1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nhận thức về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại thành phố buôn ma thuột, đắk lắk

105 39 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 11,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ tự Tên bảng Trang3.3 Một số yếu tố về tiền sử của đối tượng tham gia nghiên cứu 433.4 Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo 433.5 Tỉ lệ các yếu tố ngu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

-ĐẶNG THỊ XUYẾN

NHẬN THỨC VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DẤU HIỆU CẢNH BÁO ĐỘT QUỴ Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TẠI THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, ĐẮK LẮK

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

TP HỒ CHÍ MINH - 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ

ĐẠI HỌC Y DƯỢC TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Những số liệu và kếtquả ghi trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác

Tác giả

Đặng Thị Xuyến

Trang 4

• Ban Giám hiệu và Ban Chủ nhiệm khoa Y Dược của Trường Đại họcTây Nguyên, đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học tập và hoàn thànhkhóa học của mình.

• Tất cả các Thầy Cô trong Bộ môn Thần Kinh của Trường Đại học YDược Thành phố Hồ Chí Minh, đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ, động viêntôi trong suốt quá trình học tập

• Thầy Đinh Hữu Hùng, đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình học tập và nghiên cứu

• Trung tâm Y tế Thành phố Buôn Ma Thuột và các Anh Chị cán bộ y tếtuyến cơ sở đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện tối đa để tôi có thểhoàn thành bản luận văn này

• Tất cả Bạn bè và Anh Chị đồng nghiệp đã nhiệt tình chỉ bảo, giúp đỡ,động viên tôi trong suốt quá trình học tập

• Bố mẹ đã sinh ra và nuôi dưỡng tôi khôn lớn nên người, và tất cả cácthành viên trong đại gia đình đã động viên, giúp đỡ và khuyến khích tôitrong suốt quá trình học tập

Tác giảĐặng Thị Xuyến

Trang 5

MỤC LỤC Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình và biểu đồ

Trang

MỞ ĐẦU……… 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 3

1.1 Định nghĩa và phân loại đột quỵ……… 3

1.2 Gánh nặng của đột quỵ ……… 3

1.3 Các yếu tố nguy cơ của đột quỵ……… 5

1.4 Một số dấu hiệu cảnh báo thường gặp của đột quỵ……… 15

1.5 Một số nghiên cứu liên quan đến sự nhận thức về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ……… 19

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27 2.1 Đối tượng nghiên cứu……… 27

2.2 Phương pháp nghiên cứu……… 28

2.3 Cách khắc phục sai số……… 35

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu……… 36

Trang 6

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU………. 38

3.2 Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh

3.3 Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu

4.1 Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh

4.2 Một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu

Trang 7

HDL-C High Density Lipoprotein Cholesterol (Cholesterol tỉ trọng cao)

LDL-C Low Density Lipoprotein Cholesterol (Cholesterol tỉ trọng thấp)

OR Odds ratio (Tỉ suất chênh)

RLLM Rối loạn lipid máu (Rối loạn mỡ máu)

RR Relative Risk (Nguy cơ tương đối)

TIA Transient Ischeamic Attack (Thiếu mãu não thoáng qua)

Trang 8

Thứ tự Tên bảng Trang

3.3 Một số yếu tố về tiền sử của đối tượng tham gia nghiên cứu 433.4 Tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo 433.5 Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ đột quỵ được người dân kể đến 443.6 Tỉ lệ các yếu tố nguy cơ đột quỵ được người dân kể đến (tiếp theo) 453.7 Tỉ lệ các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ được người dân kể đến 45

3.9 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ

3.10 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ

đột quỵ và học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân 473.11 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ

3.12 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh

3.13 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh

báo đột quỵ và trình độ học vấn, nghề nghiệp và tình trạng hôn nhân 503.14 Mối liên quan giữa tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnh

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BIỂU ĐỒ

Trang 10

MỞ ĐẦU

Cho đến hiện nay, đột quỵ luôn là một vấn đề thời sự của y học trên thếgiới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển [59] Trên toàn cầu, gánh nặng dođột quỵ gây ra đã và đang ngày càng gia tăng rất nhanh Trong đó, tỉ lệ tử vongtăng 41%, mới mắc tăng 66%, hiện mắc tăng đến 84% [48] và có 85% trườnghợp tử vong là ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Bên cạnh đó, độtquỵ đang có xu hướng ngày càng trẻ hóa, ảnh hưởng rất lớn đến những ngườiđang trong độ tuổi lao động [46], [48], [65] Thực tế cho thấy người bệnh bịđột quỵ có thể chịu nhiều tàn tật và những biến chứng nghiêm trọng, lâu dàinhư mất ngủ, trầm cảm, sa sút trí tuệ, động kinh, Tại nước ta, số liệu cập nhậtcũng chỉ ra rằng gánh nặng đột quỵ đang ngày càng gia tăng Theo Lê ThịHương và cộng sự (cs), tỉ lệ hiện mắc đột quỵ trong cộng đồng ở nước ta ở mứccao [5] và theo Islam và cs thì mỗi năm có khoảng 200.000 người mắc bệnh và

có hơn 50% trường hợp bị tử vong [57]

Trong khi đó, theo Feigin và cộng sự, hơn 90% gánh nặng do đột quỵ gây

ra trên toàn cầu là có liên quan chủ yếu với các yếu tố nguy cơ có thể thay đổiđược của đột quỵ như tăng huyết áp, đái tháo đường, hút thuốc lá, rối loạn lipidmáu, béo phì, ít hoạt động thể lực,…[49] Điều này trở nên quan trọng hơn khi

tỉ lệ các yếu tố này đã và đang ngày càng gia tăng nhanh cùng với sự phát triểncủa xã hội và sự già hóa của dân số [8], [59] Hơn nữa, gánh nặng đột quỵ cònliên quan chặt chẽ với việc nhập viện sớm của bệnh nhân [3]

Như vậy, để góp phần làm giảm gánh nặng của đột quỵ, chúng ta cần cónhững biện pháp dự phòng nguyên phát thích hợp và đồng thời bệnh nhân độtquỵ cần đến bệnh viện càng sớm càng tốt [61] Để thực hiện tốt điều này thìngười dân cần có nhận thức tốt về các yếu tố nguy cơ (YTNC) và dấu hiệu cảnhbáo (DHCB) của đột quỵ (ĐQ) Theo y văn, trên thế giới đã có rất nhiều tác giảnghiên cứu vấn đề này Điển hình, theo nghiên cứu của Olorukooba và cs tại

Trang 11

Nigeria thì có tới 78,2% người dân có nhận thức không đạt về YTNC đột quỵ[79] Mặt khác, Pandian và cs cũng đã chỉ ra rằng tỉ lệ người dân nhận thứckhông đạt về YTNC và DHCB của ĐQ còn ở mức cao (71,9% và 77,6%) [83].Cùng với đó, một số yếu tố có liên quan với nhận thức của người dân cũng đãđược nghiên cứu như tuổi, học vấn,…[19], [27], [53], [76] Tại Việt Nam, VũAnh Nhị, Lê Văn Tuấn và cộng sự cũng đã nghiên cứu về nhận thức YTNC vàDHCB ở bệnh nhân đột quỵ và người nhà của bệnh nhân đột quỵ[9] Theo LýThị Kim Thương và Đinh Hữu Hùng, tỉ lệ nhận thức đạt về YTNC và DHCBcủa người dân tại thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai còn rất thấp [11] Tuy nhiên,

số lượng nghiên cứu đề cập đến vấn đề này ở người dân trong cộng đồng còntương đối hạn chế

Tại Đắk Lắk, một tỉnh miền núi, có khí hậu đặc thù với nhiều người đồngbào dân tộc sinh sống, đã có một số nghiên cứu cho thấy đột quỵ và các YTNCtương ứng là một thách thức lớn đối với sức khỏe trong cộng đồng người dân[4], [10] Mặc dù vậy, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào khảo sát vềnhận thức YTNC và DHCB của đột quỵ trong cộng đồng Xuất phát từ những

cơ sở đã nêu trên và với mong muốn góp phần làm giảm gánh nặng của đột quỵtại Đắk Lắk, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhận thức về các yếu tốnguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn

Ma Thuột, Đắk Lắk”

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy cơ và dấu hiệucảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnhĐắk Lắk

2 Xác định một số yếu tố liên quan với tỉ lệ nhận thức không đạt về cácyếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ ở người trưởng thành tại Thànhphố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk

Trang 12

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI ĐỘT QUỴ

1.1.1 Định nghĩa

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đột quỵ trước đây và hiện nay vẫn thườnggọi là “tai biến mạch máu não” được định nghĩa là một tình trạng bệnh lý củanão biểu hiện bởi các khiếm khuyết thần kinh xảy ra đột ngột với các triệuchứng khu trú hơn là lan tỏa, tồn tại hơn 24 giờ hoặc bệnh nhân bị tử vong trongvòng 24 giờ, loại trừ nguyên nhân chấn thương sọ não Khái niệm đột quỵkhông bao gồm những trường hợp chảy máu ngoài màng cứng, chảy máu dướimàng cứng hoặc chảy máu não do chấn thương, nhiễm khuẩn hay u não [7]

1.1.2 Phân loại

Đột quỵ hiện nay được thành 2 loại chính: Đột quỵ thiếu máu não hay nhồimáu não, chiếm khoảng 80-85% các trường hợp đột quỵ, và đột quỵ xuất huyếtgồm xuất huyết trong não nguyên phát và xuất huyết khoang dưới nhện, chiếm

tỉ lệ 15-20% [7]

