Lưu vực sông Trà Câu và vùng phụ cận Đặc điểm dòng chảy lũ của sông Trà Câu có biên độ thay đổi nhiều, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn, nguyên nhân là do
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HUỲNH QUANG TÀO
ĐÁNH GIÁ NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG TRÀ CÂU CÓ XÉT ĐẾN BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
HUỲNH QUANG TÀO
ĐÁNH GIÁ NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG TRÀ CÂU CÓ XÉT ĐẾN BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU
Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng Công trình thủy
Mã số: 60.58.02.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS ĐOÀN THỤY KIM PHƯƠNG
2 GS.TS NGUYỄN THẾ HÙNG
Đà Nẵng - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi
Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và kết quả tính toán trong luận văn này chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
HUỲNH QUANG TÀO
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 3
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
6 Bố cục của luận văn 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG TRÀ CÂU 5
1.1 Tổng quan về ngập lụt ở Việt Nam 5
1.1.1 Nhận định chung về lũ lụt ở Việt Nam 5
1.1.2 Các đặc trưng và phân loại lũ lụt ở Việt Nam 6
1.1.3 Các đặc trưng và phân loại lũ lụt ở khu vực nghiên cứu 9
1.2 Các nghiên cứu về ngập lụt lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam 10
1.2.1 Các nghiên cứu ở các sông miền Trung 10
1.2.2 Trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi 11
1.2.3 Ngoài ra còn có các Đề tài khác 12
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 14
2.1 Vị trí địa lý 14
2.2 Đặc điểm địa hình 14
2.2.1 Vùng núi cao và trung bình 14
2.2.2 Vùng đồng bằng 14
2.2.3 Vùng cát ven biển 14
2.3 Đặc điểm lưu vực sông Trà Câu 15
2.4 Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng, thủy văn 15
2.4.1 Trạm khí tượng và đo mưa 15
2.4.2 Trạm thuỷ văn 16
2.4.3 Tình hình quan trắc, chất lượng và phương pháp xử lý tài liệu 17
2.5 Đặc điểm khí hậu 18
2.5.1 Nhiệt độ 18
2.5.2 Số giờ nắng 19
Trang 52.5.3 Chế độ ẩm 19
2.5.4 Gió 19
2.5.5 Bốc hơi 20
2.6 Dòng chảy năm 20
2.6.1 Quan hệ mưa – dòng chảy 20
2.6.2 Dòng chảy năm 21
2.7 Dòng chảy lũ 24
2.7.1 Nguyên nhân hình thành dòng chảy lũ 24
2.7.2 Đặc điểm dòng chảy lũ 30
2.8 Xu hướng biến đổi khí hậu 31
2.8.1 Biến đổi về mưa 31
2.8.2 Biến đổi về nhiệt độ 33
2.8.3 Biến đổi về độ ẩm 35
2.9 Thủy triều 35
2.9.1 Chế độ triều, mực nước triều 35
2.9.2 Diễn biến thủy triều mùa kiệt mùa lũ 37
2.10 Điều kiện kinh tế xã hội 39
2.10.1 Nền kinh tế nói chung 39
2.10.2 Thiệt hại do lũ gây ra một số năm gần đây 41
2.10.3 Nhận xét về hiện trạng phát triển kinh tế xã hội 41
CHƯƠNG 3: THIẾT LẬP MÔ HÌNH MÔ PHỎNG LŨ LỤT CHO LƯU VỰC 42
SÔNG TRÀ CÂU 42
3.1 Lựa chọn mô hình 42
3.1.1 Mô hình thủy lực 1 chiều Mike 11 HD 42
3.1.2 Mô hình thủy lực 2 chiều Mike 21 HD 43
3.1.3 Mô hình mô phỏng lũ Mike Flood 45
3.2 Các nội dung cần thiết để xây dựng mô hình mô phỏng các trận lũ 46
3.2.1 Xác định phạm vi nghiên cứu của mô hình thủy lực 46
3.2.2 Các bước xây dựng mô hình thủy lực vùng nghiên cứu 46
3.2.3 Tài liệu cơ bản dùng trong tính toán 46
3.3 Thiết lập mô hình 53
3.3.1 Thiết lập sơ đồ thuỷ lực 1 chiều Mike 11 53
3.3.2 Xây dựng mô hình thủy lực 2 chiều Mike 21FM 56
3.3.3 Xây dựng mô hình thủy lực 2 chiều MIKE FLOOD 57
3.3.4 Kết quả hiệu chỉnh mô hình 58
3.3.5 Kiểm định mô hình 59
CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ NGẬP LỤT THEO CÁC KỊCH BẢN VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÁC ĐỘNG 64
4.1 Diễn toán mức độ ngập lụt ứng với lũ thiết kế 64
Trang 64.1.1 Các phương án tính toán thủy lực lũ 64
4.1.2 Tính toán các biên tần suất lưu lượng: 65
4.2 Kết quả tính toán thủy lực lũ 68
4.2.1 Kết quả tính toán các phương án với lũ tần suất 20% - Dạng lũ 11/2013 68
4.2.2 Kết quả tính toán các phương án với lũ tần suất 10% - Dạng lũ 11/2013 71
4.2.3 Kết quả tính toán các phương án với lũ tần suất 5% - Dạng lũ 11/2013 74
4.2.4 Kết quả tính toán các phương án với lũ tần suất 2% - Dạng lũ 11/2013 77
4.3 Đánh giá kết quả các phương án 80
4.4 Giải pháp phòng chống lũ lưu vực sông Trà Câu 80
4.4.1 Giải pháp phi công trình 80
4.4.1.1 Bố trí lịch thời vụ và giống cây trồng phù hợp 80
4.4.1.2 Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo 81
4.4.1.3 Bố trí điểm tránh lũ tạm thời 81
4.4.1.4 Rà soát, điều chỉnh bổ sung và lập quy hoạch 82
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
Kết luận 84
Kiến nghị 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7TÓM TẮT LUẬN VĂN
ĐÁNH GIÁ NGẬP LỤT HẠ LƯU SÔNG TRÀ CÂU CÓ XÉT ĐẾN BIẾN ĐỔI KHÍ
HẬU
Học viên: Huỳnh Quang Tào Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thuỷ
Mã số: 60.58.02.02 - Khoá: K35.QNg - Trường Đại học Bách khoa - ĐHĐN
Tóm tắt: Việc nghiên cứu lũ và ngập lụt do mưa lũ gây ra trên sông Trà Câu,
đoạn từ hạ lưu cầu Đường sắt đến cửa Mỹ Á là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu là mô
hình mô phỏng thuỷ lực sông Trà Câu, đoạn từ hạ lưu cầu Đường sắt đến cửa Mỹ Á
Mô hình được sử dụng để đánh giá ngập lụt trên đoạn sông này ứng với lũ điển hình và
các tần suất lũ thiết kế 20%, 10%, 5%, 2% Kết quả nghiên cứu đã thể hiện được diện
tích ngập và mức độ ngập ứng với các tần suất thiết kế trên tại khu vực nghiên cứu
Trên cơ sở này đề xuất các giải pháp hạn chế tác động tiêu cực của lũ lụt đến an sinh
xã hội và kinh tế của khu vực nghiên cứu Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để tính toán
xây dựng kế hoạch hàng năm và 5 năm về việc xây dựng các công trình phòng chống
và thoát lũ, chỉnh trị; nhằm duy trì sự phát triển bền vững các ngành kinh tế, cảnh
quan, môi trường sinh thái và cuộc sống của cộng đồng Tác giả đã tóm tắt các kết quả
đạt được và đưa ra các hướng phát triển tiếp theo
Từ Khoá: Ngập lụt; sông Trà Câu; lũ điển hình; Mike-Flood
CHANGE
Abstract: The study of floods and flooding caused by floods on the Tra Cau
River from rail bridge to My A is very necessary The research results are model of
Tra Cau hydropower model from rail bridge to My A section Model used to assess
flood in this river section for typical floods and design flood frequencies of 20%, 10%,
5%, 2% The results show the flooded area and the flooding frequency corresponding
to the design frequencies in the study area On this basis, propose measures to limit the
negative impact of floods on the social and economic security of the study area The
results of this study are the basis for calculating the annual and five-year plans for the
construction of flood control and flood control and control works; To maintain the
sustainable development of economic sectors, landscapes, ecological environment and
