nhận thức thần kinh là tình trạnggiảm nhận thức không xuất hiện khi sinh hoặc trong giai đoạn sớm của cuộcđời và đặc trưng bởi sự giảm chức năng so với thời gian trước đây Người tacho rằng thuật ngữ SSTT mang tính chất đặc trưng của tuổi già, điều này khôngđược chấp nhận ở những cá nhân mắc SSTT khởi phát lúc tuổi trẻ như SSTT

do HIV hay do các nguyên nhân khác Sự thay đổi lớn nhất trong tiêu chuẩnDSM – 5 so với DSM - IV trong chẩn đoán SSTT là tiêu chuẩn suy giảm trínhớ Nếu như trong DSM - IV , thuật ngữ “SSTT” đòi hỏi đầu tiên là phải có

sự hiện diện của tình trạng giảm trí nhớ, trong khi đó, giảm trí nhớ đã đượccông nhận không phải là lĩnh vực đầu tiên bị ảnh hưởng trong các bệnh gây ratình trạng rối loạn chức năng nhận thức Một ví dụ như trong SSTT thuỳ trán -thái dương, chức năng bị ảnh hưởng đầu tiên là ngôn ngữ Do đó, để chẩn đoánSSTT, trước tiên phải xác định có tình trạng rối loạn nhận thức hay không, nếu

có, sẽ tiếp tục đánh giá tình trạng rối loạn nhận thức này là nặng hay nhẹ [104].Rối loạn nhận thức thần kinh điển hình trong DSM – 5 tương ứng với SSTTtrong DSM - IV

Trang 26

Tiêu chuẩn chẩn đoán rối loạn nhận thức thần kinh điển hình:

A Bằng chứng của giảm nhận thức nặng so với trước đây ở một hoặcnhiều yếu tố của nhận thức (sự chú ý phức tạp, chức năng quản lý, họctập và trí nhớ, ngôn ngữ, nhận thức cảm nhận- vận động hoặc nhận thức

xã hội) dựa trên:

1- Sự giảm chức năng nhận thức nặng mà bản thân người bệnh hoặc mộtngười cung cấp thông tin có kiến thức nhận thấy, hoặc bác sĩ phát hiệnvà

2- Một sự giảm nhận thức đáng kể được phát hiện qua các test tâm thầnthần kinh được chuẩn hóa hoặc đánh giá lâm sàng

B Tình trạng giảm nhận thức cản trở sự độc lập của người bệnh trong cáchoạt động hàng ngày (ví dụ cần hỗ trợ ở mức tối thiểu trong các hoạt độnghữu ích hàng ngày như thanh toán tiền hoặc quản lý thuốc men)

C Giảm nhận thức không xảy ra trong bệnh cảnh sảng

D Giảm nhận thức không do các bệnh lý tâm thần khác (ví dụ trầm cảmnặng hoặc tâm thần phân liệt)

1.2.7 Các giai đoạn của SSTT

Cách phân chia giai đoạn thích hợp nhất hiện nay là dựa vào những tiêuchí như mức biểu hiện của rối loạn chức năng các nhận thức, mức ảnh hưởng

tới các hoạt động sống hàng ngày, CDR, và điểm thực hiện MMSE [92].

1.2.7.1 SSTT giai đoạn sớm (20 - 24 điểm MMSE)

Triệu chứng nổi bật nhất là giảm trí nhớ gần hay trí nhớ ngắn hạn Ngườibệnh thường nhắc lại một câu hỏi đã hỏi nhiều lần, hoặc hay đi tìm đồ dùng cánhân vì không nhớ đã để ở đâu Các sinh hoạt thường ngày như lái xe, quản lýnhà cửa, quản lý tiền bạc cũng ngày càng trở nên khó khăn Người bệnh thường

Trang 27

kích động Trong giai đoạn này, người bệnh thường có khả năng bù đắp nhữngthiếu sót về trí nhớ nếu như họ được sinh hoạt trong khung cảnh gia đình đãquen thuộc, tuy nhiên các thiếu sót về nhận thức và hành vi sẽ bộc lộ dễ dàngnếu họ bị rơi vào những tình huống mới.

