Đặc biệt do nguồn kinh phí hạn hẹp hay kinh phí đầu tư xây dựng của phần đập đầu mối chiếm tỷ trọng quá lớn làm công trình không hiệu quả nên nhiều công trình đã sử dụng phương án có xả
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
NGUYỄN THANH LÂM
NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG XÓI LỞ HẠ LƯU ĐẬP DÂNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC- ÁP DỤNG CHO CÔNG TRÌNH ĐẬP DÂNG CÂY GAI TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành : Kỹ thuật xây dựng công trình thủy
Mã số : 62.58.02.02
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn khoa học: TS VŨ HUY CÔNG
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Vũ Huy Công đã tận tình giúp
đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đến Sở Nông nghiệp và PTNN Bình Định, Công
ty cổ phần tư vấn xây dựng thủy lợi-thủy điện Bình Định nơi tác giả công tác đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả nghiên cứu và thu thập tài liệu phục vụ cho luận văn này
Tác giả xin chân thành biết ơn đến gia đình và bạn bè đã ủng hộ, khuyến khích
và chia sẻ mọi khó khăn để tác giả hoàn thành tốt chương trình học tập và nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô phòng Đào tạo đại học và sau đại học trường đại học Bách Khoa Đà Nẵng đã tạo điều kiện thuận lợi để tác giả được trình bày luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thanh Lâm
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Học viên Nguyễn Thanh Lâm cam kết rằng Luận văn Thạc sỹ kỹ thuật với tên
đề tài: “Nghiên cứu tình trạng xói lở hạ lưu đập dâng và giải pháp khắc phục- Áp dụng cho công trình đập dâng Cây Gai tỉnh Bình Định” được học viên lựa chọn và
nghiên cứu là công trình của cá nhân học viên
Tác giả
Nguyễn Thanh Lâm
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN I LỜI CAM ĐOAN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC BẢNG VII DANH MỤC CÁC HÌNH VIII
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
CHƯƠNG 1 3
TỔNG QUAN VỀ XÓI Ở HẠ LƯU ĐẬP DÂNG 3
1.1 Tổng quan về đập dâng 3
1.1.1 Khái quát về đập dâng 3
1.1.2 Phân loại đập dâng 3
1.1.3 Tình hình xây dựng đập dâng hiện nay ở Việt Nam 4
1.2 Tiêu năng sau đập dâng 6
1.2.1 Khái quát chung về tiêu năng 6
1.2.2 Các hình thức tiêu năng 6
1.2.3 Đoạn sau sân tiêu năng 6
1.2.4 Với các đập không có thiết bị tiêu năng 7
1.3 Xói sau đập dâng 7
1.3.1 Khái niệm 7
1.3.2 Nguyên nhân xói sau đập dâng 7
1.4 Các biện pháp phòng chống và khắc phục xói sau đập dâng 8
1.4.1 Đánh giá khả năng xuất hiện xói theo các yếu tố khác nhau 8
1.4.2 Các giải pháp phòng chống xói 10
1.5 Phạm vi nghiên cứu 13
1.6 Đánh giá và nhận xét chung về tính hình nghiên cứu xói 13
CHƯƠNG 2: 15
HIỆN TRẠNG ĐẬP DÂNG VÀ XÓI HẠ LƯU ĐẬP DÂNG Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH 15
2.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội tỉnh Bình Định 15
2.1.1 Vị trí địa lý 15
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất 15
2.1.3 Khí hậu 15
2.1.4 Các hệ thống sông chính ở Bình Định 16
Trang 52.1.5 Dòng chảy năm 18
2.1.6 Dòng chảy lũ 20
2.1.7 Dòng chảy mùa kiệt 21
2.2 Hiện trạng thuỷ lợi và đập dâng 21
2.2.1 Hiện trạng thủy lợi 21
2.2.2 Hiện trạng đập dâng 23
2.3 Đánh giá xói sau đập dâng 24
2.3.1 Phân loại theo hình thức xói 24
2.3.2 Phân loại theo độ dốc lưu vực 24
2.3.3 Phân theo độ dốc lòng sông 24
2.3.4 Phân loại xói theo hình thức tháo lũ 25
2.4 Sự xuất hiện xói sau đập dâng 25
2.5 Về ảnh hưởng của xói đến hiệu quả sử dụng 26
2.5.1 Hiệu quả cung cấp nước cho hạ lưu 27
2.5.2 Sự ảnh hưởng đến các công trình hạ lưu: 27
2.5.3 Công tác phòng chống lũ: 27
2.5.4.Phòng chống thấm: 27
2.5.5 Đập có lưu lượng thiết kế tháo qua cả hai bên vai đập: 27
2.6 Về ảnh hưởng của xói đến an toàn đập 27
2.7 Các công thức áp dụng 27
2.8 Áp dụng tính toán xói cho một số công trình 29
2.8.1 Đập Cây Me 29
2.8.2 Đập Lại Giang 30
2.8.3 Đập Cây Mít 31
2.9 Nguyên nhân, giải pháp khắc phục 32
2.9.1 Về nguyên nhân 32
2.9.2 Các giải pháp khắc phục 32
2.9.3 Các vấn đề tồn tại và hướng giải quyết 33
ĐÁNH GIÁ XÓI VÀ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC XÓI SAU ĐẬPDÂNG CÂY GAI -TỈNH BÌNH ĐỊNH 34
3.1 Giới thiệu chung về công trình 34
3.1.1 Vị trí trí công trình 34
3.1.2 Các thông số cơ bản theo thông số xây dựng năm 1995 34
3.1.3 Các hạng mục công trình xây dựng năm 1995 34
3.2 Quá trình xây dựng và hiện trạng thủy lợi đập dâng Cây Gai 41
Trang 63.2.1 Quá trình xây dựng 41
3.2.2 Đặc điểm thông số công trình 41
3.3 Hiện trạng hư hỏng đập dâng 43
3.3.1 Đánh giá nguyên nhân hư hỏng 43
3.3.2 Tính toán kiểm tra tiêu năng hiện trạng: 45
3.4 Phương án sửa chữa đập dâng Cây Gai 49
4.1 Mục đích mô phỏng 51
4.2 Nội dung mô phỏng 51
4.3 Giới thiệu phần mềm Ansys -FLuent 52
4.4 Cơ sở lý thuyết của phần mềm Ansys- Fluent 52
4.5 Các bước chính thực hiện mô phỏng: 53
4.6 Các thông số sử dụng trong mô hình 54
4.7 Thiết lập điều kiện biên 54
4.8 Xây dựng lưới tính 55
4.9 Các trường hợp mô phỏng 56
4.10 Kiểm định mô hình 57
4.11 Kết quả mô phỏng và bàn luận 57
4.11.1 Đường mực nước 57
4.11.2 Sự thay đổi vận tốc 62
4.11.3 Mối quan hệ giữa vận ttốc dòng chảy qua tràn và vị trí của nước nhảy sau dốc nước: 63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1 Những kết quả đạt được của luận văn 65
2 Những tồn tại của luận văn 65
3 Các hướng nghiên cứu giải quyết tồn tại 65
4 Kiến nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 67
QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI 68
Trang 7NGHIÊN CỨU TÌNH TRẠNG XÓI LỞ HẠ LƯU ĐẬP DÂNG VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC- ÁP DỤNG CHO CÔNG TRÌNH ĐẬP DÂNG CÂY GAI TỈNH
BÌNH ĐỊNH
Học viên: NguyễnThanh Lâm Chuyên ngành: Kỹ thuật xây dựng công trình thủy
Mã số: 60.58.02.02 Khóa: K33 Trường Đại học Bách Khoa – ĐHĐN
Tóm tắt – Việc xây dựng công trình trên sông đã làm mất cân bằng của lòng dẫn và có thể
gây xói lở ở hạ lưu Xói xuất hiện ngay chân công trình, nơi có lưu tốc rất lớn lại phân bố không đều Việc nghiên cứu về xói ở sau công trình tháo nước là một hiện tượng phức tạp và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về khách quan và cả chủ quan Bình Định nơi có điạ hình bị chia cắt rất sâu, sườn núi trở nên dốc lớn Sông suối tại đây có có độ dốc lớn và lưu tốc dòng chảy lớn, lưu lượng có biên độ dao động lớn, lại là vùng thường xuyên xuất hiện lũ ống, lũ quét Do những yếu tố tự nhiên như vậy nên hiện tượng xói lở ở đây diễn ra thường xuyên và phức tạp, đặc biệt là xói ở sau công trình tháo nước Trong luận văn này tác giả đã nghiên cứu hiện tượng xói lở ở sau đập dâng Cây Gai, một công trình đang bị xuống cấp nghiêm trọng Bên cạnh đó phần mềm ANSYS FLUENT cũng được tác giả sử dụng để mô phỏng chế độ thủy lực Kết quả của luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho các nhà tư vấn và cơ quan quản lý ngành tại địa phương
Từ khóa - Xói sau đập, Ansys Fluent, nước nhảy, tiêu năng