the life of the community The author has summarized the results obtained and set out
the direction for further development
Key words: Flooding; Tra Cau river; Typical flood; Mike-Flood
Trang 92.8 Bốc hơi piche bình quân tháng trung bình nhiều năm 20
2.11 Biến động dòng chảy năm trong vùng và phụ cận 21 2.12 Biến động dòng chảy tháng, năm tại các trạm đo 22 2.13 Hệ số phân phối dòng chảy năm với tần suất thiết kế 23
2.15 Tổng hợp đặc trưng lũ ngày 25 - 26/XI/2011 26 2.16 Các trận mưa lớn xuất hiện trong vùng nghiên cứu 28 2.17 Đỉnh lũ trên một số sông do bão số 15 năm 2013 gây ra và các
2.18 Kết quả tính toán tần suất mực nước max tại các trạm (theo cao
2.21 Biến đổi lượng mưa 1 ngày max do tác động của biến đổi khí
2.22 Tần suất triều thiên văn mực nước lớn nhất năm 36 2.23 Tần suất triều thiên văn mực nước thấp nhất năm 36 2.24 Tổng sản phẩm trên địa bàn theo giá thực tế 40 3.1 Thống kê các trạm đo khí tượng, mưa trong vùng 48 3.2 Vị trí các trạm đo thủy văn trên các sông Trà câu 49
Trang 112.1 Bản đồ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn vùng nghiên cứu 16
2.3 Xu thế lượng mưa nhiều năm tại các trạm trong và lân cận vùng
2.4 Biến đổi lượng mưa theo kịch bản BĐKH 2016 32
2.6 Biến đổi nhiệt độ theo kịch bản BĐKH 2016 34
2.8 Điểm tính truyền triều cửa sông sông Trà Câu 36 2.9 Xu thế biến đổi mực nước triều trung bình năm trạm Quy Nhơn 37 2.10 Xu thế biến đổi mực nước chân triều thấp trạm Quy Nhơn 37 2.11 Xu thế biến đổi mực nước đỉnh triều cao trạm Quy Nhơn 38 2.12 Xu thế biến đổi mực nước đỉnh triều cao trong mùa lũ trạm Quy
2.13 Biến đổi mực nước chân triều thấp trong mùa lũ trạm Quy Nhơn 39 3.1 Số liệu bốc hơi các trạm khí tượng Quảng Ngãi 47
3.10 Số liệu triều tại Cửa Mỹ Á tại các trận lũ 55
3.13 Sơ hoạ liên kết giữa mô hình Mike11 và Mike 21 57
Trang 12Số hiệu
3.17 Mực nước tính toán lũ 28/11/2016-04/12/2016 61 3.18 Mực nước tính toán và thực đo trạm Cầu Vạn Lý trận lũ
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển miền Trung, có diện tích tự nhiên 5.132,67 km2, gồm 14 huyện và thành phố với dân số khoảng 1.227.850 người; là một tỉnh nghèo, chịu nhiều tác động của thiên tai như lũ lụt, bão tố, hạn hán…
Lưu vực sông Trà Câu nằm phía nam tỉnh Quảng Ngãi và là một trong bốn lưu vực sông chính trên địa bàn tỉnh; có diện tích lưu vực là 485 km2, chiếm 9,42% diện tích tự nhiên của tỉnh, bao gồm địa bàn huyện Đức Phổ, một phần huyện Mộ Đức và
Ba Tơ
Lưu vực sông Trà Câu bắt nguồn từ vùng núi Ba Trang (huyện Ba Tơ), với độ cao 400m Dòng sông chính chủ yếu chảy theo hướng Tây Đông, sông Trà Câu nhập lưu với sông Thoa tại Sa Bình, xã Phổ Minh, huyện Đức Phổ, rồi đổ ra cửa Mỹ Á cách
Diện tích lưu vực (km 2 )
Độ
cao bình quân lưu vực (m)
Độ
dốc bình quân lưu vực (%)
Chiều rộng bình quân lưu vực (km)
Hệ
số uốn khúc
Mật độ lưới sông (km/km 2 )
Nguồn: Quyết định số 341/QĐ-BTNMT ngày 23/03/2012 ban hành danh mục sông nội
tỉnh; Đặc trưng hình thái sông ngòi Việt Nam
Trang 14Hình 1 Lưu vực sông Trà Câu và vùng phụ cận
Đặc điểm dòng chảy lũ của sông Trà Câu có biên độ thay đổi nhiều, cường suất nước lũ lớn, thời gian lũ lên ngắn, dạng lũ nhọn, nguyên nhân là do lượng mưa trận và cường độ mưa lớn, tập trung nhiều đợt, tâm mưa nằm ở thượng và trung của lưu vực, độ dốc lòng sông lớn, nước tập trung nhanh Tổng lượng nước mùa lũ chiếm từ 70÷75% tổng lượng nước cả năm Do những đặc điểm khí tượng thủy văn như vậy cùng với những tác động để duy trì và phát triển cuộc sống của con người trên lưu vực làm cho tình trạng ngập lụt vùng đồng bằng hạ du; xói lở và bồi lấp bờ, lòng sông, cửa sông diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế xã hội
Những năm gần đây, các địa phương trong lưu vực đã có những bước phát triển kinh tế xã hội rất mạnh mẽ, các khu công nghiệp đã và đang xây dựng; các khu đô thị, các khu dân cư tập trung đang hình thành; giao thông đã và đang phát triển hết sức nhanh đã và đang tác động mạnh mẽ đến dòng sông và nguồn nước; chính vì vậy dẫn đến nhu cầu phát triển hạ tầng cơ sở thủy lợi nói chung và hạ tầng cơ sở phục vụ phòng chống lũ lụt đảm bảo kinh tế xã hội phát triển bền vững là vô cùng cấp thiết Mỗi năm khi mưa lũ về gây ngập lụt, thiệt hại khá lớn về người và tài sản trong vùng Mưa lũ gây chết người, nhà cửa bị ngập, bị sập, các công trình hạ tầng cơ sở như trường học, bệnh viện bị hư hỏng, đường sá, công trình thuỷ lợi bị hư hỏng
Ngoài ra trong xu hướng diễn biến của biến đổi khí hậu hiện nay cũng là một nguyên nhân gia tăng sự ảnh hưởng rủi ro cho ngập lụt hạ lưu Theo đánh giá của
Ngân hàng thế giới (WB), Việt Nam là một trong những quốc gia chịu tác động nhiều
Trang 15nhất của Biến đổi khí hậu, do đó việc nghiên cứu tính toán đánh giá ảnh hưởng của các yêu tố Biến đổi khí hậu đến vấn đề ngập lụt hạ lưu sông Trà Câu khi các công trình thủy lợi trên thượng nguồn vận hành theo quy trình sẽ đáp ứng mục tiêu giảm nhẹ thiệt hại do lũ lụt gây ra Để đáp ứng được các yêu cầu phòng chống lũ, việc nghiên cứu lũ
hạ lưu sông Trà Câu (đoạn từ hạ lưu cầu Đường sắt đến cửa Mỹ Á) là rất cần thiết Kết quả nghiên cứu này là cơ sở để các Sở ngành, địa phương liên quan tham khảo xây dựng kế hoạch hàng năm và kế hoạch 5 năm về xây dựng các công trình phòng chống, thoát lũ và chỉnh trị hạ lưu sông Trà Câu nhằm duy trì sự phát triển bền vững về kinh tế, cảnh quan, môi trường sinh thái hạ lưu sông Trà Câu; để các cấp chỉ đạo và điều hành xây dựng các Phương án cảnh báo, chủ động ứng phó lũ lụt kịp thời, hiệu quả trong công tác phòng chống lụt bão hằng năm Do đó luận văn chọn đề
tài “Đánh giá ngập lụt hạ lưu sông Trà Câu” để nghiên cứu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua việc “Đánh giá ngập lụt hạ lưu sông Trà Câu có xét đến biến đổi khí hậu” nhằm:
- Thiết lập mô hình mô phỏng thuỷ lực sông Trà Câu, đánh giá tình trạng ngập lụt trên hạ lưu sông này ở thời điểm hiện tại và tương lai ứng với lũ điển hình và ứng với các tần suất lũ thiết kế
- Giúp các Sở ngành, địa phương có cơ sở khoa học trong quy hoạch phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường hạ lưu sông Trà Câu
3 Đối tượng nghiên cứu
Mô phỏng và đánh giá quá trình ngập lụt hạ lưu sông Trà Câu có xét đến biến đổi khí hậu
4 Phương pháp nghiên cứu
Trước một vấn đề phức tạp và do điều kiện thu thập số liệu và các điều kiện nghiên cứu khác nên luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu thiết lập mô hình mô phỏng Vì vậy phương pháp thực hiện luận văn là:
- Thu thập tài liệu khí tượng, thuỷ văn, địa hình địa mạo lưu vực
- Thu thập các tài liệu cơ bản của đoạn sông
- Phân tích, xử lý số liệu, tính toán thủy văn
- Áp dụng mô hình Mike để mô phỏng ngập lụt
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Luận văn xây dựng được các kịch bản ngập lụt hạ lưu sông Trà Câu trong điều kiện có xét đến biến đổi khí hậu đến năm 2030, giúp các Sở ngành có cơ sở khoa học trong quy hoạch phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường hạ lưu sông Trà Câu