1.2.7.2 SSTT giai đoạn trung bình (10-19 điểm MMSE)

Là giai đoạn tiếp theo, trong đó người bệnh bắt đầu biểu lộ những khókhăn trong sinh hoạt hàng ngày như tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân.Người bệnh mất khả năng tiếp thu những thông tin mới, không lưu giữ đượccác thông tin, do đó bị rối loạn định hướng nặng về không gian và thời gian.Người bệnh có thể không nhận biết vị trí ngay cả khi ở trong nhà mình Ngườibệnh dễ gặp tai nạn và té ngã Các rối loạn hành vi tiếp tục xuất hiện và trở nênnặng hơn Người bệnh có nhiều hoang tưởng hơn, đặc biệt hoang tưởng bị ámhại do đó càng nghi kỵ người xung quanh Các rối loạn hành vi khác cũng đượcgặp như hung dữ tấn công người khác, kích động không điển hình

1.2.7.3 SSTT giai đoạn nặng (dưới 10 điểm MMSE)

Đây là giai đoạn cuối của diễn biến bệnh, trong đó người bệnh mất toàn

bộ khả năng độc lập trong sinh hoạt thường ngày, hoàn toàn lệ thuộc vào ngườichăm sóc Người bệnh mất trí nhớ gần và xa, không còn nhận biết được ngườithân trong gia đình Do mất khả năng đi lại nên người bệnh nằm liệt giường.Tăng nguy cơ thiếu dinh dưỡng và tăng nguy cơ viêm phổi do nuốt nhầm do bịmất các cử động mang tính phản xạ như nhai và nuốt Các biến chứng của giaiđoạn cuối là suy kiệt, thiếu dinh dưỡng, viêm phổi hít và loét do tỳ đè, trongphạm vi nào đó có thể phòng ngừa được nhờ chế độ chăm sóc thật tốt

1.2.8 Các bệnh lý đi kèm ở người bệnh SSTT

Nghiên cứu được thực hiện đầu tiên báo cáo các trình trạng bệnh đồngmắc trên một cỡ mẫu lớn người bệnh SSTT là nghiên cứu MADD (Medicare

Trang 28

Alzhiemer’s Disease Demonstration) từ năm 1989 đến năm 1994 trên tám khuvực khắp Hoa Kì Dữ liệu thu thập từ 5379 người bệnh SSTT Bệnh đồng mắcđứng hàng đầu là THA chiếm 47%, BTTMCB chiếm 33%, suy tim mạn (28%),bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (27%), thoái hóa khớp (26%), đột quỵ (25%), đáitháo đường (22%), ung thư (20%), và các bệnh lý thận chiếm 12% Qua đó,nhận thấy rằng, rất nhiều bệnh đồng mắc là nguyên nhân gây SSTT (đột quỵ,bệnh tim mạch), là biến chứng của SSTT, và rất ngạc nhiên khi có một tỷ lệ lớnbệnh COPD, một bệnh dường như rất ít liên quan đến SSTT [83].

Theo báo cáo về SSTT tại Australia [21] cho thấy 20 bệnh thường gặpnhất ở SSTT, hàng đầu là nhóm bệnh khớp chiếm 39,6%, tiếp theo là THA,điếc, trầm cảm, đột quỵ, đái tháo đường, loãng xương, đau lưng, thoái hóa khớp,tiếp theo là các bệnh lý tâm thần kinh như rối loạn tâm thần, rối loạn lo âu(8,5%) và bệnh lý tuyến giáp

1.2.9 Các nghiên cứu xác định tỷ lệ SSTT

1.2.9.1 Trên thế giới

Theo kết quả của Nghiên cứu Delphi [49], trên toàn thế giới có khoảng24,3 triệu người mắc SSTT, mỗi năm có thêm 4,6 triệu trường hợp mắc mới.Theo dự báo, cứ hai mươi năm, số người mắc SSTT sẽ tăng lên gấp đôi và nhưvậy đến năm 2040 ước sẽ có 81,1 triệu người mắc SSTT Hầu hết số người nàysống ở các nước đang phát triển (khoảng 60% năm 2001 và sẽ tăng lên 71%vào năm 2040) Tốc độ tăng không giống nhau, trong khi ở châu Âu trongkhoảng thời gian 2001 – 2040 chỉ tăng 100%, thì một số vùng, ví dụ như Ấn