1.2 GÁNH NẶNG CỦA ĐỘT QUỴ

ĐQ là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên toàn thế giới [59]

Số liệu thống kê cho thấy, trong năm 2010 cả thế giới có đến 16,9 triệu ngườimắc mới, 33 triệu người hiện mắc, 5,9 triệu người chết và 102 triệu người tàntật do ĐQ Bên cạnh đó, phần lớn những người sống sót sau ĐQ phải chịunhững khuyết tật nặng nề như trầm cảm (61,1%), thay đổi trương lực cơ (trên55%) và hậu quả là giảm khả năng vận động (88%), mất thăng bằng (54,43%),giảm khả năng di chuyển (54,16%) [30] Vấn đề này là gánh nặng lớn cho giađình và xã hội, bên cạnh đó ĐQ còn là gánh nặng kinh tế nặng nề vì chi phíchăm sóc, chi phí cho việc không tham gia sản xuất để tạo ra của cải vật chất

Trang 13

Cụ thể, trong năm 2017, 32 quốc gia ở Châu Âu đã tiêu tốn 60 tỷ Euro liênquan đến ĐQ, trong đó 47% cho gánh nặng kinh tế do ĐQ gây ra mà ước tínhđến 27% chi phí cho sự chết sớm và nghỉ việc của những người bị ĐQ [73].Đặc biệt, có sự khác biệt về gánh nặng ĐQ giữa các quốc gia mà chủ yếucác gánh nặng này tập trung ở các nước có thu nhập thấp và trung bình với52,5% tỉ lệ hiện mắc, 68,6% tỉ lệ mắc mới, 70,9% tỉ lệ tử vong và 77,7% tỉ lệtàn tật [45] Trong khi tỉ lệ mắc mới chuẩn hóa theo tuổi có xu hướng giảm ởcác nước phát triển thì con số này lại tăng đáng kể ở các nước đang phát triển.Bằng chứng cho thấy gánh nặng do đột quỵ đã giảm mạnh ở các quốc gia cóthu nhập cao như Áo, Ý, Đức, Iceland với tỉ lệ tử vong giảm 20% đến 50%trong khoảng thời gian từ 1975-2005 thông qua việc kiểm soát tốt các yếu tốnguy cơ của đột quỵ [37] Trong khi tỉ lệ tử vong và tàn tật vẫn không ngừngtăng lên với 4,85 triệu người chết và 91,4 triệu người tàn tật mỗi năm ở cácnước có thu nhập thấp và trung bình [75].

Bên cạnh đó, tàn tật do ĐQ có xu hướng ngày càng trẻ hóa Cụ thể, từnăm 1990 đến 2013 tỉ lệ tàn tật do ĐQ trên toàn thế giới tăng đến 25% ở nhómtuổi từ 20-64 [67] Theo nghiên cứu của Giang và cs ở Thụy Điển công bố năm

2017 cho thấy tỉ lệ hiện mắc ĐQ thiếu máu não cục bộ ở người trẻ (< 45 tuổi)tăng theo thời gian (từ năm 1995 đến năm 2010) [52] Thêm vào đó, một số dữliệu khác cũng đã chỉ ra rằng 2/3 tổng số bệnh nhân ĐQ xảy ra ở những ngườidưới 70 tuổi [47] Trong năm 2010, có đến 5,2 triệu người (31%) bị ĐQ ở nhómdân số dưới 65 tuổi, mà con số này phần lớn từ các nước có thu nhập thấp là

74000 người (89%) và trung bình là 4 triệu người (78%) [45] Bằng chứng chothấy sự thay đổi này có liên quan đến những yếu tố nguy cơ về lối sống như hútthuốc lá, chế độ ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều đường), sử dụng đồ uống

có cồn, ít vận động thể lực [94] Và còn nhiều những bằng chứng gần đây cũngcho thấy sự gia tăng ĐQ ở người trẻ tuổi có liên quan đến sự gia tăng những

Trang 14

YTNC truyền thống như tăng huyết áp (THA), đái tháo đường (ĐTĐ) và thừacân/béo phì [66].

Ở Việt Nam, tỉ lệ mắc mới ĐQ tăng từ 213,58/100.000 người mỗi năm(năm 1990) đến 254,78/100.000 người mỗi năm (năm 2010) [45] Ước tính mỗinăm cả nước có hơn 200.000 người mắc ĐQ và hơn 50% trường hợp tử vong[57] Một nghiên cứu gần đây của Lê Thị Hương và cs cho thấy tỉ lệ hiện mắc

ĐQ ở Việt Nam là 1,62% [5] Mặt khác, kết quả điều tra của Bộ Y tế công bốnăm 2016 cho thấy so với năm 2010, hầu hết các YTNC của các bệnh khônglây nhiễm nói chung và ĐQ nói riêng (nhóm tuổi 25-64) đều có sự gia tăng tỉ

lệ theo thời gian [2]

Những điều trên cho thấy, gánh nặng ĐQ không ngừng tăng lên và làđiều đáng phải quan tâm nhiều hơn nữa trong mọi nỗ lực làm giảm gánh nặngbệnh tật không chỉ riêng ở từng quốc gia nào, chính phủ nào mà còn là tráchnhiệm của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội

1.3 CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA ĐỘT QUỴ

1.3.1 Vai trò của các yếu tố nguy cơ của đột quỵ

1.3.1.1 Các yếu tố nguy cơ không thay đổi được

Giới tính

Nam giới thường có tỉ lệ mắc ĐQ nhiều hơn so với nữ giới từ 1,5 đến 2 lần.Tuy nhiên ở nhóm tuổi từ 35 - 44 và trên 85 tuổi, tỉ lệ mới mắc ở nữ cao hơn ở nam.Việc dùng thuốc tránh thai cũng làm tăng tỉ lệ mắc ĐQ ở phụ nữ trẻ [12], [29], [55]

Trang 15

Tiền sử gia đình

Tiền sử gia đình có bố hoặc mẹ bị ĐQ đều làm tăng nguy cơ bị bệnh này

Có nhiều cơ chế liên quan đến hiện tượng này như di truyền các yếu tố nguy

cơ của ĐQ, di truyền tính nhạy cảm đối với các nguy cơ này, giống nhau vềvăn hóa, lối sống và tương tác giữa yếu tố di truyền và ngoại cảnh Các bấtthường về di truyền có thể làm bộc lộ các yếu tố nguy cơ như THA, ĐTĐ, rốiloạn lipid máu (RLLM), rối loạn đông máu [38]

Tiền sử bản thân bị đột qụy

Theo y văn, bệnh nhân bị ĐQ thiếu máu não cục bộ phải đối mặt với nguy

cơ tái phát rất cao, nhất là trong năm đầu tiên Điển hình theo Wang và cs, tỉsuất tái phát ĐQ tích lũy tại thời điểm một năm lên tới 17,7% [99].Thêm vàonữa, theo Đinh Hữu Hùng thì tỉ suất tái phát ĐQ tích lũy tại thời điểm 30 ngày,

90 ngày, 6 tháng và 1 năm lần lượt tương ứng là 6%, 11,9%, 16,1%, 23,3% [4]

1.3.1.2 Nhóm các yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được

Tăng huyết áp

THA là YTNC hàng đầu chịu trách nhiệm về việc làm gia tăng tỉ lệ ĐQtrên toàn thế giới Nhiều nghiên cứu đã chứng minh điều đó, với 41,6% tỉ lệ độtquỵ ở Thái Lan liên quan đến THA, con số này là 62,5% ở Sri Lanka và 35,24%

bị THA [50] Tỉ lệ THA gia tăng theo tuổi, với 7,3% ở nhóm tuổi 18-39, 32,2%

Trang 16

ở nhóm 40-59, 64,9% ở nhóm trên 60 tuổi và có tỉ lệ cao hơn ở nam giới so với

nữ ở độ tuổi từ 18- 59 [101]

Hút thuốc lá

Một vài nghiên cứu với quy mô lớn đã chứng minh rằng hút thuốc làm tăngnguy cơ ĐQ, đặc biệt là người có tiền sử hút thuốc lá nặng Nghiên cứuFramingham và nghiên cứu tim ở Honolulu nhận thấy việc ngưng hút thuốc sẽlàm giảm nguy cơ ĐQ Những người ngưng hút thuốc được 5 năm thì nguy cơ

ĐQ của họ không còn khác biệt với nhóm không hút thuốc [7]

Về mặt cơ chế, hút thuốc lá có thể làm tăng nồng độ fibrinogen, tănghematocrit, tăng kết tập tiểu cầu, tăng co mạch, giảm hoạt động tiêu sợi huyết,làm biến đổi nồng độ lipid mà quan trọng nhất là làm giảm yếu tố bảo vệ HighDensity Lipoprotein Cholesterol (HDL - C) và tất nhiên từ đó sẽ phát sinh xơvữa động mạch [20]

Hút thuốc lá là YTNC thuộc về hành vi, cùng với chế độ ăn không hợp lý

và ít hoạt động thể lực chịu trách nhiệm cho 66,3% gánh nặng tàn tật do ĐQgây ra [59] Châu Á là khu vực tiêu thụ thuốc lá lớn nhất với bảy quốc gia nằmtrong nhóm mười quốc gia có mức độ tiêu thụ thuốc lá lớn nhất thế giới Trong

đó, Trung Quốc là nước dẫn đầu với 301 triệu người hiện đang hút thuốc, chiếm28,1% số người lớn hút thuốc theo thống kê năm 2010 Các nước khác trongkhu vực Đông Á cũng có tỉ lệ tương đương với 24,2% ở Hàn Quốc năm 2014,Mongolia 27,7% năm 2009 [65]

