1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ DỰ ÁN GIAO THÔNG THEO MÔ HÌNH ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ (PPP) DO TỈNH TRÀ VINH QUẢN LÝ LUẬN VĂN THẠC SĨ

100 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 7,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm hình thức đầu tư PPP Theo Luật đầu tư công [16]: “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nh

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 2

Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông

Mã số : 60.58.02.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Quang Đạo

Đà Nẵng - Năm 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các kết quả, số liệu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Trần Hoàng Vũ

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Tóm tắt luận văn

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng phạm vị nghiên cứu 1

3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Đặt vấn đề 3

1.2 Một số khái niệm chính 3

1.2.1 Khái niệm đầu tư 3

1.2.2 Khái niệm dự án 4

1.2.3 Khái niệm dự án đầu tư 5

1.2.4 Khái niệm hình thức đầu tư PPP 5

1.2.5 Khái niệm vốn 6

1.3 Về dự án đầu tư theo hình thức công - tư 6

1.3.1 Khái niệm 6

1.3.2 Về các loại dự án công trình giao thông 10

1.4 Tình hình áp dụng ở nước ngoài 11

1.4.1 Về xuất xứ 11

1.4.2 Tình hình thực hiện của các nước phát triển trên thế giới 11

1.5 Tình hình trong nước 13

1.5.1 Nhìn tổng quát 13

1.5.2 Vài nhận xét về xung đột dự án BOT gần đây 14

1.5.3 Vậy điều gì làm PPP giao thông chưa hấp dẫn? 17

1.6 Kết luận 18

Trang 5

CHƯƠNG 2: ĐỀ XUẤT KHUNG CÁC GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH 19

2.1 Đặt vấn đề 19

2.2 Phương pháp tiếp cận 20

2.3 Cơ sơ đưa ra giải pháp 20

2.3.1 Cơ sở lý thuyết 20

a Phân tích làm rõ một số khái niệm và nội dung quan trọng khi lập dự án đầu tư trong ngành GTVT 20

b Các hình thức hợp đồng PPP nói chung và PPP xây dựng 36

2.3.2.Cơ sở thực tiễn ở nước ta 46

a Khung pháp lý 46

b Nhìn nhận chung về tình trạng xảy ra ở các dự án BOT giao thông ở nước ta gần đây 53

2.3.3.Tổng hợp một số nhân tố chính tác động đến kết quả của mô hình PPP73 2.3.4 Kiến nghị các giải pháp 58

a Nhóm giải pháp về Quản lý và thể chế 58

b Nhóm giải pháp về Kỹ thuật 59

2.3.5 Tóm tắt và nhận xét chương 2 61

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VẬN DỤNG KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PPP GIAO THÔNG VÀO TRÀ VINH 62

3.1 Một số điều kiện thuận lợi và khó khăn của tỉnh Trà Vinh 62

3.2 Áp dụng các giải pháp nêu ở chương 2 65

3.2.1 Giải pháp cơ chế: Xây dựng và triển khai các văn phản pháp quy 65

3.2.2 Các giải pháp mời gọi đầu tư 69

3.2.3 Các giải pháp kỹ thuật 72

3.3 Ví dụ một Dự án 78

KẾT LUẬN 80

1 Kết luận 80

2 Kiến nghị 80

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN (Bản sao)

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PPP Hình thức đối tác công tư

BOO Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh

BOT Xây dựng-Kinh doanh-Chuyển giao

BTO Xây dựng-Chuyển giao-Kinh doanh

BTL Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ BLT Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao O&M Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý

GTVT Giao thông vận tải

ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

CHLB Cộng hòa liên ban

Trang 7

NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ DỰ ÁN GIAO THÔNG THEO MÔ HÌNH ĐỐI TÁC CÔNG - TƯ (PPP) DO TỈNH TRÀ VINH QUẢN LÝ

Học viên: Trần Hoàng Vũ Chuyên ngành: KTXD Công trình giao thông

Mã số: 60.58.02.05 Khóa: 31 Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN

Tóm tắt - Thông qua tổng hợp, đánh giá, phân tích đã làm rõ được vấn đề hình thức đối tác

công tư PPP ở nước ta những mặt được, những mặt hạn chế, bất cập Xác định mục tiêu và thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về thu hút nguồn lực đầu tư từ khu vực tư nhân vào phát triển

cơ sở hạ tầng quốc gia; trong đó hạ tầng giao thông phải đi trước một bước, hướng tới phát triển bền vững Để phân tích sâu hơn các nội dung đầu tư theo hình thức đối tác công tư, đặc biệt là phục vụ cho việc xác định mục tiêu, cần xét một số quan điểm mới: Đầu tư xét đến lợi ích nhà nước, đầu tư xét đến lợi ích nhà đầu tư và đầu tư xét đến người dân tham gia Dựa trên kết quả của luận văn tác giả đã để ra hai nhóm giải pháp: Nhóm giải pháp về thể chế và nhóm giải pháp về kỹ thuật để nhằm khuyến khích, thu hút nguồn lực từ tư nhân Qua đó tác giả cũng kiến nghị sớm xây dựng bộ Luật về đầu tư đối tác công tư (Luật PPP), đồng thời sửa đổi các bộ luật có liên quan để không mâu thuẫn; đồng thời xây dựng nhiều hơn các văn bản dưới Luật

Từ khóa: Giải pháp, khuyến khích, đầu tư, đầu tư dự án giao thông, mô hình đối tác công tư,

tỉnh Trà Vinh quản lý

RESEARCH PROPOSAL FOR PROMOTION OF TRAFFIC INVESTMENT

PROMOTION UNDER THE PARTICIPATION OF PUBLIC-PARTNERSHIP (PPP)

BY TRA VINH PROVINCE Abstract: Through synthesis, evaluation and analysis, it has been clarified the issue of

Public-private partnership in our country, the advantages, shortcomings/disadvantages and inadequacies Define the objectives and institutionalize the Party's policies, viewpoints on attracting investment sources from the private sector to the development of national infrastructure; of which transport infrastructure must go one step ahead towards sustainable development In order to further analyze the investment contents in the form of public-private partnerships, especially for the purposes of defining objectives, a number of new perspectives should be considered: Investments must take into account the interests of the state, investors and stakeholders Based on the results of the thesis, the author has developed two sets of solutions: Institutional solutions and technical solutions to encourage and attract resources from private sector As a result, the author also proposed to early establish the Law on Public Private Partnership (PPP), at the same time to revise relevant laws so as not to cause any conflict; and develop more sub-law documents

Keywords: Solutions, incentives, investment, transport investment projects, public- private

partnership (PPP) model, under the management of Tra Vinh province

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

3.1 Danh mục các cam kết dự án có thể tham gia PPP trên địa bàn

3.2 Danh mục các cam kết hỗ trợ giải phóng mặt bằng, ưu đãi tài

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.1 Sơ đồ đánh giá dự án đầu tư phát triển GTVT theo quan điểm tài

2.2 Sơ đồ đánh giá dự án đầu tư phát triển GTVT theo quan điểm

2.4 Dự án giao thông dưới phương diện các giai đoạn triển khai 42

3.2 Mô hình bộ máy quản lý PPP trên địa bàn tỉnh Trà Vinh 69

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long Phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Vĩnh Long Phía Đông Bắc giáp tỉnh Bến Tre với sông Cổ Chiên Phía Tây Nam giáp tỉnh Sóc Trăng với sông Hậu Phía Nam và Đông Nam giáp biển Đông với hơn 65

km bờ biển, nơi có 2 cửa sông (Cung Hầu và Định An) được xem là 2 cửa sông quan trọng thông thương đồng bằng sông Cửu Long với biển Đông, nối với cả nước và quốc

tế Do vậy, Trà Vinh có địa thế và tầm quan trọng về kinh tế và quốc phòng đối với ĐBSCL

Hiện nay, hệ thống giao thông trong tỉnh vẫn còn nhiều hạn chế như: mạng lưới giao thông chưa đồng bộ và liên hoàn, các dịch vụ vận tải chưa phát triển hoặc phát triển tự phát, chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, chưa thu hút được nguồn vốn đầu tư…Do vậy nhu cầu đầu tư phát triển hệ thống giao thông trong thời gian tới là rất lớn; trong khi tình hình vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước hết sức khó khăn Trong bối cảnh như vậy, để xây dựng hoàn chỉnh hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông theo quy hoạch tỉnh Trà Vinh, đảm bảo sự phát triển đồng

bộ của hệ thống thì nguồn vốn ngân sách, vốn nhà nước là không thể đáp ứng Hình thức (mô hình) đối tác công – tư (PPP) là giải pháp huy động vốn của tư nhân bỏ ra góp cùng vốn nhà nước để xây dựng và khai thác sẽ khắc phục khó khăn về thiếu vốn Tuy nhiên vì nhiều lý do mà khối doanh nghiệp tư nhân không mấy mặn mà hình thức này, thực tế ở tỉnh Trà Vinh đến thời điểm này mới chỉ có 01 dự án là Tuyến số 01 thành phố Trà Vinh Phân tích vì sao lại như vậy và tìm giải pháp nhằm khuyến khích đầu tư dự án giao thông theo mô hình đối tác công – tư (PPP)

là nhiệm vụ của đề tài luận văn “Nghiên cứu đề xuất giải pháp khuyến khích đầu

tư dự án giao thông theo mô hình đối tác công – tư (PPP) do tỉnh Trà Vinh quản lý” mà tác giải luận vẫn mong muốn thực hiện Dẫu biết đây là một vấn đề không

đơn giản, nhất là một tỉnh còn hạn chế về phát triển kinh tế - xã hội, nhưng tác giả luận văn coi nhiệm vụ này là một cách thể hiện áp dụng kiến thức học tập và kinh nghiệm công tác để vận dụng vào thực tế ở tỉnh Trà Vinh

2 Đối tượng phạm vị nghiên cứu

- Các dự án đầu tư hạ tầng giao thông được vận dụng theo mô hình hợp tác Công

- Tư (PPP)

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Các dự án đầu tư vận dụng mô hình hợp tác Công - Tư (PPP) trong lĩnh vực giao thông được lựa chọn khảo sát trong các lĩnh vực

cụ thể

Trang 11

3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng và đề xuất một số giải pháp trong việc thu hút đầu tư dự án giao thông theo hình thức đối tác công tư (PPP)

- Mục tiêu cụ thể:

+ Làm rõ một số khái niệm và các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu + Xây dựng khung chính sách và đề xuất giải pháp khuyến khích đầu tư dự án giao thông tại Trà Vinh

+ Đề xuất chính sách khuyến khích đầu tư tại Trà Vinh

4 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào tình hình thực tế tại Trà Vinh kết hợp nghiên cứu lý thuyết gắn với lý luận thực tiễn để luận giải và phân tích theo ý tưởng của đề tài nêu trên