- Làm cơ sở để chính quyền địa phương khu vực nghiên cứu và cơ quan phòng
Trang 16chống thiên tai cấp tỉnh, cấp huyện chỉ đạo điều hành công tác ứng phó thiên tai ứng với các tần suất lũ khác nhau
- Làm cơ sở để chính quyền địa phương rà soát các khu vực ngập lụt thường xuyên, ngập lụt nặng để có các giải pháp công trình, phi công trình nhằm hạn chế thấp nhất thiệt hại do lũ lụt gây ra
6 Bố cục của luận văn
Xuất phát từ những yêu cầu trên, bố cục luận văn gồm có các nội dung sau
Phần Mở đầu
Chương 1 Tổng quan về lũ lụt lưu vực sông Trà Câu
Chương 2 Điều kiện tư nhiên và dân sinh kinh tế khu vực nghiên cứu
Chương 3 Thiết lập mô hình mô phỏng lũ lụt cho lưu vực
Chương 4 Đánh giá ngập lụt theo các kịch bản và đề xuất các giải pháp hạn chế tác động
Chương 5 Kết luận và kiến nghị
Trang 17CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LŨ LỤT LƯU VỰC SÔNG TRÀ CÂU
1.1 Tổng quan về ngập lụt ở Việt Nam
1.1.1 Nhận định chung về lũ lụt ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, một trong 5 ổ bão của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, thường xuyên phải đối mặt với các loại hình thiên tai Theo báo cáo mới nhất của Chương trình Lương thực Thế giới (FAO), Việt Nam là một trong 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ thiên tai, đặc biệt là mưa bão
và lũ lụt
Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao, lượng mưa và độ ẩm lớn Các khối khí di chuyển qua biển đã mang cho nước ta lượng mưa lớn, trung bình năm từ 1.500 đến 2.000mm Ở những sườn núi đón gió biển và các khối núi cao, lượng mưa trung bình năm có thể lên đến 3.500 - 4.000mm Số ngày mưa ở Việt Nam cũng nhiều, trung bình trên 100 ngày, có những nơi có thể trên 150 ngày, đặc biệt là Hòn Ba mưa tới 250 ngày Lượng mưa lớn và tập trung theo mùa là nguyên nhân chính gây lũ lụt ở nước ta Mùa đông mưa ít có tháng không mưa giọt nào, còn mùa mưa chiếm đến 80 - 85% lượng mưa năm và tháng mưa ít nhất cũng phải từ 100mm trở lên, còn tháng mưa nhiều nhất thì có thể tới 300 - 600mm Trên
cả nước, mùa mưa và mùa khô trong các vùng không khớp hẳn với nhau Mùa mưa nói chung là từ tháng V đến tháng X ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, riêng ở miền Trung, mùa mưa lại đi từ tháng VIII đến tháng XII, có nơi thêm mưa tiểu mãn vào tháng V - VI Tháng mưa cực đại ở Bắc Bộ là tháng VIII, ở Bắc Trung Bộ là tháng IX, ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ là tháng X - XI, ở Tây Nguyên và Nam Bộ lại là tháng IX - X Như vậy sự hoạt động của dải hội tụ nội chí tuyến là nguyên nhân gây mưa chính ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Tây Nguyên và Nam Bộ, còn
ở Trung Trung Bộ và Nam Trung Bộ có thêm mưa địa hình và mưa dông Nước lũ do mưa sinh ra nên mùa lũ thường đi đôi với mùa mưa Thời gian xuất hiện lũ theo đó cũng có sự khác nhau giữa các vùng Mùa lũ ở Bắc Bộ từ tháng 5 - 6 đến tháng 9 -
10, Bắc Trung Bộ từ tháng 6 - 7 đến tháng 10 - 11, Trung và Nam Trung Bộ: tháng
10 - 12, Tây Nguyên: tháng 6 - 12, Nam Bộ: tháng 7 - 12 Tuy vậy đầu mùa mưa cũng có thể có lũ sớm, như lũ "tiểu mãn", thường xảy ra vào "tiết tiểu mãn" (tháng 5) hàng năm ở vùng núi phía bắc nước ta Song mùa lũ hàng năm cũng biến động cùng với mùa mưa, thậm chí sớm muộn 1 - 2 tháng so với trung bình nhiều năm [1]
*Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu
Theo Liên hợp quốc, biến đổi khí hậu là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình lũ lụt Tần số lũ lụt sẽ ngày càng tăng do biến đổi khí hậu Việt
Trang 18Nam được đánh giá là một trong năm nước dễ bị tổn thương bởi các vấn đề môi trường do biến đổi khí hậu gây ra như hạn hán, lũ lụt, bão…Biến đổi khí hậu đặt ra cho Việt Nam nhiều mối nguy hại Biến đổi khí hậu sẽ khiến Việt Nam phải chịu nhiều rủi ro thiên tai hơn, chủ yếu là do thay đổi về lượng mưa và bão Lượng mưa nói chung sẽ tăng và cường độ có thể mạnh hơn Bão xuất hiện thường xuyên và nhanh hơn, hoặc thời gian và địa điểm xuất hiện sẽ thay đổi Nếu không có biện pháp ứng phó thích hợp, những biến đổi này sẽ dẫn đến sự gia tăng tần suất và cường độ của lũ quét, lũ theo mùa trên sông và lụt lội vùng ven biển Thêm vào đó
là hiện tượng mực nước biển dâng cao được xem là một trong những hiểm hoạ lớn nhất mà Việt Nam phải gánh chịu Với đường bờ biển dài 3.260km, mực nước biển dâng cao sẽ làm mất 12,2% diện tích đất và đe doạ tới môi trường sống của 17 triệu người Theo tính toán của Uỷ ban Liên chính phủ (IPCC), khi mực nước biển dâng 1m sẽ làm cho 3% diện tích của đồng bằng sông Hồng (xấp xỉ 300 km2) sẽ bị ngập trong nước biển Ở phía Nam, diện tích đất ngập trong nước biển lên tới hàng nghìn km2 Theo báo cáo của Liên hợp quốc, Việt Nam là một trong các nước chịu ảnh hưởng nặng nề khi nước biển dâng cao Cũng theo tính chất này, hơn 12,3% diện tích đất trồng trọt và kèm theo 1/5 dân số sẽ bị mất nhà cửa, nếu mực nước biển dâng cao 1m Giống như sự phân bố dân cư trên thế giới, ở vùng ven biển, vùng duyên hải của Việt Nam có mức độ tập trung dân cư đông Nếu tính độ cao dưới 10m, từ mực nước chuẩn thì Việt Nam có đến 41,5 triệu người đang sinh sống và
có liên quan mật thiết với biển Vì thế khi nước biển dâng cao sẽ là một hiểm hoạ đối với nước ta Hiện tượng nước biển lấn bờ trong những năm gần đây đang có xu hướng gia tăng với mức độ khác nhau từ vài mét đến vài chục mét mỗi năm diễn ra dọc bờ biển suốt từ Bắc đến Nam Hiện tượng ngập úng ở đồng bằng châu thổ tăng cao vào mùa lũ, hoạt động xâm thực gây sạt lở các vùng dân cư tập trung hai bên bờ sông diễn ra thường xuyên Dự kiến mực nước biển dâng vào khoảng 30cm đến 1m trong vòng 30 năm tới Nguy cơ lụt lội ở các vùng đất thấp ven biển rất cao Khi nhiệt độ ở Việt Nam tăng lên, hạn hán sẽ trở nên thường xuyên và khốc liệt Cộng đồng dân cư phần lớn dựa vào nền sản xuất nông nghiệp tưới tiêu nhờ mưa và phụ thuộc nhiều vào thời tiết như nước ta dễ bị tổn thương nặng nề, nhất khi phải đối mặt với những hiện tượng thời tiết khắc nghiệt như hạn hán, lũ lụt và bão nhiệt đới [2]
1.1.2 Các đặc trưng và phân loại lũ lụt ở Việt Nam
a Các đặc trưng của lũ
Trang 19Hình 1.1 Các đặc trưng lũ
- Chân lũ lên: Là mực nước (Hcl) hay lưu lượng (Qcl) khi lũ bắt đầu lên
- Đỉnh lũ: Là mực nước (Hđ) hay lưu lượng nước (Qđ) cao nhất trong một trận lũ
- Biên độ mực nước lũ: Là chênh lệch mực nước giữa mực nước đỉnh với mực nước khi lũ bắt đầu lên Biên độ lũ trên các sông miền núi có thể đạt 10 - 20 mét, cá biệt, có nơi đạt trên 25 mét (Lai Châu), ở vùng đồng bằng thường từ 3 - 8 mét
- Thời gian của một trận lũ: Là khoảng th̀i gian từ khi lũ bắt đầu lên đến khi hết
lũ Thời gian một trận lũ kéo dài từ vài ngày cho đến vài tháng Ví dụ: Trận lũ lụt năm