STUDY ON THE EROSION OF THE DOWNSTREAM SURFACES OF DAMS
IN BINHDINH PROVINCE - A CASE STUDY: CAY GAI DAM
Abstract - Construction on the river has led to an imbalance of river conduction and cause
erosion downstream Erosion occurs right at the foot of dam, where there is a irregularly distributed flow The study of erosion behind the works is a complex phenomenon and depends on many factors In Binh Dinh province the terrain is deeply divided and the slope is steep River streams have high slope and large flow velocity, this area is often flooded flood, flash flood Due to such natural factors, the phenomenon of erosion occurs frequently and complexly, especially erosion after dam In this thesis, the author studied the erosion phenomenon behind the Cay Gai Dam which is among dams being degraded in Binh Dinh province ANSYS FLUENT software is also used to simulate hydraulics in this structure The results of this thesis will be a reference for local consultants
Keywords - Erosion, Ansys Fluent, hydralic jump, dissipation energy
Trang 8
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2-1 Đặc trưng hình thái các lưu vực sông tỉnh Bình Định [7] 18
Bảng 2-2 Đặc trưng dòng chảy các sông chính trong tỉnh [7] 18
Bảng 2-3 Phân phối dòng chảy năm các sông chính trong tỉnh [7] 19
Bảng 2- 4 Bảng phân loại theo hình thức xói [7] 24
Bảng 2-5 Bảng phân loại xói theo độ dốc lưu vực 24
Bảng 2-6 Bảng phân loại xói theo độ dốc lòng sông 24
Bảng 2.7: Bảng tính toán xói cho đập Cây Me 29
Bảng 2-8 Bảng tính toán xói cho đập Lại Giang – Bình Định 30
Bảng 2-9 Bảng tính toán xói cho đập Cây Mít – Phù Cát 31
Bảng 3-10 Đặc điểm địa chất lớp 1 36
Bảng 3-11 Đặc điểm địa chất lớp 2 36
Bảng 3-12 Đặc điểm địa chất lớp 3 37
Bảng 3-13 Bảng phân phối các đặc trưng nhiệt độ không khí 38
Bảng 3-14 Bảng phân phối các đặc trưng độ ẩm tương đối 38
Bảng 3-15 Bảng phân phối giờ nắng trong năm 38
Bảng 3-16 Bảng tốc độ gió lớn nhất theo hướng 39
Bảng 3-17 Lượng bốc hơi các tháng trong năm 39
Bảng 3-18 Bảng phân phối tổn thất bốc hơi Z trong năm 39
Bảng 3-19 Phân phối lượng mưa trung bình tháng và năm 39
Bảng 3-20 Lưu lượng lũ chính vụ 39
Bảng 3-21 Lũ tiểu mãn 40
Bảng 3-22 Cao trình mực nước lũ điều tra tại vị trí xây dựng công trình năm 2016: 40
Bảng 3-23 Lưu lượng tính toán 40
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1-1.Đập có lưu lượng tràn qua vai [11] 3
Hình 1-2 Đập có lưu lượng tràn qua phần tràn [11] 4
Hình 1-3 Phân bố lưu tốc ở chân công trình và sự hình thành xói [11] 7
Hình 1-4 Xói hạ lưu đập không có thiết bị tiêu năng: a) hố xói chưa ảnh hưởng đến sự an toàn của đập; b) hố xói phát tiển mạnh khoét sâu vào chân đập [11] 8
Hình 1-5 Xói hình thành đối với đập tính toán tiêu năng, tính toán xói phù hợp, hố xói chưa ảnh hưởng đến sự an toàn của đập [11] 8
Hình 1-6 Xói hình thành đối với đập tính toán tiêu năng, tính toán xói không phù hợp, hố xói ảnh hưởng đến bể tiêu năng [11] 8
Hình 1-7 Gia cố sau sân tiêu năng [10] 10
Hình 1-8 Hình thức gia cố cứng sân sau 11
Hình 1-9 Hình thức gia cố vật liệu nền 11
Hình 2-10 Sơ đồ hố xói sau công trình tháo nước không có sân tiêu năng 29
Hình 2 -11 Sơ đồ hố xói sau công trình tháo nước có bể tiêu năng, với d0 ≠ dx 30
Hình 2-12 Sơ đồ hố xói sau công trình tháo nước có bể tiêu năng,với d0 = dx 31
Hình 3-12 Kè bờ tả, hữu đập bị sạt mái và xói sâu 42
Hình 3-13 Sân sau bể tiêu năng bị lún sập và cuốn trôi 43
Hình 3-14 Bản vẽ hiện trạng công trình 44
Hình 3-15 Phương án sửa chữa 50
Hình 4-16 Kết cấu và kích thước công trình 54
Hình 4-17 Thiết lập điều kiện biên của mô phỏng 55
Hình 4-18 Xây dựng lưới tính cho mô hình (a)-(c) Các mặt cắt; (d) Chi tiết lưới gần trụ pin 56
Hình 4-19 Đường mực nước trên tuyến tràn 58
Hình 4-20 Vị trí nước nhảy xuất hiện 59
Hình 4-21 Đường mực nước trong tuyến tràn khi mở hết cửa van 60
Hình 4-22 Các đường dòng của dòng chảy qua công trình tràn 61
Hình 4-21 Sự thay đổi vận tốc của dòng chảy: (a) velocity contour, (b) vectơ vận tốc 63
Hình 4-22 Sự phụ thuộc của vị trí nước nhảy vào độ lớn vận tốc dòng chả qua tràn 64
Hình 4-23 Quan hệ giữa vị trí của nước nhảy với vận tốc dòng chảy qua tràn 64
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Việc xây dựng công trình trên sông đã làm mất cân bằng của lòng dẫn và có thể gây xói lở ở hạ lưu Xói xuất hiện ngay chân công trình, nơi có lưu tốc rất lớn lại phân
bố không đều
Hiện nay, việc nghiên cứu về xói ở hạ lưu công trình đã được nhiều nhà nghiên cứu thuỷ lực, thuỷ công ở trong nước và nước ngoài nghiên cứu đã thu được những kết quả nhất định Tuy nhiên việc nghiên cứu về xói ở sau công trình tháo nước là một hiện tượng phức tạp và phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố về khách quan và cả chủ quan
Bình Định nơi có điạ hình bị chia cắt rất sâu, sườn núi trở nên dốc lớn Sông suối tại đây có độ dốc lớn và lưu tốc dòng chảy lớn, lưu lượng có biên độ dao động lớn, lại là vùng thường xuyên xuất hiện lũ ống, lũ quét Do những yếu tố tự nhiên như vậy nên hiện tượng xói lở ở đây diễn ra thường xuyên và phức tạp, đặc biệt là xói ở sau công trình tháo nước Đặc biệt do nguồn kinh phí hạn hẹp hay kinh phí đầu tư xây dựng của phần đập đầu mối chiếm tỷ trọng quá lớn làm công trình không hiệu quả nên nhiều công trình đã sử dụng phương án có xả một phần lũ qua vai, coi phần vai tràn là một tràn sự cố hay tràn phụ, tuy nhiên hình thức này sẽ dẫn đến hiện tượng xói lở mạnh cả phần hạ lưu đập và phần vai đập Tuy nhiên biện pháp công trình nay chưa được nghiên cứu cụ thể và chưa có những giải pháp mang tính khoa học toàn diện mà chỉ dựa vào kinh nghiệm của người thiết kế
Chính vì vậy, đề tài: “Nghiên cứu tình trạng xói lở hạ lưu đập dâng và giải pháp khắc phục – áp dụng cho công trình đập dâng Cây Gai tỉnh Bình Định”
được học viên lựa chọn và nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: giải pháp hợp lý chống xói sau đập dâng
- Phạm vi: Đập dâng Cây Gai, có phân tích mở rộng cho các công trình khác
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Các lý thuyết về quá trình xói và hình thức xói được nghiên cứu một cách đầy đủ Phân tích các kết quả nghiên cứu có liên quan
về vấn đề xói ở hạ lưu đập
Phương pháp so sánh thực tế: Thống kê các đập dâng đã và đang xuất hiện hiện tượng xói ở hạ lưu Phân tích các nguyên nhân và bản chất gây nên xói
Trang 11Phương pháp điều tra: Khảo sát, điều tra đánh giá các đập dâng tràn trên toàn tỉnh Bình Định nhằm phát hiện các quy luật, các đặc điểm về hiện tượng xói
Kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã có trước đây: Ứng dụng các mô hình toán, phần mềm chuyên ngành trong thiết kế tính toán
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Đề tài này có ý thực tiễn nhằm đưa ra các giải pháp cho vấn đề cấp bách hiện nay là chống xói phía sau các công trình đập dâng, cụ thể ở đây là công trình Cây Gai Kết quả của đề tài là cơ sở có tính khoa học để các đơn vị chức năng đề xuất phương
án nhằm đảm bảo ổn định vận hành cho công trình
6 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn gồm phần mở đầu, bốn chương và phần kết luận kiến nghị
Chương 1: Tổng quan về xói ở hạ lưu đập
Chương 2: Hiện trạng đập dâng và xói hạ lưu đập dâng ở tỉnh Bình Định
Chương 3: Đánh giá xói và biện pháp khắc phục xói sau đập dâng Cây Gai - tỉnh Bình Định
Chương 4: Mô phỏng chế độ thủy lực
-oo0oo -
Trang 12CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ XÓI Ở HẠ LƯU ĐẬP DÂNG
1.1 Tổng quan về đập dâng
1.1.1 Khái quát về đập dâng
Đập dâng là một kiến trúc làm cho dòng chảy bị thu hẹp đứng hoặc ngang, chất lỏng bị ngăn lại và dâng cao rồi tràn qua, dòng chảy qua vật kiến trúc gọi là lưu lượng tràn Đập dâng có thể là đập đầu mối độc lập hay là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thủy lợi.[1]
Nhiệm vụ cơ bản của đập dâng là dâng cao mực nước thượng lưu để phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau:
+ Với bãi tưới cao hơn mực nước sông, kênh khi dâng cao mực nước có thể đưa nước tưới vào bãi tưới
+ Một số đập dâng có thể tạo hồ chứa để điều tiết nước cho hạ lưu
+ Dâng cao mực nước để tạo cột nước cho nhà máy thủy điện
Đập dâng cũng dùng để ngăn lũ, chậm lũ hay ngăn dòng chảy bùn cát Với kết cấu và hình thức phù hợp nó có thể góp phần làm giảm xói ngược lòng kênh hay phá hủy kênh tiêu thoát nước
Một số trường hợp đập dâng còn được xây dựng để đưa nước sang lưu vực liền
kề tiếp nước cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau
1.1.2 Phân loại đập dâng
a Phân loại theo hình thức tràn qua đập:
+ Lưu lượng tràn qua toàn bộ phần đập tràn;
+ Lưu lượng tràn qua cả hai bên vai đập tràn
Hình 1-1.Đập có lưu lượng tràn qua vai [11]
Trang 13Hình 1-2 Đập có lưu lượng tràn qua phần tràn [11]
b Phân loại theo hình dạng và mặt cắt ngang đập dâng:
+ Đập dâng thành mỏng: khi chiều dày đỉnh đập δ< 0,67 H;
+ Đập dâng thực dụng: 0,67H <δ ≤ (2-3)H;
+ Đập dâng đỉnh rộng: (2-3)H≤ δ ≤ (8-10)H
c Phân loại theo ngưỡng đập dâng trên mặt bằng:
+ Đập dâng thẳng hoặc chính diện;
+ Đập dâng hình cong;
+ Đập dâng xiên;
+ Đập dâng hình gẫy khúc;
+ Đập dâng hình zíczắc
d Phân loại theo ảnh hưởng của mực nước hạ lưu đối với đập tràn
+ Đập chảy ngập Khả năng xả phụ thuộc vào MNHL
+ Đập chảy không ngập Chảy tự do, khả năng xả không phụ thuộc vào
MNHL [10]
1.1.3 Tình hình xây dựng đập dâng hiện nay ở Việt Nam
a Tình hình chung
Trước đây hầu hết các đập dâng ở Việt Nam đều được xây dựng theo quy phạm
cũ, phần đập tràn được thiết kế theo dạng Ophixerop; vật liệu xây dựng là bê tông truyền thống, đá xây vữa hay rọ thép xếp đá hộc Trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm tăng nhu cầu về sử dụng điện, nước…; kèm theo đó
là sự biến đổi mạnh mẽ của khí hậu toàn cầu đã tạo nên sức ép phải có những tiến bộ
về khoa học và công nghệ trong xây dựng công trình thủy lợi.Từ năm 1999 cùng với
sự trao đổi khoa học kỹ thuật và các chuyên gia tư vấn nước ngoài đến nước ta đã xây dựng đươc nhiều đập tràn có mặt cắt dạng WES như đập tràn Thủy điện Sơn La, đập tràn Hồ chứa nước Định Bình, đập tràn Thủy điện Se San 3 …; đập tràn ZícZắc bước
Trang 14đầu đang được nghiên cứu và áp dụng như: Tràn xả lũ hồ Tuyền Lâm, tràn xả lũ Phước Hòa, tràn xả lũ sông Móng …
b Hiệu quả sử dụng
Hiện nay do nhiều yếu tố khách quan như biến đổi khí hậu làm cho tỷ số lưu
việc cùng lúc đập phải tháo được lượng lũ lớn nhất và việc cung cấp nước cho các nhu cầu sử dụng là tối ưu trở nên cấp thiết
Hiệu quả sử dụng phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý, tuy nhiên chỉ có ở một số công trình lớn có mục đích sử dụng tổng hợp thì công tác này mới được quan tâm đúng mức.Còn đối với các công trình nhỏ, ở các vùng sâu vùng xa thì công tác này rất hạn chế nên việc nâng cao hiệu quả sử dụng là rất khó khăn
Đập dâng ở Việt Nam đã xuất hiện từ lâu nên việc xuống cấp hay bị lạc hậu về công nghệ của một số đập nên không đáp ứng được nhu cầu dùng nước hiện tại [7]
c An toàn đập và tính toán an toàn đập
Phương pháp thiết kế hiện nay được gọi là phương pháp tất định, các tiêu chuẩn được xây dựng dựa trên trạng thái giới hạn của các cơ chế phá hỏng trong đó có kể đến
số dư an toàn thông qua các hệ số an toàn Theo phương pháp này công trình được coi
là an toàn khi khoảng cách giữa tải trọng và sức chịu tải đủ lớn để đảm bảo thỏa mãn từng trạng thái giới hạn của cơ chế phá hỏng của tất cả các thành phần công trình Tuy nhiên phương pháp này có một số hạn chế như sau:
+ Trên thực tế chưa xác định được xác suất phá hỏng của từng thành phần cũng như của toàn công trình;
+ Chưa xét đến tính tổng thể của một hệ thống hoàn chỉnh;
+ Chưa kể đến ảnh hưởng của quy mô hệ thống, chỉ tính toán cho một mặt cắt đập rồi áp dụng cho toàn bộ chiều dài đập;
+ Không so sánh được độ bền tại các mặt cắt khác nhau;
Không đưa ra được xác suất thiệt hại và mức độ gây thiệt hại khi có sự cố Đối với một số đập dâng nhỏ ở miền núi, khi thiết kế để tràn có thể tháođược toàn bộ lưu lượng ứng với tần suất thiết kế thì quy mô, kinh phí xây dựng đập là quá lớn so với mục tiêu phục vụ Trong trường hợp này có thể tính toán để tràn chính chỉ tháo một phần lưu lượng lũ, phần còn lại để tràn qua hai bên vai đập từ đó giảm được kinh phí đầu tư xây dựng Tuy nhiên hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này
Sự hình thành hố xói có thể làm ảnh hưởng đến ổn định trượt và lật của đập Tuy nhiên hiện nay mới chỉ có những nghiên cứu ban đầu mà chưa có tiêu chuẩn và hướng dẫn cụ thể trong tính toán và thiết kế đập [4]
Trang 151.2 Tiêu năng sau đập dâng
1.2.1 Khái quát chung về tiêu năng
Là tìm các biện pháp làm tiêu hao toàn bộ hay một phần năng lượng thừa của dòng chảy từ thượng lưu về hạ lưu khi đi qua các công trình trên sông, trên kênh, điều chỉnh lại sự phân bố lưu tốc và làm giảm mạch động để cho dòng chảy trở về trạng thái tự nhiên trên một đoạn ngắn nhất, rút ngắn đoạn gia cố ở hạ lưu
Các hình thức tiêu năng thường được áp dụng là: Tiêu năng đáy với các hình thức như đào bể, xây tường hoặc bể tường kết hợp; tiêu năng mặt; tiêu năng phóng xa
và một số hình thức tiêu năng đặc biệt
Về lưu lượng tính tiêu năng thì một số nước trên thế giới lấy lưu lượng ứng với tần suất thiết kế đập dâng, một số nước lấy với một tần suất cụ thể Ở Việt Nam thì chưa có quy định nào về lưu lượng tính tiêu năng Về lý thuyết thì lưu lượng tính tiêu năng chính là lưu lượng tạo ra năng lượng thừa lớn nhất Tuy nhiên cơ chế tiêu hao năng lượng dư ở hạ lưu là rất phức tạp nên tính toán theo tiêu chuẩn này thì cũng không thể tiêu hao hết năng lượng dư trong mọi trường hợp
1.2.2 Các hình thức tiêu năng
