NÂNG CẤP CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CẦU ĐƯỜNG BK-VIKA ỨNG DỤNG CHO CỤC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ III Học viên: Nguyễn Lương Anh Chuyên ngành: Kỹ thuật XDCT giao thông Mã số: 60.58.02.05 Khóa: K33 Trườn
Trang 1CHO CỤC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ III
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA -
NGUYỄN LƯƠNG ANH
NÂNG CẤP CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CẦU ĐƯỜNG BK-VIKA
ỨNG DỤNG CHO CỤC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ III
Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông
Mã số: 60580205
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS CAO VĂN LÂM
Đà Nẵng – Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Lương Anh
Trang 4MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TỔ CHỨC KHAI
THÁC CẦU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 5
1.1 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu trên thế giới và Việt
1.1.1 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu trên thế giới 5
1.1.2 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu ở Việt Nam 7
1.2 Ứng dụng các công cụ phục vụ quản lý công trình giao thông trên thế giới
2.1 Thực trạng CSDL của chương trình quản lý cầu, đường BK-VIKA 20
2.2 Mô hình CSDL cho bài toán quản lý công trình giao thông 25
2.3 Cơ sở lý thuyết để xây dựng bổ sung modul quản lý công trình đường 28
2.4 Hoàn thiện chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA 33
CHƯƠNG 3: ỨNG DỤNG CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH
GIAO THÔNG DO CỤC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ III QUẢN LÝ 36
3.1 Công tác quản lý các công trình giao thông của Tổng Cục Đường bộ 36
3.1.1 Giới thiệu chung về Tổng cục Đường bộ 36
3.1.2 Giới thiệu chung về Cục Quản lý Đường bộ 38
3.2 Ứng dụng chương trình quản lý cầu đường để quản lý công trình giao thông
3.3 Kết quả ứng dụng thực tế cho Cục quản lý đường bộ III 51
3.4 Lộ trình triển khai phổ biến ở các đơn vị của Cục QLĐB III 51
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
Trang 5NÂNG CẤP CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CẦU ĐƯỜNG BK-VIKA
ỨNG DỤNG CHO CỤC QUẢN LÝ ĐƯỜNG BỘ III
Học viên: Nguyễn Lương Anh Chuyên ngành: Kỹ thuật XDCT giao thông
Mã số: 60.58.02.05 Khóa: K33 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
TÓM TẮT–
Để đáp ứng sự phát triển của giao thông ngày một tăng, tương ứng với nó là
phải quản lý một số lượng rất lớn các dữ liệu giao thông (dữ liệu kết cấu hạ
tầng đường bộ, nguồn vốn, an toàn giao thông, các phương tiện tham gia giao
thông ) thì cần phải có một công cụ quản lý nhanh chóng, chính xác và hiệu
quả Dữ liệu hệ thống cầu là một phần của dữ liệu kết cấu hạ tầng đường bộ,
công cụ hiện nay để quản lý nguồn dữ liệu này là chương trình quản lý cầu,
đường Trong khuôn khổ luận văn, tác giả, học viên xây dựng và hoàn thiện
phần mềm quản lý cầu đường trên cở sở nền tảng mã nguồn chương trình
BK-VIKA Chương trình quản lý cầu đường lưu trữ dữ liệu của 618 cây cầu và
1.716,82 Km đường do CQLĐB.III đang theo dõi để phục vụ cho công tác
quản lý, làm cơ sở dữ liệu để đánh giá trạng thái kỹ thuật của mạng lưới công
trình cầu, đường, từ đó để đưa ra các biện pháp phù hợp trong quá trình khai
thác đồng thời phục vụ cho công tác lập báo cáo cho Tổng cục Đường bộ Việt
Nam
Từ khóa: Quản lý cầu đường, cơ sở dữ liệu cầu đường
ABSTRACT: In order to meet the growth of traffic, it is appropriate to manage
a very large number of traffic data (road infrastructure data, capital resources,
traffic safety, transport, etc.), a quick, accurate and effective management tool is
needed Bridge system data is part of the road infrastructure data, the current
tool for managing this data source is bridge and road management In the
framework of the thesis, the author and learner build and improve the bridge
management software on the basis of the BK-VIKA program source code The
bridge management program stores data of 618 bridges and 1,716.82 Km of
roads are monitored by the CEMA III to serve the management, as a basis for
assessing the technical status of the bridge and road network suitable in the
process of exploiting simultaneously for reporting to the General Department of
Roads of Vietnam
Key words: Bridge and road management
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.2 Danh mục các tuyến cao tốc đang được khai thác 9
Bảng 1.3 Tổng hợp kinh phí bảo trì đường bộ giai đoạn 2006 – 2016 11
Bảng 1.4 Một số chương trình quản lý cầu trên thế giới 14
Bảng 1.5 Một số chương trình quản lý cầu, đường ở Việt Nam 15
Bảng 2.1 Thiết kế khung chính của CSDL công trình cầu 22
Bảng 2.2 Bảng phân loại cầu 23
Bảng 2.3 Bảng phân loại cấp đường 23
Bảng 2.4 Một vài công trình đã được nhập (nhằm mục đích kiểm tra) 24
Bảng 2.5 Dữ liệu công trình cầu do Cục Quản lý Đường bộ III quản lý 25
Bảng 2.6 Chương trình BK-VIKA đã làm được 29
Bảng 2.7 Bảng dữ liệu chung của đường 31
Bảng 2.7 Thiết kế khung chính của CSDL công trình đường 31
Bảng 2.8 Các tuyến đường do Cục QLĐB III đang quản lý 32
Bảng 3.1 Sơ đồ Quản lý của Tổng cục ĐBVN 38
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Tình hình già hóa công trình cầu tại Nhật Bản 5
Hình 1.2 Tình hình tăng trưởng số cầu có tuổi thọ > 50 năm ở Nhật Bản 5
Hình 1.4 Mô tả quy trình bảo trì của một số nước đang phát triển 7
Hình 1.5 Sơ đồ phân cấp quản lý công trình giao thông tại Việt Nam 8
Hình 1.6 Biểu đồ phân chia các tuyến đường tại Việt Nam 8
Hình 1.7 Tỷ lệ tăng trưởng chiều dài các tuyến quốc lộ tại Việt Nam 9
Hình 1.8 Tỷ lệ tăng trưởng kinh phí bảo trì 12
Hình 1.7 Xe khảo sát tình trạng mặt đường 19
Hình 1.8 Hướng dẫn sử dụng phần mềm thu thập số liệu từ xe khảo sát tình trạng mặt đường 19
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của chương trình BK-VIKA 21
HÌnh 2.2 Sơ đồ quản lý công trình cầu trên quốc lộ 21
Hình 2.3 Sơ đồ quản lý công trình cầu trên tỉnh lộ 22
Hình 2.4 Cơ sở dữ liệu modul quản lý công trình cầu 22
Hình 2.5 Cơ sở dữ liệu lưu trữ công trình cầu 25
Hình 2.6 Mô hình hệ thống hóa bằng CNTT 25
Hình 2.8 Các bước nhập dữ liệu vào chương trình 28
Hình 2.9 Sơ đồ lưu trữ dữ liệu của modul quản lý đường 30
Hình 2.10 Sơ đồ phân quyền và các tiêu chí phân loại chính của đường 30
Hình 2.11 Cơ sở dữ liệu modul quản lý đường 34
Hình 2.12 Miêu tả cá liên kết CSDL trong modul quản lý đường 34
Hình 2.13 Ví dụ một đoạn code trong chương trình 35
Hình 3.1 Sơ đồ Tổ chức của Tổng cục ĐBVN 37
Hình 3.2 Khu vực Quản lý của các Cục QLĐB 40
Hình 3.3 Sơ đồ tổ chức của Cục QLĐB III 41
Hình 3.4 Giao diện chính của chương trình 46
Hình 3.5 Tính năng lọc dữ liệu công trình cầu theo Cục QLĐB 47
Hình 3.6 Phân loại theo các Chi cục Quản lý đường bộ 47
Hình 3.7 Dữ liệu công trình cầu của Chi cục QLĐB III.1 48
Hình 3.8 Tính năng thêm mới công trình cầu 48
Hình 3.9 Xuất dữ liệu ra file Excel 49
Hình 3.10 Cấu trúc dữ liệu file Excel được trích xuất 49
Hình 3.11 Mô tả điều kiện hiển thị của các công trình cầu trên Tỉnh lộ 50
Hình 3.12 Các công trình cầu trên QL 1A thuộc địa bàn tỉnh Quảng Nam 50
Hình 3.13 Dữ liệu đoạn tuyến đang quản lý của Chi cục III.1 51
Trang 8MỞ ĐẦU
