1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY MƯA CHO KHU VỰC TỈNH BÌNH ĐỊNH LUẬN VĂN THẠC SỸ

79 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 5,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc phân phối mưa theo không gian có ảnh hưởng nhất định đến kết quả nghiên cứu, phân tích chế độ dòng chảy của lưu vực, đặc biệt là đối với các lưu vực lớn.. Chất lượng dữ liệu

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

Trang 2

KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY

Người hướng dẫn khoa học: TS Võ Ngọc Dương

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Ngô Vĩnh Khánh

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN i

MỤC LỤC ii

TÓM TẮT LUẬN VĂN iv

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÝ HIỆU v

CÁC KÝ HIỆU vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH viii

MỞ ĐẦU 9

1 Tính cấp thiết của đề tài: 9

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài: 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 11

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài: 11

5 Nội dung nghiên cứu: 11

6 Phương pháp nghiên cứu: 12

7 Ý nghĩa thực tiễn đề tài: 12

8 Bố cục và nội dung luận văn 12

Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu và hiện trạng mạng lưới trạm đo 12

Chương 2: So sánh các phương pháp nội suy mưa hiện có 12

Chương 3: Phân phối lại lượng mưa theo không gian cho khu vực Bình Định 12

Kết luận và Kiến nghị 12

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI TRẠM ĐO 13

1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 13

1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên: 13

1.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn: 16

1.1.3.Tài nguyên thiên nhiên 27

1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 29

1.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế 29

1.2.2 Điều kiện sản xuất nông nghiệp 32

1.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện: 36

1.2.4 Vấn đề ngập lụt ở khu vực nghiên cứu 37

1.3 Mạng lưới trạm khí tượng thủy văn và cơ sở dữ liệu khu vực nghiên cứu 41

1.3.1.Mạng lưới trạm đo: 41

1.3.2 Thực trạng dữ liệu: 41

1.3.3.Nguyên tắc sử dụng số liệu: 42

Chương 2: SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY MƯA HIỆN CÓ 43

2.1 Giới thiệu: 43

2.2 Phương pháp: 43

Trang 5

2.4 Lựa chọn phương pháp nội suy: 45

2.4.1 Inverse Distance Weight (IDW) 47

2.4.2 Spline 48

2.4.3 Kriging 48

2.4.4 Thiessen polygon 49

2.4.5 Nhận xét chung về 4 thuật toán 50

2.5 Phương pháp nội suy truyền thống (phương pháp tất định) 51

2.6 Phương pháp địa thống kê 51

2.7 Phương pháp so sánh kết quả: 51

Chương 3: PHÂN PHỐI LẠI LƯỢNG MƯA THEO KHÔNG GIAN CHO KHU VỰC BÌNH ĐỊNH 53

3.1 Dữ liệu: 53

3.2 Phương pháp nội suy: 55

3.3 Kết quả: 55

3.3.1 Kết quả nội suy tại các trạm 55

3.3.2 Bản đồ nội suy mưa 59

3.3.2.1 Kết quả nội suy mưa trung bình 59

3.3.2.2 Kết quả nội suy mưa lớn nhất ngày 63

3.4 So sánh các phương pháp 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 71

KẾT LUẬN 71

KIẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 66

PHỤ LỤC……… 67

1 Inverse Distance Weight (IDW) 75

2 SPLINE 75

3 KRIGING 76

Trang 6

TÓM TẮT LUẬN VĂN

SO SÁNH CÁC PHƯƠNG PHÁP NỘI SUY MƯA CHO KHƯ VỰC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Học viên: Ngô Vĩnh Khánh Chuyên ngành: Kỹ thuật XD công trình thủy

Mã số:60580202.Khóa:2016-2018.Trường Đại học Bách khoa– ĐHĐN

Tóm tắt: Mưa được xem là yếu tố then chốt, ảnh hưởng lớn đến chế độ thủy

văn của lưu vực Điều này đã được khẳng định thông qua nhiều nghiên cứu trước đây

Do đó, việc phân phối mưa theo không gian có ảnh hưởng nhất định đến kết quả nghiên cứu, phân tích chế độ dòng chảy của lưu vực, đặc biệt là đối với các lưu vực lớn Chất lượng dữ liệu mưa phân phối theo không gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong phạm vi một lưu vực thì mật độ trạm đo được xem là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình hình thành dòng chảy Mật độ trạm đo mưa càng dày, càng thể hiện được chi tiết quá trình mưa diễn ra trong lưu vực, từ đó cho kết quả chính xác hơn trong nghiên cứu chế độ thủy văn của lưu vực Với mục đích nâng cao chất lượng của việc phân phối mưa theo không gian, xây dựng một cơ sở dữ liệu mưa không gian phục vụ cho việc nghiên cứu chế độ thủy văn các lưu vực trên địa bàn tỉnh, nghiên cứu này tiến hành so sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp phân phối mưa theo không gian căn cứ trên các đặc trưng mưa thực tế của tỉnh Bình Định Nội suy dựa trên mô hình ArcGis được hy vọng cung cấp những điều cơ bản hữu ích cho chính quyền địa phương để giảm thiểu các tác động bất lợi từ mưa gây ra

Từ khóa – mưa Bình Định, phương pháp nội suy, mô hình ArcGis

COMPARISON OF METHOD RAIN INTERPOLATION FOR BINH DINH PROVINCE Abstract: The rain is considered the key factor, greatly affecting the

hydrological regime of the basin This has been confirmed through many previous studies Therefore, the distribution of rainfall by space has a certain impact on the study results and analyses of the flow regime of the basin, especially for large basins The quality of rain data which is distributed by space depends on many factors, within

a basin, the density of the rain gauge station is considered as the most important factor and has the greatest influence on the formation of the flow The more the density of the rain gauge station, the more detailed the rain process takes in the basin, from that give for more accurate results in researching on the hydrological regime of the basin For the purpose of improving the quality of distribution of rainfall by space, building a spatial rain database for the study of hydrological regime of basins in the province This research conducts comparison about advantages and disadvantages of the method rain distribution according to the space based on the actual rainfall characteristics of Binh Dinh Province Interpolation based on the ArcGIS model is expected to provide

useful basics for local governments to mitigate adverse impacts from rain

Keyword: Binh Dinh rain, interpolation method, ArcGIS model

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT, CÁC KÝ HIỆU

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

KTTV Khí tượng thủy văn

GIS Geography Information System

Trang 8

CÁC KÝ HIỆU

RMSE Sai số tuyệt đối từng cặp giá trị

E Sai số tương quan về từng cặp

Trang 9

Bảng 1.1 Phân loại đất và tổng hợp các loại đất tỉnh Bình Định 16

Bảng 1.2 Một số đặc trưng lượng mưa năm tỉnh Bình Định 18

Bảng 1.3 Phân phối lượng mưa năm tại các trạm 20

Bảng 1.4 Đặc trưng hình thái các lưu vực sông tỉnh Bình Định 20

Bảng 1.5 Đặc trưng dòng chảy các sông chính trong tỉnh 24

Bảng 1.6 Mực nước triều max thiết kế trạm Quy Nhơn ứng với các tần suất 27

Bảng 1.7 Mực nước triều min thiết kế trạm Quy Nhơn ứng với các tần suất: 27

Bảng 1.8 Tỷ lệ tăng dân số của tỉnh 29

Bảng 1.9 Dân số trung bình tỉnh theo đơn vị huyện ĐV: 1000 người 30

Bảng 1.10 Phân loại lực lượng lao động ĐV: 1000 người 30

Bảng 1.11 Hiện trạng sử dụng đất vùng hồ Định Bình 33

Bảng 1.12 Hiện trạng cơ cấu cây trồng vùng hồ Định Bình 35

Bảng 1.13.Thống kê thiệt hại lũ lụt 2 năm 1998 – 1999 các huyện thuộc 38

Bảng 1.14 Thống kê các trận lũ lịch sử của tỉnh Bình Định 39

Bảng 3.1 Các trạm đo mưa sử dụng cho nội suy mưa không gian khu vực tỉnh Bình Định 53

Bảng 3.2 Giá trị mưa trung bình ngày và giá trị mưa lớn nhất ngày thực đo và mô phỏng.(mm/ngày) 67