1945 kéo dài tới 30 ngày
- Thời gian lũ lên: Là khoảng thời gian từ khi lũ bắt đầu lên đến đỉnh lũ Lũ trên các sông suối vừa vừa nhỏ ở miền núi thường lên xuống nhanh, tốc độ chảy lớn và thời gian một trận lũ ngắn, thường chỉ kéo dài không quá 2 - 3 ngày Thời gian lũ lên, từ vài giờ cho đến 10 - 15 giờ, còn thời gian lũ xuống từ một đến vài ngày Lũ ở hạ du các sông lớn thường lên từ từ, cường suất lũ lên bằng khoảng vài cm đến vài chục cm trong một giờ Xem hình 1.2
Hình 1.2 Thời gian lũ lên
- Lượng lũ: Là tổng lượng nước của một trận lũ hoặc trong một khoảng thời gian nào đó của trận lũ Lượng lũ được ký hiệu là W và có đơn vị là m3
- Mô đun đỉnh lũ: Là lượng nước lũ lớn nhất được sinh ra trên 1 km2 diện tích lưu vực sông trong một đơn vị thời gian (1 giây), thường có đơn vị là l/s.km2 hoặc
Trang 20m3/s.km2
- Cường suất lũ: Là sự biến đổi của mực nước trong một đơn vị thời gian, thường lấy đơn vị là cm/giờ, m/giờ, cm/ngày hoặc m/ngày Cường suất lũ trên các sông ở vùng núi có thể lên đến 2 - 5 m/h, ở đồng bằng hạ lưu các sông, khoảng 10 - 20 cm/h
Lũ trên sông Cửu Long thuộc loại “lũ hiền từ” nhất ở nước ta, với cường suất trung bình chỉ 3 - 4cm/ngày, lớn nhất cũng chỉ 20 - 40 cm/ngày
b Phân loại lũ, lụt ở Việt Nam
Tại Việt Nam phân loại lũ theo một trong các tiêu chí sau đây:
- Phân loại theo thời gian xuất hiện lũ;
- Phân loại theo cấp độ mực nước đỉnh lũ;
- Phân loại theo mức độ nguy hiểm của trận lũ đối với nền dân sinh, kinh tế
* Phân loại lũ theo thời gian xuất hiện lũ: Căn cứ vào thời gian xuất hiện của lũ, người ta có thể phân loại các loại lũ như sau:
+ Lũ tiểu mãn: Xảy ra vào khoảng tiết tiểu mãn hằng năm (từ tháng 4 đến tháng 6), chủ yếu là do mưa rào gây ra Lũ tiểu mãn thường không lớn nhưng là nguồn cung cấp nước rất quan trọng cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô Tuy vậy, cũng có khi lũ tiểu mãn khá lớn, gây ra những thiệt hại đáng kể
+ Lũ sớm: Xuất hiện sớm so với lũ chính vụ Nếu xảy ra lũ sớm mà lũ lại lớn thì cũng gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sản xuất
+ Lũ chính vụ: Xuất hiện vào thời kỳ chính của mùa lũ, thường là lũ lớn nhất trong năm nên dễ gây ngập lụt, làm thiệt hại đáng kể về người và tài sản Trên các sông Bắc Bộ, lũ chính vụ thường vào các tháng 7, 8; các sông Trung Bộ, thường vào tháng 10, 11; các sông Nam Bộ, Tây Nguyên, thường vào tháng 9, 10
+ Lũ muộn: Là lũ xảy ra vào cuối mùa lũ, thường không lớn Tuy vậy, cũng có năm, có nơi lũ cuối vụ là lũ lớn nhất trong năm Lũ trên các sông Bắc Bộ, Nam Bộ có thể xuất hiện muộn, vào tháng 11; ở Trung Bộ và Tây Nguyên vào tháng 12 hoặc tháng 1 năm sau
* Phân loại lũ theo cấp độ mực nước đỉnh lũ: Căn cứ vào mực nước trung bình đỉnh lũ nhiều năm, người ta có thể phân loại các loại lũ như sau:
+ Lũ nhỏ: Là lũ có đỉnh lũ thấp hơn mức lũ trung bình nhiều năm
+ Lũ vừa: Là lũ có đỉnh lũ đạt mức lũ trung bình nhiều năm
+ Lũ lớn: Là lũ có đỉnh lũ cao hơn mức lũ trung bình nhiều năm
+ Lũ đặc biệt lớn: Là lũ có đỉnh lũ cao hiếm thấy trong lịch sử
+ Lũ lịch sử: Là trận lũ có đỉnh lũ cao nhất trong thời kỳ quan trắc hoặc điều tra được
* Phân cấp lũ theo mức độ nguy hiểm đối với dân sinh, kinh tế: Đối với các nhà
Trang 21quản lý về lũ lụt và thường được phát tin trên các phương tiện thông tin đại chúng thì người ta thường áp dụng cách phân cấp lũ theo mức độ nguy hiểm đối với dân sinh và kinh tế Mức độ nguy hiểm của lũ tăng dần như sau:
+ Mức lũ báo động I: Có khả năng gây tác hại đến các khu vực sản xuất nông nghiệp ở vùng trũng, thấp
+ Mức lũ báo động II: Gây tác hại lớn đến các khu vực sản xuất nông nghiệp ở vùng trũng, thấp Có khả năng gây nguy hiểm tính mạng đến một số dân cư sinh sống
ở các vùng trũng thấp
+ Mức lũ báo động III: Gây ngập lụt nghiêm trọng đến các khu vực ở hạ lưu sông Nhiều công trình xây dựng, các công trình về giao thông, thủy lợi bị tàn phá nặng nề Rất nguy hiểm đến tính mạng và nhân dân ở các khu vực trũng, thấp, các khu vực thường xuyên bị ảnh hưởng lũ, lụt
1.1.3 Các đặc trưng và phân loại lũ lụt ở khu vực nghiên cứu
Hàng năm trên sông Trà Câu thường xảy ra 5 - 7 trận lũ và hầu như năm nào cũng có 2 - 3 trận lũ lớn trên BĐIII Lũ trên sông Trà Câu xảy ra thường đồng thời và
có cùng nguyên nhân gây mưa lũ Tổng lượng mưa trung bình năm trong khu vực nghiên cứu phổ biến ở đồng bằng từ 2.200 đến 2.500mm, ở trung du thung lũng thấp
và vùng núi từ 3.000 đến 3.500mm Mưa chỉ tập trung vào các tháng giữa mùa mưa (từ tháng X đến tháng XII), với điều kiện địa hình có độ dốc lớn, vùng thượng nguồn của các sông nằm ở vùng trung tâm mưa lớn của tỉnh Quảng Ngãi, nên hằng năm cứ đến mùa mưa lũ thì ở đồng bằng thường bị ngập lụt nặng nề Lũ lên rất nhanh và thường duy trì ở mức cao chỉ trong vài ba ngày, sau đó lũ rút xuống cũng nhanh
Lũ lên rất nhanh và thường duy trì ở mức cao chỉ trong vài ba ngày, sau đó xuống cũng rất nhanh Nguyên nhân hình thành các trận lũ là do sự kết hợp của các hình thế gây mưa lớn như bão, áp thấp nhiệt đới, hội tụ nhiệt đới, không khí lạnh, trường gió Đông Các hình thái này hoạt động riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau và có thể phân ra làm 3 dạng chính như sau:
+ Bão hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt động đơn độc hoặc phối hợp với các hình thái khác (trừ không khí lạnh)
+ Bão hoặc áp thấp nhiệt đới phối hợp với không khí lạnh
+ Không khí lạnh, hội tụ nhiệt đới và các hình thái thời tiết khác
Trong những thập kỷ gần đây, lũ lụt xảy ra ngày một thường xuyên hơn, bất bình thường hơn với những trận lũ lụt rất lớn và gây hậu quả rất nặng nề như lũ lụt những năm 1986, 1996, 1998, 1999, 2009, 2013
Lũ tiểu mãn: Vào các tháng V, VI có mưa tiểu mãn gây ra lũ tiểu mãn với trị số
đã quan trắc lớn nhất tại An Chỉ là 740 m3/s cùng xuất hiện vào ngày 13/VI/2004
Trang 22Lũ sớm: Lũ xảy ra vào cuối tháng VIII đến đầu tháng X gọi là lũ sớm Lũ sớm thường có biên độ không lớn, lượng nước trong các sông suối còn ở mức thấp, lũ sớm thường là lũ đơn 1 đỉnh
Lũ muộn: Lũ xảy ra vào nửa cuối tháng XII đến nửa đầu tháng I năm sau được xem là lũ muộn
Lũ lớn nhất trong năm thường xảy ra vào tháng XI, là tháng có mưa lớn nhất Khả năng lũ lớn nhất hàng năm xảy ra tại trạm Trà Câu vào tháng X chỉ chiếm 29%, xảy ra vào tháng XII chiếm 13% còn lại tập trung chủ yếu vào tháng XI chiếm tới 58,0%
1.2 Các nghiên cứu về ngập lụt lưu vực sông ở miền Trung Việt Nam
1.2.1 Các nghiên cứu ở các sông miền Trung
Trong thời gian qua, nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về lĩnh vực này đã được triển khai trên phạm vi toàn quốc nói chung, khu vực miền Trung nói riêng Các nghiên cứu điển hình có thể kể đến:
- Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã thực hiện đề tài độc lập cấp Nhà nước: "Điều tra, nghiên cứu và cảnh báo lũ lụt, phục vụ phòng tránh thiên tai