Trang 12

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Đặt vấn đề

Theo báo cáo của Bộ Giao thông Vận tải, thì ngành giao thông vận tải xác định nhu cầu vốn đầu tư trong giai đoạn 2016 - 2020 cần khoảng 952.731 tỷ đồng trong đó: lĩnh vực đường bộ cần 632.587 tỷ đồng (tương đương 66,4% nhu cầu), lĩnh vực đường sắt cần 135.281 tỷ đồng (tương đương 14,2% nhu cầu), lĩnh vực đường thủy nội địa cần 14.897 tỷ đồng (tương đương 1,6% nhu cầu), lĩnh vực hàng không cần 193.309 tỷ đồng (tương đương 9,8% nhu cầu), lĩnh vực hàng hải cần 64.771 tỷ đồng (tương đương 6,8% nhu cầu), vốn cho công tác chuẩn bị đầu tư và đầu tư các khối ngoài giao thông cần 11.886 tỷ đồng (tương đương 1,2% nhu cầu)

Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) đã được rất nhiều nước đã và đang

áp dụng có hiệu quả; không chỉ ở các nước đang phát triển mà ngay cả các nước phát triển giàu có thì hình thức này cũng thu hút nhiều nhà đầu tư

Tuy nhiên, ở nước ta cho đến nay chưa có nhà đầu tư nước ngoài nào đầu tư vào

dự án giao thông và chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư trong nước tham gia.Với các nhà đầu tư trong nước mấy năm gần đây hai hình thức được các nhà đầu tư triển khai

là BOT và BT khoảng trên 100 dự án nhưng cho đến thời điểm này vẫn đang “nóng” ở ngoài xã hội lẫn trong diễn đàn Quốc hội

Thực tế đặt ra ở nước ta hiện nay, rất cần huy động nguồn lực đầu tư ngoài khu vực công cho phát triển cơ sở hạ tầng, một mặt đáp ứng tốt cho nhu cầu về vốn, mặt khác cũng giảm thiểu nghĩa vụ nợ quốc gia và tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng kinh

tế Vậy làm thế nào để giảm “nóng”, khuyến khích đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh

tế - xã hội trong đó có hình thức “Đối tác Công - Tư” (PPP)? Nhiệm vụ trước hết thuộc ngành Giao thông vận tải và Nhà nước cần nhiều giải pháp căn cơ

Chương này tìm hiểu rõ hơn những khái niệm về PPP và những khái niệm liên quan trong luận văn

1.2 Một số khái niệm chính

1.2.1 Khái niệm đầu tư

Trong Luật đầu tư số 67/2014 không định nghĩa “đầu tư”, tuy nhiên trong Luật đầu tư năm 2005 [6] (đã được bãi bỏ) lại thể hiện: Đầu tư là việc nhà đầu tư

bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Khái niệm “đầu tư” theo Viện Ngôn ngữ học, từ điển Tiếng việt là việc: Bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội Trong khoa học kinh tế, đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại

Trang 13

cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt kết quả đó Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác Trong khoa học pháp lý và trong thực tiễn xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập đến là hoạt động đầu tư với bản chất “là sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận”

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế

Theo tác giả, Đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên (tiền, sức lao động, của cải vật chất, trí tuệ ) ở hiện tại nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai; là việc việc xuất vốn hoạt động nhằm thu lợi với mục tiêu là các lợi ích mà nhà đầu tư mong muốn mà phương tiện của họ là vốn đầu tư xuất

ra Đầu tư có thể được chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp:

- Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kế hoạch đầu tư Trong đầu tư gián tiếp người đầu tư không biết vốn của mình được sử dụng ở đâu, như thế nào Hoạt động đầu tư gián tiếp thường được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như mua cổ phiếu (nhưng không tới mức để tham gia quản lý doanh nghiệp), tín phiếu, tín dụng Đầu tư gián tiếp là một loại hình khá phổ biến hiện nay nhà đầu tư không có điều kiện và khả năng tham gia đầu tư trực tiếp nên họ chọn hình thức này;

- Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia quản lý, điều hành quá trình thực hiện và vận hành kế hoạch đầu tư

Đầu tư phát triển là một phương thức của đầu tư trực tiếp, hoạt động đầu tư này nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất và kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội

1.2.2 Khái niệm dự án

Dự án hiểu theo nghĩa thông thường là “điều mà người ta có ý định làm”

Theo “Cẩm nang các kiến thức cơ bản về quản lý dự án” của Viện Nghiên cứu Quản lý dự án quốc tế (PMI) thì “dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện để tạo ra một sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”

Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 và theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 9000:2000) thì dự án được định nghĩa như sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp

và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực

Trang 14

Theo hai khái niệm trên ta có thể hiểu dự án là một lĩnh vực hoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cụ thể cần phải được thực hiện với phương pháp riêng, nguồn lực riêng

và theo một kế hoạch tiến độ xác định

1.2.3 Khái niệm dự án đầu tư

Theo Luật đầu tư năm 2014 [16]: “Dự án đầu tư (DAĐT) là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”;

Theo Luật xây dựng số 50/2014 [17]: “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng mới, sửa

chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị

dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế -

kỹ thuật đầu tư xây dựng”;

Dự án đầu tư phải nhằm việc sử dụng có hiệu quả các yếu tố đầu vào để thu được đầu ra phù hợp với những mục tiêu cụ thể Đầu vào là lao động, nguyên vật liệu, đất đai, tiền vốn…Đầu ra là các sản phẩm dịch vụ hoặc là sự giảm bớt đầu vào Sử dụng đầu vào được hiểu là sử dụng các giải pháp kỹ thuật công nghệ, biện pháp tổ chức quản trị và các luật lệ…

Dự án đầu tư xây dựng công trình được phân loại theo quy mô, tính chất, loại công trình xây dựng và nguồn vốn sử dụng gồm: Dự án án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, dự án nhóm B, dự án nhóm C theo các tiêu chí quy định của pháp luật về đầu

tư công Dự án đầu tư gồm một hoặc nhiều công trình với loại, cấp công trình xây dựng khác nhau

- Loại công trình được xác định theo công năng sử dụng gồm: công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh

- Cấp công trình được xác định theo từng loại công trình căn cứ vào quy mô, mục đích, tầm quan trọng, thời gian sử dụng, vật liệu xây dựng và yêu cầu kỹ thuật xây dựng công trình

Tóm lại, theo tác giả Dự án đầu tư là tập hợp những đề xuất về việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những đối tượng nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng

về số lượng, cải tiến hoặc nâng cao chất lượng của sản phẩm hay dịch vụ nào đó trong một khoảng thời gian xác định

1.2.4 Khái niệm hình thức đầu tư PPP

Theo Luật đầu tư công [16]: “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là đầu tư

được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu

tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công”

Trang 15

Theo điều 3 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của chính Phủ [5]

“Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công”

Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi là hợp đồng PPP) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp, mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công (Luật Đầu

1.2.5 Khái niệm vốn

Vốn được hiểu là các của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy lại Nó có thể tồn tại dưới dạng vật thể hoặc vốn tài chính Công nghiệp hóa hiện đại hóa của nước ta đòi hỏi phải có nhiều vốn, trong đó nguồn vốn trong nước đóng vai trò quyết định, vốn ngoài nước đóng vai trò chủ đạo Theo nghĩa hẹp thì vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp, mỗi quốc gia Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các đơn vị sản xuất kinh doanh, dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác nhau như liên doanh, liên kết hoặc tài trợ của nước ngoài nhằm để: tái sản xuất, các tài sản cố định để duy trì hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có, để đổi mới và bổ sung các cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, cho các ngành hoặc các cơ sở kinh doanh dịch vụ, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật

mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới

1.3 Về dự án đầu tư theo hình thức công - tư

1.3.1 Khái niệm

Theo Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13 “Đầu tư theo hình thức đối tác công tư

là đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công”

Theo Sách Phương thức đối tác công –tư (ppp): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam (2013) [14] Đối tác công tư là sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ và tổ chức tư nhân nhằm mục đích cung cấp cơ sở hạ tầng công, các tiện nghi cho công đồng và các dịch vụ liên quan

Trang 16

Theo ADB (2008) tài liệu “Hướng dẫn về mối quan hệ hợp tác công tư” [20] hình thức đối tác công tư là các mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân liên quan đến quản lý, đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực khác thông qua các hợp

đồng được thiết lập theo các mức độ nghĩa vụ, quyền lợi và rủi ro của hai bên đối tác Vậy ppp là gì? Nó có những bản chất nào? Do đó ta cần phải làm rõ vấn đề

Theo tác giả mặc dù tồn tại dưới những dạng khác nhau trong thuật ngữ hoặc cách diễn giải, song về bản chất PPP là một hình thức hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, nhằm tích hợp được những điểm lợi thế nhất của cả hai trong việc thực hiện một

dự án nào đó Nói rõ hơn bản chất của sự hợp tác giữa nhà nước và doanh nghiệp tư nhân cho thấy mối quan hệ này, Nhà nước có thể đóng vai trò như “bên cấp vốn” hay

là hỗ trợ về vốn tài sản hay tư nhân trong việc cung cấp dịch vụ công trên cơ sở ký hoặc không ký hợp đồng giữa hai bên Nhà nước cũng có thể đóng vai trò là “bên mua dịch vụ” do tư nhân cung cấp một cách lâu dài; hoặc nhà điều phối tạo ra những diễn đàn để thu hút sự tham gia của doanh nghiệp tư nhân

Sự khác biệt giữa PPP và tư nhân hóa: Trong mô hình PPP, doanh nghiệp tư

nhân có vao trò đóng góp rất quan trọng, từ giai đoạn đầu tiên đến giai đoạn cuối cùng cũa một dự án, đều này trong rất nhiểu trường hợp, tạo ra sự hiểu lằm rằng công trình

dự án dịch vụ đó đang được nhà nước thực hiện “tư nhân hóa” Tuy nhiên sự thật PPP

và tư nhân hóa có những điểm khác biệt rất cơ bản

- Về trách nhiệm: Trong tư nhân hóa, trách nhiệm cung cấp và hỗ trợ tài chính cho một dịch vụ cụ thể nào đó do doanh nghiệp tư; trong khi đó theo cơ chế PPP, trách nhiệm cung cấp dịch vụ hoàn toàn thuộc về về Nhà nước

- Về sở hữu: Trong tư nhân hóa, quyền sở hữa được nhà nước bàn cho doanh nghiệp tư nhân cùng với những quyền lợi và chi phí, song cơ chế PPP vẫn có thể vẫn tiếp tục quyền duy trì của Nhà nước

- Về bản chất của dịch vụ, khi tư nhân hóa, các nhà cung cấp tư nhân sẽ quyết định phạm vi và phương thức cung cấp dịch vụ, trong khi dưới hình thức PPP, những vấn đề này được cả hai bên (nhà nước và tư nhân) quyết định thông qua hợp đồng