Bảng 3.3 Giá trị các tham số thống kê so sánh tại các trạm 68

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 14

Hình 1.2 Bản đồ phân bố lượng mưa năm tỉnh Bình Định 19

Hình 1.3 Bản đồ phân bố sông ngòi và các trạm KTTV tỉnh Bình Định 26

Hình 2.1 Quy trình so sánh lựa chọn phương pháp nội suy mưa không gian 44

Hình 2.2 Phần mềm ARCGIS 45

Hình 2.3 Nội suy theo không gian 46

Hình 2.4 Nội suy mưa theo không gian 46

Hình 2.5.Inverse Distance Weighted 47

Hình 2.6.Spline 48

Hình 2.7 Kriging 49

Hình 2.8.Thiessen polygon 50

Hình 2.9 Sơ đồ phương pháp kiểm định chéo 52

Hình 3.1 Khu vực tính toán, trạm mưa tính toán và vị trí trạm so sánh 54

Hình 3.2 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm An Hòa 55

Hình 3.3 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm An Khê 56

Hình 3.4 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Bình Tường 56

Hình 3.5 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Bồng Sơn 56

Hình 3.6 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Đề Gi 57

Hình 3.7 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Hoài Ân 57

Hình 3.8 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Quy Nhơn 57

Hình 3.9 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Sa Huynh 58

Hình 3.10 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Vân Canh 58

Hình 3.11 Lượng mưa trung bình ngày theo tháng tại trạm Vĩnh Kim 58

Hình 3.12 Bản đồ phân bố giá trị mưa trung bình ngày theo phương pháp IDW 59

Hình 3.13 Bản đồ phân bố giá trị mưa trung bình ngày theo phương pháp Spline 60

Hình 3.14 Bản đồ phân bố giá trị mưa trung bình ngày theo phương pháp Kriging 61

Hình 3.15 Bản đồ phân bố giá trị mưa trung bình ngày theo phương pháp Thiessen 62

Hình 3.16 Bản đồ phân bố giá trị mưa lớn nhất ngày theo phương pháp IDW 63

Hình 3.17 Bản đồ phân bố giá trị mưa lớn nhất ngày theo phương pháp Spline 64

Hình 3.18 Bản đồ phân bố giá trị mưa lớn nhất ngày theo phương pháp Kriging 65

Hình 3.19 Bản đồ phân bố giá trị mưa lớn nhất ngày theo phương pháp Thiessen 66

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài:

Mưa được xem là yếu tố then chốt, ảnh hưởng lớn đến chế độ thủy văn của lưu vực Điều này đã được khẳng định thông qua nhiều nghiên cứu trước đây Do đó, việc phân phối mưa theo không gian có ảnh hưởng nhất định đến kết quả nghiên cứu, phân tích chế độ dòng chảy của lưu vực, đặc biệt là đối với các lưu vực lớn Chất lượng dữ liệu mưa phân phối theo không gian phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong phạm vi một lưu vực thì mật độ trạm đo được xem là yếu tố quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất đến quá trình hình thành dòng chảy Mật độ trạm đo mưa càng dày, càng thể hiện được chi tiết quá trình mưa diễn ra trong lưu vực, từ đó cho kết quả chính xác hơn trong nghiên cứu chế độ thủy văn của lưu vực Hiện nay, mặc dầu đã được nghiên cứu và phân tích nhiều nhưng các nhà khoa học vẫn chưa đưa ra một tiêu chí cụ thể như thế nào là một mật độ trạm hợp lý cho một lưu vực Duy chỉ một vài đề xuất dựa trên thực tế nghiên cứu của một vài lưu vực cụ thể Ví dụ như, sau khi nghiên cứu cho lưu vực Lee ở Anh, nhóm tác giả Segond cho rằng đối với những lưu vực lớn hơn 1,000 km2 thì số trạm đo tối thiểu phải là 16 trạm, còn đối với những lưu vực nhỏ dao động trong khoản 80 km2 đến 280 km2 thì cần 4 trạm tới 7 trạm Trong khi đó, tổ chức khí tượng thế giới (World Meteorological Organization, viết tắt tên tiếng Anh WMO) khuyến cáo rằng đối với khu vực vùng đồng bằng một trạm có thể bao phủ một phạm vi khoảng 600 km2 đến 900 km2, ngược lại đối với khu vực miền núi thì con số này là 100 km2 đến 250 km2 Tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan, việc đạt được một mật độ trạm hợp

lý đủ để thể hiện đặc trưng mưa của một lưu vực là rất khó Điều này phụ thuộc vào rất nhiều vấn đề, từ diện tích lưu vực, địa hình lưu vực, đặc điểm khí tượng thủy văn của lưu vực, cũng như là vấn đề về kinh tế và vận hành các trạm đo, nhất là đối với các nước đang phát triển cũng như là ở các lưu vực có diện tích lớn Do đó, để nâng cao chất lượng mô phỏng quá trình mưa dòng chảy cho một lưu vực việc phân phối lại lượng mưa theo không gian dựa trên số liệu của các trạm đo là hết sức cần thiết

Bình Định nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.071km2, dân số trung bình 1.524,6 nghìn người, trong đó khu vực thành thị là 473,8 nghìn người (chiếm 31,1%), nông thôn 1050,8 nghìn người (chiếm 68,9%) Trên địa bàn tỉnh, hiện

Trang 12

nay có 03 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, 02 huyện trung du miền núi, 26 xã đặc biệt khó khăn, 18 xã bãi ngang ven biển

Là tỉnh có nhiều thuận lợi giao lưu với bên ngoài bởi cảng biển Quy Nhơn (1 trong 10 cảng biển lớn của nước ta), sân bay Phù Cát, hệ thống Quốc

lộ 1A, 1D, đường sắt Bắc Nam chạy qua và đường Quốc lộ 19 nối cảng biển Quy Nhơn với Trung tâm vùng Bắc Tây Nguyên, vùng Nam Lào và Đông Bắc Campuchia Bờ biển Bình Định dài 134km chạy từ thành phố Quy Nhơn đến Hoài Nhơn, một bên là núi một bên là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, đều là vị trí thuận lợi để phát triển du lịch

và nuôi trồng thủy, hải sản

Trong thời gian qua, Bình Định là nơi thường xuyên chịu ảnh hưởng nặng

nề của mưa lũ, đặc biệt trong năm 2016 với 05 đợt lũ từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 12 đã gây thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi và dân sinh, ước tính thiệt hại đến hơn 2.200 tỷ đồng Trong đó, 39 người chết và mất tích, 908 nhà sập hoàn toàn, 409 nhà hư hỏng; thiệt hại về giao thông: 240,7 km đường bị hư hỏng, sạt lở, 113 cống tiêu và 57 cầu bị sập, hư hỏng, 310 điểm sạt

lở nặng, ách tắc giao thông; Về thủy lợi, đê điều: 86,67 km đê, kè bị sạt lở nặng, 285,3 km kênh mương bị sạt lở, bồi lấp, 227 đập tạm, đập dâng nhỏ bị hư hỏng,

32 km bờ sông bị sạt lở Đối với ngành nông nghiệp, sản xuất hầu như bị mất trắng Do vậy việc nghiên cứu chế độ thủy văn của các lưu vực sông trên địa bàn tỉnh Bình Định là yêu cầu cấp bách hiện nay Tuy nhiên cũng giống như thực trạng của các khu vực khác trên cả nước, mạng lưới trạm đo mưa hiện nay trên khu vực Bình Định hiện còn khá thưa, gần như chưa đáp ứng được yêu cầu thể hiện quá trình mưa diễn ra trên các khu vực của tỉnh Mặc dù trong những năm qua, đã có nhiều dự án lắp đặt các trạm đo mưa nhằm nâng cao mật độ trạm trên địa bàn tỉnh, nhưng vì kinh phí đầu tư còn hạn chế, công nghệ áp dụng còn chưa đồng bộ, dữ liệu từ các trạm mới này còn rất ngắn chưa đáp ứng được yêu cầu Những hạn chế này đã và đang gây ra không ít khó khăn trong việc nghiên cứu chế độ thủy văn của các sông lớn trên địa bàn tỉnh Bình Định Do đó việc tiến hành phân phối lượng mưa theo không gian cho khu vực tỉnh Bình Định là hết sức cần thiết