Hiện nay, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông (KCHTGT) của Việt Nam đã
được đầu tư phát triển trên tất cả các lĩnh vực chuyên ngành Đường bộ có tổng
chiều dài khoảng 24.203 km Trong đó: Đường cao tốc đã đưa vào khai thác sử
dụng 14 tuyến với tổng chiều dài 816,671 km; Quốc lộ có tổng chiều dài 23.862
km; Đường thủy nội địa có tổng chiều dài đang khai thác, quản lý 7.071,8 km;
220 cảng thủy nội địa do trung ương quản lý, 3.087 bến thủy nội địa có phép
trên các tuyến do trung ương quản lý; Đường sắt: Mạng lưới đường sắt quốc gia
Việt Nam có tổng chiều dài 3.159,908 km [*] Tổng số 216 ga đường sắt; Hàng
hải: Có 32 cảng biển (trong đó có 14 cảng biển loại I và IA, 18 cảng biển loại II)
ngoài ra còn có 13 cảng dầu khí ngoài khơi là cảng biển loại III [*] Sản lượng
thông quan năm 2016 khoảng 459,8 triệu tấn (đạt 86% công suất) Cả nước có
48 tuyến luồng hàng hải vào cảng quốc gia công cộng với tổng chiều dài là
943,7km và 12 tuyến luồng vào cảng chuyên dùng; Hàng không: có 21 cảng
hàng không với tổng công suất đạt 77,75 triệu HK/năm và 1,01 triệu tấn hàng
hóa/năm, đáp ứng khai thác loại máy bay A320/A321; Hệ thống cảng cạn: hiện
có 05 cảng cạn và 16 cảng thông quan nội địa, tập trung tại miền Bắc và miền
Nam; hiện đang khai thác khoảng 2.632.721 TEU/năm trên tổng công suất là
6.538.200 TEU/năm (đạt 40% công suất)[*] Bên cạnh đó còn có hệ thống hạ
tầng do địa phương quản lý
Đối với hoạt động vận tải đã từng bước được quản lý chặt chẽ trên tất cả các
lĩnh vực, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu vận tải trong nước và quốc tế; hạn chế
được tình trạng ùn tắc hành khách, hàng hóa tại cảng hàng không, ga đường sắt,
bến xe, bến cảng vào mùa vận tải cao điểm; đồng thời không ngừng đổi mới,
nâng cao chất lượng phục vụ, dịch vụ vận tải; điều chỉnh cơ cấu vận tải theo
thành phần kinh tế, trước đây chủ yếu chỉ có các doanh nghiệp nhà nước tham
gia vận tải, nay đã xã hội hoá với nhiều thành phần kinh tế tham gia, đặc biệt đã
hình thành một số doanh nghiệp kinh doanh vận tải tích tụ được vốn và trình độ
quản lý, đảm bảo thị trường vận tải cạnh tranh lành mạnh; giá cước vận tải cơ
bản đã được kiểm soát, bảo đảm phục vụ tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân,
thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh, góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định
kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội
Tuy nhiên, nhìn chung hệ thống hạ tầng giao thông Việt Nam hiện nay còn
bộc lộ nhiều yếu kém, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, mạnh để tiến tới
mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh đó, do khó khăn về
nguồn lực, hệ thống hạ tầng giao thông hiện hữu cũng không được duy tu, bảo
Trang 9dưỡng đầy đủ, kịp thời, nguy cơ dẫn tới xuống cấp, giảm năng lực phục vụ, khai
thác Những bất cập trên đã và đang làm giảm vị thế đi trước mở đường của
ngành GTVT trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Theo thống kê, mạng lưới đường bộ có khoảng trên 20.000 công trình cầu
với nhiều loại và quy mô khác nhau Việc quản lý công trình giao thông nói
chung và công trình cầu nói riêng hiện nay mang tính cục bộ và chưa mang tính
thống nhất, theo các đợt khảo sát gần đây vẫn còn hàng nghìn cầu yếu, cầu hẹp,
tải trọng thiết kế không đáp ứng vận tải và không đồng bộ với tuyến đường
Hàng năm việc kiểm tra, duy tu bảo dưỡng và sửa chữa cầu tiêu tốn nhiều tỷ
đồng nhưng hầu như không đáp ứng được hiệu quả tối đa của các công trình cầu
do đánh giá chưa đúng về tầm quan trọng của công tác bảo trì đường bộ nên việc
cấp kinh phí cho công tác bảo trì đường bộ luôn trong tình trạng không đủ Thực
tế này không chỉ ảnh hưởng tới việc triển khai công tác bảo trì đường bộ thực tế
mà còn trực tiếp hạn chế các chương trình phát triển năng lực bảo trì đường bộ
cũng như các chương trình đào tạo nhân lực có liên quan do không có đủ kinh
phí Các vấn đề chính liên quan đến quản lý bảo trì đường bộ được xác định
gồm:
Các kế hoạch bảo trì đường bộ chưa được lập theo cách thích hợp;
Các phương pháp kiểm kê chi tiết và tiêu chí đánh giá để chẩn đoán tình
trạng kỹ thuật công trình không được đề cập trong các Tiêu chuẩn Kỹ thuật hiện
hành;
Sự không phù hợp giữa Tiêu chuẩn Kỹ thuật Bảo dưỡng thường xuyên
đường bộ 22TCN 306-03 (sau đây gọi là Tiêu chuẩn Kỹ thuật BDTXĐB 2003)
và Định mức Bảo dưỡng thường xuyên đường bộ 2001_Định mức BDTXĐB
2001 (theo Quyết định số 3479/2001/QĐ-BGTVT ngày 19/10/2001 của Bộ
GTVT)
Ngoài ra, do sự chậm trễ trong việc đưa số liệu kiểm kê các công trình đường
bộ và số liệu lịch sử công tác bảo trì đường bộ vào máy tính; các thông tin này
đã không được sử dụng hiệu quả Hậu quả từ các vấn đề trên là vòng luẩn quẩn
lại xuất hiện trong lĩnh vực bảo trì đường bộ,công việc này đang được thực hiện
theo kiểu “hư đâu, sửa đó”:các kế hoạch bảo trì được lập thiếu cơ sở khoa
họckhi trình lên không đủ cơ sở để thuyết phục, đặc biệt là với các cơ quan tài
chính/cơ quan quản lý vốn làm cho khả năng đảm bảo đủ nguồn vốn cho bảo trì
càng khó đạt được Để nâng cao khả năng phục vụ của công trình cầu đường,
nâng cao tuổi thọ thì công tác duy tu bảo dưỡng phải được làm đúng, muốn làm
đúng thì phải có cơ sở dữ liệu về trạng thái kỹ thuật của các công trình, muốn
Trang 10thế thì phải có thông tin của từng công trình theo thời gian Từ đó việc xây dựng
một chương trình nhằm mục đích giải quyết bài toán trên là hết sức cần thiết
Trước những nhu cầu cấp bách trên, với nền tảng mã nguồn chương trình
BK-VIKA tác giả mong muốn được phối hợp với Cục Quản lý Đường bộ III
(CQLĐB.III) xây dựng một chương trình quản lý của riêng mình nhằm mục đích
tổng hợp, lưu trữ lại dữ liệu của 618 cây cầu và 1.716,82 Km đường do
CQLĐB.III [9] đang quản lý để phục vụ cho công tác quản lý, làm cơ sở dữ liệu
để đánh giá trạng thái kỹ thuật của mạng lưới công trình cầu, đường, từ đó để
đưa ra các biện pháp phù hợp trong quá trình khai thác đồng thời phục vụ cho
công tác lập báo cáo cho Tổng cục Đường bộ Việt Nam (TCĐB)
Với những lý do thực tế trên, luận văn tập trung thực hiện vấn đề sau:“Nâng
cấp chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA - Ứng dụng cho Cục quản lý
đường bộ III”
Bên cạnh đó Cục quản lý đường bộ III đang có nhu cầu tổng hợp dữ liệu của
các cây cầu trên địa bàn quản lý để phục vụ cho công tác quản lý và làm cơ sở
dữ liệu báo cáo cho tổng cục đường bộ Việt Nam (làm cơ sở để đánh giá trạng
thái kỹ thuật của mạng lưới công trình cầu, từ đó có biện pháp phù hợp trong
quá trình khai thác)
Cùng với chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA đang phù hợp với nhu
cầu thực tế, đáp ứng được gần như đầy đủ các nhu cầu hiện tại của Cục quản lý
đường bộ III
Việc quản lý cầu hiện nay mang tính cục bộ và chưa mang tính thống nhất
- Khi có nhu cầu thông tin của công trình cầu thì rất khó khăn Thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau thì có thể khác nhau
- Từ đó chi phí cho công tác quản lý lớn nhưng hiệu quả chưa cao Ngoài
ra việc lập kế hoạch, tiến độ duy tu sữa chữa gần như đang bỏ ngõ, công việc
này đang được thực hiện theo kiểu “hư đâu, sửa đó”
- Để nâng cao khả năng phục vụ của công trình cầu, tuổi thọ thì công tác
duy tu bảo dưỡng phải được làm đúng, muốn làm đúng thì phải có cơ sở về
