1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

167 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 8,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ của một dự án xây dựng dựa vào sơ đồ mạng PERT sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo giúp ta xác định được xác suất hoàn thành tiến độ thi cô

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN PHƯỚC BÌNH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ

THI CÔNG CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA

NGUYỄN PHƯỚC BÌNH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ

THI CÔNG CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng công trình

Dân dụng và Công nghiệp

Mã số: 60.58.02.08

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐẶNG CÔNG THUẬT

Đà Nẵng, năm 2017

Trang 3

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Nguyễn Phước Bình

Trang 4

XÂY DỰNGTRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Học viên: Nguyễn Phước Bình Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng công trình DD&CN

Mã số: 60.58.02.08 Khóa: K31 Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN

Tóm tắt -Rủi ro là một trong những yếu tố không thể tránh khỏi trong mọi hoạt

động sản xuất kinh doanh nói chung và đặc biệt là trong quá trình thi công xây dựng công trình thì rủi ro là những điều không thể tránh khỏi Do đó việc nhận diện được rủi

ro sớm, kịp thời và tìm ra được phương án giải quyết rủi ro đó là một việc làm vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của một dự án/công trình Trong quá trình tổ chức thi công xây dựng thì nhà thầu thường chịu các rủi ro như Sơ đồ mạng là phương pháp

mà cốt lõi của nó là dùng lý thuyết đồ thị có hướng để xác định đường đi trong mạng, từ thời điểm khởi công dự án đến thời điểm kết thúc dự án Trong trường hợp các công việc chưa từng có định mức, thì phải kết hợp phương pháp này với lý thuyết xác suất thống

kê - phương pháp PERT Việc đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ của một dự án xây dựng dựa vào sơ đồ mạng PERT sử dụng phương pháp mô phỏng Monte Carlo giúp ta xác định được xác suất hoàn thành tiến độ thi công dự án

Từ khóa – tiến độ thi công; phân bố xác suất; rủi ro; thời gian; Phương pháp PERT;

phương pháp mô phỏng Monte Carlo

RISK ASSESSMENT IN CONSTRUCTION SCHEDULES FOR

PROJECTS

IN QUANG NGAI PROVINCE

Abstract – The risk is one of the inevitable factors in all business activities in general

and especially in the construction process of the building, the risks are unavoidable

So, it is extremely important to identify the risks early and to find a solution to the risk that determines the success of a project / project In the course of organizing the construction, the contractor is often exposed to the following risks: Network diagram

is the method by which its core is to use directional graph theory to determine the path in the network, from the start of the project to the end of the project In the case

of jobs that have never been normalized, this method must be combined with statistical probability theory - PERT method Assessing the ability to complete the progress of a construction project based on the PERT network diagram using the Monte Carlo simulation method helps us to determine the probability of completion

of the project execution schedule

Key word - construction schedule; probability distribution; duration risk Method

PERT; Simulation method Monte Carlo

Trang 5

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu đề tài 2

3 Đối tượng nghiên cứu 2

4 Phạm vi nghiên cúu 2

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3

7 Bố cục của luận văn 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC THI CÔNG CÔNG TRÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG MỘT SỐ DỰ ÁN Ở TỈNH QUẢNG NGÃI 5

1.1 SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 5 1.1.1 Nội dung của công tác tổ chức thi công là: 5

1.1.2 Các phương pháp tổ chức thi công 6

1.2 CÁC PHƯƠNG PHÁP LẬP TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG 7 1.2.1 Phương pháp sơ đồ ngang (Grant) 7

1.2.2 Phương pháp sơ đồ xiên 7

1.2.3 Phương pháp sơ đồ mạng 8

1.3 CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC TIẾN ĐỘ THI CÔNG 12 1.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu: 12

1.3.2 Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường: 12

1.3.3 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật: 12

1.3.4 Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công: 13

1.3.5 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao: 13

1.3.6 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ thủ tục hành chính, pháp lý: 13

1.4 ĐÁNH GIÁ VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH ĐÚNG TIẾN ĐỘ THI CÔNG MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 13 1.4.1 Đánh giá về nhu cầu vốn và mức độ đáp ứng cho đầu tư phát triển 16

1.4.2 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn 16

1.4.3 Đánh giá chung về kết quả triển khai thực hiện dự án, công tác nghiệm thu, bàn giao công trình, dự án hoàn thành (tiến độ, chất lượng, hiệu quả của dự án) trong giai đoạn 2014 - 2016 17

1.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 17 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SƠ ĐỒ MẠNG PERT VÀ PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE CARLO 19

Trang 6

2.1.1 Định nghĩa về xác suất 19

2.1.2 Xác suất có điều kiện 20

2.1.3 Đại lượng ngẫu nhiên và hàm phân phối 20

2.1.4.Các đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên 21

2.1.5 Lý thuyết mẫu 21

2.1.6 Ước lượng tham số 22

2.1.7 Sơ lược về ước lượng hợp lý cực đại 23

2.2 SƠ ĐỒ MẠNG CPM VÀ PERT DÙNG ĐỂ LẬP TIẾN ĐỘ THI CÔNG 25 2.2.1 Lý luận chung về Phương pháp đường găng - CPM (Critical Path Method) 25

2.2.2 Lý luận chung về Kỹ thuật tổng quan và đánh giá dự án – PERT (Program Evaluation and Review Technique) 31

2.3 PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG MONTE CARLO 34 2.4 ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP MONTE CARLO VÀO SƠ ĐỒ MẠNG PERT 35 2.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG 39 CHƯƠNG 3 ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH TIẾN ĐỘ THI CÔNG CÁC DỰ ÁN XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 40

3.1 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TIẾN ĐỘ THI CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 40 3.1.1 Các Chủ thể quản lý dự án trên địa bàn tỉnh 40

3.1.2 Về tình hình quản lý tiến độ thi công trên địa bàn tỉnh 41

3.2 PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG HOÀN THÀNH MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẢNG NGÃI 43 3.2.1 Mô tả dự án nhà lớp học Trường THPT Lê Trung Đình và nhà thi đấu đa chức năng của Trường THPT Trần Kỳ Phong 43

3.2.2 Kết quả khảo sát 47

3.2.3 Nhận diện quy luật phân phối xác suất thời gian hoàn thành các công việc dựa vào phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (maximum likelihood estimation – MLE) 50

3.2.4 Kết quả xác suất hoàn thành tiến độ thi công 56

3.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 57 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI (BẢN SAO)

PHỤ LỤC

Trang 7

PERT : (Program Evaluation and Review Technique, có nghĩa là Kỹ thuật ước lượng

và kiểm tra dự án)

CPM : (Critical Path Method): Phương pháp Đường găng

MLE : (maximum likelihood estimation): Phương pháp ước lượng hợp lý cực đại

Trang 8

Số hiệu

3.1 Danh mục các công việc và thời gian hoàn thành Công trình nhà thi

đấu đa chức năng Trường Trung học phổ thông Trần Kỳ Phong 44

3.2 Danh mục các công việc và thời gianhoàn thành Công trình nhà lớp

học Trường THPT Lê Trung Đình (giai đoạn 2) 46

3.6 Xác suất hoàn thành dự án công trình nhà thi đấu đa năng 563.7 Xác suất hoàn thành dự án công trình nhà lớp học 56

Trang 9

Số hiệu

1.1 Lập tiến độ và quản lý tiến độ băng sơ đồ ngang 71.2 Lập và quản lý tiến độ bằng sơ đồ xiên (4 dây chuyền công tác) 8

2.1 Nguyên tắc hoạt động của phương pháp Monte Carlo 352.2 Các bước tính toán của phương pháp Monte Carlo 36

3.1 Sơ đồ mạng dự ánnhà thi đấu đa chức năng Trường THPT Trần

Kỳ Phong (Lưu ý: tiến độ thi công do nhà thầu đề xuất) 45

3.3 Nhận diện quy luật phân phối xác suất hoàn thành công việc A 533.4 Khảo sát khả năng hoàn thành dự án theo thời gian tham chiếu Ts

3.5 Khảo sát khả năng hoàn thành dự án theo thời gian tham chiếu Ts

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Một dự án xây dựng thường bao gồm rất nhiều đầu mục công việc Mỗi đầu mục công việc thường đòi hỏi một thời gian hoàn thành nhất định và có liên quan mật thiết với nhau Tính chất của một dự án xây dựng là thời gian thi công dài, quy trình phức tạp, môi trường ô nhiểm, cơ cấu tổ chức năng động, kỹ thuật phức tạp sẽ tạo ra những rủi ro rất lớn Chính vì vậy, muốn thi công một công trình đúng tiến độ và đạt chất lượng cao, đòi hỏi phải biết chính xác: dự án cần bao nhiêu thời gian để hoàn thành, vào lúc nào có thể bắt đầu hoặc kết thúc công việc; nếu công việc bị kéo dài thì có thể kéo dài bao nhiêu ngày, để vẫn đảm bảo hoàn thành kế hoạch, những công việc nào là trọng

tâm, cần sự tập trung chỉ đạo Do vậy việc lập “tiến độ thi công” là một khâu quan trọng

trong việc thi công xây dựng công trình, giúp việc thi công được diễn ra một cách liên tục, nhịp nhàng, đúng tiến độ, đảm bảo chất lượng công trình và tránh phát sinh những chi phí không cần thiết