Với sự phát triển của toán học, hiện có rất nhiều phương pháp khác nhau

để phân phối dữ liệu mưa theo không gian Nhưng về cơ bản chúng tập trung vào hai phương pháp sau, phương pháp tất định và phương pháp địa thống kê Loại đầu tiên cổ điển hơn, bao gồm phương pháp đa giác thái sơn (Thiessen polygon), phương pháp khoảng cách nghịch đảo có trọng số (Inverse Distance

Trang 13

Weighting IDW), phương pháp đường đẳng trị (Spline), phương pháp lân cận tự nhiên (natural neighbor) Những phương pháp nội suy này đã xuất hiện từ rất lâu, khá đơn giản, do đó được áp dụng nhiều trong thực tế và đã khẳng định giá trị nhất định trong việc phân bố lại lượng mưa trong không gian, giúp hạn chế được phần nào ảnh hưởng của mạng lưới trạm đo mưa lên kết quả phân phối lượng mưa theo không gian Tuy nhiên, các phương pháp nội suy cổ điển này không có khả năng kể đến ảnh hưởng của các yếu tố khác (địa hình, độ dốc, gió, nhiệt độ, khoảng cách so với bờ biển ….) đến phân phối mưa theo không gian cho nên theo nhiều chuyên gia thì độ chính xác của các phương pháp này chưa thật cao Những yếu điểm trên có thể khắc phục được với các đặc tính nổi trội của các phương pháp nội suy địa thống kê, như nội suy Krigging, phương pháp hồi quy theo trọng số địa lý (Geographically Weighted Regression viết tắt tên tiếng Anh GWR) Với những phương pháp này thì việc kể đến ảnh hưởng của các yếu tố có thể ảnh hưởng đến lượng mưa trở nên dễ dàng hơn, qua đó nâng cao tính chính xác của số liệu mưa nội suy

Với mục đích nâng cao chất lượng của việc phân phối mưa theo không gian, xây dựng một cơ sở dữ liệu mưa không gian phục vụ cho việc nghiên cứu chế độ thủy văn các lưu vực trên địa bàn tỉnh, luận văn này tiến hành so sánh ưu, nhược điểm của các phương pháp phân phối mưa theo không gian căn cứ trên các đặc trưng mưa thực tế của tỉnh Bình Định

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

- So sánh, phân tích các ưu nhược điểm của các phương pháp nội suy mưa ứng với các đặc trưng mưa của tỉnh Bình Định

- Xây dựng cơ sở dữ liệu mưa phân phối theo không gian cho khu vực tỉnh Bình Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Các phương pháp nội suy không gian cơ bản hiện nay

- Mưa và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân phối mưa theo không gian trên địa bàn tỉnh Bình Định

4 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

Thu thập và phân tích số liệu mưa tất cả các trạm trên địa bàn tỉnh Bình Định và các trạm lân cận giáp ranh giới tỉnh

5 Nội dung nghiên cứu:

Trang 14

So sánh, phân tích các ưu nhược điểm của các phương pháp nội suy mưa ứng với các đặc trưng mưa của tỉnh Bình Định

Sử dụng ArcGIS xây dựng cơ sở dữ liệu mưa phân phối theo không gian cho khu vực tỉnh Bình Định

6 Phương pháp nghiên cứu:

Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích tài liệu;

Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan;

Phương pháp mô hình hóa;

Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình;

Phương pháp thống kê khách quan

7 Ý nghĩa thực tiễn đề tài:

Đề tài nghiên cứu sẽ đưa ra được các kết quả sau:

- Làm rõ các ưu nhược điểm của các phương pháp nội suy mưa trên cơ sở các đặc trưng địa lý và khí tượng thủy văn của tỉnh Bình Định

- Xây dựng bộ cơ sở dữ liệu nội suy mưa theo không gian cho Bình Định, làm tiền đề cho các mô phỏng và phân tích chế độ thủy văn của tỉnh Bình Định sau này

8 Bố cục và nội dung luận văn

Luận văn gồm phần Mở đầu, 03 chương và phần kết luận và kiến nghị

Mở đầu

Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu và hiện trạng mạng lưới trạm đo

Chương 2: So sánh các phương pháp nội suy mưa hiện có

Chương 3: Phân phối lại lượng mưa theo không gian cho khu vực Bình Định

Kết luận và Kiến nghị

Trang 15

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ HIỆN

TRẠNG MẠNG LƯỚI TRẠM ĐO 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu

1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên:

a Vị trí địa lý:

Bình Định nằm ở khu vực duyên hải Nam Trung Bộ, phía bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía nam giáp tỉnh Phú Yên, phía tây giáp tỉnh Gia Lai, phía đông giáp Biển Đông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 6.071km2, dân số trung bình 1.524,6 nghìn người, trong đó khu vực thành thị là 473,8 nghìn người (chiếm 31,1%), nông thôn 1050,8 nghìn người (chiếm 68,9%) Trên địa bàn tỉnh, hiện nay có 03 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, 02 huyện trung du miền núi, 26 xã đặc biệt khó khăn, 18 xã bãi ngang ven biển; giới hạn bởi tọa độ địa lý (Hệ Gauss - HN72) như sau:

- Cực Bắc: 14042' 10" độ vĩ bắc, 108055' 42" độ kinh đông

- Cực Nam: 13030' 10" độ vĩ bắc, 108054' 00" độ kinh đông

- Cực Đông: 13036' 33" độ vĩ bắc, 109022' 00" độ kinh đông

- Cực Tây: 14025' 00" độ vĩ bắc, 108037' 30" độ kinh đông

Tương ứng với giới hạn về tọa độ trắc địa trong hệ tọa độ VN2000:

và nuôi trồng hải sản

Trang 16

Hình1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định

b Đặc điểm địa hình

Trang 17

Tỉnh Bình Định nằm gọn bên sườn phía đông của dãy Trường Sơn có địa hình dốc và phức tạp Hướng dốc chủ yếu từ Tây sang Đông và các thung lũng xen kẽ tạo thành các lưu vực sông riêng biệt.

Từ Tây Nguyên xuống đồng bằng Bình Định địa hình hạ thấp đáng kể Nếu ở Cao Nguyên phía tây có cao độ từ 500m đến 700m thì ở đồng bằng Bình Định chỉ có cao độ 20m đến 30m, vùng ven biển cao độ 2m đến 3m, hình thành hai loại bậc địa hình nằm kế cận nhau và không hình thành rõ nét khu đệm chuyển tiếp Toàn tỉnh Bình Định có thể chia thành 4 dạng địa hình sau:

Địa hình vùng núi trung bình, núi thấp

Nằm về phía tây bắc và phía tây của tỉnh thuộc dãy Trường Sơn Đông, độ cao trung bình từ 500 - 1000m Đại bộ phận sườn dốc hơn 200 Có diện tích khoảng 249.866ha, phân bố ở các huyện An Lão (63.367ha), Vĩnh Thạnh (78.249ha), Vân Canh (75.932ha), Tây Sơn và Hoài Ân (31.000ha) Địa hình khu vực này phân cắt mạnh, sông suối có độ dốc lớn, là nơi phát nguồn của các sông trong tỉnh, lớp phủ thực vật có mật độ trung bình

Địa hình đồi gò, bát úp ở trung du

Có diện tích khoảng 159.276ha, có độ cao dưới 100m, độ dốc tương đối lớn (từ 100-150), cấu tạo chủ yếu bởi đá Granit Nhiều vùng đất trồng thuận lợi cho việc phát triển cây lâu năm, vườn rừng, vườn đồi, thực hiện nông lâm kết hợp Phân bố ở các huyện Hoài Nhơn (15.089ha), An Lão (5.058ha) và Vân Canh (7.924ha)

Địa hình đồng bằng và ven biển

Có diện tích khoảng 198.543ha, chiếm khoảng 32% diện tích toàn tỉnh, nằm ở hạ lưu các sông và bị chia cắt thành nhiều mảnh nhỏ Độ cao biến đổi từ

2 - 3m đến 20 - 30m, xen kẽ giữa đồng bằng có đồi gò Đây là khu vực sản xuất nông nghiệp chính của tỉnh Địa hình đồng bằng nghiêng nên đất dễ bị rửa trôi

và bạc màu Kiểu địa hình này phổ biến ở các huyện Hoài Nhơn và thành phố Quy Nhơn