trạng thái kỹ thuật của mạng lưới cầu, muốn thế thhì phải có thông tin của
những công trình cầu theo thời gian
- Từ đó việc xây dựng chương trình là hết sức cần thiết
Nâng cấp chương trình quản lý công trình giao thông Cụ thể, đề tài thực hiện
các mục tiêu sau:
- Tổng hợp CSDL các công trình cầu do Cục quản lý đường bộ III quản
lý;
Trang 11- Cập nhật dữ liệu cầu vào chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA;
- Thiết kế CSDL cho modul quản lý công trình đường;
- Bổ sung modul quản lý công trình đường vào chương trình quản lý cầu
đường BK-VIKA;
- Ứng dụng chương trình cho Cục quản lý đường bộ III;
- Nghiên cứu tài liệu: Tập trung nghiên cứu các vấn đề về kho dữ liệu;
cách tổ chức cơ sở dữ liệu; bộ công cụ lập trình Visual Studio 2013, hệ quản trị
cơ sở dữ liệu SQL Server2012, nền tảng ứng dụng web ASP.Net, các ngôn ngữ
lập trình ứng dụng: C#, Ajax, Javascript, html
- Nghiên cứu ngôn ngữ lập trình đang sử dụng của chương trình quản lý
cầu đường BK-VIKA
- Cập nhật cơ sở dữ liệu các công trình cầu cầu do Cục Quản lý Đường bộ
III quản lý
- Xây dựng bổ sung một modul quản lý công trình đường
- Chương trình quản lýchương trình quản lý cầu đường BK-VIKA
www.quanlycauduong.com
- Cơ sở dữ liệu về công trình cầu, đường do Cục Quản lý Đường bộ III
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:Ứng dụng chương trình quản lý cầu
đường cho cục Quản lý Đường bộ III
o Mở đầu: nêu ra sự cần thiết của để tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi
nghiên cứu, và phương pháp tiếp cận nghiên cứu
o Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý tổ chức khai thác cầu ở
nước ta hiện nay
o Chương 2: Hoàn thiện chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA
o Chương 3: Ứng dụng cho công tác quản lý công trình giao thông do
Cục quản lý đường bộ III quản lý
o Kết luận và kiến nghị
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TỔ CHỨC KHAI
THÁC CẦU Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu trên thế giới và
Việt Nam
1.1.1 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu trên thế giới
Theo một vài nghiên cứu mới đây tại Nhật Bản đã thống kê được rất nhiều
công trình cầu đang bị lão hóa và xuống cấp nghiêm trọng cần phải được khắc
phục, sửa chữa hoặc xây dựng công trình khác thay thế nhằm đảm bảo cho nhu
cầu giao thông ngày một phát triển mạnh mẽ
Hình 1.1 Tình hình già hóa công trình cầu tại Nhật Bản
Theo Bộ Đất đai, CSHT, GT và Du lịch Nhật Bản
Hệ thống các công trình cầu ở Nhật bản đang trong tình trạng già hóa, nhiều
công trình hư hỏng nặng và xuống cấp nghiêm trọng, số cầu có tuổi thọ cao
(>50 năm) đang tăng nhanh
Hình 1.2 Tình hình tăng trưởng số cầu có tuổi thọ > 50 năm ở Nhật Bản
Xuất phát từ tình hình đó Văn phòng Nội các Nhật Bản đã bắt đầu Chương
trình Xúc tiến Đổi mới Chiến lược Liên bộ (Cross-ministerial Strategic
Inovation Promotion Program) nhằm đưa công nghệ thông tin vào hỗ trợ cho
công tác quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng Trong đó thiết lập các lĩnh vực nghiên
Số lượng các cầu (chiều dài nhịp trên 15m)
Khoảng 1300 cầu được xây
Khoảng 4100 cầu được xây
Trang 13- Công nghệ kiểm tra/ Quan trắc/ Chuẩn đoán;
- Vật liệu kết cấu/ Diễn tiến hư hỏng/ Công nghệ sửa chữa;
- Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT);
- Công nghệ robot;
- Quản lý tài sản
Nhật Bản đã nghiên cứu và đưa vào sử dụng hàng loạt công nghệ mới nhằm
tăng cường khả năng quản lý và hiện đại hóa cho nghành cầu đường, giúp cho
việc thu thập số liệu khảo sát được dễ dàng hơn, nhanh hơn, ít sai sót chủ quan
do con người hơn như: xe đo phát hiện hư hỏng bằng laser, kiểm tra bằng
flycam…
Tại Nhật Bản công tác xây dựng kế hoạch bảo trì đường bộ được ưu tiên
cũng đã được xây dựng và phát triển từ nhiều năm nay cộng thêm với việc áp
dụng nhiều công nghệ hiện đại và tiên tiến.Nên công tác quản lý bảo trì đã
được lên kế hoạch và có sự chuẩn bị chu đáo và tỷ mỉ cho từng thời kỳ, từng
giai đoạn Cũng bời vì họ có CSDL đầy đủ và chi tiết thông tin về các công
trình đường bộ, mức độ hư hỏng, khả năng khai thác, thời gian xây dựng, thời
gian đưa vào sử dụng…
Hình 1.3 Mô hình tổng thể cho bài toán quản lý công trình giao thông
Ở những nước tiên tiến như Nhật Bản, họ xây dựng được những quy trình và
phần mềm có thể tính toán, dự báo được mức độ hư hỏng xuống cấp của công
trình cầu đường từ đó tính được cần phải sửa chữa, nâng cấp những gì, cần đầu
Trang 14tư bao nhiêuvốn để khắc phục, sửa chữa, đảm bảo tuổi thọ của công trình tăng
cường khả năng khai thác Hình 1.1 mô tả quy trình quản lý và sửa chữa công
trình giao thông tại Nhật Bản
Công việc lên kế hoạch xây dựng và sửa chữa bây giờ hoàn toàn tự động
Bên cạnh những thành tựu của Nhật Bản Tại một số nước đang phát triển
chu trình quản lý hết sức đơn giản cũng chỉ bao gồm lập kế hoạch, kiểm tra,
đánh giá và thực hiện bảo trì, sửa chữa, cải tạo đang được thực hiện theo quy
trình như sau:
Kiểm tra
Đánh giá
Lập kế hoạch bảo trì/
cải tạo/ sửa chữa
Thực hiện bảo trì/ cải
tạo/ sửa chữa
Việt Nam, Philippines,
Tanzania, Kenya Costa Rica, Bolivia Kyrgzy, Timor-Lester
Hình 1.4 Mô tả quy trình bảo trì của một số nước đang phát triển
Từ mô hình trên cho thấy hiện tại công tác duy tu, bảo dưỡng các công trình
cầu đường nói chung chưa được quan tâm đúng mức, không quản lý được chặt
chẽ, không có cái nhìn tổng quát về toàn cảnh mạng lưới công trình giao thông
để có thể xây dựng kế hoạch tổng thể nhằm tăng cường khả năng khai thác, êm
thuận cũng như đảm bảo an toàn cho người và phương tiện khi tham gia giao
thông Hiện tại công tác này đang được thực hiện theo kiểu hư đâu sửa đó
1.1.2 Tổng quan về công tác tổ chức quản lý công trình cầu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, hệ thống đường bộ có tổng chiều dài 570.448km trong đó
quốc lộ chiếm 23.800km, đường cao tốc chiếm 751km, đường tỉnh chiếm
26.220km, đường đô thị chiếm 26.593km, đường xã chiếm 144.670km, đường
thôn xóm chiếm 181.188km và đường nội đồng chiếm 108.597km Do đó đường
bộ là một hệ thống công trình trải rộng trên mọi miền đất nước và mang tính
công cộng cao Giá trị của đường bộ rất lớn, không những tốn kém kinh phí xây
dựng mà còn chiếm dụng nhiều diện tích đất đai, vì vậy, việc giữ gìn đường bộ
được bền vững lâu dài phục vụ cho khai thác hiệu quả là một đòi hỏi của công
Trang 15tác quản lý bảo trì Với độ phủ rộng lớn trên địa hình trải dài từ Bắc vào Nam
nên công tác quản lý công trình đường bộ được phân theo các cấp quản lý như
ĐƯỜNG CHUYÊN DÙNG
Hình 1.5 Sơ đồ phân cấp quản lý công trình giao thông tại Việt Nam
Tuỳ theo đặc điểm tình hình thực tế của từng Địa phương mà UBND Tỉnh
(Thành phố trực thuộc trung ương) áp dụng một trong những mô hình trên
Hình 1.6 Biểu đồ phân chia các tuyến đường tại Việt Nam
Hệ thống đường quốc lộ hình thành nên các tuyến hành lang Bắc – Nam,
vùng duyên hải và cao nguyên, các tuyến đường Đông – Tây dọc theo miền
Trung Việt Nam Ở phía Bắc, các tuyến quốc lộ tạo thành hình mạng lưới nan
quạt với tâm là Thủ đô Hà Nội Ở phía Nam, các tuyến quốc lộ tạo nên hình
lưới Sự bao phủ của các tuyến quốc lộ tương đối hợp lý, tuy nhiên điều kiện địa
hình ở Việt Nam cho thấy 39% hệ thống quốc lộ nằm ở vùng miền núi, do đó,