+ Tiêu năng dòng đáy: Là tìm biện pháp công trình sao cho toàn bộ năng lượng thừa bị tiêu hao trong nước nhảy ngập với hệ số ngập 1,05-1,1 Nhóm giải pháp này gồm: Đào bể, xây tường, bể tường kết hợp, kết hợp với một số các thiết bị tiêu năng phụ như mố nhám, dầm tiêu năng, tường hướng dòng, thay đổi độ dốc của bể tiêu năng Biện pháp tiêu năng đáy phù hợp với các công trình tháo có cột nước thấp và địa chất nền yếu, mực nước hạ lưu thay đổi
+Tiêu năng dòng mặt: ….Áp dụng khi nền công trình cấu tạo địa chất yếu, mềm;
Bậc thụt ở hạ lưu có đỉnh thấp hơn mực nước hạ lưu; Lưu lượng qua công trình vừa và lớn, nhưng chênh lệch mực nước thượng hạ lưu không lớn lắm; Bờ hạ lưu công trình cần phải ổn định
+ Tiêu năng dòng phễu: Khi bán kính cong của bậc lớn thì dòng mặt chuyển thành dòng phễu.Hình dạng và kết cấu phễu tiêu năng có các dạng: phễu có đoạn nằm ngang, phễu có đoạn cong, phễu có đoạn cong và dốc ngược,…
1.2.3 Đoạn sau sân tiêu năng
Trong đoạn dòng chảy sau nước nhảy, tính chất chuyển động của nó khác rất nhiều so với dòng chảy tự nhiên ở hạ lưu Do vậy nó có tiềm năng gây xói và hình thành các sóng ở hạ lưu, hơn nữa mặt cắt ngang ở hạ lưu lại thay đổi vì vậy dòng chảy
ở đây thường không ổn định
Trang 16Nước nhảy tiêu hao một năng lượng rất lớn nhưng sau nước nhảy vẫn còn năng lượng dư Năng lượng dư này nhỏ so với năng lượng đã tiêu hao nhưng lại lớn so với động năng của dòng chảy ở hạ lưu.Đoạn sau nước nhảy để tiêu hao hết năng lượng dư này là rất dài [8]
1.2.4 Với các đập không có thiết bị tiêu năng
Tính toán kiểm tra lưu tốc tại vị trí nước nhảy, chỉ khi lưu tốc này nhỏ hơn lưu tốc không xói cho phép của nền mới không thiết kế thiết bị tiêu năng
Tính toán tạo bể tiêu năng như đối với tiêu năng đáy Trong đó chiều dài nước rơi được tính toán tùy theo các hình thức của đập, phải tính toán sao cho không có nước nhảy phóng xa sau bể, móng đập phải đặt sâu hơn chiều sâu hố xói
1.3 Xói sau đập dâng
1.3.1 Khái niệm
Trong tự nhiên, tất cả các dòng chảy đều có xu hướng cân bằng Khi có điều kiện biên thay đổi như việc xây dựng công trình trên sông, kênh… mực nước thượng lưu tăng kết hợp với năng lượng vốn có của dòng chảy, dòng chảy tập trung lại, tốc độ dòng chảy tăng lên, tạo nên động năng thừa gây xói lở làm thay đổi kích thước hình học và hình dạng của lòng dẫn ở hạ lưu Xói xuất hiện ngay ở chân công trình, nơi có lưu tốc rất lớn và phân bố không đều, nơi có mạch động lưu tốc và áp lực rất lớn
Hình 1-3 Phân bố lưu tốc ở chân công trình và sự hình thành xói [11]
1.3.2 Nguyên nhân xói sau đập dâng
Đối với tiêu năng đáy không có thiết bị tiêu năng, hay có thiết bị tiêu năng nhưng lại không tiêu hao hết năng lượng thừa của dòng chảy từ thượng lưu về;
Với tiêu năng mặt thì mực nước hạ lưu không đúng với tính toán ban đầu Việc
co hẹp lòng dẫn làm tăng lên một cách đáng kể lưu lượng đơn vị và lưutốc dòng chảy sau công trình Do vậy hạ lưu công trình xuất hiện dòng chảy với mạch động lớn của lưu tốc và áp lực Chính mạch động này làm tăng khả năng xói của dòng chảy lên nhiều lần;
Do hình thức, kích thước và vật liệu không hợp lý ở nhiều bộ phận kết cấu công
Trang 17trình tạo nên những hiện tượng thủy lực có lợi cho sự xuất hiện xói;
Trong quá trình tính toán thiết kế do chọn lưu lượng tiêu năng không phù hợp dẫn đến thiết bị tiêu năng không đúng hoặc chảy ngập với hệ số ngập quá lớn; Sử dụng công trình không theo quy trình, cá biệt là không có quy trình Không kịp thời bảo dưỡng, tu sửa công trình
Hình 1-4 Xói hạ lưu đập không có thiết bị tiêu năng: a) hố xói chưa ảnh hưởng đến sự
an toàn của đập; b) hố xói phát tiển mạnh khoét sâu vào chân đập [11]
Hình 1-5 Xói hình thành đối với đập tính toán tiêu năng, tính toán xói phù hợp,
hố xói chưa ảnh hưởng đến sự an toàn của đập [11]
Hình 1-6 Xói hình thành đối với đập tính toán tiêu năng, tính toán xói không
phù hợp, hố xói ảnh hưởng đến bể tiêu năng [11]
1.4 Các biện pháp phòng chống và khắc phục xói sau đập dâng
1.4.1 Đánh giá khả năng xuất hiện xói theo các yếu tố khác nhau
a Khả năng xuất hiện xói từ các yếu tố địa hình
Nhìn chung ở Việt Nam với đặc điểm địa hình có độ dốc lớn, có tới 87% địa hình dốc trên 250 Hơn nữa có đến 55% đập dâng được xây dựng trên địa hình có độ dốc lớn hơn 25% và có tới 50% đập được xây dựng trên lòng suối có độ dốc trên 100‰ bị xói lở hạ lưu Sông suối ở đây có mức độ uốn khúc lớn có nhiều đoạn sông cong nên rất khókhăn cho việc chọn tuyến đập Từ những kết quả tính toán và khảo sát thực tế cho thấy đây là nguyên nhân chủ yếu gây ra xói lở hạ lưu đập dâng
(a)
(b)
Trang 18b Khả năng xuất hiện xói từ các yếu tố thủy văn
Với độ chia cắt mạnh của địa hình nên có nhiều tiểu vùng khí hậu và thiếu rất nhiều số liệu thực đo nên việc tính toán chính xác các yếu tố thuỷ văn là rất khó Hiện nay do biến đổi khí hậu toàn cầu cùng với thảm phủ thực vật bị suy giảm làm cho tỷ số Qmax/Qmin rất lớn Xuất hiện thường xuyên lũ ống lũ quét làm cho đập dâng tràn bị cuốn trôi và hư hỏng do lũ ống lũ quét
Một đặc trưng cơ bản của lũ ống lũ quét là lũ duy trì trong thời gian ngắn, lưu lượng đỉnh lũ tăng, tổng lượng lũ không thay đổi [1] Như vậy với một đập tràn khi gặp lũ ống lũ quét thì lưu lượng tháo lớn hơn, tăng nhanh hơn
c Khả năng xuất hiện xói từ các yếu tố thủy lực
Các yếu tố thủy lực như lưu lượng đơn vị, lưu tốc dòng chảy, cột nước tràn, mực nước hạ lưu, chênh lệch mực nước hạ lưu đều làm cho chiều dài nước nhảy và chiều dài đoạn sau nước nhảy tăng lên Các yếu tố thủy lực trên kết hợp với các điều kiện địa hình, các yếu tố thủy văn làm gia tăng khả năng xói cho đập
d Khả năng xuất hiện xói từ yếu tố địa chất nền
Lớp địa chất chủ yếu phức hệ đất bụi sét nguồn gốc sông - lũ apQ: phức hệ này
có diện phân bố hẹp nhưng lại phân bố tập trung ở lòng sông suối, chiều dày vào khoảng 2-5m; thành phần chủ yếu là cát pha, sét pha lẫn dăm cuội sạn đa khoáng, sắp xếp không chặt Một số chỉ tiêu cơ lý: dung trọng tự nhiên 1,80 g/cm3; góc ma sát trong φ = 180; lực dính kết C = 0.2 kg/cm2 Với điều kiện địa chất như vậy rất thuận lợi cho xói phát triển [9]
e Khả năng xuất hiện xói từ biện pháp công trình
Đối với các công trình thuỷ lợi hầu hết là các công trình nhỏ, mang lại hiệu ích
an sinh xã hội là chính còn hiệu ích về kinh tế chỉ là thứ yếu Chính vì vậy nó có nguồn vốn đầu tư nhỏ, ít được nghiên cứu kỹ lưỡng, hơn nữa vì là công trình nhỏ nên trong quá trình thiết kế, thi công thì có sự chủ quan nhất định
- Xói do khả năng tháo: Địa hình lòng suối hẹp nên chiều rộng đập nhỏ dẫn đến khả năng tháo nhỏ, lưu lượng đơn vị lớn, chênh lệch mực nước thượng hạ lưu cao Từ kết quả tính với các cấp lưu lượng tăng dần và trong thực tế cho thấy đây là nguyên nhân lớn gây nên xói hạ lưu đập
- Xói do hình thức tháo: Với lưu lượng thiết kế lớn, nhưng nguồn vốn đầu tư nhỏ nên phải thiết kế công trình với hình thức tháo lũ qua tràn và cả hai bên vai đập Biện pháp công trình này đã phát huy được hiệu quả nhất định, tuy nhiên trên thực tế loại hình công trình này gặp khá nhiều vấn đề, đặc biệt là đối với sự cố xói ở hạ lưu đập, có đến 100% đập bị ảnh hưởng bởi xói (trong đó 84% đập bị ảnh hưởng nghiêm
