1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp ở vùng đệm vườn quốc gia ba bể tỉnh bắc kạn

116 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Tiến sỹ Trần Mai Sen, Khoa sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp, nông lâm kết hợp là sự kết hợp một cách hài hoà giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp, giữa trồng trọt v

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-

HÀ MINH QUANG

SO SÁNH HIỆU QUẢ KINH TẾ MỘT SỐ MÔ HÌNH SẢN XUẤT NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp

Mã số: 60-31-10

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Trần Đại Nghĩa

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “So sánh hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp ở vùng đệm VQG Ba Bể tỉnh Bắc Kạn” được thực hiện từ

tháng 3/2011 đến tháng 3/2012 Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , phần lớn thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương , số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên các phần mềm thống kê SPSS 17, Excel

Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào tại Việt Nam

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 05 năm 2012 Tác giả

Hà Minh Quang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng quản lý đào tạo sau đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS Trần Đại Nghĩa đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện

Ba Bể - Tỉnh Bắc Kạn, Ban quản lý VQG Ba Bể, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê, Phòng lao động thương binh xã hội, Phòng tài nguyên và môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Cao Trĩ, Khang Ninh và Quảng Khê đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng 05 năm 2012

Tác giả luận văn

Hà Minh Quang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 3

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Cơ sở khoa học 5

1.1.1 Cơ sở lý luận 5

1.1.1.1 Phương thức sản xuất nông lâm kết hợp và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội 5

1.1.1.2 Vùng đệm và lợi ích trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên 11

1.1.1.3 Hiệu quả kinh tế và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế ……… 14

1.1.2 Cơ sở thực tiễn 16

1.1.2.1 Thực trạng phát triển NLKH và kinh nghiệm áp dụng NLKH tại vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới 16

1.1.2.2 Tình hình phát triển Nông lâm kết hợp và quản lý vùng đệm các VQG ở Việt Nam 21

1.1.2.3 Tình hình phát triển sản xuất nông lâm kết hợp trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 28

1.2 Phương pháp nghiên cứu 30

1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 30

1.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 33

1.2.3 Phương pháp phân tích đánh giá 33

Trang 5

1.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu phân tích đánh giá 35

CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SẢN XUẤT NÔNG LÂM KẾT HỢP TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ 37

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên của huyện Ba Bể 37

2.1.1.1 Vị trí địa lý 37

2.1.1.2 Địa hình, địa mạo 38

2.1.1.3 Khí hậu, thuỷ văn 38

2.1.1.4 Tài nguyên thiên nhiên 40

2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Ba Bể 45

2.1.2.1 Dân số và lao động huyện Ba Bể 45

2.1.2.2 Kết cấu cơ sở hạng tầng của huyện 47

2.1.2.3 Tình hình phát triển kinh tế của huyện Ba Bể 50

2.1.2.4 Đánh giá thuận lợi, khó khăn của huyện Ba Bể 52

2.2 Thực trạng phát triển NLKH tại vùng đệm VQG Ba Bể 53

2.2.1 Chọn điểm nghiên cứu, số lượng và phân loại mẫu 53

2.2.2 Thông tin chung các hộ điều tra 55

2.2.2.1 Thông tin về chủ hộ 55

2.2.2.2 Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ 56

2.2.2.3 Tình hình sử dụng đất đai của hộ 57

2.2.2.4 Tài sản của hộ 59

2.2.3 Thực trạng sản xuất nông lâm kết hợp tại vùng đệm VQG Ba Bể 60

2.2.3.1 Kết quả thống kê phân loại các mô hình sản xuất NLKH ở vùng đệm 60

2.2.3.2 Thành phần cây trồng vật nuôi và sự kết hợp trong các mô hình NLKH 62

2.2.4 Hiệu quả kinh tế của các mô hình NLKH ở vùng đệm VQG Ba Bể 65

Trang 6

2.2.4.1 So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 1 65

2.2.4.2 So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 2 67

2.2.4.3 So sánh hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 3 68

2.2.5 Phân tích các yếu tố tác động đến thu nhập của các nhóm hộ 70

CHƯƠNG III GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT NÔNG LÂM KẾT HỢP Ở VÙNG ĐỆM VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ 77

