TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦ V I ĐẾN CƯỜNG ĐỘ CHỊU N N CỦ T NG CÓ HÀM LƯỢNG LỚN TRO BAY Tóm tắt: Bê tông là loại vật liệu được sử dụng rộng r i trong các công tr nh
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN CHÍNH
Đà Nẵng - Năm 201 8
Trang 2LỜI C M ĐO N
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ ngành kỹ thuật Xây dựng Công trình Dân dụng
& Công nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của vôi đến cường độ chịu nén của
bê tông có hàm lượng lớn tro bay” là luận văn do tôi thực hiện
Các số liệu và kết quả nêu trong luận văn là trung thực Tất cả các trích dẫn đã được ghi rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Võ Thế Hùng
Trang 3TRANG BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2
6 Cấu trúc của luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA TRO BAY VÀ VÔI TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1
1.1 Bê tông 4
1.1.1 Khái niệm, thành phần, cấu trúc và phân loại 4
1.1.2 Một số đặc tính cơ lý của bê tông 5
1.1.2.1 Khối lượng riêng của bê tông 5
1.1.2.2 Cường độ chịu nén của bê tông 5
1.1.2.3 Cường độ chịu uốn của bê tông 6
1.1.2.4 Co ngót của bê tông 7
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cường độ của bê tông 8
1.1.3.1 Thành phần và công nghệ chế tạo 8
1.1.3.2 Tuổi của bê tông 8
1.1.3.3 Ảnh hưởng của tốc độ gia tải và thời gian tác dụng của tải trọng 9
1.1.3.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ N/X đến cường độ chịu nén, chịu uốn của bê tông 9 1.2 Tổng quan về tro bay 11
1.2.1 Khái niệm về tro bay 11
1.2.2 Phân loại tro bay 12
1.2.3 Đặc trưng và thành phần hóa học của tro bay 14
1.2.4 Vai trò của tro bay đối với sự phát triển bền vững 16
1.2.5 Phản ứng pozzolan của tro bay trong bê tông 17
1.2.6 Những ưu điểm của tro bay đối với bê tông 18
Trang 41.3 Tổng quan và ứng dụng của vôi trong xây dựng 24
1.3.1 Thành phần và đặc tính của vôi 24
1.3.2 Ứng dụng của vôi trong lĩnh vực bê tông và xây dựng 25
1.3.3 Tiềm năng kết hợp giữa vôi và tro bay 25
1.4 Kết luận chương 26
CHƯƠNG 2 TIÊU CHUẨN, VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM 27
2.1 Các tiêu chuẩn sử dụng trong thí nghiệm 27
2.2 Vật liệu sử dụng trong thí nghiệm 27
2.2.1 Cốt liệu nhỏ (cát) 27
2.2.2 Cốt liệu lớn (đá) 28
2.2.3 Xi măng 30
2.2.4 Tro bay 31
2.2.4.1 Phân loại và ký hiệu tro bay 31
2.2.4.2 Yêu cầu kỹ thuật 32
2.2.5 Vôi 34
2.2.6 Nước 34
2.3 Thiết bị sử dụng cho các thí nghiệm 36
2.3.1 Ván khuôn 10x10x10 (cm) 36
2.3.2 Máy trộn bê tông 37
2.3.3 Thiết bị đầm bê tông: sử dụng thanh thép (đầm chọc), bàn vỗ (vỗ mặt) 38
2.3.4 Phòng dưỡng hộ bê tông: Bê tông sau khi tháo khuôn được đưa vào các thùng nước để dưỡng hộ 38
2.3.5 Thiết bị đo độ sụt 38
2.3.6 Máy nén bê tông: 39
2.3.7 Cân định lượng 39
2.4 Kết luận chương 40
CHƯƠNG 3 THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA VÔI ĐẾN CƯỜNG ĐỘ CHỊU NÉN CỦA BÊ TÔNG CÓ HÀM LƯỢNG LỚN TRO BAY 41
3.1 Giới thiệu chung 41
3.2 Vật liệu sử dụng trong phòng thí nghiệm 41
3.3 Thành phần cấp phối các hỗn hợp bê tông 42
3.4 Đúc mẫu và dưỡng hộ 42
3.5 Thí nghiệm xác định độ sụt 43
3.6 Thí nghiệm xác định khối lượng riêng bê tông 44
Trang 53.7.2 Công thức xác định cường độ chịu nén của bê tông 45
3.8 Kết quả và thảo luận 46
3.8.1 Ảnh hưởng của tỉ lệ vôi đến độ sụt của bê tông có hàm lượng lớn tro bay 46 3.8.2 Ảnh hưởng của vôi và hàm lượng lớn tro bay đến khối lượng riêng của
bê tông 46
3.8.3 Sự ảnh hưởng của vôi đến cường độ chịu nén của bê tông có hàm lượng lớn tro bay 47
3.9 Kết luận chương 49
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 50
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 51 QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI LUẬN VĂN THẠC SĨ (BẢN SAO)
BẢN SAO KẾT LUẬN CỦA HỘI ĐỒNG, BẢN SAO NHẬN XÉT CỦA CÁC PHẢN BIỆN
Trang 6TRANG TÓM TẮT LUẬN VĂN
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦ V I ĐẾN CƯỜNG ĐỘ CHỊU N N CỦ
T NG CÓ HÀM LƯỢNG LỚN TRO BAY
Tóm tắt: Bê tông là loại vật liệu được sử dụng rộng r i trong các công tr nh xây dựng
trên thế giới Các tính chất cơ lý của bê tông phụ thuộc chủ yếu vào thành phần cấp phối, loại vật liệu sử dụng, hàm lượng xi măng, hàm lượng nước Tuy nhiên, nguyên liệu sản xuất hầu hết đến t tự nhiên như cát đá, đất sét, đá vôi đang dần cạn kiệt trong khi việc sản xuất
xi măng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường do thải ra lượng lớn CO2 V vậy việc nghiên cứu các loại vật liệu thay thế một phần xi măng là hết sức cần thiết
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của vôi đến cường độ chịu nén của bê tông có hàm lương lớn tro bay loại F t nhà máy nhiệt điện Duyên Hải Thành phần cấp phối là chất kết dính (xi măng + tro bay+ vôi): cát: đá: nước=1:2:3:0.5 trong đó 40% tro bay trên tổng khối lượng chất kết dính được sử dụng và giữ không đổi trong khi phần xi măng còn lại được thay thế bởi vôi với các tỉ lệ là 0%, 5%, 10%, 20% và 25% Cường độ chịu nén được xác định trên mẫu thử 100x100x100mm và xác định đến 90 ngày Các mẫu thử sau khi đúc xong được dưỡng hộ trong nước
Kết quả thí nghiệm chỉ ra rằng nằm trong giới hạn nghiên cứu của đề tài, tro bay góp phần tăng độ sụt trong khi vôi làm giảm độ sụt của bê tông ướt 40% tro bay thay thế xi măng làm giảm cường độ chịu nén so với mẫu không có tro bay tại các thời điểm 28 ngày, 56 ngày
và 90 ngày, điều này phù hợp với các nghiên cứu trước đó Một cách tổng quát, tro bay và vôi không ảnh hưởng nhiều đến khối lượng riêng của bê tông Khi 5% và 10% vôi được dùng để thay thế xi măng th cường độ chịu nén giảm tại thời điểm 28 ngày, nhưng tăng lớn hơn mẫu đối chứng với 40% tro bay và không có vôi Khi 20% và 25% vôi được dùng để thay thế xi măng th cường độ chịu nén giảm tại các thời điểm so mẫu đối chứng với 40% tro bay và không có vôi Nằm trong giới hạn của đề tài, tác giả đề xuất sử dụng 5% đến 10% vôi trong
bê tông có hàm lượng 40% tro bay Những nghiên cứu sâu hơn về các tỉ lệ tro bay và vôi khác nhau cần được thực hiện
Từ khóa: bê tông, cường độ chịu nén, tro bay, xi măng, vôi, độ sụt động, khối lượng riêng
STUDY THE EFFECTS OF LIME ON COMPRESSIVE STRENGTH OF CONCRETE
WITH HIGH FLY ASH CONTENT Abstract: Concrete is widely used as construction building materials in the world The
mechanical and physical properties of concrete depend upon the mix proportions, type of cement, type of aggregates, cement content, water content, etc Sand, coarse aggregates come from the natures which will not enough for construction industry in the future while cement production causes pollution and other environment problems including CO2 emmission
Trang 7Therefore, it is really necessary to conduct the research to find out the alternative materials to replace partly orginal portland cement (OPC) in the concrete mix