Trang 19trọng đến an toàn đập) Không chỉ bị xói ở sau sân gia cố cứng, đập còn bị xói mạnh ở hai bên tường cánh hạ lưu gây xói sâu vào hai bên bờ hạ lưu đập [8]
f Xói do biện pháp tiêu năng
+ Với hình thức tiêu năng tự nhiên thì xói hạ lưu đập là không thể tránh khỏi + Với hình thức tiêu năng đáy: Đây là biện pháp tiêu năng hiệu quả, tuy nhiên
bị ảnh hưởng nhiều bởi mực nước hạ lưu Với địa hình lòng suối phức tạp luôn biến đổi thì việc xác định chính xác mực nước hạ lưu là khó khăn và đặc biệt mực nước hạ lưu cũng không ổn định
+ Xói do không gia cố sân sau: do nguồn vốn hạn hẹp cùng với chủ quan trong thiết kế nên sân sau thường gia cố tạm bợ, thậm chí không gia cố
+ Dùng một số hình thức tràn làm giảm cột nước tràn (Ngưỡng tràn ZícZắc hay ngưỡng tràn “phím Piano với hình thức đập cong, xiên Các kết quả tính toán cho thấy với các biện pháp sử dụng hình thức này, chênh lệch mực nước thượng hạ lưu giảm và chiều sâu hố xói giảm, nhưng không nhiều Tuy nhiên khi tăng chiều dài đập thì khối lượng cũng tăng và do vậy giá thành tăng [2]
+Xây dựng đập sau sân tiêu năng để tăng mực nước hạ lưu, (xem hình 1-7)
Hình 1-7 Gia cố sau sân tiêu năng [10]
+ Gia cố cứng hóa sân sau tăng khả năng phòng xói của nền
Hầu hết các đập dâng tràn trên địa bàn tỉnh Bình Định nằm trên phức hệ đất bụi sét sông, đây là phức hệ rất thuận lợi cho xói phát triển.Nhằm làm tăng khả năng
Trang 20phòng xói của vật liệu nền, có thể đưa ra giải pháp là cứng hóa toàn bộ sân sau tiêu năng, hay tăng cường khả năng chống xói của vật liệu nền bằng các vật liệu có kích thước, trọng lượng lớn hơn vật liệu nền ban đầu như rải thảm đá hộc, hay cuội sỏi có kích thước lớn
Đối với các công trình nhằm hướng tới giải quyết triệt để, không cho xói suất hiện thì gia cố cứng toàn bộ phần sân sau hình 1.7 Với chiều dài gia cố bằng chiều dài lớn nhất của hố xói theo tính toán, chiều sâu chân khay được cắm sau hơn chiều sâu hố xói lớn nhất Với các hình thức kết cấu như bê tông cốt thép, đá xây vữa, rọ thép xếp
Ưu nhược điểm của giải pháp
Ưu điểm: Đây là giải pháp đơn giản trong tính toán thiết kế và triển khai trong thực tế Có khả năng áp dụng khá mềm dẻo, từ phòng xói triệt để đến điều khiển xói hoàn toàn chủ động Đối với giải pháp tăng cường khả năng chống xói của vật liệu nền bằng các vật liệu có kích thước, trọng lượng lớn hơn vật liệu nền ban đầu như rải thảm
đá hộc, hay cuội sỏi có kích thước lớn có giả thành giảm, dễ dàng trong thi công
Lmax Lmax
Trang 21Nhược điểm: Khi cứng hóa toàn bộ sân sau với chiều dài bằng chiều dài lớn nhất của hố xói, hay chỉ cứng hóa một phần thì chi phí cho công trình sẽ tăng cao và không hợp lý với tổng mức đầu tư Khi sử dụng đá hộc hay cuội sỏi có kích thước lớn, trong trường hợp lũ lớn rất có thể toàn bộ vật liệu này sẽ bị cuốn trôi, do vậy trong khi
áp dụng phải tính toán cả vấn đề này
đá hộc, hay cuội sỏi có kích thước lớn
Kéo dài tường bên phòng xói cho hình thức tràn qua cả vai đập
Khi xây dựng đập dâng tràn với bề rộng tràn nhỏ nhưng lưu lượng lũ thiết kế lớn, nếu xây dựng đập với hình thức tháo toàn bộ lưu lượng lũ qua phần tràn thì cột nước thượng lưu rất cao, nguồn vốn đầu tư lớn, nhưng đập lại rất ít khi làm việc với công suất thiết kế như vậy nên việc đầu tư là chưa hiệu quả Để phát huy hiệu quả thì nên thiết kế đập tháo lũ với một lưu lượng thường xuyên suất hiện, phần còn lại nên để tràn qua vai đập với điều kiện cho phép Có thể coi hai bên vai đập chính là tràn sự cố, khi có sự cố hư hỏng thì kinh phí để sửa chữa phần hai bên vai đập là thấp hơn rất nhiều với kinh phí sửa chữa khi có sự cố đối với đập chính
Đối với miền núi, các bãi tưới nằm rải rác ven suối, diện tích các bãi tưới nhỏ Khi xây dựng các đập dâng để tưới cho các bãi tưới này thì suất đầu tư rất lớn do vậy hình thức đập này được sử dụng rộng rãi
Trên thực tế hình thức tràn qua vai đã được sử dụng nhiều tại Bình Định, tuy nhiên với giải pháp này thì công tác phòng chống xói cho hạ lưu là rất phức tạp, do vậy cần phải nghiên cứu, tính toán để đưa ra các biện pháp phòng xói từ đó nhân rộng những kết quả nghiên cứu
Tăng cường quan trắc và quản lý công trình
Phải nhận thức đúng và đủ tầm quan trọng của công tác phòng chống xói ở hạ lưu đập dâng tràn
Đối với các công trình thủy lợi ở miền núi thì việc thiếu nguồn kinh phí duy tu bảo dưỡng là khó tránh khỏi, chính vì vậy phải xác định và phân loại đúng đắn các bộ phận quan trọng và bộ phận thứ yếu, các sự cố phải khắc phục ngay để phân bổ nguồn vốn duy tu bảo dưỡng hợp lý
Trang 22Từng bước nâng cao trình độ trong công tác quản lý
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu về xói tức là tìm các biện pháp không cho xói xuất hiện hoặc khắc phục hố xói không dự báo trước hay lựu chọn các kích thước, hình thức thích hợp khi chủ động cho xói xuất hiện Sự xuất hiện xói và hình thức xói là rất phức tạp nên việc nghiên cứu xói tác giả kết hợp giữa lý luận, các công thức thực nghiệm và ứng dụng
mô hình toán
Xuất phát từ đặc điểm của các công trình thủy lợi ở nước ta, các nghiên cứu về xói tập trung vào các vấn đề như: xói ổn định sau đập tràn ngưỡng thấp; xói nền đá dưới tác dụng của dòng phun; nghiên cứu thực nghiệm, mô hình toán xác định hình dạng của hố xói sau tràn của các công trình thủy lợi, thủy điện trung du và miền núi
Từ những kết quả trên tác giả áp dụng cho đập dâng Cây Gai xã Cát Lâm huyện Phù Cát tỉnh Bình Định
1.6 Đánh giá và nhận xét chung về tính hình nghiên cứu xói
- Do yêu cầu của thực tế sản xuất đòi hỏi xây dựng ngày càng nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷ điện với các quy mô khác nhau; cùng với nó là sự đa dạng của các công trình xả nước, tháo nước làm việc với cột nước tràn khác nhau
- Vì vậy, những nghiên cứu trong và ngoài nước về xói đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới quan tâm Các nghiên cứu hiện nay đã phát triển đồng bộ với sự phát triển của các loại hình tràn khác nhau
- Việc áp dụng trong thực tế các nghiên cứu về xói vẫn còn gặp nhiều khó khăn do sự am hiểu về xói còn thấp hay vẫn chưa có những quy định, các hướng dẫn mang tính pháp lý
- Đối với các nghiên cứu trong nước hiện nay, vẫn chưa có các công trình nghiên cứu mang tính tổng thể trên cả nước để đưa ra được những nhìn nhận chung về xói, về các biện pháp phòng xói hay các công thức tính toán về xói [4]
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Với những nội dung nghiên cứu xói ở Chương I, chúng ta thấy được rằng, vấn
đề nghiên cứu xói và ổn định công trình là một vấn đề rất quan trọng trong các công trình tháo nước qua đập tràn Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu là kết hợp giữa lý luận và thực nghiệm, mô hình toán Việc nghiên cứu đã được kết hợp với đánh giá hiện trạng xói xẩy ra ở thực tế với các điều kiện tự nhiên khác nhau tùy thuộc vào các vùng miền