Địa hình vùng cồn cát ven biển

Bao gồm các cồn cát, đụn cát tạo thành một dãy hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và quy mô biến đổi theo thời gian Khu vực này có khả năng trồng rừng phòng hộ ven biển kết hợp với trồng cây lâu năm

c Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng

Đặc điểm địa chất

Theo tài liệu nghiên cứu địa chất thì lãnh thổ Bình Định nằm trên đới cấu tạo KonTum, với số liệu phân tích cho thấy nguồn gốc đá mẹ gồm 2 loại chính sau:

Trang 18

- Khối Macmacid điển hình là đá Granite, thành phần chủ yếu là Thạch anh, ngoài ra còn có Mica Đất hình thành trên đá Granite thường có thành phần

cơ giới nhẹ

- Đá trầm tích thuộc dạng sa thạch, phiến thạch Đất hình thành trên đá trầm tích thuộc dạng sa thạch, phiến thạch có kết cấu rời rạc, giữ nước, giữ phân kém

Đặc điểm thổ nhưỡng

Theo kết quả đánh giá của Hội khoa học đất Việt Nam, thực hiện năm

1997, trong phạm vi toàn tỉnh Bình Định có 9 nhóm đất với 114 đơn vị đất đai với đặc điểm phát triển và sử dụng đa dạng Đất đồi núi chiếm 62,3% diện tích

tự nhiên toàn tỉnh, còn lại là địa hình bằng, thoải Diện tích đất có tầng mỏng hơn 50cm chiếm 37,7%

Như vậy, các loại đất thuận lợi cho sản xuất là đất phù sa (chiếm 7,75%), đất Glei (chiếm 2,56%), đất mặn ít và mặn trung bình (chiếm 1,06%), đất đỏ và đất xám Feralire (chiếm 70,67%)

Bảng 1.1 Phân loại đất và tổng hợp các loại đất tỉnh Bình Định.

(Nguồn: Tài liệu đánh giá đất Bình Định - Hội Khoa học đất VN)

1.1.2 Điều kiện khí tượng, thủy văn:

a Đặc điểm khí hậu

Khí hậu Bình Định thuộc khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ - miền khí hậu Đông Trường Sơn Có hai mùa rõ rệt mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến hết tháng 12, trong mùa mưa thường chịu ảnh hưởng các

cơn bão với tần suất trung bình từ 1 - 2 cơn/năm

b Phân vùng khí hậu:

Trang 19

Căn cứ vào các chỉ tiêu phân vùng, khí hậu Bình Định được phân thành

ba vùng chính:

Vùng I: Khí hậu vùng núi phía tây bắc của tỉnh bao gồm huyện An Lão, Vĩnh Thạnh, các xã phía tây huyện Hoài Ân và phía tây huyện Hoài Nhơn Vùng này có:

- Tổng lượng mưa năm từ 2.200 mm trở lên

- Nhiệt độ trung bình năm dưới 260C

- Mô đun dòng chảy năm từ 60-95 l/s.km2

Vùng này được chia thành hai tiểu vùng: I.1 và I.2

Vùng II: Khí hậu vùng núi phía nam tỉnh bao gồm huyện Tây Sơn, Vân Canh và các xã phía tây huyện Phù Cát Vùng này có:

- Tổng lượng mưa năm từ 1.800 - 2.100 mm

- Nhiệt độ trung bình năm dưới 260C

- Mô đun dòng chảy năm từ 40-50 l/s.km2

Vùng này được chia thành hai tiểu vùng: II.1 và II.2

Vùng III: Khí hậu vùng đồng bằng ven biển của tỉnh Vùng này có:

- Tổng lượng mưa năm dưới 1.700-2.200mm

- Nhiệt độ trung bình năm trên 260C

- Mô đun dòng chảy năm từ 40-60 l/s.km2

Vùng này được chia thành hai tiểu vùng khí hậu: III.1 và III.2

c Các đặc trưng mưa

- Chế độ nhiệt: Tổng lượng bức xạ hàng năm khá cao: Từ 140 đến 150

cal/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,10C Trung bình cao nhất là 34,60C, trung bình thấp nhất là 19,90C Biên độ ngày đêm trung bình 5  80C

- Số giờ nắng: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng khá cao;

trung bình hàng năm có số giờ nắng 2.268  2.412 giờ Thời kỳ nhiều nắng là từ tháng III đến tháng IX và các tháng ít nắng là tháng XI và tháng XII

- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm ở Bình Định dao động từ

1.800  3.300 mm Lượng mưa giảm dần từ bắc đến nam, cao nhất là tại vùng núi huyện An Lão với lượng mưa trên 3.300 mm, thấp nhất tại các xã phía đông huyện Tuy Phước với lượng mưa dưới 1.700 mm

Mùa mưa ngắn, chỉ tập trung vào 4 tháng (từ tháng IX đến tháng XII), chiếm 70% đến 80% tổng lượng mưa năm Do mùa mưa ngắn, cường độ mưa

Trang 20

lớn nên thường gây ngập, úng làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng

Mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng I đến tháng VIII), chiếm khoảng 20% đến 30% tổng lượng mưa năm Đây là mùa ít mưa nên thường xảy ra tình trạng khô hạn

Bảng 1.2 Một số đặc trưng lượng mưa năm tỉnh Bình Định (mm)

Trạm Mưa trung

bình năm

Lượng mưa năm lớn nhất

Năm xuất hiện

Lượng mưa năm nhỏ nhất

Năm xuất hiện

Vĩnh Sơn 2.271 3.436 1999 1.188 1982 Vĩnh Kim 2.102 3.502 1998 1.155 1982 Bình Quang 1.793 3.504 1981 666 1982 Bình Tường 1.863 3.020 1999 968 1982 Vân Canh 2.114 3.436 1996 896 1982 Qui Nhơn 1.846 2.889 1998 1.130 1982 Tân An 1.611 2.700 1996 875 1982

An Nhơn 1.748 2.673 1996 1.145 1982 Phù Cát 1.884 3.202 1996 888 1982

Đề Gi 1.843 2.802 1999 776 1982 Phù Mỹ 2.005 3.239 1998 1.132 1978 Bồng Sơn 2.180 3.492 1998 1.219 1982 Hoài Nhơn 2.026 3.490 1981 1.014 1982 Hoài Ân 2.222 3.422 1998 1.541 1982

An Hòa 3.033 4.907 1998 1.663 1982

Trang 21

Hình 1.2 Bản đồ phân bố lượng mưa năm tỉnh Bình Định

Trang 22

Bảng 1.3 Phân phối lượng mưa năm tại các trạm (mm)

(Nguồn: Trung tâm KTTV Bình Định)

- Bốc hơi: Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm và tăng dần từ bắc vào

nam tỉnh Tại Hoài Nhơn là 1.029 mm/năm và tăng dần đến Quy Nhơn là 1.131 mm/năm Bốc hơi tập trung trong các tháng mùa hạ từ tháng VI đến tháng VIII

và các tháng có lượng bốc hơi ít là từ tháng X đến tháng XI

- Chế độ ẩm: Độ ẩm trong khu vực khá thấp, trung bình hàng năm khoảng

79% Các tháng X đến tháng XII hàng năm tương đối ẩm và từ tháng I đến tháng IX là thời kỳ khô

- Gió, bão: Hướng gió thịnh hành trong các tháng: mùa Đông thịnh hành

là hướng tây bắc, sau đó đổi sang hướng bắc và đông bắc Hướng gió thịnh hành mùa Hạ là hướng tây hoặc tây nam Thời gian chuyển tiếp giữa hai mùa có gió Đông, Đông Bắc, Đông Nam Bão thường tập trung chủ yếu vào 3 tháng IX, X,

XI, nhiều nhất là tháng X chiếm 47% tổng số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng đến Bình Định hàng năm

d Mạng lưới sông ngòi

Bình Định có 4 lưu vực sông chính là Lại Giang, sông La Tinh, sông Kôn

và sông Hà Thanh Đặc điểm các sông theo thứ tự từ bắc vào nam như sau:

Trang 23

(i) Sông Lại Giang: Là con sông lớn thứ hai của tỉnh Bình Định có diện

tích lưu vực là 1.466 km2, dài 73 km Sông bắt nguồn từ các dãy núi đông Trường Sơn có đỉnh cao từ 900 m đến 1.000 m đổ ra biển ở cửa An Dũ Sông Lại Giang gồm 2 nhánh sông lớn chính là sông An Lão và sông Kim Sơn

