NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI CÂY XANH VÀ KẾT CẤU HỐ TRỒNG CÂY HỢP LÝ CHO ĐÔ THỊ NHA TRANG Học viên: Nguyễn Công Luân Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông Mã số: 60.58
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN CÔNG LUÂN
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI CÂY XANH
VÀ KẾT CẤU HỐ TRỒNG CÂY HỢP LÝ CHO ĐÔ THỊ
NHA TRANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
NGUYỄN CÔNG LUÂN
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI CÂY XANH
VÀ KẾT CẤU HỐ TRỒNG CÂY HỢP LÝ CHO ĐÔ THỊ
NHA TRANG
Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông
Mã số: 85.80.205
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1 PGS.TS NGUYỄN HỒNG HẢI
2 ThS NGUYỄN BIÊN CƯƠNG
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Người cam đoan
Nguyễn Công Luân
Trang 4NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI CÂY XANH VÀ KẾT CẤU HỐ
TRỒNG CÂY HỢP LÝ CHO ĐÔ THỊ NHA TRANG
Học viên: Nguyễn Công Luân Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình giao thông
Mã số: 60.58.02.25; Khóa: K33 Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt – Việc phát triển mảng xanh đô thị mà cụ thể là cây xanh đường phố đã và đang
được rất nhiều thành phố trong và ngoài nước quan tâm, chú trọng Đô thị Nha Trang cũng là một trong những thành phố đó, đã có rất nhiều phong trào trồng cây được phát động như: Tết trồng cây, trồng cây Festival biển Tuy nhiên việc đầu tư trồng cây xanh tại đô thị Nha Trang còn mang tính nhỏ lẻ, rời rạc, không đồng bộ chủ yếu theo từng tuyến đường nâng cấp và làm mới, một số tuyến đường có rất nhiều cây tạp Ngoài ra kết cấu hố trồng cây tại đô thị Nha Trang cũng không đảm bảo chức năng của nó Luận văn
đã căn cứ vào số liệu khảo sát thực tế các tuyến đường tại đô thị Nha Trang để chỉ ra các nhược điểm còn tồn tại của cây xanh và kết cấu hố trồng cây của đô thị Nha Trang Luận văn cũng đề xuất một số chủng loại cây xanh và kết cấu hố trồng cây hợp lý cho đô thị Nha Trang Tác giả đã tóm tắt các kết quả đã đạt được và đưa ra các hướng phát triển tiếp theo
Từ khóa – cây xanh; đô thị; hố trồng cây; Nha Trang; kết cấu phần trên; kết cấu phần
much attention and attention by many domestic and foreign cities Nha Trang city is also one
of those cities, there have been many movements of planting trees launched such as: Lunar New Year planting trees, planting a Sea Festival tree…However, the investment in planting green trees in Nha Trang city is still small, fragmented, asynchronous mainly according to each upgrade and refreshing route, some roads have a lot of trash trees In addition, the structure of planting holes in Nha Trang urban area does not guarantee its function The thesis has been based on the actual survey data of roads in Nha Trang urban area to show the shortcomings of greenery and tree structure of Nha Trang urban The thesis also proposes a number of types of trees and suitable planting holes for Nha Trang city The author has summarized the results achieved and given the next development directions
Key words - green trees; urban; planting holes; Nha Trang; upper part structure;
underground part structure
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH ẢNH
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 1
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Bố cục luận văn 2
Chương1 TỔNG QUAN VỀ CÂY XANH ĐÔ THỊ, HỐ TRỒNG CÂY VÀ HIỆN TRẠNG THỰC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG 3
1.1 Cây xanh đô thị 3
1.1.1 Thiết kế cây xanh đô thị 7
1.1.2 Chăm sóc và bảo vệ cây xanh trong đô thị 10
1.1.2.1 Chăm sóc theo các chu kỳ phát triển của cây xanh đô thị 10
1.1.2.2 Chăm sóc cây xanh đô thị đẹp và khỏe mạnh 11
1.1.2.3 Bảo vệ cây xanh đô thị 11
1.2 Hố trồng cây 12
1.2.1 Chức năng của hố trồng cây 12
1.2.2 Cấu tạo của hố trồng cây 12
1.2.3 Các loại hố trồng cây 16
1.3 Hiện trạng cây xanh đô thị và hố trồng cây trên địa bàn thành phố Nha Trang 19
1.3.1 Khảo sát hiện trạng cây xanh 21
1.3.2 Khảo sát hiện trạng hố trồng cây 30
1.3.3 Phân tích các nhược điểm còn tồn tại 33
1.4 Kết luận chương 1 35
Chương 2 NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN CHỦNG LOẠI CÂY XANH CHO ĐÔ THỊ NHA TRANG 36
2.1 Tiêu chí chọn chủng loại cây xanh đô thị 36
2.2 Tiêu chuẩn chọn chủng loại cây xanh đô thị 36
2.3 Nguyên tắc chung để cải tạo cây xanh đô thị cho thành phố Nha Trang 38
2.4 Đề xuất chủng loại cây xanh đô thị cho thành phố Nha Trang 39
Trang 62.5 Các giải pháp quy hoạch, cải tạo và phát triển cây xanh đường phố cho
đô thị Nha Trang 42
2.6 Chăm sóc và bảo vệ cây xanh đô thị 43
2.6.1 Chăm sóc cây xanh đô thị 43
2.6.2 Bảo vệ cây xanh đô thị 44
2.7 Kết luận chương 2 44
Chương 3 NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT PHƯƠNG ÁN KẾT CẤU HỐ TRỒNG CÂY ÁP DỤNG CHO ĐÔ THỊ NHA TRANG 45
3.1 Nghiên cứu kết cấu phần ngầm của hố trồng cây 45
3.1.1 Yêu cầu đối với phần ngầm của hố trồng cây 45
3.1.2 Các bộ phận của phần ngầm hố trồng cây 45
3.1.3 Đề xuất kết cấu phần ngầm của hố trồng cây cho đô thị Nha Trang 46
3.2 Nghiên cứu kết cấu phần trên của hố trồng cây 49
3.2.1 Yêu cầu đối với phần trên của hố trồng cây 49
3.2.2 Các bộ phận của phần trên hố trồng cây 50
3.2.3 Các phương án kết cấu vật liệu nắp đậy hố trồng 51
3.2.4 Đề xuất kết cấu phần trên của hố trồng cây cho đô thị Nha Trang 53
3.3 Áp dụng cho các tuyến đường của đô thị Nha Trang 57
3.3.1 Nguyên tắc chung 57
3.3.2 Đề xuất kết cấu hố trồng cây theo từng tuyến đường 57
3.4 Kết luận chương 3 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
Trang 7DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Cây xanh đường phố tại thành phố Milan (Ytalia) 4
Hình 1.2 Cây xanh đường phố tại Singapore 5