3.1 Quan điểm phát triển nông lâm nghiệp của địa phương 77

3.2 Những thách thức trong việc phát triển kinh tế vùng đệm 78

3.3 Các giải pháp nhằm phát triển sản xuất NLKH ở vùng đệm VQG Ba Bể 79

3.3.1 Nhóm giải pháp đề xuất đối với các cấp, các ngành của địa phương và ban quản lý VQG 80

3.3.2 Nhóm giải pháp đề xuất đối với các hộ nông dân 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 87

1 Kết luận 87

2 Kiến nghị 89

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… … 88

PHỤ LỤC………91

Trang 7

IFAD International Fund for Agricultural Development

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Ba Bể năm 2010 …… 41

Bảng 2.2 Tài nguyên rừng của huyện Ba Bể năm 2010 ……… 43

Bảng 2.3 Dân số của huyện Ba Bể năm 2010 ……… 45

Bảng 2.4 Tình hình lao động của huyện Ba Bể năm 2010 ………… 46

Bảng 2.5 Số trường học, phòng học và giáo viên của huyện Ba Bể năm 2010……… 49

Bảng 2.6 Cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế qua 3 năm (2008-2010, theo giá hiện hành)……… 50

Bảng 2.7 Kết quả phân loại nhóm hộ điều tra ……… 55

Bảng 2.8.Thông tin của chủ hộ……… 56

Bảng 2.9 Tình hình nhân khẩu và lao động của hộ ……… 57

Bảng 2.10 Diện tích đất bình quân của hộ ……… 58

Bảng 2.11 Tài sản của hộ ……… 59

Bảng 2.12 Hiện trạng các mô hình NLKH ở các nhóm hộ………… 61

Bảng 2.13 Cơ cấu cây trồng vật nuôi trong các mô hình NLKH…… 62

Bảng 2.14 Hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 1…… 65

Bảng 2.15 Hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 2 …… 67

Bảng 2.16 Hiệu quả kinh tế của các mô hình trong nhóm hộ 3…… 69

Bảng 2.17 Kết quả phân tích hàm CD của các hộ áp dụng mô hình RVACRg trong nhóm hộ 1 ……… 71

Bảng 2.18 Kết quả phân tích hàm CD của các hộ áp dụng mô hình RVCRg trong nhóm hộ 2……… 73

Bảng 2.19 Kết quả phân tích hàm CD của các hộ áp dụng mô hình RVAC trong nhóm hộ 3……… 75

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1 Cơ cấu sử dụng đất của huyện Ba Bể năm 2010 ……… 42 Hình 2.2 Cơ cấu lao động của huyện Ba Bể năm 2010……… 47 Hình 2.3 Cơ cấu diện tích đất bình quân của 3 nhóm hộ ……… 58

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên là một vấn đề chung trên toàn thế giới Cái giá phải trả cho sự phát triển, tăng trưởng nhanh chóng của các quốc gia là sự gia tăng của

ô nhiễm môi trường và sự suy giảm nghiêm trọng của của nguồn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là suy giảm tài nguyên rừng

Ở nước ta, nhiều Vườn Quốc gia (VQG) và các khu bảo tồn đã và đang được xây dựng nhằm bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên cho phát triển kinh

tế bền vững Tuy nhiên phần lớn các khu vực này lại thường nằm xen với khu dân cư và chịu sức ép hết sức nặng nề từ phía ngoài Vùng đệm được xây dựng chính là để giải quyết các khó khăn đó, nhằm nâng cao đời sống cho các cộng đồng dân cư địa phương, tạo thêm công ăn việc làm cho họ để họ giảm bớt sức ép lên các khu bảo tồn và đồng thời giáo dục, động viên họ tích cực tham gia vào công tác bảo tồn [13] Vùng đệm có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Tuy nhiên, việc quản lý và phát triển các vùng đệm ở nước ta hiện nay còn nhiều vấn đề bất cập đặc biệt việc phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm

Vùng đệm VQG Ba Bể có diện tích hơn 34 nghìn héc ta chủ yếu là diện tích đất lâm nghiệp với trên 2.000 hộ dân, khoảng 15.000 nhân khẩu, trong đó 50% là người H'Mông và Dao [1] Đời sống kinh tế của người dân trong vùng còn rất nhiều khó khăn, chủ yếu là sản xuất nông lâm nghiệp Tuy nhiên việc sử dụng đất lâm nghiệp của người dân còn nhiều bất cập dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp Đất lâm nghiệp ở trong vùng vẫn thuộc sở hữu của VQG và người dân chỉ nhận khoán khoanh nuôi và bảo vệ rừng Thực tế này dẫn đến

sự tranh chấp về lợi ích giữa người sản xuất (người nông dân) và chủ sở hữu

Trang 11

đất (nhà nước) Bên cạnh đó việc đảm bảo hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế nâng cao đời sống người dân và bảo tồn những giá trị vốn có của VQG cũng là một thách thức lớn trong việc quản lý và phát triển kinh tế cho người dân vùng đệm

Câu hỏi đặt ra là phương thức sản xuất nào sẽ mang lại sự hài hoà về lợi ích giữa người dân và nhà nước cả về kinh tế và bảo vệ môi trường tại các xã vùng đệm? Một trong những câu trả lời cho câu hỏi này chính là phương thức sản xuất nông lâm kết hợp

Theo Tiến sỹ Trần Mai Sen, Khoa sau đại học Trường Đại học Lâm nghiệp, nông lâm kết hợp là sự kết hợp một cách hài hoà giữa cây nông nghiệp và cây lâm nghiệp, giữa trồng trọt và chăn nuôi nhằm sử dụng một cách đầy đủ nhất, hợp lý nhất các nguồn lực như đất đai, lao động, vốn để sản xuất ra nhiều sản phẩm mang lại hiệu quả kinh tế cao, mặt khác lại góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững

Hiện nay, phương thức canh tác nông lâm kết hợp đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều địa phương vùng núi của nước ta Tuy nhiên, do trình độ dân trí chưa cao cộng với sản xuất còn mang nặng tính tự cung tự cấp nên việc lựa chọn và áp dụng những mô hình sản xuất nông lâm kết hợp của người dân chưa được phù hợp dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp

Từ những thực tế trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “So sánh hiệu quả kinh tế một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp ở vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn”

2 Mục tiêu của đề tài

* Mục tiêu chung

Phân tích, đánh giá, so sánh hiệu quả một số mô hình sản xuất nông lâm kết hợp ở trong vùng đệm VQG Ba Bể, từ đó đưa ra các kiến nghị để phát

Trang 12

triển các mô hình nông lâm kết hợp phù hợp đảm bảo sự hài hòa giữa lợi ích của nhà nước và người dân

* Mục tiêu cụ thể

- Đánh giá thu nhập từ các mô hình nông lâm kết hợp trong vùng đệm

- Phân tích được các yếu tố tác động đến hiệu quả mô hình

- So sánh hiệu quả kinh tế giữa các mô hình

- Đề xuất mô hình có hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với đặc điểm và nguồn lực của các hộ trong vùng nghiên cứu (trong ngắn hạn, dài hạn) và đảm bảo hài hoà giữa mục tiêu bảo tồn và phát triển kinh tế cũng như sự hài hòa về lợi ích giữa nhà nước và người dân trong khu vực

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

* Ý nghĩa khoa học

- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển mô hình sản xuất nông lâm kết hợp ở miền núi phía bắc nói chung và vùng đệm VQG Ba Bể nói riêng

- Là cơ sở khoa học cho việc định hướng khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên bền vững của VQG Ba Bể nói riêng và các VQG trong cả nước nói chung

* Ý nghĩa thực tiễn

- Từ kết quả nghiên cứu của đề tài đề xuất và hướng cho người dân sống ở vùng đệm VQG Ba Bể canh tác theo một mô hình sản xuất nông lâm kết hợp hiệu quả nhất, phù hợp với đặc điểm của địa phương, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời góp phần bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng lõi của VQG