Trong thực tế xây dựng thường gặp rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên tác động (điều kiện

về thời tiết, việc cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị…) có thể gây ra rủi ro khiến cho việc thi công không thực hiện đúng như kế hoạch đã được lập qua đó ảnh hưởng đến tiến độ hoàn thành, chất lượng của công trình Những rủi ro ảnh hưởng tiến độ thi công có thể

kể đến như:

• Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu:

Do đặc điểm của ngành xây dựng chủ yếu là sản xuất ngoài trời trong thời gian dài nên các yếu tố thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện dự án, chất lượng và chi phí của dự án

• Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường:

Những ngành kinh tế quan trọng và chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân Những biến động lớn và bất ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện dự án

• Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật:

Rủi ro này liên quan đến việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng các máy móc thiết bị đó

• Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công:

Khả năng huy động nhân lực nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động, ý thức kỷ luật của người công nhân chưa đạt yêu cầu trong thời gian

sử dụng

Trang 11

Vì vậy, thời hạn hoàn thành các công việc nhiều khi không cố định Vấn đề đặt ra

ở đây là: Phải xử lý tình trạng không ổn định về thời gian như thế nào để rút ra được những kết luận đáng tin cậy và có thể sử dụng được trong thực tế thi công, đặc biệt là phải đánh giá được khả năng (xác suất) hoàn thành đúng tiến độ thi công của dự án để

có cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp quản lý Muốn giải quyết vấn đề này có thể vận dụng các phương pháp của lý thuyết xác suất thống kê để nghiên cứu sơ đồ mạng PERT

(Program Evaluation and Review Technique, có nghĩa là Kỹ thuật ước lượng và kiểm

tra dự án) Đây cũng chính là hướng nghiên cứu cần thiết và có giá trị thực tiễn mà đề

tài sẽ tập trung nghiên cứu

• Tổng hợp được các ưu điểm và nhược điểm của các mô hình tiến độ, trong đó

tập trung phân tích phương pháp sơ đồ mạng CPM (Critical Path Method) và PERT

(Program Evaluation and Review Technique)

• Ứng dụng được thuật toán mô phỏng Monte Carlo trong phương pháp sơ đồ mạng PERT để đánh giá khả năng hoàn thành dự án đúng tiến độ thi công

• Phân tích kết quả thu được và rút ra được những kết luận có thể sử dụng được trong thực tế thi công

3 Đối tượng nghiên cứu

• Cơ sở lý thuyết về sơ đồ mạng

• Yếu tố rủi ro trong tổ chức tiến độ thi công

• Ứng dụng mô phỏng Monte Carlo trong việc phân tích các yếu tố rủi ro trong thi công

4 Phạm vi nghiên cúu

Nhà lớp học và nhà thi đấu đa năng của các trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

Trang 12

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:

• Thu thập tài liệu; tìm hiểu lý thuyết về sơ đồ mạng và việc lập tiến độ thi công bằng sơ đồ mạng, so sánh ưu nhược điểm với các mô hình tiến độ khác

• Phân tích các yếu tố tác động đến vấn đề rủi ro trong thi công

- Phương pháp mô phỏng:

• Ứng dụng Monte Carlo để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ thi công

- Phân tích kết quả thu được, nhận xét và đưa ra kiến nghị

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Luận văn này dùng phương pháp Monte Carlo trong sơ đồ mạng PERT để phân tích, tính toán ảnh hưởng của các yếu tố rủi ro đến tiến độ một số dự án trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm mục đích xác định chính xác khả năng hoàn thành dự án trong bối cảnh thời gian cho mỗi công việc dễ bị thay đổi và mang tính ngẫu nhiên Phương pháp này có thể cung cấp cơ sở khoa học định lượng và các thông tin cho quản lý dự án Ở một chừng mực nào đó, nó cũng sẽ giúp các nhà quản lý dễ dàng kiểm soát rủi ro thời gian và đưa ra quyết định đúng

7 Bố cục của luận văn

5) Phương pháp nghiên cứu

6) Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Chương 1 Tổng quan về rủi ro trong tổ chức thi công công trình và đánh giá mức độ hoàn thành tiến độ thi công một số dự án ở tỉnh Quảng Ngãi

1.1 Sơ lược về tổ chức thi công công trình xây dựng

1.2 Các phương pháp lập tiến độ thi công công trình xây dựng

1.3 Các yếu tố rủi ro trong tổ chức tiến độ thi công

1.4 Đánh giá về mức độ hoàn thành đúng tiến độ thi công một số dự án xây dựng trên địa bàn Quảng Ngãi

Trang 13

2.2 Sơ đồ mạng CPM và PERT dùng để lập tiến độ thi công

2.3 Phương pháp mô phỏng Monte Carlo

2.4 Ứng dụng phương pháp Monte Carlo vào sơ đồ mạng PERT

2.5 Kết luận chương

Chương 3 Đánh giá khả năng hoàn thành tiến độ thi công các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.1 Thực trạng quản lý tiến độ thi công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Mô tả tiến độ thi công đề xuất và thực tế hoàn thành của một số dự án trên địa bàn Quảng Ngãi

3.3 Mô phỏng, phân tích và nhận xét các kết quả thu được

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC THI CÔNG

CÔNG TRÌNH VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH TIẾN

ĐỘ THI CÔNG MỘT SỐ DỰ ÁN Ở TỈNH QUẢNG NGÃI

1.1 SƠ LƯỢC VỀ TỔ CHỨC THI CÔNG CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG

Tổ chức thi công là chức năng quản trị sản xuất trong xây dựng, bao gồm nội dung: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và quản lý các hoạt động của con người trong việc cung cấp vật tư thiết bị, chi tiêu hạch toán kinh tế trong quá trình xây lắp trên công trường để đạt mục tiêu đề ra: hoàn thành công trình đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng xây dựng, giá thành hạ và đảm bảo môi trường, an toàn trong sản xuất Bốn mục tiêu đó luôn luôn có quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau trong quá trình thi công Nhiệm vụ của công tác tổ chức thi công là đưa ra những phương án phân chia, sắp xếp quá trình thi công, tổ chức các dây chuyền sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện cung cấp nguồn lực theo kế hoạch đã xác định và phải bảo đảm các quy trình, quy phạm, phù hợp với điều kiện cơ sở vật chất và thời gian thi công đã xác định

Tóm lại, nhiệm vụ của tổ chức xây dựng là hoàn thiện hệ thống quản lý, xác định các phương pháp tổ chức, chỉ đạo xây dựng một cách khoa học đảm bảo hiệu quả kinh

tế, kỹ thuật tối ưu khi xây dựng một công trình cũng như khi xây dựng một liên hợp công trình dân dụng, công nghiệp

1.1.1 Nội dung của công tác tổ chức thi công là:

- Lựa chọn biện pháp kỹ thuật, công nghệ phù hợp với điều kiện thực tế của công trình

- Đề xuất và lựa chọn được mô hình tổ chức thi công cho các bộ phận, công trình đơn vị phù hợp với kế hoạch tiến độ thi công

- Trên cơ sở thời gian thi công đã xác định, tổ chức thi công sao cho đảm bảo kế hoạch thời gian và hài hòa được điều kiện cung cấp vật tư thiết bị tiêu hao vốn

Công tác tổ chức thi công liên quan chặt chẽ đến nội dung công tác lập và điều khiển kế hoạch tiến độ thi công

Khoa học tổ chức xây dựng luôn gắn liền với kiến thức của nhiều chuyên môn đặc biệt về công nghệ xây dựng, cơ giới hóa xây dựng và kinh tế xây dựng Đó là những kiến thức tiên quyết mà người kỹ sư xây dựng phải nắm vững trước khi bắt tay vào công việc lập kế hoạch tổ chức và điều hành sản xuất xây dựng Để hoàn thành nhiệm vụ sản xuất người thực hiện công việc xây lắp phải chuẩn bị đầy đủ vật tư, máy móc, thiết bị

và đặc biệt là con người để tiến hành công việc Việc tiến hành công việc sản xuất có

Trang 15

thể thực hiện theo nhiều cách khác nhau Ta gọi là phương pháp tổ chức sản xuất

Dù phương pháp sản xuất nào cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của tổ chức sản xuất, đặc biệt là tổ chức sản xuất xây dựng, đó là:

-Tuân thủ công nghệ sản xuất để đảm bảo chất lượng công trình

-Bảo đảm thời hạn thi công

- Hạ giá thành sản phẩm

1.1.2 Các phương pháp tổ chức thi công

a Phương pháp tổ chức thi công tuần tự

Là phương pháp tổ chức sản xuất các công việc ở vị trí này hoàn thành rồi mới chuyển sang công việc tiếp theo ở vị trí khác

- Ưu điểm: phương pháp tổ chức thi công tuần tự thì mức độ huy động tài nguyên không căng thẳng, công tác tổ chức và điều hành sản xuất được thực hiện dễ dàng

- Nhược điểm: thời gian xây dựng công trình bằng tổng thời gian thi công các hạng mục công việc cho nên tiêu tốn nhiều thời gian

Phạm vi áp dụng của hình thức tổ chức sản xuất này phù hợp với công trình có điều kiện tài nguyên khó huy động và thời gian xây dựng công trình không hạn chế

b Phương pháp thi công song song

Là phương pháp tổ chức thi công các hạng mục công trình (các công việc) được tiến hành song song với nhau