Hình 1.3 Cây xanh tại phố Hoàng Diệu, thành phố Hà Nội 6
Hình 1.4 Cây xanh tại đường Kim Đồng, thành phố Vũng Tàu 6
Hình 1.5 Chức năng cây xanh đô thị 7
Hình 1.6 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có dải phân cách giữa 8
Hình 1.7 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường không có dải phân cách 8
Hình 1.8 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có 4 làn xe 8
Hình 1.9 Cấu tạo hố trồng cây tại thành phố Sydney - Úc 13
Hình 1.10 Cấu tạo hố trồng cây tại thành phố Auckland – Newzealand 14
Hình 1.11 Cấu tạo phần ngầm hố trồng cây tại một số đô thị của Việt Nam 15
Hình 1.12 Cấu tạo phần trên của hố tại đường Giảng Võ, Hà Nội 15
Hình 1.13 Cấu tạo phần trên của hố tại phố Kim Mã, Hà Nội 16
Hình 1.14 Cấu tạo phần trên của hố tại đường Láng, Hà Nội 16
Hình 1.15 Nắp đậy bằng các tấm gang, thép tại đường 17
Hình 1.16 Nắp đậy bằng các tấm bê tông có lỗ tại thủ đô Praha, Cộng hòa Séc 17
Hình 1.17 Nắp đậy bằng nhựa expoxy liên kết tại Đức 17
Hình 1.18 Nắp đậy bằng tấm thép, gang tại một số khu đô thị mới 18
Hình 1.19 Nắp đậy bằng gạch số 8 tại TP.HCM 18
Hình 1.20 Nắp đậy bằng tấm bê tông có lỗ tại đường Lê Duẩn, Đà Nẵng 18
Hình 1.21 Biểu đồ tỷ lệ thành phần các chủng loại cây chiếm ưu thế 25
Hình 1.22 Biểu đồ tỷ lệ phân loại cây của thành phố Nha Trang 28
Hình 1.23 Cây phượng 29
Hình 1.24 Cây Me 29
Hình 1.25 Cây dừa 29
Hình 1.26 Cây Sakê 29
Hình 1.27 Cây Sao đen 29
Hình 1.28 Cây Bạc đầu 29
Hình 1.29 Cây Hoa sứ 29
Hình 1.30 Cây Liễu rủ 29
Hình 1.31 Cây Bàng 29
Hình 1.32 Cây Xà cừ 29
Hình 1.33 Cây Blăng 29
Hình 1.34 Cây Lim xẹt 29
Trang 8Hình 1.35 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có dải phân cách giữa tại TP.Nha Trang (đường Trần Phú, đường 23/10, đường 2/4, đường Phạm Văn Đồng, đường Nguyễn
Tất Thành) 30
Hình 1.36 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường không có dải phân cách giữa tại TP.Nha Trang (các tuyến đường trong thành phố) 30
Hình 1.37 Cấu tạo hố trồng cây tại đô thị Nha Trang 31
Hình 1.38 Hố dạng bi tròn 31
Hình 1.39 Hố trồng cây bằng bê tông 32
Hình 1.40 Hố xây gạch 32
Hình 1.41 Biểu đồ tỷ lệ thành phần các loại hố trồng cây của TP.Nha Trang 33
Hình 1.42 Chênh lệch cao độ giữa vỉa hè và hố trồng cây ảnh hưởng đến diện tích người đi bộ, người dân hay dùng làm vị trí tập kết rác 34
Hình 1.43 Cây xanh và kết cấu hố trồng cây chưa hợp lý nên rễ cây đã phá hỏng cơ sở hạ tầng 34
Hình 1.44 Cây xanh ngã đổ do bão 12, đường Nguyễn Chánh, TP.Nha Trang 35
Hình 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc đề xuất chủng loại cây 41
Hình 2.2 Sự khác nhau giữa cây xanh tự nhiên và cây xanh trong môi trường đô thị 43 Hình 3.1 Các bộ phận phần ngầm của hố trồng cây 45
Hình 3.2 Kết cấu phần ngầm của hố trồng cây đề xuất cho TP.Nha Trang 48
Hình 3.3 Các yêu cầu đối với phần trên của hố trồng cây 49
Hình 3.4 Chi tiết kết cấu thành hố và nắp đậy hố trồng cây 50
Hình 3.5 Chi tiết cây chống 50
Hình 3.6 Hố trồng cây có nắp đậy, một số bố trí thành chỗ nghỉ chân cho khách bộ hành ở Frankfurt (Đức) 51
Hình 3.7 Hố trồng cây có nắp đậy Nắp đậy bằng gang, cao độ bằng cao độ vỉa hè để bộ hành đi lại thuận tiện (Viên - Áo) 51
Hình 3.8 Hố trồng cây có nắp đậy Nắp đậy bằng vật liệu composite được thử nghiệm ở đường Nguyễn Văn Linh, Đà Nẵng Vật liệu làm đầy chưa phù hợp nên rất mất mỹ quan sau một thời gian sử dụng 52
Hình 3.9 Hố trồng cây có nắp đậy bằng các tấm block bê tông tại Phú Yên 52
Hình 3.10 Bê tông xuyên nước Dmax 9.5 54
Hình 3.11 Bê tông xuyên nước Dmax 4.75 55
Hình 3.12 Bê tông xuyên nước Dmax 2.36 55
Hình 3.13 Kết cấu phần trên hố trồng cây đề xuất cho đô thị Nha Trang 56
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Khoảng cách tối thiểu từ dải cây xanh đến các công trình 9
Bảng 1.2 Kích thước dải cây xanh đường phố 10
Bảng 1.3 Số lượng cây xanh đường phố theo chủng loại 21
Bảng 1.4 Các chủng loại cây chiếm ưu thế 24
Bảng 1.5 Tổng hợp hiện trạng cây xanh đường phố theo chiều cao 26
Bảng 2.1 Tiêu chuẩn cây trồng đô thị theo thông tư 20 của Bộ Xây Dựng 37
Bảng 2.2 Danh mục cây xanh đề xuất trồng trên đường phố ở TP Nha Trang 39
Bảng 2.3 Tổng hợp số lượng cây trồng mới và cây tạp loại bỏ trên các tuyến đường 42 Bảng3.1.Bảng dữ liệu khí hậu TP Nha Trang (Nguồn: VietNam institute for Building Science and Technology) 46
Bảng 3.2 Kích thước hố trồng cây theo các chủng loại cây 47
Bảng 3.3 Chi phí lắp đặt các loại nắp đậy hố trồng cây phổ biến hiện nay 50
Bảng 3.4 Bảng đề xuất kích thước hố trồng cây theo từng tuyến đường 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây xanh đô thị có vai trò quan trọng đối với môi trường đô thị Ở nước ta, công tác phát triển cây xanh đô thị đã được các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm Một
số đô thị trong nước đang phấn đấu phủ xanh đô thị bằng cây xanh, thành phố Nha Trang cũng là một trong những đô thị đó
Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa Nha Trang được mệnh danh là
“hòn ngọc của biển Đông”, “Viên ngọc xanh” vì giá trị thiên nhiên, vẻ đẹp cũng như khí hậu của nó
Trong những năm gần, công tác xã hội hoá phát triển cây xanh đô thị tại thành phố Nha Trang ngày càng được đẩy mạnh, huy động hiệu quả nguồn lực của toàn xã hội trong công tác phát triển cây xanh thành phố, thông qua các phong trào Tết trồng cây, Lễ hội trồng cây Festival Biển…Tuy nhiên việc lựa chọn cây xanh để trồng hết sức tùy tiện, không đồng bộ theo từng tuyến đường, không phù hợp với đặc điểm hình thái và sinh thái của cây, làm cho thành phố mất đi vẻ mỹ quan vốn có
Mặt khác kết cấu hố trồng cây trong đô thị tại Nha Trang vẫn chưa được chú trọng đúng mức Kết cấu hố trồng cây không đồng bộ, không đảm bảo được đầy đủ các chức năng: bảo vệ gốc cây, thu được nguồn nước mưa tự nhiên, giữ được nhiều nước khi tưới cây, đảm bảo cho cây xanh sinh trưởng và phát triển tốt; tạo điều kiện để