The project studied the effect of lime on the compressive strength of high volume class F fly ash from Duyen Hai power station The mix composition was cementitious material (OPC+ fly ash+ lime): sand: coarse aggregate: water of 1:2:3: 0.5 in which 40% by mass of total cementitious materials of class F fly ash was used to replace OPC and kept constantly during project and lime was used to replace the remaining OPC at the replacement portion of 0%, 5%, 10%, 20% and 25% The compressive strength tests were conducted on the sample dimensions
of 100x100x100 mm and determined up to 90 days All samples were cured in the water
The test results show that within the range of investigation, the fly ash improves the workability of fresh concrete, but lime reduces the workability of fresh concrete High volume fly ash (40%) reduced the compressive strength in compared with the control sample without fly ash at 28, 56 and 90 days as the same as previous research In general the fly ash and lime do not affect much on the density of hardend concrete When 5% and 10% of lime was used to replace OPC, the compressive strength reduces at 28 days, but increases at 56, 90 days in compared with the corresponding control samples with 40% fly ash and no lime When 20% and 25% of lime was used to replace OPC, the compressive strengths reduce at all ages in compared with the corresponding control samples with 40% fly ash and no lime Within the range of investigation the authors recommend to use 5% to 10% for replacement of OPC Futher works should be done all varied proportions of fly ash and lime
Keywords: concrete, compressive strength, fly ash, cement, lime, workability, density
Trang 8D NH MỤC CÁC ẢNG
Số
1.3 Thành phần hóa học của tro bay theo vùng miền 14
2.7 So sánh chỉ tiêu chất lượng của Xi măng Vicem PCB40 với TCVN
2.8 Chỉ tiêu chất lượng tro bay dùng cho bê tông và vữa xây 32 2.9 Chỉ tiêu chất lượng tro bay nhiệt điện Duyên Hải đ được thí
2.10 Hàm lượng tối đa cho phép của muối hòa tan, ion sunfat, ion clorua
2.11
Hàm lượng tối đa cho phép của muối hòa tan, ion sunfat, ion clorua
và cặn không tan trong nước dùng để rửa cốt liệu và bảo dưỡng bê
Trang 9D NH MỤC CÁC HÌNH
Số
1.4 Sự phụ thuộc của cường độ bê tông vào lượng nước nhào trộn 10
1.7 Cấu trúc mặt cắt ngang của các hạt tro bay ở độ phóng đại 750
1.8 Phản ứng Pozzolan của tro bay trong bê tông 17
3.4 Khối lượng riêng sau khi tháo mẫu (AR) và khối lượng riêng
b o hòa nước sau khi ngâm nước 28 ngày (SAT) 47 3.5 Biểu đồ cường độ chịu nén theo thời gian 48
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, bê tông vẫn là loại vật liệu phổ biến cho các công trình t thấp tầng đến cao tầng trên toàn thế giới Tuy nhiên, nguyên liệu sản xuất hầu hết đến t tự nhiên như cát, đất sét, đá vôi, đang dần cạn kiệt, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sống như khí thải CO2 t sản xuất xi măng gây hiệu ứng nhà kính, mất đất nông nghiệp trong sản xuất gạch, khai thác cát ảnh hưởng dòng chảy gây sạt lở bờ sông đòi hỏi có những nghiên cứu tối ưu nâng cao cường độ hỗn hợp bê tông nhằm mang lại hiệu quả tối đa, giảm hao tổn kinh tế và tài nguyên sử dụng
Hỗn hợp bê tông bao gồm các thành phần: Cốt liệu và chất kết dính Chất kết dính bao gồm: Xi măng + nước, phụ gia Như vậy, với hầu hết bê tông hiện đang sử dụng thì thành phần cơ bản là cốt liệu, xi măng, nước và phụ gia Cường độ của cốt liệu là cố định, được quy định bởi sự hình thành của tự nhiên, như vậy cường độ bê tông sẽ phụ thuộc vào hàm lượng xi măng, nước và phụ gia, chất kết dính Tính năng
cơ lý của hỗn hợp bê tông cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp t chất kết dính và các lỗ rỗng giữa các cốt liệu liên kết với nhau [1]
Tro bay (tên tiếng Anh là fly ash), phần mịn nhất của tro xỉ than Gọi là tro bay
v người ta dùng các luồng khí để phân loại tro: Khi thổi một luồng khi nhất định thì hạt to sẽ rơi xuống trước và hạt nhỏ sẽ bay xa, hạt nhỏ bay xa gọi là tro bay [2 Ở một số nước, tùy vào mục đích sử dụng mà người phân loại tro bay theo các loại khác nhau Theo tiêu chuẩn DBJ08- 230-98 của thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, tro bay được phân làm hai loại là tro bay có hàm lượng canxi thấp và tro bay có hàm lượng canxi cao Tro bay có chứa hàm lượng canxi 8% hoặc cao hơn (hoặc CaO tự do trên 1%) là loại tro bay có hàm lượng canxi cao Do đó, CaO trong tro bay hoặc CaO
tự do được sử dụng để phân biệt tro bay có hàm lượng canxi cao với tro bay hàm lượng canxi thấp Theo cách phân biệt này th tro bay có hàm lượng canxi cao có màu hơi vàng trong khi đó tro bay có hàm lượng canxi thấp có màu hơi xám [3]
Vôi đ được sử dụng trong xây dựng t nhiều thế kỷ trước, là vậy liệu xây dựng chủ yếu của các công trình La M , cho đến khi xi măng xuất hiện vào thế kỉ thứ 19 thì việc sự dụng vôi trở nên hạn chế nhưng vẫn là nguồn chất kết dính thay thế một phần
xi măng trong bê tông Nhằm xem xét sự làm việc của bê tông có sự kết hợp của vôi với xi măng pooc lăng và hàm lượng lớn tro bay, tác giả làm đề tài nghiên cứu:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của vôi đến cường độ chịu nén của bê tông có hàm lượng lớn tro bay”
Trang 112 Mục tiêu của đề tài
- Đề xuất thành phần cấp phối có cường độ chịu nén lớn nhất
- Đề xuất, kiến nghị áp dụng trong thực tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đánh giá các kết quả và công trình nghiên cứu trước về cường độ chịu nén của
bê tông có hàm lượng lớn tro bay, cũng như ảnh hưởng của vôi đối với cường độ chịu nén của bê tông
- Các loại vật liệu: Vôi trên địa bàn thành phố Nha Trang, cát tại bãi cát Diên Lâm (huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa), đá tại mỏ đá Hòn Ngang (huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa), xi măng Vicem PCB40, tro bay Nhà máy Nhiệt điện Duyên
Hải tại xã Dân Thành, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh
- Thí nghiệm đánh giá ảnh hưởng của vôi đến cường độ chịu nén của bê tông có hàm lượng lớn tro bay đến 90 ngày
4 Phương pháp nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan về bê tông và các đặc tính của nó, cũng như ứng dụng của tro bay, vôi trong lĩnh vực xây dựng
- Thí nghiệm xác định cường độ chịu nén của bê tông có hàm lượng tro bay lớn (40% tổng khối lượng bột) và thay thế xi măng bằng vôi với tỉ lệ lần lượt là 5%, 10%, 20% và 25%; xác định cường độ chịu nén của bê tông thông qua các kết quả nén mẫu
bê tông vào 1 ngày tuổi, 7 ngày tuổi, 28 ngày tuổi, 56 ngày tuổi và đến 90 ngày tuổi
- Phân tích và thảo luận các kết quả thí nghiệm
- Đánh giá sự ảnh hưởng của vôi đến khả năng chịu nén của bê tông có hàm lượng lớn tro bay
5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Trên cơ sở các nghiên cứu và thí nghiệm tại phòng thí nghiệm đề xuất tính thực tiễn của đề tài như: đề xuất tro bay thay thế một phần xi măng nếu nó góp phần làm tăng cường độ bê tông, vôi có góp phần tăng hay giảm cường độ bê tông,
Trang 126 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo trong luận văn gồm có các chương như sau:
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA TRO BAY VÀ VÔI TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG
CHƯƠNG 2 TIÊU CHUẨN, VẬT LIỆU VÀ THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM
CHƯƠNG 3 THÍ NGHIỆM XÁC ĐỊNH ẢNH HƯỞNG CỦA VÔI ĐẾN CƯỜNG ĐỘ CHỊU NÉN CỦA BÊ TÔNG CÓ HÀM LƯỢNG LỚN TRO BAY
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ PHẠM VI ỨNG DỤNG CỦA TRO BAY VÀ
VÔI TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG 1.1 Bê tông
1.1.1 Khái niệm, thành phần, cấu trúc và phân loại
Bê tông là một loại vật liệu nhân tạo được chế tạo t các vật liệu rời (cát, đá, sỏi)
và chất kết dính (thường là xi măng), nước và có thể thêm phụ gia Vật liệu rời còn gọi
là cốt liệu, cốt liệu có 2 loại bé và lớn Loại bé là cát có kích thước (1-5)mm, loại lớn
là sỏi hoặc đá dăm có kích thước (5-40)mm Chất kết dính là xi măng trộn với nước hoặc các chất dẻo khác[4] Phụ gia nhằm cải thiện một số tính chất của bê tông trong lúc thi công cũng như trong quá tr nh sử dụng Có nhiều loại phụ gia như phụ gia nâng cao độ dẻo của hỗn hợp bê tông, tăng nhanh hoặc kéo dài thời gian đông kết của bê tông, nâng cao cường độ của bê tông trong thời gian đầu, chống thấm [4]
Nguyên lý tạo nên bê tông là dùng các cốt liệu lớn làm thành bộ khung, cốt liệu nhỏ lấp đầy các khoảng trống và dùng xi măng làm chất kết dính liên kết chúng lại thành một thể đặc chắc có khả năng chịu lực và chống lại các biến dạng [3]
Bê tông có cấu trúc không đồng nhất v h nh dáng, kích thước cốt liệu khác nhau,
sự phân bố của cốt liệu và chất kết dính không thật đồng đều, trong bê tông vẫn còn lại một ít nước th a và những lỗ rỗng li ti (do nước th a bốc hơi)
Quá trình khô cứng của bê tông là quá trình thủy hóa của xi măng, quá tr nh thay đổi lượng nước cân bằng, sự giảm keo nhớt, sự tăng mạng tinh thể của đá xi măng Các quá trình này làm cho bê tông trở thành vật liệu v a có tính đàn hồi v a có tính dẻo[5]
- Theo dạng chất kết dính bê tông được phân làm các loại sau [5]:
+ Bê tông xi măng, bê tông silicat (chất kết dính là vôi), bê tông thạch cao, bê tông chất kết dính hỗn hợp, bêtông polime, bê tông dùng chất kết dính đặc biệt
+ Do khối lượng thể tích của bê tông biến đổi trong phạm vi rộng nên độ rỗng của chúng cũng thay đổi đáng kể, như bê tông tổ ong dùng để cách nhiệt có r = 70 - 85%, bê tông thủy công r = 8 - 10%
- Theo công dụng bê tông được phân làm các loại sau [5]:
+ Bê tông thường dùng trong các kết cấu bê tông cốt thép (móng, cột, dầm, sàn) + Bê tông thủy công, dùng để xây đập, âu thuyền, phủ lớp mái kênh, các công trình dẫn nước
+ Bê tông dùng cho mặt đường, sân bay, lát vỉa hè
+ Bê tông dùng cho kết cấu bao che (thường là bê tông nhẹ)
Trang 14+ Bê tông có công dụng đặc biệt như bê tông chịu nhiệt, chịu axit, bê tông chống phóng xạ
- Theo dạng cốt liệu bê tông được chia thành bê tông cốt liệu đặc, bê tông cốt liệu rỗng, bê tông cốt liệu đặc biệt (chống phóng xạ, chịu nhiệt, chịu axit)
- Theo khối lượng thể tích bê tông được phân loại như sau [5]:
+ Bê tông đặc biệt nặng (γ > 2500kg/m3), chế tạo t cốt liệu đặc biệt, dùng cho những kết cấu đặc biệt
+ Bê tông nặng (γ = 2200 - 2500 kg/m3), chế tạo t cát, đá, sỏi thông thường dùng cho kết cấu chịu lực
+ Bê tông tương đối nặng (γ = 1800 - 2200 kg/m3), dùng chủ yếu cho kết cấu chịu lực
+ Bê tông nhẹ (γ = 500 - 1800 kg/m3), trong đó gồm có bê tông nhẹ cốt liệu rỗng (nhân tạo hay thiên nhiên), bê tông tổ ong (bê tông khí và bê tông bọt), chế tạo t hỗn hợp chất kết dính, nước, cấu tử silic nghiền mịn và chất tạo rỗng, và bê tông hốc lớn (không có cốt liệu nhỏ)
+ Bê tông đặc biệt nhẹ cũng là loại bê tông tổ ong và bê tông cốt liệu rỗng nhưng
có γ < 500 kg/m3
1.1.2 Một số đặc tính cơ lý của bê tông
1.1.2.1 Khối lượng riêng của bê tông
Khối lượng riêng, còn được gọi là mật độ khối lượng, là một đặc tính về mật
độ khối lượng trên một đơn vị thể tích của vật chất đó, là đại lượng đo bằng thương
số giữa khối lượng (m) của một vật làm bằng chất ấy (nguyên chất) và thể tích (V) của vật Khối lượng riêng bê tông thường dùng đơn vị là tấn/m3 hoặc kg/m3 [6]
Khối lượng riêng bê tông được chia theo các loại như sau: bê tông nặng (γ =
2200 ÷ 2500 kG/m3); bê tông nặng cốt liệu bé (γ = 1800 † 2200 kG/m3); bê tông nhẹ (γ < 1800 kG/m3); bê tông đặc biệt nặng (γ > 2500 kG/m3) [7]
1.1.2.2 Cường độ chịu nén của bê tông
Cường độ của bê tông là chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng chịu lực của vật liệu Cường độ của bê tông phụ thuộc vào thành phần và cấu trúc của nó, môi trường dưỡng hộ
Cường đô chịu nén của bê tông là khả năng chịu ứng suất nén của mẫu bê tông Mẫu có thể chế tạo bằng các cách khác nhau: lấy hỗn hợp bê tông đ được nhào trộn
để đúc mẫu hoặc dùng thiết bị chuyên dùng khoan lấy mẫu t kết cấu có sẵn Mẫu để
đo cường độ có kích thước 150x150x150(mm), được thực hiện theo điều kiện tiêu
Trang 15chuẩn trong thời gian 28 ngày
Bê tông thông thường có R = 5 ÷ 30 MPa Bê tông có R > 40MPa là loại cường
độ cao Hiện nay, người ta đ chế tạo được các loại bê tông đặc biệt có R ≥ 80MPa Khi bị nén, ngoài biến dạng co ngắn theo phương tác dụng của lực, bê tông còn
bị nở ngang Thông thường chính sự nở ngang quá mức làm cho bê tông bị nứt và bị phá vỡ Nếu hạn chế được mức độ nở ngang của bê tông có thể làm tăng khả năng chịu nén của nó Trong thí nghiệm nếu không bôi trơn mặt tiếp xúc giữa mẫu thử và bàn máy nén thì tại đó sẽ xuất hiện lực ma sát có tác dụng cản trở sự nở ngang, kết quả mẫu bị phá hoại theo h nh tháp đối đỉnh như trên h nh 1.1b Nếu bôi trơn mặt tiếp xúc
để bê tông tự do nở ngang thì khi biến dạng ngang quá mức trong mẫu sẽ xuất hiện các vết nứt dọc và sự phá hoại xảy ra như trên h nh 1.1c Cường độ của mẫu được bôi trơn thấp hơn cường độ của mẫu khối vuông có ma sát [7] V ma sát làm cản trở biến dạng ngang mà với mẫu khối vuông khi tăng cạnh a th R giảm và cường độ của mẫu h nh trụ thấp hơn cường độ của mẫu khối vuông
a) b) c)
1 – mẫu; 3 – ma sát; 5 – h nh tháp phá hoại
2 – bàn máy nén; 4 – bê tông bị ép vụn; 6 – vết nứt dọc trong mẫu
Hình 1.1 Sự phá hoại mẫu thử khối vuông 1.1.2.3 Cường độ chịu uốn của bê tông
Cường độ chịu uốn một thông số đo cường độ chịu kéo của bê tông Nó được đo trên cơ sở uốn dầm bê tông
Thông thường cường độ chịu uốn bằng khoảng 10-20% cường độ chịu nén của
bê tông, tùy thuộc vào kích thước, hình dạng của các loại cốt liệu Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ giữa cường độ chịu uốn và cường độ chịu nén của bê tông một cách chính xác nhất là thông qua việc thực hiện thí nghiệm mẫu
Trang 161.1.2.4 Co ngót của bê tông
Co ngót là hiện tượng bê tông giảm thể tích khi khô cứng trong không khí Hiện tượng co ngót liên quan đến quá trình thủy hóa xi măng, đến sự bốc hơi lượng hơi nước th a khi bê tông khô cứng Co ngót xảy ra chủ yếu trong giai đoạn khô cứng đầu tiên của bê tông Trong điều kiện b nh thường, sau vài năm th biến dạng tỉ đối do co ngót có thể đạt đến (3÷5)10-4 Độ co ngót phát triển mạnh trong thời kỳ đầu và giảm dần theo thời gian sau đó tắt hẳn [7]