Bệnh tim

Có nhiều bệnh lý tim mạch khác nhau gây nguy cơ ĐQ: bệnh mạch vành,suy tim sung huyết, rung nhĩ, bệnh van tim, bệnh viêm mạch Điều trị các bệnhnày làm giảm nguy cơ ĐQ [7]

Các cục huyết khối trong tim hình thành khi có ứ trệ máu trong tim, thườnggặp nhất là trong rung nhĩ Các cục huyết khối này có thể vỡ ra, di chuyển theo

Trang 17

dòng máu lên các động mạch não và làm tắc các mạch máu này, gây ra ĐQ.Huyết khối thường xảy ra nhất là trong tâm nhĩ và tiểu nhĩ trái Mặc dù nguyênnhân chủ yếu hình thành và phát triển các cục huyết khối trong tâm nhĩ là docác lực co bóp tâm nhĩ suy yếu khiến lưu thông máu trì trệ, nhưng bên cạnh đócòn có thể có các yếu tố khác góp phần Tuổi già, tiền căn có biến cố lấp mạch,THA, ĐTĐ làm gia tăng tỉ lệ ĐQ trong rung nhĩ Các bệnh tim kết hợp như suytim sung huyết, bệnh mạch vành, hẹp van 2 lá, van tim nhân tạo cũng làm tăngnguy cơ ĐQ trên bệnh nhân rung nhĩ Suy chức năng thất trái cũng là một yếu

tố nguy cơ nữa của ĐQ ở người có rung nhĩ [7] Một cuộc điều tra toàn cầu vềtần suất mắc rung nhĩ trên những bệnh nhân ĐQ cho thấy, tỉ lệ rung nhĩ ở nhữngbệnh nhân ĐQ thiếu máu não là 28% Tỉ lệ này cao nhất ở Bắc Mỹ với 35%,tiếp đến là ở Châu Âu 33%, và thấp nhất là ở Châu Mỹ La tinh là 17% [84]

Uống nhiều rượu bia

Dùng rượu với lượng nhiều, uống thường xuyên mỗi ngày hoặc trong cáccuộc nhậu, làm tăng nguy cơ ĐQ Ngược lại, uống rượu với lượng ít hay vừaphải làm tăng HDL-C và làm giảm nguy cơ mạch vành, đồng thời không ảnhhưởng đến nguy cơ ĐQ Cơ chế uống rượu nhiều làm tăng nguy cơ ĐQ vẫn chưađược biết chắc chắn, nhưng có một số biến đổi sau khi uống với lượng lớn làmtăng hematocrit và tăng độ nhớt của máu, tăng số lượng tiểu cầu khi ngưng uống,rối loạn nhịp tim, tăng huyết áp, phản ứng stress, bàng quang căng đều là nhữngbiểu hiện bất lợi làm tăng nguy cơ ĐQ Nhiều thử nghiệm vẫn còn đang nghiêncứu, nhưng đều có nhận định chung là nguy cơ ĐQ do uống nhiều rượu có thểgiảm xuống nếu ngưng uống rượu [7] Tỉ lệ tiêu thụ nhiều rượu bia có sự khácbiệt giữa nam và nữ (nam giới dùng nhiều rượu/bia hơn so với nữ giới), tuổitrung bình là 41,3 và có sự tương quan nghịch với trình độ học vấn Bên cạnh

đó, trong nhóm những người uống nhiều rượu bia có kèm theo THA, hút thuốc

lá và chỉ số BMI cao hơn nhóm không uống nhiều rượu bia [98]

Trang 18

Rối loạn Lipid máu

Một bằng chứng hiển nhiên là tình trạng tăng cholesterol và triglyceridestrong máu có liên quan đến bệnh mạch vành, nhưng các nghiên cứu trước đâychưa ghi nhận bằng chứng liên quan đến ĐQ Tuy nhiên, các nghiên cứu gầnđây đã tách riêng các phân nhóm ĐQ và ghi nhận tăng Low Density LipoproteinCholesterol (LDL-C) là yếu tố nguy cơ cho ĐQ thiếu máu não cục bộ, nhưnggiảm LDL-C lại làm tăng nguy cơ xuất huyết não Tần suất ĐQ cũng cao hơnbình thường ở nhóm người gia đình có tăng lipid máu Bằng phương pháp khảosát mạch máu qua siêu âm, chụp động mạch cản quang cho thấy tần suất xơvữa động mạch liên quan đến tăng nồng độ lipid máu [7]

Một nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn lipid máu ở các nước Châu Á TháiBình Dương đã chỉ ra rằng tỉ lệ rối loạn lipid máu có sự khác nhau giữa các chủngtộc, nhóm tuổi, giới tính, khu vực sinh sống và tình trạng kinh tế xã hội [72] Riêng

ở các quốc gia Đông Á, sự gia tăng nồng độ cholesterol toàn phần liên quan đến

sự già hóa dân số, sự thay đổi chế độ ăn và tốc độ đô thị hóa [65]

Đái tháo đường hoặc rối loạn dung nạp glucose

Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, số bệnh nhân ĐTĐ có tần suất xảy

ra đột quỵ cao gấp 2,5 - 4 lần người bình thường (tùy theo nghiên cứu) Bệnhnhân ĐTĐ thường có tập hợp các yếu tố nguy cơ như: THA, béo bụng, RLLM

và kháng Insulin Một số yếu tố nguy cơ có ảnh hưởng đến sự đề kháng insulinbao gồm: quá trọng, lối sống ít vận động, tăng đường máu, sử dụng nhiều thuốc

Do ĐTĐ liên quan đến các yếu tố nguy cơ đột quỵ khác như xơ vữa động mạch,THA, RLLM, các bệnh nhân ĐTĐ phải được xem xét các quá trình xảy ra đồngthời và cần được điều trị tấn công và liên tục Điều trị ĐTĐ là nhằm đưa đườnghuyết về giới hạn bình thường và có thể giảm nguy cơ ĐQ [7]

ĐTĐ là một yếu tố nguy cơ độc lập quan trọng của ĐQ [18], [41] Và tỉ lệngười mắc ĐTĐ trên toàn thế giới được ước tính vẫn không ngừng tăng lên

Trang 19

theo thời gian Thật vậy, trên toàn thế giới, con số người trưởng thành mắc bệnhĐTĐ đã tăng hơn hai lần trong vòng 30 năm qua, và tốc độ gia tăng này có sựkhác biệt giữa các khu vực Chẳng hạn như ở Mỹ, tỉ lệ người trưởng thành mắcĐTĐ tăng gấp đôi trong vòng 40 năm qua, trong khi ở nhiều quốc gia Châu Á,

tỉ lệ mắc bệnh ĐTĐ đã tăng từ 3-5 lần trong vòng 30 năm Ở Trung Quốc, tỉ lệmắc ĐTĐ có sự tăng với tốc độ khá nhanh từ 1% năm 1980 đến 11,6% năm

2010 [65] Theo ước tính, tỉ lệ mắc ĐTĐ ở người trưởng thành (từ 20-79 tuổi)

là 6,4% vào năm 2010 và sẽ tăng lên 7,7% vào năm 2030 [93]

Thừa cân/ Béo phì

Tăng trọng lượng và béo phì (trọng lượng cơ thể tăng 10% trên trọng lượng

lý tưởng) thường liên quan đến áp lực mạch máu, cholesterol, đường máu, axituric và liên quan tử vong từ tim mạch Giảm 5 - 10% trọng lượng cơ thể ở bệnhnhân béo phì thường dẫn tới giảm áp lực mạch máu và các yếu tố liên quan.Các chứng cứ về các bài tập sinh lý và đi bộ thường xuyên kết hợp với chế độ

ăn rau quả nghiêm ngặt và giảm các chất kích thích bất lợi khác sẽ làm giảmcác YTNC tim mạch đồng thời có thể làm hạn chế YTNC ĐQ Thêm nữa, tất

cả các bệnh nhân ĐQ thiếu máu não cục bộ và thoáng thiếu máu não có quátrọng phải được khuyến cáo giảm cân, mục tiêu là duy trì chỉ số khối cơ thể(BMI) từ 18,5 đến 24,9 kg/m²và vòng bụng < 90cm ở nữ và < 100cm ở nam(IIb-C) Các bác sĩ lâm sàng nên khuyến khích bệnh nhân kiểm soát cân nặngthông qua một chế độ cân bằng hợp lý giữa năng lượng ăn vào và hoạt độngthể lực [7]

Sự gia tăng cân nặng có liên quan đều đặn với sự gia tăng tỉ lệ ĐQ ở cả thểnhồi máu não và xuất huyết não [68] Một phân tích gộp về mối liên quan giữachỉ số khối cơ thể (BMI) và nguy cơ ĐQ quỵ trên 45.235 bệnh nhân từ 16nghiên cứu đoàn hệ ở Nhật Bản cho thấy rằng: thừa cân hoặc béo phì đều cóliên quan với sự gia tăng nguy cơ ĐQ ở cả 2 giới [100] Mối liên quan giữa ĐQ

Trang 20

ở người trẻ (từ 15-49 tuổi) cũng được nghiên cứu với nguy cơ tương đối là 1,57[74] Hơn nữa, một số tác giả khác cũng đã chứng minh rằng béo phì bụng làmột yếu tố có liên quan mạnh với nguy cơ ĐQ [58], [97].