ở các lưu vực sông miền Trung" Đề tài này góp phần quan trọng trong hoạt động nghiên cứu của ngành khí tượng thuỷ văn phục vụ phòng chống thiên tai cho khu vực này, là cơ sở cho các nghiên cứu chi tiết tiếp theo Năm 2000-2001
- Viện Khoa học Khí tượng thuỷ văn và Môi trường cũng đã thực hiện đề tài:
"Nghiên cứu vận dụng mô hình thuỷ động lực mưa - dòng chảy phục vụ tính toán và
dự báo dòng chảy lũ" Năm 2001-2004 Đề tài này đã thực hiện được các nội dung nghiên cứu cơ bản sau:
+ Nghiên cứu tổng quan về các mô hình thủy động lực tương đối có hệ thống, thông tin tương đối được cập nhật
+ Đã khai triển được phương pháp phần tử hữu hạn sóng động học một chiều cho một lưu vực sông cụ thể, với thuật toán rõ ràng, có chất lượng cao
+ Kết hợp được mô hình phần tử hữu hạn sóng động học 1 chiều với phương pháp SCS đồng thời, đã xử lý được một lượng lớn các thông tin về địa hình, thổ nhưỡng, sử dụng đất để thể hiện được tính khả thi của việc ứng dụng mô hình thủy động mô tả quá trình mưa-dòng chảy cho một lưu vực sông cụ thể Mô hình đã thể hiện được mối quan hệ tương tác mưa- địa hình- thổ nhưỡng- sử dụng đất- dòng chảy
- Trường Đại học Khoa học Tự nhiên đã thực hiện đề tài: Nghiên cứu đánh giá tai biến lũ lụt lưu vực sông Thu Bồn trên cơ sở ứng dụng phương pháp địa mạo và công nghệ GIS Năm 2008
Trang 231.2.2 Trong phạm vi tỉnh Quảng Ngãi
1 Dự án giảm nhẹ thiên tai tại tỉnh Quảng Ngãi do Chính phủ Autralia hỗ trợ thực hiện từ năm 2003 đến 2007 Một trong những nội dung của dự án này là xây dựng
mô hình thủy lực quản lý đồng bằng ngập lũ Mô hình thuỷ lực là công cụ kiểm tra các phương án quản lý đồng bằng ngập lũ bao gồm lưu vực sông Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ và sông Trà Câu Mô hình thuỷ lực 2 chiều chi tiết, sử dụng phầm mềm SOBEK từ Delft Huydraulics và một số phần mềm hỗ trợ Mô hình thuỷ lực còn dùng
để kiểm tra tác động của những phát triển trong tương lai đến tình trạng ngập lụt
2 Đề tài: Nghiên cứu quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi Năm 2010-2011 Viện Địa lý thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã thực hiện Đề tài này thực hiện theo các mục tiêu sau:
+ Thiết lập ngân hàng cơ sở dữ liệu về lũ lụt và diễn biến lũ lụt phục vụ quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ trên sông Trà Khúc và sông Vệ, tỉnh Quảng Ngãi + Xác định tuyến hành lang thoát lũ vùng đồng bằng cửa sông (đối với sông Trà Khúc đoạn từ đập Thạch Nham đến Cửa Đại; đối với sông Vệ đoạn từ Hành Tín Đông đến Cửa Lở) ứng với các tần suất 1%, 5%, 10%
+ Đề xuất định hướng các phương án quy hoạch phòng chống và tiêu thoát lũ trên sông Trà Khúc, sông Vệ
3 Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Trung Trung Bộ đã tiến hành một số đề tài nghiên cứu, trong đó có các nghiên cứu điển hình sau:
- Năm 2000-2001 thực hiện đề tài: Xây dựng bản đồ phân vùng ngập lụt và phương án cảnh, dự báo lũ các sông tỉnh Quảng Ngãi Đề tài đã đánh giá chế độ mưa
lũ trên lưu vực sông Trà Khúc, Trà Bồng và sông Vệ, điều tra khảo sát tình hình ngập lụt năm 1999, từ đó xây dựng bản đồ ngập lụt vùng hạ lưu các sông trên cho trận lũ lớn nhất 1999 và bản đồ nguy cơ ngập lụt tương ứng với các tần suất thiết kế Đề tài này cũng đã xây dựng được 32 mốc báo lũ đầu tiên tại tỉnh Quảng Ngãi
- Năm 2006-2007, thực hiện đề tài: Điều tra bổ sung và xây dựng cột mốc báo lũ tại vùng ngập lũ thuộc hạ lưu các sông chính của tỉnh Quảng Ngãi Sản phẩm đề tài là các mức báo động lũ mới trên 3 sông chính của Tỉnh là sông Trà Bồng, Trà Khúc và sông Vệ Các mức báo động lũ do đề tài đề xuất đã được chính thức đưa vào sử dụng theo Quyết định số 632/QĐ-TTg ngày 10/5/2010 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 1142/QĐ-UBND ngày 25/8/2010 của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ngãi Ngoài
ra, đề tài tiếp tục xây dựng bổ sung 32 mốc báo lũ, bộ bản đồ nguy cơ ngập lụt theo các mức báo động lũ Hầu hết các sản phẩm đề tài đã được sử dụng cho công tác phòng chống lũ lụt trong những năm qua
- Năm 2007-2009, đề tài: Xây dựng bổ sung mốc báo lũ, mức báo động lũ sông
Trang 24Trà Câu, phương án cảnh báo, dự báo nguy cơ ngập lụt cho các địa phương vùng ngập lụt tỉnh Quảng Ngãi
4 Dự án: Rà soát, bổ sung quy hoạch phòng chống lũ các tỉnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận (trong đó có hợp phần rà soát quy hoạch phòng chống lũ trên các sông thuộc tỉnh Quảng Ngãi) Dự án này do Viện Quy hoạch Thuỷ lợi thực hiện
5 Dự án: Quy hoạch chỉnh trị, phòng lũ hạ lưu sông Trà Khúc đoạn từ đập Thạch Nham đến cửa Đại Hội tưới tiêu Việt Nam thực hiện, hoàn thành năm 2014
6 Dự án: Quy hoạch Phòng, chống lũ và chỉnh trị sông Trà Bồng, Sông Vệ, Sông Trà Câu Viện Quy hoạch Thuỷ lợi thực hiện, hoàn thành năm 2018
- Điều tra, đánh giá thiệt hại môi trường do lũ lụt gây ra (sau năm 1999) và hiện tượng trượt lở, nứt đất vùng núi tỉnh Quảng Ngãi và kiến nghị các giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại Trung tâm tư vấn Công nghệ và Môi trường Hà Nội TS Nguyễn Văn Lâm, 2001
- Xây dựng Bản đồ ngập lụt và dự báo nguy cơ ngập lụt hạ lưu sông Trà Bồng, sông Trà Khúc, sông Vệ Đài KTTV khu vực Trung Trung bộ KS Hoàng Tấn Liên,
2001
- Định hướng qui hoạch lũ miền Trung Viện Quy hoạch Thuỷ lợi TS Tô Trung Nghĩa, 2001
- Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt lở đất dọc hệ thống sông Trà Bồng, sông Vệ
và đề xuất các giải pháp phòng chống giảm nhẹ thiệt hại Trường Đại học Mỏ địa chất PGS TS Nguyễn Kim Ngọc, 2001
- Quy hoạch tiêu úng thoát lũ sông Thoa tỉnh Quảng Ngãi Mã số 2613 KH/QH Viện Quy hoạch Thuỷ lợi KS Phạm Thị Minh Nguyệt, 2001
NN-Điều tra, đánh giá hiện tượng sạt lở, bồi lấp vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi Kiến nghị các giải pháp phòng tránh giảm thiểu thiệt hại, góp phần phát triển KT - XH trên
cơ sở môi trường bền vững Viện Địa chất - Trung tâm KHTN & CNQG - GS VS Nguyễn Trọng Yêm, 2002
Rà soát quy hoạch thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu nông lâm nghiệp tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi - KS Đặng Ngọc Vinh, 2003
- Quy hoạch sử dụng tổng hợp nguồn nước lưu vực sông Trà Khúc tỉnh Quảng Ngãi
Trang 25Mã số QH-K 4282 NN - 01/03 Viện Quy hoạch Thuỷ lợi KS Phạm Thị Minh Nguyệt, 4/2004
- Qui hoạch thuỷ lợi tỉnh Quảng Ngãi Viện Quy hoạch Thuỷ lợi KS Đặng Ngọc Vinh, 2005
- Lập dự án khả thi và thiết kế kỹ thuật xây dựng công trình bảo vệ bờ sông Vệ, sông Trà Khúc, tỉnh Quảng Ngãi Đại học Thuỷ lợi PGS TS Đỗ Tất Túc, 2006
- Điều tra bổ sung và xây dựng cột mốc báo lũ tại các vùng ngập lũ thuộc hạ lưu các sông chính tỉnh Quảng Ngãi Đài KTTV khu vực Trung Trung bộ KS Hoàng Tấn Liên,
2007
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN SINH KINH TẾ KHU VỰC
NGHIÊN CỨU