bộ rễ của cây có thể phát triển thuận lợi nhưng không ảnh hưởng đến kết cấu vỉa hè, không làm giảm diện tích phần đường dành cho người đi bộ trên vỉa hè
Từ những thực tiễn nêu trên có thể nhận thấy việc Nghiên cứu lựa chọn chủng loại cây xanh và kết cấu hố trồng cây hợp lý cho đô thị Nha Trang là vô cùng cần thiết
2 Mục đích, mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài là nghiên cứu, đề xuất chủng loại cây xanh và kết cấu hố trồng cây hợp lý cho đô thị Nha Trang
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá tổng quát được thực trạng cây xanh và kết cấu hố trồng cây của đô thị Nha Trang để thấy được những nhược điểm còn tồn tại của cây xanh đô thị và kết cấu hố trồng cây
- Nghiên cứu lựa chọn chủng loại cây xanh cho đô thị Nha Trang
- Nghiên cứu kết cấu hố trồng cây hợp lý cho đô thị Nha Trang
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây xanh đô thị
Trang 114 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu là cây xanh và hố trồng cây trong khu vực thành phố Nha Trang
5 Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê, tổng kết kinh nghiệm
- Thực nghiệm
6 Bố cục luận văn
- Phần mở đầu
- Chương 1: Tổng quan về cây xanh đô thị và hố trồng cây
- Chương 2: Nghiên cứu lựa chọn chủng loại cây xanh cho đô thị Nha Trang
- Chương 3: Nghiên cứu kết cấu hố trồng cây hợp lý cho đô thị Nha Trang
- Kết luận và kiến nghị
- Tài liệu tham khảo
Trang 12Chương1 TỔNG QUAN VỀ CÂY XANH ĐÔ THỊ, HỐ TRỒNG CÂY VÀ HIỆN TRẠNG THỰC TẾ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ NHA TRANG
Cây xanh là các loại thực vật, do đa phần các cây đều có lá màu xanh nên người
ta quen gọi là cây xanh Sự sống trên trái đất không thể duy trì mà không có cây xanh Thuở ban đầu, cây xanh có mặt trước tạo ra môi trường sống thích hợp rồi các loài động vật, trong đó có con người mới lần lượt xuất hiện Có thể nói cây xanh chính là nguồn cội của sự sống, mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích Hiện nay trên thế giới
có hơn 3 nghìn tỷ cây xanh thuộc 350.699 loài, theo số liệu của Tổ chức Bảo tồn các Vườn thực vật quốc tế Chương này sẽ nêu tổng quan về cây xanh đô thị và hố trồng cây trên thế giới, phân tích nêu ra nhược điểm của cây xanh và kết cấu hố trồng cây tại
đô thị Nha Trang
1.1 Cây xanh đô thị
Theo Nghị định 64/2010/NĐ-CP ngày 11/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ về quản lý cây xanh đô thị thì cây xanh đô thị là cây xanh sử dụng công cộng, cây xanh
sử dụng hạn chế và cây xanh chuyên dụng trong đô thị
- Cây xanh sử dụng công cộng đô thị là các loại cây xanh được trồng trên đường phố (gồm cây bóng mát, cây trang trí, dây leo, cây mọc tự nhiên, thảm cỏ trồng trên hè phố, dải phân cách, đảo giao thông); cây xanh trong công viên, vườn hoa; cây xanh và thảm cỏ tại quảng trường và các khu vực công cộng khác trong đô thị
- Cây xanh sử dụng hạn chế trong đô thị là cây xanh được trồng trong khuôn viên các trụ sở, trường học, bệnh viện, nghĩa trang, các công trình tín ngưỡng, biệt thự, nhà
ở và các công trình công cộng khác do các tổ chức, cá nhân quản lý và sử dụng
- Cây xanh chuyên dụng trong đô thị là các loại cây trong vườn ươm hoặc phục
vụ nghiên cứu
Hiện nay, một nửa dân số thế giới hiện đang sống tại các thành thị Điều này tăng
áp lực lên không gian xanh vốn đã hạn chế của đô thị Bằng rất nhiều cách thức, từng thành phố trên thế giới đã có những sáng tạo riêng để dần may cho mình tấm áo xanh thân thiện với môi trường, duy trì nét đẹp và sự mềm mại cho đô thị
Tại Châu Âu, thành phố Milan (Italy) là một trong những đô thị phát triển nhất châu Âu Sau Cách mạng công nghiệp (đầu thế kỷ 19), xung quanh Milan có vô số khu công nghiệp và rất thiếu không gian xanh khiến chính quyền vô cùng lo ngại
Năm 1995, chính quyền thành phố Milan thông qua bản quy hoạch đô thị, trong
đó một phần quan trọng là quy hoạch hệ thống công viên cây xanh Trọng tâm là dự án phát triển 9 công viên lớn ở trung tâm thành phố, kết hợp với hệ thống các quảng trường và vườn hoa trên khắp thành phố
Trang 13Các hệ thống này được kết nối với nhau nhờ các đại lộ cây xanh Do quy hoạch hợp lý, hệ thống này khiến cho người đi lại trên các tuyến đường dành cho người đi bộ
và xe đạp luôn được đi qua những tuyến phố xanh mát bóng cây
Không chỉ có không gian xanh trong nội đô, Milan còn có vành đai xanh bao quanh, đó là hệ thống rừng kiêm công viên với diện tích lớn
Nhờ tích cực thực hiện các dự án phủ xanh thành phố, mật độ cây xanh và không gian công cộng ở Milan đảm bảo được nhu cầu của người dân cũng như giữ cho không khí thành phố trong lành
Hình 1.1 Cây xanh đường phố tại thành phố Milan (Ytalia)
Tại châu Á, Singapore là một trong những quốc gia đi đầu về thiết kế không gian xanh cho đô thị
Đảo quốc Sư tử là nơi có rất nhiều tòa nhà chọc trời, nhưng ở đây người ta không
có cảm giác ngột ngạt, bức bối như ở nhiều thành phố khác, do mật độ cây xanh rất cao đem lại sự hài hòa cho cảnh quan
Trước kia, Singapore không xanh tốt như hiện nay Thành phố thiếu nhà ở và điều kiện vệ sinh môi trường rất kém Từ thập niên 1980, cùng những thành tựu kinh
tế, chính quyền Singapore đã chú trọng phát triển thành phố xanh – sạch – đẹp Các khu đô thị chất lượng cao dần dần được hình thành
Dựa trên các nghiên cứu khoa học về điều kiện tự nhiên và quy hoạch kiến trúc của Singapore, chính phủ nước này đã xác định các loài cây quan trọng để trồng trên đường phố, đó là lim, lọng ô, muồng tím, angsana và xà cừ
Thông thường, tỉ lệ phủ xanh của các thành phố sẽ tụt giảm, tỷ lệ nghịch với đà phát triển kinh tế và dân số Tuy nhiên, ở Singapore thì hoàn toàn trái lại Từ thập niên