Độ sẽ tăng trên 300% Tỷ lệ SSTT tăng dần theo thời gian [22], cũng theonghiên cứu Delphi, năm 2001 có tới 24,3 triệu người mắc SSTT và mỗi nămlại có thêm 4,6 triệu trường hợp mới, tương đương là cứ 7 giây lại có thêm một

Trang 29

ca mới Như vậy cứ hai mươi năm số người bệnh lại tăng gấp đôi và tới năm

2040 sẽ có thể là 81,1 triệu [49]

Còn theo Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2015 có 46,8 triệu người SSTT, ướctính con số này sẽ nhân đôi mỗi hai mươi năm, là 74,7 triệu trong năm 2030 và131,5 triệu trong năm 2050 Xuất độ SSTT tăng gấp đôi mỗi 6,3 năm tuổi tăng,

ở nhóm 60 – 64 tuổi xuất độ là 3,9/1000 người.năm và ở nhóm từ 90 tuổi trởlên là 104,8/1000 người.năm Tính trung bình mỗi năm sẽ có 9,9 triệu ca mới,tương đương cứ 3,2 giây sẽ có một ca mới [58] Điều này cho thấy chỉ số ướctính đang ngày càng tăng cao, con số thực tế sẽ có thể vượt quá con số mà taước tính trước

Những nghiên cứu tiến hành cách đây hơn hai mươi năm ghi nhận tỷ lệSSTT tại bệnh viện rất thấp Nghiên cứu của Lyketsos và cộng sự trên 21.251người bệnh từ 60 tuổi trở lên nhập viện Johns Hopkins, Hoa Kì, trong thời gian

từ 1996 đến 1997, tác giả ghi nhập chẩn đoán SSTT trong hồ sơ xuất viện, chothấy tỷ lệ SSTT là 3,9%, và tỷ lệ này tăng dần theo tuổi, từ 60-64 tuổi, tỷ lệ là2,6%, trên 85 tuổi, tỷ lệ là 8,9% [72] Thống kê của Park và cộng sự từ dữ liệucác bệnh viện cộng đồng tại Hoa Kì từ năm 1996-1998, cho thấy tỷ lệ SSTT ởngười trên 60 tuổi là 7,6% [90]

Các nghiên cứu tiến hành trong bệnh viện tại nhiều khoa khác nhau Nghiêncứu của Sampson và cộng sự thực hiện ở 617 người bệnh trên 70 tuổi nhập việntại khoa Cấp Cứu, trung tâm dịch vụ chăm sóc sức khoẻ quốc gia, London, AnhQuốc, từ tháng 4/2007 đến tháng 12/2007, dùng công cụ MMSE sàng lọc suygiảm nhận thức Chẩn đoán SSTT theo tiêu chuẩn DSM–IV, cho thấy một tỷ lệrất cao là 42,4% người bệnh mắc SSTT (trong đó chỉ có ½ người bệnh đượcchẩn đoán từ trước), tỷ lệ này tăng dần theo tuổi và có sự khác nhau giữa 2 giới,

ở nam giới từ 70-79 tuổi, tỷ lệ là 16,4%, tăng lên đến 48,8% ở người trên 90

Trang 30

tuổi Ở nữ giới, từ 70-79 tuổi, tỷ lệ SSTT là 29,6%, tăng đến 75% ở người trên

90 tuổi [103]

Nghiên cứu của Wancata và cộng sự tại Áo gồm 372 người bệnh từ 65 tuổitrở lên, nhập viện vào khoa Nội, chẩn đoán SSTT theo tiêu chuẩn DSM-III, xácđịnh được tỷ lệ này là 27,4%, trong số đó, có 27,8% người bệnh không có triệuchứng rõ ràng [115] Ở châu Á, nghiên cứu năm 2008 tại Thái Lan của tác giảPanita ở 120 người bệnh từ 60 tuổi trở lên tại khoa Lão, đánh giá các hội chứnglão hoá, trong đó cho thấy tỷ lệ SSTT là 17,2% [88]

Các nghiên cứu tiến hành tại khoa Lão, hay đơn vị chăm sóc Lão khoa cho

tỷ lệ SSTT cao hơn Zekry và cộng sự thực hiện nghiên cứu tiến cứu trên 349người bệnh nhập bệnh viện Lão khoa và phục hồi chức năng, Thụy Sĩ, từ tháng