2.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Trà Câu nằm phía nam tỉnh Quảng Ngãi, có diện tích lưu vực là
485 km2, chiếm 9,42% diện tích tự nhiên của tỉnh Quảng Ngãi
Có vị trí địa lý:
Từ 14043’đến 15016’ Vĩ độ Bắc
Từ 108047’ đến 108055’ Kinh độ Đông
Ranh giới lưu vực:
Phía Bắc và Tây giáp lưu vực sông Vệ, tỉnh
Quảng Ngãi
Phía Nam giáp lưu vực sông Lại Giang thuộc
tỉnh Bình Định
Phía Đông giáp Biển Đông
Vùng nghiên cứu gồm 3 huyện (Ba Tơ, Đức Phổ, Mộ Đức), với dân số 143.002 người chiếm 11,46% dân số toàn tỉnh
2.2 Đặc điểm địa hình
Vùng nghiên cứu nằm ở phía Đông Trường Sơn, có dạng địa hình thấp dần từ Tây sang Đông Từ vùng núi xuống đồng bằng địa hình đột nhiên hạ thấp đáng kể, hình thành hai bậc địa hình cao thấp nằm kế tiếp nhau Vùng thượng du của lưu vực là vùng núi cao có cao độ từ 800 m÷1.000 m, còn ở hạ du là đồng bằng chỉ có cao độ từ 5÷15 m và vùng cát ven biển có cao độ 2÷10 m Nhìn chung toàn lưu vực có 3 dạng địa hình chính sau:
2.2.1 Vùng núi cao và trung bình
Vùng núi cao và trung bình nằm ở phía Tây, chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên Đây chính là sườn phía Đông dãy Trường Sơn với cao độ trung bình từ 500 ÷ 700m, có một số đỉnh cao trên 1.000 m
2.2.2 Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng chạy dọc từ Bắc vào Nam tiến sát ra gần biển thuộc vùng đất nằm hạ lưu sông Trà Câu Bề mặt không được bằng phẳng có nhiều gò đồi theo hướng dốc từ Tây sang Đông với cao độ biến đổi từ 5 ÷ 15m
2.2.3 Vùng cát ven biển
Đây là vùng bao gồm các cồn cát, đụn cát phân bố thành một dải hẹp, chạy dài ven biển với chiều rộng trung bình trên dưới 2 km và có độ cao hơn vùng đồng bằng
Trang 272.3 Đặc điểm lưu vực sông Trà Câu
Lưu vực sông Trà Câu bắt nguồn từ vùng núi Ba Trang (huyện Ba Tơ), với độ cao 400m Dòng sông chính chủ yếu chảy theo hướng Tây- Đông, nhập lưu với sông Thoa tại Sa Bình, xã Phổ Minh, rồi đổ ra cửa Mỹ Á cách đó khoảng 2,5km
Sông Trà Câu có diện tích lưu vực 485km2, chiều dài sông khoảng 32km; chiều dài lưu vực 19km và chiều rộng bình quân lưu vực 14km
Bảng 2.1 Hình thái sông suối chính trong vùng nghiên cứu
Tên sông
Chiều dài sông (km)
Diện tích lưu vực (km2)
Độ cao bình quân lưu vực (m)
Độ dốc bình quân lưu vực (%)
Chiều rộng bình quân lưu vực (km)
Hệ
số uốn khúc
Mật độ lưới sông (km/km2)
Nguồn: - Đặc trưng hình thái sông Việt Nam
- Quyết định số 341/QĐ-BTNMT về việc ban hành Danh mục sông nội tỉnh
2.4 Mạng lưới trạm quan trắc khí tượng, thủy văn
2.4.1 Trạm khí tượng và đo mưa
Lưu vực sông Trà Câu và lân cận có trạm đo khí tượng Ba Tơ, và 02 trạm đo mưa với liệt tài liệu tương đối dài Lưới trạm và liệt tài liệu tính toán trong quy hoạch này được trình bày ở bảng sau
Bảng 2.2 Thống kê các trạm đo khí tượng, mưa trong vùng
TT Tên Trạm Loại trạm Liệt tài liệu
Toạ độ Cao độ
trạm (m) Kinh độ Vĩ Độ
Trang 28TT Tên Trạm Loại trạm Liệt tài liệu
Toạ độ Cao độ
trạm (m) Kinh độ Vĩ Độ
Ghi chú: X: Mưa;
KT: trạm Khí tượng (yếu tố đo: Mưa; Nhiệt độ; Độ ẩm; Bốc hơi; Gió; Nắng) H: Mực nước, mưa
- Các trạm khí hậu đều đo các yếu tố mưa, nhiệt độ, độ ẩm, bốc hơi, gió, nắng
và trạm đo mưa chất lượng tài liệu tin cậy, các trạm này đều do Tổng cục Khí tượng Thủy văn thiết lập quản lý, liệt tài liệu tương đối dài đủ điều kiện đưa vào tính toán đặc trưng khí hậu trong vùng
Hình 2.1 Bản đồ mạng lưới trạm khí tượng thủy văn vùng nghiên cứu
2.4.2 Trạm thuỷ văn
Vùng nghiên cứu chỉ có trạm thủy văn Trà Câu do ADB tài trợ, liệt tài liệu ngắn, tài liệu thu thập được đo vào mùa lũ năm 2016, lân cận vùng nghiên cứu có 01 trạm đo dòng chảy và mực nước là trạm An Chỉ và 01 trạm đo mực nước là trạm Sông Vệ (cả
02 trạm này đều nằm trên sông Vệ)
Trang 29Bảng 2.3 Thống kê các trạm đo thuỷ văn trong vùng
TT Tên Trạm Sông Đặc trưng đo Liệt tài liệu Toạ độ
Kinh độ Vĩ Độ
TV: trạm Thủy văn (Đo các yếu tố mực nước; Lưu lượng; Độ đục)
2.4.3 Tình hình quan trắc, chất lượng và phương pháp xử lý tài liệu
* Tình hình quan trắc
(i) Trạm An Chỉ trên sông Vệ
Là trạm đo đạc mực nước, lưu lượng dòng chảy, lượng mưa, nhiệt độ nước và hàm lượng phù sa Đường quan hệ mực nước- lưu lượng có đồ thị dạng đường vòng dây Trong những trận lũ lớn, tốc độ dòng chảy cao, với mức tối đa là 3,5m/s và tốc độ trung bình là 2,5m/s Trạm An Chỉ nằm tại vị trí nơi mương thủy lợi chạy cắt ngang sông bằng xi phông Đây là vị trí nằm ngay phía thượng lưu của vùng ngập úng diện rộng, nhưng dòng chảy bị thắt tại điểm đặt trạm Ngoài ra, việc sửa lại cây cầu gần trạm tháng VIII/1995 có thể cũng ảnh hưởng đến mực nước đo được
(ii) Trạm Sông Vệ trên sông Vệ
Trạm này chỉ ghi mực nước vào mùa mưa Trạm nằm ngay dưới cầu Quốc lộ 1
về phía hạ lưu bên bờ bắc
* Chất lượng tài liệu
Các trạm thuỷ văn chủ yếu được bố trí chủ yếu ở trung tâm huyện, thị trấn, vùng đồng bằng ven biển Ở vùng núi và các nơi hẻo lánh chưa có trạm đo, do đó chưa nắm bắt được diễn biến hiện tượng thời tiết và đặc điểm thủy văn dòng chảy một cách chi tiết Phân tích các trạm đo đạc trong và lân cận vùng nghiên cứu, tài liệu từ sau ngày giải phóng Miền Nam liên tục và đáng tin cậy có thể sử dụng để tính toán
Cao độ tại các trạm thuỷ văn: Từ khi thành lập đến tháng XII/1994 các trạm thuộc tỉnh Quảng Ngãi đều sử dụng hệ cao độ giả định Từ tháng I/1995 đã được chuyển về hệ cao độ quốc gia với hệ số chuyển đổi như sau
Trang 30Bảng 2.4 Cấp báo động trên sông vệ tại một số trạm
2.5 Đặc điểm khí hậu
Vùng nghiên cứu có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nội chí tuyến, chịu ảnh hưởng sâu sắc của địa hình dãy Trường sơn và các nhiễu động thời tiết ngoài biển Đông Trong vùng nghiên cứu có hai mùa khí hậu khác nhau:
- Khí hậu mùa Đông: từ tháng XI đến tháng IV là thời kỳ hoạt động của gió mùa Đông Bắc và tín phong Đông Bắc:
- Khí hậu mùa hạ: Từ tháng V đến tháng X là các hoạt động của gió mùa Tây Nam và Đông Nam
Tóm lại với chế độ gió mùa, điều kiện bức xạ và vị trí địa lý, đặc điểm địa hình
đã tạo cho khí hậu của lưu vực có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Chế độ gió mùa cùng với dải Trường Sơn đã tạo ra sự tương phản sâu sắc giữa mùa khô và mùa mưa trên toàn vùng nghiên cứu
- Hoạt động của gió mùa, tín phong Đông Bắc và các nhiễu động thời tiết ở biển Đông cùng với địa hình dãy Trường Sơn đã tạo ra mùa mưa phong phú trong các tháng
Tháng có nhiệt độ bình quân cao nhất là tháng VI, VII có thể đạt tới
28oC÷29oC, tháng có nhiệt độ bình quân nhỏ nhất là tháng I đạt 21oC Chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất từ 6 ÷7oC
Trang 31Bảng 2.5 Nhiệt độ bình quân tháng, năm tại các trạm trong vùng
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Ba Tơ 21,4 22,7 24,5 26,7 28,0 28,2 28,0 28,1 26,6 25,2 23,6 21,7 25,4 Hoài Nhơn 22,2 23,3 24,9 27,0 28,4 29,0 29,0 28,7 27,1 25,8 24,6 22,8 26,1 Nhiệt độ tối cao trung bình tháng đạt trên 30oC, có cực đại vào tháng V đạt từ 37÷38oC Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng đạt từ 15÷24oC, trị số thấp nhất rơi vào tháng I với nhiệt độ đạt từ 15÷16oC