gần một nửa tuyến quốc lộ còn bị hạn chế so với nhu cầu giao thông vận tải
Đồng thời, nó cũng gây khó khăn cho công tác bảo trì đường bộ và dễ bị ảnh
hưởng bởi thiên tai, ví dụ như sạt lở đất, lũ quét
Kết cấu mặt đường đã được bê tông hóa đạt tỷ lệ 45% trên toàn mạng lưới
đường bộ, trong đó hệ thống quốc lộ đạt trên 98,5% Hệ thống quốc lộ được đầu
Đ QL 4%
Đ CT 0%
Đ Tỉnh 5%
Đ Huyện 10%
Đ Đô thị 5%
Đ Xã 25%
Đ Thôn 32%
Đ Nội đồng 19%
Đ QL Đ CT Đ Tỉnh Đ Huyện Đ Đô thị Đ Xã Đ Thôn Đ Nội đồng
Trang 16tư xây dựng tạo thành các trục dọc Bắc – Nam, trục ngang nối với cảng biển,
cửa khẩu đường bộ một cách hợp lý; riêng hai trung tâm lớn là Thủ đô Hà Nội
và TP Hồ Chí Minh còn hình thành hệ thống đường vành đai, trục hướng tâm
Hình 1.7 Tỷ lệ tăng trưởng chiều dài các tuyến quốc lộ tại Việt Nam
Tính đến nay, cả nước có 751km đường cao tốc chiếm 0.13% hệ thống
đường giao thông đã được đưa vào khai thác, gồm 13 đoạn tuyến phân bố chủ
yếu ở phía Bắc và phía Nam Trong đó, Tổng cục Đường bộ Việt Nam quản lý
109,8km; Tổng công ty Đầu tư phát triển đường cao tốc Việt Nam (VEC) quản
lý 350km, còn lại do các Sở Giao thông vận tải và các nhà đầu tư BOT quản lý
Bảng 1.2 Danh mục các tuyến cao tốc đang được khai thác
ST
T Tuyến đường
Chiều dài (km)
Quy mô (làn xe)
Tốc độ thiết kế (km/h)
Thời gian đưa vào khai thác
Cơ quan; đơn vị quản
lý, khai thác
1 Cầu Giẽ - Ninh Bình 50 4 120 07/2012 VEC (VEC O&M)
2 Vành đai 3 (Mai Dịch - Thanh
5 Nội Bài - Lào Cai 244.6 4 100;80 09/2014 VEC (VEC
5.0000
Trang 17T Tuyến đường
Chiều dài (km)
Quy mô (làn xe)
Tốc độ thiết kế (km/h)
Thời gian đưa vào khai thác
Cơ quan; đơn vị quản
lý, khai thác
8 TP Hồ Chí Minh - Long Thành
9 Nội Bài - Lào Cai (Điểm cuối
gđ I - Cầu Kim Thành) 18.2 4 80 05/2015 Sở GTVT Lào Cai
10 Hà Nội - Hải Phòng 105.5 6 120 12/2015 VIDIFI
11 Hà Nội - Bắc Giang 45.5 4 100 01/2016 C.ty BOT Hà Nội - Bắc
Giang
12 Nội Bài - Cầu Nhật Tân 15 6 120 01/2015 Sở GTVT Hà Nội
13 Pháp Vân - Cầu Giẽ 29 4 100 09/2015 C.ty BOT Pháp Vân -
Cầu Giẽ
Công tác quản lý bảo trì, từ trước đến nay chỉ mới tập trung vào hệ thống
quốc lộ, số ít cho đường tỉnh, đường đô thị và rất ít cho đường huyện, đường
xã, đường chuyên dùng Hiện nay, kinh phí cấp vốn quản lý bảo trì tối đa giành
cho hệ thống đường tỉnh khoảng từ 9 đến 15 triệu VNĐ/1Km/năm, với nguồn
vốn này mới chỉ đáp ứng được khoảng 30% yêu cầu; đường huyện chỉ có một
số ít địa phương quan tâm, còn đường xã hầu như chưa được quan tâm đến
công tác quản lý, bảo trì
Nhiều công trình được xây dựng xong, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng
nhưng chưa được quan tâm đúng mức đối với công tác quản lý, bảo trì do thiếu
kinh phí, thiếu cán bộ chuyên trách, thiếu công cụ thực hiện quản lý, thiếu lực
lượng làm công tác duy tu bảo dưỡng
Thực tế, tại các địa phương còn rất nhiều cầu và đường chưa có chủ thể nào
quản lý thể hiện ở 2 hình thức:
- Hình thức thứ nhất là đường không có đơn vị cụ thể nào chịu trách
nhiệm quản lý, bảo trì
- Hình thức thứ hai là đơn vị nào cũng đươc coi là chủ dẫn đến đường
không được quan tâm quản lý, bảo trì
Nhìn chung, các UBND Huyện, các UBND Xã, các tổ chức, các Doanh
nghiệp quản lý thông qua một số người chưa có chuyên môn hoặc kiêm
nhiệm cả công tác xây dựng, thuỷ lợi và một vài công tác khác Họ không thể
làm nổi công việc này theo đúng yêu cầu về công tác quản lý Từ thực tế này
dẫn đến thực trạng quản lý giao thông của các địa phương, đặc biệt là các
Huyện, các Xã rất hạn chế Các hạn chế thể hiện ở các mặt sau:
- Khả năng tiếp thu các yêu cầu quản lý thấp
Trang 18- Tư duy quản lý chuyên ngành (quản lý xây dựng và quản lý hồ sơ, việc
cập nhật, bổ sung và lưu trữ hồ sơ, công tác lên kế hoạch quản lý sửa chữa và
chỉ đạo thực hiện ) không theo một chuẩn chung, rất ì ạch, khập khiễng
- Chế độ báo cáo tuỳ tiện, không tuân thủ đầy đủ yêu cầu kỹ thuật
Tuy nhiên, do xác định được tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng giao thông
địa phương nên các địa phương đã tích cực kêu gọi đầu tư xây dựng từ nhiều
nguồn vốn như: ODA, ADB, WB, vốn vay GTNT, ngân sách Trung ương,
ngân sách Tỉnh, chương trình 135, chương trình 327 của Chính Phủ, của Quốc
phòng và nhân dân tự nguyện đóng góp nên nhiều công trình giao thông
được đầu tư nâng cấp cải tạo và làm mới, tạo nên mạng lưới giao thông ngày
càng hoàn chỉnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước
Ngân sách chi cho công tác bảo trì được tăng hàng năm do số km quốc lộ
tăng (Hình 1.8) và nhu cầu giao thông vận tải ngày càng cao Đến tháng
12/2016, Tổng cục Đường bộ Việt Nam được giao quản lý bảo trì, bảo đảm trật
tự an toàn giao thông cho 145 tuyến quốc lộ với tổng số trên 23.800km đường
Dựa trên nguồn vốn được phân bổ, Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã sắp
xếp, bố trí, xây dựng kế hoạch vốn một cách hợp lý, theo thứ tự ưu tiên cho công
tác bảo trì đường bộ căn cứ mức độ, tính chất hư hỏng của công trình, thời gian
đưa công trình vào sử dụng và vai trò, chức năng của tuyến đường để đảm bảo
giao thông luôn thông suốt, an toàn trên các tuyến quốc lộ, xử lý, khắc phục
những điểm thường xảy ra tai nạn giao thông, điều chỉnh hệ thống biển báo hiệu
hợp lý…
Hiện nay, kinh phí quản lý bảo trì đường bộ được cấp từ nguồn Ngân sách
nhà nước và Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương Tính đến hết năm 2016, tổng số
kinh phí được giao là 44.088 tỷ đồng Trong đó, nguồn Quỹ bảo trì đường bộ
Trang 19Hình 1.8 Tỷ lệ tăng trưởng kinh phí bảo trì
Do tồn tại một số vấn đề trong công tác quản lý như đã nêu ở trên (các vấn
đề như: thiếu kinh phí; thiếu cán bộ quản lý; trình độ cán bộ chưa đáp ứng
được yêu cầu .) nên còn có những bất cập trong việc quản lý hệ thống cầu
như:
Công tác quản lý hồ sơ tài liệu mới tập trung chủ yếu đối với hệ thống quốc
lộ, đường đô thị, đường tỉnh, còn đối với hệ thống đường huyện, đường xã,
đường chuyên dùng thì chưa được quan tâm 1 cách đầy đủ Việc quản lý hồ sơ
tài liệu chủ yếu vẫn theo phương thức quản lý thủ công Hiện nay, việc quản lý
hồ sơ, tài liệu về các cây cầu tại các đơn vị quản lý đường bộ như sau: Các
nguồn thông tin hiện có gồm các số liệu về hạ tầng kỹ thuật đường bộ mà chủ
yếu là dựa vào các hồ sơ gốc với khối lượng lớn (hồ sơ thiết kế, hồ sơ hoàn
công, hồ sơ khảo sát, các biểu mẫu thống kê, các báo cáo, các Biên bản nghiệm
thu ), bao gồm các số liệu có tính ít thay đổi và các số liệu có tính thay đổi
định kỳ (đó là các số liệu kiểm tra, kiểm định, các biên bản lấn chiếm, vi phạm
886406.0 1348110.0
2264479.0 2375012.0
2948213.0
4071712.0 3584250.0 4979072.0 6212170.0 7157472.0 8261606.0
Trang 20hành lang an toàn đường bộ ) Trên cơ sở các số liệu này, các đơn vị sẽ tiến
hành vẽ sơ đồ và lập hồ sơ cầu Việc lập hồ sơ cầu hoàn toàn thực hiện bằng
tay do vậy công việc này tốn nhiều thời gian và công sức, hơn nữa độ chính xác
và độ tin cậy của những bản vẽ đó không cao, không được cập nhật thường
xuyên khi các đối tượng quản lý có tính thay đổi Ngoài ra, với số lượng số liệu
quản lý rất nhiều nên việc để xảy ra nhầm lẫn, mất mát là điều chắc chắn xảy
ra Đặc biệt, tại các cơ quan quản lý đường bộ Trung ương (Bộ Giao thông Vận
tải, Cục Đường bộ Việt Nam, Cục Đường sắt Việt Nam) thì công tác quản lý hệ
thống cầu trên toàn mạng lưới là nhiệm vụ rất nặng nề