Trang 141990 đến nay, dù dân số và kinh tế liên tục tăng trưởng, tỉ lệ phủ xanh của Singapore cũng liên tục được nâng cao
Chính phủ Singapore đã chọn một ngày trong tuần thứ nhất của tháng 11 là Ngày Trồng cây toàn quốc Người dân Singapore coi đây là một ngày hội thật sự, với nhiều hoạt động vui chơi, ca hát… bên cạnh nhiệm vụ chính là trồng cây
Theo quy định, những công trình cỡ lớn bắt buộc phải có không gian cho cây xanh mới được cấp phép xây dựng Do vậy, các tòa nhà cao tầng đều được thiết kế để
có không gian cho cây xanh phát triển Phần mái và sảnh của nhiều tòa nhà chính là nơi trồng cây
Tất cả các khoảng trống trên đường phố Singapore đều được tận dụng để trồng cây xanh Mọi dải phân cách, đảo giao thông, các dải đất ven sông đều được trồng cây xanh một cách bài bản
Hình 1.2 Cây xanh đường phố tại Singapore
Tại Việt Nam, các phong trào trồng cây, bảo vệ rừng và bảo vệ thiên nhiên cũng rất được chú trọng Ngày 28/11/1959, hướng tới kỷ niện 30 năm ngày thành lập Đảng
và đón Tết cổ truyền của dân tộc, Bác Hồ phát động Tết trồng cây Hưởng ứng lời kêu gọi và noi theo tấm gương của Người, phong trào Tết trồng cây đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia Sau 5 năm (1960/1965), toàn miền Bắc đã trồng được hơn 375 triệu cây các loại, ngoài ra còn có hơn 200 triệu cây bảo vệ đê ở vùng biển Đã xuất hiện nhiều điển hình gương mẫu như: các hợp tác xã Lạc Trung, Ngọc Long, Vĩnh Quang ; các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Thái bình, Thanh Hoá, Nghệ An phong trào dần dần lan toả rộng khắp và mang lại nhiều ý nghĩa thiết thực cho cuộc sống của con người
Trang 15Ngày nay, lời kêu gọi của Bác cũng được hưởng ứng mạnh mẽ và phát triển rộng hơn với nhiều phong trào hơn.Trong năm 2018 thành phố Hà Nội đã hoàn thành mục tiêu trồng 1.000.000 cây xanh và đang trồng bổ sung 600.000 cây giai đoạn 2019-
2020
Hình 1.3 Cây xanh tại phố Hoàng Diệu, thành phố Hà Nội
Trong năm 2017, thành phố Vũng Tàu đã trồng mới 110.020 cây xanh tại lễ trồng cây trong khuôn khổ chương trình “Quỹ 1 triệu cây xanh dành cho Việt Nam” do Công ty Cổ phần Sữa Việt Nam (Vinamilk) cùng Tổng cục Môi trường (VEA) phát động
Hình 1.4 Cây xanh tại đường Kim Đồng, thành phố Vũng Tàu
Trang 16Từ xa xưa đến nay, cuộc sống của loài người luôn gắn bó và không thể tách rời khỏi thiên nhiên Cây xanh là một phần quan trọng của thiên nhiên, vậy nên không có
gì bất ngờ khi cây xanh có vai trò vô cùng to lớn trong cuộc sống của chúng ta
Cây xanh đô thị là khoảng xanh thực vật được thuần dưỡng, bố trí hợp lý trong không gian đô thị Nó có lịch sử và chức năng đặc biệt của nó
Hình 1.5 Chức năng cây xanh đô thị
Theo TCVN 9257-2012 về quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - tiêu chuẩn thiết kế thì cây xanh đô thị gồm có 3 loại: cây xanh công viên, cây xanh vườn hoa và cây xanh đường phố Trong luận văn này chỉ đề cập đến cây xanh đường phố
1.1.1 Thiết kế cây xanh đô thị
Dải trồng cây có thể được bố trí trên hè đường, trên dải phân cách hoặc trên dải đất dành riêng ở 2 bên đường Một số dạng mặt cắt ngang đường đô thị chủ yếu có bố trí cây xanh
Trang 17Hình 1.6 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có dải phân cách giữa
Hình 1.7 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường không có dải phân cách
Hình 1.8 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có 4 làn xe
Trang 18Việc thiết kế cây xanh sử dụng công cộng trong đô thị nói chung và cây xanh đường phố nói riêng phải phù hợp với từng loại đô thị và tổ chức không gian đô thị, góp phần cải thiện môi trường, phục vụ các hoạt động vui chơi, giải trí, văn hóa, thể thao và mỹ quan đô thị
Tổ chức hệ thống cây xanh sử dụng công cộng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường, cảnh quan thiên nhiên, điều kiện vệ sinh, bố cục không gian kiến trúc, quy mô, tính chất cũng như cơ sở kinh tế kỹ thuật, truyền thống tập quán cộng đồng của đô thị Ví dụ khi nhắc đến thành phố Hải Phòng thì ta có thể nghĩ về hoa Phượng, hay nhắc về Hà Nội lại gợi cho ta nhớ về Hoa sữa
Tổ chức không gian xanh sử dụng công cộng phải tận dụng, khai thác, lựa chọn đất đai thích hợp, phải kết hợp hài hòa với mặt nước, với môi trường xung quanh, tổ chức thành hệ thống với nhiều dạng phong phú
Cây xanh đường phố phải thiết kế hợp lý để có được tác dụng trang trí, phân cách, chống bụi, chống ồn, phối kết kiến trúc, tạo cảnh quan đường phố, cải tạo vi khí hậu, vệ sinh môi trường, chống nóng, không gây độc hại, nguy hiểm cho khách bộ hành, an toàn cho giao thông và không ảnh hưởng tới các công trình hạ tầng đô thị (đường dây, đường ống, kết cấu vỉa hè mặt đường)
Theo TCXDVN 104:2017 về đường đô thị - Yêu cầu thiết kế, khoảng cách tối thiểu từ dải cây xanh đến các công trình lân cận được tham khảo theo bảng 1 sau:
Bảng 1.1.Khoảng cách tối thiểu từ dải cây xanh đến các công trình
Từ công trình hạ tầng
Khoảng cách tối thiểu (m) tới tim gốc cây bóng
Mép ngoài tường nhà, công trình
Mép ngoài của kênh, mương, rãnh
Chân mái dốc đứng, thềm đất
Chân hoặc mép trong của tường chắn
Hàng rào cao dưới 2m
Cột điện chiếu sáng, cột điện cầu cạn
Mép ngoài hè đường, đường đi bộ
Ống cấp nước, thoát nước
Dây cáp điện lực, điện thông tin
Mép ngoài phần xe chạy, lề gia cố
2
2
1,5
1 0,5
1
1
1 0,5
- 0,5
1 Ghi chú:
Các trị số trong bảng trên được tính với cây có đường kính tán không quá 5m Các loại cây có tán rộng hơn 5m và rễ cây ăn ngang ra xa thì khoảng cách phải tăng thêm cho thích hợp
Trang 19Cây xanh ven kênh rạch, ven sông phải có tác dụng chống sạt lở, bảo vệ bờ, dòng chảy, chống lấn chiếm mặt nước
Cây xanh đường phố phải có mối liên kết để trở thành hệ thống cây xanh công cộng
Các loại cây trồng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Cây phải chịu được gió, bụi, sâu bệnh
- Cây có rễ ăn sâu, không có rễ nổi
- Không có quả gây hấp dẫn ruồi muỗi
- Cây không có gai sắc nhọn, hoa quả mùi khó chịu
- Có bố cục phù hợp với quy hoạch được duyệt
- Cây có thân thẳng, gỗ dai đề phòng bị giòn gẫy bất thường, tán lá gọn, thân cây không có gai, có độ phân cành cao
- Lá cây có bản rộng để tăng cường quá trình quang hợp, tăng hiệu quả làm sạch môi trường
- Tuổi thọ cây phải dài (50 năm trở lên), có tốc độ tăng trưởng tốt, có sức chịu đựng sự khắc nghiệt của thời tiết, ít bị sâu bệnh, mối mọt phá hoại
- Cây phải có hoa đẹp, có những biểu hiện đặc trưng cho các mùa
Theo TCVN 9257-2012 về quy hoạch cây xanh sử dụng công cộng trong các đô thị - tiêu chuẩn thiết kế thì cây xanh đô thị kích thước dải cây xanh đường phố được bố trí theo bảng sau:
Bảng 1.2 Kích thước dải cây xanh đường phố
(m)
2 Cây trồng hai hàng (dải phân cách) 5 - 6
3 Dải cây bụi và bãi cỏ (hàng rào và cây bụi) 1
4 Vườn trước nhà 1 tầng (kiểu vườn hoa) 4 + kết hợp cây bụi
5 Vườn cây trước nhà nhiều tầng (kiểu vườn
hoa)
6 + kết hợp cây bụi, mảng hoa,
mảng cỏ
1.1.2 Chăm sóc và bảo vệ cây xanh trong đô thị
Đô thị không phải là môi trường lý tưởng để cây cối phát triển tự nhiên, thậm chí
đó còn là một môi trường khắc nghiệt và đầy những hạn chế tồn tại vì vậy cây xanh đô thị không tránh khỏi sự cằn cỗi và tầm vóc của cây bé nhỏ hơn rất nhiều so với cây xanh trong môi trường tự nhiên
1.1.2.1 Chăm sóc theo các chu kỳ phát triển của cây xanh đô thị
Trang 20Trong môi trường đô thị, các chu kỳ phát triển của cây vẫn còn tương tự như trong môi trường tự nhiên Vì vậy, sự chăm sóc và những tác dộng của con người vẫn duy trì tuân thủ với các chức năng sinh học và đáp ứng cho mỗi giai đoạn phát triển của cây
Hầu hết cây xanh trong thành phố được sinh ra từ các vườn ươm, cây thường lưu lại vườn ươm khoảng từ 5 đến 20 năm và trong quãng thời gian đó, rễ và hình dáng cây được từng bước hình thành
Những cây trồng trong đô thị hầu hết là cây chưa trưởng thành, đó là lý do nó được chăm sóc đảm bảo phục hồi tốt để phát triển hài hòa: Nó được tưới nước thường xuyên, có cọc đỡ giữ cho cây luôn thẳng không bị nghiêng, đổ đảm bảo vóc dáng đường nét yêu cầu đến khi cây trưởng thành Trung bình mỗi năm, cây cao thêm 50cm,
và đến khi trưởng thành cây có số tuổi khoảng 30 – 40 năm (tùy vào loại cây)
Một vài năm sau đó, cây trưởng thành và không đòi hỏi bất kỳ chăm sóc đặc biệt nào
Ở cuối chu kỳ, chất lượng gỗ suy giảm, và có rất nhiều thành phần gỗ chết, cây bắt đầu thu hút rầy nâu và trở lên nguy hiểm đối với cư dân đô thị Lúc này cây đòi hỏi phải được chăm sóc đặc biệt với kinh phí lớn để gọt bỏ phần gỗ chết, cắt bớt cành lá quá già, và trang bị hệ thống dây bảo vệ đề phòng trường hợp gẫy cành khi mưa gió tránh gây nguy hiểm cho cư dân đô thị
1.1.2.2 Chăm sóc cây xanh đô thị đẹp và khỏe mạnh
Giữ ẩm cho đất, bằng cách tận dụng nước mưa, nước thải sinh hoạt đã qua xử lý tưới cho cây xanh theo định kỳ hoặc hàng ngày nhờ vào hệ thống tưới cây tự động hoặc các vòi phun của các xe bồn chuyên ngành
Phun thuốc trừ sâu bênh định kỳ, nhưng phải đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe người dân
Cắt tỉa những cành lá ở độ cao dưới 7m; những cành có ảnh hưởng đến các công trình xây dựng, đến hệ thống đường dây điện và cắt bỏ những cành có khả năng bị gẫy (mục, mọt, sắp gẫy)
Thay cây mới có kích cỡ tương ứng với cây bị chết hoặc mất
Duy trì và phát triển những cây di sản
Cây luôn phải đối phó với hệ thống đường ống hạ tầng kỹ thuật đô thị như: cáp điện thoại, đường ống cấp, thoát nước và rất nhiều những yếu tố khác, vì vậy trước khi trồng cần phải tính toán dự trù cho cây trồng ở đúng nơi và có tính toán đếnkhả năng phát triển và chiếm hữu không gian trong tương lai nhờ nghiên cứu tuổi thọ, tuổi ngưng phát triển và hình dáng của các loại cây
1.1.2.3 Bảo vệ cây xanh đô thị
Trang 21Tổ chức tuyên truyền về vai trò, tác dụng của cây xanh đô thị đối với đời sống, văn hóa của dân cư đô thị
Thiết lập các nhóm công tác bảo quản và gìn giữ cây xanh đô thị, thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe cây xanh
Mọi người đều có trách nhiệm giữ gìn và bảo quản cây xanh đô thị Từ cây mới trồng đến cây trưởng thành và các cây đại thụ, khi một cây công cộng gặp vấn đề, bạn cần thông tin kịp thời giúp các nhà chức trách, chuyên môn có khả năng thường xuyên theo dõi tình trạng sức khỏe cây xanh
Trang bị những công cụ để bảo vệ sự tấn công của con người, phương tiện giao thông và động vật đến cây
1.2 Hố trồng cây
Hố trồng cây là một bộ phận không thể thiếu khi trồng cây xanh đường phố Hố trồng cây là nơi cung cấp nguồn dinh dưỡng cần thiết để cây xanh có thể sinh trưởng
và phát triển tốt
1.2.1 Chức năng của hố trồng cây
Hố trồng cây có chức năng bảo vệ gốc cây, giữ được nước khi tưới cây, tạo điều kiện để bộ rễ của cây phát triển thuận lợi để từ đó cây có thể sinh trưởng và phát triển tốt Ngoài ra, hố trồng cây còn góp phần tạo cảnh quan cho đô thị và tương tác với người đi bộ
1.2.2 Cấu tạo của hố trồng cây
Cấu tạo chính của hố trồng cây gồm kết cấu phần trên và kết cấu phần ngầm
- Phần ngầm đảm bảo về mặt không gian đủ rộng để giữ nước và chất hữu cơ cần thiết nhằm giúp rễ cây phát triển
- Phần trên giúp bảo vệ gốc cây và rễ cây, đảm bảo rễ cây có thể tiếp xúc với nước và không khí, tạo cảnh quan cho đô thị và tương tác với người đi bộ
Cấu tạo các hố trồng cây tại một số nước trên thế giới ngoài khả năng tạo điều kiện cho cây xanh có thể sinh trưởng và phát triển tốt còn thu nước mưa mặt đường để giữ ẩm cho cây Điều này vừa làm giảm được chi phí chăm sóc cây vừa giảm tải cho