- Ưu điểm: theo phương pháp này thì thời gian xây dựng công trình bằng thời gian thi công các hạng mục công việc, và thời gian thi công là ngắn nhất

- Nhược điểm: vì có nhiều công việc thi công trong cùng một thời điểm trên cùng một mặt bằng dẫn đến mức độ huy động tài nguyên rất căng thẳng, bố trí mặt bằng thi công khó khăn

Phạm vi áp dụng: phương pháp này được áp dụng khi cần rút ngắn thời gian thi công và tài nguyên huy động không hạn chế trong điều kiện mặt bằng thi công cho phép

c Phương pháp thi công dây chuyền

Phương pháp dây chuyền là một phương pháp tổ chức sản xuất Theo đó, đối tượng thi công được chia thành nhiều phần nhỏ (gọi là phân đoạn), còn quá trình xây lắp tổng hợp được chia thành nhiều quá trình nhỏ hơn (làm thành các quá trình bộ phận), mỗi quá trình bộ phận do một tổ công nhân thực hiện, gọi là dây chuyền

Hai phương pháp trên có ưu và nhược trái ngược nhau về thời gian thi công và mức độ huy động tài nguyên Nhưng đều có một nhược điểm là ít quan tâm đến sự làm việc của các tổ chức sản xuất về phương diện chuyên môn hóa và tính liên tục Để khắc phục những nhược điểm và phát huy ưu điểm, người ta đưa ra phương pháp tổ chức sản xuất thi công dây chuyền

Trang 16

Với hình thức tổ chức sản xuất dây chuyền thì thời gian hoàn thành công trình sẽ nhỏ hơn phương pháp tuần tự và lớn hơn phương pháp song song Ngược lại, mức độ huy động tài nguyên sẽ nhỏ hơn phương pháp song song và lớn hơn phương pháp tuần

- Phương pháp sơ đồ ngang (Grant)

- Phương pháp sơ đồ xiên (dây chuyền)

- Phương pháp sơ đồ mạng

1.2.1 Phương pháp sơ đồ ngang (Grant)

Phương pháp sơ đồ ngang là một phương pháp quản lý tiến độ, nó được ra đời trong chiến tranh thế giới thứ nhất tại Mỹ bởi một kỹ sư tên là Henry L.Grantt (1861-1919) Do ưu điểm đơn giản dễ sử dụng có tính hiển thị cao, dễ biểu diễn mà nó được

ưa chuộng và sử dụng rỗng rãi trong ngành xây dựng Nó là một công cụ để thể hiện và truyền đạt thông tin về tiến độ và theo dõi thực hiện tiến độ rất tốt, các biểu đồ về tài nguyên có thể lập được dễ dàng thông qua bảng tiến độ ngang này

Hạn chế của nó cũng chính bởi tính đơn giản mà nó không mô tả rõ ràng chặt chẽ quan hệ giữa các công việc, với các dự án lớn phức tạp chỉ đơn thuần dựa vào kinh nghiệm thì rất dễ đưa ra bảng tiến độ thiếu khả thi Tính logic trong khi lập tiến độ này cũng không rõ ràng vì vậy đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng công tác đối với việc thực hiện dự án thiếu tính chính xác, việc điều chỉnh cũng thiếu cơ sở khoa học

Hình 1.1 Lập tiến độ và quản lý tiến độ băng sơ đồ ngang

1.2.2 Phương pháp sơ đồ xiên

Sơ đồ xiên là sơ đồ không những diễn tả tiến trình công việc theo thời gian mà còn thể hiện được mối liên quan giữa các công việc trong không gian Vì vậy nó rất thích

Trang 17

hợp để thể hiển dự án tổ chức theo phương pháp dây chuyền nhằm bảo đảm tính liên tục

và điều hòa sự phối hợp nhịp nhàng trong sản xuất

Hình 1.2 Lập và quản lý tiến độ bằng sơ đồ xiên (4 dây chuyền công tác)

Giống như đồ ngang, sơ đồ xiên chỉ là mô hình tĩnh, có tính toán trước các tham

số (về không gian: chia thành các phân đoạn; về thời gian: với chu kỳ là số ngày, thời gian làm việc của mỗi dây chuyền) rồi thể hiện lên sơ đồ

Đối với các dự án lớn phức tạp, sơ đồ xiên cũng không thể hiện hết các vấn đề đặt

ra, nhất là khi giải quyết các bài toán tối ưu như rút ngắn thời gian xây dựng, hoặc những

dự án không tính được thời gian xây dựng theo các phương pháp thông thường mang nhiều yếu tố ngẫu nhiên, sơ đồ mạng có thể giúp ta giải quyết các vấn đề này

1.2.3 Phương pháp sơ đồ mạng

Sơ đồ mạng là một mô hình toán học động, thể hiện toàn bộ dự án thành một thể thống nhất, chặt chẽ, trong đó thấy rõ vị trí từng công việc đối với mục tiêu chung và sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các công việc Các loại sơ đồ mạng:

- Sơ đồ mạng CPM (Phương pháp Đường găng): là phương pháp mà cốt lõi của

nó là dùng lý thuyết đồ thị có hướng để xác định đường đi trong mạng, từ thời điểm khởi công dự án đến thời điểm kết thúc dự án, qua một số các công việc và các mối quan hệ giữa các công việc này, có chiều dài lớn nhất Chiều dài đường găng cũng chính là tổng thời gian thực hiện toàn bộ dự án

- Sơ đồ mạng PERT (Kỹ thuật ước lượng và đánh giá chương trình, hay Kỹ thuật

ước lượng và kiểm tra dự án): là phương pháp áp dụng kết hợp giữa lý thuyết xác suất thống kê (để ước tính thời lượng công việc trong các dự án mà công việc có thời lượng không xác định trước), với dạng sơ đồ mạng đường găng sử dụng lý thuyết đồ thị Phương pháp này do người Hoa Kỳ phát triển vào năm 1958

- Sơ đồ mạng ADM (Phương pháp sơ đồ mạng thể hiện bằng mũi tên): là phương

pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng mũi tên

- Sơ đồ mạng MPM (Metra potential method - Sơ đồ mạng nút công việc): là

phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, quan hệ bằng mũi tên (cũng

là lý thuyết mạng đồ thị có hướng), được phát triển độc lập bởi người Pháp vào năm

1958 cùng lúc với PERT

Trang 18

- Sơ đồ mạng PDM (tức là Phương pháp sơ đồ mạng theo quan hệ, hay Phương

pháp sơ đồ mạng nút): là phương pháp sơ đồ mạng CPM thể hiện công việc bằng nút, được người Hoa Kỳ phát triển trên cơ sở cải tiến các phương pháp CPM của Hoa Kỳ và phương pháp sơ đồ mạng MPM của người Pháp Phương pháp này chú trọng việc thể hiện được tất cả các kiểu mối quan hệ trong thực tế giữa các công việc mà phương pháp

sơ đồ mạng ADM không thể hiện được (phương pháp ADM chỉ thể hiện được một loại mối quan hệ duy nhất là mối quan hệ tuần tự FS (Finish to Start), với các loại quan hệ khác ADM phải dùng các cách đặc biệt trong đó có việc dùng công việc ảo) Phương pháp PDM này là cơ sở thuật toán cho phần mềm Microsoft Project

- Sơ đồ mạng CCPM (Sơ đồ mạng Chuỗi găng, hay Sơ đồ mạng dây chuyền công

tác găng CCM (Critical Chain Method), hoặc Quản lý dự án theo dây chuyền găng CCPM (Critical Chain Project Management))

Trong các sở đồng mạng nêu trên phổ biến hơn cả là hai loại CPM (Critical Path Method) và PERT (Program Evaluation and Review Technique): hai loại này cơ bản giống nhau về hình thức, về trình tự lập, chỉ khác nhau về phương pháp tính thời gian

Để biểu diễn sơ đồ mạng công việc có hai phương pháp chính:

- Phương pháp “công việc mũi tên” (AOA - Activities on Arrow)

- Phương pháp “công việc trên các nút” (AON - Activities on Nod)

Cả hai phương pháp này đều có chung một nguyên tắc là: trước khi một công việc

có thể được bắt đầu thì tất cả các công việc trước đó đều phải được hoàn thành và các mũi tên được vẽ theo chiều từ trái sang phải phải ánh mối quan hệ logic trước sau giữa các công việc, độ dài mũi tên lại không có ý nghĩa gì

Hình 1.3 Sơ đồ mạng của dự án theo phương pháp AOA

Sơ đồ mạng có tác dụng như sau:

- Phản ánh mối quan hệ tương tác giữa các nhiệm vụ, các công việc của dự án

- Xác định ngày bắt đầu, ngày kết thúc, thời hạn hoàn thành, trên cơ sở đó xác định

Trang 19

các công việc găng và đường găng của dự án

- Là cơ sở để tính toán thời gian dự trữ các công việc, các sự kiện

- Cho phép xác định những công việc nào cần phải thực hiện nhằm kết hợp tiết kiệm thời gian và nguồn lực, các công việc nào có thể thực hiện đồng thời nhằm đạt được mục tiêu về ngày hoàn thành của dự án

- Là cơ sở để lập kế hoạch kiểm soát, theo dõi kế hoạch tiến độ và điều hành dự

án

* Nguyên tắc xây dựng sơ đồ mạng AON

Xây dựng mạng công việc theo phương pháp AON cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