Trang 13

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của đề tài

a, Đối tượng nghiên cứu

- Các hộ dân sống ở khu vực vùng đệm VQG Ba Bể tỉnh Bắc Kạn

- Các hoạt động sản xuất nông lâm kết hợp của các hộ

- Các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội của các hộ trong khu vực nghiên cứu của đề tài

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo luận văn được chia thành 3 chương, cụ thể như sau:

- Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Chương 2: Thực trạng sản xuất nông lâm kết hợp tại vùng đệm vườn quốc gia Ba Bể

- Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất nông lâm kết hợpvùng đệm vườn quốc gia Ba Bể

Trang 14

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1.1 Phương thức sản xuất nông lâm kết hợp và vai trò trong phát triển kinh tế xã hội

a Khái niệm về phương thức sản xuất nông lâm kết hợp

Nông lâm kết hợp (NLKH) là một lĩnh vực khoa học mới đã được đề xuất vào thập niên 1960 bởi King (1969) Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về NLKH Sau đây là một số khái niệm khác nhau được phát triển cho đến hiện nay:

NLKH là một hệ thống quản lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm) và cây rừng hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên một diện tích đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [26]

NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương [26]

Các khái niệm trên đơn giản mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn cho một sự sử dụng đất liên tục Tuy nhiên, NLKH như là một kỹ thuật và khoa học đã được phát triển vượt ra ngoài phạm vi của những hướng dẫn kỹ thuật thông thường Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững Trong nỗ lực để định nghĩa NLKH theo

Trang 15

ý nghĩa tổng thể và mang đậm tính sinh thái môi trường hơn, Leaky (1996) đã

mô tả nó như là các hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất giúp gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các nông trại nhỏ

Vào năm 1997, Trung tâm Quốc tế Nghiên cứu về NLKH (gọi tắt là ICRAF) đã xem xét lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một

hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại Ngày nay, nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt cơ sở trên đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng

cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến "kinh tế trang trại" Một cách đơn giản, NLKH là trồng cây trên nông trại ICRAF đã định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác

ở các mức độ khác nhau [26]

b Đặc điểm của phương thức sản xuất NLKH

Một hệ thống NLKH phù hợp phải hội tụ đủ 3 đặc điểm sau:

- Có sức sản xuất cao

Sản xuất các lợi ích trực tiếp như lương thực, thức ăn gia súc, chất đốt, sợi, gỗ, cừ cột và xây dựng, các sản phẩm khác như chai, mủ, nhựa, dầu thực vật, thuốc trị bệnh thực vật v.v

Sản xuất các lợi gián tiếp hay "dịch vụ" như bảo tồn đất và nước (xói mòn đất, vật liệu tủ đất, v.v ) cải tạo độ phì của đất (phân hữu cơ, phân xanh, bơm dưỡng chất từ tầng đất sâu, phân huỷ và chuyển hoá dưỡng chất), cải thiện

Trang 16

điều kiện tiểu khí hậu (băng phòng hộ, che bóng) làm hàng cây xanh, gia tăng thu nhập của nông dân [26]

- Mức độ chấp nhận của nông dân

Kỹ thuật phải phù hợp với văn hoá và chấp nhận được (tương thích với phong tục, tập quán, tín ngưỡng của nông dân)

Để đảm bảo sự chấp nhận cao, nông dân phải được tham gia trực tiếp vào lập kế hoạch, thiết kế và thực hiện các hệ thống NLKH [26]

c Lợi ích và vai trò của các hệ thống NLKH

Thực tiễn sản xuất cũng như nhiều công trình nghiên cứu trung và dài hạn ở nhiều nơi trên thế giới đã cho thấy NLKH là một phương thức sử dụng tài nguyên tổng hợp có tiềm năng thoả mãn các yếu tố của phát triển nông thôn và miền núi bền vững Các lợi ích mà NLKH có thể mang lại rất đa dạng, tuy nhiên có thể chia thành 2 nhóm, nhóm các lợi ích trực tiếp cho đời sống cộng đồng và nhóm các lợi ích gián tiếp cho cộng đồng và xã hội [26]