1 đến tháng 12 năm 2004, sau đó theo dõi thêm 3 năm sau xuất viện Mục đíchcủa nghiên cứu là đánh giá tình trạng nhận thức, dinh dưỡng và bệnh đồng mắc

ở người bệnh cao tuổi Đối tượng nhận vào là các người bệnh từ 75 tuổi trở lên,(tuổi trung bình là 85,2 tuổi), trong đó, 76% là nữ Nghiên cứu loại trừ cácngười bệnh rối loạn tâm thần, trong đó có trầm cảm và bệnh nội khoa nặng, giaiđoạn cuối Tầm soát nhận thức bằng thang MMSE và bảng câu hỏi đánh giánhận thức ngắn gọn Đánh giá SSTT theo tiêu chuẩn DSM - IV, chia giai đoạnSSTT theo CDR Kết quả cho thấy có tới 43,3 % là SSTT, trong đó, SSTT nhẹchiếm 50,3%, giai đoạn trung bình là 38,4% và giai đoạn SSTT nặng chiếm11,3% [119]

Nghiên cứu của Marengoni tiến hành tại đơn vị chăm sóc Lão khoa tại Ý,

từ năm 1998 đến năm 2000, đánh giá các tình trạng suy giảm nhận thức và hạnchế chức năng ở 830 người bệnh từ 65 tuổi trở lên Trong đó, để tầm soát nhậnthức, tác giả dùng thang MMSE để sàng lọc và chẩn đoán SSTT theo tiêu chuẩn

Trang 31

DSM - IV Báo cáo tỷ lệ SSTT là 38,9%, trong đó có 19,5% người bệnh đãđược chẩn đoán SSTT trước đó [74].

Nghiên cứu của tác giả Laurian tại hai bệnh viện Lão Khoa, Phần Lan trên

219 người bệnh từ 70 tuổi trở lên, không nhận vào các người bệnh sau phẫuthuật và bệnh lý nội khoa nặng, hôn mê Mục đích của nghiên cứu là đánh giáchẩn đoán sảng và SSTT tại khoa Lão, so sánh kết quả tỷ lệ SSTT của nghiêncứu viên với kết quả chẩn đoán của bác sĩ điều trị tại khoa Nghiên cứu cắtngang mô tả tiến hành từ tháng 11/1999 đến tháng 4/2000, chẩn đoán SSTTtheo tiêu chuẩn DSM - IV, ghi nhận tỷ lệ SSTT là 40,2%, trong đó có 79,5%người bệnh được bác sĩ lâm sàng chú ý đến có rối loạn chức năng nhận thức và53% người bệnh được thực hiện các bài kiểm tra chức năng nhận thức [65].Tóm lại, sự khác nhau về đối tượng nghiên cứu và tiêu chuẩn chẩn đoán,thởi gian tiến hành nghiên cứu, nên tỷ lệ NCT mắc SSTT tại các bệnh viện cókhoảng dao động rất lớn từ 3,9 – 63%

1.2.9.2 Tại Việt Nam

Các nghiên cứu về SSTT tại nước ta chủ yếu là nghiên cứu dịch tễ, thựchiện tại cộng đồng Hiện có rất ít nghiên cứu đánh giá tỷ lệ SSTT ở người bệnhcao tuổi ở bệnh viện Nghiên cứu của Vũ Anh Nhị và cộng sự năm 2011, trênđối tượng dân số từ 60 tuổi trở lên tại các quận huyện TP Hồ Chí Minh, mẫunghiên cứu gồm 5410 người tại 30 phường, xã, chẩn đoán có SSTT trên lâmsàng khi có giảm trí nhớ, suy giảm chức năng nhận thức (MMSE < 24 điểm)

và có ảnh hưởng đến chất lượng sống và chức năng hàng ngày khi có hạn chế

từ 1 hoạt động ADL trở lên Cho thấy tỷ lệ suy giảm nhận thức là 20,9 %, tỷ lệSSTT là 4,8% [20]