- Các công việc được trình bày trong một nút Những thông tin trong nút gồm tên công việc, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và độ dài thời gian thực hiện công việc

- Các mũi tên xác định quan hệ trước saucủa công việc Có 4 kiểu quan hệ là: FS (Kết thúc - Bắt đầu), SS (Bắt đầu - Bắt đầu), FF (Kết thúc - Kết thúc), SF (Bắt đầu - Kết thúc)

- Tất cả các điểm, trừ một điểm kết thúc đều có ít nhất một điểm đứng sau, tất cả các điểm trừ điểm bắt đầu đều có điểm đứng trước

- Trong mạng chỉ có một điểm đầu tiên và điểm cuối cùng

* Xây dựng sơ đồ mạng AOA: Trongsơ đồ mạng AOA có các phần tử:

- Sự kiện: Là mốc đánh dấu sự bắt đầu hay kết thúc của một số công việc

- Công việc: Là một cách gọi quy ước để chỉ một quá trình hay một tập hợp các quá trình sản xuất nào đó có tiêu hao về thời gian và nguồn lực, có công việc đang xét, công việc tiếp trước và công việc tiếp sau

- Đường găng: Đường trong sơ đồ mạng bao giờ cũng đi từ sự kiện khởi công đến

sự kiện hoàn thành, do đó trong sơ đồ mạng có thể có nhiều đường Đường có độ dài lớn nhất gọi là đường găng Một sơ đồ mạng có thể có nhiều đường găng

- Nguồn lực: Nguồn lực trong sơ đồ mạng được hiểu là thời gian và các vật chất cần thiết khác để thực hiện dự án

- Thời gian công việc: Là thời gian để hoàn thành công việc theo ước lượng, được

ấn định hay tính toán

* Quy tắc cơ bản vẽ sơ đồ mạng:

- Sơ đồ mạng là một mô hình thống nhất có bắt đầu bằng sự khởi công và kết thúc bằng sự hoàn thành

- Mũi tên ký hiệu công việc đi từ trái sang phải

- Những công việc riêng biệt không có cùng sự kiện tiếp đầu và sự kiện tiếp cuối, nghĩa là mỗi công việc phải ký hiệu bằng 2 chỉ số riêng biệt

Trang 20

- Sắp xếp công nghệ phải theo trình tự hoặc công nghệ tổ chức

- Có công việc có thể bắt đầu khi công việc khác chưa kết thúc

- Khi tổ chức sản xuất theo phương pháp dây chuyền, có nhiều công việc vừa làm tuần tự vừa làm song song

- Trong sơ đồ mạng có thể thay đổi một đoạn mạng nhỏ bằng một công việc đơn giản hóa và ngược lại thay đổi một công việc phức tạp thành một mạng nhỏ

- Sơ đồ mạng cần thể hiện một cách đơn giản nhất có thể, không nên có các công việc giao cắt

- Không cho phép tồn tại một chu trình kín trong mạng, không vẽ mũi tên ngược

- Lập và quản lý tiến độ bằng sơ đồ mạng

* Trình tự lập tiến độ bằng sơ đồ mạng

Bước 1: Xác định công việc và mối liên hệ giữa chúng, tức là xem xét công việc nào làm trước công việc nào làm sau những công việc nào có thể làm đồng thời với việc đang xét

Bước 2: Lập sơ đồ mạng, có 3 phương pháp:

+ Đi từ đầu đến cuối dự án

+ Đi ngược từ cuối lên đầu dự án

+ Làm từng cụm

Bước 3: Hoàn thiện sơ đồ mạng

Bước 4: Tính toán các yếu tố của sơ đồ mạng

Bước 5: Chuyển sơ đồ mạng lên lịch tiến độ

Bước 6: Tối ưu hóa sơ đồ mạng

* Quản lý tiến độ bằng sơ đồ mạng

- Sau khi đã điều chỉnh sơ đồ mạng theo các tiêu chuẩn tối ưu và đã có các biểu đồ

về nhu cầu nhân lực và các nguồn lực khác thì công việc tiếp theo là quản lý tiến độ, tìm cách thực hiện các công việc đã tính toán trên sơ đồ mạng để hoàn thành đúng thời hạn

đã vạch ra

- Muốn vậy phải tập trung chỉ đạo các công việc găng coi đó là công việc then chốt cần được ưu tiên về vật tư, nhân lực và sự giám sát chặt chẽ về kỹ thuật và tổ chức Đường găng mang yếu tố khách quan, nó phản ánh sự “găng” về logic công việc chứ không phụ thuộc vào tên công việc là quan trong hay không quan trọng, có trường hợp công việc găng lại là công việc ảo không đòi hỏi chi phí nguồn lực

- Trên thực tế việc hoàn thành các công việc đã tính toán trên sơ đồ mạng là khó đạt được sự hoàn hảo do nhiều lí do khách quan, vì vậy cần thường xuyên kiểm tra và điều chỉnh lại các công việc trong sơ đồ mạng sao cho phù hợp nhất

Trang 21

- Để thực hiện tốt công việc quản lý tiến độ đối với đơn vị tư vấn giám sát cần thành lập một tổ chuyên theo dõi thực hiện tiến độ, có giải pháp điều chỉnh và khắc phục kịp thời mỗi khi có sự tác động khách quan cũng như chủ quan tác động đến và làm sai lệch bản tiến độ đã lập

1.3 CÁC YẾU TỐ RỦI RO TRONG TỔ CHỨC TIẾN ĐỘ THI CÔNG

1.3.1 Rủi ro do các yếu tố ngẫu nhiên như môi trường, khí hậu:

Do đặc điểm của ngành xây dựng chủ yếu là sản xuất ngoài trời trong thời gian dài nên các yếu tố thời tiết, khí hậu có ảnh hưởng rất lớn đến thời gian thực hiện dự án, chất lượng và chi phí của dự án

1.3.2 Rủi ro do những biến động bất ngờ của thị trường:

Xây dựng là một trong những ngành kinh tế quan trọng và chiếm một lượng vốn đầu tư rất lớn của nền kinh tế quốc dân Những biến động lớn và bất ngờ của thị trường trong và ngoài nước ảnh hưởng rất lớn đến các dự án xây dựng Các biến động này đem theo các rủi ro về mặt tài chính đối với dự án đồng thời ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện

dự án

1.3.3 Rủi ro do các nguyên nhân kỹ thuật:

Liên quan đến việc đầu tư, trang bị máy móc, thiết bị phục vụ cho quá trình thi công xây dựng và việc sử dụng các máy móc thiết bị đó

- Rủi ro trong đầu tư mua sắm máy móc thiết bị:

+ Khả năng thu hồi vốn đầu tư thấp

+ Rủi ro do hao mòn vô hình: do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật gây ra

+ Rủi ro do đầu tư mua sắm thiết bị không đồng bộ dẫn đến việc làm chậm quá trình đưa máy móc thết bị vào sử dụng, gây ứ đọng vốn đầu tư và kéo theo các ảnh hưởng lớn khác đến dự án

+ Rủi ro do thiếu thông tin, kinh nghiệm trong việc đầu tư mua sắm trang thiết bị nên phải sử dụng công nghệ lạc hậu

- Rủi ro trong việc sử dụng máy móc thiết bị:

+ Không có sự phù hợp giữa trình độ của người sử dụng và máy móc công nghệ mới: máy móc thiết bị hiện đại trong khi người công nhân chưa được đào tạo, chưa biết cách thao tác hoặc chưa thành thạo, các điều kiện bảo trì chưa đảm bảo

+ Khả năng thực tế của máy móc thiết bị và người sử dụng: công suất hoạt động của máy móc thiết bị mới nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động của người công nhân hay kỹ thuật viên điều khiển các máy móc thiết bị mới

đó chưa đạt yêu cầu trong thời gian đầu sử dụng

+ Người công nhân thiếu kinh nghiệm khi sử dụng các thiết bị

+ Ý thức kỷ luật của người công nhân khi sử dụng thiết bị thấp

Trang 22

+ Điều kiện khí hậu ở Việt Nam có thể đem đến các rủi ro làm cho máy móc thiết

bị dễ hư hỏng nên không thực hiện đúng chế độ bảo quản

1.3.4 Rủi ro do việc huy động số lượng và chất lượng nhân công:

- Khả năng huy động nhân lực nhiều khi chưa thể xác định chính xác ngay từ đầu; năng suất lao động, ý thức kỷ luật của người công nhân chưa đạt yêu cầu trong thời gian

sử dụng

- Trình độ tay nghề của công nhân thấp

- Công nhân tham gia thi công trong các công trình xây dựng còn tham gia sản xuất nông nghiệp của gia đình nên cũng ảnh hưởng đến công việc thi công khi đến mùa

vụ thu hoạch

- Số lượng công nhân thuộc biên chế của công ty, đơn vị thi công không nhiều và chủ yếu là huy động làm theo mùa vụ

1.3.5 Các rủi ro trong khâu kiểm tra giám sát, nghiệm thu, bàn giao:

- Do khâu kiểm tra giám sát thường xuyên không được coi trọng theo đúng quy chế

- Do các hiện tượng tiêu cực giữa giám sát thi công của chủ đầu tư và điều hành thi công của tổ chức xây dựng

1.3.6 Rủi ro do các nguyên nhân xuất phát từ thủ tục hành chính, pháp lý:

- Rủi ro do sự thay đổi chính sách thuế làm thay đổi các khoản thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp

- Rủi ro do sự thay đổi hạn ngạch, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác

- Rủi ro do sự thay đổi các quy định về quản lý và tuyển dụng lao động như thay đổi quy định mức lương tối thiểu, thay đổi chế độ làm việc (như thời gian làm việc trong

ca, số ngày làm việc trong tuần )

- Rủi ro do sự thay đổi chính sách tiền tệ

- Trong thời gian thực hiện dự án, Chính phủ có thể đưa ra nhiều biện pháp sử dụng lãi suất để quản lý và kiểm soát lạm phát và vấn đề này có thể làm phát sinh rủi ro đối với các tổ chức tham gia thực hiện dự án

1.4 ĐÁNH GIÁ VỀ MỨC ĐỘ HOÀN THÀNH ĐÚNG TIẾN ĐỘ THI CÔNG MỘT SỐ DỰ ÁN XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI

Trong thời gian qua, trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi có rất nhiều dự án đã và đang được đầu tư xây dựng từ các dự án thuộc lĩnh vực nông nghiệp, lĩnh vực điện, lĩnh vực xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp, lĩnh vực giao thông Trong giai đoạn

2014 - 2016, toàn Tỉnh đã bàn giao đưa vào sử dụng 364 dự án với tổng vốn do tỉnh quản lý 7.754,108 tỷ đồng (năm 2014: bàn giao đưa vào sử dụng 194 dự án, với tổng vốn do tỉnh quản lý 3.207,65 tỷ đồng; năm 2015: bàn giao đưa vào sử dụng 125 dự án,

Trang 23

với tổng vốn do tỉnh quản lý 4.233,117 tỷ đồng; năm 2016: bàn giao đưa vào sử dụng

45 dự án, với tổng vốn do tỉnh quản lý 3.520,991 tỷ đồng)

Các dự án thực hiện trong năm 2015 và 2016 được thực hiện tuân theo quy định của Luật đầu tư công số 49/2014/QH13 ngày 18/6/2014, Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18/6/2014 Trên cơ sở Quy hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, UBND tỉnh bố trí kế hoạch vốn chuẩn bị đầu tư và giao cho các chủ đầu tư triển khai thực hiện Các chủ đầu tư tổ chức lập báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư trình Sở

Kế hoạch và Đầu tư thẩm định (thông qua Hội đồng thẩm định chủ trương đầu tư) và trình UBND tỉnh phê duyệt chủ trương đầu tư dự án

Sau khi được phê duyệt chủ trương đầu tư dự án, chủ đầu tư tiếp tục tổ chức thực hiện các nội dung sau:

a Lập dự án đầu tư và thiết kế bản vẽ kỹ thuật thi công:

- Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: Tổ chức lập, thẩm định, phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu tư xây dựng để xem xét, quyết định đầu tư xây dựng

- Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng

b Giai đoạn triển khai thi công: Là thời kỳ trực tiếp thi công công trình

Trong thời kỳ thi công được chia làm 3 giai đoạn bao gồm: Giai đoạn chuẩn bị, giai đoạn thi công, giai đoạn bàn giao

b.1 Giai đoạn chuẩn bị:

- Đóng vai trò quan trọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp rất lớn đến cả 3 giai đoạn thi công.Nội dung các công việc của thời kỳ chuẩn bị

Những công việc bên A phải triển khai gồm:

+ Giải quyết công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng;

+ Tổ chức rà phá bom mìn

+ Tổ chức lựa chọn nhà thầu: Thi công xây dựng, Tư vấn giám sát, kiểm định công trình (nếu có) và cung ứng dịch vụ bảo hiểm công trình; quan trắc môi trường

Những công việc bên B cần phải triển khai ngay gồm:

+ Phải tiến hành các công tác tổ chức kỹ thuật cho công trường và đối chiếu kiểm tra tài liệu giữa hồ sơ thiết kế và thực tế có sự sai khác gì không?

+ Phải thu dọn san ủi mặt bằng, các vật kiến trúc

+ Phải xác định vị trí thực tế của công trình trên thực địa như tọa độ tim cọc các hạng mục công trình đơn vị

+ Tổ chức các cơ sở sản xuất phụ trợ cho công trường

Trang 24

+ Xây dựng nhà ở lán trại, các công trình phúc lợi

+ Làm đường thi công, đường cung cấp điện thi công, điện sinh hoạt, điện thoại + Chuẩn bị máy móc phương tiện vận chuyển, thiết bị thi công cần thiết

+ Chuẩn bị cán bộ thi công, công nhân

+ Lập kế hoạch tổ chức thi công, kế hoạch tài chính, kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch về đời sống

b.1 Giai đoan thi công công trình:

Là thời kỳ đơn vị thi công triển khai thi công xây dựng công trình theo hồ sơ bản

vẽ, dự toán thiết kế đã được các cấp có thẩm quyền phê duyệt Đơn vị thi công dựa vào

đó để tiến hành tổ chức thi công

Lưu ý:

- Thời kỳ này cần chấp hành tốt chế độ sản xuất theo qui định, qui phạm của nhà nước như quản lý kế hoạch, quản lý chi tiêu, quản lý vốn, quản lý lao động, quản lý tài sản, quản lý tiến độ

- Quán triệt phương châm không ngừng phấn đấu nâng cao năng xuất lao động, thực hành tiết kiệm, nâng cao hiệu quả sử dụng máy móc thiết bị

- Không ngừng cải tiến kỹ thuật trong sản xuất, bảo đảm an toàn trong thi công

- Làm tốt công tác nghiệm thu hoàn thành trong từng giai đoạn thi công như nghiệm thu công tác chuẩn bị mặt bằng, nghiệm thu cốt pha, nghiệm thu cốt thép, nghiệm thu các kết cấu che khuất,

b.3 Giai đoạn bàn giao công trình:

Tổ chức cho công trình vận hành chạy thử, nghiệm thu chuyển giao công trình cho đơn vị quản lý Giao toàn bộ tài liệu công trình cho đơn vị quản lý bao gồm:

- Bản vẽ hoàn công, hồ sơ quyết toán

- Các biên bản nghiệm thu kỹ thuật từng phần, biên bản nghiệm thu toàn bộ công trình và các tài liệu liên quan

- Tháo dỡ máy móc thiết bị, các công trình phụ trợ và di chuyển công nhân đen công trường mới

b.4 Bảo hành công trình:

Sau khi công trình được bàn giao đưa vào sử dụng thì các thành phần có liên quan, đặc biệt là đơn vị thi công phải có trách nhiệm bảo hành công trình theo quy định của hợp đồng

Để đánh giá mức độ hoàn thành đúng tiến độ các dự án xây dựng trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, Luận văn này đánh giá tổng thể về tình hình triển khai thực hiện dự án trên địa bàn tỉnh trong giai đoạn 2014 - 2016, như sau:

Trang 25

1.4.1 Đánh giá về nhu cầu vốn và mức độ đáp ứng cho đầu tư phát triển

- Nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển của tỉnh giai đoạn 2014 - 2016 là rất lớn, nhằm tập trung đầu tư hoàn thành để đưa vào sử dụng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế -

xã hội; hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, giáo dục, y tế, đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp tạo diện mạo mới cho tỉnh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân Nhưng nhìn chung, việc huy động vốn đầu tư toàn xã hội những năm qua còn thấp, nhất là nguồn vốn đầu

tư của doanh nghiệp Các dự án BOT, BTO, BT trên địa bàn tỉnh chưa nhiều; các dự án huy động từ quỹ đất bị ảnh hưởng do bất động sản đóng băng; thu hút đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp còn rất ít

Mặc dù không đạt như kỳ vọng, nhưng vốn đầu tư toàn xã hội qua các năm 2014 -

2016 đã góp phần tích cực trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và từng bước hoàn thiện cơ sở hạ tầng của tỉnh Kết quả cụ thể:

Năm 2014, tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động được 14.677 tỷ đồng, tăng 24,9%

so với năm 2013 và đạt 122,3% so với kế hoạch năm; trong đó vốn ngân sách nhà nước tỉnh quản lý là 3.207,65 tỷ đồng

Năm 2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động được 15.860 tỷ đồng, tăng 8,1%

so với năm 2014, đạt 104,9% kế hoạch năm; trong đó vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý là 4.233,117 tỷ đồng

Năm 2016, tổng vốn đầu tư toàn xã hội huy động được 16.670 tỷ đồng, tăng 5,11%

so với năm 2015 và đạt 100,3% kế hoạch; trong đó vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản

lý là 3.520,991 tỷ đồng

1.4.2 Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng vốn

Tổng số dự án được bố trí kế hoạch vốn giai đoạn 2014-2016 là 652 dự án, trong

đó có 246 dự án chuyển tiếp từ giai đoạn trước chuyển sang và 406 dự án khởi công mới giai đoạn 2014-2016 Tổng số dự án hoàn thành đưa vào sử dụng trong giai đoạn 2014-

2016 trên 400 dự án, hầu hết các công trình đều phát huy hiệu quả đầu tư Từ đó, đã nhựa hoá, cứng hoá khoảng 800 km đường giao thông, trong đó đường tỉnh là 70km và các tuyến đường huyện, đường xã là 730km, góp phần nâng tỷ lệ đường tỉnh được nhựa hóa cứng hóa đến năm 2016 lên 90,3%, đường huyện 64,9%, đường xã 51,6% và đường