 Lợi ích trực tiếp

- Cung cấp lương thực và thực phẩm: Nhiều mô hình NLKH được

hình thành và phát triển nhằm vào mục đích sản xuất nhiều loại lương thực thực phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình Điển hình là hệ thống VAC được phát triển rộng rãi ở nhiều vùng nông thôn ở nước ta Ưu điểm của các hệ thống NLKH là có khả năng tạo ra sản phẩm lương thực và thực phẩm đa dạng trên một diện tích đất mà không yêu cầu đầu vào lớn

Trang 17

- Các sản phẩm từ cây thân gỗ: Việc kết hợp cây thân gỗ trên nông trại

có thể tạo ra nhiều sản phẩm như gỗ, củi, tinh dầu, … để đáp ứng nhu cầu về nguyên vật liệu cho hộ gia đình

- Tạo việc làm: NLKH gồm nhiều thành phần canh tác đa dạng có tác

dụng thu hút lao động, tạo thêm ngành nghề phụ cho nông dân

- Tăng thu nhập nông hộ: Với sự phong phú về sản phẩm đầu ra và ít

đòi hỏi về đầu vào, các hệ thống NLKH dễ có khả năng đến lại thu nhập cao cho hộ gia đình

- Giảm rủi ro trong sản xuất và tăng mức an toàn lương thực: Nhờ có

cấu trúc phức tạp, đa dạng được thiết kế nhằm làm tăng các quan hệ tương hỗ (có lợi) giữa các thành phần trong hệ thống, các hệ thống NLKH thường có tính ổn định cao trước các biến động bất lợi về điều kiện tự nhiên (như dịch sâu bệnh, hạn hán, v.v.) Sự đa dạng về loại sản phẩm đầu ra cũng góp phần giảm rủi ro về thị trường và giá cho nông hộ [26]

 Các lợi ích của NLKH trong việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường:

- NLKH trong bảo tồn tài nguyên đất và nước

Hơn 20 năm nghiên cứu NLKH phối hợp với các kết quả nghiên cứu về sinh thái học, nông nghiệp, lâm nghiệp và khoa học đất đã cho thấy các hệ thống NLKH - nếu được thiết kế và quản lý thích hợp - sẽ có khả năng giảm dòng chảy bề mặt và xói mòn đất; duy trì độ mùn và cải thiện lý tính của đất

và phát huy chu trình tuần hoàn dinh dưỡng, tăng hiệu quả sử dụng dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi Nhờ vậy làm gia tăng độ phì của đất, tăng hiệu quả sử dụng đất và giảm sức ép của dân số gia tăng lên tài nguyên đất

Ngoài ra, trong các hệ thống NLKH do hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng của cây trồng cao nên làm giảm nhu cầu bón phân hóa học, vì thế giảm

Trang 18

nguy cơ ô nhiễm các nguồn nước ngầm [26]

- NLKH trong bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học

Thông qua việc cung cấp một phần lâm sản cho nông hộ, NLKH có thể làm giảm tốc độ khai thác lâm sản từ rừng tự nhiên Mặt khác, NLKH là phương thức tận dụng đất có hiệu quả nên làm giảm nhu cầu mở rộng đất nông nghiệp bằng khai hoang rừng Chính vì vậy, canh tác NLKH sẽ làm giảm sức ép của con người vào rừng tự nhiên, giảm tốc độ phá rừng

Các hộ nông dân qua canh tác theo phương thức này sẽ dần dần nhận thức được vai trò của cây thân gỗ trong việc bảo vệ đất, nước và sẽ có đổi mới

về kiến thức, thái độ có lợi cho công tác bảo tồn tài nguyên rừng

Việc phối hợp các loài cây thân gỗ vào nông trại đã tận dụng không gian của hệ thống trong sản xuất làm tăng tính đa dạng sinh học ở phạm vi nông trại và cảnh quan

Chính vì các lợi ích này mà NLKH thường được chú trọng phát triển trong công tác quản lý vùng đệm xung quanh các khu bảo tồn thiên nhiên và bảo tồn nguồn tiền [26]