Sông An Lão bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện An Lão và Ba Tơ, chảy theo hướng bắc - nam đến Lại Khánh thì nhập với sông Kim Sơn thành sông Lại Giang, chảy theo hướng tây nam - đông bắc rồi đổ ra biển

Sông Kim Sơn bắt nguồn từ vùng núi cao của huyện Hoài Ân, chảy theo hướng tây nam - đông bắc đến Lại Khánh nhập với sông An Lão thành sông Lại Giang

(ii) Sông La Tinh: Lưu vực sông La Tinh thuộc địa bàn hai huyện Phù

Mỹ và Phù Cát Sông bắt nguồn từ sườn đông dãy núi cao xã Cát Sơn, có diện tích lưu vực 719 km2, chiều dài sông 52 km và chảy vào đầm Đề Gi Ngoài sông chính còn có các nhánh Kiều Duyên dài 20 km, diện tích lưu vực 179 km2; nhánh sông Cạn 61,4 km2; nhánh Đức Phổ 34,6 km2

(iii) Sông Kôn: Là sông lớn nhất tỉnh Bình Định, có diện tích lưu vực là

3.067 km2, dài 178 km Sông bắt nguồn từ các dãy núi có các đỉnh cao trên 1.000 m của dãy núi đông Trường Sơn Sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam, đến Thạnh Quang (Vĩnh Thạnh) sông chảy theo hướng bắc - nam, từ Tây Giang đến Bình Tường sông chuyển hướng tây bắc - đông nam và từ Phú Phong sông chảy theo hướng tây - đông Tại Bình Thạnh sông chia thành hai nhánh chính: Tân An và Đập Đá

Nhánh Tân An có các nhánh con như Gò Chàm tại ngã ba Bảy Yển, sông Cây My chảy qua phía Nam thị xã An Nhơn và Bắc huyện Tuy Phước, sau đó

đổ vào đầm Thị Nại tại cửa Gò Bồi - Tân Giảng Một phần của nhánh Tân An qua đập Thông Chín theo sông Tranh nhập với sông Hà Thanh ở phía Nam và

đổ vào đầm Thị Nại ở cửa Quảng Vân

Nhánh Đập Đá chảy qua phía bắc thị xã An Nhơn, đến xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát nhập với sông La Vỹ và đổ vào đầm Thị Nại ở cửa An Lợi

Dòng chính sông Kôn chảy trên các miền địa hình khác nhau, ở thượng nguồn sông chảy qua vùng núi, lòng sông hẹp, dốc, đoạn trung lưu lòng sông dần dần mở rộng có các thung lũng rộng, nông, hạ du có nhiều nhánh nhỏ đổ vào nên mạng lưới sông đan xen chằng chịt trước khi đổ vào đầm Thị Nại

(iv) Sông Hà Thanh: Có diện tích lưu vực là 580 km2, chiều dài dòng sông chính là 48 km Sông bắt nguồn ở những đỉnh núi cao trên 1.100 m ở huyện Vân Canh, chảy theo hướng tây nam - đông bắc Tới cầu Diêu Trì, sông

Trang 24

chia thành hai nhánh Hà Thanh và Trường Úc đổ vào đầm Thị Nại rồi chảy ra biển

Ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ như sông Đập Ông Khéo (Hoài Sơn, Hoài Châu), sông Xưởng (Tam Quan) đổ ra cửa Tam Quan; các sông suối nhỏ phía Bắc huyện Phù Mỹ đổ vào đầm Trà Ổ; các sông suối ở Mỹ Chánh, Mỹ Thành, Cát Khánh đổ vào đầm Đề Gi Đặc trưng hình thái sông ngòi của các sông xem ở bảng

Đặc điểm chung của các lưu vực sông là bắt nguồn từ những dãy núi cao, phần thượng nguồn sông hẹp, dốc, khi có lũ nước tập trung nhanh, thời gian truyền lũ ngắn (từ 6 - 12 giờ) Vùng đồng bằng sông rộng, nông, nhiều luồng lạch, nhưng dòng chảy lại nghèo nàn về mùa kiệt Về mùa lũ thì ngập mênh mông, cản trở sản xuất nông nghiệp và các hoạt động phát triển kinh tế trong

vùng

Bảng 1.4 Đặc trưng hình thái các lưu vực sông tỉnh Bình Định

STT Lưu vực sông

Diện tích lưu vực (km 2 )

Chiều dài sông (km)

Độ cao bình quân lưu vực (m)

Độ dốc bình quân lưu vực (%)

Mật độ lưới sông (km/km 2 )

Hệ số uốn khúc

I Lưu vực Lại Giang 1.466 85 277 22,0 0,65 2,99

Trang 25

đ Các đặc trưng thủy văn dòng chảy

Do đặc điểm mưa nên dòng chảy trên các lưu vực sông của tỉnh Bình Định phân bố không đều theo không gian và thời gian, dòng chảy chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa Các sông bắt nguồn từ vùng núi cao, sông ngắn, dốc vì vậy vào mùa lũ hay gây ra lũ quét sạt lở và ngập lụt Mùa khô thì dòng chảy cạn kiệt gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân

Dòng chảy năm

(i) Sông Lại Giang:

- Tại An Hòa có diện tích lưu vực Flv=383 km2, qua số liệu thực đo dòng chảy năm từ năm 1982 ÷ 2015 cho thấy lưu lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm Q0=30,19 m3/s tương ứng với mô số dòng chảy M=78,83 l/s.km2 và tổng lượng dòng chảy năm W0=952,1 triệu m3

- Tính đến cửa biển An Dũ có Flv=1.466 km2, Q0=67,18 m3/s, M=45,83 l/s.km2 và tổng lượng dòng chảy W0=2,18 tỷ m3/năm

(ii) Sông Kôn:

- Tại Cây Muồng với Flv=1.677 km2 có Qo=66,88 m3/s tương ứng với M=39,88 l/s.km2

- Tại cửa biển (sông đổ vào đầm Thị Nại) có Flv=3.067 km2, Q0=120,12

(iv) Sông La Tinh: tính đến cửa biển (sông đổ vào đầm Đề Gi) có Flv=739

Tổng hợp toàn tỉnh có lưu vực hứng nước mưa là F lv =6.024,43 km 2, hàng

năm có tổng lượng dòng chảy mặt là W 0 =9,23 tỷ m 3 nước

Trang 26

Bảng 1.5 Đặc trưng dòng chảy các sông chính trong tỉnh

TĐ An Khê 52,00 700 Biển 3.067,0 1.783 120,12 39,17 4.488

2 Hà Thanh Toàn lưu vực 580,0 1.900 21,78 37,55 687

3 La Tinh

Hội Sơn 67,0 1.787 2,63 39,24 83 Đập Cây Gai 188,0 1.811 7,48 39,77 236 Đập Cây Ké 414,0 1.786 16,24 39,22 512 Toàn lưu vực 739,0 1.786 28,98 39,22 914

4 Lại Giang

An Hoà 383,0 2.803 30,19 78,83 952 Đập Lại Giang 697,0 2.449 38,40 55,09 1.211 Đập Bồng Sơn 1.300,0 2.328 59,57 45,83 1.879 Toàn lưu vực 1.466,0 2.328 67,18 45,83 2.119

Trang 27

Lũ lụt trong vùng nghiên cứu có thể được chia ra làm các thời kỳ Sự phân chia này cũng chỉ là tương đối và theo thời gian trong năm như sau:

- Lũ tiểu mãn: Lũ tiểu mãn xuất hiện vào các tháng V, VI hàng năm; mưa

tiểu mãn gây ra lũ tiểu mãn với trị số đã quan trắc lớn nhất đạt 812 m3/s tại Bình Tường vào ngày 15/6/1990 Tính chất lũ này nhỏ, chủ yếu chảy trong lòng dẫn

và thường là lũ có lợi vì nó mang một lượng nước đáng kể để phục vụ sản xuất

Hè thu

- Lũ sớm: Lũ sớm thường xuất hiện vào cuối tháng VIII đến tháng IX Lũ

sớm thường lớn hơn lũ tiểu mãn và có biên độ không lớn; lượng nước trong các sông suối còn ở mức thấp; lũ sớm thường là lũ đơn một đỉnh Qua số liệu quan trắc cho thấy lũ sớm lớn nhất đạt 1.100 m3/s xảy ra ngày 13/9/2005 tại Bình Tường Đây là thời kỳ lũ gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp vì trùng vào thời kỳ thu hoạch vụ Mùa