đô thị đạt 86,6% Nhờ đó hạ tầng nông thôn và hạ tầng đô thị dần được chỉnh trang, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu đi lại cho nhân dân và giao thương phát triển kinh tế Năng lực tưới đảm bảo cho 4.516 ha đất nông nghiệp Nâng tỷ lệ hộ dân nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh lên 84,5% Tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng Khu kinh tế Dung Quất đáp ứng yêu cầu phát triển trong Khu kinh tế và gắn kết với bên ngoài Hạ tầng các Khu

Trang 26

công nghiệp Quảng Phú và Tịnh Phong cũng cơ bản hoàn thiện Hoàn thành bệnh viện Sản - Nhi tỉnh với quy mô 300 giường, 5 bệnh viện huyện, gần 40 trạm y tế xã, tăng cường chăm sóc sức khỏe cho nhân dân và góp phần giảm tải cho Bệnh huyện đa khoa tỉnh Hoàn thành giai đoạn 1 dự án Trường Đại học Phạm Văn Đồng và trên 90 công trình giáo dục, với trên 500 phòng học mới đưa vào sử dụng, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ tốt hơn công tác dạy và học trên địa bàn tỉnh Và hoàn thành nhiều công trình quan trọng khác như các khu tái định cư, các trụ sở làm việc, công trình văn hóa, du lịch, phát thanh truyền hình, an ninh quốc phòng Qua đó, hạ tầng đô thị từng bước được hoàn thiện, hạ tầng nông thôn được nâng lên rõ rệt phục vụ sản xuất và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, là cơ sở quan trọng thực hiện xây dựng nông thôn mới; thực hiện giảm nghèo nhanh và bền vững ở các huyện miền núi

1.4.3 Đánh giá chung về kết quả triển khai thực hiện dự án, công tác nghiệm thu, bàn giao công trình, dự án hoàn thành (tiến độ, chất lượng, hiệu quả của dự án) trong giai đoạn 2014 - 2016

Công tác điều hành, tổ chức triển khai thực hiện dự án có nhiều tiến bộ, tiến độ thực hiện các công trình giai đoạn này được đẩy nhanh hơn các năm trước nhờ sự chỉ đạo tích cực của các cấp và sự giám sát chặt chẽ của HĐND tỉnh Hầu hết các dự án hoàn thành được nghiệm thu, bàn giao đưa vào sử dụng kịp thời, đảm bảo đúng chất lượng và phát huy hiệu quả đầu tư

Tuy nhiên, trong quản lý điều hành dự án của một số ngành, cấp huyện, xã còn thiếu tích cực, thiếu đôn đốc và chưa kịp thời giải quyết một số vướng mắc trong công tác đầu tư xây dựng cơ bản; năng lực của một số đơn vị được giao làm chủ đầu tư còn yếu, thiếu tích cực, chưa làm hết trách nhiệm chủ đầu tư, thiếu sự theo dõi bám sát công trình và hỗ trợ đơn vị thi công trong việc giải quyết và đề xuất giải quyết những vướng mắc trong quá trình thi công nên việc tổ chức thực hiện một số dự án vẫn còn hạn chế như chậm tiến độ, phát sinh khối lượng phải điều chỉnh dự án trong quá trình thi công, chất lượng một số công trình thấp UBND tỉnh Quảng Ngãi đã kịp thời chỉ đạo các ngành, địa phương trong tỉnh nghiêm túc chấn chỉnh, khắc phục để phát huy hiệu quả đầu tư

1.5 KẾT LUẬN CHƯƠNG

Rủi ro là một trong những yếu tố không thể tránh khỏi trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và đặc biệt là trong quá trình thi công xây dựng công trình thì rủi ro là những điều không thể tránh khỏi Do đó việc nhận diện được rủi ro sớm, kịp thời và tìm ra được phương án giải quyết rủi ro đó là một việc làm vô cùng quan trọng, quyết định sự thành công của một dự án/công trình.Trong quá trình tổ chức thi công xây dựng thì nhà thầu thường chịu các rủi ro như: Chủ đầu tư thay đổi thiết kế, công nghệ,

Trang 27

đòi rút ngắn thời gian thực hiện, công tác giải phóng mặt bằng không đảm bảo chất lượng, biến động về giá cả các yếu tố đầu vào, nhà thầu thiếu vốn, bỏ giá thầu thấp nên nhà thầu bị lỗ,…tất cả những rủi ro này sẽ đều ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng thi công công trình,…

Trong giới hạn luận văn này, tác giả tập trung vào việc đánh giá mức độ (khả năng) hoàn thành tiến độ thi công của một số dự án trên địa bàn Quảng Ngãi sử dụng vốn ngân sách nhà nước dựa vào sơ đồ mạng PERT và các phương pháp mô phỏng ngẫu nhiên

Trang 28

Chương 2

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SƠ ĐỒ MẠNG PERT VÀ PHƯƠNG PHÁP MÔ

PHỎNG MONTE CARLO

Chương 2 luận văn sẽ trình bày một số kiến thức đại cương của xác suất để làm cơ

sở cho việc giới thiệu phương pháp sơ đồ mạng PERT (được phát triển dựa vào lý thuyết xác suất) Bên cạnh đó, phương pháp Monte Carlo sẽ được áp dụng vào tính toán sơ đồ mạng PERT

2.1 CÁC KHÁI NIỆM VỀ XÁC SUẤT THỐNG KÊ

2.1.1 Định nghĩa về xác suất

a Một số khái niệm

Trong xác suất thống kê, thực hiện một phép thử nghĩa là làm một thí nghiệm, thực hiện một quan sát, thực hiện một công việc, một hành động nào đó

- Phép thử mà ta không khẳng định được một cách chắc chắn kết quả của nó trước

khi thực hiện phép thử gọi là phép thử ngẫu nhiên

- Các phép thử có thể xảy ra của phép thử gọi là các biến cố

- Các biến cố không thể phân tích được nữa gọi là biến cố sơ cấp

- Biến cố chắc chắn là biến cố nhất định xảy ra khi phép thử được thực hiện Ta kí

hiệu biến cố chắc chắn là Ω

- Biến cố không thể là biến cố không thể xảy ra khi phép thử được thực hiện Ta kí

hiệu là Φ

- Biến cố ngẫu nhiên là biến cố mà nó có thể xảy ra và cũng có thể không xảy ra

khi phép thử được thực hiện Ta thường kí hiệu biến cố ngẫu nhiên bởi các chữ cái in

hoa: A, B, C,…

b Quan hệ giữa các biến cố

- Tổng của 2 biến cố: Tổng của 2 biến cố A và B là một biến cố được kí hiệu là

A ∪B, sao cho biến cố tổng A∪B xảy ra khi và chỉ khi hoặc A xảy ra hoặc B xảy ra

Tích của 2 biến cố: Tích của 2 biến cố A và B là một biến cố được kí hiệu là A

∩B hoặc AB, sao cho biến cố tích AB xảy ra khi và chỉ khi A xảy ra và B xảy ra

* Định nghĩa xác suất dạng cổ điển

Xác suất của biến cố A là một số không âm, kí hiệu P(A) Biểu thị khả năng xảy ra biến cố A và nó được xác định như sau:

Số trường hợp có thể xảy ra phép thử được thể hiện

Trang 29

* Định nghĩa xác suất dạng thống kê

Làm đi làm lại một phép thử nào đó n lần, thấy có m lần biến cố A xuất hiện thì tỷ

số 𝑚

𝑛 gọi là tần suất của biến cố A

Khi n thay đổi, tần suất 𝑚

𝑛 cũng thay đổi nhưng nó luôn dao động quanh một số cố

định nào đó, n càng lớn thì 𝑚𝑛 càng gần số cố định đó Số cố định ấy được gọi là xác suất

của biến cố A theo nghĩa thống kê Trên thực tế khi n đủ lớn ta xấp xỉ P(A) bởi 𝑚

𝑛 𝑷(𝑨) ≈ 𝒎

𝒏

* Một số tính chất của xác suất

0 ≤P( A) ≤ 1

P(Φ) = 0, P(Ω) = 1

2.1.2 Xác suất có điều kiện

a Định nghĩa: Xác suất có điều kiện của biến cố A với điều kiện biến cố B đã xảy

ra là một con số không âm, được kí hiệu p(A/B), nó biểu thị khả năng xảy ra biến cố A trong tình huống biến cố B đã xảy ra

b Tính độc lập của các biến cố

Hai biến cố A và B gọi là độc lập với nhau nếu:

p(A/B) =P(A)hoặc p(B/A) = P(B) hoặc p(AB) = P(A)P(B)

c Công thức nhân xác suất

Từ định nghĩa xác suất có điều kiện, với n biến cố A1, A2, , An ta có:

P(A1A2 A n ) = P (A1)P(A2/A1)P(A3/A1A2) P(A n /A1A2 A n-1)

d Công thức xác suất đầy đủ và công thức Bayes:

Giả sử B1, B2,…, B n là một nhóm đầy đủ các biến cố Xét biến cố A sao cho A xảy

ra chỉ khi một trong các biến cố B1, B2,…, B nxảy ra Khi đó

, k = 1,2, , n Công thức này được gọi là công thức Bayes

2.1.3 Đại lượng ngẫu nhiên và hàm phân phối

a Định nghĩa: Một đại lượng (hay một biến) nhận các giá trị của nó với xác suất

tương ứng nào đấy gọi là đại lượng ngẫu nhiên hay biến ngẫu nhiên

Phân loại các đại lượng ngẫu nhiên: Căn cứ vào giá trị mà biến ngẫu nhiên nhận ta phân các đại lượng ngẫu nhiên ra làm 2 loại chính: biến ngẫu nhiên rời rạc và biến ngẫu