Nghiên cứu của Đoàn Vương Diễm Khánh, tiến hành trên 905 người từ

65 tuổi trở lên tại thành phố Huế Chẩn đoán SSTT được thực hiện qua hai giai

Trang 32

đoạn: giai đoạn sàng lọc bằng cách sử dụng công cụ MMSE, NCT có MMSEdưới 24 điểm nhận vào nghiên cứu, giai đoạn hai chẩn đoán SSTT sử dụng tiêuchuẩn của ICD –10 Xác định được tỷ lệ SSTT là 9,4% Tuổi, tiền sử đột quỵ,thói quen hoạt động thể lực và thói quen giải trí là những yếu tố có liên quan

có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ hiện mắc SSTT Chỉ có 18,8% người bệnh SSTT

đã từng được chẩn đoán và điều trị SSTT [46] Lê Văn Tuấn đánh giá tỷ lệSSTT tại 2 quận nội thành và ngoại thành của Hà Nội là 4,24% [4]

Tại bệnh viện, nghiên cứu của tác giả Trần Công Thắng và cộng sự khảosát sự thay đổi trí nhớ và nhận thức ở người bệnh cao tuổi mắc đái tháo đườngtại khoa Nội Tiết, bệnh viện Chợ Rẫy, chẩn đoán SSTT dựa theo tiêu chuẩnDSM - IV Kết quả nghiên cứu cho thấy có 65,89% người bệnh có suy giảmnhận thức, trong đó có 51,94% người bệnh SSTT [18] Nghiên cứu của tác giảNguyễn Thanh Vân và cộng sự trên 104 người bệnh sau đột quị, chẩn đoánSSTT theo tiêu chuẩn DSM - IV, cho thấy tỷ lệ SSTT là 25% Tìm thấy mốiliên quan giữa tuổi, trình độ học vấn với SSTT Tuổi càng cao, nguy cơ SSTTcàng tăng, lứa tuổi trên 80 nguy cơ này cao gấp 5,19 lần so với lứa tuổi 60- 69.Học vấn càng thấp thì nguy cơ SSTT càng cao Trình độ học vấn là tiểu học vàphổ thông cơ sở, nguy cơ SSTT tăng 7,41 lần so với nhóm trình độ học vấn làđại học [8]

Nghiên cứu của tác giả Thân Hà Ngọc Thề và cộng sự tiến hành tại baKhoa Lão tại các bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh năm 2016 với mục tiêu xácđịnh tần suất SSTT và kiến thức người chăm sóc Nghiên cứu tiến hành ở 367người bệnh cao tuổi, tuổi trung bình là 77,5 tuổi, ghi nhận tỷ lệ SSTT là 24,2%.Trong đó, không tìm thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỷ lệ mắc SSTT

ở nam và nữ [15]

Trang 33

1.3 Ảnh hưởng của SSTT lên các hoạt động chức năng hằng ngày

1.3.1 Định nghĩa hoạt động chức năng

HĐCN được định nghĩa là khả năng của một người có thể đảm nhiệmcác công việc và hoàn thành các vai trò xã hội gắn liền với cuộc sống hàng ngàyqua một phạm vi rộng các hoạt động từ đơn giản đến phức tạp

Người bệnh SSTT mất khả năng sống độc lập, phải phụ thuộc vào ngườichăm sóc trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Việc đánh giá HĐCN ởngười bệnh SSTT có thể cung cấp cái nhìn toàn diện về tình trạng chức năng,xác định được các hoạt động nào bị hạn chế, hướng dẫn lập kế hoạch can thiệp,giúp đánh giá quá trình theo dõi và hiệu quả các chương trình can thiệp

1.3.2 Thang điểm đánh giá về hoạt động chức năng hàng ngày

Về phương pháp đánh giá chức năng, hiện tại cho thấy đang có rất nhiềucông cụ được sử dụng, một số trong đó đã được chuẩn hóa và một số ở dạngcác bảng kiểm [61], [66], [73], [78], [106]… Song song với việc chọn lựa mộtcông cụ, cần phải có một bộ các nguyên tắc cơ bản để làm hướng dẫn Nhiềucông cụ đã được phát triển bao gồm tập trung vào những chức năng thấp nhất(giữ thăng bằng, tốc độ đi, đứng lên từ ghế) đến cả những chức năng cao nhất