Co ngót của bê tông có mấy dạng cơ bản sau:
- Hiện tượng tự co (Autogenous shrinkage): xảy ra do quá trình hydrat hóa của xi măng
- Co khô (Drying shrinkage): xảy ra do sự thiếu hụt độ ẩm trong bê tông trong quá trình bê tông cứng hóa
- Co ngót do quá trình cácbônát (Carbonation shrinkage): xảy ra do một vài sản phẩm của quá trình hydrat hóa tác dụng với CO2
Bê tông bị co ngót do nhiều nguyên nhân, trước hết là sự mất nước trong các gel
đá xi măng Khi mất nước các mầm tinh thể xích lại gần nhau và đồng thời các gel cùng dịch chuyển làm cho bê tông bị co Quá tr nh cacbonat hóa hyđrôxi can xi trong
đá xi măng cũng là nguyên nhân gây ra co ngót, co ngót còn là hậu quả của việc giảm thể tích tuyệt đối của hệ xi măng - nước Ngoài ra độ co ngót còn phụ thuộc vào chế độ bảo dưỡng Khi bảo dưỡng nhiệt ẩm độ co ngót xảy ra mạnh và nhanh chóng hơn trong điều kiện thường nhưng trị số cuối cùng lại nhỏ hơn 10 - 15% Nhiệt độ chưng hấp càng cao, độ co ngót cuối cùng càng nhỏ [1]
Sự co của mạng tinh thể bị cốt liệu cản trở gây ra ứng suất kéo ban đầu trong đá
xi măng Sự co không đều trong khối bê tông hoặc co ngót bị ngăn trở làm phát sinh ứng suất kéo và có thể làm bê tông bị nứt Bê tông bị nứt làm giảm cường độ, độ chống thấm trong môi trường xâm thực.Vì vậy đối với những kết cấu bê tông có chiều dài và diện tích lớn, để tránh nứt người ta phân đoạn để tạo thành các khe co giãn [1]
Để giảm co ngót cần chọn thành phần thích hợp, hạn chế lượng nước trộn, đầm chặt bê tông, giữ cho bê tông thường xuyên ẩm trong giai đoạn đầu (dưỡng hộ) Để khắc phục ảnh hưởng xấu của co ngót cần dùng những biện pháp cấu tạo thích hợp, đặt cốt thép ở những nơi cần thiết, làm các khe co giãn trong kết cấu và tạo mạch ng ng khi thi công [5]
Trị số co ngót phụ thuộc vào lượng, loại xi măng, lượng nước, tỷ lệ cát trong hỗn hợp cốt liệu và chế độ bảo dưỡng Độ co ngót trong đá xi măng lớn hơn trong hỗn hợp
và bê tông (xem Hình 1.2)
Trang 171- Của đá xi măng;
2- Của vữa;
Hình 1.2 Độ co ngót của bê tông
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cường độ của bê tông
- Chất lượng của việc nhào trộn, đổ, đầm và điều kiện bảo dưỡng BT
Nói chung các nhân tố trên ảnh hưởng quyết định đến R, Rt nhưng mức độ có khác nhau Ví dụ tỷ lệ nước trên ximăng N/XM có ảnh hưởng rất lớn đến R và có phần
ít hơn đối với Rt; độ sạch cốt liệu ảnh hưởng lớn đến R và rất lớn đối với Rt cũng như khả năng chịu cắt của bê tông
1.1.3.2 Tuổi của bê tông
Tuổi là thời gian t (ngày) tính t lúc chế tạo bê tông đến khi nó chịu lực Cường
độ của bê tông tăng theo thời gian Thời gian đầu cường độ tăng nhanh, sau chậm dần Với bê tông dùng xi măng pooc lăng chế tạo và bảo dưỡng trong điều kiện bình thường, cường độ tăng nhanh trong 28 ngày đầu
Để biểu diễn sự tăng của R theo t có thể dùng một số công thức thực nghiệm Công thức của B.G XKramtaep (1935)theo qui luật logarit, với t = 7÷300 ngày:
Trang 18Hình 1.3 Sự phá hoại mẫu thử khối vuông
Trong môi trường thuận lợi (nhiệt độ dương, độ ẩm cao) sự tăng cường độ có thể kéo dài trong nhiều năm Còn trong điều kiện khô hanh hoặc nhiệt độ thấp sự tăng cường độ trong thời gian sau này là không đáng kể
Dùng hơi nước nóng để bảo dưỡng bê tông làm cho cường độ tăng rất nhanh trong vài ngày đầu, nhưng sẽ làm cho bê tông trở nên dòn hơn và có cường độ cuối cùng thấp hơn so với bê tông được bảo dưỡng theo điều kiện tiêu chuẩn
1.1.3.3 Ảnh hưởng của tốc độ gia tải và thời gian tác dụng của tải trọng
Tốc độ gia tải khi thí nghiệm cũng ảnh hưởng đến cường độ của mẫu Tốc độ gia tải qui định bằng 2kg/cm2/giây và cường độ đạt được là R Khi gia tải rất chậm, cường
độ bê tông chỉ đạt khoảng (0,85-0.90)R Khi gia tải nhanh, cường độ bê tông có thể đạt (1,15-1,20)R
1.1.3.4 Ảnh hưởng của tỉ lệ N/X đến cường độ chịu nén, chịu uốn của bê tông
Đá xi măng (mác xi măng và tỷ lệ X/N ) có ảnh hưởng lớn đến cường độ của bê tông Sự phụ thuộc của cường độ bê tông vào tỷ lệ X/N thực chất là phụ thuộc vào thể tích rỗng tạo ra do lượng nước dư th a Hình 1.4 biểu thị mối quan hệ giữa cường
độ bê tông và lượng nước nhào trộn
Trang 19- : Lượng nước liên kết hóa học tính bằng % khối lượng xi măng Ở tuổi 28 ngày lượng nước liên kết hóa học khoảng 15 - 20%
a-Vùng hỗn hợp bê tông cứng không đầm chặt được; b-Vùng hỗn hợp bê tông có cường độ và độ đặc cao; c-Vùng hỗn hợp bê tông dẻo; d-Vùng hỗn hợp bê tông chảy
Hình 1.4 Sự phụ thuộc của cường độ bê tông vào lượng nước nhào trộn
Mối quan hệ giữa cường độ bê tông với mác xi măng, tỷ lệ X/N được biểu thị qua công thức Bolomey-Skramtaev sau:
Đối với bê tông có X/N = 1,4 2,5 thì: Rb = A Rx ( – 0,5)
Đối với bê tông có X/N > 2,5 th : Rb = A1 Rx ( + 0,5)
Trang 20măng poóc lăng hỗn hợp chứa 10
lăng hỗn hợp chứa trên 15% phụ gia thuỷ
- Cốt liệu: Đá có 1chỉ tiêu chưa phù hợp
TCVN 1771:1987 Cát nhỏ Mdl<2
1.2 Tổng quan về tro bay
1.2.1 Khái niệm về tro bay
Tro bay là phế thải sinh ra khi đốt các nguyên liệu hóa thạch như than đá, than nâu Trong các nhà máy nhiệt điện nơi sử dụng lượng lớn nhiên liệu hóa thạch để sản xuất điện năng th ngoài lượng tro xỉ nằm lại dưới lò những hạt tro rất nhỏ được cuốn theo các luồn khí trong các ống khói của nhà máy thải ra bên ngoài
Trang 21Hình 1.5 Sơ đồ nguyên lý tuyển nổi tro bay
Hình 1.6 Tro bay
1.2.2 Phân loại tro bay
Trước đây ở châu Âu cũng như ở Vương quốc Anh phần tro này thường được cho là tro của nhiên liệu đốt đ được nghiền mịn Nhưng ở Mỹ, loại tro này được gọi
là tro bay bởi vì nó thoát ra cùng với khí ống khói và “bay” vào trong không khí Và thuật ngữ tro bay (fly ash) được dùng phổ biến trên thế giới hiện nay để chỉ phần thải
rắn thoát ra cùng các khí ống khói ở các nhà máy nhiệt điện
Ở một số nước, tùy vào mục đích sử dụng mà người ta phân loại tro bay theo các loại khác nhau Theo tiêu chuẩn DBJ08-230-98 của thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, tro bay được phân làm hai loại [3] là tro bay có hàm lượng canxi thấp và tro bay
có hàm lượng canxi cao Tro bay có chứa hàm lượng canxi 8% hoặc cao hơn (hoặc CaO tự do trên 1%) là loại tro bay có hàm lượng canxi cao Do đó, CaO trong tro bay
Trang 22hoặc CaO tự do được sử dụng để phân biệt tro bay có hàm lượng canxi cao với tro bay hàm lượng canxi thấp Theo cách phân biệt này th tro bay có hàm lượng canxi cao có
màu hơi vàng trong khi đó tro bay có hàm lượng canxi thấp có màu hơi xám
Theo cách phân loại của Canada, tro bay được chia làm ba loại [8]:
Loại F: Hàm lượng CaO ít hơn 8%
Loại CI: Hàm lượng CaO lớn hơn 8% nhưng ít hơn 20%
Loại C: Hàm lượng CaO lớn hơn 20%
Trên thế giới hiện nay, thường phân loại tro bay theo tiêu chuẩn ASTM C618 Theo cách phân loại này thì phụ thuộc vào thành phần các hợp chất mà tro bay được phân làm hai loại là loại C và loại F [9]
Bảng 1.2 Tiêu chuẩn tro bay theo ASTM C618
Các yêu cầu theo tiêu chuẩn
Tro bay là loại F nếu tổng hàm lượng (SiO2+Al2O3+Fe2O3) lớn hơn 70%
Trang 23Tro bay là loại C nếu tổng hàm lượng (SiO2+Al2O3+Fe2O3) nhỏ hơn70%
1.2.3 Đặc trưng và thành phần hóa học của tro bay
1.2.3.1 Thành phần hóa học trong tro bay
Tro của các nhà máy nhiệt điện gồm chủ yếu các sản phẩm tạo thành t quá trình phân hủy và biến đổi của các chất khoáng có trong than đá Thông thường, tro ở đáy lò chiếm khoảng 25% và tro bay chiếm khoảng 75% tổng lượng tro thải ra Hầu hết các loại tro bay đều là các hợp chất silicat bao gồm các oxit kim loại như SiO2, Al2O3,
Fe2O3, TiO2, MgO, CaO, với hàm lượng than chưa cháy chỉ chiếm một phần nhỏ so với tổng hàm lượng tro, ngoài ra còn có một số kim loại nặng như Cd, Ba, Pb, Cu, Zn, Thành phần hóa học của tro bay phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu than đá sử dụng để đốt và điều kiện đốt cháy trong các nhà máy nhiệt điện
Bảng 1.3 Thành phần hóa học của tro bay theo vùng miền [10]
Thành
phần
Khoảng (% khối lượng) Châu Âu Mỹ Trung Quốc Ấn Độ Australia SiO2 28,5-59,7 37,8-58,5 35,6-57,2 50,2-59,7 48,8-66,0 Al2O3 12,5-35,6 19,1-28,6 18,8-55,0 14,0-32,4 17,0-27,8 Fe2O3 2,6-21,2 6,8-25,5 2,3-19,3 2,7-14,4 1,1-13,9 CaO 0,5-28,9 1,4-22,4 1,1-7,0 0,6-2,6 2,9-5,3 MgO 0,6-3,8 0,7-4,8 0,7-4,8 0,1-2,1 0,3-2,0 Na2O 0,1-1,9 0,3-1,8 0,6-1,3 0,5-1,2 0,2-1,3 K2O 0,4-4,0 0,9-2,6 0,8-0,9 0,8-4,7 1,1-2,9 P2O5 0,1-1,7 0,1-0,3 1,1-1,5 0,1-0,6 0,2-3,9 TiO2 0,5-2,6 1,1-1,6 0,2-0,7 1,0-2,7 1,3-3,7
Trang 24với hai nguồn nguyên liệu sử dụng trong các nhà máy nhiệt điện của nước này là than
nâu và than đen [11]:
Kết quả trên cho thấy,thành phần của các loại tro bay có được sau quá tr nh đốt cháy than đen (ZS-14 và ZS-17) và mẫu tro bay có được sau quá tr nh đốt cháy than nâu (ZS-16) là các nhôm silicat Còn mẫu tro bay có được sau quá trình đốt cháy than
nâu (ZS-13) là loại canxi silicat
Các thí nghiệm khảo sát thành phần hóa học trong các mẫu tro bay ở các nước khác cũng đ được tiến hành và thu được các kết quả tương tự Đa số các mẫu tro bay
ở Trung Quốc có thành phần chủ yếu là SiO2 và Al2O3, hàm lượng của chúng vào khoảng 650 g/kg đến 850 g/kg Các thành phần khác bao gồm lượng than chưa cháy, Fe2O3, MgO và CaO Tro bay Trung Quốc chứa hàm lượng than chưa cháy cao là do
hệ thống lò đốt ở các nhà máy nhiệt điện ở Trung Quốc Theo tiêu chuẩn phân loại ASTM C 618 thì tro bay Trung Quốc thuộc loại C hay tro bay có chất lượng thấp
Điều này ảnh hưởng lớn đến các ứng dụng của tro bay ở Trung Quốc [12]
1.2.3.2 Các nguyên tố vi lượng trong tro bay
Quá tr nh đốt cháy than đá là một trong những nguyên nhân chính làm ô nhiễm không khí và phát tán các kim loại các nguyên tố vi lượng độc hại Hiểu được sự thay đổi của các nguyên tố vi lượng trong quá tr nh đốt than đá cũng như hàm lượng của nó
có trong tro bay tạo thành là điều rất quan trọng trong vấn đề đánh giá tác động môi trường của các nhà máy nhiệt điện cũng như các ứng dụng tro bay Hàm lượng các nguyên tố vi lượng trong tro bay phụ thuộc chủ yếu vào hàm lượng của chúng có trong
nguyên liệu ban đầu
Dựa trên kết quả nghiên cứu các mẫu tro bay thu được t 7 nhà máy nhiệt điện khác nhau ở Canada, các nhà nghiên cứu nước này đ cho biết hàm lượng của các kim loại nặng như As, Cd, Hg, Mo, Ni hay Pb trong tro bay có liên quan với hàm lượng lưu huỳnh có trong nguyên liệu than đá ban đầu Thông thường, các loại than đá có hàm lượng lưu huỳnh cao sẽ có hàm lượng các nguyên tố này cao Tro bay ở Canada được thu hồi bằng phương pháp kết lắng tĩnh điện hoặc phương pháp lọc túi Kết quả cho thấy hàm lượng các nguyên tố trên trong các loại tro bay thu được t phương pháp lọc túi cao hơn so với các mẫu tro bay thu được bằng phương pháp kết lắng tĩnh điện trong
cùng một nhà máy [9]
Hầu hết các hạt tro bay đều có dạng hình cầu với các kích thước hạt khác nhau, các hạt có kích thước lớn thường ở dạng bọc và có hình dạng rất khác nhau Các hạt tro bay được chia ra làm hai dạng: dạng đặc và dạng rỗng Thông thường, các hạt tro bay hình cầu, rắn được gọi là các hạt đặc và các hạt tro bay hình cầu mà bên trong rỗng có tỷ trọng thấp hơn 1,0 g/cm3 được gọi là các hạt rỗng Một trong các dạng thường thấy ở tro bay
Trang 25thường được tạo nên bởi các hợp chất có dạng tinh thể như thạch anh, mulit và hematit, các hợp chất có dạng thủy tinh như thủy tinh oxit silic và các oxit khác [13]
Hình 1.7 Cấu trúc mặt cắt ngang của các hạt tro bay ở độ phóng đại 750 lần
Các hạt tro bay đặc có khối lượng riêng trong khoảng 2,0 - 2,5 g/cm3có thể cải thiện các tính chất khác nhau của vật liệu nền như độ cứng và độ bền xé Các hạt tro bay rỗng có thể được sử dụng trong tổng hợp vật liệu compozit siêu nhẹ do khối lượng riêng rất nhỏ của chúng, chỉ khoảng 0,4-0,7 g/cm3, trong khi các chất nền kim loại khác
có khối lượng riêng trong khoảng t 1,6-11,0 g/cm3 Cả hai loại hạt này thường thấy có lớp vỏ không hoàn chỉnh (bị rỗ)
1.2.4 Vai trò của tro bay đối với sự phát triển bền vững
- Những tác động của môi trường khi sử dụng bê tông, vật liệu thông dụng cho các công tr nh xây dựng trên thế giới là rất lớn và đang được thảo luận rất sôi nổi tại các diễn đàn hội thảo, đòi hỏi những nghiên cứu về vật liệu thay thế cho xi măng Tro bay là sản phẩm thải t các nhà máy nhiệt điện đóng vai trò quan trọng trong cuộc thảo luận về vật liệu thay thế xi măng này suốt nhiều năm qua và có thể xem là vật liệu tiềm năng thay thế một phần xi măng trong công nghiệp xây dựng khi được sử dụng một cách hợp lý
- Việc sử dụng tro bay như là vật liệu thay thế trong bê tông đ được biết đến trước đó với nhiều ưu điểm bao gồm vấn đề kinh tế và kỹ thuật trong đó nâng cao khả năng làm việc của bê tông tươi, nâng cao độ bền của bê tông Tro bay có thể góp phần
Trang 26trực tiếp vào sự phát triển bền vững đồng thời vẫn đảm bảo các yếu tố kỹ thuật khác và nâng cao hiệu quả kinh tế
- Để nâng cao vấn đề xây dựng phát triển bền vững, bê tông và vữa xây dựng được sử dụng tro bay thay thế một phần xi măng Những lợi ích của việc sử dụng tro bay trong bê tông và vữa xi măng hướng tới phát triển bền vững bao gồm:
+ Tái sử dụng các sản phẩm thải công nghiệp
+ Nâng cao độ bền của bê tông
+ Giảm lượng khí thải CO2 ra môi trường
+ Giảm nguồn vật liệu xi măng poclang
1.2.5 Phản ứng pozzolan của tro bay trong bê tông
Xi măng pooc lăng là sản phẩm bao gồm 4 loại khoáng chất Tricalcium Silicate C3S (3CaO.SiO2), Dicalcium Silicate C2S (2CaO.SiO2), Tricalcium Aluminate C3A (3CaO.Al2O3) và Tetracalcium alumina-ferrite C4AF (4CaO.Al2O3.Fe2O3) Những thành phần khoáng này phản ứng với nước để sản xuất ra hợp chất tạo cường độ cho bê tông (CSH- hydrated calcium silicate) và vôi tự do (CaOH) Tuy nhiên khi tro bay được thêm vào hỗn hợp bê tông, nó tiếp tục phản ứng với vôi tự do (CaOH) để tiếp tục h nh thành CSH giống như phản ứng của xi măng pooc lăng với nước tạo ra và t đó gia tăng cường
độ của bê tông giống như H nh 1.8 V thế có thể xem phản ứng pozzolan của tro bay thực chất là phản ứng với vôi tự do (CaOH) để h nh thành nên CSH
Hình 1.8 Phản ứng Pozzolan của tro bay trong bê tông
Như chúng ta đ biết việc sử dụng tro bay thay thế xi măng đ được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều năm qua Hàm lượng tro bay thay thế xi măng thông thường chỉ giới hạn trong phạm vi t 15-20% tổng khối lượng xi măng Là chất thải do quá trình sản xuất công nghiệp tạo ra, việc ứng dụng được tro bay thay thế xi măng đ góp phần vào quá trình xây dựng bền vững, bảo vệ môi trường Vì thế việc nghiên cứu sử dụng hàm lượng lớn tro bay trong bê tông cũng đ được nghiên cứu trong những năm qua, và vấn
đề đặt ra là liệu rằng có khả năng sử dụng tro bay thay thế xi măng với hàm lượng lớn
Xi măng pooc lăng + Nước: Vôi tự do (CaOH): không tạo cường độ bê tông
Calciuin Silicate hydrate (CSH): tạo cường độ bê tông
Xi măng pooc lăng + Nước + Tro bay: Calciuin Silicate hydrate (CSH): tạo cường độ bê tông
Vôi tự do (CaOH) + tro bay
Trang 27hơn 20% Tuy nhiên việc sử dụng hàm lượng lớn tro bay thay thế xi măng có thể gây nhiều vấn đề tranh c i như hàm lượng alkali, sulphate có thể làm giảm quá trình tạo ra các tinh thể bê tông và làm chậm phản ứng pozzolanic
1.2.6 Những ưu điểm của tro bay đối với bê tông
Tăng mác vữa xi măng: Tro bay khi trộn với xi măng pooc lăng và cát sạch sẽ
tạo vữa xi măng có mác 10 hay 15 Mpa (N/mm2) Hơn nữa, thêm một ưu điểm của Tro bay là nếu được sáy khô trong 12 giờ trở lại (gọi là lưu hóa) th vữa xi măng có trộn
tro bay sẽ đạt mác 20 hoặc cao hơn [14]
Giảm khả năng xâm thực của nước, chống chua mặn: Nước mặn có Clo sẽ ăn
mòn cốt thép làm hỏng công trình qua các khe nứt hay lỗ châm kim Phương pháp khắc phục là trộn vữa tro bay với xi măng để trám các khe nứt, hạn chế lỗ châm kim Đây là một giải pháp v a hiệu quả, v a kinh tế nhất cho các công trình ở vùng biển,
Tính chịu lực cao của bê tông tự nén với tro bay, phát triển và ứng dụng: Xi
măng pooc lăng được trộn với cát và nước tạo ra được một bê tông không nung ở cấp trung bình và tự nén trong thời gian khoảng 03 ngày, đó là điều đang được thực hiện trong ngành công nghiệp xây dựng Tuy nhiên, nếu trộn thêm tro bay vào vữa hồ thì bê tông sẽ có tính chịu lực cao Điều này xảy ra vì các hạt silic nano đ len vào khe hổng của bê tông và cùng lúc tạo ra một SiO3 nhờ độ PH kiềm của xi măng Đó là một kết quả v a được công bố của của một công nghệ mới và tiên tiến của thế kỷ 21 Tro bay là một silic ưu việt, cần được sử dụng rộng rãi trong ngành xây dựng[14]
Chống được sự xâm nhập của ACID SULFURIC của bê tông hiện đại: Khi
khói của các nhà máy bay lên thì có lẫn cặn SO2 Cặn này trộn lẫn với hơi nước của mây tạo thành H2SO4 (Acid Sulfuric), khi mưa sẽ có một lượng nước mưa có vị chua, gọi là mưa acid Mưa này làm cho bê tông pooc lăng bị rỗ mặt và sau đó bị rạn nứt theo thời gian Nếu là bê tông cốt thép th lượng thép nằm bên trong sẽ bị hen gỉ Để chống lại hiện tượng này, dùng Tro bay trộn vào bê tông pooc lăng, các hạt nhỏ li ti sẽ lấp đầy các khe nứt và chống được sự xâm nhập của H2SO4 có thể phá hỏng cốt thép[14]
Tạo tính bền Sulfat cho bê tông của xi măng Pooc lăng: Xi măng pooc lăng
trộn với cát và nước ngọt tạo ra một bê tông có độ bền đến 50 năm, nhưng khi trộn với
Trang 28nước mặn, độ bền lại không quá 5 năm V khi nung xi măng pooc lăng bằng đá vôi và đất sét, bao giờ cũng có một lượng CaO tự do chiếm khoảng 6% trong xi măng Đất vôi này gặp nước lợ hay nước mặn có gốc sulfat, gốc này kết hợp với vôi để tạo ra một muối thạch cao có cơ tính đặc biệt là hút nước và trương nở Sự trương nở đó làm khối
bê tông pooc lăng rạn nứt theo thời gian, và cuối cùng, phá tan cơ cấu bê tông
Muốn cho cơ cấu bê tông pooc lăng chống lại sự rạn nứt ấy, gọi là chống sulfat hay bền sulfat, cần pha tro bay nghèo vôi vào với một tỉ lệ rất thấp Nhờ đó, có thể dùng nước mặn để trộn với xi măng Pooc lăng đề làm vữa hồ và khi bêtông đông cứng, có thể ngâm trong nước mặn vẫn được[14]
Tác dụng của Tro bay đến vấn đề hạ nhiệt cho bê tông: Khi thi công các công
tr nh bê tông khối lớn một vấn đề cấp thiết luôn được đặt ra là làm thế nào để giảm được nhiệt độ trong lòng bê tông Nhiệt độ trong lòng bê tông có thể lớn hơn 400C gây nguy cơ nứt do ứng suất nhiệt Nên rất cần giảm xi măng và bổ xung một lượng chất độn mịn là tro bay để đảm bảo tính công tác, tính chống thấm và cường độ RCC Như vậy việc sử dụng tro bay làm chất độn cho RCC đạt được 3 mục đích: Giảm được lượng nhiệt sinh ra trong lòng bê tông; giảm giá thành bê tông một cách đáng kể; đảm
bảo tính dễ thi công và cường độ bê tông [14]
Qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giới th hàm lượng dùng tro bay thay
thế xi măng trong bê tông đầm lăn có phạm vi t 30 – 60%
Một số ưu điểm nổi bật khác của tro bay
- Tận dụng giá thành thấp của tro bay, thay thế t 5% - 15% lượng xi măng đang
sử dụng trong phối trộn bê tông làm giảm giá thành sản phẩm
- Bê tông có sử dụng tro bay làm phụ gia sẽ làm tăng cường độ lên t 1,5-2 lần;
Làm tăng độ trơn của vữa giúp giảm chi phí bơm bê tông lên các tầng cao của công
tr nh và làm cho bê tông chui vào các khe lỗ dễ dàng hơn;
- "Khử vôi tự do CaO" trong xi măng (khoảng 6%) là thành phần gây "nổ" làm giảm chất lượng bê tông trong môi trường nước; đặc biệt trong việc đổ những khối bê tông cực lớn ở các công tr nh thủy điện, khi có phụ gia tro bay có thể đổ bê tông gián đoạn mà không phải đổ liên tục như bê tông thường;
- Khống chế nhiệt độ ban đầu, giảm ứng suất nhiệt trong khối bê tông, tăng độ bền, kéo dài tuổi thọ công tr nh, giá thành có thể rẻ hơn đến 30%, giảm 10% nước trộn
bê tông
- Tro bay làm phụ gia sản xuất xi măng bền sulfat, phụ gia cho bê tông tự lèn đối với công tr nh đòi hỏi chịu lực cao;
Trang 29- Với vữa trát tường có thể thay thế 30%-35% xi măng, tạo bề mặt mịn, tốt, chống thấm;
- Sản xuất gạch block có sử dụng tro bay còn có thể giảm lượng xi măng nhiều hơn nữa
1.2.7 Các nghiên cứu và ứng dụng tro bay tại Việt Nam
Nước ta hiện đang trong quá tr nh phát triển xây dựng cầu cống, các công trình thuỷ điện, các đê kè Theo khảo sát thì các công ty bê tông cung cấp cho thị trường khoảng 15% là bê tông đúc sẵn, 85% còn lại là do các nhà máy xi măng bán thẳng cho chủ đầu tư xây dựng Tro bay được dùng làm phụ gia bê tông khối lớn cho các công
tr nh đập thuỷ điện áp dụng công nghệ đổ bê tông đầm lăn như nhà máy thuỷ điện Sơn
La, Bản Vẽ, Sông Tranh 2, và một số công tr nh khác như đập Bái Thượng (Thanh Hoá), đập Tân Giang (Ninh Thuận), đập Lòng Sông (Bình Thuận), [14] Tác giả Nguyễn Công Thắng và cộng sự đ nghiên cứu chế tạo bê tông chất lượng siêu cao (BTCLSC) sử dụng hỗn hợp phụ gia khoáng silica và tro bay, cho thấy có thể sử dụng tro bay Việt Nam thay thế một phần xi măng để chế tạo BTCLSC Việc sử dụng tro
bay thay thế một phần xi măng sẽ cải thiện tính chất của hỗn hợp BTCLSC [15]
Tro bay có hàm lượng mất khi nung nhỏ hơn 11% có thể dùng để trộn vào xi măng với tỷ lệ trung bình 10÷20% Hiện tại, tro bay Phả Lại đ được sử dụng làm nguyên liệu sản xuất tại Nhà máy xi măng Hoàng Thạch với tỷ lệ trộn 14%, tại nhà
máy xi măng Sông Gianh với tỷ lệ trộn 18% [16]
Sử dụng gạch xây không nung t tro bay cho nhà cao tầng có hiệu quả kinh tế khá cao Hỗn hợp vật liệu làm gạch gồm tro bay, xi măng, vôi, thạch cao và bột nhôm, trong đó tro bay là thành phần chính, chiếm đến 70% khối lượng Vì vậy nhu cầu tro bay để cung ứng cho thị trường sản xuất gạch không nung, gạch bê tông nhẹ và bê
tông là rất lớn
Bộ môn Đường bộ, Trường Đại học Giao thông Vận tải đ tiến hành nghiên cứu
sử dụng tro bay làm chất liên kết để gia cố vật liệu cát, đá làm mặt đường Kết quả cho thấy, hỗn hợp 80% tro bay và 20% vôi dùng làm chất liên kết để gia cố đường sẽ đạt được độ bền cơ học khá cao Khi làm mặt đường có thể sử dụng các hỗn hợp sau: đá+vôi+tro bay ẩm; tro bay ẩm+xi măng hoặc tro bay ẩm+vôi +thạch cao Hiện đ có
dự án thử nghiệm xây dựng đường giao thông nông thôn huyện Kim Động, Hưng Yên Loại đất gia cố bằng tro bay sẽ có cường độ khá cao, loại vật liệu này hoàn toàn có thể sánh với gia cố bằng vôi và một số hoá chất chất khác Với loại đất gia cố này có thể
dùng làm móng đường hoặc gia cố lề, mái dốc ta luy sẽ cho hiệu quả cao [17]
Ở nước ta, tro bay được ứng dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây dựng, vấn đề sử dụng tro bay làm vật liệu xử lý môi trường và cải tạo đất chưa được quan tâm nhiều
Trang 30Lê Thanh Sơn và Trần Kông Tấu đ chuyển hóa tro bay thành zeolit có thể dùng để cải tạo đất Tác giả Tạ Ngọc Đôn và cộng sự đ nghiên cứu xử lý tro bay thành zeolit P1
và được sử dụng làm chất xử lý ô nhiễm môi trường [18] Tro bay được xử lý bằng dung dịch NaOH 3,5M có khả năng sử dụng làm chất hấp phụ trong phân tích môi trường Sản phẩm tạo thành là một hỗn hợp các hạt rất nhỏ, hình cầu và tương đối đồng đều; và trong đó có chứa chủ yếu là các hạt Quartz, Mullite và Zeolit P1 (Na) Tro bay sau khi xử lý được sử dụng để đánh giá khả năng hấp phụ và tách chất đối với hai hỗn hợp M1 và M2 Hiệu suất thu hồi chất đối với M1 là 83,3 đến 89,5%, đối với M2 là 51,28 đến 93,75% [19] Do khả năng hấp phụ kim loại nặng không cao, nhiều công tr nh đ nghiên cứu biến tính tro bay, chủ yếu là chuyển hóa thành zeolit bằng cách trộn với xút rắn và nung ở nhiệt độ cao khoảng 500-600oC Nguyễn Thị Thu và cộng sự đ nghiên cứu chuyển hóa tro bay Phả Lại thành dạng zeolit dùng làm vật liệu
hấp phụ cải tạo đất [20]
Vấn đề nghiên cứu xử lý, biến tính tro bay để ứng dụng trong lĩnh vực cao su và chất dẻo cũng đ được một số tác giả quan tâm Tác giả Thái Hoàng và các cộng sự đ nghiên cứu biến tính bề mặt tro bay bằng 2 tác nhân liên kết silan là vinyl trimetoxy silan (VTMS) và 3-glycido propyl trimetoxy silan (GPTMS) Kết quả thu được cho thấy, trên
bề mặt tro bay hình thành một lớp màng silan hữu cơ rất mỏng [21]
Tro bay biến tính tạo ra được sử dụng trong nghiên cứu chế tạo và tính chất compozit trên cơ sở nhựa PE, PP và EVA Trên cơ sở các kết nghiên cứu tính chất cơ lý, khả năng chống cháy, độ bền oxy hóa nhiệt và cấu trúc hình thái của vật liệu compozit nhiệt dẻo (PE, PP, EVA) với tro bay không biến tính (FA) và tro bay biến tính (MFA) cho thấy: - Thành phần thích hợp của vật liệu compozit trên cơ sở PE là 15% hỗn hợp OFA/MFA(V) với tỷ lệ 70/30 về khối lượng Vật liệu thu được có độ bền kéo đứt lớn hơn 20 MPa, độ d n dài khi đứt lớn hơn 200% - Thành phần thích hợp của vật liệu compozit trên cơ sở PP là 15-20% hỗn hợp FA/MFA(G hoặc V) (với tỷ lệ 70/30 hoặc 80/20 về khối lượng Vật liệu thu được có độ bền kéo đứt lớn hơn 20 MPa, độ dãn dài khi đứt lớn hơn 200% - Thành phần thích hợp của vật liệu compozit trên cơ sở EVA là 10% hỗn hợp FA/MFA (G) với tỷ lệ 70/30 hoặc 80/20 về khối lượng Vật liệu thu được
có độ bền kéo đứt lớn hơn 15 MPa, độ d n dài khi đứt lớn hơn 160% [21]
Cũng các tác giả trên đ nghiên cứu chế tạo compozit HDPE/FA và HDPE/MFA (polyetylen tỷ trọng cao/tro bay và tro bay biến tính) với hàm lượng chất độn FA và MFA khác nhau được chế tạo bằng phương pháp nóng chảy Độ nhớt tương đối của compozit HDPE/FA và HDPE/MFA tăng lên với sự gia tăng của hàm lượng FA và MFA Các tính chất cơ học của compozit HDPE/FA và HDPE/MFA thấp hơn so với HDPE và giảm khi hàm lượng FA và MFA tăng Vật liệu compozit HDPE/MFA có
Trang 31tính chất cơ học cao hơn so với vật liệu compozit HDPE/FA với cùng hàm lượng chất
độn Cả hai chất độn FA và MFA đều giảm tính cách điện HDPE [22]
T những nội dung trên đây cho thấy, khả năng ứng dụng của tro bay rất đa dạng, đặc biệt trong lĩnh vực làm vật liệu xây dựng Việc nghiên cứu các biện pháp xử lý, biến tính tro bay để ứng dụng vào các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật là vấn đề không chỉ có ý nghĩa khoa học, kinh tế rõ rệt mà còn có giá trị đặc biệt là tận dụng một cách hiệu quả
một loại vật liệu phế thải, góp phần sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường
Riêng trong lĩnh vực công nghệ vật liệu cao su, chất dẻo, việc ứng dụng của tro bay mới chỉ là bắt đầu và vẫn đang còn rất tiềm năng Bởi v để ứng dụng một cách có hiệu quả, đối với t ng loại cao su, chất dẻo đòi hỏi những xử lý bề mặt tro bay phù hợp và cả hiệu quả về mặt khoa học, công nghệ và kinh tế Đối với cao su thiên nhiên
và các loại cao su blend trên cơ sở CSTN cũng đ có một số kết quả nghiên cứu được công bố, song việc ứng dụng vào thực tế chưa thấy nhiều, đặc biệt ở Việt Nam những nghiên cứu về hướng này hầu như chưa thấy Chính vì vậy, để góp phần mở rộng việc ứng dụng tro bay trong công nghệ gia công cao su, việc hoàn thiện các nghiên cứu biến tính và ứng dụng tro bay để gia cường cho CSTN và blend trên cơ sở CSTN là vô cùng cần thiết, nó không chỉ có ý nghĩa khoa học, kinh tế, xã hội mà còn có giá trị thực
tiễn cao
1.2.8 Ứng dụng tro bay trong một số lĩnh vực và công trình trên thế giới
Tro bay dùng làm vật liệu điền lấp: Tro bay có thể dùng để phục hồi và cải tạo
các vùng đất yếu bởi các hoạt động khác Tro bay được sử dụng cho phát triển các công trình công cộng như công viên, bãi đậu xe, sân chơi, Tro bay có độ bền đầm nén tương đương hoặc lớn hơn đất nên thường được sử dụng trongcác lĩnh vực bồi đắp [23]
Hình 1.9 Bê tông asphalt sử dụng tro bay
Trang 32Tro bay trong bê tông: Tro bay cải thiện độ bền và kết cấu của bê tông dẫn đến
tăng tuổi thọ của đường Thông thường, tro bay có thể thay thế t 15 đến 30% xi măng pooc lăng [23] Hiện nay, tro bay được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng với các mục đích khác nhau như làm phụ gia cho bê tông xi măng [24], làm độn cho bê tông asphalt [25] Một số công trình xây dựng nổi tiếng trên thế giới đ sử dụng tro bay trong bê tông như đập Puylaurent ở Pháp, cây cầu Great Belt East nối Copenhagen (Đan Mạch) với những vùng đất của trung tâm châu Âu [26]
Tro bay làm đường xá: Tro bay có thể được sử dụng để xây dựng đường và đê