2.5.2 Số giờ nắng
Tổng số giờ nắng trên vùng nghiên cứu khoảng 1.960÷2.300 giờ/năm Ở vùng núi (Ba Tơ), tháng có số giờ nắng nhiều nhất là tháng VII, đạt 218,3 giờ/tháng; tháng
có số giờ nắng ít nhất là tháng XII, ở vùng núi 66,8 giờ/tháng
Bảng 2.6 Số giờ nắng bình quân tháng trung bình nhiều năm trạm
(Giờ)
Ba Tơ 103,3 151,2 194,1 210,5 223,5 215,0 218,3 200,5 159,3 127,2 93,4 66,8 1963,3 Hoài
Nhơn 148,5 188,2 234,6 244,3 253,1 233,8 242,9 224,4 180,6 163,5 132,1 106,5 2352,6
2.5.3 Chế độ ẩm
Độ ẩm không khí có quan hệ chặt chẽ với nhiệt độ không khí và lượng mưa Biến trình năm của độ ẩm không khí tương tự như biến trình mưa và tỷ lệ nghịch với biến trình của nhiệt độ không khí
Độ ẩm tương đối trung bình năm trong vùng khoảng 84÷85% Vào các tháng mùa mưa (từ tháng IX tới tháng XII) độ ẩm không khí đạt từ 89% ÷ 90%, vào các tháng mùa khô chỉ còn trên dưới 80% Độ ẩm không khí thấp nhất có thể xuống tới mức 35%
2.5.4 Gió
Vùng nghiên cứu nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nên có hai mùa gió chính (gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hè) Do địa hình chi phối nên hướng gió không phản ảnh đúng cơ chế của hoàn lưu Tuy nhiên, hướng gió hình thành vẫn biến đổi theo mùa rõ rệt
Vùng núi từ tháng X đến tháng III năm sau là hướng Bắc đến Đông Bắc, tuy nhiên trong thời kỳ này hướng gió Nam và Tây Nam cũng xuất hiện với tần suất khá cao, từ tháng IV đến tháng IX là hướng Tây Nam
Tốc độ gió: Tốc độ gió trung bình năm tại đồng bằng ven biển khoảng 1,3m/s, tại
Trang 32vùng núi khoảng 1,2m/s
Bảng 2.7 Tốc độ gió trung bình tháng và lớn nhất
2.5.5 Bốc hơi
Khả năng bốc hơi trên lưu vực phụ thuộc vào điều kiện mặt đệm và các yếu tố khí hậu như nhiệt độ không khí, nắng, gió, độ ẩm Theo tài liệu bốc hơi bằng ống piche tại các trạm trong lưu vực vùng nghiên cứu cho thấy lượng bốc hơi ống piche hàng năm khoảng 800÷900 mm, vùng núi bốc hơi khoảng 800mm/năm Vùng đồng bằng ven biển bốc hơi nhiều hơn, khoảng 900mm/năm
Vào các tháng mùa khô, lượng bốc hơi có thể đạt tới 95÷100 mm/tháng Tháng
có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng VII, đạt 100,8 mm/tháng tại Ba Tơ Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất là tháng XII, chỉ đạt 31,5 mm/tháng tại Ba Tơ;
Bảng 2.8 Bốc hơi piche bình quân tháng trung bình nhiều năm
Đơn vị: (mm)
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Ba Tơ 40,8 44,0 63,3 74,8 89,3 86,4 86,2 81,2 58,8 42,7 31,6 30,3 729,4 Hoài Nhơn 66,0 67,4 84,9 91,0 101,1 116,1 127,9 119,2 68,0 61,0 60,8 67,7 1031,1
2.6 Dòng chảy năm
2.6.1 Quan hệ mưa – dòng chảy
Căn cứ vào tài liệu mưa năm, dòng chảy năm thu thập được tại các trạm vùng nghiên cứu từ năm 1977-2015, ứng dụng công cụ IDW trong ArcGis tiến hành tính toán sự phân bổ tổng lượng mưa trung bình nhiều năm, tính toán được mưa bình quân lưu vực tính đến trạm thủy văn An Chỉ với X0 = 3035mm Lưu lượng trung bình nhiều năm tại An Chỉ Q0=60,0 m3/s Từ đó xác định được các tham số dòng chảy Y0, α tính đến trạm thủy văn An Chỉ như sau:
a=Yo/Xo = (31,5xQ0x103/Flv)/X0 = (31,5*60*10^3/854)/3035 = 0,73
Trong đó:
Trang 33: Hệ số dòng chảy
Yo: lớp nước dòng chảy
Xo: tổng lượng mưa trung bình nhiều năm
2.6.2 Dòng chảy năm
Căn cứ vào tài liệu thực đo tại An Chỉ, tính được các trị số α, ngoài ra tiến hành tính toán mưa bình quân cho lưu vực sông Trà Câu, từ đó tính toán được dòng chảy cho lưu vực Trà Câu theo phương pháp lưu vực tương tự có triết giảm lượng mưa Qua tính toán, thấy lượng dòng chảy rất phong phú với mô đuyn dòng chảy bình quân nhiều năm đạt 60,0 l/s/km2 Tại An Chỉ trên sông Vệ, khống chế diện tích lưu vực 854 km2, tương tự lưu vực sông Trà Câu với diện tích lưu vực
485 km2 có lưu lượng trung bình năm đạt 32,0 m3/s tương ứng mô số 66 l/s,km2 Kết quả xem ở bảng 2.9
Bảng 2.9 Đặc trưng dòng chảy các sông trong vùng
(km 2 )
Xo (mm)
Yo (mm)
(m 3 /s)
Mo (l/skm 2 )
Bảng 2.11 Biến động dòng chảy năm trong vùng và phụ cận
Trạm Sông F lv
(km 2 )
Thời gian
Trang 34nước sông Biến động càng lớn việc sử dụng khai thác nguồn nước càng không thuận lợi Bảng sau đây cho thấy sự dao động dòng chảy tháng lớn nhất và trung bình so với dòng chảy tháng nhỏ nhất qua tài liệu thực đo của các trạm thuỷ văn lân cận vùng nghiên cứu (xem bảng 2.12)
Bảng 2.12 Biến động dòng chảy tháng, năm tại các trạm đo
Phân phối dòng chảy trong năm
Theo chỉ tiêu vượt trung bình mùa lũ bao gồm những tháng liên tục có lượng dòng chảy vượt quá 8% lượng dòng chảy năm với xác suất xuất hiện >= 50%, mùa cạn bao gồm những tháng còn lại trong năm Theo chỉ tiêu này thì mùa lũ ở lưu vực sông Trà Câu kéo dài từ tháng X tới tháng XII, mùa kiệt kéo dài từ tháng I đến tháng IX Mùa mưa ở đây kéo dài 4 tháng, nhưng mùa lũ chỉ có 3 tháng, thường mùa lũ chậm hơn mùa mưa 1 tháng Vào tháng IX hàng năm tuy đã bước vào mùa mưa thực sự nhưng do lưu vực vừa trải qua một thời kỳ nắng nóng, lượng mưa rơi xuống chủ yếu tăng độ ẩm lưu vực, dòng chảy chỉ tăng thêm chút ít, phải sang tháng X lượng mưa lớn dồn tập trung lúc đó mới thực sự bước vào mùa lũ
Trong năm dòng chảy phân bố không đều, lượng dòng chảy mùa lũ chiếm 65% - 70% tổng lượng dòng chảy cả năm trong khi đó lượng dòng chảy mùa kiệt
từ tháng I tới tháng IX chỉ chiếm 30 - 35 % Trong năm có hai thời kỳ kiệt xảy ra vào tháng IV và tháng VIII Tháng kiệt nhất lượng dòng chảy chỉ chiếm xấp xỉ 2% lượng nước cả năm
Để tính phân phối dòng chảy năm thiết kế lưu vực sông Trà Câu, mượn lưu
vực tương tự tại trạm An Chỉ trên sông Vệ, dựa vào tài liệu thực đo tại các trạm thuỷ văn và tính toán phân phối theo phương pháp Adreianop với 3 nhóm năm: nhóm năm nhiều nước, nhóm năm trung bình nước và nhóm năm ít nước Kết quả ghi ở bảng 2.13
Trang 35Bảng 2.13 Hệ số phân phối dòng chảy năm với tần suất thiết kế
Đơn vị: %
Tháng
Trạm An Chỉ - Sông Vệ
Nhóm năm nhiều nước P = 25%
Nhóm năm nước trung bình P = 50%
Nhóm năm ít nước
Bảng 2.14 Phân phối dòng chảy năm
Vị trí Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm
Trà
Câu
K75% 8,92 4,86 3,22 2,60 3,11 2,65 2,13 3,42 3,80 24,35 20,33 20,61 100 Q75%
(m3/s) 25,2 13,7 9,08 7,33 8,77 7,47 6,01 9,64 10,7 68,7 57,3 58,1 23,5
Hình 2.2 Bản đồ moduyn dòng chảy năm
Trang 362.7 Dòng chảy lũ
2.7.1 Nguyên nhân hình thành dòng chảy lũ
Các nguyên nhân chính gây ra mưa lũ là do bão, áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, không khí lạnh gây ra Các hình thái này hoạt động riêng lẻ hoặc phối hợp với nhau và có thể phân ra làm 3 dạng chính như sau:
* Bão hoặc áp thấp nhiệt đới hoạt động đơn độc hoặc phối hợp với các hình thái khác (trừ không khí lạnh)
* Bão hoặc áp thấp nhiệt đới phối hợp với không khí lạnh
* Không khí lạnh, hội tụ nhiệt đới và các hình thái thời tiết khác