- Về rủi ro và lợi ích: Nếu là tư nhân hóa, doanh nghiệp tư nhân phải chịu hoàn toàn rủi ro, trong khi cơ chế PPP Nhà nước và tư nhân sẽ cùng chia sẽ các rủi

ro và lợi ích

Những đặc điểm cơ bản của phương thực hợp tác công tư:

- Chia sẽ rủi ro và lợi ích là vấn đề trung tâm và là đặc điểm nổi bật nhất của mô hình PPP, tác giả đi sâu vào phân tích cụ thể đặc điềm này Những rủi ro thường gặp

có thể xảy ra trong quá trình triển khai dự án:

+ Rủi ro trong quá trình xây dựng do những lý do như nhà thầu phá sản, môi trường bị tàn phá;

Trang 17

+ Rủi ro về thị trường do những nguyên nhân sử dụng dịch vụ không thực tế; + Rũi ro về tài chính do sự thay đổi về tỷ giá, lãi suất;

+ Rũi ro trong quá trình vận hành bảo trì do hợp đồng ngừng lại, những rủi ro về mặt công nghệ lao động;

+ Rủi ro về pháp lý do những thay đổi trong hệ thống luật pháp, do tình trạng phá sản của nhà cung cấp dịch vụ

Một số đặc điểm khác của phương thức PPP: Bao gồm mối quan hệ hợp tác lâu dài giữa đối tác công và tư; Các nội dung chính chủa dự án PPP bao gồm: Quy hoạch, lập dự án, thực hiện dự án và vận hành bảo trì dự án Gắn liền với nguồn tài chính từ đối tác tư nhân; Đối tác công trả công cho đối tác tư trong suốt vòng đời của dự án PPP, căn cứ vào chất lượng dịch vụ cung cấp

Chủ thể tham gia PPP: Đối tác công ở đây có thể là các bộ ngành, các chính quyền địa phương hoặc các doanh nghiệp nhà nước Đối tác tư nhân có thể là các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài

Những lợi ích khi áp dụng PPP: Về cơ bản, lợi ích khi áp dụng PPP là tận dụng điểm mạnh của nhà nước và khu vực tư nhân và điều đó mang lại lợi ích cho cả nhà nước và khu vực tư nhân và người dân sử dụng dịch vụ - sản phẩm của hợp tác công

tư, những lợi ích đáng chú ý nhất là:

- Tạo ra nhiều khoản đầu tư hơn cho cơ sở hạ tầng: Với cơ chế PPP, Nhà nước sẽ giảm được gánh nặng phải tìm kiếm, sắp xếp phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho cơ sở hạ tầng

- Tạo ra sự ổn định và tang trưởng cho khu vực tư nhân: Với việc tham gia vào

cơ chế PPP, khu vực tư nhân có nhiều cơ hội đầu tư mang tín dài hạn hơn, ít rủi ro hơn với sự đảm bảo của Nhà nước Từ đó tạo ra sự ổn định và tang trường cho khu vực tư nhân, thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp địa phương cũng như tạo ra nhiều công

ăn việc làm cho người lao động

- Phân bố và quản lý rủi ro tốt và hiệu quả hơn: Bất kỳ một dự án đầu tư nào điều

ẩn chứa những rủi ro, có thể là rủi ro về tài chính, về tiến độ thực hiện hay là về lợi nhuận Nhà nước là bên có trách nhiệm giải quyết nhửng rủi ro liên quan đến cộng đồng Ngược lại khu vực tư nhân ưu việc hơn trong việc sử lý những rủi ro liên quan đến quản lý, sử dụng đồng vốn

Tiết kiệm chi phí: Thứ nhất việc kết hợp hai khau thiết kế và xây dựng trong cùng một hợp đồng, cơ chế PPP cho pháp nhà thiết kế và nhà xây dụng thiết lập mối quan hệ gần gửi và sâu sắt hơn So với hợp đồng riêng biệt sự kết hợp này giúp cho việc thiết kế tiết kiệm được nhiều chi phí và giảm thời gian xây dựng Thứ hai hầu hết các dự án PPP cần dịch vụ vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời dự án do đó khu vực tư nhân sẽ có động lực và giải pháp (công nghệ, quản lý, sử dụng nguồn lực ) nhằm giảm thiếu chi phí vận hành và bảo trì trong suốt vòng đời dự án

Trang 18

Lĩnh vực nào cần áp dụng PPP? Theo Khoản 1, Điều 4 Nghị định số

15/2015/NĐ-CP các Dự án xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công gồm:

- Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan;

- Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái định cư; nghĩa trang;

- Nhà máy điện, đường dây tải điện;

- Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao

và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;

- Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung; ứng dụng công nghệ thông tin;

- Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;

Vì sao thích hợp ? Do các loại hình dự án này khác có khả năng đem lại lợi

nhuận kinh tế cao và điều đó thu hút các khu vực tư nhân Ngoài ra, trong các dự án cơ

sở hạ tầng kinh tế, doanh nghiệp tư nhân không chịu trách nhiệm xây dựng cơ sở hạ tầng mà còn gánh vách luôn nhiệm vụ bảo trì, đo đó cho khu vực tư nhân điều chỉnh thiết kế để phù hợp và thuận tiện cho việc bảo trì sao này Bởi vì những lý do liên quan đến lợi nhuận kinh tế, các dự án lien quan đến cơ sở hạ tầng xã hội ít hấp dẫn được các nhà đầu tư tư nhân để hình thành cơ chế PPP

Các loại hình PPP và đặc điểm (đối với các đặc điểm của hợp đồng sẽ được làm

rõ hơn ở chương II) Theo Điều 3 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP [10] có các loại hình

PPP như sau:

- Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu

tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu

tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất để thực hiện Dự án khác theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị định này

Trang 19

- Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định

- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (sau đây gọi tắt là hợp đồng BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản

2 Điều 14 Nghị định này

- Hợp đồng Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao (sau đây gọi tắt là hợp đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu

tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu

tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời hạn nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại Khoản 2 Điều 14 Nghị định này; hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Hợp đồng Kinh doanh - Quản lý (sau đây gọi tắt là hợp đồng O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn nhất định

Kết luận: PPP là các mối quan hệ giữa nhà nước và tư nhân liên quan đến quản

lý, đầu tư trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và các lĩnh vực khác thông qua các hợp đồng được thiết lập theo các mức độ nghĩa vụ, quyền lợi và rủi ro của hai bên đối tác là hợp

lý nhất

1.3.2 Về các loại dự án công trình giao thông

Theo Điều 8 nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2015 của Chính Phủ [7] Có các loại công trình xây dựng như sau: Công trình dân dụng; Công trình công nghiệp; Công trình giao thông; Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; Công trình hạ tầng kỹ thuật; Công trình quốc phòng, an ninh

Đối với công trình giao thông gồm các loại:

- Công trình đường bộ: Đường ô tô cao tốc các loại; đường ô tô, đường trong đô thị; đường nông thôn, bến phà;

- Công trình đường sắt: đường sắt cao tốc và cận cao tốc; đường sắt đô thị, đường sắt trên cao, đường tầu điện ngầm (Metro)[14]; đường sắt quốc gia; đường sắt chuyên dụng và đường sắt địa phương;

Trang 20

- Công trình cầu: cầu đường bộ, cầu bộ hành (không bao gồm cầu treo dân sinh); cầu đường sắt; cầu phao; cầu treo dân sinh;

- Công trình hầm:Hầm đường ô tô; hầm đường sắt; hầm cho người đi bộ

- Công trình đường thủy nội địa: Công trình sửa chữa/đóng mới phương tiện thủy nội địa (bến, ụ, triền, đà, ); cảng bến thủy nội địa; âu tầu; đường thủy chạy tàu (trên sông, hồ, vịnh và đường ra đảo, trên kênh đào);

- Công trình hàng hải: bến cảng biển; công trình sửa chữa/đóng mới phương tiện thủy nội địa (bến, ụ, triền, đà ); luồng hàng hải (chạy tàu 1 chiều); công trình chỉnh trị (đê chắn sóng/chắn cát, kè hướng dòng/bảo vệ bờ);

- Các công trình hàng hải khác: bến phà/cảng ngoài đảo, bến cảng chuyên dụng, công trình nổi trên biển; hệ thống phao báo hiệu hàng hải trên sông/biển; đèn biển, đăng tiêu;

- Công trình hàng không: Khu bay (bao gồm cả các công trình đảm bảo bay)

1.4 Tình hình áp dụng ở nước ngoài

1.4.1 Về xuất xứ

Phương thức PPP đã có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài trên thế giới, và trở nên phổ biến từ những năm 1990 Cũng có nhiều nghiên cứu phong phú và đa dạng

về PPP, có thể kể đến một số nghiên cứu gần đây và kết luận của các nghiên cứu này:

- Hardcastle và các tác giả (2005), Jonh và Sussman (2006) khẳng định không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có những chiến lược về PPP riêng tuỳ thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án;

- Yscombe (2007), Khulumane (2008) trong nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh: các quốc gia có thể chế nhà nước mạnh với khung pháp lý đầy đủ và minh bạch thường thành công với PPP;

- Akintoye và các tác giả (2003), Zhang (2005), Young và các tác giả (2009), đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thành công của PPP và kết luận rằng không có

sự khác biệt về nhân tố này giữa các nước phát triển và đang phát triển;

- Sau cuộc khủng khoảng tài chính 2008, nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa PPP và khủng hoảng đã được thực hiện, điển hình như nghiên cứu của Plum

và các tác giả (2009), Micheal (2010), Yelin và các tác giả (2010), Lyer và Mohammed (2010) Các nghiên cứu đều đi đến kết luận: các điều kiện thị trường hiện nay không loại trừ PPP mà còn tạo ra cơ hội để các nước phát triển PPP ngày càng phù hợp hơn với những thay đổi của môi trường sau khủng hoảng

1.4.2 Tình hình thực hiện của các nước phát triển trên thế giới

- Nước Anh (Dự án cầu QE2 Dartford Bridge) Khi đường cao tốc theo

đường vành đai M25 xung quanh London được hoàn thiện vào năm 1986, hai hầm của Dartford đã tạo ra một kết nối quan trọng cho mạng lưới đường giao thông quốc gia Lưu lượng giao thông trên con đường này đã nhanh chóng vượt quá công

Trang 21

suất thiết kế là 65.000 phương tiện mỗi ngày Do vậy, việc tăng cường năng lực cho đường cao tốc M25 bên cạnh hai con đường hầm đang được thu phí hiện tại là cần thiết Vào năm 1986, Chính phủ đã đưa ra những hướng dẫn để mời khu vực tư nhân tham gia đấu thầu cho việc thiết kế, xây dựng và vận hành con đường thứ ba

đi qua sông Thames giữa Thurrock và Dartford Đây là dự án cơ sở hạ tầng đầu tiên tại Anh kêu gọi sự tham gia của khu vực tư nhân trong thế kỷ 20 dưới hình thức PPP với thời gian nhượng quyền là 20 năm