- NLKH và việc làm giảm hiệu ứng nhà kính

Nhiều nhà nghiên cứu gợi ý rằng, sự phát triển NLKH trên qui mô lớn

có thể làm giảm khí CO2 và các loại khí gây hiệu ứng nhà kính khác (Dioxon,

1995, 1996; Schroeder, 1994) Các cơ chế của tác động này có thể là: sự đồng hóa khí CO2 của cây thân gỗ trên nông trại; gia tăng lượng cacbon trong đất và giảm nạn phá rừng [26]

d Phân loại NLKH ở Việt Nam

Ở Việt Nam trên cơ sở kết quả hoạt động nghiên cứu NLKH, một số tác giả như Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình, đã phân hệ canh tác NLKH ở nước ta thành 8 hệ thống chính gọi là “hệ canh tác” là đơn

Trang 19

vị cao nhất, dưới hệ canh tác là các “phương thức” hay “kiểu” canh tác và cuối cùng là các mô hình NLKH ở các nông hộ [20] Theo nguyên tắc phân loại này hệ canh tác NLKH ở Việt Nam được phân thành 8 hệ sau: hệ canh tác nông - lâm; hệ canh tác lâm - súc; hệ canh tác nông - lâm - súc; hệ cây gỗ

đa tác dụng; hệ lâm - ngư; hệ nông - lâm - ngư; hệ ong - cây lấy gỗ; hệ nông - lâm - ngư – súc [20], [26] Các hệ này được chia thành 27 kiểu canh tác/hệ thống khác nhau theo thành phần chính trong hệ thống ở từng vùng sinh thái, các hộ gia đình sản xuất NLKH gọi là các mô hình NLKH

Các tác giả trên đã tập hợp các mô hình NLKH điển hình và phân chia các vùng sản xuất NLKH chính, trên cơ sở phân vùng địa lý tự nhiên để xác định khả năng thực hiện ở mỗi vùng

- Vùng ven biển: với các loài cây ngập mặn, chịu phèn, chống cát di động

- Vùng đồng bằng: các hệ thống như VAC (vườn - ao - chuồng), trồng cây phân tán, đai xanh phòng hộ

- Vùng đồi núi và trung du: Các hệ thống VR (vườn - rừng), VAC (vườn - ao -chuồng), RVC (rừng - vườn - chuồng), trồng rừng kết hợp nuôi ong lấy mật (R- O), RVCRg (rừng - vườn - chuồng - ruộng),

- Vùng đồi núi cao chăn thả dưới tán rừng, làm ruộng bậc thang với rừng phòng hộ đầu nguồn [20]

Nhìn chung, cách phân loại về hệ thống NLKH ở nước ta và trên thế giới về bản chất cấu thành hệ thống là hoàn toàn giống nhau, cũng có thể trước khi phân loại NLKH ở Việt Nam các nhà khoa học đã vận dụng phương pháp phân loại của thế giới nhưng rất cụ thể Điều đó cho phép chúng ta vận dụng một cách linh hoạt hơn những kết quả nghiên cứu về các hệ thống NLKH trên thế giới ứng dụng vào điều kiện từng vùng sinh thái ở Việt Nam

Trang 20

1.1.1.2 Vùng đệm và lợi ích trong vấn đề phát triển kinh tế xã hội và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

a Một số khái niệm về vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên

Khái niệm vùng đệm các khu bảo tồn nói chung và vùng đệm VQG nói riêng đã được đề cập đến trong khoảng hơn một thập niên trở lại đây Nhiều khái niệm khác nhau về vùng đệm đã được đưa ra tại các văn bản hay những cuộc hội thảo về vấn đề này, mặc dù chưa có sự thống nhất tuy nhiên những khái niệm đó là căn cứ rất quan trọng trong việc xác định ranh giới cũng như vai trò của vùng đệm đối với các khu bảo tồn thiên nhiên

Theo tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) “Vùng đệm là vùng được xác định ranh giới rõ ràng, có hoặc không có rừng, nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn thiên nhiên và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên và chính vùng đệm, đồng thời mang lại lợi ích cho dân cư sống quanh khu bảo tồn” [5]