Trang 23Trong chương sau tác giả nghiên cứu tình hình dựa trên các quan sát thực tế tại hiện trường, tính toán xói với các công thức kinh nghiệm, giải thích các nguyên nhân gây xói Cuối cùng tác giả đề ra giải pháp chống xói cho đập dâng Cây Gai và kiểm tra lại chế độ thủy lực (nguyên nhân chính gây xói) của giải pháp đề xuất bằng mô hình ANSYS
Trang 24Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và là một trong năm tỉnh vùng kinh
tế trọng điểm miền Trung; Cách thành phố Hồ Chí Minh 688 km về phía bắc; Cách thủ
đô Hà Nội 1.060 km về phía nam và cách thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai 175 km về phía đông
Với tọa độ địa lý:
Và được giới hạn bởi:
- Phía bắc: giáp tỉnh Quảng Ngãi,
- Phía nam: giáp tỉnh Phú Yên,
- Phía tây: giáp tỉnh Gia Lai,
- Phía đông: giáp biển Đông
2.1.2 Đặc điểm địa hình, địa chất
Bình Định là tỉnh nằm gọn bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, có địa hình dốc và bị chia cắt mạnh Toàn vùng Bình Định được chia thành 3 dạng địa hình:
- Địa hình núi trung bình và núi thấp: có diện tích khoảng 249.827 ha chiếm 41,5% diện tích tự nhiên
- Vùng gò đồi ở Trung du: Diện tích 159.276 ha chiếm 26,4%
- Đồng bằng và ven biển: diện tích 193.403 ha chiếm 32,1%
Đặc điểm địa chất địa hình của khu vực nghiên cứu sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chế độ dòng chảy và do đó quyết định đến các nguyên nhân gây xói Bởi thực tế đập ở khu vực trung du, sát biển chịu ảnh hưởng của triều sẽ có các cơ chế gây xói khác so với đập ở vùng miền núi Phần lớn các đập ở tỉnh Bình Định nằm ở vùng núi trung bình và núi thấp (gồm cả Đập Dâng Cây Gai mà tác giả tập trung nghiên cứu)
2.1.3 Khí hậu
Trang 25Chế độ nhiệt: Tổng lượng bức xạ hàng năm khá cao: Từ 140 đến 150 cal/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,10C Trung bình cao nhất là 34,60C, trung bình thấp nhất là 19,90C Biên độ ngày đêm trung bình 5 80C
- Số giờ nắng: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng khá cao; trung bình hàng năm có số giờ nắng 2.268 2.412 giờ Thời kỳ nhiều nắng là từ tháng III đến tháng IX và các tháng ít nắng là tháng XI và tháng XII
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm ở Bình Định dao động từ 1.800 3.300 mm Lượng mưa giảm dần từ bắc đến nam, cao nhất là tại vùng núi huyện An Lão với lượng mưa trên 3.300 mm, thấp nhất tại các xã phía đông huyện Tuy Phước với lượng mưa dưới 1.700 mm
Mùa mưa ngắn, chỉ tập trung vào 4 tháng (từ tháng IX đến tháng XII), chiếm 70% đến 80% tổng lượng mưa năm Do mùa mưa ngắn, cường độ mưa lớn nên thường gây ngập, úng làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng
Mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng I đến tháng VIII), chiếm khoảng 20% đến 30% tổng lượng mưa năm Đây là mùa ít mưa nên thường xảy ra tình trạng khô hạn
Bốc hơi: Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm và tăng dần từ bắc vào nam tỉnh Tại Hoài Nhơn là 1.029 mm/năm và tăng dần đến Quy Nhơn là 1.131 mm/năm Bốc hơi tập trung trong các tháng mùa hạ từ tháng VI đến tháng VIII và các tháng có lượng bốc hơi ít là từ tháng X đến tháng XI
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trong khu vực khá thấp, trung bình hàng năm khoảng 79% Các tháng X đến tháng XII hàng năm tương đối ẩm và từ tháng I đến tháng IX là thời
Trang 26(2) Sông La Tinh: Lưu vực sông La Tinh thuộc địa bàn hai huyện Phù Mỹ và
Phù Cát Sông bắt nguồn từ sườn đông dãy núi cao xã Cát Sơn, có diện tích lưu vực
719 km2, chiều dài sông 52 km và chảy vào đầm Đề Gi Ngoài sông chính còn có các nhánh Kiều Duyên dài 20 km, diện tích lưu vực 179 km2; nhánh sông Cạn 61,4 km2; nhánh Đức Phổ 34,6 km2
ủa dãy
-ại ngã ba Bảy Yển, sông Cây
theo sông Tranh nhập với sông Hà Thanh ở phía nam và đổ vào đầm Thị Nại ở cửa Quảng Vân
ắt nguồ-ờng Úc đổ vào đầm Thị Nại rồi chảy ra biển
Ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ như sông Đập Ông Khéo (Hoài Sơn, Hoài Châu), sông Xưởng (Tam Quan) đổ ra cửa Tam Quan; các sông suối nhỏ phía Bắc huyện Phù Mỹ đổ vào đầm Trà Ổ; các sông suối ở Mỹ Chánh, Mỹ Thành, Cát Khánh đổ vào đầm Đề
Trang 27Bảng 2-1 Đặc trưng hình thái các lưu vực sông tỉnh Bình Định [7]
STT
(km2)
sông (km) (%) (km/km2)
I Lưu vực Lại Giang 1.466 85 277 22,0 0,65 2,99
Do đặc điểm mưa nên dòng chảy trên các lưu vực sông của tỉnh Bình Định phân
bố không đều theo không gian và thời gian, dòng chảy chủ yếu tập trung vào các tháng mùa mưa Các sông bắt nguồn từ vùng núi cao, sông ngắn, dốc vì vậy vào mùa lũ hay gây ra lũ quét sạt lở và ngập lụt Mùa khô thì dòng chảy cạn kiệt gây rất nhiều khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân
Bảng 2-2 Đặc trưng dòng chảy các sông chính trong tỉnh [7]
TT Sông Vị trí Flv
(km2)
Xo (mm)
Qo (m3/s)
Mo l/s km2
Wo (106m3)
1 Kôn
Hồ Định Bình 1.040,0 2.238 33,30 40,31 1.050 Cây Muồng 1.677,0 1.816 66,88 39,88 2.109
TĐ An Khê 52,00 700 Biển 3.067,0 1.783 120,12 39,17 4.488
Trang 28TT Sông Vị trí Flv
(km2)
Xo (mm)
Qo (m3/s)
Mo l/s km2
Wo (106m3)
2 Hà Thanh Toàn lưu vực 580,0 1.900 21,78 37,55 687
3 La Tinh
Hội Sơn 67,0 1.787 2,63 39,24 83 Đập Cây Gai 188,0 1.811 7,48 39,77 236 Đập Cây Ké 414,0 1.786 16,24 39,22 512 Toàn lưu vực 739,0 1.786 28,98 39,22 914
4 Lại Giang
An Hoà 383,0 2.803 30,19 78,83 952 Đập Lại Giang 697,0 2.449 38,40 55,09 1.211 Đập Bồng Sơn 1.300,0 2.328 59,57 45,83 1.879 Toàn lưu vực 1.466,0 2.328 67,18 45,83 2.119
* Phân phối dòng chảy năm:Trong năm dòng chảy phân phối không đều, lưu lượng mùa lũ chiếm 70-75%, Q mùa kiệt từ tháng I-IX chiếm 25-30% Lượng mưa nhỏ nhất xảy ra vào 2 thời kỳ: tháng IV và tháng VII, VIII Tỷ lệ dòng chảy tháng IV chỉ chiếm 2% dòng chảy năm, tháng VII, VIII chiếm trung bình 2-3% dòng chảy năm
Bảng 2-3 Phân phối dòng chảy năm các sông chính trong tỉnh [7]
1 Kôn
Hồ Định Bình 22,80 719 19,40 612 Cây Muồng 62,13 1.959 46,02 1.451 39,01 1.230
TĐ An Khê 9,00 700 9,00 700 9,00 700 Biển 111,59 4.219 82,65 3.306 70,08 2.909
2 Hà Thanh Toàn lưu vực 20,23 638 14,99 473 12,71 401
3 La Tinh
Hội Sơn 2,44 77 1,81 57 1,53 48
Đ Cây Gai 6,95 219 5,14 162 4,36 138
Đ Cây Ké 15,08 476 11,17 352 9,47 299 Toàn lưu vực 26,93 849 19,94 629 16,91 533
4 Lại Giang
An Hoà 28,59 902 20,78 655 17,16 541
Đ Lại Giang 36,36 1.147 26,43 833 21,82 688
Đ Bồng Sơn 56,42 1.779 41,00 1.293 33,85 1.067 Toàn lưu vực 63,62 2.006 46,24 1.458 38,17 1.204
Trang 296/1990 Tính chất lũ này nhỏ, chủ yếu chảy trong lòng dẫn và thường là lũ
có lợi vì nó mang một lượng nước đáng kể để phục vụ sản xuất Hè thu
thường gây khó khăn và ảnh hưởng đến thời vụ sản xuất vụ Đông xuân
tháng X và tháng XI, trùng với thời kỳ hoạt động của bão, áp thấp nhiệt đới trên biển Đông, ảnh hưởng đến tỉnh Bình Định kết hợp với các nhiễu động thời tiết khác Trong các tháng này, nhiễu động thời tiết trở nên mạnh mẽ và hoạt động của bão cũng tăng lên, nhiều trận bão trực tiếp đổ bộ hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến Bình Định gây nên những đợt mưa có cường độ lớn trên diện rộng Đặc biệt khi bão tan thành áp thấp di