Công tác cập nhật số liệu tại các địa phương chưa được thường xuyên, đặc
biệt đối với hệ thống đường huyện, đường xã và đường chuyên dùng Hiện nay,
vẫn còn rất nhiều cầu trên hệ thống đường này chưa lập đường hồ sơ quản lý
cầu
Mặc dù, Bộ GTVT đã ban hành các Tiêu chuẩn kỹ thuật đối với công tác
quản lý bảo trì đường bộ nhưng đến nay công tác quản lý, bảo trì của một số
địa phương vẫn chưa tuân thủ theo Tiêu chuẩn kỹ thuật quy định, chưa kiểm
soát được quá trình làm việc của hệ thống cầu do đơn vị mình quản lý, gây nên
một số tình trạng như: biện pháp bảo dưỡng chưa khoa học; cầu bị hư hỏng nhẹ
nhưng không được kiểm tra định kỳ và có kế hoạch sửa chữa làm cho hiện
trạng của cầu bị xuống cấp nhanh chóng, gây nguy hiểm đối với việc khai thác
sử dụng cầu
Chương trình kiểm tra, đánh giá cầu mới được thực hiện một cách đầy đủ
và định kỳ đối với hệ thống quốc lộ Tuy nhiên, công tác đánh giá hiện trạng
(năng lực chịu tải) của một cây cầu và toàn bộ mạng lưới cầu mới chỉ dựa vào
kết quả đánh giá của các kỹ sư hoặc các chuyên gia tư vấn kiểm định, chưa
được thực hiện bằng phương pháp hệ thống máy tính, nghĩa là sau khi kiểm tra,
thu thập và cập nhật toàn bộ các số liệu vào máy tính thì sẽ có phần mềm máy
tính xử lý toàn bộ các số liệu này và đưa ra các kết quả đánh giá khoa học về
hiện trạng của một cây cầu và toàn bộ mạng lưới cầu
1.2 Ứng dụng các công cụ phục vụ quản lý công trình giao thông trên thế
giới và Việt Nam
1.2.1 Trên thế giới
Để đáp ứng sự phát triển của giao thông ngày một tăng, tương ứng với nó là
phải quản lý một số lượng rất lớn các dữ liệu giao thông (dữ liệu kết cấu hạ
tầng đường bộ, nguồn vốn, an toàn giao thông, các phương tiện tham gia giao
thông ) thì cần phải có một công cụ quản lý nhanh chóng, chính xác và hiệu
quả Dữ liệu hệ thống cầu là một phần của dữ liệu kết cấu hạ tầng đường bộ,
Trang 21công cụ hiện nay để quản lý nguồn dữ liệu này là chương trình quản lý cầu,
đường
Trên thế giới có nhiều chương trình quản lý cầu được phát triển nhằm giúp
các kỹ sư, các nhà quản lý có quyết định chính xác, khoa học về phương pháp
và thời điểm duy tu, bảo dưỡng Trong đó:
Chương trình quản lý cầu đơn giản nhất là bao gồm một cơ sở số liệu trong
đó ghi mọi thông tin cần cho mỗi công trình, chẳng hạn như các chi tiết kết
cấu, ghi chép các kiểm định và lý lịch bảo dưỡng trước đây cần cho người kỹ
sư để đi đến quyết định
Chương trình quản lý cầu phức tạp hơn (chương trình quản lý cầu nâng cao)
có chứa đựng những thuật toán để xử lý các số liệu nhằm cung cấp nhanh
chóng những dữ liệu cần thiết để đưa ra những chiến lược bảo dưỡng tối ưu ở
mức độ công trình cũng như cho cả mạng lưới cầu đường, trong đó có lưu ý
đến những hạn chế như không đủ vốn
Phần lớn những chương trình đã được phát triển cho một mạng lưới cầu,
hoặc đáp ứng những yêu cầu của một người sở hữu cụ thể một cây cầu, rồi sau
đó phát triển hơn và dần hoàn thiện để đáp ứng những nhu cầu của thị trường
rộng lớn hơn
Cùng với sự phát triển nhanh chóng một cách thần kỳ của công nghệ sản
xuất máy tính, việc sử dụng máy vi tính (PC) mang tính phổ cập, hầu hết các
chương trình quản lý cầu ngày nay đều xử lý trên máy tính một số lượng dữ
liệu nhiều hơn trên giấy rất nhiều lần và trong thời gian ngắn nhất Cốt lõi của
một chương trình quản lý cầu là cơ sở dữ liệu xây dựng bằng cách số hoá tất cả
thông tin thu thập được từ các hoạt động kiểm tra, kiểm định và bảo dưỡng của
tất cả các cầu trong mạng lưới cầu
Các loại chương trình quản lý cầu, đường tại một số nước trên thế giới đang
vận dụng trong bảng 1.4
Bảng 1.4 Một số chương trình quản lý cầu trên thế giới
Trang 22Các chương trình quản lý cầu này cơ bản đều khá giống nhau về cấu trúc,
các thành phần cơ bản của một chương trình quản lý cầu, đường và tính năng
(Đầu ra của chương trình) Tuỳ theo đặc điểm địa lý, loại kết cấu, thói quen sử
dụng mà mỗi nước dùng một chương trình khác nhau Sự khác biệt giữa
chúng chỉ ở ngôn ngữ lập trình, giao diện và các cửa sổ khai báo dữ liệu
Những lợi ích khi sử dụng cácchương trình quản lý
Những lợi ích chủ yếu giúp cho người quản lý cầu và các cơ quan quản lý
khi sử dụng chương trình quản lý:
- Chương trình quản lý cầu, đường tạo ra một bức tranh tổng thể mà từ đó
người quản lý biết được chi tiết và tổng thể về toàn bộ hệ trống cầu trên mạng
lưới đường bộ, tạo ra một “mô đun” cơ sở dữ liệu hệ thống cầu trong ngân
hàng dữ liệu để có thể cập nhật và chia xẻ thông tin
- Hướng trọng tâm công tác bảo dưỡng và sửa chữa (sửa chữa vừa, sửa
chữa lớn) đúng lúc, đúng nơi bằng cách xác định những cây cầu và các bộ phận
cầu đang hư hỏng dần hoặc đang có những khuyết tật về kết cấu khiến có thể
làm giảm khả năng sử dụng và kém an toàn
- Cho phép xác định thứ tự ưu tiên công trình cầu (do trường hợp có sự
hạn chế về nguồn vốn) tuỳ theo mức độ hư hỏng hoặc tính cấp thiết mang tính
đột suất
- Qua việc sử dụng chương trình người quản lý tránh được các công tác
quản lý, bảo trì không cần thiết
- Công tác quản lý, bảo trì sẽ khoa học, hợp lý và kinh tế, đảm bảo việc
khai thác an toàn trên toàn bộ mạng lưới cầu
- Giúp cho người quản lý theo dõi, kiểm soát có hiệu quả kế hoạch quản
lý, bảo trì
- Khi sử dụng chương trình quản lý người kỹ sư sẽ thiết kế công trình bền
vững, dùng loại vật liệu và biện pháp kỹ thuật hợp lý hơn
Rõ ràng với những khả năng và ích lợi như vậy nên chương trình quản lý cầu
là phương pháp tất yếu của việc hiện đại hoá công tác quản lý có hiệu quả
1.2.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện tại cũng có một số chương trình quản lý cầu, đường như:
Bảng 1.5 Một số chương trình quản lý cầu, đường ở Việt Nam
1 VBMS (http://www.vbms.vn) TCĐBVN
Tra cứu thông tin công trình cầu, biết lý trình, kết cấu, và một vài thông
Trang 23STT Tên chương trình Đơn vị
4
PMS (http://pms.drvn.gov.vn)
TCĐBVN
Quản lý công trình đường, xây dựng kế hoạch bảo trì theo nguồn vốn và thời gian (đang trong quá trình phát triển)
Trong bốn chương trình trên thì cả bốn chương trình trên đều có thể sử dụng
trực tuyến trong đó có đến 3 chương trình phục vụ công tác quản lý công trình
cầu từ đó có thể thấy tầm quan trọng của việc quản lý công trình cầu Mỗi
chương trình quản lý ở trên có một thế mạnh riêng tuy nhiên cả ba chương trình
quản lý cầu đều có những tính năng tương tự và giống nhau Cho thấy rằng thực
tế ở Việt Nam có nhiều cách quản lý khác nhau nhưng cơ bản vẫn dựa trên bản
chất của công trình cầu Tuy nhiên việc ứng dụng chúng vào trong thực tiễn vẫn
còn gặp phải rất nhiều khó khăn Do nhiều yếu tố đặc biệt là yếu tố con người
Các cơ quan đơn vị quản lý chồng chéo, có những đoạn công trình không rõ
thuộc về đơn vị nào quản lý nên việc thu thập dữ liệu cũng do đó mà ảnh hưởng
theo, nguồn dữ liệu được thu thập về theo nhiều form biểu khác nhau, không
Trang 24đồng bộ dẫn đến mặc dù có chương trình nhưng hiệu quả mà chương trình đó
đem lại gần như bỏ ngỏ Bên cạnh đó cũng còn do chương trình còn ít người biết
đến thậm chí là trong cùng đơn vị cũng không có tài khoản để đăng nhập vào sử
dụng chương trình
Theo các đợt khảo sát gần đây, hiện nay tại Việt Nam có khoảng trên 20.000
cây cầu với nhiều loại và quy mô khác nhau trong đó vẫn còn hàng nghìn cầu
yếu, cầu hẹp, tải trọng thiết kế không đáp ứng vận tải và không đồng bộ với