- Lũ muộn: Lũ muộn thường xuất hiện vào tháng XII đến nửa đầu tháng I

năm sau Theo số liệu thực đo tại Bình Tường, giá trị lũ muộn lớn nhất đo được

là 3.680 m3/s xảy ra ngày 3/12/1999; lưu lượng 2.860m3/s xảy ra ngày 3/12/1986; lưu lượng 1.830 m3/s xảy ra ngày 11/12/1998; lưu lượng 1.550 m3/s xảy ra ngày 20/12/1996 Lũ muộn thường gây khó khăn và ảnh hưởng đến thời

vụ sản xuất vụ Đông xuân

- Lũ chính vụ: Lũ chính vụ là lũ lớn nhất trong năm; chủ yếu xuất hiện

vào tháng X và tháng XI, trùng với thời kỳ hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, ảnh hưởng đến tỉnh Bình Định kết hợp với các nhiễu động thời tiết khác Trong các tháng này, nhiễu động thời tiết trở nên mạnh mẽ và hoạt động của bão cũng tăng lên, nhiều trận bão trực tiếp đổ bộ hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến Bình Định gây nên những đợt mưa có cường độ lớn trên diện rộng Đặc biệt khi bão tan thành áp thấp di chuyển lên phía Bắc gặp khối không khí lạnh tăng cường gây nên lượng mưa lớn trong toàn vùng

Trang 28

Hình 1.3 Bản đồ phân bố sông ngòi và các trạm KTTV tỉnh Bình Định

LƯU VỰC SÔNG LẠI GIANG

LƯU VỰC SÔNG

LA TINH

LƯU VỰC SÔNG KÔN

LƯU VỰC SÔNG

HÀ THANH

LƯU VỰC ĐẦM TRÀ Ổ LƯU VỰC

BẮC LẠI GIANG

Trang 29

Căn cứ vào tài liệu quan trắc tại các trạm thủy văn trong tỉnh cho thấy, vùng thượng nguồn sông Kôn (trạm Bình Tường), lũ lớn nhất trong năm xuất hiện vào tháng XI là 55,9%; tháng X là 29,4% và tháng XII là 11,8% Vùng đồng bằng sông Kôn (trạm Thạnh Hòa), khả năng xuất hiện lũ lớn nhất xuất hiện vào tháng XI là 47,1%; vào tháng X là 35,3%; còn lại là vào tháng IX và XII

Vùng thượng nguồn sông Hà Thanh (trạm Vân Canh), lũ lớn nhất trong năm xuất hiện vào tháng tháng XI là 50%; tháng X là 36,4% và tháng XII là 9,1% Vùng hạ lưu sông Hà Thanh (trạm Diêu Trì), khả năng xuất hiện lũ lớn nhất vào tháng XI là 64,7% và vào tháng X là 23,5%

e Chế độ thủy triều:

Chế độ thủy triều vùng biển Bình Định cũng như chế độ triều vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Thuận là chế độ nhật triều không đều Tại Quy Nhơn hàng tháng số ngày nhật triều chiếm khoảng 18 - 22 ngày, thời gian triều dâng lâu hơn thời gian triều rút Độ lớn triều khoảng 1,2 - 1,8m; giữa kỳ nước lớn và nước kém biên độ triều chênh lệch không đáng kể; trong kỳ nước kém triều chỉ lên xuống khoảng 0,5m

Chế độ triều vùng đầm và các cửa sông qua đo đạc ở đầm Thị Nại trong các tháng V, VI cho thấy: Chế độ triều vùng đầm Thị Nại và cửa sông thì cùng chế độ triều với vùng biển Quy Nhơn, tuy nhiên biên độ triều vùng đầm nhỏ hơn biên độ triều vùng biển Cao độ đỉnh triều vùng đầm và tại trạm Quy Nhơn thay đổi không đáng kể Chân triều vùng đầm cao hơn vùng biển 0,4 ÷ 0,6m Biên độ triều cường vùng đầm từ 1,3 ÷ 1,4m, trong khi đó biên độ vùng biển cùng thời

Trang 30

canh tác nông nghiệp tốt nhất thích hợp với trồng cây lương thực và cây công nghiệp ngắn ngày Diện tích đất chưa sử dụng còn rất lớn chiếm tới 34% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Đây là một tiềm năng lớn cần được đầu tư khai thác

b Tài nguyên rừng

Bình Định hiện có khoảng 196.000 ha đất lâm nghiệp trong đó trên 151.500 ha rừng tự nhiên và hơn 44.300 ha rừng trồng Rừng hiện nay còn tập trung chủ yếu ở những vùng xa đường giao thông nên chỉ có ý nghĩa lớn về phòng hộ và bảo vệ môi trường Xét theo mục đích kinh tế thì rừng sản xuất có

655 nghìn ha rừng phòng hộ có gần 128 nghìn ha Rừng Bình Định có hơn 40 loài cây có giá trị dược liệu phân bố hầu khắp ở các huyện như: ngũ gia bì sa nhân thiên niên kiện bách bộ thổ phục linh hoàng đằng thiên môn phong kỷ kim ngân Vùng trung du ven biển có cây dừa trám đặc biệt cây mai gừng có giá trị dược liệu cao nhưng chủ yếu phân bố ở vài vùng đất hẹp tại huyện Vĩnh Thạnh Cây sa nhân cũng có giá trị xuất khẩu cao

c Tài nguyên khoáng sản

Tài nguyên khoáng sản ở Bình Định khá đa dạng đáng chú ý nhất là đá granít có trữ lượng khoảng 500 triệu m3 với nhiều màu sắc đỏ đen vàng là vật liệu xây dựng cao cấp được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng; sa khoáng titan tập trung ở mỏ Đề Gi (Phù Cát) trữ lượng khoảng 15 triệu m3; cát trắng ở Hoài Nhơn trữ lượng khoảng 90.000 m3 Nhiều nguồn nước khoáng được đánh giá có chất lượng cao đã và đang được đưa vào khai thác sản xuất nước giải khát chữa bệnh Toàn tỉnh có 4 nguồn nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù Cát),Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước) riêng nguồn nước khoáng nóng Hội Vân đảm bảo các tiêu chuẩn chữa bệnh và có thể xây dựng nhà máy điện địa nhiệt Ngoài ra còn có các khoáng sản khác như cao lanh đất sét và đặc biệt là các quặng vàng ở Hoài Ân, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn

d Tài nguyên nước

Trong vùng có hồ chứa nước Định Bình với dung tích chứa là Wtb= 226,21.106m3 đã hoàn thành đầu tư xây dựng năm 2007, tưới tại chỗ cho huyện Vĩnh Thạnh 1.217 ha cả hai phía tả và hữu sông Kôn và cung cấp cho hệ thống đập Văn Phong tưới cho 10.125 ha khu vực bắc sông Kôn của huyện Tây Sơn, một phần Phù Cát, An Nhơn và bổ sung nguồn nước cho hệ thống Tân An - Đập

Đá trong những tháng kiệt để tưới hết diện tích 13.766 ha canh tác cây hàng năm, ngoài ra nguồn nước Hồ Hà Nhe, Hồ Hòn Lập, Hồ Tà Niêng và nguồn nước ngầm đổ về lưu vực sông Kôn đảm bảo đủ nguồn nước cung cấp cho công nghiệp, dân sinh trong tiểu vùng bằng nguồn nước của hồ Định Bình thông qua

hệ thống kênh Vĩnh Thạnh

Trang 31

e Tài nguyên du lịch

Bình Định có nhiều vùng vịnh với những bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh biển hài hoà hấp dẫn như bán đảo Phương Mai bãi tắm Hoàng Hậu Đảo Yến Quy Hoà, Bãi Dài, Vĩnh Hội, Tân Thanh… là nguồn tài nguyên thiên nhiên rất phong phú để phát triển du lịch Bình Định có một quần thể di tích với những tên gọi đã trở nên quen thuộc như tháp Dương Long Cánh Tiên Bánh Ít Bình Tiên Tháp Đôi