Thiếu hoạt động thể lực

Hoạt động thể lực, tập vận động ở mức vừa phải, thường xuyên kiểm soáttrọng lượng cơ thể và mức tăng hoặc rối loạn lipid, giữ huyết áp luôn về mứcbình thường là những biện pháp có lợi cho phòng ngừa tái phát ĐQ Nhìn chungluyện tập cơ thể đều đặn và đúng mức có thể làm thay đổi lối sống hàng ngày

ở trên bệnh nhân có nhiều YTNC ĐQ Việc tăng cường giải trí, hoạt động thểthao giúp cơ thể điều chỉnh những bất thường nhất là bệnh nhân có tăng lipidmáu và ĐTĐ Những bài tập thể dục hoặc các phương pháp hoạt động như đi

bộ thường xuyên 6 lần/ tuần, thời gian mỗi lần từ 30-45 phút (những bệnh nhân

có bệnh tim, THA có khuyến cáo riêng) Trong những hoạt động ngoài trờibệnh nhân cần khởi động chậm, bài tập đòi hỏi ít dưỡng khí để tránh mệt mỏikhi luyện tập [7]

Nghiên cứu tổng quan của Katzmarzyk và Janssen (2004) cho thấy rằngthiếu vận động thể lực tăng nguy cơ ĐQ với RR=1,6 (KTC 95%: 1,42-1,8),tương tự cũng tăng nguy cơ bị bệnh tim mạch với RR=1,45, tăng nguy cơ bịTHA với RR=1,3 [62] Ngược lại, hoạt động thể lực không những có tác dụngphòng ngừa đột quỵ cũng như bệnh lý tim mạch mà còn có tắc dụng trong điềutrị phục hồi chức năng sau ĐQ [51]

Chế độ ăn

Chế độ ăn giảm muối không những giảm nguy cơ ĐQ mà còn giảm đáng

kể nguy cơ bệnh mạch vành Chế độ ăn tốt cho sức khỏe là chế độ ăn ít muối,

ít mỡ bão hòa, ăn nhiều rau xanh, ngũ cốc, trái cây, dầu olive, protein có nguồngốc từ thực vật Lượng muối ăn hàng ngày được khuyên dùng cho người cónguy cơ cao ĐQ là 2-3g mỗi ngày, cần đọc kỹ nhãn mác sản phẩm đóng gói vì

Trang 21

những loại sản phẩm này có chứa hàm lượng natri rất cao, nhất là thịt xông khói

và bánh mì [95]

Stress/lo âu

Stress (căng thẳng) là YTNC có thể dẫn đến ĐQ Khi bị stress, cơ thể tiếtquá mức những chất làm tăng nhu cầu oxy cơ tim nhất là adrenalin làm co mạchvành, rối loạn chức năng đông máu, thành mạch,…Ngoài ra stress và ĐQ cóthể liên quan với nhau do những người lo âu còn có khuynh hướng hút thuốcnhiều, ít vận động, uống rượu nhiều nên dễ mắc tim mạch hơn [12] Một nghiêncứu tổng quan tài liệu từ năm 1980 đến 2014 đã chứng minh stress tâm lý làYTNC độc lập của ĐQ, nguy cơ quy trách ở những đối tượng có căng thẳngchung hoặc căng thẳng trong công việc hay cuộc sống là 1,33 [28]

1.3.2 Sự gia tăng các yếu tố nguy cơ theo thời gian

Mặc dù có nhiều chiến lược can thiệp để làm giảm gánh nặng ĐQ Tuynhiên các số liệu thống kê cho thấy gánh nặng do ĐQ trên toàn cầu vẫn khôngngừng tăng lên theo thời gian Điều này một phần do sự phát triển dân số và sựgià hóa của dân số Bên cạnh đó cho thấy các chiến lược dự phòng ĐQ chưathực sự hiệu quả và chưa thực sự rộng khắp đặc biệt là việc kiểm soát các YTNCcủa ĐQ [48], [59]

Bằng chứng từ nghiên cứu tổng quan của Feigin và cs cho thấy, có đến90,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu do đột quỵ được quy cho những yếu tố nguy

cơ có thể thay đổi được như: THA, ĐTĐ, bệnh tim mạch, hút thuốc lá, RLLM,béo phì, ít vận động thể lực, chế độ ăn không hợp lý,…[49] Trong đó, chịutrách nhiệm cho tàn tật do ĐQ thì những YTNC chuyển hóa (THA tâm thu, chỉ

số BMI cao, tăng cholesterol toàn phần, tăng đường máu, giảm mức lọc cầuthận) là 72,1%, và những YTNC thuộc về hành vi (hút thuốc lá, chế độ ăn, ítvận động) là 66,3% [59]

Bên cạnh việc có nhiều YTNC hàng đầu ảnh hưởng đến gánh nặng ĐQ thì

Trang 22

điều đáng nêu ra thêm ở đây là sự gia tăng chóng mặt theo thời gian của cácYTNC quan trọng này Điều đó đã và đang làm cho gánh nặng của các bệnhkhông lây nhiễm nói chung và ĐQ nói riêng, vốn đã rất nặng, nay còn nặng nềhơn Rõ ràng, đây là một thách thức rất lớn đối với nền y tế trên toàn cầu nếuchúng ta không có những chiến lược và chương trình hành động kịp thời vàhiệu quả Thật vậy, một nghiên cứu kéo dài 10 năm (2004 – 2014) của Otite và

cs là một dẫn chứng điển hình cho sự gia tăng các YTNC của ĐQ theo thờigian Kết quả đã cho thấy: tỉ lệ hiện mắc (đã được hiệu chỉnh theo tuổi và giới)của các YTNC đối với ĐQ, bao gồm THA, RLLM, ĐTĐ, hút thuốc lá, vànghiện rượu lần lượt là 79%, 47%, 34%, 15%, và 2% Quan trọng hơn khi tỉ lệhiện mắc của các YTNC kể trên có sự gia tăng hằng năm với giá trị lần lượt là:1,4%, 2%, 7%, 5%, và 7% [81]

Ở Việt Nam, kết quả điều tra của Bộ Y tế công bố năm 2016 cho thấy sovới năm 2010, hầu hết các YTNC của các bệnh không lây nhiễm nói chung và

ĐQ nói riêng (nhóm tuổi 25-64) đều có sự gia tăng tỉ lệ theo thời gian: (1) uốngrượu bia tăng từ 37,0% lên 44,8% (ở cả 2 giới), (2) thừa cân béo phì tăng từ12,0% lên 17,5%, (3) rối loạn đường huyết khi đói tăng từ 1,5% lên 3,5%, (4)tăng đường huyết tăng từ 2,6% lên 4,1%, (5) tăng huyết áp tăng từ 15,3% lên20,3% Trong đó, tỉ lệ người được phát hiện, quản lý điều trị THA, ĐTĐ cònrất thấp [2]

Như vậy, trong chiến lược dự phòng ĐQ bao gồm cả dự phòng nguyên phát

và thứ phát cần chú trọng đến việc kiểm soát tốt các YTNC có thể thay đổi đượccủa ĐQ Điểm cần chú ý và nói thêm là việc kiểm soát tốt các YTNC của ĐQ cũngmang lại lợi ích đáng kể cho một số bệnh không lây nhiễm khác như bệnh tim (baogồm cả bệnh mạch vành), bệnh ung thư, ĐTĐ, các bệnh phổi,…bởi lẽ các nhómbệnh lý này đều có chung một số YTNC quan trọng như hút thuốc lá, thiếu hoạtđộng thể lực, uống rượu bia quá mức, và chế độ ăn không thích hợp [24], [47]

Trang 23

1.3.3 Tầm quan trọng của việc nhận biết các yếu tố nguy cơ

Biện pháp tốt nhất để làm giảm tỉ lệ mắc, tỉ lệ tử vong cũng như gánhnặng bệnh tật do ĐQ là điều trị dự phòng không để cho ĐQ xảy ra bằngcách kiểm soát tốt các YTNC của ĐQ [91]

Nhận thức của cá nhân về các YTNC của ĐQ là một vấn đề then chốtcần được đề cập đến khi thiết lập mục tiêu phòng ngừa ĐQ nguyên phát vàthứ phát Các lý thuyết phổ biến về hành vi sức khỏe, chẳng hạn như Môhình Niềm tin Sức khỏe [89] hoặc Lý thuyết Động lực Bảo vệ [88] ủng hộtầm quan trọng của nhận thức về các YTNC của sức khỏe trong công tácgiáo dục sức khỏe và y tế dự phòng Đánh giá thấp nguy cơ cá nhân có thểlàm giảm động lực thay đổi các YTNC thuộc về hành vi và có thể làm giảm

sự tuân thủ các chiến lược phòng ngừa y tế Thực tế cho thấy có một lỗhổng lớn trong chiến lược dự phòng ĐQ, trong đó có đề cập đến vấn đềthiếu nhận thức về ĐQ và các YTNC của nó, đó là một phần lý do dẫn đếncác YTNC thuộc về hành vi ít được sửa đổi và chưa thực sự có động lực đểsửa đổi [44], [48]