Qua quá trình hợp tác tổ chức thực hiện thể hiện trách nhiệm của mỗi bên thông qua các điều khoản hợp đồng Kết quả là dự án này được chuyển giao đúng thời hạn và nằm trong giới hạn ngân sách ban đầu Có hơn 836 triệu phương tiện đi qua Dartford sử dụng cả hầm và cầu từ năm 1963 đến 2011 Có tổng cộng 85 nghìn phương tiện sử dụng các công trình đi qua Dartford mỗi ngày Dự án này đã trả được nợ nhanh hơn do mật độ giao thông cao hơn dự báo

- Nước Đức (Dự án hầm Warnowquerung): Việc xây dựng hầm có ý nghĩa

quan trọng đối với kinh tế địa phương xét về khía cạnh cơ sở hạ tầng đường bộ Các điều kiện cơ sở hạ tầng ảnh hưởng trực tiếp tới thành công về mặt kinh tế và sự hấp dẫn của địa phương, do vậy hầm Warnowquerung có đóng góp lớn cho việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của thành phố cũng như khu vực Tầm quan trọng của đường hầm này càng lớn hơn do hầm này là dự án đầu tiên được thiết kế, xây dựng, tài trợ và vận hành bởi một đối tác tư nhân và cũng là dự án đầu tư ở Đức được hoàn vốn từ phí của người sử dụng

Đây là dự án xây dựng đường bằng hình thức PPP đầu tiên ở Đức Để thực hiện

dự án mà không cần sự tham gia đáng kể của Chính phủ liên bang Đức, thành phố Rostock được chỉ định là cơ quan thực hiện và nhượng quyền đối với dự án này Việc xây dựng được bắt đầu vào tháng 12/2001 và vận hành vào tháng 9/2003

Dự án sẽ nhượng quyền cho khu vực tư nhân một cách khép kín, từ việc thiết kế, tài trợ vốn, xây dựng, vận hành, cho tới bảo dưỡng và thu phí

Khó khăn trong quá trình thực hiện dự án là mức lưu lượng giao thông thực tế sau khi dự án vận hành không đạt được mức như dự báo, khiến dự án rơi vào nguy cơ

vỡ nợ Những phân tích về lưu lượng giao thông của các tổ chức khác nhau trước khi

dự án được thực hiện giả định rằng nếu hầm không thu phí, lưu lượng giao thông qua hầm sẽ là 40.000 phương tiện mỗi ngày Các dự báo đưa ra thì cho rằng lưu lượng phương tiện giao thông qua hầm sẽ là 25.000 đến 30.000 phương tiện mỗi ngày Cho tới tháng 4/2003, vài tháng trước khi dự án hoàn thành, lưu lượng giao thông được dự báo vẫn cao, ở mức 22.000, nhưng đã giảm so với con số trước đó

Một yếu tố khác khiến dự án không thành công là khuôn khổ pháp lý yếu kém và

sự thiếu kinh nghiệm của các đối tượng có lien quan trong dự án PPP Khi các dự án PPP đầu tiên trong lĩnh vực đường giao thông được thực hiện, khuôn khổ thể chế còn

Trang 22

thiếu và không hợp lý, lại bị ràng buộc một phần bởi luật Châu Âu Hiện nay, các luật liên quan đến PPP trong lĩnh vực đường giao thông vẫn đang được điều chỉnh Trong năm 2005, điều luật thúc đẩy PPP đã ra đời thay thế cho luật năm 1994 Luật Đơn giản hóa PPP cũng đã ra đời vào cuối năm 2007 Theo kinh nghiệm quốc tế, riêng thể chế pháp lý tốt đã có thể tạo ra những điều kiện để thực hiện thành công các dự án có sự tham gia của khu vực tư nhân Các bên liên quan cần phải dựa vào cơ sở pháp lý để tính toán phân bổ rủi ro Hơn thế nữa, điều quan trọng là mối quan hệ theo hợp đồng cần được hiểu là mối quan hệ đối tác, ngay cả khi các bên tham gia đều có những lợi ích riêng của mình trong dự án

Luật Thúc đẩy PPP năm 2005 của Đức

Luật thúc đẩy đầu tư theo hình thức PPP thực chất là một văn bản tổng thể chứa đựng những điều chỉnh/ sửa đổi những quy định thuộc các bộ luật và các văn bản pháp

lý khác nhau liên quan tới những khía cạnh riêng rẽ trong đầu tư theo phương thức PPP Bộ luật này điều chỉnh các quy định liên quan tới quan hệ PPP trong 7 văn bản pháp lý có hiệu lực thi hành tại thời điểm đó, cụ thể là:

1 Luật chống hạn chế cạnh tranh;

2 Nghị định về mua sắm công;

3 Luật về tài trợ tư nhân trong xây dựng đường quốc lộ Liên bang;

4 Luật Ngân sách Liên bang;

5 Luật Thuế chuyển giao bất động sản;

6 Luật Thuế đất đai;

7 Luật Đầu tư

Hiện nay, ngoài những quy định tương đối tổng thể về phương thức đầu tư PPP như trong bộ luật trên, CHLB Đức đã ban hành thêm hoặc tiếp tục điều chỉnh, bổ sung những quy định cụ thể về các vấn đề kinh tế - tổ chức trong một số Luật về PPP cho từng lĩnh vực hoặc những vấn đề riêng rẽ liên quan tới quan hệ đối tác công- tư

Kết quả là, từ 2003 tới 2007, số dự án PPP ở Đức tăng từ 01 lên 35 dự án, số vốn tăng từ 345 triệu (2004) lên 1.498 triệu € (2007) Tới cuối năm 2008, số dự án PPP đã chiếm tới khoảng 15% tổng số dự án đầu tư xây dựng các công trình công cộng Tới đầu năm 2013, ở Đức có 243 dự án PPP trên mọi lĩnh vực

1.5 Tình hình trong nước

1.5.1 Nhìn tổng quát

Căn cứ pháp lý thực hiện dự án theo mô hình đối tác công tư hình thành từ cách đây hơn 20 năm Nghị định 77/CP ngày 18-6-1997 được ban hành, nội dung về việc ban hành quy chế đầu tư theo hình thức hợp đồng BOT áp dụng cho đầu tư trong nước Đến nay, cơ sở pháp lý cao nhất liên quan đến hợp tác công tư là Nghị định 15/2015/CP ngày 14-02-2015 về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, các nghị định khác và đặc biệt là các Thông tư hướng dẫn của các bộ Tuy nhiên đến nay chưa có luật định là một trở ngại cho nhà đầu tư về vấn đề pháp lý

Trang 23

Theo số liệu công bố của Vụ Đối tác công tư, Bộ Giao thông Vận tải (2018), hiện

có 74 dự án hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do Bộ Giao thông Vận tải quản lý Trong đó có 41 dự án đang vận hành khai thác, 12 dự án đang triển khai xây dựng, 16 dự án đang chuẩn bị đầu tư và 5 dự án đang đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư Các dự án này chủ yếu là dự án BOT, một số dự án BT và số ít dự án BTO (Xây dựng

- Chuyển giao - Kinh doanh)

Ngoài những dự án hạ tầng giao thông do Bộ Giao thông Vận tải quản lý, có nhiều dự án hạ tầng giao thông thực hiện theo mô hình PPP do các địa phương quản

lý Tổng mức đầu tư của các dự án này là rất lớn so với tỷ lệ vốn huy động của các

dự án đầu tư công nói chung, cũng như những dự án hạ tầng giao thông nói riêng Đơn cử như theo thống kê số dự án hoạt động đầu tư theo hình thức PPP nói chung (bao gồm cả các dự án hạ tầng giao thông) trong thời gian qua tại Thành phố Hồ Chí Minh tuy chỉ chiếm tỷ lệ 5% so với số dự án đầu tư công nhưng nguồn vốn huy động của các dự án PPP tại Thành phố Hồ Chí Minh có giá trị gấp 5 lần nguồn lực của đầu

tư công Đây có thể coi là những thành công bước đầu khi huy động được nguồn lực (vốn, kinh nghiệm quản lý…) của khu vực tư nhân vào phát triển các dịch vụ công nói chung, cũng như đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông nói riêng Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, việc thu hút nhà đầu tư tham gia thực hiện các dự án

hạ tầng giao thông theo mô hình PPP còn nhiều trở ngại, do những nguyên nhân chủ yếu sau:

- Đối với pháp lý và chính sách còn dùng chung cho các dự án đầu tư xây dựng

- Chưa có khung pháp lý đủ chắc chắn để nhà đầu tư an tâm đầu tư

- Không phải dự án đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông nào được kêu gọi đầu tư cũng hấp dẫn về mặt tài chính

- Vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng giao thông lớn, cấu trúc tài chính chưa hấp dẫn, khả năng tự vay nợ khó

- Cơ chế phân chia rủi ro khi thực hiện dự án là thiếu rõ ràng và cụ thể

1.5.2 Vài nhận xét về xung đột dự án BOT gần đây

Qua đọc khoản 100 bài báo tham khảo từ Internet về vấn đề BOT từ năm 2017 đến tháng 4/2018, tác giả thấy một số vấn đề nổi cộm như:

Nguồn từ Baovietnam.net (2017) bài Ai chống lưng ‘ông BOT’ mà ‘ăn’ tiền của dân?

- Phó Chủ tịch Hiệp hội Kỹ thuật cầu đường VN đặt câu hỏi có ai chống lưng cho

‘ông BOT’ không mà ‘ông’ muốn làm gì thì làm?

Đoàn giám sát của UB Thường vụ QH làm việc với cơ quan Kiểm toán nhà nước sáng nay 21/2/2017 về việc thực hiện chính sách pháp luật trong đầu tư và khai thác

Trang 24

các công trình giao thông theo hình thực hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (BOT)

Không đi cũng phải trả phí

Phó tổng Kiểm toán nhà nước Nguyễn Quang Thành cho biết theo quy định vị trí trạm thu phí phải có khoảng cách 70km nhưng thực tế xảy ra 2 tình trạng

Một là trạm thu phí cho dự án nhưng đặt trên tuyến đường khác và không gắn với

dự án, dẫn đến tình trạng người dân không đi trên đường được đầu tư bằng BOT nhưng vẫn phải trả phí cho nhà đầu tư

Tình trạng thứ 2 là khoảng cách giữa các trạm thu phí không đảm bảo tối thiểu 70km nhưng đều được sự chấp thuận giữa Bộ GTVT, Bộ Tài chính và địa phương Việc này làm cho mật độ trạm thu phí càng dày đặc thêm

Bên cạnh đó là tình trạng cứ qua trạm là thu phí không kể chiều dài đi được bao nhiêu đều có mức thu như nhau, khiến người dân và DN tại địa phương nơi đặt trạm thu phí hàng ngày phải di chuyển qua lại dù rất ngắn nhưng lại trả phí rất cao

Ông Thành cũng nêu thực trạng hầu hết các dự án trạm thu phí BOT đều theo hình thức chỉ định thầu, gây khó khăn cho quản lý, kiểm tra kiểm soát

Phó Tổng kiểm toán Nhà nước cũng cho hay, kết quả kiểm toán cho thấy việc tính toán xác định tổng mức đầu tư của 11/27 dự án còn chưa chính xác làm tăng tổng mức đầu tư bất hợp lý giá trị 465,5 tỷ đồng

Sau khi rà soát các chỉ tiêu đầu vào, tính toán lại phương án tài chính sát thực tế, phù hợp quy định, Kiểm toán Nhà nước đã giảm thời gian thu phí hoàn vốn của các dự

án từ 10 tháng – 13 năm so với phương án tài chính ban đầu

Tự tung tự tác, chả ai quản lý?