tuyến đường Với số lượng cầu lớn như vậy trải dài trên các tuyến quốc lộ, tỉnh
lộ kèm với việc quản lý thủ công không tập trung, dữ liệu không đồng bộ sẽ
càng khiến cho công tác quản lý gặp phải rất nhiều khó khăn
1.3 Hiệu quả của việc áp dụng các phần mềm vào công tác quản lý công
trình giao thông
Qua những vấn đề đã nêu ở trên cho thấy trên toàn hệ thống công tác quản
lý cầu còn nhiều hạn chế, cần phải có biện pháp để nâng cao năng lực quản lý
Một số dữ liệu cơ bản về tình trạng của hệ thống cầu ảnh hưởng lớn đến công
tác quản lý khai thác như: hiện trạng và sức chịu tải của dầm, sự làm việc của
gối, tình trạng cọc chúng ta vẫn chưa nắm hết được
Trong thực tế quản lý khai thác có nhiều công trình cầu có dấu hiệu xuống
cấp chỉ sau vài thập kỷ sử dụng, nguyên nhân chính là do:
- Thiết kế kém và thi công không bảo đảm chất lượng
- Lưu lượng giao thông ngày một tăng nhanh
- Trọng lượng của các phương tiện tham gia giao thông tăng nhanh
- Hư hỏng do môi trường
- Xuống cấp về mặt hoá học, như phản ứng Silicalkali, Clo và cacbonnát
hoá
- Công tác quản lý, bảo trì không tuân thủ theo các quy định của Tiêu
chuẩn kỹ thuật ngành
- Nguồn vốn dành cho công tác quản lý, bảo trì không đủ nhu cầu
- Hư hỏng do con người chưa có ý thức bảo vệ công trình
Cầu càng khai thác lâu thì hư hỏng càng nặng khiến phải sửa chữa nhiều
hơn và khả năng chịu tải của cầu giảm sút Để quản lý toàn bộ hệ thống cầu
trên toàn bộ mạng lưới đường bộ rộng lớn thì cần phải có chiến lược quản lý,
bảo trì công trình cầu
Từ những sự bất cập trên có thể rút ra được bài học kinh nghiệm to lớn cho
những chương trình quản lý như sau:
Tạo ra sự thống nhất trong việc thu thập, cập nhật và báo cáo dữ liệu công
trình cầu, đường Bỏ được chế độ báo cáo không theo một mẫu biểu chuẩn, chế
Trang 25độ kiểm tra và báo cáo tuỳ tiện, các thông số kỹ thuật không theo đúng quy
định hiện hành
- Tính kinh tế do vận dụng chương trình quản lý cầu như:
- Tiết kiệm được thời gian cho việc cập nhật dữ liệu
- Giảm nhân lực trong công tác quản lý dữ liệu
- Giảm khối lượng giấy tờ và các loại văn phòng phẩm khác để quản lý hồ
sơ tài liệu cầu
- Giảm diện tích kho lưu trữ hồ sơ, tài liệu
Tạo ra một cơ sở dữ liệu của hệ thống cầu trên toàn bộ mạng lưới mà qua
đó người quản lý có thể tìm kiếm và cập nhật một cách dễ dàng Từ CSDL
người quản lý sẽ lập kế hoạch và chương trình bảo dưỡng, dự án đầu tư sửa
chữa thường xuyên hay định kỳ, phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả
Tạo tiền đề và cơ sở hoàn thiện cách thức quản lý trong tương lai phù hợp
với các công nghệ xây dựng cầu mới, nâng cấp chương trình có những thuật
toán để xử lý các số liệu nhằm đưa ra những chiến lược, kế hoạch bảo dưỡng
tối ưu ở mức độ công trình cũng như cho cả mạng lưới cầu đường, để từng
bước hoàn thành việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu chung cho ngân hàng dữ
liệu đường bộ
Là một hướng quan trọng trong mục tiêu hiện đại hoá công tác quản lý
đường bộ nói riêng và quản lý các cơ sở hạ tầng khác nói chung, phù hợp với xu
hướng hội nhập và phát triển chung của thế giới
Rõ ràng với những khả năng và ích lợi như vậy nên chương trình quản lý cầu
là phương pháp tất yếu của việc hiện đại hoá công tác quản lý có hiệu quả
1.4 Những hạn chế của các phần mềm hiện tại đang sử dụng tại Việt
Nam
Hiện tại ở Việt Nam có một số phần mềm quản lý công trình giao thông như:
- Phần mềm bản đồ số GIS của Tổng cục Đường bộ Việt Nam hiện chỉ
mới có tên cầu và lý trình;
- Phần mềm VBMS của Tổng cục Đường bộ Việt Nam hiện chỉ mới có
tên cầu và lý trình;
- Chương trình quản lý BK-VIKA tác giả có tham gia hiện chỉ mới có dữ
liệu cầu của Cục Quản lý Đường bộ III tuy nhiên đã tích hợp tính năng quản lý
đường vào cùng một chương trình;
- Phần mềm quản lý tình trạng mặt đường PMS chỉ có thông tin về mặt
đường và tên cầu
Cả ba chương trình của Tổng cục Đường bộ Việt Nam quản lý nên việc truy
cập vào rất hạn chế, chỉ những người được phân quyền mới có thể truy cập vào
Trang 26hệ thống bên cạnh đó việc cập nhật cơ sở dữ liệu cũng phải qua nhiều bước đối
với cả hai hệ thống, đặc biệt đối với phần mềm PMS cần phải sử dụng phương
tiện khảo sát chuyên dụng như: Xe khảo sát tình trạng mặt đường
Do vậy tính cấp bách và việc cần dữ liệu gần đây nhất gần như là không có,
dữ liệu thu thập về phải mất thời gian lâu để xử lý, phụ thuộc vào điều kiện thời
tiết, khí hậu Bên cạnh đặc thù công việc đôi khi cần báo cáo nhanh số liệu hiện
có vào thời điểm gần nhất hiện tại chưa có, nên việc xây dựng một phần mềm
nhằm quản lý số liệu thường xuyên do các đơn vị tư vấn báo cáo về là thực sự
cần thiết và cấp bách đối với Cục quản lý Đường bộ III nói riêng và các đơn vị
quản lý khác nói chung
1.5 Kết luận chương
- Chương 1 đã tổng quan về công tác tổ chức quản lý khai thác công trình
giao thông trên thế giới và Việt Nam;
- Tổng quan được về tình hình ứng dụng công cụ phục vụ công tác quản lý
hiện nay và nêu ra những vấn đề còn bất cập hiện nay trong công tác tổ chức
quản lý công trình giao thông, từ đó cho thấy việc chưa chọn đề tài của luận
văn là hết sức cần thiết
Trang 27CHƯƠNG 2: HOÀN THIỆN CHƯƠNG TRÌNH QUẢN LÝ CẦU ĐƯỜNG
BK-VIKA 2.1 Thực trạng CSDL của chương trình quản lý cầu, đường BK-VIKA
Cơ sở dữ liệu được ví như trái tim của bất cứ hệ thống nào Đối với quản lý
tài sản đường bộ và hệ thống quản lý giao thông & đường bộ, sự cần thiết của
CSDL còn tối quan trọng hơn cả các hệ thống quản lý khác bởi vì mạng lưới
đường bộ được phát triển mở rộng trên phạm vi lớn qua các khu vực có điều
kiện địa lý, địa hình, thủy văn, môi trường v.v… thay đổi khác nhau, và các điều
kiện tự nhiên, môi trường đó cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ hư hỏng tài sản
đường bộ khác nhau Ngoài ra, việc quản lý tài sản đường bộ và các hoạt động
khai thác đường bộ, tổ chức và quản lý giao thông có liên quan đến nhiều cơ
quan, đơn vị, cũng đặt ra yêu cầu phải có hệ thống dữ liệu chung và nhất quán
để việc quản lý được hiệu quả và thuận lợi Do vậy, CSDL đường bộ có ý nghĩa
rất quan trọng với cơ quan quản lý đường cho nhiều mục đích khác nhau bao
gồm: quản lý tài sản đường bộ, đưa ra quyết định về chính sách, quản lý và tổ
chức khai thác giao thông & đường bộ
Sau nhiều năm nghiên cứu cùng với kinh nghiệm về công trình cầu tác giả
truớc đã xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu lưu trữ thông tin các công trình
cầu, cùng với ứng dụng BK-VIKA có thể kết nối được với hệ quản trị CSDL đã
được xây dựng Tuy nhiên sau khi xây dựng được chương trình, do khối lượng
công việc nhiều, thời gian ít, hệ thống dữ liệu các công trình cầu bị phân tán và
khó tập hợp Việc bố trí thời gian và nhân lực để đi khảo sát thu thập số liệu qua
nhiều địa bàn vô cùng khó khăn và tốn kém nên chương trình mới chỉ thu thập
được dữ liệu của một vài công trình cầu điển hình làm ví dụ Việc nhập đủ thông
tin về những công trình cầu cần phải có thời gian và nhân vật lực
Sơ đồ tổ chức quản lý của chương trình được xây dựng như sau:
Trang 28Tuyến đường, tuyến quốc lộ
Chi cục QLĐB, phòng chức năng
Dữ liệu công trình đường
Các Cục QLĐB,
Sở GTVT
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức quản lý của chương trình BK-VIKA