Chính vì vậy nhận thức về các YTNC của ĐQ là điều vô cùng quantrọng để phòng ngừa không để cho ĐQ xảy ra cũng như được chăm sóc kịpthời nếu ĐQ xảy ra [77] Điều này đòi hỏi các tổ chức quản lý về Y tế cầndựa trên chứng cứ khoa học tốt để đưa ra những khuyến cáo thích hợp vềphòng ngừa, thực hành, quản lý và điều trị các YTNC, bao gồm cả việcgiúp đỡ mọi người nhận ra các YTNC và đánh giá đúng nguy cơ mắc ĐQcủa riêng mình trong tương lai và cách làm giảm các nguy cơ này Cụ thể,theo Bejot và cs, việc kiểm soát hiệu quả các YTNC hàng đầu có ý nghĩalớn trong chiến lược dự phòng ĐQ, bao gồm cả sự nâng cao hiểu biết củangười dân về các YTNC của ĐQ qua nhiều kênh thông tin khác nhau, đặcbiệt là ứng dụng tiện ích của điện thoại di động [25]

Trang 24

1.4 MỘT SỐ DẤU HIỆU CẢNH BÁO THƯỜNG GẶP CỦA ĐỘT QUỴ 1.4.1 Một số dấu hiệu cảnh báo

Về mặt lý thuyết, đặc tính của bệnh ĐQ là đột ngột, tiến triển nhanh đếnthiếu hụt thần kinh, bệnh diễn tiến nặng ngay từ đầu, mọi cố gắng của thầythuốc là làm sao có một nhận định đúng đắn nhất để xử trí kịp thời những tìnhhuống của bệnh, hạn chế tử vong và những biến chứng thường gặp khác do độtquỵ gây ra Một bệnh cảnh lâm sàng có đặc điểm:

- Khởi phát đột ngột, được hiểu khi bệnh nhân đang trong tình trạng sức khỏebình thường, đột ngột chuyển sang trạng thái bệnh lý mà biểu hiện bệnh chính làxuất hiện các triệu chứng cục bộ hay khiếm khuyết về chức năng thần kinh [8]

- Tiến triển nhanh tới thiếu hụt thần kinh tối đa: Liệt, hôn mê, rối loạn vậnngôn, rối loạn cảm giác…Tất cả các vùng não bị tổn thương đều bị, ngay sau

đó là các triệu chứng thiếu hụt thần kinh cũng đồng thời xuất hiện Diễn tiếnnày không bao giờ thoái lui, diễn tiến của ĐQ là có xu hướng tiến triển nặnglên để đạt mức tối đa mà tình trạng xuất huyết hoặc thiếu máu cấp xảy ra [8].Các triệu chứng lâm sàng thường gặp:

- Đau đầu: Trong ĐQ, đau đầu thường đột ngột, rất mãnh liệt, đạt cường

độ đau ngay từ những phút đầu, giờ đầu Đau đầu do xuất huyết khoang dướinhện, bệnh nhân mô tả “như búa bổ vào đầu” hoặc cảm giác đau như muốn nổtung Đau đầu thường kèm theo nôn, gáy cứng và dấu màng não Tuy nhiênkhoảng 20-30% trường hợp đau đầu không điển hình, một số ít không đau.Trong xuất huyết não, khởi phát đau đầu cũng đột ngột, hiếm gặp dấu màngnão trừ trường hợp xuất huyết não-màng não hay xuất huyết tràn não thất vàkhoang dưới nhện Đau đầu thường kèm theo thiếu sót thần kinh tiến triển vàbiến đổi ý thức Các bệnh nhân nhồi máu não đôi khi có đau đầu chiếm khoảng20%, mức độ nhẹ và thoáng qua, nhồi máu do tim thường gặp hơn do xơ vữađộng mạch [8]

Trang 25

- Chóng mặt, báo hiệu chức năng của bộ phận tiền đình ngoại vi hay trungương bị kích thích Trong tai biến mạch máu não thường gặp chóng mặt tiềnđình trung ương Nguyên nhân là do rối loạn tuần hoàn sau như huyết khối tiểunão hoặc thân não, chảy máu hoặc thiếu máu cục bộ động mạch sống - nềnthoáng qua Trong bối cảnh bệnh mạch máu não, hầu như chóng mặt bao giờcũng kết hợp với các triệu chứng khác của chức năng thân não hoặc tiểu nãonhư nystagmus, rối loạn vận nhãn, mất điều hòa vận động [8].

- Rối loạn thị giác: trong bệnh mạch máu não rối loạn thị giác thường gặpnhất là mất thị giác và nhìn đôi Mất thị lực một hay hai bên, trong bệnh mạchmáu não, nguyên nhân thiếu máu thị giác - võng mạc, do tắc động mạch hoặctĩnh mạch võng mạc trung tâm Mù một mắt thoáng qua từ thiếu máu võng mạcđược biết từ lâu gọi là “mù Fugax” thường do tắc động mạch cảnh cùng bên,kết quả là do rối loạn lưu lượng máu của mắt, hoặc cục nghẽn võng mạc cónguồn gốc đoạn đầu trung tâm hệ động mạch cảnh, cũng có thể cục lấp mạch

từ tim [8]

- Rối loạn ngôn ngữ: Mất ngôn ngữ vận động xuất hiện khi tổn thươngvùng Broca (phần sau hồi trán 3) Trong rối loạn này, người bệnh mất khả năngnói thành lời, nhưng căn bản vẫn giữ được khả năng am hiểu lời nói Mất ngônngữ giác quan do tổn thương vùng Wernicke, ở phần sau hồi thái dương trên.Người bệnh mất khả năng am hiểu lời nói Những câu chữ nghe thấy không gắnliền với những biểu tượng, khái niệm, hoặc đối tượng tương ứng [8]

- Các rối loạn cảm giác: Khi bệnh nhân tổn thương não do nhồi máu hoặcxuất huyết thì xuất hiện bất thường cảm giác, triệu chứng thường gặp là tê.Triệu chứng này biểu hiện như một tổn thương chết hay một mất cảm giác Tráilại một cơn động kinh cảm giác thì hiện tượng đau nhói hay nhận cảm quánhiều Thông thường mất cảm giác hay rối loạn cảm giác trong tai biến mạchmáu não thường kèm theo với liệt nửa người [8]

Trang 26

- Yếu và liệt nửa người: Là dấu hiệu thường gặp trong tai biến mạch máunão, mức độ liệt nửa người trong hội chứng lâm sàng có thể giúp định khu tổnthương Một bệnh cảnh lâm sàng với liệt nửa người là hình thái điển hình củamột tai biến mạch máu não: Liệt nửa người không đồng đều tay hoặc chân nặnghơn thường thấy trong tổn thương vỏ não, trong khi tổn thương bao trong thìliệt nửa người đồng đều [8].

- Các kiểu hôn mê, sự thức tỉnh được duy trì bởi hệ thống dẫn truyền củathân não trên và các neuron đồi thị, hệ thống lưới kích hoạt lên và sự tiếp nối củachúng với hai bán cầu não Vì thế khi hệ thống hoạt động lưới giảm hoạt động

và các hoạt động chung của hai bán cầu não suy giảm dẫn đến hôn mê [8].Các triệu chứng của đột quỵ cũng là những DHCB được thiết lập bởi việnquốc gia rối loạn thần kinh và đột quỵ Hoa Kỳ (NINDS 2005) bao gồm nămdấu hiệu sau: (1) đột ngột tê hoặc yếu mặt, tay, chân cùng bên cơ thể; (2) độtngột lẫn lộn, khó khăn trong việc nói hoặc hiểu lời nói; (3) đột ngột mất thịtrường ở một hoặc hai mắt; (4) đột ngột chóng mặt, khó khăn trong việc đi lại,mất thăng bằng hoặc phối hợp động tác; (5) đột ngột đau đầu dữ dội không rõnguyên nhân [77]

Trong nhiều nghiên cứu khác nhau thì những DHCB này được mô tả vàđiều chỉnh theo các cách khác nhau cho phù hợp với từng khu vực và nhóm đốitượng nghiên cứu nhưng không thay đổi bản chất của triệu chứng Như trongnghiên cứu của Pandian và cộng sự tại Tây Bắc Ấn Độ, những dấu hiệu cảnhbáo được ghi nhận từ câu hỏi mở là: (1) liệt nửa người, (2) mất nhận thức, (3)đau đầu, (4) mất thăng bằng, (5) khó nói, (6) tê nửa người, (7) mất thị lực [83].Trong khi đó, nghiên cứu của Hickey Anna và cộng sự tại Ireland lại xáclập các dấu hiệu cảnh báo sau: (1) Khó nói, (2) Chóng mặt, (3) yếu một bên cơthể, (4) Đau đầu dữ dội, (5) liệt mặt, (6) Vấn đề về nhìn, (7) Khó khăn trongvấn đề hiểu lời/lú lẫn, (8) tê nửa người [55]

Trang 27

Như vậy, 1 DHCB đột quỵ có thể là tập hợp 2 hoặc 3 triệu chứng tùytheo từng nghiên cứu, tùy theo sự nhận thức của người dân ở từng quốc gia.