Ông Nguyễn Ngọc Long, Phó Chủ tịch Hiệp hội Kỹ thuật cầu đường VN chỉ ra không chỉ nhiều trạm thu phí trên đường dài mà cả trong đường nội bộ cũng nhiều khiến người dân bức xúc

Nguyên Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền nêu việc kiểm soát các dự án BOT còn hạn chế để các chủ đầu tư tự tung tự tác, dẫn đến thất thoát, tiêu cực từ tài chính, chất lượng, thời gian, tiến độ

Đó là do các dự án BOT mang tính chiến lược còn ít, chủ yếu cải tạo nâng cấp trong ngắn hạn Trong khi việc lập dự án BOT phần lớn do DN làm, cơ quan nhà nước

thẩm định phê duyệt Chính vì vậy dễ dẫn sai sót, có sự thỏa thuận nào đó?

Ông Dương Quốc Anh, Phó Chủ nhiệm UB Kinh tế cũng thắc mắc dự án lớn lại chỉ định thầu và đề nghị phải đấu thầu công khai minh bạch việc này

Ông Nguyễn Văn Thanh, Chủ tịch hiệp hội Vận tải ô tô VN thì cho rằng, những sai sót trong việc đề ra thời gian thu phí quá dài, kiểm toàn phải rút ngắn thời gian thu phí (10 tháng – 13 năm) không thể nói là nhầm

Trang 25

“Một chủ trương lớn như thế mà để nhóm lợi ích ăn cướp tiền của dân Chắc có ông nào chống lưng cho BOT?

- Nguồn từ Diễn đàn doanh nghiệp (2017) theo ý kiến của các thành viên

Đoàn giám sát nhằm khắc phục những khiếm khuyết trong quá trình triển khai dự án giao thông BOT khẳng định: Ở nước ta, PPP, trong đó có các hình thức BOT, BT, BOO, BLO… là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 1/11/2016 đã xác định: “đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức PPP, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án” Nghị định số 15/2015/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư hiện là văn bản pháp lý cao nhất cho loại hình đầu tư này

Tuy nhiên do hình thức đầu tư BOT phức tạp hơn rất nhiều so với đầu tư công truyền thống, nên việc ban hành các văn bản hướng dẫn có phần chưa kịp thời hoặc chưa thật bao quát, rõ ràng, chi tiết dẫn đến trong quá trình thực thi còn nhiều vướng mắc, chưa đáp ứng được yêu cầu, gây khó cho cả cơ quan nhà nước, cả nhà đầu tư lẫn người thụ hưởng dự án Do đó, theo ông Văn, Chính phủ cần sớm trình Quốc hội ban hành luật đầu tư theo hình thức hợp tác công – tư, bảo đảm tính ổn định của chính sách, làm cho chủ trương PPP trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước không chỉ trong đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông mà cả trong các lĩnh vực khác như thủy lợi, y tế, giáo dục, dịch vụ công…

Khi Kiểm toán Nhà nước báo cáo kết quả kiểm toán 27 dự án BOT giai đoạn

2011 – 2016 với Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã gây bức xúc đối với xã hội Theo đó, có 11/27 dự án tính sai giá dự phòng, áp sai giá vật liệu, tính sai khối lượng… làm tăng tổng mức đầu tư bất hợp lý 465,5 tỷ đồng Kiểm toán Nhà nước phải kiến nghị xử lý tài chính hơn 1.358 tỷ đồng Đặc biệt, 22/27 dự án phải giảm thời gian thu phí từ 10 tháng đến 13 năm, tính tổng lên tới cả 100 năm

Giai đoạn 2011 - 2015, ngành giao thông đã huy động được khoảng 189 nghìn

tỷ đồng để đầu tư 64 dự án PPP, trong đó có 59 dự án BOT và 4 dự án BT kể cả đường bộ, thủy nội địa, hàng hải, công nghệ, đào tạo Đây là một cố gắng rất lớn nhất

là khi ngân sách nhà nước chỉ có thể cân đối khoảng 16% bằng 91 nghìn tỷ trên tổng nhu cầu đầu tư về giao thông là 575 nghìn tỷ giai đoạn 2011 - 2015

Ngày 14/02/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP), thay thế cho các quy định pháp lý khác để tạo 1 khuôn khổ pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm dọn đường thúc đẩy đầu tư khu vực tư nhân và các dự án hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam Các hình thức hợp đồng đầu

tư dự án như BOT, BTO và BT, được chính thức coi là các dạng thức của hợp đồng đầu tư theo hình thức PPP và chịu sự điều chỉnh thống nhất của nghị định 15

Trang 26

1.5.3 Vậy điều gì làm PPP giao thông chưa hấp dẫn?

Câu trả lời chắc chắn không dễ nhưng qua lý luận và thực tế ở nước ta có thể thấy:

- Do chưa có khung pháp lý đủ chắc chắn để nhà đầu tư an tâm đầu tư

Khung pháp lý để mô hình PPP triển khai chưa được thể hiện thông qua một luật

cụ thể mà mới chỉ dừng ở nghị định, thông tư Các dự án Ngành giao thông có nhiều đặc thù nhưng nhiều nội dung của ngành chưa xét đến

- Nạn thủ tục giấy tờ và thất thoát vốn, tham nhũng được ẩn chứa ở mọi bước triển khai

Tình trạng đội vốn, tình tổng mức đầu tư so hơn nhiều với giá trị thực … làm nguy cơ rủi ro rất nhiều cho nhà đầu tư

- Thu xếp vốn và cơ cấu vốn là trở ngại

Vốn đầu tư cho các dự án hạ tầng giao thông lớn, cấu trúc tài chính chưa hấp dẫn, khả năng tự vay nợ khó Để có thể triển khai dự án, ngoài nguồn vốn đối ứng từ phía

cơ quan nhà nước thấp, khoản vốn còn lại nhà đầu tư sẽ đi vay Tuy nhiên, nhà đầu tư khó tiếp cận các tổ chức tín dụng trong nước do các tổ chức này e ngại thời gian thu hồi vốn dự án quá dài, vốn chủ sở hữu thấp, rủi ro không thực hiện tiếp dự án để có nguồn trả nợ

- Rủi ro và cơ chế phân chia rủi ro là mối lo

Nhiều dự án giao thông mô hình PPP không chỉ trong suốt một vòng đời dự án

mà có thể kéo dài thời gian khai thác Tất cả các loại rủi ro đều tiềm ẩn: Rủi ro từ chính sách (tư duy nhiệm kỳ), rủi ro từ yếu tố kỹ thuật (quy định thiết kế sai…), rủi ro

về khả năng tiếp cận đất đai, tăng chi phí xây dựng, doanh thu không đạt dự kiến (dự

án BOT), rủi ro về lãi suất, rủi ro chậm tiến độ, làm chậm nguồn thu, rủi ro thay đổi chính sách nhà nước, rủi ro tỷ giá khi vay vốn bằng ngoại tệ, rủi ro về môi trường, rủi

ro tranh chấp…

- Yếu kém về quản lý và yếu tố kỹ thuật

Ngành GTVT là một ngành đặc biêt, có rất nhiều loại dự án khác nhau Nếu không được nghiên cứu thấu đáo thì trạng thái Nhà nước và Nhà đầu tư lơ mơ vẫn luôn tồn tại Tác giả cho đây là yếu tố kỹ thuật dẫn đến mọi nguy cơ và PPP không phát triển được

Vài ví dụ: Tại sao phải quy định chiều dài 70 km; Tại sao PPP lại phải làm đường mới? Tại sao nhà nước phải chịu rủi ro hay cho nhà đầu tư khi họ dự báo thị trường sai, nâng cao vốn? Tại sao thời gian khai thác quá cả vòng đời mà không có

nghĩa vụ xây dựng?

Trang 27

1.6 Kết luận

- Trong những năm qua và đặc biệt gần đây Nhà nước đã đánh giá đúng vai trò

và khẳng định sự cần thiết và vị trí của loại dự án PPP trong quá trình phát triển đất nước Điều này được thể hiện bằng việc ban hành nghị quyết, chủ trương, nhiều văn bản quy phạm pháp quy như nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức đối tác công tư, Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 25/03/2015 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư và một số Thông tư, văn bản hướng dẫn có liên quan đã tạo khung pháp lý khá đầy đủ và chi tiết làm cơ sở thực hiện việc quản lý đầu tư xây dựng theo hình thức PPP Tuy nhiên, nhiều hệ lụy của các dự án BT, BOT gần đây đã đặt ra nhiều vấn đề cần giả quyết: chưa có văn bản pháp luật thì sự hoài nghi của nhà đầu tư là không tránh khỏi; chất lượng của các văn bản pháp quy ẩn chưa nhiều tiêu cưc làm PPP không phát triển, an ninh xã hội bất an Vì vậy mọi lĩnh vực, vị trí đòi hỏi chung tay góp sức nhằm khuyến khích PPP phát triển

- Với mục tiêu của luận văn tác giả đã làm rõ thêm một số một số khái niệm có liên quan và tình hình vấn đề nghiên cứu để các phần tiếp theo giải quyết mục tiêu tổng quát

Trang 28

Hiện nay, do nguồn vốn ngân sách Nhà nước, bao gồm cả vốn vay nước ngoài trong kế hoạch trung hạn là rất hạn hẹp Đối với nguồn vốn ODA vẫn đang tiếp tục thực hiện nhưng do cơ chế ràng buộc và trần nợ công quốc gia đã đến ngưỡng không

an toàn cũng, đây là một hạn chế lớn cho việc huy động nguồn vốn ODA cho các dự

án nói chung và giao thông nói riêng

Trong khi đó, theo nhiều thông tin điều tra nguồn vốn trong dân chưa được huy động khá dồi dào Làm thế nào để huy động được vốn nhàn rỗi trong dân? Làm thế nào để huy động được trí và lực của người dân?