Trang 30chuyển lên phía Bắc gặp khối không khí lạnh tăng cường gây nên lượng mưa lớn trong toàn vùng
Căn cứ vào tài liệu quan trắc tại các trạm thủy văn trong tỉnh cho thấy, vùng thượng nguồn sông Kôn (trạm Bình Tường), lũ lớn nhất trong năm xuất hiện vào tháng tháng XI là 55,9%; tháng X là 29,4% và tháng XII là 11,8% Vùng đồng bằng sông Kôn (trạm Thạnh Hòa), khả năng xuất hiện lũ lớn nhất xuất hiện vào tháng XI là 47,1%; vào tháng X là 35,3%; còn lại là vào tháng IX và XII
Vùng thượng nguồn sông Hà Thanh (trạm Vân Canh), lũ lớn nhất trong năm xuất hiện vào tháng tháng XI là 50%; tháng X là 36,4% và tháng XII là 9,1% Vùng
hạ lưu sông Hà Thanh (trạm Diêu Trì), khả năng xuất hiện lũ lớn nhất vào tháng XI là 64,7% và vào tháng X là 23,5%
2.1.7 Dòng chảy mùa kiệt
Về mùa kiệt, dòng chảy trong sông rất nhỏ, nguồn nước cung cấp cho sông chủ yếu là nước ngầm
- Trên sông An Lão, tại An Hoà: Lưu lượng tháng kiệt nhỏ nhất xuất hiện vào
xảy ra vào tháng VIII, với Qmin=4,9 m3/s; tương ứng với Mmin=12,8 l/km2 Dòng chảy tháng VIII chỉ chiếm 1,36 % lượng dòng chảy năm Tại An Hoà Qminngày=
-Trên sông Kôn tại Cây Muồng: Lưu lượng tháng kiệt nhỏ nhất xuất hiện vào
2.2 Hiện trạng thuỷ lợi và đập dâng
2.2.1 Hiện trạng thủy lợi
a Hiện trạng đầu tư xây dựng thủy lợi
Qua nghiên cứu và tổng hợp các tài liệu, tác giả nhận thấy tính đến nay toàn tỉnh Bình Định đã sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới được 490 công trình các loại
183 đập dâng, 134 trạm bơm (chưa kể các công trình bán kiên cố và một số công trình tạo nguồn quy mô nhỏ) và kiên cố hóa kênh mương được 907,94 km /2.943,70 km (đạt
tỷ lệ 30,84%) Trong những năm hạn hán gay gắt nhân dân còn đầu tư khoảng 10.000 đến 11.000 giếng khoan để chống hạn; đảm bảo tưới ổn định cho 112.000 ha ÷
Trang 31117.000 ha, bằng 77% ÷ 82% diện tích gieo trồng và tạo nguồn cho công trình thời vụ tưới được 5,71% diện tích cây hàng năm (trong đó: 90% diện tích gieo trồng lúa hàng năm được tưới chắc)
- Tác giả nhận thấy rằng hầu hết các công trình thủy lợi, nhất là các đập dâng và
hồ chứa nước nhỏ được xây dựng trong những năm 1980 của thế kỷ XX với phong trào nhà nước và nhân dân cùng làm hoặc nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ với nguồn vốn hạn hẹp, công tác quản lý đầu tư xây dựng chưa chặt chẽ nên hầu hết các công trình đầu tư không hoàn chỉnh và chất lượng không đảm bảo Mặc dù những năm qua tỉnh Bình Định đã tích cực sử dụng nhiều nguồn vốn để đầu tư nâng cấp các hồ chứa nước, nhưng hiện nay vẫn còn nhiều hồ chứa bị xuống cấp trầm trọng ảnh hưởng đến
an toàn công trình và hiệu quả phục vụ sản xuất dân sinh
Các hệ thống kênh chủ yếu vẫn là kênh đất (chiếm gần 70% chiều dài kênh) lại nằm trong vùng lũ lụt, hàng năm lũ về gây ngập, sạt lở, bồi lấp nghiêm trọng
- Công tác vận hành và bảo trì các hệ thống thủy nông chưa được quan tâm đúng mức, nhất là các công trình do địa phương quản lý Nhiều hệ thống hồ chứa nước chưa có quy trình vận hành, chưa được kiểm định an toàn đập, công tác duy tu, sửa chữa thường xuyên còn hạn chế và chưa được đầu tư thỏa đáng
- Công tác tổ chức quản lý các hệ thống thủy lợi còn nhiều hạn chế, chồng chéo, bất cập Về nhân lực, cán bộ kỹ thuật chuyên ngành thủy lợi còn thiếu, đặc biệt là cán
bộ trực tiếp quản lý các công trình đầu mối hồ chứa nước; công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hệ thống thủy lợi còn chưa được coi trọng và đầu tư đúng mức
b Hiệu quả đầu tư phát triển thủy lợi
Để tạo điều kiện cho phát triển nhanh và bền vững diện tích canh tác, năng suất, sản lượng lương thực Các công trình thủy lợi đã góp phần cải tạo đất dốc, cải tạo môi trường nước như các vùng ven hồ chứa Thủy điện Định Bình, huyện Vĩnh Thạnh
Phát triển thủy lợi tạo điều kiện hình thành và phát triển các vùng chuyên canh cây trồng như lúa, rau mầu tại Bình Định
Phòng chống giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai cho cơ sở hạ tầng, khu sản xuất, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân Hệ thống các công trình chống sạt lở huệ thống Kênh tưới Văn Phong, đê Khu Đông, đã và đang được triển khai và đã phát huy hiệu quả Tại các vùng ngập úng các công trình thoát lũ đã được hoàn thiện các công trình hồ chứa vừa và nhỏ đã từng bước đảm bảo chống lũ cho công trình và tham gia cắt lũ cho hạ lưu
Công trình thủy lợi và công trình cấp nước sinh hoạt về cơ bản đã cấp nước đảm bảo cho sinh hoạt, công nghiệp và các ngành kinh tế khác.Hiện tại khoảng 75%
Trang 32nhân dân trong tỉnh được cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Góp phần vào xây dựng nông thôn mới: Công trình thủy lợi là biện pháp hết sức hiện quả trong đảm bảo cho lượng thực tại chỗ, góp phần ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo cho nhân dân toàn tỉnh
Công trình thủy lợi còn kết hợp với giao thông, quốc phòng an ninh, chỉnh trang
đô thị, góp phần tiêu thoát cho đô thị và công nghiệp
c Những tồn tại cơ bản
Qua phân tích tình hình tác giả nhận thấy có những tồn tại cơ bản sau:
- Công trình thủy lợi chưa theo kịp sự phát triển nhanh của các đô thị hay sự phát triển của đô thị chưa đồng bộ với sự phát triển của thủy lợi
- Các công trình phòng chống và giảm nhẹ thiên tai được xây dựng nhỏ lẻ mang tính chất ứng phó là chính
- Một số công trình chưa phát huy hết hiệu quả do đầu tư không đồng bộ Nhiều công trình chưa được tu bổ, sửa chữa kịp thời.Các biện pháp công trình mới và hiện đại chưa được áp dụng
- Chưa có hoặc chưa đầy đủ về quy trình vận hành, đặc biệt là các công trình do tuyến huyện, xã quản lý và khải thác
2.2.2 Hiện trạng đập dâng
- Theo tài liệu thống kê [7], tính đến năm 2015 trên toàn tỉnh Bình Định có 560
các địa phương xây dựng để hỗ trợ tưới và chống hạn, không thống kê trong các vùng quy hoạch thủy lợi mà chỉ thống kê trong phụ lục tổng hợp công trình theo huyện, thị
b Hiện trạng hư hỏng đập
Xói lở phá vỡ tường cánh thượng lưu: 308 đập, chiếm 53%;
Trang 33Xói hạ lưu và vai đập (chưa ảnh hưởng đến an toàn): 128 đập, chiếm 22%; Xói hạ lưu đập (gây mất an toàn đập): 142 đập, chiếm 24%
Từ số liệu thống kê ở trên ta thấy rằng hiện tượng xói hạ lưu đập là phổ biến nhất và cũng là nguyên nhân chính gây hư hỏng đập Bình Định là tỉnh miền núi, và cũng là nơi thường xuyên xảy ra các trận lũ lớn, điều này cũng giải thích tình trạng hư hỏng các đập phần lớn tập trung ở gần hạng mục tràn Tác giả đề xuất vấn đề xói cần phải được nhận định đúng và phải quan tâm hơn
2.3 Đánh giá xói sau đập dâng
Qua nghiên cứu và thống kê tác giả nhận thấy nhiều đập đã được sửa chữa nâng cấp nhiều lần nhưng vẫn bị hư hỏng Với tổng số 230 đập bị xói lở, các hình thức xói
hạ lưu có thể phân loại được như sau:
2.3.1 Phân loại theo hình thức xói
Bảng 2- 4 Bảng phân loại theo hình thức xói [7]