Dựa vào tính chất của các công trình cầu, cùng với tham khảo tài liệu và
nghiên cứu các cách thức quản lý hiện tại.Tác giả xây dựng các tiêu chí để quản
lý các nội dung chính của công trình cầu trên quốc lộ, và cầu trên tỉnh lộ như
Cầu trên quốc lộ
HÌnh 2.2 Sơ đồ quản lý công trình cầu trên quốc lộ
Trang 29Cầu trên tỉnh lộ
Hình 2.3 Sơ đồ quản lý công trình cầu trên tỉnh lộ
Từ sơ đồ trên tác giả tiến hành xây dựng hệ thống bảng để lưu dữ liệu quản lý
cầu chi tiết như sau:
Hình 2.4 Cơ sở dữ liệu modul quản lý công trình cầu
CSDL đã xây dựng xong tuy nhiên mới chỉ có phần khung Tác giả đã tạo ra
được sườn chính để lưu trữ dữ liệu một cách khoa học có thể phân loại theo
nhiều tiêu chí
Bảng 2.1 Thiết kế khung chính của CSDL công trình cầu
Cơ sở dữ liệu
chính công trình
cầu
Tổng cục Đường bộ, Các Cục QL ĐB, Các
sở GTVT…
Năm đưa vào khai thác sử dụng Phân loại cầu
Tuổi thọ cầu Cấp đường
Trang 30Nội dung lưu trữ Phân loại theo đơn
Vật liệu Trạng thái kỹ thuật Tải trọng khai thác Tải trọng thiết kế Khổ cầu
Đối với mỗi khả năng phân loại tương ứng của dữ liệu chính của công trình
cầu cần phải có một bảng tương ứng lưu trữ những dữ liệu tương ứng nhằm mục
đích liên kết với bảng chính lưu trữ thông tin công trình Ví dụ như:
Bảng 2.2 Bảng phân loại cầu
1 Cầu dầm giản đơn BTCT
2 Cầu dầm giản đơn BTCT DUL
3 Cầu dầm liên tục BTCT
4 Cầu dầm liên tục BTCT DUL
5 Cầu bản giản đơn
Hệ thống còn rất nhiều bảng nhằm mục đích phân loại như trên Nhìn chung
về cơ bản chương trình đã xây dựng được hệ thống lưu trữ dữ liệu theo hướng
Trang 31hiện đại, khoa học Xây dựng trên nền tảng hệ quản trị CSDL Microsoft SQL
Server thân thiện, dễ sử dụng đối với lập trình viên, đáp ứng được nhu cầu lưu
trữ dữ liệu lớn đồng thời có thể dễ dàng nâng cấp và mở rộng trong tương lai khi
có nhu cầu
Tuy nhiên dữ liệu cơ bản vẫn chưa có, tác giả mới chỉ nhập được vài công
trình cầu mục đích là để kiểm tra chức năng của chương trình
Bảng 2.4 Một vài công trình đã được nhập (nhằm mục đích kiểm tra)
STT Mã CC Tỉnh lộ Tên công trình Lý trình Chiều dài Sơ đồ cầu
1 DT604 DT605 Cầu Liên Chiểu km914+450 51 3*15.6+15
2 DT604 DT601 Cầu Nam Ô km917+198 322 25.07+11*24.74+25.07
3 III.1 DT601 Cầu Giếng Trời km945+715 32 2*15.5
4 III.2 DT601 Cầu Hà Lam Km969+1012 13 9,2
5 III.2 QL25 Cầu Gò Phật Km973+254 27,5 3*9
6 III.2 QL1A Cầu Bà Dụ km986+878 39 3*12.7
7 III.2 QL1A Cầu Ông Trạng II km989+405 10,25 9,45
8 III.1 QL1A Cầu An Tân km1018+669 97,5 5*18.7
9 III.3 QL1A Cầu Châu Ổ km1036+275 254,5 10*24.85
10 III.2 QL1A Cầu Cháy km1042+987 30,8 3*8.2
11 III.1 QL1A Công trình ABC km1142+87 51,2 3*15.6
12 III.1 QL1A Công trình ABC km942+587 30,8 3*8.2
17 III.2 QL1A Công trình ABC km930+330 254,5 10*24.85
18 III.3 QL1A Công trình ABC km910+190 39 3*12.7
19 III.3 QL1A Công trình BCDE km912+220 97,5 5*18.7
20 III.3 DT 641 Công trình BCD km1249+250 27,5 3*9
21 III.3 DT 643 Công trình EFG km1249+250 322,28 25.07+11*24.74+25.07
Hiện nay việc thu thập dữ liệu các công trình cầu của trong phạm vi quản lý
của Cục Quản lý Đường bộ III về cơ bản đã đầy đủ, tác giả sẽ tiến hành cập nhật
toàn bộ dữ liệu công trình cầu theo bảng 2.5vào chương trình
Trang 32Hình 2.5 Cơ sở dữ liệu lưu trữ công trình cầu Bảng 2.5 Dữ liệu công trình cầu do Cục Quản lý Đường bộ III quản lý
(Bảng 2.5 Xem phụ lục)
Hệ thống CSDL và chương trình xây dựng hoàn toàn có thể ứng dụng cho
nhu cầu thực tế của Tổng Cục Đường bộ, Các Cục Quản lý Đường bộ, Các Sở
GTVT
2.2 Mô hình CSDL cho bài toán quản lý công trình giao thông
Kết cấu hạ tầng đường bộ là loại tài sản quốc gia được truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác, do đó cần phải duy trì, nâng cấp mở rộng nhằm mục đích đảm
bảo giao thông được thông suốt, an toàn và bền vững Nguyên tắc cơ bản trong
bảo trì đường bộ là thực hiện nguyên tắc “đúng chỗ”, “đúng thời điểm” và
“đúng biện pháp” nhằm đảm bảo tính kinh tế trong suốt vòng đời của công trình
Yêu cầu công tác bảo trì đòi hỏi cần chuyển đổi hướng tiếp cận từ bị động
sang chủ động bảo trì hoặc có chiến lượng trên cơ sở các kế hoạch bảo trì có hệ
thống và có đủ cơ sở khoa học Để làm được việc đó thì cần phải có dữ liệu Có
dữ liệu cũng vẫn chưa đủ mà dữ liệu cần phải được hệ thống hóa lại thông qua
việc áp dụng CNTT
Hệ thống mạng Internet
Máy chủ WebMáy chủ CSDL
Các thiết bị có thể truy câp vào chương trình
- Tra cứu thông tin công trình cầu, đường;
- Cập nhật thông tin công trình cầu đường.
Hình 2.6 Mô hình hệ thống hóa bằng CNTT
Trang 33Với những yêu cầu trên thì việc áp dụng CNTT cho các cơ quan quản lý
nhằm hiện đại hóa cách quản lý hiện tại bằng việc “thông tin hóa” và “tự động
hóa”
- Thông tin hóa để cải thiện, tiến bộ: Cung cấp các thông tin hữu ích cho
quá trình đưa ra quyết định bằng sự hỗ trợ của CNTT
- Tự động hóa để nâng cao hiệu quả: Thay cho công việc thủ công trước
đây bằng CNTT
Lợi ích (hiệu quả) Chi phí
Trước khi áp
dung CNTT
Sau khi áp dụng
CNTT
- Tự động hóa = Hiệu quả
- Thông tin hóa = Cải thiện
Hình 2.7 Hiệu quả của việc áp dụng CNTT vào công tác quản lý
Hệ thống xây dựng được vận hành trên dữ liệu nên việc thu thập dữ liệu vô
cùng quan trọng, đóng vai trò chủ chốt trong công tác quản lý và bảo trì các
công trình cầu đường do vậy việc xây dựng hệ thống CSDL và cập nhật thường
xuyên, liên tục là cần thiết Đồng thời chương trình được xây dựng trên nền tảng
ứng dụng Web và được phân quyền theo chức năng và cấp độ khác nhau (cấp
Bộ Giao thông Vận tải; Tổng cục Đường bộ Việt Nam; cấp Cục Quản lý Đường
bộ; cấp Chi cục Quản lý đường bộ), người dùng có tài khoản đăng nhập đều có
thể truy cập vào hệ thống, thao tác với chương trình theo quyền hạn đã được cấp
(tra cứu dữ liệu; cập nhật dữ liệu; thêm mới dữ liệu…) chỉ cần thiết bị sử dụng
có kết nối internet
Trong tương lai gần, chương trình cũng sẽ cập nhật thêm một số tính năng
cần thiết như lưu trữ thêm các loại tài sản đường bộ khác như biển báo, hộ lan
mềm, cống… nhằm hoàn thiện hơn nữa cho chương trình BK-VIKA
Hiện tại Tổng cục Đường bộ Việt Nam quản lý các tuyến đường (được giao
cho các Cục Quản lý Đường bộ, sở GTVT, các Công ty BOT) Ở Việt Nam,
mạng lưới đường bộ cũng đang mở rộng cùng với sự tăng trưởng kinh tế của đất
nước Vì vậy, với sự gia tăng về chiều dài các tuyến đường, các công trình thì
việc quản lý và bảo trì tài sản hạ tầng đường bộ cũng đang tăng lên tương ứng
Trước đây TCĐBVN đã sử dụng phần mềm lập kế hoạch RosyPLAN, hệ
thống quản lý tài sản đường bộ RAMS qua hệ thống HDM-4 trong giai đoạn từ
năm 1996 đến năm 2006 với sự giúp đỡ của WB và ADB Tuy nhiên đã không
Trang 34thành công, chủ yếu do các vấn đề về thể chế và sự phức tạp của các hệ thống
này Ngày 13/03/2012, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Nghị định
18/2012/NĐ-CP về Quỹ bảo trì đường bộ Việt Nam (gọi tắt là Quỹ bảo trì
đường bộ Việt Nam) quy định rằng Tổng cục Đường bộ Việt Nam được yêu cầu
cung cấp cho Quỹ bảo trì đường bộ Việt Nam một kế hoạch bảo trì hàng năm để
xem xét làm căn cứ và phê duyệt kinh phí cần thiết cho công tác bảo trì đường
bộ
Vì vậy, nhu cầu cấp bách đặt ra đối với Tổng cục Đường bộ Việt Nam là
nâng cao năng lực của mình để lập kế hoạch hàng năm đảm bảo cải thiện mạng
lưới đường bộ Việt Nam và Tổng cục Đường bộ Việt Nam đã đồng thời công