Giu có như các nước phát triển thì hình thức PPP cũng là hướng đi đúng đã được khẳng định và khuyến khích

Ở nước ta khoảng chục năm lại đây trên dưới 100 dự án giao thông theo hình thức BOT, BT mặc dù có khai thông và đóng góp cho sự phát triển Kinh tế-Xã hội nhưng những hệ lụy của những dự án này là không nhỏ Nghị trường Quốc Hội khóa

14 lúc này đang diễn ra và BOT cũng là “Đề tài” đưa ra chất vấn và thảo luận sôi nổi Tuy nhiên, Quốc hội cũng khẳng định 2 nghị quyết: 1.Nghị quyết 13/2012-TW, của Hội nghị lần thứ 4 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “xây dựng hệ thông kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước Công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” và 2 Nghị quyết 437/NQ-UBTVQH14, của UBTV quốc hội: “Về một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện chính sách pháp luật về đầu tư và khai thác các công trình giao thông theo hình thức hợp đồng Xây dựng- kinh doanh - chuyển giao (BOT)” là một điều khẳng định PPP là một hướng đi đúng,

cần được khuyến khích!

Đi tìm câu lời giải cho vấn đề đặt ra:

Khuyến khích như thế nào (giải pháp) để PPP phát triển? Không dễ một đề tài luận văn lại trả lờ đầy đủ vấn đề này, mà tác giả luận văn muốn góp suy nghĩ của mình qua nội dung nghiên cứu được trình bày dưới đây

Trang 29

2.2 Phương pháp tiếp cận

Để tiếp cận vấn đề: Làm sao để khuyến khích đầu tư PPP phát triển?

Tác giả luận văn chủ yếu là đi tìm hướng đi tổng quát (khung phương pháp) mà không có điều kiện phân tích kỹ một giải pháp cụ thể Tác giả cho đây là một tư duy tiếp cận tổng quát, cơ bản mà nhiều lĩnh vực hoạt động của chúng ta hiện nay chưa thành công bởi thiếu vắng nó Dưới đây là các nội dung tiếp cận được xoay quanh các vấn đề sẽ trình bày ở chương này:

1 Những nội dung liên quan đến lý luận cơ bản về PPP

2 Đi tìm câu trả lời tại sao PPP (BOT) ở nước ta không được người dân hưởng ứng? Phân tích vài yếu tố về thể chế: quy định về vốn, quy định về phân chia lợi nhuận, lợi ích, quy trình và trách nhiệm ra quyết định đầu tư

3 Bước đầu kiến nghị khung giải pháp để khuyến khích PPP

2.3 Cơ sơ đưa ra giải pháp

2.3.1 Cơ sở lý thuyết

a Phân tích làm rõ một số khái niệm và nội dung quan trọng khi lập dự án đầu

tư trong ngành GTVT

Ở chương 1 tác giả đã nêu những khái niệm tổng quát, trở lại vấn đề này để làm

rõ hơn bản chất của PPP Một vài câu hỏi đặt ra: PPP có phải là Tư nhân hóa không? Nhà nước có góp vốn không? Vai trò của nhà nước ở hợp đồng này là gì? Đứng về phía ai khi có tranh chấp? Nhà đầu tư được ký hợp đồng nào trong giao thông? (Xây dựng mới? cải tạo? khai thác )

* Sơ lược xuất xứ dự án PPP

Phương thức PPP đã có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu trên thế giới, ngay ở nước ta hình thức công tư hợp doanh đã có sau khi nước VNDCCH ra đời (1945), ví dụ: hãng quần áo Cự Doanh Hà Nội Tuy nhiên, PPP trở nên phổ biến và phát triển lý luận từ những năm 1990 Cũng có nhiều nghiên cứu phong phú và đa dạng về PPP, có thể kể đến một số nghiên cứu gần đây và kết luận của các nghiên cứu này:

- Hardcastle và các tác giả (2005), Jonh và Sussman (2006) khẳng định không tồn tại một hình thức PPP chuẩn và mỗi nước đều có những chiến lược về PPP riêng tuỳ thuộc vào bối cảnh, thể chế, nguồn tài trợ và tính chất của dự án;

- Yscombe (2007), Khulumane (2008) trong nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh: các quốc gia có thể chế nhà nước mạnh với khung pháp lý đầy đủ và minh bạch thường thành công với PPP;

Trang 30

- Akintoye và các tác giả (2003), Zhang (2005), Young và các tác giả (2009), đã nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự thành công của PPP và kết luận rằng không có

sự khác biệt về nhân tố này giữa các nước phát triển và đang phát triển;

- Sau cuộc khủng khoảng tài chính 2008, nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa PPP và khủng hoảng đã được thực hiện, điển hình như nghiên cứu của Plum

và các tác giả (2009), Micheal (2010), Yelin và các tác giả (2010), Lyer và Mohammed (2010) Các nghiên cứu đều đi đến kết luận: các điều kiện thị trường hiện nay không loại trừ PPP mà còn tạo ra cơ hội để các nước phát triển PPP ngày càng phù hợp hơn với những thay đổi của môi trường sau khủng hoảng

(Nguồn: Trích từ “Phương thức đối tác công tư (PPP): Kinh nghiệm quốc tế và khuôn khổ thể chế tại Việt Nam” của Nhà xuất bản Tri thức”)

* Một số khái niệm về hợp đồng đối tác công tư

Ở Việt Nam, có thể tìm hiểu ở các mục giải thích Từ ngữ ở các văn bản Pháp

quy dưới đây :

+ Luật Đầu tư công 2014 [16] : “Hợp đồng đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là hợp đồng được ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiêp dự án để thực hiện dự án đầu tư theo qquy định tại điều 27 của Luật này” Trong đó, điều 27 : “1 Nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án ký kết hợp đồng PPP với

cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện đầu tư dự án xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp mở rộng, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hoặc cung cấp dịch vụ công 2 Chính phủ quy định chi tiết lĩnh vực , điều kiện , thủ tục thực hiện dự

để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công” Theo

đó, [25] cũng quy đinh Hợp đồng PPP gồm 7 loại (trình bầy ở phần dưới) và ngoài ra

điều 32 quy định “các Bộ, ngành và UBND cấp tỉnh đề xuất các loại hợp đồng tương

tự khác trình Thủ tướng xem xét và quyết định”

Qua việc dẫn khái niệm từ 2 tài liệu pháp quy quan trọng có thể phân tích và nhận xét như sau :

- PPP là hợp đồng đầu tư dự án được ký kết 2 bên: Nhà nước và Nhà Đầu tư hay

Doanh nghiệp;

Trang 31

- Được phép thực hiện đầu tư ở xây dựng hạ tầng hay dịch vụ ở bất kỳ hình thức

nào (làm mới, cải tạo, nâng cấp, quản lý, vận hành )! Vậy tại sao khi triển khai hiện nay chỉ cho phép làm đường mới ? Đây là một điều cần suy ngẫm!;

- Tuy nhiên, cụm từ “thực hiện dự án” ở đây có thể hiểu theo hai cách: chỉ được

làm ở giai đoạn “thực hiện dự án” nghĩa là không bao gồm giai đoạn chuẩn bị đầu tư (Quy hoạch, lập dự án khả thi) theo quy định Quản lý dự án ở nước ta hiện hành, hoặc xem “ thực hiện” là hoạt động xuyên suốt vòng đời của dự án Theo tác giả, đã là đối tác hợp tác (partnership) thì hướng tiếp cận của thế giới là đối tác (tổ chức, cá nhân) có thể tham gia vào bất kỳ công việc nào và góp vốn dưới bất kỳ hình thức nào (tiền, tài sản, lao động) Trong lĩnh vực giao thông từ đây sự tham gia của đối tác và công

chúng sẽ làm cho người ta nhận thấy được quyền và trách nhiệm của người với xã hội

Như vậy Hợp đồng thì phải được ký giữa các bên có tư cách pháp nhân nhưng sự đóng góp của công chúng và sự minh mạch với họ sẽ huy động được sức mạnh tổng hợp và hạn chế bức xúc của xã hội như hiện nay;

Để tìm hiểu đầu tư PPP là mang lại lợi ích gì? Ai được hưởng và tỷ lệ phân chi

như thế nào là hợp lý? tác giả dẫn thêm vài khái niệm:

ĐẦU TƯ “là một quá trình hoạt động bỏ vốn (tiền bạc, nguồn lực, công nghệ)

để đạt được mục tiêu hoặc tập hợp các mục tiêu nhất định nào đó”

DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH là: “tập hợp các đề xuất có liên

quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng, cải tạo công trình nhằm mục đích phát triển, duy trì hoặc nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định…” [luật XD-2014]

Hoặc “là tổ hợp các giải pháp nhằm sử dụng nguồn lực, tài nguyên để tạo ra lợi ích cho nhà đầu tư và xã hội”

Như vậy có thể thấy Dự án đầu tư là công cụ để thực hiện hoạt động đầu tư vì thế

nó chứa các yếu tố đầu tư Và đã là đầu tư phải có mục tiêu, mục đích hoặc lợi ích mang lại Vì thế, khi lập dự án thì mục tiêu, lợi ích hay nói khác đi kết quả của dự án

là yếu tố quan trọng hàng đầu Đối với nhà nước mục tiêu không chỉ là thu hút vốn đầu

tư từ ngoài nhà nước mà còn xem đây là công cụ, động lực phát triển kinh tế-xã hội ở

cả tầm vĩ mô và vi mô, ở cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, tuy vậy yếu tố tài chính

cũng không xem nhẹ để tạo nguồn thu từ vận hành dự án Đối với nhà đầu tư, tiêu chí tài chính (tiền) được đặt lên hàng đầu bởi họ bỏ vốn ra đầu tư phải sinh lời, nhưng lời

là bao nhiêu thì họ chấp nhận thì phụ thuộc vào cạnh tranh, rủi ro Còn đối với người dân, mặc dù họ đã hưởng một phần từ lợi ích nhà nước nhưng điều quan trọng mà họ cảm nhận trực tiếp là: Tại sao họ phải chi phí cho dự án này nếu họ không sử dụng

Trang 32

dịch vụ? Những tác động của dự án đến môi trường sống và hoạt động của họ có bị ảnh hưởng tiêu cực không? Nếu lợi thì lợi như thế nào? Điều này trách nhiệm của các bên ký hợp đồng phải làm rõ và minh bạch

Nói tóm lại, sự minh bạch thu, chi, sự minh bạch về phân chia lợi ích là điều cốt lõi không chỉ công khai cho công chúng biết, mà còn cho công chúng được tham gia

* Nội dung về vốn trong PPP

Như trên đã đề cập dự án đầu tư là bỏ vốn Vốn được nêu ra: “Vốn đầu tư là

tiền và tài sản khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh” [Luật đầu tư 2014] Hiện nay các văn bản pháp quy về PPP không quy định 2 bên (Nhà nước và Nhà đầu tư) khi ký hợp đồng thì tỷ lệ góp vốn là bao nhiêu Một điều chắc chắn là Nhà đầu

tư phải bỏ vốn, còn Nhà nước có nhất thiết phải có vốn không? Nếu không góp vốn thì lợi nhuận, lợi ích được phân chia và đánh giá như thế nào? Vấn đề này trong các dự

án về giao thông do rất đa dạng càng trở nên phức tạp Dự án xây dựng hạ tầng chiếm đất nhiều Hàng loạt vấn đề đặt ra đất là tài sản nhưng có phải là vốn không? Nếu đã là vốn thì nảy sinh hai trường hợp: đất của tư nhân, đất của công cộng Thực tế cho thấy, khi giải phóng mặt bằng, nếu là đất sổ đỏ của người dân thì giá đền bù rất cao, còn đất công cộng thì giá đền bù thấp Vậy tiền chênh lệch này ai được hưởng? Theo tác giả,

có thể Dự án đã tính vào Thu-Chi nhưng chưa minh bạch và làm vai trò của Nhà nước yếu đi Thực chất Luật đất đai quy định rõ đất là sở hữu toàn dân, Nhà nước thống nhất quản lý Vậy phải xem đất là phần góp vốn của nhà nước mới đúng Tuy nhiên, rất nhiều dự án PPP giao thông hiện nay được công báo trên trang thông tin của Vụ đối tác Công-Tư, bộ GTVT thì vốn nhà nước bằng 0 (ví dụ, dự án BOT quốc lộ 32 ) Đây cũng là vấn đề cần thảo luận!