hệ thống thóát nước cho thành phố Đồng thời phần trên của hố trồng cây cũng không làm ảnh hưởng đến việc đi lại của người dân, đảm bảo được chức năng phần trên của nó
Trang 22Hình 1.9 Cấu tạo hố trồng cây tại thành phố Sydney - Úc
Trang 23Hình 1.10 Cấu tạo hố trồng cây tại thành phố Auckland – Newzealand
Tại Việt Nam cấu tạo của hố trồng cây chưa phát huy hết chức năng, phần ngầm của hố thường không cung cấp đủ nước cho bộ rễ do lượng nước tưới chỉ thấm trên mặt đồng thời nhiệt độ trong đô thị rất cao khiến việc bốc hơi của nước diễn ra nhanh hơn nên lượng nước tưới không thấm sâu xuống được Phần trên của hố chưa được quan tâm nhiều dẫn đến tình trạng mất mỹ quan, không đồng bộ và không đảm bảo được chức năng phần trên của hố trồng cây
Trang 24Hình 1.11 Cấu tạo phần ngầm hố trồng cây tại một số đô thị của Việt Nam
Hình 1.12 Cấu tạo phần trên của hố tại đường Giảng Võ, Hà Nội
Trang 25bố trí thêm hệ thống thu nước từ bó vỉa để cung cấp cho cây xanh
Phần trên của hố trồng cây trong các đô thị gồm thành hố, nắp đậy hố và cây chống Thành hố thường được xây bằng gạch thẻ, hoặc bê tông xi măng Hình dạng của hố thường là hình vuông hoặc tròn Nắp đậy hố thường được làm bằng các tấm thép, tấm gang, gạch lỗ, bê tông có lỗ, bê tông xốp, tấm composite, nhựa expoxy liên kết
Trang 26
Hình 1.15 Nắp đậy bằng các tấm gang, thép tại đường
West Chester, Long Beach, Newyork
Trang 27Các dạng nắp đậy hố trồng cây tại Việt Nam chúng ta cũng rất phong phú và đa dạng được làm bằng các tấm thép, tấm gang, gạch lỗ, bê tông có lỗ, bê tông xốp, tấm composite
Trang 281.3 Hiện trạng cây xanh đô thị và hố trồng cây trên địa bàn thành phố Nha Trang
Thành phố Nha Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm sát bờ biển Đông, nơi cửa sông cái đổ ra vịnh Nha trang, về phía bắc cách hà Nội 1.350 km, phía Tây cách Đà Lạt 200km và phía Nam cách thành phố Hồ Chí Minh 450km, có tọa độ địa lý: từ 12015’vĩ độ bắc, 107050’30’’đến 109012’ kinh độ đông, là thành phố nằm ở cực Đông của đất nước, gần hải phận quốc tế nhất, có mối liên hệ giao thông thuận lợi đối với cả nước bằng đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không, có cảng biển thuận lợi với quốc tế Nha Trang còn có cả ý nghĩa vị trí về an ninh quốc phòng không chỉ với Tỉnh mà cả miền Trung
Địa hình thành phố Nha Trang có dạng đồng bằng xen lẩn trung du và núi Hướng dốc chính là về phía biển, hướng dốc cục bộ về phía sông Bờ biển Nha Trang thuộc kiểu địa hình bờ biển mài mòn, là dạng bờ biển khúc khuỷu với các mủi đá, bán đảo, vũng, vịnh sâu và các đảo sát bờ Thành phố Nha Trang có 2 dạng địa hình chính:
- Vùng núi; bao bọc ở 3 phía (Bắc, Tây, Nam) với độ cao trung bình 500m độ cao tuyện đối 972 m, phía Đông ở ngoài biển có 19 đảo lớn nhỏ, cách bờ từ 1 đến 10km, có độ cao trung bình 400m Diện tích vùng núi chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên của thành phố
- Vùng đồng bằng: chiếm diện tích khoảng 30%, tập trung chủ yếu ở phía Bắc và Nam sông Cái Nha Trang
Thành phố Nha Trang nằm trong vùng có cấu tạo địa chất hệ đệ tứ, gồm; bồi tích sỏi, cát, sét, đứt gãy ở phía Tây, phía bắc và đứt gãy giả định ven biển Đất có khả năng chịu lực tốt Vùng ven biển đại bộ phận mặt phủ là cát biển (có nơi dày tới 3m),
ở sâu là sét.Các đồi núi chủ yếu là granít, rionít và Mac ma, lớp phủ là đất thịt pha sạn sỏi (dăm sạn tới 50-60%), chân đồi là đá dăm, đá tảng 3-50cm, sâu 4m là lớp phong hóa tàn tích dày 2-3m đến 5-7m mức độ cát chảy ít Lớp đất thịt phủ trên là đất xám feralit trên Mac ma axit, đá phiến sét, granít và đá mẹ khác Đất xám feralit có đặc điểm chung là chua, tầng đất mặt bị xói mòn, rửa trôi nên nghèo hàm lượng các hạt sét
và hình thành tầng B feralit, độ no bazơ thường < 50%
Theo kết quả điều tra bổ sung bản đồ đất tỉnh Khánh Hòa của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp thực hiện năm 2005, thành phố Nha Trang có những nhóm đất chính sau:
Trang 29Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa hơn thường có hai mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô Mùa mưa ngắn, từ khoảng giữa tháng 8 đến giữa tháng 12 dương lịch, tập trung vào 2 tháng 10 và tháng 11, lượng mưa thường chiếm trên 50% lượng mưa trong năm, những tháng còn lại là mùa khô Tổng lượng mưa bình quân năm: 1.252mm Tổng lượng mưa năm cao nhất là 2.552mm (1981), tổng lượng mưa thấp nhất là 641mm (1957)
Số giờ nắng trung bình hàng năm là 2.482 giờ Số giờ nắng trung bình ngày là
6-7 giờ Vào mùa mưa, xen kẻ giữa những đợt mưa là những ngày nắng ấm thuận tiện cho việc tổ chức du lịch, nghỉ dưỡng quanh năm
Nhiệt độ trung bình hàng năm của Nha Trang cao khoảng 26,5°C , nhiệt độ cao tuyệt đối là 39,50C, thấp tuyệt đối là 14,60C Tổng nhiệt trong năm là 9.8200C Riêng trên đỉnh núi Hòn bà (cách Nha Trang 30 km đường chim bay) có khí hậu như Đà Lạt và Sapa Độ ẩm tương đối khoảng 80,5%
Độ ẩm tương đối trung bình năm: 80%, tháng có độ ẩm cao nhất là 9,10,11 Độ
ẩm thấp nhất ở Nha trang là 37%
Từ những đặc điểm trên cho thấy rằng Nha Trang có chế độ khí hậu nội chí tuyến nhiệt đới gió mùa có ảnh hưởng khí hậu đại dương So với các tỉnh phía bắc thì mùa đông ở Nha Trang ít lạnh hơn, còn mùa nóng kéo dài hơn So với các tỉnh phía nam thì Nha Trang có mùa mưa lệch về mùa đông và xuất hiện những đợt mưa ngắn trong mùa này
Vịnh Nha Trang có chế độ thủy triều hỗn hợp, thiên về nhật triều HT.TR = 2,4m Mức nước biển trung bình +1,28m Độ mặn của nước biển 30-35% Sông ngòi có 2 lưu vực:
- Sông Cái Nha Trang dài 60km chảy qua Diên Khánh và Nha Trang thượng nguồn có nhiều chi lưu (sông Khế, sông Giang, sông Cầu, sông Chò) và nhiều thác (thác Ngựa, thác Trâu,…) lưu lượng nước 40m3/s (mùa kiệt 11-14m3/s)