nhận sự cần thiết của việc phát triển hệ thống quản lý tài sản đường bộ Việt
Nam cho việc lập kế hoạch bảo trì tài sản đường bộ, vận hành và quản lý bền
vững tài sản đường bộ Do đó định hướng phát triển và tiếp tục nâng cấp nhằm
hoàn thiện chương trình BK-VIKA là hết sức đúng đắn và cần thiết
Danh mục dữ liệu các công trình cầu do Cục Quản lý Đường bộ III quản lý
(Danh mục cầu xem Phụ lục)
Qua quá trình thu thập số liệu được biết tại Cục Quản lý Đường bộ III lưu dữ
liệu những công trình cầu, đường đều trên file excel, với lượng dữ liệu tương đối
chính xác và gần như đầy đủ Tuy nhiên còn một số loại dữ liệu như tình trạng
mặt đường, lịch sử bảo trì
Dữ liệu tình trạng mặt đường ở năm 2004 và 2007 được thiết lập để phục vụ
cho tập dữ liệu HDM-4 đã có sẵn ở Khu QLĐB II Dữ liệu năm HDM-4 năm
2004 có ở định dạng Excel trong khi dữ liệu năm 2007 có ở định dạng
MS-Access Nên độ tin cậy của những dữ liệu này thấp và có một số vấn đề như
trùng lặp dữ liệu, mất dữ liệu, đoạn trùng lặp, trống dữ liệu và lỗi trong định
dạng dữ liệu (số và chữ)
Trong dữ liệu HDM-4 năm 2004 có dữ liệu lịch sử bảo trì mặt đường Tuy
nhiên, từ năm 2004, không có dữ liệu lịch sử bảo trì mặt đường trong dữ liệu
RosyBASE năm 2007 hay bất kỳ dữ liệu mềm nào khác Dữ liệu lịch sử bảo trì
mặt đường bao gồm cả so sánh trước / sau khi tiến hành công tác sửa chữa được
lưu trữ dưới dạng bản cứng tại Khu QLĐB III Không thể sử dụng được
Dữ liệu công trình cầu đường được thu thập và cập nhật vào chương trình
theo tiến trình sau: Sau quá trình điều tra khảo sát ngoài thực tế hiện trường,
hoặc tài liệu có được, người nhập sẽ tổng hợp, kiểm tra tiến hành nhập vào bảng
excel Sau đó truy cập vào chương trình với tên truy cập và mật khẩu được cấp
Tùy theo phân quyền chức năng mà người dùng có thể thêm bớt, chỉnh sửa hay
chỉ được xem, tra cứu thông tin Tiếp theo người dùng sẽ tiến hành cập nhật dữ
Trang 35liệu từ bảng excel vào chương trình, chương trình sẽ kiểm tra tính đúng đắn của
dữ liệu một lần nữa, nếu không có lỗi gì chương trình sẽ tiến hành cập nhật dữ
liệu vào Database
Thu thập dữ liệu khảo
sát ngoài hiện trường
Phân quyền chức năng
Được thêm mới, cập nhật
Thu thập dữ liệu ngoài hiện trường Lưu dữ liệu đã thu thập vào chương trình
Hình 2.8 Các bước nhập dữ liệu vào chương trình 2.3 Cơ sở lý thuyết để xây dựng bổ sung modul quản lý công trình
đường
Xuất phát từ thực tế trên cho thấy ở Việt Nam và nhìn chung các nước trên
thế giới đã sử dụng các chương trình quản lý nhằm tăng cường năng lực quản lý
tài sản đường bộ hay nói cách khác là quản lý công trình giao thông Việt Nam
cũng đang phối hợp với tập đoàn JICA để xây dựng nên một số chương trình,
tuy nhiên một vài chương trình đang được triển khai chưa phù hợp lắm với cách
sử dụng và quản lý mà chúng ta đang áp dụng, cộng thêm các chương trình chạy
độc lập với nhau nên sẽ phải tạo nhiều tài khoản đăng nhập
Việt Nam và nhiều nước trên thế giới đều phải đối mặt với khó khăn là
nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp cho công tác quản lý, bảo trì đường bộ
không đủ và không kịp thời
Vì vậy, muốn duy trì công trình đường bộ giữ được trạng thái khai thác an
toàn và đảm bảo tuổi thọ theo tiêu chuẩn thiết kế, thì việc bảo trì là yêu cầu bắt
buộc Đồng thời, muốn thực hiện tốt công tác bảo trì thì phải thực hiện tốt công
Trang 36tác quản lý, bảo vệ như tuần tra, kiểm tra, đếm xe, cập nhật hồ sơ quản lý và các
nội dung khác sẽ góp phần đảm bảo chất lượng công trình đường bộ Như vậy
thì cần phải có dữ liệu, và dữ liệu phải được lưu trữ một cách khoa học, dễ dàng
tra cứu, tìm kiếm Nhằm hỗ trợ cho công tác lập kế hoạch bảo trì phù hợp với
nguồn vốn được cấp vốn thiếu thốn so với nhu cầu thực tế
Bảng 2.6 Chương trình BK-VIKA đã làm được
Thêm mới, cập nhật Đã có Chưa có DL
2 Quản lý cầu trên quốc
lộ
Thêm mới, cập nhật Đã có
Với mục đích hoàn thiện chương trình BK-VIKA tác giả đã xây dựng hệ
thống CSDL trên nền tảng kiến trúc tương tự như modul quản lý công trình cầu
làm CSDL để lưu trữ, tra cứu các công trình đường nhằm hoàn thiện tính năng
của chương trình hơn nữa đáp ứng cho nhu cầu quản lý công trình đường và hỗ
trợ công tác tra cứu tuyến đường, làm cơ sở phục vụ cho công tác lập kế hoạch,
lập báo cáo, giảm thiểu không gian lưu trữ bằng thủ công, giảm thiểu công tác
tìm hồ sơ, các công trình, dự án
Trên cơ sở đã có CSDL các công trình cầu cùng các yếu tố trên tác giả đề
xuất xây dựng modul quản lý công trình đường với sơ đồ mô phỏng như sau:
Trang 37Đăng nhập
Các Cục QLĐB
Các Chi Cục QLĐB
Kiểm tra dữ liệu
Nhập thông tin
Sai
Cập nhật vào CSDL
Đúng
Các Sở GTVT
Các Phòng chức năng
Các phòng chức
năng
Phân quyền
Hình 2.9 Sơ đồ lưu trữ dữ liệu của modul quản lý đường
Hình 2.10 Sơ đồ phân quyền và các tiêu chí phân loại chính của đường
CSDL của modul quản lý đường được đề xuất xây dựng bao gồm 8 bảng,
bảng 2.7 dưới đây thể hiện thông tin chung nhất của công trình đường cần được
lưu trữ:
Trang 38Bảng 2.7 Bảng dữ liệu chung của đường
Tương tự như modul quản lý công trình cầu, hệ thống cơ sở dữ liệu lưu trữ
công trình đường cũng được xây dựng với cách thức tương tự như trên, có một
bảng chính để lưu thông tin cơ bản của tuyến đường và một hệ thống các bảng
phụ trợ liên kết với các bảng chính để phân loại dữ liệu theo nhiều tiêu chí như:
Bảng 2.7 Thiết kế khung chính của CSDL công trình đường
Cơ sở dữ liệu chính
công trình đường
Tổng cục Đường bộ, Các Cục QL ĐB, Các sở GTVT…
Năm đưa vào khai thác sử dụng Kết cấu mặt đường
Quốc lộ Cấp thiết kế
Số làn xe Địa phương Tương ứng cũng có các bảng dữ liệu chi tiết cho mỗi khả năng phân loại
Trang 39Bảng 2.8 Các tuyến đường do Cục QLĐB III đang quản lý
STT Quốc lộ/ Địa
danh quản lý
Tổng chiều dài
Các đoạn hiện đang quản lý, bảo trì
Các đoạn đã bàn giao cho Ban QLDA
để đầu
tư XDCB
Các đoạn
đã bàn giao cho nhà đầu tư BOT
Chiều dài (km)
Trang 40STT Quốc lộ/ Địa
danh quản lý
Tổng chiều dài
Các đoạn hiện đang quản lý, bảo trì
Các đoạn đã bàn giao cho Ban QLDA
để đầu
tư XDCB
Các đoạn
đã bàn giao cho nhà đầu tư BOT
Chiều dài (km)
E Đăk Nông 151.60 Km1793+000 Km1946+000 51.20 - 100.40
11 Đường TSĐ 463.33 Km0+000 Km626+000 316.64 146.69 -
A Quảng Nam 134.89 Km0+000 Km142+000 66.72 68.17 -
B Quảng Ngãi 36.17 Km142+000 Km175 I+160 36.17
C Kon Tum 52.11 Km175I Km230+000 52.11
D Gia Lai 90.41 Km230+000 Km475+000 90.41
E Phú Yên 19.73 Km475+000 Km495+200 19.73
F Đăk Lăk 130.02 Km495+200 Km626+000 51.50 78.52 -
Với tốc độ phát triển như hiện nay, việc mở rộng kể cả chiều dài cũng như
quy mô của các công trình giao thông ngày càng gia tăng Do đó việc xây dựng
một modul quản lý đường nhằm mục đích hiện đại hóa công tác quản lý nhằm
kịp thời xác định những hư hỏng để lập kế hoạch sửa chữa, đảm bảo giao thông
được thông suốt, an toàn và đồng bộ là hết sức cần thiết
2.4 Hoàn thiện chương trình quản lý cầu đường BK-VIKA
Trên cơ sở lý thuyết đã trình bày ở trên cùng với việc đã thu thập và tập hợp
được dữ liệu của 618 cây cầu và 1.716,82 Km đường trong phạm vi quản lý của
Cục Quản lý Đường bộ III
Để hoàn thiện chương trình chúng tôi đã tiến hành cập nhật dữ liệu của 618
cây cầu vào CSDL công trình cầu
Từ những lý thuyết ở trên,tác giả sử dụng hệ quản trị CSDL SQL Server xây
dựng hệ thống bảng lưu trữ dữ liệu công trình đường gồm 8 bảng như sau: