Vì vậy, với mục tiêu cung cấp cái nhìn tổng quan về diễn biến đường bờ biển ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua cũng như dự đoán xu hướng thay đổi trong tương lai, công nghệ viễn thá
Trang 2KỸ THUẬT XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH THỦY
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Chí Công
Đà Nẵng - Năm 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Võ Trung Dũng
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
TÓM TẮT LUẬN VĂN iv
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu 4
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên: 4
1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn 6
1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên 9
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 12
1.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế 12
1.2.2 Cơ sở hạ tầng 16
1.3 Hiện trạng hệ thống đê biển 18
1.3.1 Hiện trạng cồn cát ven biển 21
1.3.2 Thực trạng sử dụng và khai thác trên khu vực dải cồn cát sát biển 26
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ 28
2.1 Một số khái niệm 28
2.2 Ảnh vệ tinh Landsat 29
2.2.1 Đặc điểm 29
2.2.2 Ứng dụng công nghệ viễn thám, ảnh vệ tinh 31
32
32
33
33
ảnh vệ tinh 34
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN ĐƯỜNG BỜ THEO THỜI GIAN 36
3.1 Công nghệ GIS 36
3.1.1 Khái niệm GIS 36
3.1.2 Chức năng của GIS 36
3.1.3 Thành phần của GIS 36
3.1.4 Phần mềm ArcGIS 37
3.1.5 Giới thiệu ArcMap 37
3.2 Diễn biến đường bờ khu vực tỉnh Bình Định 38
3.2.1 Dữ liệu nghiên cứu 38
3.2.2 Các bước thực hiện 38
Trang 53.3 Kết quả phân tích 41
3.3.1 Diễn biến đường bờ khu vực tỉnh Bình Định theo phương pháp NDWI 41
3.3.2 Diễn biến đường bờ khu vực tỉnh Bình Định theo phương pháp MNDWI 48
3.3.3 Diễn biến đường bờ khu vực tỉnh Bình Định theo phương pháp AWEI 54
3.3.4 So sánh diễn biến đường bờ theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI 60 KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6TÓM TẮT LUẬN VĂN
ỨNG DỤNG ẢNH VỆ TINH ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN ĐƯỜNG BỜ BIỂN,
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Học viên: Võ Trung Dũng Chuyên ngành: Kỹ thuật Xây dựng công trình thủy
Mã số: 60.58.02.02 Khóa: 2016-2018 Trường Đại học Bách khoa – ĐHĐN
Tóm tắt - Phân tích diễn biến và dự báo đường bờ biển đóng một vai trò quan
trọng đối với công tác quản lý tổng hợp vùng duyên hải Điều này trở nên cấp thiên hơn trong bối cảnh biến đổi khí hậu và nước biển dâng Ngày nay, có rất nhiều phương pháp được sử dụng để đánh giá diễn biến đường bờ biển như: Khảo sát trắc địa và GPS, Chụp ảnh trên không, Viễn thám, Tuy nhiên, công nghệ viễn thám đang vượt trội so với những kỹ thuật khác do dữ liệu thu thập trong thời gian dài, khả năng thu thập trong phạm vi lớn Vì vậy, với mục tiêu cung cấp cái nhìn tổng quan về diễn biến đường bờ biển ở thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua cũng như dự đoán xu hướng thay đổi trong tương lai, công nghệ viễn thám, xử lý ảnh vệ tinh được chọn để phân tích và xây dựng bản đồ diễn biến đường bờ khu vực tỉnh Bình Định qua các giai đoạn
từ năm 1975 đến 2017
Từ khóa – Đường bờ; Bản đồ diễn biến đường bờ; Viễn thám; Bình Định
SATELLITE PHOTOGRAPHIC IMPACT ASSESSMENT COAST
ROAD, BINH DINH PROVINCE
Abstract- Shoreline variation analysis and prediction play an important role for
integrated coastal zone management It becomes more pressing in the context of climate change and sea level rise Nowadays, there are lot of methods to assess the change of shoreline such as: Geodetic survey and GPS, Aerial photography, Remote sensing… However, the last technique increasingly competitive compared to the others due to the long time acquisition data, the observed capacity in lager scale and the cost Therefore, with the aims of providing an overview about the shoreline variation in Binh Dinh province over the past time as well predicting the change tendency for future, the remote sensing technique is chosen to analyze and map the shoreline variation along Binh Dinh province from 1975 to 2017
Key words - Shoreline; Shoreline variation map; Remote sensing; Binh Dinh
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AWEI : Automated Water Extraction IndexNDWI : Normalized Differenc Water IndexMNDWI : Modified Normalized Difference Water IndexGIS : geographic information system
NIR : Cận hồng ngoại MIR : Hồng ngoại giữa ERTS : Earth Resources Technology Satellite ERSI : Enviromental Symtem Research Institute
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Dân số trung bình tỉnh theo đơn vị huyện (ĐVT: 1000 người) 13
Bảng 1.2: Tỷ suất sinh thô, tỷ suất chết thô và tỷ lệ tăng dân số phân theo thành thị, nông thôn (ĐVT: 0 /00) 13
Bảng 1.3: Thống kê gia súc, gia cầm tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2017 14
Bảng 1.4: Các xã có cồn cát thuộc các huyện ven biển tỉnh Bình Định 22
Bảng 1.5: Các thông số đặc trưng địa hình cồn cát 23
Bảng 1.6: Phạm vi và quy mô dải cồn cát ven biển tỉnh Bình Định 23
Hình 1.7: Sạt lở bờ biển tại xã Cát Khánh, huyện Phù Cát 24
Bảng 1.8: Phạm vi và quy mô khai thác vùng cồn cát ven biển 27
29
T 5 TM 30
30
31
Bảng 3.1: Dữ liệu ảnh Landsat 38
Bảng 3.2: Chỉ số số hóa đường bờ 41
Bảng 3.3: Diện tích xói lở và bồi lắng theo phương pháp NDWI qua các giai đoạn 47
Bảng 3.4: Diện tích xói lở và bồi lắng theo phương pháp MNDWI qua các giai đoạn 53 Bảng 3.5: Diện tích xói lở và bồi lắng theo phương pháp AWEI qua các giai đoạn 59
Bảng 3.6: Diện tích xói lở khu vực tỉnh Bình Định theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 60
Bảng 3.7: Diện tích bồi lắng khu vực tỉnh Bình Định theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 61
Bảng 3.8: Diện tích xói lở huyện Hoài Nhơn theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 62
Bảng 3.9: Diện tích bồi lắng huyện Hoài Nhơn theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 63
Bảng 3.10: Diện tích xói lở huyện Phù Mỹ theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 64
Bảng 3.11: Diện tích bồi lắng huyện Phù Mỹ theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 65
Bảng 3.12: Diện tích xói lở huyện Phù Cát theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 66
Bảng 3.13: Diện tích bồi lắng huyện Phù Cát theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 67
Bảng 3.14: Diện tích xói lở huyện Tuy Phước theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 68
Bảng 3.15: Diện tích bồi lắng huyện Tuy Phướctheo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 69
Bảng 3.16: Diện tích xói lở thành phố Quy Nhơn theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 70
Bảng 3.17: Diện tích bồi lắng thành phố Quy Nhơn theo từng phương pháp NDWI, MNDWI và AWEI (ha) 71
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định 4
Hình 1.2 Bản đồ phân bố sông ngòi và các trạm khí tượng thủy văn tỉnh Bình Định 8
Hình 1.3 : Hệ thống Đê Đông tỉnh Bình Định 20
Hình 1.4: Hệ thống Đê Nhơn Lý tỉnh Bình Định 20
Hình 1.5: Kè biển Tam Quan bị hư hỏng 21
Hình 1.7: Hoạt động nuôi tôm ở huyện Phù Mỹ 25