Và việc sử dụng câu hỏi mở để nghiên cứu và phân tích về sự nhận thứccác DHCB ĐQ cũng phụ thuộc vào việc lập nhóm các DHCB sao cho hợp

lý và có ý nghĩa [77] Nhưng nhìn chung, sự thiết lập 5 dấu hiệu như củaNINDS được sử dụng ở nhiều nghiên cứu về nhận thức về DHCB của độtquỵ Nên trong nghiên cứu của chúng tôi cũng phân nhóm chủ yếu dựa vàohướng dẫn của NINDS

1.4.2 Tầm quan trọng của việc nhận biết các dấu hiệu cảnh báo

Trong nhiều thập kỷ qua đã chứng minh, nếu chúng ta điều trị bệnhnhân ĐQ như một cấp cứu nội khoa thì sẽ cải thiện tình trạng bệnh nhânkhi ra viện và hạ tỉ lệ tử vong một cách đáng kể [8]

Điều trị tiêu huyết khối tĩnh mạch với rtPA (recombinant tissueplasminogen activator), giúp cải thiện cơ hội hồi phục mà không có tàn phếnặng ở thời điểm 90 ngày từ 26-39% nếu thực hiện trong vòng 3 giờ từ khikhởi phát đột quỵ, và vẫn có hiệu quả khi thực hiện trong vòng 4,5 giờ.Điều trị tiêu sợi huyết nên thực hiện càng sớm càng tốt, kết cục liên quantrực tiếp đến thời gian từ khi khởi phát triệu chứng đến khi bắt đầu điều trịtiêu sợi huyết [8] Gần đây, một số thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đãxác định hiệu quả của phương pháp điều trị lấy huyết khối bằng dụng cụ cơhọc, giúp tăng tỉ lệ hồi phục không phụ thuộc về mặt chức năng ở thời điểm

90 ngày Tuy nhiên, tỉ lệ bệnh nhân ĐQ thiếu máu cục bộ cấp được tiếpnhận điều trị này còn thấp mà rào cản chính là thời gian từ lúc khởi phátđến lúc được nhập viện vượt quá của sổ điều trị [26],[70] Mà liên quan đếnvấn đề nhập viện trễ chính là thiếu sự nhận biết của người dân về các triệuchứng chính cũng như những DHCB ĐQ [77], [69]

Đối với bệnh nhân bị ĐQ xuất huyết não cần được theo dõi và chăm

Trang 28

sóc nâng đỡ trong đơn vị chăm sóc tích cực Vấn đề tăng áp lực nội sọ đượctheo dõi và điều trị bằng các tác nhân thẩm thấu, phẫu thuật giải áp cho cáctrường hợp bệnh nhân có khối máu tụ nằm nông ở chất trắng gây hiệu ứngchoán chỗ và thoát vị não cũng như điều trị nguyên nhân xuất huyết nãonhư kẹp túi phình động mạch [8].

Như vậy, việc nhận thức những DHCB ĐQ và nhập viện sớm khi phát hiện

ĐQ không những làm giảm tỉ lệ tử vong mà còn cải thiện kết cục điều trị

1.5 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN SỰ NHẬN THỨC VỀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ VÀ DẤU HIỆU CẢNH BÁO CỦA ĐỘT QUỴ

Hơn 20 năm qua, đã có nhiều nghiên cứu về nhận thức ĐQ được tiếnhành trên toàn thế giới nhằm mục tiêu làm cơ sở cho việc can thiệp làmgiảm gánh nặng đột quỵ [60], [77] Cho đến nay, số lượng nghiên cứu vềvấn đề này đã tăng lên đáng kể nhất là ở các nước đang phát triển Nhữngkết quả thu được giúp chúng ta có những bằng chứng khoa học có ý nghĩa

để xây dựng các chiến lược can thiệp cụ thể và có hiệu quả hơn trong cuộcchiến làm giảm gánh nặng ĐQ toàn cầu

Đa số các nghiên cứu được thiết kế là nghiên cứu cắt ngang mô tả dựavào cộng đồng hoặc nghiên cứu trên những đối tượng đặc biệt như người bị

ĐQ, người thân của người bị ĐQ, những người có nguy cơ cao bị ĐQ nhưbệnh nhân THA, ĐTĐ [6], [9], [13] Có nghiên cứu đánh giá sự hiểu biếtbằng bộ câu hỏi mở, có nghiên cứu đánh giá bằng câu hỏi đóng, có nghiêncứu đánh giá thông qua bộ câu hỏi có nhiều lựa chọn hoặc kết hợp Phươngpháp thu thập thông tin được thực hiện bằng cách phỏng vấn qua điện thoại,phỏng vấn mặt đối mặt hoặc khảo sát qua thư từ bưu điện [60]

Sau đây là một số nghiên cứu có thiết kế tương tự như nghiên cứucủa chúng tôi đề cập đến vấn đề điều tra nhận thức về YTNC và DHCB của

ĐQ (ghi nhận bằng câu hỏi mở)

Trang 29

1.5.1 Các nghiên cứu ngoài nước

Ở Châu Âu

Nghiên cứu của Hickey và cộng sự trong cộng đồng Ireland năm 2009

Nghiên cứu được tiến hành bằng hình thức phỏng vấn qua điện thoại dựavào bộ câu hỏi mở về nhận thức đột quỵ SQA (Stroke AwarenessQuestionnaire) trên 1000 người dân từ 18 tuổi trở lên được lựa chọn ngẫu nhiêntrong cộng đồng [55] Kết quả ghi nhận: 71,1% người dân có thể kể tên được

từ 2 YTNC của ĐQ trở lên, 69,3 % kể tên tối đa được 1 BDCB của ĐQ NhữngYTNC được kể đến nhiều nhất là hút thuốc (54,7%), thừa cân (41,2%) và ít vậnđộng (32,5%) Những DHCB được kể đến nhiều nhất là nói khó (21,4%), chóngmặt (18,4%)

Nghiên cứu của Duque và cộng sự tại Bồ Đào Nha năm 2011

Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả, phỏng vấn trực tiếp 248 bệnh nhânđược chọn ngẫu nhiên từ phòng chờ tư vấn y khoa Câu hỏi về nhận thức YTNC

và DHCB ĐQ được thiết kể là câu hỏi mở và đóng kết hợp [39] Chúng tôi chỉghi nhận những câu trả lời cho bộ câu hỏi mở, kết quả như sau: Có 68,9% cóthể kể tên được ít nhất 2 YTNC ĐQ và 46,8% có thể kể tên ít nhất 2 DHCB

ĐQ Những YTNC được kể đến nhiều nhất là THA (43,5%), RLLM (34,7%),stress (28,8%) Những DHCB được kể đến nhiều nhất là liệt nửa người(33,9%), nói khó (24,2%) Phân tích hồi quy đa biến, trình độ học vấn cao có

sự nhận thức tốt về YTNC và DHCB của ĐQ Những người lớn tuổi (≥ 65 tuổi)

ít có khả năng kể tên được các YTNC hơn nhưng khi nêu tên các YTNC họ vẫnnhận thức được đó là YTNC của ĐQ (điều này một phần có thể do trí nhớ củanhững người lớn tuổi giảm đi so với người trẻ) Những người bị THA có khảnăng kể tên THA là YTNC của ĐQ hơn

Nghiên cứu của Ntaios và cộng sự ở Hy Lạp năm 2014

Đây là nghiên cứu cắt ngang, thu thập số liệu bằng hệ thống câu hỏi xây

Trang 30

dựng trực tuyến, là câu hỏi mở khi khảo sát 723 người về YTNC và DHCB của

ĐQ [78], kết quả ghi nhận: Có 88,8% có khả năng nêu ra ít nhất 1 YTNC ĐQ

và 93,08% có thể kể tên ít nhất 1 DHCB ĐQ Những YTNC được kể đến nhiềunhất là THA (65,6%), hút thuốc lá (43,7%) và béo phì (33,6%) Những dấuhiệu được kể đến nhiều nhất là liệt nửa người (49,1%), nói khó (43,8%) và liệtmặt (38,4%) Một điều đáng quan tâm ở nghiên cứu này là chỉ có 35,3%, 18,9%,17,2%, 20,7% và 15% có YTNC tương ứng là rung nhĩ, THA, RLLM, ĐTĐ vàđang hút thuốc lá cho rằng họ là những đối tượng có nguy cơ cao bị đột quỵ.Hơn nữa, chỉ có 14%, 21,4%, 46,7% có tương ứng với 2, 3 và hơn 3 YTNC chorằng họ có nguy cơ cao bị ĐQ

Ở Châu Mỹ

Nghiên cứu của Pancioli và cộng sự tại Mỹ năm 1995

Đây là nghiên cứu cắt ngang, phỏng vấn qua điện thoại với 1880 đối tượng

từ 18 đến 95 tuổi với bộ câu hỏi mở về YTNC và DHCB của ĐQ [82] Kết quảghi nhận: 68% người dân có thêt kể tên ít nhất 1 YTNC ĐQ và 57% có thể kểtên ít nhất 1 DHCB ĐQ trong đó 28% có thể kể tên được từ 2 DHCB trở lên.Những YTNC được kể đến nhiều nhất là THA (49%), stress (23%), chế độ ănkhông hợp lý (20%) Phân tích hồi quy đa biến cho thấy những yếu tố liên quanđến sự nhận thức tốt hơn về các YTNC và DHCB ĐQ là tuổi (< 75 tuổi), nữgiới, người da trắng, có trình độ học vấn cao Những người có tiền sử THA có

tỉ lệ nhận thức về YTNC ĐQ tốt hơn những người không có tiền sử THA Còn

sự nhận thức DHCB ĐQ thì có tỉ lệ cao hơn ở những người có tiền sử THA,hút thuốc, tiền sử bị ĐQ/TIA

Nghiên cứu của Gomes và cộng sư ở Brazil năm 2011

Nghiên cứu cắt ngang, phỏng vấn trực tiếp 1213 người dân qua bộ câuhỏi soạn sẵn được thực hiện bởi nhóm sinh viên y khoa đã được huấn luyện

kỹ càng bởi các bác sĩ thần kinh Nhận thức về YTNC ĐQ và DHCB ĐQ

Trang 31

được thu thập bằng câu hỏi mở [53] Kết quả ghi nhận: 35% người tham gialiệt kê được ít nhất 3 YTNC và 17,9% có thể liệt kê được ít nhất 3 DHCB

ĐQ Những YTNC được kể đến nhiều nhất là THA (41,8%), hút thuốc(25,8%), căng thẳng (25,8%) Những DHCB được đề cập đến dị cảm(33,7%), đau đầu (27,8%), chóng mặt/mất điều hợp/mất thăng bằng (20,8%).Những người có trình độ học vấn cao hơn có tỉ lệ nhận thức tốt hơn cả vềYTNC và DHCB ĐQ

Ở Châu Úc

Nghiên cứu của Yoon và cộng sự tại Australia năm 1999

Nghiên cứu cắt ngang, phỏng vấn qua điện thoại 822 người dân vớicâu hỏi mở cho sự nhận thức về YTNC và DHCB của ĐQ [102] Kết quảghi nhận: Có 76,2%, 50,2%, 24,1% lần lượt liệt kê được 1 YTNC, 2YTNC

và 3 YTNC của ĐQ 49,8%, 26,2%, 8,8% lần lượt kể tên đúng được 1, 2, 3DHCB của ĐQ Các YTNC được kể đến là hút thuốc (39,4%), stress(33,7%), chế độ ăn không hợp lý (32,2%) Những DHCB được kể đếnnhiều nhất là mất thị lực (24,1%), đau đầu (22,3%)

Ở Châu Phi

Nghiên cứu của Mvula và cộng sự tại Malawi năm 2016-2017

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào cộng đồng, phỏng vấntrực tiếp 793 người dân bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn, tiếp cận nhậnthức về YTNC và DHCB đột quỵ bằng bộ câu hỏi mở [76] Kết quả ghinhận 71% không biết bất kỳ YTNC nào và 71,6% có thể biết ít nhất 1 DHCB

ĐQ Tăng huyết áp là YTNC được kể đến nhiều nhất với tỉ lệ 19,8% DHCBđược kể đến nhiều nhất là liệt mặt (28%) và nói khó (11,8%) Những yếu

tố liên quan đến tỉ lệ nhận thức thấp về cả YTNC và DHCB của ĐQ baogồm những người có trình độ học vấn thấp, nghèo đói, nam giới và nhữngngười chưa từng kết hôn

Trang 32

Nghiên cứu của Olorukooba và cộng sự ở cộng đồng Nigeria năm 2015

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang dựa vào cộng đồng với 133 đối tượngtham gia nghiên cứu từ 18 tuổi trở lên hoàn thành cuộc phỏng vấn [79] Kếtquả ghi nhận 78,2% có nhận thức không đạt về YTNC của ĐQ (có thể kể tênđược tối đa 1 YTNC của ĐQ), 21,8% có nhận thức đạt (kể tên được từ 2 YTNCtrở lên) Các YTNC được kể đến nhiều nhất là THA (59,4%), tiếp đến là stress(51,1%), bệnh tim (47,4%) Có tỉ lệ nhận thức tốt hơn ở nữ giới và những người

có trình độ học vấn cao hơn

Nghiên cứu của Osama và cộng sự tại Ai Cập năm 2014

Nghiên cứu cắt ngang mô tả, phỏng vấn mặt đối mặt trên 720 người dân

từ 18 tuổi trở lên (360 ở thành thị và 360 ở nông thôn) [80] Kết quả ghi nhận68,6% và 68,2% không biết về YTNC và DHCB của ĐQ THA và stress là 2YTNC được kể đến nhiều nhất với tỉ lệ lần lượt là 15,8% và 15,6% Và liệt nửangười là DHCB được xác định nhiều nhất khi dùng câu hỏi mở với tỉ lệ 26,9%

Có tỉ lệ nhận thức thấp về YTNC ĐQ ở những người sống ở nông thôn so vớinhững người sống ở thành thị Không có sự khác biệt giữa nông thôn và thànhthị trong sự nhận thức về DHCB ĐQ

Ở Châu Á

Nghiên cứu của Pandian và cộng sự tại Ấn Độ năm 2002

Nghiên cứu cắt ngang mô tả 942 đối tượng từ 15 đến 80 tuổi Nhận thức

về YTNC và DHCB đột quỵ được ghi nhận bằng bộ câu hỏi mở [83] Kết quảghi nhận: Có 51,2%, 18,5%, 9,7% lần lượt là tỉ lệ xác định được 1, 2, từ 3YTNC của ĐQ trở lên và có 55%, 16,2%, 6,2% lần lượt là tỉ lệ xác định được

1, 2, từ 3 DHCB ĐQ trở lên Các YTNC được xác định nhiều nhất bao gồm:THA (45,1%), stress (40,9%), ĐTĐ (10,7%) DHCB được xác định nhiều nhất

là liệt nửa người với tỉ lệ 62,2% Trong phân tích hồi quy đơn biến thì nhữngngười có trình độ học vấn cao hơn và người Hindu có tỉ lệ nhận thức tốt hơn về

Trang 33

YTNC ĐQ, trong khí những người có điều kiện kinh tế tốt hơn thì có tỉ lệ nhậnthức tốt hơn về DHCB ĐQ.

Nghiên cứu của Chhabra và cộng sự tại vùng Tây Bắc Ấn Độ 2017

Đây là nghiên cứu cắt ngang, phỏng vấn qua điện thoại trên 350 ngườitrưởng thành từ 18 tuổi trở lên tại miền bắc Ấn Độ Câu hỏi đánh giá sựnhận thức về YTNC và DHCB của ĐQ là câu hỏi mở [34] Kết quả ghinhận: 28,85% không biết về YTNC của ĐQ và 46% không biết về DHCBcủa ĐQ Những YTNC được kể đến là THA (58,57%), chế độ ăn khônghợp lý (43,71%), RLLM (26,85%), hút thuốc (22,28%) DHCB được kể đếnnhiều nhất là nói khó/không hiểu lời với tỉ lệ 22,9%

Nghiên cứu của Sadeghi-Hokmabadi và cộng sự tại Iran năm 2015-2016

Nghiên cứu này được thiết kế cắt ngang mô tả, phỏng vấn trực tiếp

2712 người đến khám tại bệnh viện Renza từ tháng 3 năm 2015 đến tháng

2 năm 2016 [90] Kết quả ghi nhận: 20,2% không biết bất kỳ YTNC ĐQ và71,2% không thể kể tên bất kỳ DHCB nào Những YTNC được kể đến nhiềunhất là stress (65,9%), THA (38,3%), ĐTĐ (16,2%) Những DHCB được

đề cập đến nhiều nhất là rối loạn cảm giác nửa người (15,2%), đột ngột téngã (11,7%)

Nghiên cứu của Aly và cộng sự tại cộng đồng Pakistan năm 2007

Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 398 người đến khám tại bệnhviện Đại học Aga Khan [19] Nhận thức về YTNC và DHCB của ĐQ đượcthu thập bằng bộ câu hỏi mở, kết quả như sau: Có 13% không thể kể tên bất

kỳ YTNC nào và 11,6% không thể kể tên bất kỳ DHCB nào Những YTNCđược kể đến nhiều nhất là THA (69,1%), stress (55,8%), RLLM (36,7%).Những DHCB được kể đến là yếu cơ thể/mặt (71,4%), tê người/mặt(60,6%) Những người trẻ tuổi (< 40 tuổi) và trình độ học vấn cao hơn có

tỉ lệ nhận thức tốt hơn cả về YTNC và DHCB ĐQ

Trang 34

6.2 Nghiên cứu tại Việt Nam

Nghiên cứu của Vũ Anh Nhị, Lê Văn Tuấn và cộng sự năm 2003 tại khoa Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy, TP Hồ Chí Minh

Với cỡ mẫu là 200 người tham gia nghiên cứu bao gồm 42 người bệnh

và 158 thân nhân người bệnh ĐQ, tìm hiểu về YTNC của ĐQ dựa vào bảng câuhỏi được thiết kế sẵn ở dạng đóng [9] Kết quả ghi nhận được: Có 97,6% ngườibệnh và 96,8% người nhà nhận biết được ít nhất 1 YTNC Có 92,8% ngườibệnh và 93,7% người nhà nhận biết ít nhất 1 DHCB của ĐQ

- Trong nhóm người bệnh có tiền sử THA có 89,5% người bệnh và 100%người nhà nghĩ rằng THA chính là nguy cơ gây ĐQ Trong nhóm người bệnhkhông bị THA thì 100% người bệnh và 91% người nhà nghĩ rằng THA chính

là nguy cơ gây ĐQ

- Trong nhóm người bệnh có tiền sử ĐTĐ thì 100% người bệnh và 83,3%người nhà nghĩ rằng ĐTĐ chính là nguy cơ gây ĐQ Ngược lại, trong nhómngười bệnh không bị ĐTĐ thì 70% người bệnh và 59,2% người nhà nghĩ rằngĐTĐ là yếu tố nguy cơ gây đột quỵ

- Nghiên cứu chỉ ra có 85,7 % người bệnh và 80% người nhà nghĩ rằngtiền sử ĐQ/TIA là YTNC gây ĐQ

Nghiên cứu của Lý Thị Kim Thương và Đinh Hữu Hùng tại Gia Lai năm 2016

Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên 396 người dân từ

18 tuổi trở lên bằng cách phỏng vấn trực tiếp thông qua bộ câu hỏi soạn sẵn.Câu hỏi mở điều tra nhận thức về YTNC và DHCB của ĐQ [11] Kết quả ghinhận: Tỉ lệ nhận thức không đạt về YTNC và DHCB của ĐQ lần lượt là 51,3%

và 58,8%, không biết bất kỳ YTNC nào là 49% Các YTNC được kể đến nhiềunhất với tỉ lệ tương ứng là stress (40,2%), THA (39,6%), ít vận động (35,6%).Những DHCB được kể đến nhiều nhất với tỉ lệ tương ứng là: chóng mặt(56,8%), đau đầu (50,5%) Có tỉ lệ nhận thức tốt hơn cả về YTNC và DHCB ở

Trang 35

những người có thu nhập cao hơn và làm công nhân viên chức, trong khi trình

độ văn hóa cao hơn có tỉ lệ nhận thức tốt hơn về các YTNC của ĐQ

Như vậy, tại Việt Nam nghiên cứu về vấn đề nhận thức về YTNC vàDHCB của ĐQ còn hạn chế Bên cạnh đó phần lớn các nghiên cứu được tiếnhành trong bệnh viện, trên nhóm đối tượng đặc biệt như có bệnh THA [13], haybệnh nhân bị ĐQ [9]

Trang 36

CHƯƠNG 2

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.1.1 Dân số nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu

2.1.2.1 Tiêu chuẩn chọn vào

- Là những người dân từ 18 tuổi trở lên, có hộ khẩu thường trú và đangsinh sống trên địa bàn Thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk từ 6 tháng trởlên tính đến thời điểm nghiên cứu

- Đồng ý tham gia vào nghiên cứu

2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại ra

- Người mất năng lực hành vi, tâm thần, câm, điếc, không đi lại được,không có khả năng giao tiếp,

- Người vắng mặt tại địa phương trong thời điểm điều tra sau hai lần mờihoặc tiếp xúc mà không gặp được,

- Người là khách vãng lai

Trang 37

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Đây là nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.2.2.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được tính theo công thức dành cho nghiên cứu cắt ngang mô tả

có xác định tỉ lệ trong quần thể:

Z 2 (1- α/2) x p (1-p )

+ Đối với mục tiêu xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các yếu tố nguy

cơ đột quỵ, chúng tôi chọn p = 0,782 (theo nghiên cứu có thiết kế tương tự củaOlorukooba và cs [79]) Thay vào công thức, ta tính được n = 262

+ Đối với mục tiêu xác định tỉ lệ nhận thức không đạt về các dấu hiệu cảnhbáo đột quỵ, chúng tôi chọn p = 0,776 (theo nghiên cứu có thiết kế tương tựcủa Pandian và cs [82]) Thay vào công thức, ta tính được n = 268

Như vậy, cỡ mẫu cần cho nghiên cứu này là 268 Bởi vì đây là nghiêncứu trong cộng đồng với phương pháp chọn mẫu nhiều giai đoạn nên chúng tôichọn hệ số thiết kế là 1,5 và đồng thời dự phòng trường hợp mất mẫu (khoảng5%) nên cỡ mẫu thực tế cần có là: 268 x 1,5 x 1,05 ≈ 423

Trang 38

2.2.2.2 Phương pháp chọn mẫu

- Bước 1: Chọn ngẫu nhiên ra 7 xã/phường (cụm) trong Thành phố Buôn

Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk bằng phương pháp chọn mẫu PPS (probabilityproportional to size - chọn mẫu xác suất tỉ lệ với kích thước quần thể) Nhưvậy, để đảm bảo cỡ mẫu thì mỗi cụm cần cần thu thập khoảng 61 đối tượngnghiên cứu

- Bước 2: Chọn hộ gia đình theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống từ mỗicụm Với ước tính mỗi hộ gia đình có 2 người thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫuthì mỗi cụm sẽ cần chọn ra 31 hộ gia đình Cách làm như sau:

+ Lập khung mẫu,

+ Xác định đơn vị mẫu,

+ Tính khoảng cách mẫu,

+ Chọn ngẫu nhiên hộ gia đình đầu tiên,

+ Chọn các hộ gia đình tiếp theo theo quy luật cho đến khi đủ 31 hộ gia đình

- Bước 3 (chọn đối tượng nghiên cứu): Chọn tất cả các thành viên trong

hộ gia đình được chọn đủ tiêu chuẩn chọn mẫu tham gia vào nghiên cứu

2.2.3 Thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2020 đến tháng 07/2020 Trong

đó, thời gian thu thập số liệu là từ tháng 01/2020 đến tháng 03/2020

2.2.4 Các biến số trong nghiên cứu

2.2.4.1 Các biến số về dân số học

- Tuổi: Biến số định lượng, không liên tục và được chuyển thành biến số thứ

tự, bao gồm 3 nhóm: Từ 18 – 44 tuổi, từ 45 – 64 tuổi, từ 65 tuổi trở lên

- Giới tính: Biến số nhị giá: Nam và Nữ

- Dân tộc: Biến số nhị giá, có 2 giá trị: Kinh, dân tộc thiểu số.

- Trình độ học vấn: Biến số thứ tự, bao gồm các nhóm: Từ tiểu học trở xuống,

Trang 39

trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học/cao đẳng trở lên.

- Nghề nghiệp: Biến số danh định, bao gồm các nhóm: Công nhân viên chức,

nông dân, nội trợ, buôn bán, nghề khác

- Tình trạng hôn nhân: Biến số danh định, nhị giá: Đã kết hôn (gồm đang

sống với vợ/chồng, ly hôn/ly thân, góa) và chưa kết hôn

2.2.4.2 Biến số về tiền sử có một số yếu tố nguy cơ đột quỵ

- Tiền sử tăng huyết áp: Biến số nhị giá, bao gồm:

+ Có: Đã từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị tăng huyết áp

+ Không: Chưa từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị tăng huyết áp

- Tiền sử đái tháo đường: Biến số nhị giá, bao gồm:

+ Có: Đã từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị đái tháo đường

+ Không: Chưa từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị đái tháo đường

- Tiền sử rối loạn lipid máu (rối loạn mỡ máu): Biến sốnhị giá, bao gồm:+ Có: Đã từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị rối loạn lipid máu (rối loạn

mỡ máu)

+ Không: Chưa từng được cán bộ y tế thông báo về việc bị rối loạn lipid máu(rối loạn mỡ máu)

- Tiền sử gia đình có người thân bị đột quỵ: Biến số nhị giá, bao gồm:

+ Có: Trong gia đình có người cùng huyết thống bị đột quỵ

+ Không: Không thỏa mãn tiêu chuẩn trên

2.2.4.3 Biến số về sự nhận thức các yếu tố nguy cơ và dấu hiệu cảnh báo đột quỵ

- Biến số về nhận thức các yếu tố nguy cơ của đột quỵ: Đây là biến số nhị

giá, bao gồm:

+ Đạt: kể được ít nhất 2 YTNC trong các YTNC của ĐQ (gồm: lớn tuổi, tiền

sử bản thân bị ĐQ/cơn thoáng thiếu máu não, tiền sử gia đình có người thân bị

ĐQ, THA, ĐTĐ, bệnh tim mạch (rung nhĩ, bệnh mạch vành, suy tim, bệnh van

Trang 40

tim), béo phì, hút thuốc lá, uống nhiều rượu/bia, rối loạn mỡ (lipid) máu, ít hoạtđộng thể lực, stress/lo âu, chế độ ăn không hợp lý (ăn mặn, ăn nhiều nội tạngđộng vật, ít ăn rau xanh và trái cây) [55], [79], [83].

+ Không đạt: không thỏa mãn các tiêu chuẩn trên

- Biến số về nhận thức các dấu hiệu cảnh báo đột quỵ: Đây là biến số nhị

giá, bao gồm:

+ Đạt: Kể được ít nhất 2 dấu hiệu cảnh báo trong các dấu hiệu cảnh báo của

ĐQ sau: (1) Đột ngột tê hoặc yếu liệt vận động nửa người/mặt, (2) Đột ngộtmất ý thức, (3) Đột ngột nói khó hoặc không nói được/đột ngột giảm khả năngthông hiểu, (4) Đột ngột chóng mặt hoặc mất thăng bằng, đi đứng khó khăn,(5) Đột ngột giảm khả năng nhìn ở một hoặc hai mắt, (6) đột ngột đau đầu dữdội không rõ nguyên nhân [55], [77], [79], [83]

+ Không đạt: không thỏa mãn các tiêu chuẩn trên

2.2.5 Thu thập số liệu

2.2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi đã soạn sẵn (có dựa theo hướng dẫncủa Tổ chức Y tế thế giới, các nghiên cứu trước đây ở trên thế giới và ViệtNam) Các câu hỏi về nhận thức là câu hỏi mở, không có gợi ý

Những người có đủ tiêu chuẩn chọn mẫu sẽ được mời đến trạm y tế xã/phường để phỏng vấn theo một quy trình cụ thể, chặt chẽ, và thống nhất

* Tổ chức thu thập số liệu tại thực địa:

Việc thu thập số liệu tại mỗi cụm được thực hiện theo một quy trình cụ thể

và thống nhất Trong đó, có 2 nhân viên y tế tại địa phương của trạm xá/y tế thônbuôn làm nhiệm vụ hướng dẫn người tham gia và thông dịch (khi cần thiết).Tại mỗi cụm, việc điều tra sẽ được tiến hành trong khoảng 1 ngày Trước

đó, nhóm nghiên cứu chúng tôi và các nhân viên y tế tại địa phương (trạm xá

Ngày đăng: 29/03/2021, 00:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w