Theo NQ 71/2010 TTg của Thủ tướng về quy chế thí điểm dự án PPP:

“Phần tham gia của Nhà nước là tổng hợp các hình thức tham gia của Nhà nước

bao gồm: Vốn nhà nước, các ưu đãi đầu tư, các chính sách tài chính có liên quan, được tính trong tổng mức đầu tư (tổng vốn đầu tư) của Dự án, nhằm tăng tính khả thi của

Dự án Căn cứ tính chất của từng Dự án, Phần tham gia của Nhà nước có thể gồm một hoặc nhiều hình thức nêu trên Phần tham gia của Nhà nước không phải là phần góp vốn chủ sở hữu trong Doanh nghiệp dự án, không gắn với quyền được chia lợi nhuận

từ nguồn thu của Dự án

Vốn nhà nước theo quy định của pháp luật hiện hành bao gồm: vốn ngân sách

nhà nước, vốn hỗ trợ phát triển chính thức, trái phiếu chính phủ, vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước và các vốn khác có dẫn đến nợ công do nhà nước quản lý.”

Trang 33

Những quy định trong Nghị định 15/2015-NĐ-CP cũng thống nhất với NQ71/2010 nói trên về vốn chủ sở hữu và vốn Nhà nước, nhưng riêng phần nói về vốn

nhà nước được mở rộng nhiều hơn phạm vi như đất đai, giải phóng mặt bằng…và đặc biệt không nêu quy định về “ vốn nhà nước có được tính vào tổng vốn đầu tư để chia lợi nhuận” của Dự án

Như vậy, về các nguồn vốn góp của nhà nước vào dự án PPP không có gì cần

bàn nhưng cái cần để thảo luận là có nên xem “Vốn Nhà nước chỉ là vốn hỗ trợ,

không gắn với quyền được chia lợi nhuận từ nguồn thu của Dự án.”?

Theo tác giả quy định này có mặt tích cực là Nhà nước hỗ trợ khuyến khích Nhà đầu tư và có thể phù hợp với một số dự án trong PPP như: BT, BTO…Nhưng lại thiếu minh mạch, không hợp lý trong các dự án như BOT, cải tạo, khai thác hạ tầng…

Ví dụ: dự án chỉnh trang đường cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ là một điển hình về gian lận, mà phải chờ đến dư luận bất bình và kiểm toán vào mới rõ

Đặt biệt, khi ở nước ta luật đất đai chi phối, đã xuất hiện “ những con đường đắt nhất hành tinh”, thì cớ gì mọi dịch vụ được hưởng theo lại không hoàn trả hoặc phân chia lợi nhân? Vậy ai thiệt? ai lợi? Đây cũng là nguồn gốc tiêu cực

Như vậy, theo tác giả ngoài việc cần làm rõ là vốn nhà nước trong các hợp đồng PPP, thì cần phải cụ thể giá trị vốn Nhà nước góp vào đầu tư trong từng loại

dự án PPP trên cơ sở hài hòa lợi ích Nhà nước - Nhà đầu tư - Người sử dụng

* Về vấn đề Lợi ích của Dự án

“Lợi ích” về ngữ nghĩa được hiểu là điều có ích, có lợi cho tập thể, cá nhân: theo

[13] Từ điển Tiếng Việt – 1995 NXB Đà Nẵng

Về mặt thuật ngữ: Lợi ích phải được gắn với ngữ cảnh cụ thể, ở Dự án đầu tư thì lợi ích mang lại thể hiện trên hai phương diện: Lợi ích về tài chính, lợi ích về kinh tế -

xã hội

1 Một số nội dung về tài chính và phân tích

Thực tế, có thể đa số các dự án BOT ở nước ta hiện nay rất yếu kém và không minh bạch về phân tích tài chính là một điển hành Vào trang Web “Vụ đối tác công tư” của ngành GTVT chúng ta có thể tìm thấy danh mục các dự án BT, BOT và một số thông tin trong đó, nhưng không thể tìm thấy Hợp đồngký kết hay Thuyết minh Dự án khả thi Như vậy thực tế, không thể tiếp cận để chỉ ra sai sót khi phân tích tài chính

Phân tích tài chính một dự án đầu tư là một tiến trình chọn lọc, tìm hiểu về tương quan của các chỉ tiêu tài chính và đánh giá tình hình tài chính về một dự án đầu tư nhằm giúp các nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư có hiệu quả

Trang 34

Mục đích của việc phân tích tài chính là giúp cho các bên đặc biệt là nhà đầu tư

thấy dự án mang lại lợi nhuận bao nhiêu? Những rủi ro nào có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận? Nhìn thấy được hiệu quả của dự án thông qua việc so sánh giữa mọi nguồn thu của dự án với tổng chi phí Phân tích tài chính phải bắt đầu từ tiếp cận dự án, bước lập Báo cáo đầu tư cho đến khi vận hành, nên phân tích tài chính sẽ giúp các nhà đầu tư

dự tính được cho tương lai khi có sự thay đổi về thu nhập và chi phí để kịp thời điều chỉnh và rút kinh nghiệm Phân tích tài chính còn là kế hoạch để trả nợ, bởi nó đưa ra các tiêu chuẩn về hoạt động và những cam kết về những hoạt động của mình với nguồn vay vốn; giúp cho nhà đầu tư quyết định có nên đầu tư hay không, hiệu quả đến đâu, đồng thời cũng giúp các cơ quan thẩm định biết được tính thực thi của dự án về phương diện tài chính

Khi phân tích tài chính những nội dung sau cần đề cập:

- Xác định các dòng thu - chi của dự án

- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và lựa chọn phương án

- Xác định tổng vốn đầu tư, phân tích cơ cấu các nguồn vốn và loại vốn của dự án

- Phân tích độ an toàn về mặt tài chính

Đây là những nội dung chỉ tiêu quan trọng Kết quả này có được tin cậy hay không đòi hỏi kiến thức của người tham gia tính toán, phụ thuộc vào số liệu đầu vào có đúng không? Đặc biệt là chất lượng các quá trình của dự án (thiết kế, thi công, thẩm tra, khai thác) Mọi tồn tại , tiêu cực hiện nay được uẩn dấu ở giai đoạn này Ví dụ, dự báo nhu cầu sai dẫn đến quy mô sai, vận hành không đạt theo mong muốn

Để đánh giá hiệu quả tài chính người ta dùng nhiều chỉ tiêu được tính toán theo các mô hình khác nhau Để chọn dự án có hiệu quả cao hơn, người đầu tư luôn đưa ra nhiều phương án, tính toán đầy đủ các chỉ tiêu về lợi ích, so sánh các phương án để từ

đó lựa chọn phương án đầu tư hiệu quả

Trong bước lập Dự án đầu tư xây dựng công trình việc tính toán so sánh thường được tiến hành theo trình tự sau:

+ Xác định số lượng các phương án có thể đưa vào so sánh

+ Một dự án có thể có nhiều phương án thực hiện, nếu chọn phương án này thì thường phải loại trừ những phương án khác Tuy nhiên, có những phương án (hoặc dự án) mà việc lựa chọn nó không dẫn đến việc loại trừ các phương án khác

Với dự án đầu tư lớn việc xác định số lượng phương án đem ra so sánh phải thận trọng để vừa đảm bảo chất lượng của dự án lại vừa tránh các chi phí quá lớn cho việc

Trang 35

lập dự án Các phương án đem ra so sánh có thể khác nhau về địa điểm xây dựng, dây chuyền công nghệ, nguồn vốn

+ Xác định thời kì tính toán của phương án đầu tư

Thời kì tính toán (hay tuổi thọ hoặc vòng đời của dự án) là chỉ tiêu quan trọng, vì

nó vừa phải đảm bảo tính có thể so sánh được của các phương án lại vừa phải đảm bảo lợi nhuận ở mức cần thiết cũng như đảm bảo hoàn vốn và tính pháp lý qui định trong luật đầu tư

Thời kì tính toán (hay còn gọi là vòng đời, thời kì tồn tại) của dự án để so sánh các phương án khi lập dự án đầu tư là khoảng thời gian bị giới hạn bằng thời điểm khởi đầu và kết thúc của dòng tiền tệ của toàn bộ dự án Thời điểm khởi đầu thường được đặc trưng bằng một khoản chi ban đầu và thời điểm kết thúc thường được đặc trưng bằng một khoản thu từ thanh lý tài sản cố định và khoản vốn lưu động đã bỏ ra ban đầu.Tính toán các chỉ tiêu thu, chi, hiệu số thu chi của các phương án qua các năm Xác định giá trị tương đương của tiền tệ theo thời gian.Trong bước này cần xác định suất chiết khấu hay suất thu lợi tối thiểu chấp nhận được để qui đổi các dòng tiền của dự án về cùng một thời điểm

Đối với dự án xây dựng công trình chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp ở đây được lựa chọn tùy theo quan điểm và chiến lược của chủ đầu tư và nó nằm trong số các chỉ tiêu tĩnh hoặc động, ví dụ một số chỉ tiêu như sau:

+ Hiện giá thu hồi thuần kinh tế- xã hội – NPV(E)

+ Suất thu hồi nội bộ kinh tế- xã hội – IRR(E)

+ Thời gian hoàn vốn kinh tế- xã hội – Thv(E)

+ Tỷ số lợi ích trên chi phí kinh tế- xã hội – B/C(E)