kè [24] Việc sử dụng này có nhiều lợi thế hơn so với các phương pháp thông thường như tiết kiệm đất trồng trọt, tránh tạo ra các vùng trũng, giảm chi phí, làm giảm nhu cầu đất để xử lý/lắng đọng tro bay [26]
Gạch không nung từ tro bay: Tro bay cũng là phế liệu thân thiện môi trường
Gạch tro bay được tạo thành t tro bay, cát và xi măng, trong đó tro bay là chất độn chính và cát là chất độn thứ hai Còn xi măng làm chất kết dính tất cả các nguyên liệu với nhau Ở Đức, tro bay được ứng dụng để sản xuất gạch xây nhà Các khối gạch này được tạo ra t hỗn hợp của tro xỉ, tro bay, đá vôi và nước được ép thành khuôn [23]
Hình 1.10 Gạch sản xuất từ tro bay
Trang 33Sản phẩm gạch ốp lát từ tro bay: Gạch ốp lát có thể được sản xuất t tro bay
Gạch ốp lát gồm hai lớp: lớp măt và lớp nền Lớp mặt là hỗn hợp gồmnhựa men, xi
măng, bôt tro bay và đôlômit Lớp nên là hỗn hợp gồm tro baybán khô, xi măng và bụi
mỏ đá [23]
Làm vật liệu cốt nh : Nhiều công nghệ đ được phát triển để sản xuất cốt liệu
nhân tạo t tro bay Cốt liêu t sản phẩm tro bay có thể được sử dụng cho một loại các
ứng dụng trong công nghiệp xây dựng, bao gồm thành phần xây dựng, thành phần bê
tông đúc sẵn, bê tông trộn sẵn các tòa nhà cao tầng [23]
1.3 Tổng quan và ứng dụng của vôi trong xây dựng
1.3.1 Thành phần và đặc tính của vôi
Hyđroxyt canxi hay Canxi hyđroxyt là một hợp chất hóa học với công thức hóa
học Ca(OH)2 là một chất dạng tinh thể không màu hay bột màu trắng, và thu được khi
cho Canxi ôxít (tức vôi sống) tác dụng với nước (gọi là tôi vôi) như tr nh bày bên trên
Nó cũng có thể kết tủa xuống khi trộn dung dịch chứa Canxi clorua (CaCl2) với dung
dịch chứa Natri hiđroxit (NaOH) Tên gọi dân gian của canxi hiđroxit là vôi tôi hay đơn giản chỉ là vôi Tên gọi của khoáng chất tự nhiên chứa canxi hiđroxit
là portlandit [27]
Nếu bị nung nóng tới 512°C, th canxi hiđroxit bị phân hủy thành ôxít canxi và hơi
nước Thể vẩn của các hạt hyđroxyt canxi rất mịn trong nước gọi là vôi sữa Dung dịch
chứa canxi hiđroxit gọi chung là vôi nước và có tính bazơ trung b nh-mạnh, có phản ứng
mạnh với các axít và ăn mòn nhiều kim loại khi có mặt nước Nó trở thành dạng sữa nếu
điôxít cacbon đi qua đó, do sự kết tủa của Canxi cacbonat mới tạo ra [27]
Trang 34Hình 1.11 Vôi
1.3.2 Ứng dụng của vôi trong lĩnh vực bê tông và xây dựng
Vôi đ được một loại vật liệu rất quan trọng t thời cổ đại, được sử dụng trong ngành công nghiệp xây dựng Việc sử dụng vôi làm chất kết dính hay vữa trong việc xây dựng các khối đá và gạch đ được sử dụng t lâu trong quá khứ T xưa con người
đ khám phá ra vữa vôi bằng việc trộn vôi với nước cùng với cát để tạo thành vữa xây dựng Kỹ năng sử dụng vữa trong xây dựng không chỉ được tìm thấy ở các nước lâu đời ở châu Âu, châu Á, châu Phi mà còn tìm thất ngay cả ở Mexico và Peru Những phần còn lại của công trình cổ đại Artisans là chứng cứ cho thấy được sự hiểu biết và
kỹ năng ứng dụng của vữa vôi của các người thợ thời bấy giờ [28] Ngoài ra, vôi cũng được sử dụng rộng rãi trong tinh chế kim loại, đặc biệt là thép chế tạo, trong nông nghiệp, trong ngành công nghiệp thực phẩm, và trong sản xuất xi măng Trong thực tế vôi là một trong những hóa chất được sử dụng rộng rãi nhất
Ngày nay, vôi được sử dụng trong sản xuất gạch vôi silic, cách điện và vật liệu xây dựng Vôi cũng được sử dụng trong vữa đặt gạch và làm cho các bức tường Ngoài
ra, vôi cũng được thêm vào bê tông và vữa để cải thiện hiệu suất của công trình xây dựng
1.3.3 Tiềm năng kết hợp giữa vôi và tro bay
Việc sự dụng vôi bột có thể góp phần nâng cao nhiều đặc tính của hỗn hợp bê tông thông qua các tác động vật lý và hóa Những tác động vật lý có thể kể đến như là kích thước hạt của bột vôi nhỏ góp phần giảm các khe rỗng bên trong bê tông Các tác
Trang 35động hóa học bao gồm cung cấp ion cho các quá trình hòa tan [29] Ngoài ra, Theo trình bày tại Hình 1.8 th trong trường hợp bê tông có sử dụng hàm lượng lớn tro bay
có thể bổ sung thêm vôi để tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành C-S-H làm tăng cường độ bê tông
Về khía cạnh môi trường thì việc sản xuất vôi không tạo ra nhiều khí thải CO2như quá tr nh sản xuất xi măng pooc lăng [30,31 Như đ đề cập bên trên thì vôi là vật liệu pozzalonic được sử dụng qua nhiều thế kỉ trước trong xây dựng và khi xi măng pooc lăng được phát minh ra vào thế kỉ 19 thì nó thay thế vôi làm chất kết dính chủ yếu trong bê tông Vôi có nhiều đực tính góp phần vào việc phát triển độ bền lâu dài của bê tông đặc biệt là kìm hãm quá trình xâm nhập của CO2.[32]
1.4 Kết luận chương
- Bê tông sử dụng xi măng pooc lăng đ được nghiên cứu và sử dụng gần 200 năm Đến nay việc nghiên cứu chuyên sâu về bê tông và các giải pháp sử dụng bê tông hiệu quả đ và đang được tiến hành, có nhiều ứng dụng tiến bộ mang lại hiệu quả trong thực tế
- Đ có nhiều nghiên cứu và triển khai thực tế việc sử dụng tro bay thay thế một phần xi măng với một tỷ lệ phù hợp (t 10%-20%)
- Vôi cũng là loại vật liệu quan trọng được sử dụng trong ngành công nghiệp xây dựng t thời cổ đại
- Qua nghiên cứu các đặc tính của tro bay và vôi đ nêu trên, ta có thể kết hợp giữa vôi và tro bay trong việc chế tạo bê tông xi măng pooc lăng
Trang 36CHƯƠNG 2
TI U CHUẨN, VẬT LIỆU VÀ THIẾT Ị THÍ NGHIỆM
2.1 Các tiêu chuẩn sử dụng trong thí nghiệm
- Cường độ chịu nén của bê tông được xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam
TCVN 3118: 1993 Bê tông nặng – Phương pháp xác định cường độ chịu nén Tiêu
chuẩn quy định phương pháp xác định cường độ chịu nén của bê tông nặng
- Lấy mẫu, chế tạo và bảo dưỡng mẫu thử theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN
3015: 1993 Tiêu chuẩn này quy định phương pháp lấy mẫu hỗn hợp bê tông nặng,
phương pháp chế tạo, bảo dưỡng các mẫu thử bê tông nặng dùng để kiểm tra các tính
chất của chúng trong quá trình thi công, sản xuất và nghiệm thu các kết cấu sản phẩm
- Yêu cầu của cốt liệu bê tông theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 7570: 2006 Cốt
liệu cho bê tông và vữa – Yêu cầu kỹ thuật Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu kỹ
thuật đối với cốt liệu nhỏ (cát tự nhiên) và cốt liệu lớn, có cấu trúc đặc chắc dùng chế
tạo bê tông và vữa xi măng thông thường
- Yêu cầu của xi măng xác định theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 2682 : 2009
Xi măng pooc lăng – Yêu cầu kỹ thuật
- Yêu cầu nước dùng cho bê tông theo Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 4506 : 2012
Nước cho bê tông và vữa – Yêu cầu kỹ thuật Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu kỹ
thuật đối với nước dùng để trộn bê tông, trộn vữa, rửa cốt liệu và bảo dưỡng bê tông
- Tiêu chuẩn BS EN 12390-7:2009: Thí nghiệm bê tông- Phần 7: Khối lượng
riêng của bê tông
2.2 Vật liệu sử dụng trong thí nghiệm
2.2.1 Cốt liệu nhỏ (cát)
- Áp dụng theo Tiêu chuẩn TCVN 7570-2006 [33] Thành phần hạt của cát thô
được sử dụng để chế tạo bê tông quy định trong Bảng 2.1