Hình 1.8: Khai thác Titan ở huyện Phù Mỹ 26
Hình 1.9: Khu du lịch FLC Quy Nhơn 27
Hình 3.1: Quy trình ghép ảnh Landsat 39
Hình 3.2: Quy trình xóa sọc ảnh Landsat 7 40
Hình 3.3: Diễn biến đường bờ theo phương pháp NDWI 1975-1988 42
Hình 3.4: Diễn biến đường bờ theo phương pháp NDWI 1988-1997 43
Hình 3.5: Diễn biến đường bờ theo phương pháp NDWI 1997-2001 44
Hình 3.6: Diễn biến đường bờ theo phương pháp NDWI 2001-2010 45
Hình 3.7: Diễn biến đường bờ theo phương pháp NDWI 2010-2017 46
Hình 3.8: Diện tích xói lở bờ theo phương pháp NDWI qua các giai đoạn 47
Hình 3.9: Diện tích bồi lắng theo phương pháp NDWI qua các giai đoạn 47
Hình 3.10: Diễn biến đường bờ theo phương pháp MNDWI 1988-1997 49
Hình 3.11: Diễn biến đường bờ theo phương pháp MNDWI 1997-2001 50
Hình 3.12: Diễn biến đường bờ theo phương pháp MNDWI 2001-2010 51
Hình 3.13: Diễn biến đường bờ theo phương pháp MNDWI 2010-2017 52
Hình 3.14: Diện tích xói lở theo phương pháp MNDWI qua các giai đoạn 53
Hình 3.15: Diện tích bồi lắng theo phương pháp NDWI qua các giai đoạn 53
Hình 3.16: Diễn biến đường bờ theo phương pháp AWEI 1988-1997 55
Hình 3.17: Diễn biến đường bờ theo phương pháp AWEI 1997-2001 56
Hình 3.18: Diễn biến đường bờ theo phương pháp AWEI 2001-2010 57
Hình 3.19: Diễn biến đường bờ theo phương pháp AWEI 2010-2017 58
Hình 3.20: Diện tích xói lở theo phương pháp AWEI qua các giai đoạn 59
Hình 3.21: Diện tích xói lở theo phương pháp AWEI qua các giai đoạn 59
Hình 3.22: Diện tích xói lở tỉnh Bình Định qua các giai đoạn 61
Hình 3.23: Diện tích bồi lắng tỉnh Bình Định qua các giai đoạn 61
Hình 3.24: Diện tích xói lở huyện Hoài Nhơn qua các giai đoạn 63
Hình 3.25: Diện tích bồi lắng huyện Hoài Nhơn qua các giai đoạn 63
Hình 3.26: Diện tích xói lở huyện Phù Mỹ qua các giai đoạn 65
Hình 3.27: Diện tích bồi lằng huyện Phù Mỹ qua các giai đoạn 65
Hình 3.28: Diện tích xói lở huyện Phù Cát qua các giai đoạn 67
Trang 10Hình 3.29: Diện tích bồi lắng huyện Phù Cát qua các giai đoạn 67
Hình 3.30: Diện tích xói lở huyện Tuy Phước qua các giai đoạn 69
Hình 3.31: Diện tích bồi lắng huyện Tuy Phước qua các giai đoạn 69
Hình 3.32: Diện tích xói lở thành phố Quy Nhơn qua các giai đoạn 71
Hình 3.33: Diện tích bồi lắng thành phố Quy Nhơn qua các giai đoạn 71
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Bình Định là tỉnh duyên hải Nam Trung bộ, diện tích tự nhiên: 6.025 km² với 11 đơn vị hành chính gồm thành phố Quy Nhơn và 10 huyện, thị xã Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, điểm cực Bắc 14042’10” vĩ độ, 108055’4” kinh độ Phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, điểm cực Nam 13039’10” vĩ độ, 108054’00” kinh độ Phía Tây giáp tỉnh Gia Lai, điểm cực Tây 14027’ vĩ độ, 108027’ kinh độ Phía Đông giáp Biển Đông với bờ biển dài 134 km, điểm cực Đông là xã Nhơn Châu thuộc thành phố Quy Nhơn Bình Định có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của miền Trung, là một trong những cửa ngõ ra biển của các tỉnh Tây Nguyên, vùng Nam Lào
và Đông Bắc Campuchia
Bình Định có nhiều thuận lợi giao lưu với bên ngoài bởi cảng biển Quy Nhơn, sân bay Phù Cát, hệ thống Quốc lộ 1A, 1D, đường sắt Bắc Nam chạy qua và đường Quốc
lộ 19 nối cảng biển Quy Nhơn với Trung tâm vùng Bắc Tây Nguyên, vùng Nam Lào
và Đông Bắc Campuchia Bờ biển Bình Định dài 134km chạy từ thành phố Quy Nhơn đến Hoài Nhơn, một bên là núi một bên là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, đều là vị trí thuận lợi để phát triển du lịch và nuôi trồng thủy, hải sản
Hằng năm, Bình Định thường bị tác động trực tiếp các loại thiên tai gồm bão, áp thấp nhiệt đới, lũ, lụt, nắng nóng, hạn hán, dông lốc, triều cường, xâm nhập mặn, sạt lở đất và các hiện tượng thời tiết cực đoan khác như nước biển dâng, gió Tây khô nóng, gió mùa Đông Bắc
Bão, áp thấp nhiệt đới, lũ lụt gây hậu quả rất nặng nề về kinh tế, xã hội và môi trường Từ 1990 đến nay, năm nào cũng xảy ra bão, lũ lụt Bình quân mỗi năm xảy ra 3,5 đợt lũ, chịu ảnh hưởng của 1 – 2 cơn bão Trong giai đoạn 1999 – 2016, Bình Định chịu ảnh hưởng trực tiếp của 10 cơn bão, 402 người chết, 306 người bị thương, gần 7.000 hộ gia đình nhà bị sập, 56.500 nhà bị hư hỏng, 500 tàu bị chìm và hư hỏng nặng, giá trị thiệt hại 8.800 tỷ đồng Đặc biệt trong năm 2016 với 05 đợt lũ từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 12 đã gây thiệt hại nặng nề về cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi và dân sinh, ước tính thiệt hại đến hơn 2.200 tỷ đồng
Do tác động của mưa, lũ, bão trên các tuyến bờ sông, bờ biển của Bình Định đã xảy ra tình trạng sạt lở khá phổ biến Sạt lở đất thường gây hư hỏng các công trình cơ
sở hạ tầng, uy hiếp các khu dân cư, làm mất đất, gây thiệt hại lớn về kinh tế xã hội và môi trường Toàn tỉnh có 61 điểm sạt lở với tổng chiều dài 16.507 m; trong đó: sạt lở
bờ sông 54 điểm, chiều dài 14.192m; bờ biển có 7 điểm, chiều dài 2.315m Có 18 điểm trong tình trạng nguy hiểm ảnh hưởng đến an toàn dân cư và các công trình hạ tầng kỹ thuật Một số điểm sạt lở nghiêm trọng là: sạt lở bờ đê sông Hà Thanh tại thôn Luật
Trang 12Lễ, thị trấn Diêu Trì, huyện Tuy Phước ảnh hưởng trực tiếp 13 hộ dân; vỡ 60 m đê sông Kôn (đoạn đê Ông Ngôn) tại xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước làm cho 2 ngôi nhà và nhiều tài sản bị cuốn trôi; vỡ 130 m đê sông Cạn, 20 m đê sông La Tinh tại xã
Mỹ Chánh huyện Phù Mỹ làm 5 ngôi nhà bị đổ sập; kè biển Tam Quan bị sóng đánh sập nhiều đoạn với chiều dài 200 m
Đường bờ được định nghĩa là đường biên giữa đất và nước, nó là một trong những đặc trưng quan trọng trên bề mặt trái đất Việc khám phá và đo lường sự thay đổi đường bờ là một công việc quan trọng trong công tác quản lý và theo dõi vùng ven biển, bao gồm nhiều vấn đề quan trọng như bảo vệ và mở rộng đường bờ, bảo vệ nguồn tài nguyên biển hay dự đoán mức độ tổn thương Mặc dù định nghĩa đơn giản nhưng việc theo dõi, giám sát diễn biến thay đổi đường bờ rất khó Ngày nay, với sự tích hợp của công nghệ viễn thám và GIS, việc theo dõi và tính toán các diễn biến đường bờ được thực hiện khá nhanh và hiệu quả Hiện nay, chúng ta có thể thực hiện
đo vẽ đường bờ bằng các thiết bị hiện đại như hệ thống định vị toàn cầu hoặc hệ thống máy quay và nguồn thông tin từ ảnh vệ tinh Nguồn dữ liệu từ ảnh vệ tinh sẽ được đưa vào hệ thống thông tin địa lý (GIS) để xử lý, phân tích và đánh giá diễn biến bờ Trong bối cảnh thiên tai đang có xu hướng cực đoan hơn bởi tác động của biến đổi khí hậu, công tác phòng, chống thiên tai được xác định là một trong những nhiệm vụ
ưu tiên, xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội Với tác động của xói lở
bờ sông, bờ biển như trên, nếu không có nghiên cứu, đánh giá sẽ tiếp tục gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, cơ sở hạ tầng Do đó, nghiên cứu xác định quy mô, xu hướng biến động đường bờ nhằm cung cấp thông tin hữu ích phục vụ công tác định hướng quy hoạch, khai thác hợi lý các vùng cửa sông, ven biển là hết sức cần thiết Đây chính là động lực giúp tác giả thực hiện đề tài: ứng dụng ảnh vệ tinh đánh giá diễn biến đường bờ biển, tỉnh Bình Định
Kết quả nghiên cứu hy vọng cung cấp cho chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý thiên tai trên địa bàn những thông tin cần thiết để giúp chủ động đối phó cũng như giảm thiểu thiệt hại do hiện tượng xói lở bờ biển gây ra trên tỉnh Bình Định
2 Mục đích nghiên cứu:
- Phân tích ảnh vệ tinh nhằm đánh giá diễn biến đường bờ biển khu vực tỉnh Bình
Định
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: sự thay đổi của đường bờ biển dựa trên các phân tích từ
ảnh vệ tinh
- Phạm vi nghiên cứu: bờ biển tỉnh Bình Định
4 Nội dung nghiên cứu:
- Sử dụng phần mềm xử lý ảnh xác định đường bờ biển khu vực tỉnh Bình Định
dựa vào dữ liệu vệ tinh
- Ứng dụng công nghệ GIS phân tích diễn biến đường bờ theo thời gian
Trang 13- Phân tích xu hướng diễn biến đường bờ trong tương lai
5 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích tài liệu;
- Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu liên quan;
- Phương pháp mô hình hóa;
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình;
- Phương pháp thống kê khách quan
6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Cung cấp cho các cơ quan chức năng những thông tin hữu ích về diễn biến đường
bờ khu vực tỉnh Bình Định nhằm:
- Quy hoạch, khai thác hợp lý nguồn tài nguyên khu vực quen biển;
- Giảm thiểu tác động của thiên tai sạt lở đất;
- Chủ động đối phó với biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng
7 Bố cục và nội dung luận văn:
Luận văn gồm phần Mở đầu, 03 chương và phần Kết luận và kiến nghị
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở dữ liệu và phương pháp đánh giá
Chương 3: Phân tích diễn biến đường bờ theo thời gian
Kết luận và kiến nghị
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên:
a) Vị trí địa lý
Bình Định là một tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài
110 km theo hướng Bắc – Nam, có chiều ngang với độ hẹp trung bình là 55km (chỗ hẹp nhất 50 km, chỗ rộng nhất 60 km) Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam giáp tỉnh Phú Yên, phía Tây giáp 02 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, phía Đông giáp biển Đông Giới hạn bởi hệ toạ độ địa lý như sau:
- Cực Bắc : 140 42′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 55′ 4″ độ kinh Đông
- Cực Nam : 130 39′ 10″ độ vĩ bắc, 1080 54′ 00″ độ kinh Đông
- Cực Đông : 130 36′ 33″ độ vĩ bắc, 1090 21′ 00″ độ kinh Đông
- Cực Tây : 140 25′ 00″ độ vĩ bắc, 1080 37′ 30″ độ kinh Đông
Diện tích tự nhiên: 6.025 km2
, Tỉnh có 11 đơn vị hành chính gồm 01 thành phố loại I trực thuộc tỉnh (thành phố Quy Nhơn), 01 thị xã (An Nhơn), 03 huyện miền núi (An Lão, Vân Canh, Vĩnh Thạnh), 02 huyện trung du (Hoài Ân, Tây Sơn) và 04 huyện đồng bằng (Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước)
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Bình Định
Trang 15Là tỉnh có nhiều thuận lợi giao lưu với bên ngoài bởi Cảng biển Quy Nhơn ( 1 trong 10 cảng biển lớn của nước ta ), sân bay Phù Cát, hệ thống Quốc lộ 1A, 1D, đường sắt Bắc Nam chạy qua và đường Quốc lộ 19 nối cảng biển Quy Nhơn với Trung tâm vùng Bắc Tây Nguyên, vùng Nam Lào và Đông Bắc Campuchia Bờ biển Quy Nhơn dài 134km chạy từ thành phố Quy Nhơn đến Hoài Nhơn, một bên là núi một bên
là biển với nhiều bãi tắm đẹp, cấu trúc khá đặc biệt xen kẽ rất nhiều đầm, vịnh, đều là
vị trí thuận lợi để phát triển du lịch và nuôi trồng hải sản
Vị trí địa lý trên tạo điều kiện thuận lợi để Bình Định khai thác các thế mạnh về tiềm năng lao động, đất đai, các nguồn tài nguyên cho việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, đẩy mạng thu hút vốn đầu tư, giao lưu thông thương với các tỉnh trong nước và quốc tế, hòa nhịp với xu thế phát triển chung của cả nước để Bình Định trở thành một trong những tỉnh phát triển ở vùng duyên hải Nam Trung Bộ
b) Đặc điểm địa hình
Bình Định là tỉnh nằm gọn bên sườn phía đông dãy Trường Sơn, có địa hình dốc và bị chia cắt mạnh Hướng dốc chính từ Tây sang Đông, núi và đồng bằng xen kẽ nhau do một số dãy núi từ Trường Sơn kéo dài xuống biển tạo thành
Từ Tây Nguyên xuống đồng bằng của Bình Định địa hình hạ thấp đột ngột đáng
kể Các cao nguyên ở phía tây có cao độ từ 500m đến 700m xuống đồng bằng Bình Định chỉ có cao trình 20m đến 30m, vùng ven biển cao trình 2m đến 3m; hình thành hai bậc địa hình cao thấp nằm kế tiếp nhau và không có khu đệm chuyển tiếp Toàn vùng Bình Định được chia thành 3 dạng địa hình:
- Địa hình núi trung bình và núi thấp: có diện tích khoảng 249.827 ha chiếm
41,5% diện tích tự nhiên, tập trung ở phía tây bắc và phía tây của tỉnh thuộc dãy Trường Sơn Đông Độ cao trung bình từ 500 m đến 700 m, thỉnh thoảng có đỉnh núi cao trên 1.000 m, phân bố ở các huyện: Vân Canh, Vĩnh Thạnh, An Lão, Tây Sơn và huyện Hoài Ân Đây là vùng địa hình phân cắt mạnh, độ dốc lớn, lớp phủ thực vật khá
và là vùng sinh thủy đầu nguồn của các sông suối trong tỉnh
- Vùng gò đồi ở trung du: Diện tích 159.276 ha chiếm 26,4% diện tích tự nhiên
phân bố ở các huyện Hoài Nhơn, An Lão và Vân Canh với độ dốc 10% đến 15% Là vùng có nhiều đồi gò xen kẽ nhau, độ cao trung bình dưới 200m, những nơi tương đối bằng phẳng cao trình từ 30m đến 40m Đây là vùng địa chất thổ nhưỡng có độ phì nhiêu thấp, có lớp phủ thực vật kém, đất đai phù hợp với phát triển rừng sản xuất và cây công nghiệp dài ngày
- Đồng bằng và ven biển: diện tích 193.403 ha chiếm 32,1% diện tích đất tự nhiên,
phân bố kéo dài có hướng song song với bờ biển tạo nên vòng cung ôm lấy vùng trung
du và núi phía Tây của tỉnh Kiểu địa hình này tập trung ở các huyện: Hoài Ân, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước, Tây Sơn, thị xã An Nhơn và TP Quy Nhơn Đây
là vùng có độ cao biến đổi từ 2-3m đến 20m và là vùng sản xuất cây hàng năm, chăn
Trang 16nuôi, nuôi trồng thủy sản chủ yếu của tỉnh, là nơi sinh sống chủ yếu của dân cư trong tỉnh, kinh tế phát triển, trù phú
Sát ven biển là các cồn cát, đụn cát tạo thành một dải hẹp chạy dọc ven biển với chiều rộng trung bình khoảng 2 km, hình dạng và qui mô biến đổi theo thời gian, có xu hướng lấn dần vào đồng bằng do chịu tác động của gió và sóng biển Trong khu vực này sau các cồn cát thường có những vùng trũng nhỏ gọi là đầm, vịnh, hàng năm được phù sa sông ngòi bồi lấp
1.1.2 Điều kiện khí hậu, thủy văn
Khí hậu Bình Định thuộc khí hậu Duyên hải Nam Trung Bộ - miền khí hậu Đông Trường Sơn Có hai mùa rõ rệt mùa khô từ tháng 01 đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến hết tháng 12, trong mùa mưa thường chịu ảnh hưởng các cơn bão với tần suất trung bình từ 1 - 2 cơn/năm
a) Khí hậu
- Chế độ nhiệt: Tổng lượng bức xạ hàng năm khá cao: Từ 140 đến 150 cal/cm2 Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27,10C Trung bình cao nhất là 34,60
C, trung bình thấp nhất là 19,90C Biên độ ngày đêm trung bình 5 80
C
- Số giờ nắng: Bình Định là tỉnh nằm trong vùng có số giờ nắng khá cao; trung
bình hàng năm có số giờ nắng 2.268 2.412 giờ Thời kỳ nhiều nắng là từ tháng III đến tháng IX và các tháng ít nắng là tháng XI và tháng XII
- Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân hàng năm ở Bình Định dao động từ 1.800
3.300 mm Lượng mưa giảm dần từ bắc đến nam, cao nhất là tại vùng núi huyện An Lão với lượng mưa trên 3.300 mm, thấp nhất tại các xã phía đông huyện Tuy Phước với lượng mưa dưới 1.700 mm
Mùa mưa ngắn, chỉ tập trung vào 4 tháng (từ tháng IX đến tháng XII), chiếm 70% đến 80% tổng lượng mưa năm Do mùa mưa ngắn, cường độ mưa lớn nên thường gây ngập, úng làm thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân trong vùng
Mùa khô kéo dài 8 tháng (từ tháng I đến tháng VIII), chiếm khoảng 20% đến 30% tổng lượng mưa năm Đây là mùa ít mưa nên thường xảy ra tình trạng khô hạn
- Bốc hơi: Lượng bốc hơi tiềm năng trong năm và tăng dần từ bắc vào nam tỉnh Tại Hoài Nhơn là 1.029 mm/năm và tăng dần đến Quy Nhơn là 1.131 mm/năm Bốc hơi tập trung trong các tháng mùa hạ từ tháng VI đến tháng VIII và các tháng có lượng bốc hơi ít là từ tháng X đến tháng XI
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trong khu vực khá thấp, trung bình hàng năm khoảng 79% Các tháng X đến tháng XII hàng năm tương đối ẩm và từ tháng I đến tháng IX là thời
kỳ khô
- Gió, bão: Hướng gió thịnh hành trong các tháng: mùa Đông thịnh hành là hướng tây bắc, sau đó đổi sang hướng bắc và đông bắc Hướng gió thịnh hành mùa Hạ là hướng tây hoặc tây nam Thời gian chuyển tiếp giữa hai mùa có gió Đông, Đông Bắc,
Trang 17Đông Nam Bão thường tập trung chủ yếu vào 3 tháng IX, X, XI, nhiều nhất là tháng
X chiếm 47% tổng số cơn bão đổ bộ và ảnh hưởng đến Bình Định hàng năm
Sông La Tinh: Thuộc huyện Phù Mỹ và Phù Cát có diện tích lưu vực 719 km2, chiều dài sông 52 km Nhánh Kiều Duyên dài 20 km, diện tích lưu vực 179 km2,
Trang 18nhánh sông Cạn 61.4 km2, nhánh Đức Pô 34.6 km2
Ngoài ra còn có một số sông suối nhỏ đổ vào đầm Trà Ổ và đổ ra biển như sông
Bà Thanh, sông Hóc Môn, sông Ông Điệu
Hình 1.2 Bản đồ phân bố sông ngòi và các trạm khí tƣợng thủy văn tỉnh Bình Định
( Nguồn: Đài KTTV Bình Định) c) Thủy triều
Chế độ thủy triều vùng biển Bình Định cũng như chế độ triều vùng biển Quảng Ngãi đến Bình Thuận là chế độ nhật triều không đều Tại Quy Nhơn hàng tháng số
Trang 19ngày nhật triều chiếm khoảng 18 - 22 ngày, thời gian triều dâng lâu hơn thời gian triều rút Độ lớn triều khoảng 1,2 - 1,8 m; giữa kỳ nước lớn và nước kém biên độ triều chênh lệch không đáng kể; trong kỳ nước kém triều chỉnh lên xuống khoảng 0,5m Chế độ triều vùng đầm và các cửa sông qua đo đạc ở đầm Thị Nại trong các tháng
V, VI cho thấy: Chế độ triều vùng đầm Thị Nại và cửa sông thì cùng chế độ triều với vùng biển Quy Nhơn, tuy nhiên biên độ triều vùng đầm nhỏ hơn biên độ triều vùng biển Cao độ đỉnh triều vùng đầm và tại trạm Quy Nhơn thay đổi không đáng kể Chân triều vùng đầm cao hơn vùng biển 0,4 ÷ 0,6 m Biên độ triều cường vùng đầm từ 1,3 ÷ 1,4 m, trong khi đó biên độ vùng biển cùng thời kỳ là 1,5 ÷ 2,0 m
1.1.3 Tài nguyên thiên nhiên
a) Tài nguyên đất
Tổng diện tích đất tự nhiên của Bình Định là 607.133ha được chia ra 9 nhóm, 22 đơn vị đất và 74 đơn vị đất phụ Trong số đó nhóm đất phù sa có 45.960ha, chỉ chiếm 7,57% diện tích tự nhiên nhưng là nhóm đất quan trọng nhất dùng trồng cây lương thực, phân bổ dọc theo lưu vực các sông Kone, Lại Giang, La Tinh và Hà Thanh Tài nguyên đất tỉnh Bình Định có các đặc trưng chung như sau:
- Thoát nước tốt, và có thành phần cơ giới nhẹ
- Quá trình rửa trôi, thoái hóa đất diễn ra rất sâu sắc ở hầu hết các loại đất trong tỉnh Đặc biệt là ở vùng dốc nhiều thuộc các huyện Hoài Nhơn, An Lão, Vĩnh Thạnh
và ở vùng trung du triền dốc kéo dài, thực vật thưa thớt (Tây Sơn, Phù Cát, Hoài Ân, Vân Canh)
Về cơ cấu sử dụng đất: diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ lệ 84,47% trong tổng diện tích tự nhiên, trong đó chủ yếu là rừng phòng hộ (184.626ha), rừng sản xuất (157.318ha) và cây hàng năm (gồm đất trồng lúa và trồng cây hàng năm khác: 103.682ha) Tỷ lệ diện tích đất trồng cây lâu năm còn thấp so với diện tích đất trung
du và miền núi của tỉnh
Như vậy, tài nguyên đất tỉnh Bình Định đã được khai thác sử dụng chiếm tỉ lệ cao Trong thời kỳ quy hoạch, theo xu hướng phát triển nhóm đất phi nông nghiệp sẽ tăng nhanh gây áp lực đối với mục tiêu phát triển và các chỉ tiêu sản xuất nông nghiệp
b) Tài nguyên rừng
Theo kết quả kiểm kê rừng năm 2016, Bình Định hiện có 394.025,44 ha đất lâm nghiệp có rừng trong đó rừng tự nhiên là: 216.346,73 ha, rừng trồng là 134.306,62 ha Rừng hiện nay còn tập trung chủ yếu ở những vùng xa đường giao thông nên chỉ có ý
Trang 20nghĩa lớn về phòng hộ và bảo vệ môi trường Xét theo mục đích kinh tế thì rừng sản xuất có 655 nghìn ha, rừng phòng hộ có gần 128 nghìn ha Rừng Bình Định có hơn 40 loài cây có giá trị dược liệu phân bố hầu khắp ở các huyện như: ngũ gia bì, sa nhân, thiên niên kiện, bách bộ, thổ phục linh, hoàng đằng, thiên môn, phong kỷ, kim ngân Vùng trung du ven biển có cây dừa trám, đặc biệt cây mai gừng có giá trị dược liệu cao nhưng chủ yếu phân bố ở vài vùng đất hẹp tại huyện Vĩnh Thạnh Cây sa nhân cũng có giá trị xuất khẩu cao
c) Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản của Bình Định không đa dạng về chủng loại, nhưng có một
số khoáng sản đã được xác định có giá trị trong ngành công nghiệp, đặc biệt là ngành sản xuất vật liệu xây dựng Một số loại khoáng sản đáng chú ý:
Đá xây dựng: Trữ lượng đá xây dựng trên địa bàn tỉnh ước tính khoảng 700 triệu
m3 bao gồm các loại đá làm vật liệu xây dựng thông thường và vật liệu xây dựng cao cấp Riêng các loại đá granite như granosinite màu đỏ, biotite hạt thể màu vàng là những loại được thị trường trong và ngoài nước ưa chuộng, có trữ lượng trên 500 triệu
m3 tập trung tại các huyện Tuy Phước, An Nhơn, Phù Cát, Quy Nhơn
Các loại đá làm vật liệu xây dựng thông thường như đá ong có trữ lượng lớn, phân
bố đều ở các địa phương trong tỉnh
Quặng Titan: Sa khoáng titan nằm dọc theo bờ biển, có một số mỏ lớn tập trung ở
Phù Cát, Phù Mỹ, bán đảo Phương Mai (Quy Nhơn) Hiện nay đang được khai thác trên 150 nghìn tấn mỗi năm và bước đầu chế biến sâu
Nước khoáng: Toàn tỉnh có các điểm nước khoáng là Hội Vân, Chánh Thắng (Phù
Cát), Bình Quang (Vĩnh Thạnh), Long Mỹ (Tuy Phước), trong đó điểm Hội Vân có trữ lượng lớn, chất lượng cao, đảm bảo các tiêu chuẩn đặc hiệu chữa bệnh và đã được ngành y tế khai thác sử dụng trong nhiều năm qua
Cao lin: Tập trung ở hai khu vực là Phù Cát (trữ lượng 12 triệu m3) và Long Mỹ (trữ lượng 15 triệu m3) có thể làm nguyên liệu cho sản xuất sứ sử dụng cho điện hạ áp, trung áp và sứ dân dụng
Đất sét: Sét sản xuất gạch ngói phân bố khắp các địa bàn trong tỉnh dưới dạng mỏ
sét đồi hoặc ruộng, tổng trữ lượng trên 11,5 triệu m3, tập trung tại các huyện An Sơn, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Hoài Nhơn, Tuy Phước
Cát và cát trắng: Cát phân bố dọc theo bờ biển, các thung lũng, bãi bồi và lòng
sông cạn với trữ lượng lớn đáp ứng nhu cầu làm vật liệu xây dựng Riêng cát trắng tập trung ở Đập Cấm và Bình Đê (Hoài Nhơn) với tổng trữ lượng 0,9 triệu m3
, cát vàng có
ở Nhơn Hội
Một số loại khoáng sản khác có giá trị công nghiệp, tuy trữ lượng không nhiều, đó
là vàng, chì, thiếc, than bùn Hiện nay đang trong quá trình tiếp tục điều tra thăm dò
và nghiên cứu khả năng khai thác ứng dụng vào sản xuất Đã có dấu hiệu về khoáng sản quý hiếm
Trang 21d) Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch của Bình Định tương đối phong phú và đa dạng, bao gồm cả núi, hồ, biển, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội có sức hấp dẫn Bờ biển dài, nhiều vũng vịnh với những bãi tắm đẹp và danh lam thắng cảnh biển hài hòa, hấp dẫn như bán đảo Phương Mai, bãi tắm Hoàng Hậu, bãi biển Tam Quan, đảo yến, Quy Hòa, Bãi Dài Đặc biệt Bình Định từ lâu đã nổi tiếng là quê hương võ nghệ với nhiều anh hùng hào kiệt dân tộc mà tiêu biểu là Nguyễn Huệ với phong trào Tây Sơn, làm nội dung chính cho lễ hội festival của tỉnh
Bình Định cũng là một trong rất ít địa phương trong cả nước còn bảo tồn được nhiều di tích văn hóa Chăm với hệ thống tháp Chàm nổi tiếng như các cụm tháp Dương Long, Cánh Tiên, Bánh Ít, Tháp Đôi và di tích thành Đồ Bàn Ngoài ra, Bình Định còn có nhiều tiềm năng văn hóa phi vật thể như môn phái võ thuật Tây Sơn, nghệ thuật hát tuồng, bài chòi độc đáo
Tài nguyên du lịch tập trung chủ yếu ở khu vực thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận trong vòng bán kính khoảng 30 - 40 km, vì vậy việc đầu tư khai thác tương đối thuận lợi Khai thác các lợi thế về tài nguyên du lịch nhân văn và các lợi thế về cảnh quan, tài nguyên du lịch biển là thế mạnh của du lịch Bình Định trong việc phát triển các sản phẩm du lịch như văn hóa, nghỉ dưỡng bệnh, tắm biển, thể thao, sinh thái, thăm quan, du lịch quá cảnh
Về vị trí địa lý có thể hình dung Bình Định như một tâm điểm nối với các vùng du lịch của cả miền như Nha Trang, Gia Lai, Hội An, Đà Nẵng, Huế, đồng thời cũng là điểm nút giao thông nối với quốc lộ 19 - ngã ba Đông Dương, đường Hồ Chí Minh tạo điều kiện cho tỉnh phát triển du lịch biển gắn với du lịch núi và cao nguyên, phát triển
du lịch nội địa và du lịch quốc tế Chính vì vậy trong quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam trong tương lai, Bình Định được xác định là có một vị trí quan trọng của vùng du lịch Nam Trung Bộ là một mắt xích quan trọng hệ thống các tuyến điểm du lịch quốc gia
e) Tài nguyên biển
Bình Định có chiều dài bờ biển 134 km và hàng chục ngàn hecta mặt nước đầm phá, với 3 cửa lạch lớn: Quy Nhơn, Đề Gi, Tam Quan và 2 cửa lạch nhỏ: Hà Ra - Phú Thứ và An Dũ, có đảo Cù Lao Xanh rộng 4 km2 Toàn tỉnh có 05/11 huyện thị, thành phố gồm các huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn
có hoạt động kinh tế biển
Vùng biển Bình Định có trên 500 loài cá (trong đó tỷ lệ cá nổi 65% và cá đáy 35%) Trữ lượng của cá nổi khoảng 38.000 tấn, khả năng khai thác là 21.000 tấn, thường gặp các loài cá nổi: cá thu, cá ngừ, cá nục Mùa vụ thích hợp nhất khai thác cá nổi ở Bình Định là vào tháng 3 đến tháng 5, tháng 6 Trữ lượng của cá đáy khoảng 22.000 tấn; khả năng khai thác 11.000 tấn Các loài cá có giá trị là cá hồng, trác, phèn, mối Ngư trường khai thác cá đáy nằm ở phía Đông Nam và Đông Bắc Quy Nhơn,
Trang 22mùa vụ khai thác cá đáy từ tháng 8 đến tháng 11, trùng với mùa gío mùa Đông Bắc - mùa mưa - mùa bão tại Bình Định (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định, 2014)
Trữ lượng tôm hiện diện hàng năm khoảng 1.000 - 1.500 tấn, khả năng khai thác
500 - 600 tấn/năm Trữ lượng mực 1.000 - 1.500 tấn, khả năng khai thác 500 - 100 tấn/năm (Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bình Định, 2014)
Biển Bình Định còn có nhiều sản phẩm quý hiếm có giá trị kinh tế cao, đáng chú
ý nhất là yến sào, sản lượng khoảng 650kg/năm, tập trung ở bán đảo Phương Mai (Quy Nhơn) và một số đảo nhỏ ở Phù Cát Ngoài ra còn có những loài đặc sản khác như cua huỳnh đế, sò, điệp, cá ngựa, hải sâm
Vùng nước lợ của tỉnh Bình Định gắn liền với eo, vịnh biển và các cửa sông nối với biển Đông, có nồng độ muối thấp, nguồn thức ăn phong phú và đa dạng rất thích hợp cho các loài thủy sản sinh trưởng và phát triển Nơi đây có nhiều loài tôm, cá (14 loài tôm và khoảng 116 loài cá) có giá trị kinh tế cao dùng cho xuất khẩu cũng như tiêu dùng nội địa Diện tích mặt nước lợ lớn và tập trung như đầm Thị Nại 5060 ha, đầm Đề Gi 1.600 ha, vùng cửa sông Tam Quan 300 ha là các vùng thích hợp cho nuôi trồng thủy sản
Ngoài tôm, cá ở vùng này còn có khoảng 136 loài rong và thực vật có giá trị sử dụng trong chăn nuôi, trồng trọt và y dược, đặc biệt là rong câu chỉ vàng có hàm lượng aga lớn, cần thiết cho công nghiệp y dược và thực phẩm
1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
1.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế
a) Dân số và lực lượng lao động:
- Dân số trung bình toàn tỉnh trong 3 năm gần đây thể hiện theo bảng 1.8 Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số của tỉnh vào loại trung bình, khoảng 8,2/00 mỗi năm, trong đó tỷ
lệ sinh 15,9/00, tỷ lệ chết 7,70/00 Tỷ lệ tăng dân số cơ học hầu như không đáng kể, coi như bằng 0 Bảng 1.9 biểu thị tỷ lệ tăng dân số 3 năm gần đây của tỉnh, cụ thể như sau :
Huyện Hoài Ân
Huyện Hoài Nhơn
Huyện Phù Mỹ
Huyện Phù Cát
285,5 24,7
86 209,5 172,5 191,6
286,7 24,7 86,3 210,3
173 192,2
287,3 24,8 86,6 210,8 173,6 192,8
1004,5 35,6
115 500,7 312,2 283,1
Trang 23Huyện Tuy Phước
Huyện Vân Canh
28,5 125,6 182,1 183,4 25,1
28,6
126 182,9 184,3 25,2
28,7 126,4 183,6 184,7 25,3
40 182,7 752,5 839,5 31,5
Bảng 1.1: Dân số trung bình tỉnh theo đơn vị huyện (ĐVT: 1000 người)
( Nguồn cục thống kê Bình Định năm 2016.)
Ghi chú: Mật độ dân số tính riêng cho năm 2016
15,9 15,4 17,6 7,7 7,4 7,9 8,2 8,0 9,7
15,9 15,4 17,5 7,6 7,3 8,0 8,3 8,1 9,5
Bảng 1.2: Tỷ suất sinh thô, tỷ suất chết thô và tỷ lệ tăng dân số phân theo
thành thị, nông thôn (ĐVT: 0
/ 00 )
( Nguồn: Cục thống kê Bình Định.) b) Y tế
- Số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh năm 2016 có 186 cơ sở Trong đó, số lượng bệnh viện 22 cơ sở; phòng khám đa khoa khu vực 05 cơ sở; trạm y tế xã, phường, thị trấn
159 cơ sở Phân theo cấp quản lý, trong tổng số 186 cơ sở có 03 cơ sở do cấp Bộ quản
lý, 183 cơ sở do địa phương quản lý
- Nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn cho hoạt động y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, hệ thống cơ sở và trang thiết bị khám chữa bệnh ngày càng được đầu tư nâng cấp theo hướng hiện đại, đội ngũ cán bộ y tế tăng cường cho tuyến dưới ngày càng được chú trọng, hoạt động y tế tuyến xã ngày càng được cải thiện về nhân lực và phương tiện làm việc
Trang 24- Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế đạt 60,4%, tăng 0,7% so
với cùng kỳ năm trước
c) Tình trạng kinh tế
Hiện trạng kinh tế tỉnh Bình Định nhìn chung có xu hướng phát triển, năm sau tăng hơn năm trước, khối sản xuất nông nghiệp tăng chậm và không đều so với khối công nghiệp và xây dựng cơ bản, thương nghiệp, dịch vụ và các ngành khác
- Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản:
Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 23.186,9 tỷ đồng, tăng 3,24% so với cùng kỳ Trong đó: nông nghiệp đạt 13.827,8
tỷ đồng, tăng 1,4%; lâm nghiệp đạt 951,4 tỷ đồng, tăng 5,3%; thủy sản đạt 8.407,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ
Về trồng trọt: giá trị sản xuất ước đạt 6.787,2 tỷ đồng, tăng 3,8% so với cùng kỳ
Các loại cây trồng chủ yếu trên địa bàn tỉnh là: lúa, các loại cây công nghiệp, cây ăn quả, rau màu… Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm ước đạt 161.377 ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ; trong đó, diện tích lúa cả 3 vụ ước đạt 105.106,7 ha, tăng 2,5%
so với cùng kỳ, năng suất bình quân ước đạt 63,4 tạ/ha, tăng 1,1 tạ so với cùng kỳ Các huyện: Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Phù Cát, An Nhơn và Tuy Phước là các khu vực có diện tích trồng trọt lớn nhất trong tỉnh
Về chăn nuôi: phát triển cả về quy mô, chất lượng và hiệu quả, giá trị sản xuất ước
đạt 6.641,1 tỷ đồng, giảm 0,9% so với cùng kỳ Kết quả điều tra chăn nuôi tại thời điểm ngày 01/10/2017, tổng đàn bò của tỉnh có 294.717 con, giảm 2,3%; đàn lợn 685.373 con (không tính lợn sữa), giảm 19,5%; đàn gia cầm gần 7,1 triệu con, tăng 1,8% so với thời điểm 01/10/2016)
Thống kê số lượng gia súc, gia cầm của tỉnh Bình Định trong giai đoạn 2011 –
2017 được thể hiện trong Bảng 1.6 Các huyện Phù Cát, Phù Mỹ, An Nhơn, Hoài Ân
và Hoài Nhơn là các huyện phát triển chăn nuôi nhiều hơn so với các khu vực còn lại; trong đó, gà và lợn là hai đối tượng vật nuôi chủ lực
Trâu (con) 19.355 20.997 20.994 21.447 21.539 21.737 22.053
Bò (con) 276.484 246.253 246.723 252.441 266.031 301.713 294.717 Lợn (con) 569.373 711.065 715.851 755.931 797.701 851.069 685.373 Gia cầm
(nghìn con) 5.662,0 6.646,7 6.615,4 6.993,7 6.927,9 6.950 7.100
Bảng 1.3: Thống kê gia súc, gia cầm tỉnh Bình Định giai đoạn 2011 – 2017
( Nguồn: Cục thống kê Bình Định.) Lâm nghiệp: với 394.025,44 ha đất lâm nghiệp có rừng, trong đó rừng sản xuất
chiếm 168.030,42 ha, rừng phòng hộ và đặc dụng là 225.995,02 ha Sản lượng gỗ khai thác toàn tỉnh năm 2016 đạt 723.752 m3, tăng 6,4% (+43.552 m3) so với cùng kỳ
Trang 25Trong sản lượng khai thác, gỗ nguyên liệu giấy chiếm chủ yếu, đạt 723.255 m3(+44.694 m3), tăng 6,6%, Giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp đạt 835,2 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ
Thuỷ sản: Thủy sản có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh
Trong những năm gần đây, nuôi trồng, đánh bắt và chế biến hải sản có nhiều tiến bộ Giá trị sản xuất thủy sản năm 2017 (theo giá so sánh năm 2010) ước đạt 8.407,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ Sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản ước đạt 233.214 tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ; trong đó, sản lượng khai thác thủy sản ước đạt 222.467 tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ
Sản lượng khai thác thủy sản ở Bình Định tập trung chủ yếu ở 5 huyện, thành phố ven biển của tỉnh, đó là Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Quy Nhơn, Phù Cát và Tuy Phước Ngoài các loại thủy sản truyền thống, Bình Định là tỉnh đứng đầu trong việc khai thác
cá ngừ đại dương với sản lượng chiếm khoảng 50% tổng sản lượng khai thác cá ngừ đại dương của cả nước
Nhiều mô hình nuôi thủy sản có giá trị kinh tế cao như: cá chình, cá tầm nước lạnh, là những loài có giá trị cao về mặt dinh dưỡng, kinh tế đang được triển khai và nhân rộng tại các huyện An Lão, Hoài Ân, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh; cùng với sự phát triển mạnh của nghề nuôi cá lồng bè đã giúp cho ngành thủy sản tiếp tục tăng trưởng
- Sản xuất công nghiệp:
Cùng với sự nỗ lực cố gắng và hỗ trợ từ các chính sách của nhà nước nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tiếp tục tăng trưỏng với tốc độ cao Chỉ số sản xuất công nghiệp ước thực hiện năm 2017 đạt 8,8%, đạt cao hơn so vói năm trước 1,48% và vưọt kế hoạch năm đề ra (kế hoạch 8%)
Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) ước đạt 38.022,4 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ Trong đó, các ngành công nghiệp chính của tỉnh chiếm tỷ trọng cao là: chế biến, chế tạo; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải; công nghiệp khai khoáng… Một số sản phẩm tăng khá như: quần áo các loại, tân dược, sản phẩm bằng thép, quặng titan, đá các loại, dăm gỗ, sản phẩm bằng gỗ ; trong khi đó một số sản phẩm giảm mạnh như: tôm đông lạnh, tinh bột sắn, thức ăn gia súc
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 42/63 cụm công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích (theo quy hoạch) là 1.369,6ha Đã thu hút được 378 cơ sở sản xuất đăng ký đầu tư; trong đó có 294 cơ sở sản xuất đã hoạt động và giải quyết việc làm cho khoảng 18.900 lao động địa phương
Công nghiệp tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, ven trục đường lớn và các thị trấn, khu vực có vùng nguyên liệu và các khu cụm công nghiệp tập trung Giá trị sản xuất xây dựng năm 2017 (theo giá so sánh 2010) ước tính đạt 13.865,7 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ
Trang 26- Thương mại và dịch vụ
Thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, nguồn cung ứng dồi dào, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân nên chưa xảy ra hiện tượng sốt giá, khan
hiếm hàng hóa, kể cả khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa Tổng mức bán lẻ hàng hoá
và doanh thu dịch vụ năm 2017 ước đạt 57.380,3 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ Kim ngạch xuất khẩu ước đạt 740 triệu USD, đạt 93,8% kế hoạch và tăng 5,2% so
với cùng kỳ Các mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng như: Sản phẩm bằng gỗ; hàng dệt may; hàng thủy sản; sản phẩm từ chất dẻo Một số nhóm hàng xuất khẩu gặp khó khăn, kim ngạch giảm so với cùng kỳ: gạo, sắn và các sản phẩm từ sắn, quặng
và khoáng sản khác Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 292,7 triệu USD, tăng 3,5% so
với cùng kỳ
Hoạt động du lịch tăng trưởng khá; lượng khách đến tỉnh trong năm ước đạt trên
3,7 triệu lượt khách, tăng 15,6% so với cùng kỳ (trong đó, khách du lịch quốc tế ước đạt 264.470 lượt, tăng 4%; khách nội địa ước đạt 3,436 triệu lượt, tăng 17%) Tổng doanh thu du lịch năm 2017 ước đạt 2.133,8 tỷ đồng, tăng 42,5% so với cùng kỳ Các tuyến và điểm du lịch trọng điểm của tỉnh có thể kể đến như: tuyến du lịch biển đảo (rạn san hô Hòn Khô, đảo Nhơn Châu, tuyến Phương Mai - Núi Bà, khu du lịch Vĩnh Hội, khu du lịch sinh thái biển Hải Giang); tham quan các làng chài; các điểm du lịch ven đầm Thị Nại; du lịch văn hóa – lịch sử (bảo tàng Quang Trung, đền thờ Tây Sơn Tam Kiệt, di tích Gò Lăng, tháp Đôi, tháp Bánh Ít) Ngoài ra, còn tổ chức các lễ hội truyền thống như lễ hội Tây Sơn, lễ hội cầu ngư, Lễ hội chiến thắng Ngọc Hồi - Đống
Đa, Lễ hội chiến thắng Đèo Nhông - Dương Liễu, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền gắn với phát triển loại hình du lịch văn hóa - lịch sử
1.2.2 Cơ sở hạ tầng
a) Giao thông
Bình Định có đủ các hình thức giao thông gồm đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, đường hàng không và đường biển Trong đó, hệ thống giao thông đường bộ có trên 9.437 km, mật độ phân bố 0,87 km/km2 Hệ thống quốc lộ trên địa bàn tỉnh 308,5
km, gồm Quốc lộ 1A, 1D, 19, 19B, 19C Hệ thống đường địa phương gồm 455,3 km đường tỉnh, 490,1 km đường huyện, 613,4 km đường đô thị, 207 km đường chuyên dùng và 7.363 km đường giao thông nông thôn Hiện nay, hệ thống giao thông nông thôn cơ bản đã đạt chuẩn; các đường trục thôn, xóm được bê tông hóa đạt khoảng 70%
ở đồng bằng, 50% ở miền núi
Đường sắt Bắc Nam chạy xuyên qua khu vực cùng với cảng biển Quy Nhơn và cảng hàng không Phù Cát là ưu thế nổi bậc so bới các địa phương khác trong cả nước
b) Bưu chính viễn thông
Mạng lưới bưu chính viễn thông với đủ các loại hình dịch vụ, hệ thống điện thoại
cố định, hệ thống điện thoại di động của các mạng, hệ thống máy thông tin di động sóng ngắn, hệ thống thông tin chuyên dùng Inmarsat có thể đáp ứng nhanh chóng nhu
Trang 27cầu trao đổi thông tin, liên lạc Đến nay đã có khoảng 90% tổng số xã có điểm bưu điện - văn hoá, tỷ lệ thuê bao điện thoại đạt 55 - 60 thuê bao/100 dân; mật độ thuê bao Internet đạt 6 - 8 thuê bao/100 dân, trong đó số thuê bao Internet băng rộng chiếm khoảng 80%, tỷ lệ người sử dụng Internet đạt 25 - 30 % dân số
c) Thương nghiệp
Doanh thu trong lĩnh vực thương nghiệp hàng năm là 3.714,79 tỷ đồng, trong đó, lĩnh vực kinh tế nhà nước là 496,37 tỷ, kinh tế tập thể 98,87 tỷ, kinh tế tư nhân 3.098,83 tỷ, kinh tế nhiều thành phần 30,72 tỷ đồng
d) Hoạt động du lịch và các dịch vụ khác
Tổng mức doanh thu hàng năm khoảng 26,12 tỷ đồng Có 18 khách sạn với 438 buồng, 980 giường Hệ số sử dụng buồng 38,2%
e) Cung cấp điện nước
Thành phố Quy Nhơn và hầu hết các thị trấn huyện lỵ; Các xã nằm gần trung tâm
đã được cung cấp lưới điện 220V Điện năng tự sản xuất hàng năm phục vụ cho các nhu cầu trong tỉnh là 26,74 triệu KWh, chưa kể điện năng được cung cấp từ mạng lưới điện Quốc Gia
Nước máy sản xuất hàng năm khoảng 5,7 triệu m3, nước máy tiêu thụ khoảng 3,65 triệu m3 Tại các nông thôn vùng xa trung tâm nông dân chủ yếu sử dụng nước giếng khoan, giếng đào, nước sông suối tự nhiên
f) Giáo dục và đào tạo
Giáo dục, đào tạo, dạy nghề phát triển mạnh về cơ sở vật chất, mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng đào tạo Trên địa bàn tỉnh có Trường Đại học Quy Nhơn quy mô trên 10.000 sinh viên đào tạo đa ngành (trung tâm đào tạo cung cấp đội ngũ cán bộ có trình độ đại học cho khu vực), Trường Cao đẳng sư phạm có quy mô trên 1.500 sinh viên, 3 trường trung học chuyên nghiệp và một số trung tâm đào tạo nghề với nhiều loại hình đào tạo nghề phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội cho tỉnh nói riêng và khu vực nói chung Năm 2017, tỷ lệ tốt nghiệp THPT đạt 98%, toàn tỉnh có thêm 22 trường đạt chuẩn quốc gia
g) Sức khỏe cộng đồng
Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở được tiếp tục củng cố, kiện toàn Công tác bảo vệ
và chăm sóc sức khoẻ nhân dân có nhiều tiến bộ, 100% số xã, phường, thị trấn có trạm
y tế và được trang bị một số dụng cụ cần thiết cho khám chữa bệnh tuyến cơ sở Số trạm xá xã, phường, thị trấn có bác sỹ chiếm 100% (trong đó: 143 xã có bác sĩ tại chỗ,
16 xã có bác sĩ tăng cường từ tuyến huyện về) Đã mở rộng bảo hiểm y tế cho người nghèo, tăng cường hoạt động khám miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi Công tác y tế dự phòng được duy trì thường xuyên, các mục tiêu của chương trình y tế quốc gia đạt hiệu quả tốt, các dịch bệnh lớn đều được khống chế, nhân dân ngày càng thuận lợi trong khám chữa bệnh
Trang 28Năm 2017, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt tỷ lệ 87%; tỷ lệ trẻ em dưới
5 tuổi suy dinh dưỡng giảm xuống còn 10,4%; công tác dân số và chăm sóc sức khỏe sinh sản được chú trọng; thực hiện chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản; tăng cường quản lý thực phẩm chức năng, thuốc và giá thuốc
1.3 Hiện trạng hệ thống đê biển
Khu vực bờ biển thềm lục địa tỉnh Bình Định có diện tích khoảng 36.000km2, lớn gấp 6 lần diện tích tự nhiên của tỉnh Do sự lấn sát của các khối kiến tạo phía Tây ra biển, nên ngoài dải hẹp ven bờ có độ dốc nhỏ, còn lại phần lớn có độ dốc lớn và có nhiều nếp gấp, từ Quy Nhơn đến Tam Quan các đường đẳng sâu 50m, 200m hầu như chạy song song với vạch bờ Trong đó từ bờ ra đến độ sâu 500m độ dốc đáy biển nhỏ
và biến đổi chậm, từ độ sâu 500 m ra đến 2.000 m là khu vực biển có độ dốc lớn nhất của vùng biển này Khu vực biển tỉnh Bình Định chịu ảnh hưởng lớn và quyết định của
hệ thống gió mùa Đông Bắc, gió mùa Tây Nam và hệ thống dòng chảy cũng như chế
độ thủy triều trong biển Đông
Nếu không kể các đường bờ của các hải đảo, bán đảo, tỉnh Bình Định có khoảng
134 km bờ biển Do ảnh hưởng nhô ra của các dãy núi, cũng như khí hậu và tác động của các quá trình thủy văn động lực của biển, đủ tạo nên sự phức tạp của vạch bờ, đồng thời cũng tạo nên nhiều đầm phá ven biển như: Đầm Trà Ổ, đầm Nước Ngọt, đầm Mỹ Khánh, đầm Thị Nại và phá Công Khanh Các đầm, phá được ngăn cách với biển bởi các doi cát hoặc các dãy núi thấp và trao đổi nước với biển thông qua các cửa rất hẹp Bờ biển của tỉnh Bình Định có thể chia thành hai dạng chính:
- Dạng bờ biển tích tụ - mài mòn đang bị san bằng Dạng này thể hiện rõ rệt trên đoạn bờ biển từ Quy Nhơn đến sông Cầu
- Dạng bờ biển tích tụ - mài mòn bằng phẳng Dạng này trải dài trên đoạn bờ từ Quy Nhơn đến Sa Huỳnh
Do sự tác động của các quá trình tự nhiên trên đã tạo cho bờ biển tỉnh Bình Định
có nhiều vẻ đẹp hùng vĩ và nhiều đầm, phá
Dọc bờ biển Bình Định tồn tại các cửa biển như: Cửa Tam Quan, cửa An Dũ, cửa
Hà Ra, cửa Đề Gi và cửa Quy Nhơn Các cửa trên là cửa trao đổi nước giữa sông và biển Hiện tại ngoại trừ cửa Quy Nhơn và cửa Tam Quan khá ổn định, còn các cửa An
Dũ, Hà Ra, Đề Gi luôn có sự bồi lấp và biến động gây nên rất nhiều khó khăn cho các hoạt động của tàu thuyền cũng như đời sống của nhân dân quanh khu vực
Toàn tỉnh Bình Định đã hình thành các hệ thống đê cửa sông, đê biển có tổng chiều dài 95 km, bao gồm:
- Hệ thống đê Tam Quan thuộc huyện Hoài Nhơn có tổng chiều dài 6km
- Hệ thống đê Hoài Hương – Hoài Mỹ thuộc huyện Hoài Nhơn chiều dài 5 km
- Hệ thống đê hạ lưu đập Trà Ổ huyện Phù Mỹ chiều dài 4 km Trong đó có đê biển Phú Thứ - Phú Hà chiều dài 700 m
- Hệ thống đê Vịnh Nước Ngọt thuộc huyện Phù Mỹ, Phù Cát có tổng chiều dài 27
Trang 29km, bao gồm các tuyến đê: Đê đầm Đề Gi 16 km, đê An Xuyên – An Mỹ thuộc sông
La Tinh, sông Cạn chiều dài 4 km, đê hạ lưu đập Đức Phổ 2 km và đê biển Mỹ Thành
5 km
- Đê biển Trung Lương xã Cát Tiến huyện Phù Cát chiều dài 1 km
- Đê biển Nhơn Lý (Lý Hưng – Lý Lương) thành phố Quy Nhơn 1 km
- Đê biển hạ lưu đập Nha Phu xã Phước Hoà – Tuy Phước dài 4 km
- Hệ thống Đê Đông bao quanh đầm Thị Nại thuộc huyện Phù Cát, Tuy Phước và thành phố Quy Nhơn có chiều dài 47 km, Sở Nông nghiệp và PTNT giao Chi cục Thủy lợi trực tiếp quản lý
lũ Trên tuyến đê hiện đã xây dựng được 24 tràn thoát lũ có cao trình từ 0,17-1,29 với tổng chiều dài tràn L= 2686 m, 31 cống có cao trình đáy cống từ -1,65 ~ -1,32, với tổng chiều rộng thoát lũ, tiêu úng B=162.9 m Đây là hệ thống đê ngăn mặn quan trọng nhất của tỉnh, nhưng chưa được xây dựng hoàn chỉnh, cao trình mặt đê vùng đầm từ 1,0-1,5, vùng cửa sông từ 2,0- 3,5, mặt đê rộng B-1,8-3,0, hệ số mái đê từ 1,00-2,50, nhiều đoạn chưa được lát đá bảo vệ Hàng năm Nhà Nước đã đầu tư kinh phí để duy tu bảo dưỡng và từng bước xây dựng hoàn chỉnh công trình nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm
vụ đã đề ra Tuy nhiên do kinh phí đầu tư có hạn, công trình lại thường xuyên bị lũ phá hoại Đặc biệt trong các năm có lũ lớn, hầu hết các đoạn đê bị ngập dưới dòng chảy lũ
từ 0,5-1,5, nên hệ thống đê đã bị vỡ, xói lở nghiêm trọng cần khôi phục và nâng cấp lại
+ Đê cửa sông: xây dựng dựng được 21.530 m đê cửa sông ở 4 cửa sông: Hà Thanh, Tân Giảng, An Lợi và La Tinh có nhiệm vụ ngăn mặn và làm đường giao thông giữa các xã trong vùng, được nối với tuyến đê Đông và các tuyến sông Tân An,
Gò Chàm và Đập Đá Do tính chất tự phát không theo quy hoạch nên các tuyến đê không liên tục và mức độ an toàn kém
+ Kè bờ: đã xây dựng được 29.840 m kè trong đó có 23.240 m bị sụt mái không bảo đảm an toàn
Trang 30Hình 1.3 : Hệ thống Đê Đông tỉnh Bình Định
( Nguồn: Cục Chi cục Thủy lợi Bình Định)
Hình 1.4: Hệ thống Đê Nhơn Lý tỉnh Bình Định
( Nguồn: Cục Chi cục Thủy lợi Bình Định)
- Hệ thống đê Vịnh Nước Ngọt thuộc huyện Phù Mỹ và huyện Phù Cát có tổng
Trang 32TT Huyện Tên xã Chiều dài bờ biển (km) Chú thích
Bảng 1.4: Các xã có cồn cát thuộc các huyện ven biển tỉnh Bình Định [1]
b) Đặc điểm địa hình cồn cát ven biển
- Cồn cát Bình Định phân bố khá đều dọc theo ven biển, riêng khu vực thành phố Quy Nhơn có ít cồn cát, hầu như chỉ là đồi núi ven biển
-Trên tổng số 134 km bờ biển có khoảng 69 km khu vực có cồn cát, trong đó có khoảng 19 km dải cồn cát ven biển có cao độ lớn hơn +5,0m (chiếm 27% chiều dài cồn cát)
-Đặc điểm chung của cồn cát ven biển Bình Định đó là hầu như chỉ có một đỉnh, dạng mặt cắt chung là một dải cồn cát nằm ngoài sát biển, phía trong là đồi núi không liên tục, dạng địa hình này có nhiều ở Phù Mỹ, Phù Cát
- Chiều rộng của dải cồn cát sát biển biến động khá lớn, chiều rộng cồn cát lớn nhất tập trung ở huyện Phù Mỹ và Phù Cát, có khu vực lên đến 1km
Cao độ đỉnh (m)
Trang 33biển (m)
Diện tích dải cồn cát sát biển
Do yếu tố thiên nhiên:
+Tại Hoài Nhơn:
Sạt lở khu vực gần cửa sông Tam Quan, mạnh nhất là vào năm 2005 Hiện nay đang được xây dựng kè chắn sóng Sạt lở hàng năm dọc theo 2,8km bờ biển từ thôn Ca Công-Thạnh Xuân Bắc -Thạnh Xuân Đông, Thạnh Xuân (xã Hoài Hương) Biến động tại khu vực cửa sông Lại Giang
Sạt lở mạnh mẽ nhất tại cồn cát xã Hoài Hải,sạt lở diễn ra tại khu vực thôn Kim Giao Bắc, Kim Giao Trung, Kim Giao Nam, Diêu Giang, trung bình 30m/năm, mạnh nhất là 2005-2006
+ Tại Phù Mỹ: Sạt lở cồn cát tại một số khu vực ở xã Mỹ Đức,Mỹ Thọ và Mỹ
Thành như khu vực thôn Phú Hòa - năm 2005(xã Mỹ Đức), thôn Tân Thành, Chánh Trạch 2,Tân Phung -năm 2005,2006 (xã Mỹ Thọ)với tốc độ 5-6m/năm
Trang 34Hình 1.7: Sạt lở bờ biển tại xã Cát Khánh, huyện Phù Cát
( Nguồn: Báo Bình Định)
Do yếu tố con người:
Một nguyên nhân đang làm còn cát bị biến động mạnh do sự khai thác của con người, mà hiện nay đó là việc khai thác titan, nuôi tôm ven biển và các khu công nghiệp
Trang 35+ Tại Phù Mỹ:
- Dọc cồn cát từ xã Mỹ Đức đến xã Mỹ An, các khu vực nuôi tôm phát triển mạnh, cùng với việc xây dựng đường ven biển đã phá vỡ và hạ thấp cao độ nhiều khu vực cồn cát
Hình 1.7: Hoạt động nuôi tôm ở huyện Phù Mỹ
(Nguồn: Báo Bình Định)
- Khu vực cồn cát xã Mỹ Thọ, Mỹ Thành có nhiều khu vực cồn cát bị đào bới để khai thác Titan, phần lớn là trái phép Việc khai thác này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ ổn định của cồn cát, làm biến dạng và hạ thấp cao độ tại nhiều khu vực
- Ngoài ra, tại xã Mỹ Đức đang lập dự án khai thác Titan, rất cần thiết phải có sự kiểm tra và quản lý của địa phương để tránh tình trạng việc khai thác bừa bãi, không trả lại địa hình trước đây sau khi khai thác, làm ảnh hưởng đến độ ổn định và an toàn của dải cồn cát
Trang 36Hình 1.8: Khai thác Titan ở huyện Phù Mỹ
(Nguồn: Báo Bình Định)
+ Tại Quy Nhơn:
Khu vực có cồn cát biến động nhiều nhất chính là khu vực cồn cát xã Nhơn Lý do việc xây dựng khu kinh tế Nhơn Lý- Nhơn Hội Các cơ sở hạ tầng và đường giao thông ven biển đang được triển khai xây dựng đã làm cồn cát bị biến động rất mạnh
mẽ
1.3.2 Thực trạng sử dụng và khai thác trên khu vực dải cồn cát sát biển
a) Về hoạt động nuôi trồng thủy - hải sản trên và lân cận vùng cồn cát
Các hoạt động khai thác cho mục đích nuôi trồng thủy sản chủ yếu ở Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát Phát triển mạnh mẽ nhất là tại các xã Mỹ Đức, Mỹ Thắng, Mỹ An (Phù Mỹ) Trong khi đó tại Hoài Nhơn, Phù Cát chỉ có một vài khu vực nuôi tôm với quy mô nhỏ
b) Về hoạt động du lịch
Các hoạt động về du lịch chưa có nhiều khu vực cồn cát Bình Định Việc khai thác
du lịch ven biển mới đang ở bước lập các dự án quy hoạch khai thác du lịch tại xã Cát Khánh và Cát Tiến (Phù Cát) và khu du lịch FLC (Quy Nhơn)
Trang 37Hình 1.9: Khu du lịch FLC Quy Nhơn
(Nguồn: Báo Bình Định) c) Về xây dựng hạ tầng giao thông ven biển
Nhìn chung, xây dựng giao thông ven biển của Bình Định phát triển khá mạnh Tại Phù Mỹ và Quy Nhơn đường giao thông ven biển đã hoàn thành Tại Hoài Nhơn hiện nay chỉ có 3 xã cóđường giao thông ven biển là Tam Quan Bắc, Tam Quan Nam và Hoài Mỹ Tại Phù Cát chỉ có khoảng 23km đường ven biển đã hoàn thành ở xã Cát Khánh, Cát Hải và Cát Chánh
d) Các hoạt động kinh tế khác trên và lân cận dải cồn cát sát biển
Hiện nay tại khu vực cồn cát xã Mỹ Thọ, Mỹ Thành có nhiều khu vực cồn cát bị đào bới để khai thác Titan, phần lớn là trái phép Việc khai thác này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến độ ổn định của cồn cát, làm biến dạng và hạ thấp cao độ tại nhiều khu vực
TT Huyện Thủy sản Du lịch ven biển (km) Giao thông Sử dụng khác
(km) (km/ha) (km)
Trang 38CHƯƠNG 2: CƠ SỞ DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
nhau và tươn
chuyển động kiến tạo của rìa lục địa, những thay đổi về mực nước biển, ảnh hưởng của thủy triều, sóng và dòng chảy trong biển, cũng như sự thay đổi về nhiệt độ, áp suất và tác động gió trong khí quyển Một số bờ biển được tạo ra chủ yếu bởi xói lở, và một số
bờ khác lại bởi tích tụ
gian Có hai dạng một là biến đổi đường bờ do quá trình tích tụ: hiện tượng đường bờ biển lấn dần ra phía biển Còn quá trình xói lở: hiện tượng đường bờ biển lấn dần về phía lục địa và có hai hiện tượng xói lở: xói lở bãi và xói lở đường bờ
Biến động bờ biển tự nhiên bao gồm xói lở bãi cũng như vùng đất ven biển và tích
tụ trầm tích
kiện theo thời g
-n
Trang 39-ong một quá trình địa mạo gây nên tình trạng biến đổi hình thái bờ biển
Trong mấy chục năm gần đây, trên khắp thế giới, hiện tượng xói lở bờ biển đã trở thành vấn đề rất nghiêm trọng và chiếm ưu thế hơn hẳn so với bồi tụ và được các quốc gia có biển, các
các kết quả nghiên cứu biến động địa hình (nghĩa là các quá trình địa mạo) cả trên đất liền cũng như ở bờ
Vào năm 1967, tổ chức hàng không và vệ tinh
hăm dò tài nguyên trái đất ERTS
–NASA đổi tên chương trình ERTS thành LANDSAT, ERTS – 1
Bảng
Trang 40Những thế hệ đầu tiên của vệ tinh Landsat được trang bị các bộ cảm biến như RBV và MSS Các bộ cảm biến hiện đại hơn như TM, ETM+, OLI bắt đầu được trang
bị trên vệ tinh Landsat 4
phân giải không gian 30 m và