Các thang điểm đánh giá sự độc lập chức năng hàng ngày được sử dụngtrong đánh giá HĐCN ở người bệnh SSTT như bộ câu hỏi đánh giá hoạt độngchức năng (Funtional Activites Questionaire –FAQ) [97], thang điểm đánh giámức độ tàn tật cho SSTT (Disability Assessment for Dementia - DAD) [51],thang điểm đánh giá sự tiến triển (Progressive Assessment Scale - PDS) [45],thang điểm Barthel, Katz ADL [61], [73]… cũng được sử dụng trong đánh giá

sự giảm hoặc mất khả năng tự chăm sóc bản thân

Trang 34

Nghiên cứu của chúng tôi dùng thang điểm đánh giá hoạt động cơ bảnADL Katz và thang hoạt động hữu ích hàng ngày Lawton để đánh giá sự độclập HĐCN của người bệnh SSTT.

Chỉ số ADL do Katz xây dựng năm 1963, bao gồm 6 chức năng cơ bản,

đó là: tắm rửa, mặc quần áo, đi vệ sinh, di chuyển trong nhà, kiểm soát bài tiết

và ăn uống (phụ lục 2)

Thang hoạt động sinh hoạt hàng ngày Lawton gồm có tám mục (LawtonInstrumental Activities of Daily Living scale - IADL) để đánh giá tình trạnggiảm chức năng của người bệnh [66] Các mục này bao gồm sử dụng điện thoại,

đi mua sắm, nấu ăn, giữ nhà, giặt đồ, đi lại bằng phương tiện giao thông, thuốcmen và quản lý tài chính Các hoạt động hữu ích hàng ngày dùng để đánh giámức độ độc lập của người bệnh Nếu một người bệnh cần giúp đỡ ở bất kỳ mụcnào trong các hoạt động hữu ích hàng ngày, có nghĩa họ bị giảm chức năng (phụlục 3)

1.3.3 Mối liên quan giữa SSTT và hạn chế HĐCN

Người bệnh SSTT có nhu cầu cần được trợ giúp một phần hay hoàn toàntrong các sinh hoạt hằng ngày Nghiên cứu của Nguyễn Bích Ngọc nhận thấy

có tới 70,8% người bệnh Alzheimer bị hạn chế ít nhất một hoạt động ADL [5].Với các giai đoạn tiến triển nặng dần của SSTT, mức độ cần hỗ trợ là khácnhau Những thay đổi trong khả năng thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàngngày biểu hiện ngay ở giai đoạn sớm của bệnh, người bệnh SSTT thực hiệnchậm chạp và khó khăn, cần hỗ trợ trong các hoạt động cần có sự tư duy, giaotiếp với xã hội như mua sắm, di chuyển bằng phương tiện công cộng, quản lýtài chính Các hoạt động cơ bản phục vụ cho sinh hoạt cá nhân cơ bản hàngngày như tắm rửa, ăn uống, vệ sinh… người bệnh SSTT giai đoạn sớm vẫn có

Trang 35

thể tự thực hiện Trong khi đó, khi SSTT tiến triển đến giai đoạn trung bình vànặng, người bệnh sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào người chăm sóc.

Theo DSM – 5, mất độc lập trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày có

sử dụng công cụ như nghe điện thoại, mua sắm, giặt quần áo… là một trongcác tiêu chuẩn để chẩn đoán SSTT [27] Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minhLawton IADL là một công cụ hiệu quả để chẩn đoán SSTT [30], [44], [105].Thang điểm IADL rất nhạy cho các trường hợp SSTT nhẹ Một ưu điểm khidùng thang điểm IADL đánh giá SSTT là các hoạt động IADL khi bị hạn chếrất dễ nhận biết bởi người thân hơn là các triệu chứng của suy giảm trí nhớ vànhận thức [71]

Có nhiều nghiên cứu chứng minh mối liên quan chặt chẽ giữa SSTT vàhạn chế chức năng ADL Điển hình, nghiên cứu của Sager trên 2557 ngườibệnh cao tuổi từ 65 tuổi trở lên, nhận thấy rằng có mối liên quan mạnh mẽ giữahạn chế ADL trên người bệnh suy giảm nhận thức [102] Giữa các người bệnhcần trợ giúp một hay nhiều hoạt động ADL tại thời điểm nhập viện, 23% ngườibệnh có suy giảm nhận thức từ mức độ trung bình đến nặng, 49% người bệnh

có tình trạng giảm nhận thức nhẹ, 67% người bệnh không bị suy giảm nhậnthức không bị hạn chế HĐCN (p < 0,001)