Về vị trí địa lý có thể hình dung Bình Định như một tâm điểm nối với các vùng du lịch của cả miền như Nha Trang Plâyku Hội An Đà Nẵng Huế đồng thời cũng là điểm nút giao thông nối với quốc lộ 19 - ngã ba Đông Dương đường Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho tỉnh phát triển du lịch biển gắn với du lịch núi và cao nguyên phát triển du lịch nội địa và du lịch quốc tế Chính vì vậy trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam trong tương lai Bình Định được xác định là có một vị trí quan trọng của vùng du lịch Nam Trung Bộ là một

mắt xích quan trọng hệ thống các tuyến điểm du lịch quốc gia

1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

1.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế

a Dân số và lực lượng lao động:

-Dân số trung bình toàn tỉnh trong 3 năm gần đây thể hiện theo bảng 1.7

Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của tỉnh vào loại trung bình, khoảng 17,2%o mỗi năm, trong đó tỷ lệ sinh 22,7 %o, tỷ lệ chết 5,5 %o Tỷ lệ tăng dân số cơ học hầu như không đáng kể, coi như bằng 0 Bảng 1.7 biểu thị tỷ lệ tăng dân số 3 năm gần đây của tỉnh

Cân đối lao động xã hội trong tỉnh 3 năm gần đây được thể hiện trong bảng như sau:

Bảng 1.7 Tỷ lệ tăng dân số của tỉnh

21,0 24,9

20,2 23,5

2 Tỷ lệ tử 5,6 5,5 5,5

- Thành thị

- Nông thôn

4,2 5,8

4,2 5,8

4,2 5,9

3 Tỷ lệ tăng tự nhiên 19,6 18,6 17,2

- Thành thị

- Nông thôn

17,0 19,9

16,8 19,1

16,0 17,6

Trang 32

3 Huyện Hoài Ân 92,7 94,3 95,8 130,0

4 Huyện Hoài Nhơn 214,8 218,6 222,1 547,0

10 Huyện Tuy Phước 180,8 182,8 185,8 665,9

11 Huyện Vân Canh 21,7 22,2 22,7 27,9

TOÀN TỈNH 1471,0 1497,7 1521,9 253,8

(Nguồn cục thống kê Bình Định năm 2017)

b Dịch vụ y tế:

Tính đến, 2014, toàn tỉnh có 15 bệnh viện với 1900 giường, 426 bác sĩ,

844 y sĩ, 590 y tá và 203 nữ hộ sinh; 1 viện điều dưỡng với 50 giường bệnh, 80 phòng khám khu vực và 152 trạm y tế hộ sinh xã phường

Mặc dù cơ sở vật chất của các bệnh viện còn thiếu thốn, chưa đồng bộ, nhưng nhìn chung các cơ sở y tế của tỉnh đã làm tốt việc khám chữa bệnh, bồi dưỡng sức khoẻ, thực hiện kế hoạch hoá gia đình, tiêm phòng 6 bệnh truyền nhiễm, không để xảy ra những dịch nguy hiểm, đảm bảo sức khoẻ cho cán bộ và nhân dân trong tỉnh

Bảng 1.9 Phân loại lực lượng lao động ĐV: 1000 người

Phân loại lao động 2014 2015 2016

Trang 33

Tỷ lệ % dân số trong độ tuổi lao động

Dân số trong độ tuổi lao động

Trong đó

- Có khả năng lao động

Ngoài tuổi lao động có làm việc

TỔNG NGUỒN Đang làm việc

784,8 72,7 857,5 740,1

560,4 51,8 117,4 38,9 78,5

1497,7 55,2 826,8

802,0 73,6 875,6 754,7

580,6 52,0 120,9 40,0 80,9

1521,9 55,5 844,9

819,6 74,8 892,9 769,6

591,3 53,7 123,3 40,8 82,5

(Nguồn cục thống kê Bình Định năm 2017)

c Giáo dục, đào tạo:

- Năm học 2015-2016, toàn tỉnh có 353 trường, 8705 lớp từ phổ thông cơ

sở đến phổ thông trung học, với 326.000 học sinh và 9925 giáo viên các cấp

- Hệ đào tạo cao đẳng, đại học có 1 trường do Trung ương quản lý với

299 giáo viên và 9881 học sinh; 1 trường do địa phương quản lý với 2341 học sinh

- Hệ trung học chuyên nghiệp có 3 trường, với 58 giáo viên và 3667 học sinh

- Hệ đào tạo công nhân kỹ thuật với 138 giáo viên và 1931 học sinh

- Nhà trẻ có 3290 cháu với 291 giáo viên; mẫu giáo có 144 trường 1751 lớp, với 1763 giáo viên và 48.449 cháu

d Tình trạng kinh tế:

Hiện trạng kinh tế tỉnh Bình Định nhìn chung có xu hướng phát triển, năm sau tăng hơn năm trước, khối sản xuất nông nghiệp tăng chậm và không đều so với khối công nghiệp và xây dựng cơ bản, thương nghiệp, dịch vụ và các ngành khác

- Ngành nông, lâm nghiệp, thuỷ sản

Sản xuất nông nghiệp vẫn chiếm giá trị hàng đầu trong cơ cấu nền kinh tế cũng như giá trị sản phẩm làm ra

Trang 34

- Toàn tỉnh có 77.001 ha đất trồng cây hàng năm, trong đó đất trồng lúa màu là 53.321 ha, trong năm 2016 đã sản xuất được 473.317 T lương thực qui thóc, chiếm 35,8% tổng sản phẩm trong tỉnh Giá trị sản phẩm đạt 1381,56 tỷ đồng

- Về mặt lâm nghiệp, với 197.924 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên chiếm 143.300 ha, rừng trồng có 54.624 ha, năm 1998 đã sản suất và chế biến được 11.200 m3 gỗ tròn, 58.900 m3 gỗ nguyên liệu, 368.000 ster củi … đạt giá trị sản phẩm 76,76 tỷ đồng, chiếm 2% cơ cấu tổng sản phẩm (GDP) trong tỉnh

- Thuỷ sản: năm 2016, sản lượng khai thác đánh bắt thuỷ, hải sản ( tôm,

cá ) đạt 64.645 T, trong đó, hải sản nước mặn là 64.371 T, thuỷ sản nước ngọt là

274 T Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản gồm cá 840 T, tôm 635 T; sản xuất giống đạt được: cá 4,1 triệu con, tôm 144,6 triệu con … Giá trị tổng sản phẩm ngành thuỷ sản đạt 362,6 tỷ đồng, chiếm 9,4% GDP trong tỉnh

- Chăn nuôi: số lượng gia súc, gia cầm trong toàn tỉnh tính đến 1/10 năm

2016 bao gồm: Trên 18.831 con, trong đó trâu bò kéo cày 12.523 con; bò 242.832 con, trong đó trâu bò kéo, cày 81.592 con Đàn lợn 384 525 con, trong

đó lợn nái 67.801 con, lợn thịt 315.949 con Đàn gia cầm: 3.033.594 con…

- Ngành công nghiệp:

Hình thành 3 khu vực:

- Khu vực trung ương: gồm các ngành gỗ xẻ, dầu ăn, Ô xy, điện…

- Khu vực địa phương: Sản xuất đường, rượu bia, thức năn gia súc, dược phẩm, hàng tiêu dùng, vật liệu xây dựng, chế biến thuỷ sản đông lạnh, đóng tàu thuyền, điện nước…

- Khu vực có vồn đầu tư nước ngoài: Ilmennite 52%, đá ốp lát …

- Xây dựng cơ bản và các ngành kinh tế khác

- Ngành xây dựng cơ bản với tổng sản phẩm 273,13 tỷ đồng, chiếm 7,1%

- Các ngành kinh tế khác ( thương nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, du lịch …) có tổng giá trị sản phẩm là 1.348,6 tỷ đồng, chiếm 35% cơ cấu tổng sản phẩm trong tỉnh

1.2.2 Điều kiện sản xuất nông nghiệp

Trang 35

Căn cứ vào số liệu trên ta thấy diện tích đất nông nghiệp trong vùng hưởng lợi của dự án hồ Định Bình chiếm 60,9% tổng diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp chiếm 3,51%, đất chuyên dùng chiếm 13,65%, đất ở chiếm 3,39% diện tích tự nhiên Đặc biệt đất chưa sử dụng có 9656 ha chiếm 18,54% diện tích tự nhiên, Trong đó đất bằng chưa sử dụng là 3.142 ha, đây là loại đất có khả năng

mở rộng thành đất sản xuất nông nghiệp Đây là một tiềm năng lớn cho sản xuất nông nghiệp của vùng dự án, cần có giải pháp công trình để đưa nước mở rộng diện tích đang hoang hoá này