2.7.2 Biến đổi dòng chảy lũ
* Trận bão Joan xảy ra ngày 4/XI/1964:
2 cơn bão đổ bộ liên tiếp trong ngày 4/XI/1964 (Iris vào Quy Nhơn) và ngày 8/XI/1964 (cơn bão Joan vào Tuy Hòa) kết hợp với KKL đã gây ra mưa lớn và lũ lụt lịch sử trên các lưu vực sông vùng Nam Trung Bộ Tại cầu sông Vệ vượt báo động III 2,02m
* Trận mưa lũ do ATNĐ kết hợp KKL ở Nam Trung bộ đầu tháng XII/1986
Ngày 1/XII/1986, một ATNĐ hình thành ở Nam Biển Đông, đêm 2 rạng ngày 3/XII ATNĐ đi vào bờ biển Bắc Bình Thuận, Nam Khánh Hoà kết hợp với KKL phía Bắc tăng cường đã gây ra đợt mưa to đến rất to nhiều nơi ở Nam Trung bộ
Mưa lớn, cường độ tập trung trong thời gian ngắn lượng mưa đạt 433 mm tại Ba
Tơ Do mưa lớn, lũ trên các sông đều lên rất cao, tại trạm Sông Vệ mực nước max đo được 5,56 m vượt trên báo động III 1,06m
* Đợt lũ lớn tháng XI/1987 do ATNĐ+KKL gây ra
Ngày 16/XI/1987, một ATNĐ vượt qua Philippin vào biển Đông và mạnh lên thành bão Do tác động của KKL, sáng 18/XI bão suy yếu đi thành ATNĐ và đổ bộ vào vùng biển Bình Định-Phú Yên sáng 19/XI gây mưa rất to trên diện rộng
Lượng mưa từ 7h ngày 18/XI đến 13h 19/XI tại Ba Tơ từ 550mm đến 650mm
Do mưa lớn đã gây lũ trên sông Vệ, mực nước trên sông Vệ tại Cầu sông Vệ Hmax 5,75m (trên BĐIII là 1,25m và xấp xỉ lũ lịch sử 1964)
* Năm 1996
ATNĐ ngày 3/XI/1996 ảnh hưởng từ Bình Thuận đến đồng bằng Bắc bộ và sau
đó là cơn bão số 8 ảnh hưởng từ Quảng Trị đến Phú Yên ngày 17/XI đã gây ra mưa to đến rất to trên một diện rộng và xảy ra lũ lớn từ 2 - 20/XI/1996 có mức độ thiệt hại nghiêm trọng trên toàn vùng duyên hải Miền Trung
Mực nước tại tại cầu sông Vệ trên sông Vệ đạt 5,36 m vượt BĐ III 0,86 m
Trang 37Hầu hết các sông trong vùng có lũ vượt báo động cấp III từ 0,5 – 1,0 m
+ Tiếp đó là trận mưa lũ từ ngày 1-6/XII/1999, do ảnh hưởng của KKL kết hợp với hoạt động của đới gió Đông tương đối mạnh nên hầu hết các tỉnh ven biển Trung bộ từ Thừa Thiên Huế trở vào đã có mưa to, có nơi mưa rất to lượng mưa phổ biến trên 400 - 600m Quảng Nam đến Khánh Hòa phổ biến trên 600-1000mm, có nơi trên 1000mm Tỉnh Quảng Ngãi tại Ba Tơ 1974mm, Minh Long 1803mm Cường độ mưa
ở Quảng Nam và Quảng Ngãi đều thuộc loại lớn nhất trong vòng 40 năm trở lại đây Lượng mưa 24 giờ tại Minh Long (643mm) xảy ra vào ngày 4/XII/1999
Do lượng mưa lớn và trải dài trên diện rộng, tập trung trong thời gian ngắn, nhất
là đêm mồng 3 đến sáng mồng 4/XII đã gây ra lũ lụt lớn rộng khắp và đồng thời ở các tỉnh từ Thừa Thiên Huế đến Ninh Thuận Hầu hết các sông từ Thừa Thiên Huế đến Khánh Hòa đều vượt báo động cấp III Một số sông đã vượt lũ lịch sử và một số vùng miền núi thuộc Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên đã xảy ra lũ quét
đo được tại tỉnh Quảng Ngãi: 300 - 500mm
Mực nước một số sông còn tương đương đỉnh lũ lịch sử, thậm chí vượt đỉnh lũ lịch sử như: Sông Vệ tại cầu Sông Vệ 5,37m (lúc 22h/29/IX) trên BĐ III 0,87m; thấp hơn mực nước lịch sử năm 1999: 0,62m
* Năm 2010:
Sau trận lũ lớn (12-14/XI/2010), do ảnh hưởng của không khí lạnh tăng cường mạnh kết hợp với nhiễu động trong đới gió Đông hoạt động mạnh, từ chiều 15/XI đến đêm 16/XI/2010 trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có mưa to đến rất to, lượng mưa phổ biến từ 250 mm đến 500mm Đặc biệt lượng mưa tại huyện miền núi Trà Bồng đo
Trang 38được là 982mm nên gây lũ kép lũ rất lớn
Lũ trên sông Trà Câu lúc 1 giờ 17/XI/2010 trên mức báo động III là 1 m, sông
Vệ trên mức báo động III là 0,5 m
Bảng 2.15 Tổng hợp đặc trưng lũ ngày 25 - 26/XI/2011
TT Sông Trạm
H chân (cm)
Thời gian
XH
H đỉnh (cm)
Thời gian
XH
Biên độ lũ (cm)
T.gian
lũ lên (giờ)
C.suất
lũ TB (cm/h)
C.suất
lũ lên lớn nhất (cm/h)
H đỉnh lũ
so với mức BĐ (cm)
đã có mưa to đến rất to Riêng tại tỉnh Quảng Ngãi, lượng mưa trong 3 ngày từ 17/XI, lượng mưa phổ biến 500-600mm, có những nơi đặc biệt lớn như Minh Long
15-959 mm, Ba Tơ 953 mm
Do mưa lũ lớn, các sông từ Quảng Ngãi, Bình Định và Gia Lai xuất hiện lũ đặc biệt lớn và lũ lịch sử Tại Quảng Ngãi, biên độ lũ lên ở sông Vệ tại An Chỉ 5,85 m; sông Vệ (tại trạm Sông Vệ) 4,3m Đỉnh lũ trên các sông Quảng Ngãi vượt báo động III
từ 1,5-2,5 m
Trang 39Đỉnh lũ trên sông Vệ qua các năm như sau:
Sông Vệ tại cầu Vệ là 6,03m, trên BĐ 3 là 1,53m, cao hơn đỉnh lũ năm 1999 là 4
cm
Như vậy so với lượng mưa lũ của trận lũ tháng XII/1999 thì lượng mưa lũ của trận lũ XI/2013 nhỏ hơn, tuy nhiên lại gây ra lũ lớn hơn với mực nước lũ tại hạ du sông sông Vệ đều cao hơn đỉnh lũ năm 1999
Mực nước lớn nhất tại một số vị trí trên sông thuộc Quảng Ngãi đã qua trắc được như bảng 2.15
*Trận lũ năm 2016
Trong thời gian từ ngày 01/12/2016 đến ngày 16/12/2016, do ảnh hưởng không khí lạnh tăng cường nên Vịnh Bắc Bộ có gió đông bắc mạnh cấp 6, có lúc cấp 7, giật cấp 8, sóng biển cao 2-4m, kết hợp nhiễu động gió đông trên cao nên từ Hà Tĩnh đến Bình Định từ ngày 6 đến ngày 8/12 tiếp tục có mưa, mưa vừa, riêng Thừa Thiên-Huế đến Bình Định có mưa to đến rất to Khu vực Bắc Biển Đông có gió đông bắc cấp 6-7, giật cấp 8-9, biển động mạnh
Theo Trung tâm Khí tượng thủy văn quốc gia, mực nước lúc 22h ngày 1/12/2016 trên sông Trà Khúc tại Trà Khúc là 4,67m, dưới BĐ2 0,33m; sông Vệ tại Sông Vệ là 5,15m, trên BĐ3 0,65m Đến chiều 16/12, mực nước ở sông Trà Bồng giao động trên mức báo động 1; sông Trà Khúc ở mức 7,00m, trên mức báo động 3
là 0,50m; sông Vệ là 6,00m, trên mức báo động 3 là 1,50m, thấp hơn mức lũ lịch sử năm 2013 là 0,03m và sông Trà Câu là 6,20m, trên mức báo động 3 là 0,70m Cấp độ rủi ro thiên tai cấp 2 – 3./
Trang 40Bảng 2.16 Các trận mưa lớn xuất hiện trong vùng nghiên cứu
Ngày
X3ma
x (mm)
Ngày
X1ma
x (mm)
Ngà
y
X3ma
x (mm)
Ngà
y
X1ma
x (mm)
Ngày
X3ma
x (mm)
Ngày
X1ma
x (mm)
Ngày
X3ma
x (mm)
Ngày
1 Trà Bồng 747 29/IX/2009 1012
14-16/XI/2010 372 3/XII 988,8 3-5/XII 747,4 29/IX 913,8
30/IX 233 16/XI 519,5
28- 17/XI
15-2 Trà Khúc 518 29/IX/2009 672
27-29/IX/2009 275 5/XII 547,1 3-5/XII 518,3 29/IX 672
29/IX 183 15/XI 265
27- 17/XI
15-3 Sơn Giang 677 4/XII/1999 1598 3-5/XII/1999 677 4/XII 1598,4 3-5/XII 272,5 29/IX 353
28-30/IX 506 15/XI 663
17/XI
15-4 Sơn Hà 578 3/XII/1986 924 3-5/XII/1999 380 4/XII 924 3-5/XII 404,9 29/IX 477,7
28-30/IX 476 15/XI 530
16/XI
15-5 Giá Vực 723 3/XII/1986 1228 2-4/XII/1986 354 5/XII 801,2 3-5/XII 232 29/IX 335,1
28-30/IX 446 15/XI 685,2
17/XI
15-6 An Chỉ 600 19/XI/1987 771
17-19/XI/1987 237 3/XII 597 3-5/XII 317,2 29/IX 419,1
30/IX 439 15/XI 826
28- 17/XI
15-7 Ba Tơ 640 3/XII/1999 1695 3-5/XII/1999 640 3/XII 1694,8 3-5/XII 331,6 29/IX 456,9
28-30/IX 659,8 15/XI 952,6
17/XI
15-8 Minh Long 643 4/XII/1999 1555 3-5/XII/1999 643 4/XII 1554,8 3-5/XII 521 29/IX 628
28-30/IX 582 15/XI 959
17/XI
15-9 Quảng
Ngãi 525 8/X/1967 852 9-11/XI/1964 313 5/XII 584,5 3-5/XII 524,8 29/IX 673,3
30/IX 193,1 15/XI 302.5
28- 17/XI