Tỷ lệ % trên tổng số đập
3
4
2.3.2 Phân loại theo độ dốc lưu vực
Bảng 2-5 Bảng phân loại xói theo độ dốc lưu vực
2.3.3 Phân theo độ dốc lòng sông
Bảng 2-6 Bảng phân loại xói theo độ dốc lòng sông
Trang 34Tỷ lệ % trên tổng số đập bị xói
2.3.4 Phân loại xói theo hình thức tháo lũ
+ Đập tháo lũ qua phần tràn của đập: 117 đập bị xói trong tổng số 429 đập có hình thức tháo lũ này
+ Đập tháo lũ qua cả phần tràn và vai đập: 100% đập xói có ảnh hưởng đến công trình
Nhận xét chung:
Phân loại xói theo độ dốc lưu vực và độ dốc lòng sông: Khi phân loại theo tiêu chí này chỉ dựa trên bản đồ hiện trạng các công trình thủy lợi, bản đồ phân cấp độ dốc, bản đồ địa hình nên chưa phản ánh chính xác
Về sự ảnh hưởng của yếu tố địa hình: sự xuất hiện xói từ yếu tố địa hình là độ dốc lưu vực và lòng sông chiếm tỷ lệ cao, có tới gần 50% đập bị xói được xây dựng ở
độ dốc địa hình và lòng sông là cấp 2 và 3
Công tác tính toán thiết kế: với 260 đập xuất hiện xói không dự báo trước, đây chính là nguyên nhân làm đập bị xói lở mạnh và gây mất an toàn đập Đặc biệt là các loại hình đập tiêu năng tự nhiên và đập có hình thức tràn qua vai, các biệp pháp phòng chống mới chỉ dựa trên kinh nghiệm chứ chưa có một cở sở lý thuyết hay thực nghiệm nào
Quá trình quản lý và khai thác: toàn bộ đập chưa có những đánh giá về hiện tượng xói lở ở hạ lưu đập Do vậy cần phải nghiên cứu thêm về vấn đề này
2.4 Sự xuất hiện xói sau đập dâng
Để đánh giá sự xuất hiện xói, trước tiên phải kiểm tra định lượng xói Tính toán xói nhằm tìm được những nguyên nhân cơ bản gây ra xói ở hạ lưu đập dâng
+ Chiều dài sân sau đập dâng tràn có ảnh hưởng lớn đến chiều sâu hố xói ổn định, khi sân sau đập ngắn chiều sâu xói lớn;
+ Độ dốc lòng dẫn lớn nên mực nước hạ lưu giảm, chiều sâu hố xói lớn;
+ Dung trọng và kích thước lớp địa chất nền càng nhỏ thì hố xói càng sâu, với lớp địa chất nền như vậy hố xói liên tục phát triển Khi tính toán xói không xét đến yếu
tố thời gian, thì hố xói thực tế lớn hơn tính toán
Trang 35+ Đối với các đập được xây dựng với các tính toán thiết kế không chính xác thì
áp dụng các công thức tính toán xói thì không chính xác nữa;
+ Khi xây dựng đập, từ công tác khảo sát thiết kế phải quan tâm đúng mức với xói ở hạ lưu đập, có vậy công tác phòng chống và khắc phục sự cố xói mới phát huy tác dụng
Đối với đập có hình thức tiêu năng tự nhiên: Lưu lượng đơn vị và chiều dài sân sau đập có ảnh hưởng lớn đến hố xói, lưu lượng đơn vị lớn chiều sâu và chiều dài hố xói lớn, tuy nhiên sự ảnh hưởng của chiều dài sân sau là lớn hơn Mực nước hạ lưu cũng có ảnh hưởng lớn đến đến chiều sâu hố xói
Đối với đập có sân tiêu năng: Mọi yếu tố ảnh hưởng đều tương tự như đối với đập có hình thức tiêu năng tự nhiên Tuy nhiên nó lại bị ảnh hưởng lớn bởi yếu tố địa chất nền
Đối với đập có hình thức tháo qua cả tràn và vai đập: Hiện tượng xói khá phức tạp nên cho kết quả tính toán không chính xác so với thực tế, do dòng chảy ở hạ lưu có lưu tốc phân bố không đều và có mạch động lớn Hơn nữa xói với dạng công trình này không chỉ do phần lưu lượng tháo qua tràn, mà nó còn bị ảnh hưởng bởi lưu lượng tràn bên vai đập Hai vị trí xói này khi cùng phát triển và giao thoa với nhau thì tạo thành một vùng xói lớn ở phía hạ lưu, tạo thành những xoáy nước gây xói sâu vào chân đập
+ Thiếu nguồn kinh phí đầu tư tu sửa thường xuyên;
nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý, các công trình nhỏ giao cho huyện, xã quản lý
Do thiếu nguồn vốn, lực lượng, công trình nằm rải rác khắp nơi nên việc phát hiện kịp thời và tu sửa theo đúng nguyên tắc là không kịp thời Sau mỗi mùa lũ hoặc khi có sự cố mới kiểm tra và lập kế hoạch sửa chữa
Trong công tác khảo sát thiết kế còn xem nhẹ vấn đề xói hay không tính toán, thậm chí có công trình tính toán tiêu năng không đúng, không phù hợp
2.5 Về ảnh hưởng của xói đến hiệu quả sử dụng
Trang 362.5.1 Hiệu quả cung cấp nước cho hạ lưu
Xói làm cho mực nước hạ lưu giảm, dòng chảy ở hạ lưu không ổn định thậm chí còn làm thay đổi hướng dòng chảy.Như vậy các công trình lấy nước ở hạ lưu sẽ cao hơn mực nước, bị bồi lắng, và không còn nằm ở vị trí thuận lợi để lấy nước
2.5.2 Sự ảnh hưởng đến các công trình hạ lưu:
Các công trình ở miền núi do địa hình hẹp nên hầu hết các công trình lấy nước, dẫn nước đều nằm sát lòng suối Nên khi hạ lưu bị xói lở sẽ làm mất an toàn hay có thể
bị cuốn trôi
2.5.3 Công tác phòng chống lũ:
Như đã nói xói xẽ làm thay đổi hước dòng chảy ở hạ lưu do đó các công trình phòng chống xói hai bờ dòng chảy không còn phù hợp như thiết kế ban đầu, sự thay đổi dòng chảy còn làm ảnh hưởng đến các công trình khác như: cầu, cống, đường giao thông nằm sát dòng chảy
2.5.4.Phòng chống thấm:
Xói phát triển mạnh làm hạ thấp mực nước hạ lưu làm cho dòng thấm phát triển mạnh gây xói ngầm trong thân đập, dòng thấm tăng làm giảm khả năng cấp nước
2.5.5 Đập có lưu lượng thiết kế tháo qua cả hai bên vai đập:
Xói không chỉ xuất hiện phần hạ lưu đập mà cả phần vai đập gây ra một vùng xói lớn ở toàn bộ phía hạ lưu đập làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của đập Đây chính là vấn đề cần đặc biệt quan tâm
2.6 Về ảnh hưởng của xói đến an toàn đập
Xói làm thay đổi mặt cắt hạ lưu, làm giảm mực nước hạ lưu nên các thiết bị tiêu năng không còn đúng như thiết kế:
lượng thay đổi, kích thước bể tiêu năng cũng thay đổi làm cho toàn bộ thiết bị tiêu năng không còn làm việc đúng với thiết kế ban đầu
2.7 Các công thức áp dụng
Xuất phát từ đặc điểm của các công trình thủy lợi ở nước ta, các nghiên cứu về xói tập trung vào các vấn đề như: Xói ổn định sau đập tràn ngưỡng thấp; Xói nền đá dưới tác dụng của dòng phun; Nghiên cứu thực nghiệm xác định hình dạng của hố xói sau tràn của các công trình thủy lợi, thủy điện
Nghiên cứu về xói ổn định sau đập tràn ngưỡng thấp GS.TS Phạm Ngọc Quý
Trang 37đã đưa ra các kết luận như sau [5]:
Về xác định chiều sâu hố xói ổn định: Từ những nghiên cứu thí nghiệm làm cơ
sở lập các công thức thực nghiệm và được giải theo phương pháp bình phương nhỏ nhất đã đưa ra các công thức tính chiều sâu hố xói ổn định như sau:
+ Khi không chú ý đến dạng nước nhảy:
0,3749 0,1669 0,5826 0,05205
0,25 90
Trang 382.8 Áp dụng tính toán xói cho một số công trình
Trong thời gian qua tại Tỉnh Bình Định đã xảy ra cá sự cố xói lở, tác giả đã áp dụng các công thức tính toán xói lở cho các công trình trên và so sánh với kết quả đo đạc của từng công trình Tác giả cũng phân tích các nguyên nhân gây xói cho các công trình này
2.8.1 Đập Cây Me
Đập Cây Me là nhánh cấp I của sông Kôn, thuộc địa phận Phường Đập Đá Bình Định
Được xây dựng năm 1986, hình thức đập rọ thép xếp đá hộc với quy mô:
Kết quả đo đạc hố xói vào cuối mùa lũ năm 2016:
Hình 2-10 Sơ đồ hố xói sau công trình tháo nước không có sân tiêu năng
Kết quả tính toán xói theo một số công thức trong bảng 2.7
Bảng 2.7: Bảng tính toán xói cho đập Cây Me