Trang 30

nhiên liên tục Tuy nhiên, với vấn đề quan tâm của đề tài, chúng ta chỉ xét đến các biến

ngẫu nhiên rời rạc

b Biến ngẫu nhiên rời rạc, bảng phân phối xác suất

Nếu tập các giá trị mà biến ngẫu nhiên nhận là một tập gồm một số hữu hạn hoặc

vô hạn nhưng đếm được, khi đó biến ngẫu nhiên gọi là biến ngẫu nhiên rời rạc

Giả sử biến ngẫu nhiên ξ nhận cácgiá trị x1, x2, , xn, và

2.1.4.Các đặc trưng của đại lượng ngẫu nhiên

a Kỳ vọng: Kỳ vọng của đại lượng ngẫu nhiên ξ là một con số, được kí hiệu là Eξ

và được xác định như sau:

Eξ = ∑𝑖𝑥𝑖𝑝𝑖=1

Trong đó: P(ξ =xi ) = pi , ∀i = 1, 2,

Ý nghĩa: Kỳ vọng của biến ngẫu nhiên là giá trị trung bình mà biến ngẫu nhiên

nhận hay là trọng tâm của phân phối xác suất

b.Phương sai: Phương sai của đại lượng ngẫu nhiên ξ là một con số không âm,

được kí hiệu là Dξ và được xác định như sau:

Dξ =E(ξ - E(ξ)2

Ý nghĩa: Phương sai của biến ngẫu nhiên là một số không âm dùng để đo mức độ

phân tán (mức độ tản mát) của các giá trị của biến ngẫu nhiên ξ xung quanh tâm Eξ của

nó Dξ nhỏ thì độ phân tán nhỏ, độ tập trung lớn D càng lớn thì độ phân tán càng cao

2.1.5 Lý thuyết mẫu

a Mẫu ngẫu nhiên

Tiến hành n quan sát độc lập về biến ngẫu nhiên X nào đó Ta gọi Xi là việc quan sát lần thứ i về biến ngẫu nhiên X Khi đó ( X1, X2, , X n ) được gọi là mẫu ngẫu nhiên, n gọi là cỡ mẫu (số lần quan sát) Như vậy mẫu ngẫu nhiên cỡ n thực chất là n biến ngẫu nhiên độc lập, cùng phân phối như biến ngẫu nhiên X

Ta gọi xi là kết quả quan sát được ở lần thứ i Khi đó (x1, x2, xn) là n giá trị cụ

Trang 31

thể ta quan sát được Đó là giá trị cụ thể mà mẫu ngẫu nhiên ( X1, X 2, , X n ) nhận

Do ( X1, X 2, , Xn ) là các biến ngẫu nhiên độc lập cùng phân phối như X nên kỳ

vọng mẫu là một biến ngẫu nhiên Do đó ta lại tìm kỳ vọng và phương sai của X

E X=1

𝑛∑ EXin i=1 = 1

2.1.6 Ước lượng tham số

Giả sử ta nghiên cứu biến ngẫu nhiên X và biết được phân phối X thuộc một họ phân phối nào đó Khi đó để xác định hoàn toàn phân phối của X ta phải xác định được

các giá trị tham ẩn mà phân phối đó nhận

Trong trường hợp ta chưa biết được gì về phân phối của X, khi đó việc biếtđược các số đặc trưng của X cũng cho ta nhiều thông tin giá trị

Do đó bài toán đi tìm các ước lượng cho các tham ẩn của phân phối hoặc ước lượng cho các số đặc trưng của biến ngẫu nhiên là bài toán rất cần thiết

a Ước lượngđiểm

Giả sử 𝜃là tham ẩn cần ước lượng Với mẫu ngẫu nhiên ( X1, X2, , X n), ta không thể ước lượng cho 𝜃dựa vào mẫu ngẫu nhiên trên

Ta sẽ dùng một hàm nào đó của mẫu, tức là một hàm nào đó của n biến X1, X2, ,

X nđể là ước lượng cho 𝜃- Kí hiệu hàm đó là 𝜃*( X1, X2, , X n) Như vậy 𝜃*( X1, X2, , X n)

là một biến ngẫu nhiên vì X1, X2, , X nlà các biến ngẫu nhiên độc lập, cùng phân phối

Trang 32

𝜃*( X1, X2, , X n) là ước lượng điểm vì với giá trị cụ thể của mẫu thì 𝜃*( X1, X2, , X n) nhận một giá trị cụ thể (một điểm) 𝜃*(x1, x2, , xn)

b) Ước lượng khôngchệch:

Vì 𝜃*(x1, x2, , xn) là một biến ngẫu nhiên nên ta không thể đòi hỏi 𝜃*(x1, x2, , xn) đúng bằng giá trị 𝜃 cần tìm được Lẽ tự nhiên ta đòi hỏi

E𝜃*( x1, x2, , xn)= 𝜃 Ước lượng 𝜃*(x1, x2, , xn) thỏa mãn hệ thức trên gọi là ước lượng không chênh lệch 𝜃

Ta dùng X là ước lượng điểm cho EX, s2 là ước lượng điểm cho DX

2.1.7 Sơ lược về ước lượng hợp lý cực đại

Phần trên chúng ta đã đưa ra các ước lượng điểm cho kỳ vọng, phương sai Cách đưa ra như vậy có vẻ không được tự nhiên Bây giờ chúng ta tìm hiểu một trong các phương pháp tìm được kết quả đã đưa ra Đó là phương pháp hợp lý cực đại Nội dung phương pháp như sau:

Ta xét biến ngẫu nhiên ξ và đối với nó ta xác định:

đại Ước lượng hợp lý cực đại có các tính chất của một ước lượng tốt

Nếu θ là tham số ẩn vectơ, chẳng hạn θ = (θ 1 , θ 2, , θ r ) khi đó phương trình hợp lý

Trang 33

f X

nhẹ khâu tính toán: Lấy đạo hàm và giải phương trình

Ví dụ 1: Giả sử X = ( X1, X 2, , X n) là mẫu ngẫu nhiên, trong đó

tổng số lần biến cố A, với p = P(A), xuất hiện

Ví dụ 2: Giảsử X = ( X1, X 2, , X n) là mẫu ngẫu nhiên rút ra từ phân phối chuẩn

N (µ,σ 2 ) Hãy chỉ ra ước lượng hợp lý cực đại cho µ và σ2, ở đây θ = (µ,σ 2 ) tham

1

1 ( ) 2

2 1

x n

Trang 34

1 2

2 2

1

ln ( , )

0 1

n i

n i i

X L

n

Nhận xét: Qua 2 ví dụ trên chúng ta nhận lại được các ước lượng điểm đã nêu

Chúng ta sẽ phân tích kỹ về ước lượng hợp lý cực đại với mẫu quan sát ở chương sau

2.2 SƠ ĐỒ MẠNG CPM VÀ PERT DÙNG ĐỂ LẬP TIẾN ĐỘ THI CÔNG

2.2.1 Lý luận chung về Phương pháp đường găng - CPM (Critical Path Method)

Khi mô hình của mạng đã được thiết lập, người ta sẽ tính được thời gian của từng công việc trên cơ sở các định mức về lao động Tuy nhiên, thời gian hoàn thành dự án

là bao nhiêu, thì cần phải có một phương pháp tính toán để xác định Muốn tính được điều đó, cần phải biết được các thông số thời gian sau:

- Thời điểm sớm và muộn của từng sự kiện (hay thời gian sớm nhất và muộn nhất đạt tới các sự kiện)

- Thời điểm bắt đầu sớm nhất và muộn nhất của từng công việc

- Thời điểm kết thúc sớm nhất và muộn nhất của từng công việc

- Đường Găng

Về hình thức, các thông số thời gian trong CPM và PERT là như nhau Do đó trong phần này sẽ giới thiệu cách phân tích và tính toán các chỉ tiêu thời gian, cũng như cách lập và điều khiển tiến độ bằng sơ đồ mạng, coi đó là những cái chung mà phương pháp PERT có thể áp dụng được

Về phương pháp thực hiện, có 6 bước cơ bản được áp dụng chung cho cả PERT

và CPM:

- Xác định các công việc (nhiệm vụ ) cần thực hiện của dự án

- Xác định mối quan hệ và trình tự thực hiện các công việc

- Vẽ sơ đồ mạng công việc

- Tính toán thời gian và chi phí cho từng công việc dự án

- Xác định thời gian dự trữ của các công việc và sự kiện

- Xác định đường Găng

Trang 35

a Các nguyên tắc bắt buộc khi lập sơ đồ mạng lưới

- Tất cả mỗi tên công việc từ trái đến phải về phái sơ đồ phát triển đến sự kiện cuối

cùng

- Trong sơ đồ mạng lưới không có chu trình khép kín hay chỗ giao nhau

- Sự đánh số các sự kiện từ trên xuống dưới,từ trái qua phải và theo thứ tự liên tiếp

từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện cuối cùng Sự kiện ở đầu mũi tên mang số lớn hơn sự kiện ở đuôi mũi tên Chỉ đánh số các sự kiện có nhiều mũi tên cùng đến khi các sự kiện