- Sông cửa Bé: là một nhánh phân lưu của sông Cái Nha trang, về mùa khô không có nước, về mùa mưa do nước sông Cái tràn qua và nước của đồng ruộng vùng Diên Khánh tập trung lại chảy qua Phú Vinh rồi ra cửa Bé
Trang 30Tài nguyên khoáng sản không có gì đáng kể, ngoài Mô lip đen ở Hòn Sạn, Nha Trang chỉ có một số đất đá dung làm vật liệu xây dựng như sét làm gạch ngói
Tài nguyên thực vật rất phong phú và đa dạng do đặc điểm đa dạng về địa hình,
độ cao, khí hậu, đất đai và các nhân tố hình thành rừng khác, hội tụ các luồng thực vật như sau:
- Khu hệ thực vật Malaisia - Indonesia: Đại diện cho luồng di cư này là các loài cây họ Dầu với những loài Dầu rái, Sao đen, Chò chai, Chò chỉ, Cẩm lai… bao gồm
cả những loài cây thường xanh và một số loài cây rụng lá thích nghi với những vùng khô hạn, hình thành rừng thưa cây họ Dầu, điển hình là kiểu rừng khô hạn
- Khu hệ thực vật Vân Nam - Quý Châu và vùng đai ôn đới thuộc dãy Hymalaya: bao gồm các loài cây lá kim thuộc ngành phụ hạt trần (Gymnospermae) như Fokienia hodginsii, Libocedrus macrolepis, Tsuga yunnanensis, Abies pindrow, Cryptomeria japonica vv… Ngoài ra còn có các loài cây lá rộng, rụng lá trong mùa đông thuộc họ
Dẻ (Fagaceae), họ Cáng lò (Beltulaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Lài (Oleaceae), họ
Re (Lauraceae), họ Đỗ quyên(Ericaceae)… Các loài cây thuộc khu hệ thực vật này thường phân bố ở vùng núi cao và núi vừa
- Khu hệ thực vật Ấn Độ - Myanma: Đại diện cho luồng di cư này có họ Bàng (Combretaceae) trong đó phần lớn các chi Terminalia, Anogeissus, Finetia, Combretum có đặc điểm rụng lá trong mùa khô Ngoài ra còn có những loài cây rụng
lá như Lõi thọ (Gmelina arborea) trong họ Verbenaceae, Tung (Tetrameles nudiflora ) trong họ Datiscaceae, Săng lẻ hay Bằng lăng (Largerstromia sp) trong họ Lythraceae, Gạo (Cossampinus malabaricus) trong họ Bombacaceae
1.3.1 Khảo sát hiện trạng cây xanh
Việc khảo sát hiện trạng cây xanh được thực hiện theo các tiếu chí sau:
- Điều tra thu thập các thông tin về vị trí cây, thông tin về đặc trưng hình thái và chủng loại, thông tin về tình trạng sinh học và vật lý
- Xử lý và tổng hợp số liệu về số lượng, chủng loại, phân loại cây đường phố
- Đánh giá hiện trạng cây xanh đô thị trong thành phố
- Số liệu khảo sát cây xanh hiện trạng được thể hiện từ Bảng 1.3 đến Bảng 1.5
Bảng 1.3 Số lượng cây xanh đường phố theo chủng loại
Trang 31Stt Tên loài cây Tên khoa học Họ Số lượng
11 Anh đào giả Gliricidia sepium Fabaceae (họĐậu) 8
15 Hoàng nam Polyalthia longifolia Annonaceae
Trang 32Stt Tên loài cây Tên khoa học Họ Số lượng
46 Các loại cây ăn
Trang 33Stt Tên loài cây Tên khoa học Họ Số lượng
Trong tổng số 169/239 tuyến đường được điều tra trên địa bàn Thành phố Nha Trang gồm 100 chủng loại cây (xem phụ lục 1)
Bảng 1.4 Các chủng loại cây chiếm ưu thế
Chiếm đa số là các loài:
- Sao đen 1995 cây, chiếm tỷ lệ 19,79%
- Hoa sữa: 1.152 cây, chiếm tỷ lệ 11,43%
- Bàng: 693 cây chiếm tỷ lệ 6,87%
- Lim xẹt: 613 cây chiếm tỷ lệ 6,08%
- Phượng vỹ: 556 cây chiếm tỷ lệ 5,51%
- Viết : 435 cây chiếm tỷ lệ 4,31%
- Dầu rái: 366 cây chiếm tỷ lệ 3,63%
- Cây ăn quả : 326 cây chiếm tỷ lệ 3,23%
- Các loài Da : 320 cây chiếm tỷ lệ 3,17%
- Bằng lăng : 302 cây chiếm tỷ lệ 3,00%
- Me chua: 301 cây chiếm tỷ lệ 2,99%
Trang 34
Kết quả ở bảng 1.4 cho thấy:
- Các loài cây chiếm số lượng nhiều như Bàng, các loại Da là những loài cây không nên trồng trên đường phố do cành nhánh đâm ngang cản trở giao thông, dễ bị sâu hại, hoặc có rễ phụ có thể làm hư hại các công trình, quả dạng sung dễ phát tán và gây ô nhiễm môi trường
- Các loài như Hoa sữa, cây ăn quả, Bạch đàn, Dừa, Keo các loại, trôm hôi là những loài cây hạn chế trồng trên đường phố vì có mùi khó chịu, dễ gây nguy hiểm cho trẻ em, nhánh dòn dễ gãy hoặc gây ô nhiễm môi trường Trong tổng số 1.152 cây Hoa sữa điều tra được có 779 cây loại 2 và 192 cây loại 3, chứng tỏ loài đã được trồng
từ lâu với số lượng nhiều, tuy nhiên đây là loài cần hạn chế trồng nhiều trên đường phố chỉ thích hợp cho cây công viên vì có mùi dễ gây ra dị ứng cho người dân
- Các loài cau, dừa, cọ dầu thuộc họ Arecaceae (Họ Cau), phất dụ (họ Agavaceae) là những cây trang trí, không phải là loài cho bóng mát
- Một số loài du nhập như: Phượng vỹ (Hồng bàng, Hùng Vương, Phạm văn Đồng, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Phước Long, Pasteur,… ), Sọ khỉ ( Ngô Gia Tự, Phước Long, Thống Nhất, Phùng Hưng), Me chua (Trần Đường, Lý nam Đế, Phước Long, Thái Nguyên, Tháp bà), Sò đo cam (Trần Hưng Đạo, Kè sông cái, Phạm Văn Đồng, Âu Cơ,…), Phi lao (Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Hồng Thái, Trần Phú), Me Tây (Trịnh Phong) được trồng tại TP Nha Trang từ lâu nhưng sinh trưởng phát triển tốt, thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên của khu vực, tuy hiện nay chủ yếu là cây có đường kính trên dưới 30 cm, nhưng trong tương lai các cây này sẽ phát huy tác dụng che bóng và tạo ra những nét đặc trưng riêng của một số tuyến đường trong khu vực
- Trong tổng số 435 cây Viết đã điều tra, có 119 cây có biểu hiện sâu bệnh, chiếm tỷ lệ 27,4 % Các tuyến đường có tỷ lệ cây Viết bị sâu bệnh nhiều nhất là tuyến
Hình 1.21 Biểu đồ tỷ lệ thành phần các chủng loại cây chiếm ưu thế
Trang 35đường Đống Đa, Hùng Vương, Lạc Long Quân, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ, Lê Hồng Phong… Viết tại các tuyến đường trên có đường kính từ 15 - 25 cm, đối với loài Viết do đặc điểm sinh thái của loài, khả năng chống chịu với sâu bệnh kém nên cỡ đường kính này đa số các cây đều bị sâu đục thân Do đó trong công tác chăm sóc, ngoài biện pháp mé nhánh tạo tán cây cần phun thuốc phòng trừ sâu bệnh, để có thể vừa đảm bảo được mỹ quan vừa tạo được tầng tán thông thoáng hạn chế sự phát triển của sâu bệnh Đây là loài cây không nên phát triển trong tương lai.