Hà Thanh

Vĩnh Thạnh Tổng diện tích tự nhiên

4 Đất trồng cây lâu năm

- Cây ăn quả

Trang 36

Hạng mục Tổng số Tân An

Đập Đá

Văn Phong

Hà Thanh

Vĩnh Thạnh 3.Đất có mặt nước chưa sử

(Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (NiAPP))

b Hiện trạng sản xuất nông nghiệp:

Trong 4 khu tưới chỉ có khu Tân An - Đập Đá và phần lớn khu Hà Thanh

có thuận lợi hơn, vì có nguồn nước hồ Núi Một bổ sung (khoảng 40 triệu m3/ năm)

Còn lại hai khu Văn Phong và Vĩnh Thạnh sẽ khó khăn hơn vì thiếu nguồn nước bổ sung chủ động và ổn định

Ngoài lúa và loại cây gieo trồng chính, ngô sắn cũng được gieo trồng ở những vùng đất cao, hoặc trồng xen vụ Diện tích ngô 935 ha, chủ yếu ở vùng Văn Phong 529ha Sắn có 825 ha, rừng Văn Phong đã chiếm 444 ha… Những năm gần đây, ngoài thóc gạo, ngô và sắn cũng là nguồn xuất khẩu quan trọng của tỉnh

- Các loại cây trồng khác:

- Lạc (đậu phụng) là loại cây trồng chiếm tỷ trọng tương đối lớn 1630 ha, trong đó tập trung ở hai khu: Văn Phong 777 ha, Tân An - Đập Đá 615 ha

- Thuốc lá chỉ có 30 ha, tập trung ở khu Văn Phong 25 ha

- Mía hiện được gieo trồng chưa nhiều, chỉ có 825 ha, tập trung chủ yếu ở Vĩnh Thạnh (483 ha), và Văn Phong (369 ha)

- Các loại cây trồng lâu năm:

Bao gồm cây ăn quả (70 ha), cây điều (1033 ha), cây lâu năm khác (180 ha) Cây điều chủ yếu trồng ở vùng đất cao không nước tưới, nghèo dinh dưỡng như nhóm đất đỏ vùng (Fa, Fq, Fs) nhóm đất dốc tụ (D), nhóm đất xói mòn trơ

Trang 37

sỏi đá (E) …Ngoài giá trị kinh tế cao, cây điều còn có tác dụng phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhờ tán lá rộng, chống xói mòn, ít cần nước tưới v.v

- Nuôi trồng thuỷ sản:

Hiện tại có khoảng 1343 ha, tập trung ở vùng cửa sông ven đầm Thị Nại,

là vùng đất mặn (M,Mi,siM) Vùng Tân An - Đập Đá có 1020 ha, vùng Hà

Vĩnh Thạnh Tổng diện tích tự nhiên

Trang 38

(Nguồn: Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp (NiAPP))

Cây lương thực, chủ yếu là lúa, ít có sự thay đổi về diện tích đất canh tác Tổng diện tích gieo trồng cả năm là 49.207 ha, trong đó vụ Đông Xuân 21.689

ha, vụ Hè Thu 19.628 ha, vụ Mùa 7.890 ha, Sự chênh lệch giữa các vụ canh tác điều đó chứng tỏ khả năng mở rộng đất trồng lúa ở các khu Văn Phong, Hà Thanh, Vĩnh Thạnh và Tân An - Đập Đá phụ thuộc nhiều vào hệ thống thuỷ lợi hiện tại, chế độ mưa và nguồn nước tưới hàng năm Khi có nguồn nước tưới chủ động, biện pháp chính tăng sản lượng lương thực và các loại nông sản khác tăng

vụ, tăng diện tích gieo trồng, thâm canh, chuyển vụ…

Vụ HT và vụ 3 trên chân ruộng 3 vụ còn gặp khó khăn về nước tưới, nhất

là những năm ít mưa Thực tế cho thấy, sản xuất trên vùng đất không chủ động

về nước tưới, còn phụ thuộc nhiều thời tiết thì hiệu quả mang lại chưa cao Ta cần có biện pháp để chủ động nguồn nước tưới như xây dựng các công trình thuỷ lợi, hồ chứa, kiên cố hoá hệ thống kênh mương… Nhằm mục đích tận dụng hết khả năng sản xuất nông nghiệp của vùng, đưa sản xuất nông nghiệp từ bấp bên tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hoá, đặc biệt trong giai đoạn hiện tại

1.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện:

a.Giao thông:

Hệ thống đường giao thông thuỷ bộ tương đối phát triển Mạng lưới đường bộ, ngoài QL 1A và QL 19, các đường giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã khá thuận lợi Đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua khu vực cùng với cảng biển Quy Nhơn và cảng hàng không Phù Cát là ưu thế nổi bậc so bới các địa phương khác trong cả nước

b Bưu chính viễn thông:

Mạng lưới bưu điện phát triển rộng rãi, từ thành phố, thị trấn, huyện lỵ đến tận xã Có 1 cơ sở thông tin trực thuộc Tổng công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam, 13 công ty và bưu điện huyện, 70 bưu cục khu vực, và 127 trạm bưu điện xã Có 37 tổng đài điện thoại tự động các loại với dung lượng 32.812 số, 11

Trang 39

máy thu phát vô tuyến điện liên hợp, 66 thiết bị vi ba….Doanh thu hàng năm: 60,36 tỷ đồng

e Cung cấp điện nước:

Thành phố Qui Nhơn và hầu hết các thị trấn huyện lỵ; Các xã nằm gần trung tâm đã được cung cấp lưới điện 220V Điện năng tự sản xuất hàng năm phục vụ cho các nhu cầu trong tỉnh là 26,74 triệu KWh, chưa kể điện năng được cung cấp từ mạng lưới điện Quốc Gia

Nước máy sản xuất hàng năm khoảng 5,7 triệu m3, nước máy tiêu thụ khoảng 3,65 triệu m3 Tại các nông thôn vùng xa trung tâm nông dân chủ yếu sử dụng nước giếng khoan, giếng đào, nước sông suối tự nhiên

1.2.4 Vấn đề ngập lụt ở khu vực nghiên cứu

a Hiện trạng ngập lụt và thiệt hại:

Hằng năm vào mùa mưa bão từ trung tuần tháng IX đến trung tuần tháng XII, vùng lưu vực sông Lại Giang, La Tinh, Kôn - Hà Thanh luôn bị mưa bão lũ lụt đe doạ nghiêm trọng và ngày càng diễn biến phức tạp gây nhiều thiệt hại lớn

về tài sản và tính mạng nhân dân trong vùng, đặc biệt là vùng đồng bằng hạ du với gần 47.000 ha đất canh tác có mức đất giữa lòng sông và mặt ruộng chênh nhau không lớn (khoảng 0,5 ÷ 1,5 m) tiến gần ra vùng cửa sông và ven sông xấp xỉ bằng nhau Theo số liệu điều tra trong những năm gần đây tình hình ngập úng, lũ lụt vùng hạ lưu sông Lại Giang, La Tinh, Kôn - Hà Thanh càng trở nên nghiêm trọng hơn Trong một thời gian ngắn 11 năm liền kề nhau (1980, 1981,

1984, 1990, 1992, 1996, 1998, 1999, 2005, 2007 và 2009) xảy ra mưa bão và ngập lụt rất nghiêm trọng vào tháng X và trung tuần tháng XI, đã làm ngập lụt toàn bộ đồng ruộng và các khu dân cư trong khu vực hạ du, thời gian ngập úng khoảng 10 ÷ 15 ngày, độ sâu ngập trung bình khoảng 1 - 2m, đê điều, đường giao thông, kênh mương thủy lợi bị nước lũ cuốn trôi, ước tính thiệt hạithấp nhất qua các năm bình quân trên 100 tỷ đồng

Ngoài yếu tố hình thành lũ lụt là do mưa bão lớn bởi các hình thế thời tiết nói chung đối với nguyên nhân gây lũ lớn thì các yếu tố sau cũng cần được đề cập đến đối với vùng lưu vực sông Kôn ở phạm vi nghiên cứu

Ngày đăng: 28/03/2021, 22:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w