ở đuôi những mũi tên này đã được đánh số

- Trong sơ đồ lớn nếu một nhóm công việc có liên hệ với nhau mà khi biểu diễn trong sơ đồ mạng nó trở thành một mạng con gộp lại thành dạng công việc thời gian thực hiện một công việc gộp lại lấy bằng khoảng thời gian dài nhất từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện cuối cùng

- Nếu một nhóm có công việc tính chất như nhau cùng làm song song thì làm gộp chúng lại thành một việc duy nhất biểu thị bằng một cung

- Nếu công việc có tính chất khác nhau cùng làm song song có chung sự kiện khởi công và kết thúc thì phải thêm các sự kiện phụ thuộc và công việc giả(sự phụ thuộc)

- Khi áp dụng phương pháp thi công dây chuyền và chia công tác để thi công thì cần chi nhỏ công việc thành những công việc độc lập

Ví dụ:Giả sử có 3 công việc a, b, c khi công việc a hoàn thành một công việc nhỏ

a1 thì b bắt dần sau c việc a hoàn thành a1 + a2 thì công việc c khi đó có thể biến diển như sau

- Cách thể hiện quy trình công nghệ vè sự liên quan giữa các sơ đồ mạng lưới Người ta dùng công việc giả để chi mối liên hệ giữa các công việc có sự ràng buộc về quá trình công nghệ

Giả sử có 5 công việc a, b, c, d, e:

+ Với công việc d làm sau công viêc a &b Công việc e làm sau công việc a,b,c biểu diễn như sau

Trang 36

+ Khi d sau a &b; e sau a &c

+ Khi d sau a &b; d sau a; e sau a

- Trên sơ đồ mạng cần phải thể hiện được mối liên hệ giữa công trường bên ngoài + Trường hợp 3 công việc a, c cần vật liệu thì thêm một sự kiện đặc biệt công việc

k

+ Trường hợp bên ngoài chỉ liên quan công việc b thì thêm sự kiện và công việc như sau

Trang 37

Xét một sơ đồ mạng với thông số thời gian của từng công việc đã được ghi trên đó như sau:

Ta thấy có hai đường: đường 1-2-3-4-5-6 và đường 1-2-4-5-6 đều có thời gian dài nhất là 20 ngày Vậy sơ đồ mạng trên có 2 đường Găng

Việc tìm ra đường Găng trong sơ đồ mạng trên cơ sở tính toán, là một trong những

ưu điểm nổi bật của sơ đồ mạng

Trên thực tế, đường Găng đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến độ quản lý dự

án vì: Trong bất kỳ lĩnh vực hoạt động nào, nhất là trong ngành điều khiển tự động, nguyên tắc quan trọng để giải quyết tốt nhiệm vụ phức tạp là phải nắm vững những công việc chủ yếu, quan trọng Đường Găng bao gồm những công việc chủ yếu, quan trọng

đó Trên thực tế, người có kinh nghiệm thường biết được các công việc chủ yếu nhưng

đó là những nhận biết cảm tính Còn với những dự án lớn, phức tạp, mới mẻ thì ngay cả chuyên gia nhiều kinh nghiệm cũng không thể biết hết được Trong quản lý dự án, xác định đường Găng trên cơ sở tính toán, tức là tìm ra trong số những công việc phải hoàn

Trang 38

thành, những công việc nào quan trọng, là then chốt mà nếu hoàn thành được nó thì toàn

bộ kế hoạch dự án cũng được hoàn thành

c Thời gian sớm nhất, muộn nhất đạt tới các sự kiện và thời gian dự trữ của sự kiện

Kí hiệu:

• tij: Độ dài cung ij hay thời gian thực hiện công việc mà kéo dài từ sự kiện i tới

j (i là sự kiện trước, j là sự kiện sau)

• Eij: Thời gian sớm nhất để đạt tới sự kiện j tính từ khi bắt đầu dự án (quãng đường dài nhất tính từ sự kiện đầu tiên đến sự kiện j)

• Lij: Thời gian chậm nhất sự kiện j phải xuất hiện mà không làm chậm trễ việc hoàn thành dự án

Ta có công thức tổng quát như sau:

Ej = Maxi ( Ei + tij ) với E1 = 0

Li = Minj (Lj – tij) với Lcuối cùng = Độ dài thời gian thực hiện dự án

• Si: Thời gian dự trữ của một sự kiện: là thời gian sự kiện đó có thể kéo dài thêm

mà không làm ảnh hưởng đến thời gian hoàn thành của dự án

Như đã biết, một sự kiện có hai thời điểm xuất hiện là sớm và muộn Nó không thể xuất hiện trước thời hạn sớm nhất (Eij) và cũng không thể xuất hiện sau thời hạn muộn nhất ( Lij) Nhưng nó có thể xuất hiện bất kỳ lúc nào giữa hai thời hạn đó Khoảng thời gian chênh lệch giữa thời hạn sớm và muộn, là thời gian dự trữ của sự kiện Do đó, Si

Trang 39

việc Găng phải gồm hai sự kiện đầu và cuối đều Găng, nhưng đây chỉ là điều kiện cần

mà chưa đủ, bởi vì nhiều khi nối hai sự kiện Găng lại nhưng chưa chắc đã được một công việc Găng Tương tự, đường Găng sẽ đi qua tất cả các sự kiện Găng nhưng ngược lại sẽ không đúng, nghĩa là nếu nối tất cả các sự kiện Găng, ta chưa chắc đã thu được đường Găng Vì vậy, khi tìm đường Găng ta phải có quy tắc để đảm bảo cả điều kiện cần và đủ

d Thời gian sớm, thời gian muộn của các công việc và thời gian dự trữ của các công việc

Trong quản lý dự án, việc quản lý thời gian, đặc biệt là thời gian dự trữ của các công việc giữ một vị trí rất quan trọng Trên cơ sở thông tin về thời gian dự trữ của các công việc, cán bộ quản lý dự án có thể bố trí lại trình tự thực hiện các công việc theo mục tiêu giảm bớt chi phí nà vẫn đảm bảo thực hiện dự án đúng thời hạn

Thời gian dự trữ toàn phần của một công việc nào đó là khoảng thời gian công

việc này có thể kéo dài thêm nhưng không làm chậm ngày kết thúc dự án

Thời gian dự trữ tự do là thời gian mà một công việc nào đó có thể kéo dài thêm

nhưng không làm chậm ngày bắt đầu của công việc tiếp sau

Kí hiệu:

• ES(a): Thời gian bắt đầu sớm của công việc a

• EF(a): Thời gian kết thúc sớm của công việc a

• LS(a): Thời gian bắt đầu muộn của công việc a

• LF(a): Thời gian kết thúc muộn của công việc a

• LFcc: Thời gian kết thúc muộn của công việc cuối cùng

• t(a): Độ dài thời gian thực hiện công việc a

Ta có:

EF(a) = ES(a) + t(a)

ES(a) = Max ( EF(j) ) (j là các công việc trước a)

ES(1) = 0

LF(a) = Min (LS(j) ) (j là các công việc sau a )

LS(a) = LF(a) - t(a)

Trang 40

LFcc = thời gian thực hiện dự án

Thời gian dự trữ toàn phần = LS(a) - ES(a)

Thời gian dự trữ tự do của công việc a = Min ( ES của tất cả các công việc sau a)

Thời gian kết thúc sớm (EF)

Thời gian kết thúc muộn (LF)

Thời gian bắt đầu muộn (LS)

Thời gian

dự trữ toàn phần

Như vậy ta có định nghĩa thứ ba về đường Găng: đường Găng là đường nối các

công việc Găng – đó là những công việc có thời gian dự trữ = 0 Những công việc Găng,

nằm trên đường Găng phải hoàn thành đúng thời hạn đã định, nghĩa là phải khởi và kết đúng thời điểm đã được xác định Nếu vì lý do nào đó, mà một công việc Găng bị chậm trễ thì đường Găng sẽ bị kéo dài thêm, tức là thời hạn hoàn thành tiến độ cũng bị kéo dài Trong khi đó các công việc không Găng lại có thể kéo dài thêm thời gian (tij) hoặc thay đổi thời điểm khởi hoặc kết của công việc trong giới hạn thời gian dự trữ của công việc mà không làm ảnh hưởng tiến độ thực hiện của dự án Điều đó có nghĩa là: nếu muốn rút ngắn thời hạn tiến độ thì phải rút ngắn thời gian của các công việc Găng Có thể sử dụng các biện pháp sau:

- Tăng nhân công lao động để rút ngắn thời gian;

- Chuyển công nghệ từ lao động thủ công sang cơ giới;

- Tăng máy móc, thiết bị xây dựng;

- Dùng công nghệ mới để rút ngắn thời gian;

- Tổ chức lại sản xuất: phân chia thành các phân đoạn để có thể thi công theo dây chuyền

2.2.2 Lý luận chung về Kỹ thuật tổng quan và đánh giá dự án – PERT (Program Evaluation and Review Technique)

Trong phần này, những vấn đề cơ bản về quy tắc lập mạng, tính toán thời gian,…cũng giống như CPM Luận văn chỉ nêu những điểm khác biệt nổi bật nhất có trong phương pháp PERT

Ngày đăng: 28/03/2021, 22:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w