- Ngoài ra, một số chủng loại do dân trồng tự phát như : Sứ đại, Chùm ngây, Mai vàng, Ngủ trảo, Nhàu, Trứng cá, Đào tiên, Hồng mai, Sạ đen, Dâu da xoan, Cau dừa, Da các loại và cây ăn quả hiện đang phát huy tác dụng che bóng, bảo vệ môi trường, nhưng đo đặc điểm sinh thái của những loài cây không phù hợp trồng trên đường phố Do đó trong quá trình chỉnh trang cây xanh, nâng cấp đường , phát triển giao thông cần đốn bỏ những cây trên và trồng lại các chủng loại cây trồng phù hợp trên toàn tuyến Các loài như Lộc vừng, Đầu lân chỉ thích hợp cho việc trồng trong các công viên do giá thành trồng cây cao nên khó có thể đầu tư trồng trên đường phố
Bảng 1.5 Tổng hợp hiện trạng cây xanh đường phố theo chiều cao
Stt Tên loài cây Tổng
cộng
Cấp chiều cao Hvn (m)
< 6 (L1) 6 ≤ h ≤ 12 (L2) > 12 (L3)
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ
%
Số lượng
Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Trang 36Số lượng Tỷ lệ %
Số lượng Tỷ lệ %
Ghi chú:
Loại 1: Hvn < 6 m Loại 2: 6m < Hvn <12m Loại 3: Hvn > 12m
Trong đó:
Loại 1: 5.127 cây tỷ lệ: 50,85%
Loại 2: 4.113 cây tỷ lệ: 40,80%
Trang 37Loại 3: 842 cây tỷ lệ: 8,35%
Cây xanh trong khu vực chủ yếu được trồng theo các dự án mở rộng đường, nâng cấp vỉa hè trong những năm gần đây Cây loại 1 chiếm nhiều nhất, điều này cho thấy cây xanh ở Thành phố Nha Trang hiện đang sinh trưởng và phát triển thành cây trưởng thành trong thời gian sắp tới, bước đầu tạo được bóng mát và góp phần tạo cảnh quan cho một số tuyến đường trong Thành phố Cây loại 2,3 chủ yếu thuộc các loài Sao đen, Phượng vỹ, Dầu rái, Me chua, Lim xẹt, Sọ khỉ… tập trung các tuyến đường: 23/10, Nguyễn Khanh, Nguyễn Thị Minh Khai, 2/4, Nguyễn Đức Cảnh, Hát Giang, Nguyễn Chánh, Quang Trung, Phan Chu Trinh, Dã Tượng, Ngô Gia Tự, Nguyễn Khanh, Nguyễn Thị Định, Bữu Đóa, Lê Hồng Phong, Hùng Vương, Đống Đa, Ngô Quyền, Phạm Ngũ Lão, Cao Thắng, Lý Nam Đế, Tô Hiệu Một số cây Phượng vỹ (Mai Xuân Thưởng), Sọ khỉ (Trần Hưng Đạo, Thống Nhất, Yersin) và Sao đen (đường 23/10) có đường kính thân cây trên 100cm, đây là những loài cây cổ thụ được trồng từ rất lâu
Bảng thống kê số lượng cây theo từng tuyến đường (xem phụ lục 2)
Hình ảnh một số loại cây hiện trạng:
Hình 1.22 Biểu đồ tỷ lệ phân loại cây của thành phố Nha Trang
Trang 38Hình 1.23 Cây phượng Hình 1.27 Cây Sao đen Hình 1.31 Cây Bàng
Hình 1.24 Cây Me Hình 1.28 Cây Bạc đầu Hình 1.32 Cây Xà cừ
Hình 1.25 Cây dừa Hình 1.29 Cây Hoa sứ Hình1.33 Cây Bằng lăng
Hình 1.26 Cây Sakê Hình 1.30 Cây Liễu rủ Hình 1.34 Cây Lim xẹt
Trang 391.3.2 Khảo sát hiện trạng hố trồng cây
Tại thành phố Nha Trang, vị trí các hố trồng cây thường được bố trí trên vỉa hè của đường đô thị, một số tuyến đường có dải phân cách giữa thì chỉ trồng cây hoa màu
do dải phân cách quá nhỏ Đường đô thị của thành phố Nha Trang gồm 02 dạng chính sau:
Hình 1.35 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường có dải phân cách giữa tại TP.Nha Trang (đường Trần Phú, đường 23/10, đường 2/4, đường Phạm Văn Đồng, đường Nguyễn
Tất Thành)
Hình 1.36 Mặt cắt ngang điển hỉnh đường không có dải phân cách giữa tại TP.Nha
Trang (các tuyến đường trong thành phố)
Tương tự như các đô thị khác, hố trồng cây của thành phố Nha Trang bao gồm kết cấu phần ngầm và kết cấu phần trên của hố
Trang 40Kết cấu phần ngầm của các hố trồng cây tại thành phố Nha Trang đa phần đều giống nhau Tùy vào kết cấu hạ tầng ngầm của từng tuyến đường mà hố trồng cây có thể bố trí trên vỉa hè hoặc sát mép bó vỉa để tránh ảnh hưởng tới các công trình hạ tầng
đô thị (đường dây, đường ống, kết cấu vỉa hè mặt đường)
Hình 1.37 Cấu tạo hố trồng cây tại đô thị Nha Trang
Kết cấu phần trên các hố trồng cây của thành phố Nha Trang đa phần đều là các
hố dạng bê tông xi măng với kích thước hố là 1,2m x1,2m, thành hố đổ bê tông dày 10cm sâu từ 0,5m đến 1m Một số tuyến đường chưa được nâng cấp cải tạo lại thì vẫn còn kết cấu hố dạng bi tròn với đường kính 0,8m sâu 1m và các hố xây gạch với kích thước 1m x 1m có gờ hố cao hơn nền vỉa hè khoảng 0,1m
Hình 1.38 Hố dạng bi tròn