Việc đánh giá ADL bị hạn chế ở từng giai đoạn SSTT rất quan trọng,giúp cho bác sĩ lâm sàng theo dõi bệnh và xây dựng kế hoạch chăm sóc phùhợp theo từng giai đoạn SSTT tại bệnh viện cũng như tại cộng đồng, giảm gánhnặng cho người chăm sóc Nhiều nghiên cứu ghi nhận trong y văn thực hiệnnhằm mô tả đặc điểm hạn chế chức năng ở người bệnh SSTT Nghiên cứu củaTalmelli trên đối tượng người bệnh mắc bệnh Alzheimer cho thấy 69% ngườibệnh hạn chế ADL trong đó, 62,7% hạn chế tắm rửa, 61,2% hạn chế mặc quần

áo, hoạt động ít bị hạn chế nhất là đi lại trong nhà chiếm 46,3% [109] Nghiên

Trang 36

cứu của Giebel báo cáo, mỗi giai đoạn SSTT lại có đặc điểm hạn chế ADL làkhác nhau Ở giai đoạn SSTT nhẹ, không có người bệnh nào hạn chế 5 hay 6hoạt động ADL, loại hoạt động bị hạn chế là các hoạt động cần sự phối hợpnhiều động tác như tắm rửa, mặc quần áo, và không có người bệnh nào cần trợgiúp trong ăn uống, tiêu tiểu tự chủ Đến giai đoạn SSTT tiến triển nặng hơn,

số hoạt động ADL bị hạn chế tăng lên, nếu như ở giai đoạn nhẹ, người bệnhhạn chế cao nhất là 4 hoạt động thì ở giai đoạn SSTT trung bình và nặng, ngườibệnh có mức độ hạn chế từ 0 đến 6 hoạt động ADL, đáng chú ý, ở giai đoạnnặng, có tới hơn 50% người bệnh hạn chế cả 6 hoạt động ADL ADL là mộtthang điểm rất hiệu quả và dễ sử dụng trong phân loại giai đoạn bệnh SSTT[52]

Trang 37

CHƯƠNG 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chuẩn nhận vào:

NB là người Việt Nam, biết nói, đọc và viết tiếng Việt, đồng ý tham gianghiên cứu, tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình khám lâm sàng vàlàm trắc nghiệm đánh giá trạng thái tâm thần thu nhỏ (MMSE)

Tiêu chuẩn loại ra:

Đối tượng bị loại ra khỏi nghiên cứu nếu có một trong các đặc điểm sau:

• Có bệnh lý tâm thần nặng, tâm thần phân liệt, sảng, trầm cảm nặng gâyảnh hưởng đến tình trạng nhận thức

• Đối tượng mất vận ngôn, yếu tay thuận, khiếm khuyết thị giác hoặc thínhgiác làm ảnh hưởng đến khả năng thực hiện thang điểm

• Đối tượng có bệnh lý nội ngoại khoa nặng không đủ khả năng hoàn thànhthang điểm

Trang 38

• NB từ chối tham gia nghiên cứu hoặc gia đình NB không đồng ý thamgia.

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: Phòng khám Lão khoa, bệnh viện ĐHYD TPHCM Thời gian: 01/09/2019 – 31/05/2020

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.3.2 Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang:

1 /2 2

n: cỡ mẫu nghiên cứu

Z(1- α /2): Hệ số tin cậy Với α = 0,05 độ tin cậy là 95% nên Z(1- α /2)= 1,96.p: tỷ lệ hiện mắc, chúng tôi chưa có tỷ lệ nên lấy p = 0.5

d: độ chính xác tuyệt đối, chọn d = 0,05

Từ công thức trên tính được cỡ mẫu tối thiểu cần nghiên cứu n= 385 ngườibệnh

2.3.3 Phương pháp lấy mẫu

Lấy mẫu liên tục với phương pháp tiếp cận toàn bộ NB đồng ý tham gianghiên cứu, thỏa tiêu chuẩn nhận vào trong khoảng thời gian nghiên cứu chođến khi đạt cỡ mẫu ước đoán

Trang 39

2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập dựa trên bảng thu thập đã soạn sẵn (Phụ lục)Nghiên cứu viên phỏng vấn mặt đối mặt

2.3.5 Các công cụ thu thập số liệu

Trong nghiên cứu này chúng tôi dùng thang điểm MMSE để tầm soátsuy giảm nhận thức Thang điểm MMSE được Folstein và cộng sự giới thiệunăm 1975 là một trong những thang điểm đánh giá các lĩnh vực chức năng nhậnthức toàn diện được dùng phổ biến và rộng rãi vì tính đơn giản và dễ ứng dụngcủa nó Thang điểm MMSE được sử dụng với mục đích phát hiện sự suy giảmcủa chức năng nhận thức, phân độ mức độ suy giảm nhận thức ở người già,theo dõi diễn tiến bệnh của người bệnh cũng như việc đáp ứng điều trị MMSEbao gồm các câu hỏi liên quan đến sự chú ý, định hướng, trí nhớ, tính toán vàngôn ngữ Tổng điểm số là 30 và nghi ngờ sa sút trí tuệ khi điểm số nhỏ hơn

24, thì có độ đặc hiệu là 82%, độ nhạy là 87% [50] Nội dung thang điểmMMSE theo bản gốc tiếng Anh của tác giả Folstein đã được tác giả NguyễnKinh Quốc dịch sang tiếng Việt năm 2006 để phù hợp với ngôn ngữ và văn hoáViệt Nam và chúng tôi sử dụng phiên bản tiếng Việt này để khảo sát chức năngnhận thức của người bệnh trong mẫu nghiên cứu của mình [7]

Chúng tôi dùng thang đánh giá hoạt động sinh hoạt hàng ngày IADL củaLawton để đánh giá tình trạng SSTT theo tiêu chuẩn chẩn đoán của DSM – 5

Có 8 mục bao gồm sử dụng điện thoại, đi mua sắm, nấu ăn, dọn nhà, giặt đồ, dichuyển, thuốc men và quản lý tài chính Điểm số dao động từ 0 đến 8 điểm.Thang đánh giá IADL tốt hơn thang ADL trong phát hiện SSTT nhẹ vì nhiềungười bệnh trong số các người bệnh SSTT nhẹ vẫn độc lập trong ADL [59]

Trang 40

2.3.6 Kiểm soát sai lệch thông tin

Thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, rõ ràng, dễ hiểu và ghi nhận đủ thông tin cầnthiết Bộ câu hỏi phỏng vấn cho tất cả các đối tượng lấy mẫu

Giải thích trực tiếp, rõ ràng mục đích của nghiên cứu cho đối tượng đượcphỏng vấn và kêu gọi sự ủng hộ của đối tượng nghiên cứu

Kiểm tra lại số lượng bộ câu hỏi trước thu thập

2.3.7 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các số liệu thu thập được xử lý như sau:

Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1

Phân tích theo phần mềm Stata 14.0

Mô tả các tỷ lệ về đặc điểm cá nhân, các đặc điểm bệnh lý

Kết quả được trình bày dưới dạng tần suất, tỷ lệ %, trung bình ± độ lệchchuẩn (có phân phối chuẩn), trung vị và khoảng tứ vị 25% - 75% (có phân phốikhông chuẩn)

Các phép kiểm định thống kê được dùng là:

Trong phân tích thống kê tìm mối liên quan giữa biến độc lập và phụ thuộc,kiểm định Chi bình phương (2) được dùng cho biến số định tính, kiểm địnhT-student được dùng cho biến số định lượng, kiểm định Fisher được dùng trongtrường hợp cỡ mẫu nhỏ không dùng được 2 Sử dụng phương trình hồi quy đabiến để xác định các yếu tố thực sự liên quan Kết quả so sánh khác nhau có ýnghĩa thống kê khi p < 0,05 với độ tin cậy 95%

2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

Giai đoạn 1:

Sàng lọc bệnh theo tiêu chuẩn chọn bệnh và tiêu chuẩn loại trừ tại Phòng

Ngày đăng: 29/03/2021, 00:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w