+ Một số công thức tính hiệu quả tài chính dự án

- Giá trị hiện tại ròng ENPV

=

n t

t e t n

t

t e

t

r

C r

t = Năm trong vòng đời dự án (0, 1, 2, , n);

n = Số năm hoạt động của dự án (thời gian hợp đồng dự án);

Trang 36

re = Tỷ suất chiết khấu kinh tế của dự án Giá trị re được xác định theo quy định của từng ngành Trường hợp chưa được quy định cụ thể thì đơn vị lập BCNCKT có thể tham khảo giá trị re =10% hoặc đề xuất giá trị tính toán khác nhưng cần có thuyết minh về lý do lựa chọn giá trị đó

- Tỷ suất nội hoàn kinh tế EIRR

Tỷ suất nội hoàn kinh tế là tỷ suất chiết khấu kinh tế tối đa để dự án thu hồi nguồn vốn đầu tư và chi phí vận hành, đạt được sự hòa vốn IRR bằng giá trị tỷ suất chiết khấu (re) trong trường hợp NPV = 0 và được xác định thông qua việc giải phương trình sau:

n t

t t n

t

t t

EIRR

C EIRR

- Thời gian thu hồi vốn kinh tế - xã hội T

Trong đó:

• (W+D)iPV là tổng lợi nhuận và khấu hao hàng năm quy về thời gian hiện tại;

• Iv0 là tổng vốn đầu tư ban đầu;

• T là thời gian thu hồi vốn

- Tỷ suất lợi ích và chi phí về kinh tế (BCR - Benefit Cost Ratio)

BCR là tỷ số giữa tổng lợi ích mà việc đầu tư mang lại trên tổng chi phí bỏ ra trong quá trình đầu tư và khai thác đã được quy về giá trị hiện tại Để đảm bảo dự

án đạt hiệu quả kinh tế - xã hội, BCR phải lớn hơn 1 (>1) và được tính theo công thức sau:

Trang 37

t e t

n t

t e t

r C r B

0

0

) 1 (

) 1 (

Trong đó: Bt, Ct, t, n, re có ý nghĩa tương tự như trong công thức tính ENPV nêu trên

Chỉ tiêu tổng hợp thường được chọn là NPV Nếu dự án được đầu tư theo hình thức BOT thì chủ đầu tư có thể quan tâm nhiều tới chỉ tiêu IRR Nếu dự án xây dựng công trình chủ yếu là phục vụ công cộng thì chỉ tiêu B/C được chú ý nhiều hơn (lúc này dự án được phân tích từ góc độ kinh tế – xã hội với các dòng chi phí và lợi ích không giống như trong phân tích tài chính)

Trị số hiệu quả định mức hay ngưỡng của hiệu quả là mức tối thiểu mà phương án phải đảm bảo, nếu không nó (phương án) phải bị loại trừ ngay khỏi tính toán so sánh

* Đánh giá độ an toàn của dự án về mặt tài chính

Độ an toàn về mặt tài chính của dự án là một nội dung phải xem xét trong quá trình đánh giá về mặt tài chính dự án Nó là một căn cứ quan trọng để xem xét tính khả thi của dự án Độ an toàn về mặt tài chính được thể hiện ở các mặt sau:

- Độ nhạy của các yếu tố tác động đến các chỉ tiêu tài chính NPV(IRR)

- Độ nhạy của các chỉ tiêu tài chính đã tính toán Chỉ cần đánh giá độ nhạy của 2

chỉ tiêu

* Kết luận đánh giá về mặt tài chính:

Sau khi tính toán lợi ích về mặt tài chính chung ta phải kết luận đánh giá về mặt tài chính qua các thông tin:

Về mặt tài chính dự án có lãi không? Lãi bao nhiêu?

Mức độ sinh lợi của dự án cao hay thấp? Bao nhiêu năm thì thu lại được vốn đã

bỏ ra?

Người hưởng lợi về tài chính là chủ đầu tư dự án và được lợi bao nhiêu?

Độ an toàn về tài chính của dự án thế nào?

Trang 38

Hình 2 1 Sơ đồ đánh giá dự án đầu tư phát triển GTVT

theo quan điểm tài chính

Lợi ích tài chính của chủ đầu tư

Kết luận tính khả thi

về mặt tài chính

Đánh giá mức độ an toàn về tài chính của dự án (tính toán độ nhạy, mức độ rủi

ro…)

Tính toán các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án (FNPV, FIRR, FB/C, FThv)

Chi phí đầu tư trang thiết

bị

Chi phí duy tu sửa chữa

cơ sở

hạ tầng

Chi phí vận hành khai thác

Các loại thuế

Các khoản thu từ kinh doanh

Tiết kiệm chi phí khai thác

Tiết kiệm các chi phí khác

Trang 39

2 Một số nội dung về phân tích kinh tế - xã hội

Có thể nói, phân tích kinh tế-xã hội tập trung làm rõ hiệu quả kinh tế của dự án trên quan điểm lợi ích của tổng thể quốc gia (xã hội và các lĩnh vực khác) và tác động tiêu cực của dự án đến Kinh tế - xã hội Hầu hết các tiêu chí khi phân tích Kinh tế -Xã

hội khó và không định lượng được: Ví dụ , tiêu chí về tiếp cận cơ hội của người dân với: việc làm, sức khỏe, đời sống tinh thần nhờ dự án; hoặc theo chiều ngược lại có thể dự án tác động tiêu cực đến hệ sinh thái vùng có công trình của dự án, ảnh hưởng của lũ lụt do đường sá của dự án ngăn dòng chảy tự nhiên

Mục tiêu của việc phân tích lợi ích kinh tế - xã hội là xác định vị trí vai trò của

dự án đối với việc phát triển kinh tế, các dự án đầu tư phải phù hợp với chiến lược phát triển của vùng, với chiến lược phát triển kinh tế của đất nước Ngoài ra, còn xác định

sự đóng góp của dự án vào lợi ích chung của toàn xã hội, như: nộp ngân sách cho Nhà nước của dự án thông qua các khoản thuế (thuế doanh lợi, thuế xuất nhập khẩu…), khoản đóng góp ngoại tệ của dự án, khả năng giải quyết công việc làm của dự án, mức

độ nâng cao cơ sở hạ tầng do dự án mang lại (như giao thông, điện, nước thông tin liên lạc…)

Phân tích kinh tế - xã hội của dự án xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế quốc dân và toàn xã hội và rất cần thiết vì:

- Trong nền kinh tế thị trường, tuy chủ trương đầu tư phần lớn là do các doanh nghiệp tự quyết định xuất phát từ lợi ích trực tiếp của doanh nghiệp, nhưng nó không được trái với luật pháp và phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, trong đó lợi ích của đất nước và doanh nghiệp được kết hợp chặt chẽ Những yêu cầu này phải được thể hiện thông qua phần phân tích kinh tế - xã hội của dự án

- Phân tích kinh tế - xã hội đối với nhà đầu tư đó là căn cứ chủ yếu để thuyết phục Nhà nước, các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận dự án, thuyết phục các ngân hàng cho vay vốn, thuyết phục nhân dân địa phương đặt dự án ủng hộ chủ đầu tư thực hiện dự án

- Đối với Nhà nước, phân tích kinh tế - xã hội là căn cứ chủ yếu để Nhà nước xét duyệt để cấp giấy phép đầu tư

- Đối với các tổ chức viện trợ dự án, phân tích kinh tế - xã hội cũng là một căn

cứ quan trọng để họ chấp thuận viện trợ, nhất là đối với các tổ chức viện trợ nhân đạo, viện trợ cho các mục đích xã hội, viện trợ cho việc bảo vệ môi trường

- Đối với các dự án phục vụ lợi ích công cộng do Nhà nước trực tiếp bỏ vốn thì phần phân tích lợi ích kinh tế - xã hội đóng vai trò chủ yếu trong dự án, loại dự án này hiện nay ở nước ta khá phổ biến và chiếm một nguồn vốn khá lớn Vì vậy việc phân tích kinh tế - xã hội của dự án luôn luôn giữ một vai trò quan trọng

Trang 40

3 Những nội dung cơ bản của phân tích kinh tế xã hội

Trong việc phân tích kinh tế - xã hội cần xác định rõ các vấn đề sau:

- Xác định chi phí và các lợi ích kinh tế - xã hội

- Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và lựa chọn phương án

- Phân tích độ an toàn của dự án

4 Các bước tính toán và so sánh phương án

* Xác định chi phí và các lợi ích kinh tế - xã hội

Phân tích kinh tế xã hội là xem xét những đóng góp thực sự của dự án cho nền kinh tế và xã hội Vì vậy yêu cầu giá sử dụng phải phản ảnh giá trị thực của hàng hóa

dịch vụ, không sử dụng giá thị trường như phân tích tài chính, tức là phản ảnh được những lợi ích thực và những chi phí thực mà nền kinh tế và toàn bộ xã hội nhận được hoặc mất mát đi khi dự án được đầu tư Do vậy phân tích kinh tế - xã hội không sử

dụng giá thị trường thông thường mà sử dụng biện pháp định giá theo giá kinh tế (giá

tham khảo hay “giá mờ”)

Trong phân tích kinh tế- xã hội, giá các hàng hóa dịch vụ cấu thành nên chi phí

và lợi ích có thể xảy ra 1 trong 2 dạng sau:

- Khi giá thị trường (giá tài chính) của chúng được định giá đúng với giá trị thực Trong trường hợp này khi phân tích kinh tế không cần điều chỉnh mà lấy ngay giá tài chính để xem xét

- Khi giá thị trường (giá tài chính) của chúng là giá đã bị “bóp méo” so với giá trị thực của chúng do các chính sách của nhà nước hoặc nguyên nhân khác Đối với trường hợp này cần phải điều chỉnh từ giá thị trường sang giá kinh tế Đây là công việc rất khó khăn, cần phải phát hiện ra nguồn gốc của sự bóp méo để điều chỉnh

* Xác định các chỉ tiêu hiệu quả và lựa chọn phương án

- Các chỉ tiêu gia tăng về kinh tế - xã hội: NPV, IRR, Thv, B/C

Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội này giống các chỉ tiêu tài chính ở phương pháp tính toán và cách đánh giá Điểm khác biệt chính là các chi phí và lợi ích được xác định trên quan điểm các mất mát và hưởng lợi của nền kinh tế và toàn xã hội Đồng thời giá

sử dụng để tính toán chi phí và lợi ích ở đây là giá trị thực của sản phẩm hay còn gọi

là giá“mờ”

- Chỉ tiêu việc làm và thu nhập người lao động

Chủ trương chung của Nước ta là cố gắng tạo công ăn việc làm cho nhân dân (dân giàu) Do vậy mọi dự án đầu tư đều phải xem xét vấn đề này Đây là chỉ tiêu vừa

mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội rất cao Việc làm do dự án tạo ra có 2 loại: Số lượng việc làm trực tiếp cho dự án và số việc làm có được gián tiếp do các tác động của dự án

Ngày đăng: 28/03/2021, 22:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w