Đối với nước ta, khái niệm về vùng đệm của các khu bảo tồn cũng được nhắc đến với nhiều quan điểm, nội dung khác nhau Trước những năm

1990 vùng đệm được hiểu là khu vực nằm bên trong khu bảo tồn và bao quanh khu bảo vệ nghiêm ngặt của khu bảo tồn Khái niệm này được đề cập đến trong Quyết định số 194/CT ngày 8 tháng 9 năm 1986 của chủ tịch Hội đồng bộ trưởng nay là Thủ tướng chính phủ về việc thành lập 73 khu dự trữ thiên nhiên Tuy nhiên, theo công văn số 1568/LN-KL của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) ngày 13 tháng 9 năm 1993 vùng đệm là một vùng nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ các phần của khu bảo tồn Vùng đệm không thuộc khu bảo tồn và không chịu sự quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn [dt 13]

Trong Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/08/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Quy chế quản lý rừng có đề cập đến vùng đệm

Trang 21

với nội dung như sau: “Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất hoặc vùng đất có mặt nước nằm liền kề với VQG và khu bảo tồn thiên nhiên; bao gồm toàn bộ hoặc một phần các xã, phường, thị trấn nằm sát ranh giới với VQG và khu bảo tồn thiên nhiên Vùng đệm được xác lập nhằm ngăn chặn, giảm nhẹ sự xâm hại của con người tới VQG và khu bảo tồn thiên nhiên Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức cho cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia các hoạt động bảo vệ, bảo tồn, sử dụng hợp lý lâm sản và các tài nguyên tự nhiên, các dịch vụ du lịch sinh thái để góp phần nâng cao thu nhập và gắn sinh kế của người dân với các hoạt động của khu rừng đặc dụng Cơ quan chính quyền nhà nước trên địa bàn vùng đệm lập dự án đầu tư phát triển sản xuất và cơ sở

hạ tầng nông thôn để ổn định cuộc sống cho cộng đồng dân cư, đồng thời thiết lập quy chế trách nhiệm của cộng đồng dân cư và từng hộ gia đình trong việc bảo vệ và bảo tồn khu rừng đặc dụng Diện tích của vùng đệm không tính vào diện tích của khu rừng đặc dụng [19]

So với những khái niệm về vùng đệm trước đó thì khái niệm trong quyết định 186/2006/QĐ-TTg đã thể hiện rõ ràng hơn về cách xác định cũng như vai trò và cơ chế quản lý đối với vùng đệm của các khu bảo tồn thiên nhiên

Khái quát lại, vùng đệm có thể hiểu là vùng đất (hoặc mặt nước) bao xung quanh các khu bảo tồn và có chức năng chính là giảm nhẹ những tác động từ bên ngoài đến khu bảo tồn

b Lợi ích của vùng đệm trong vấn đề phát triển kinh tế và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên

Vùng đệm có rất nhiều ích lợi đối với công tác bảo tồn và phát triển của các khu bảo tồn thiên nhiên nói chung và vườn quốc gia nói riêng, tùy thuộc vào loại của vùng đệm, điều kiện tự nhiên, sự đầu tư và các yếu tố khác Lợi

Trang 22

ích của vùng đệm có thể được phân loại theo các lĩnh vực như: lợi ích sinh học, lợi ích xã hội, kinh tế, lợi ích liên quan đến thể chế, chính sách

 Lợi ích sinh học

- Vùng đệm có tác dụng như một bộ lọc hay rào cản chống lại sự xâm phạm và khai thác quá mức của con người ở vùng lõi của khu bảo tồn

- Vùng đệm góp phần ngăn cản các loài động, thực vật ngoại lai xâm nhập vào khu vực được bảo tồn

- Hạn chế thiệt hại do bão, hạn hán, xói mòn và các tác nhân phá hủy khác

- Mở rộng môi trường sống cho các loài sinh vật do đó làm tăng số lượng của loài, mở rộng phạm vi của các loài trong khu vưc bảo tồn

- Tăng cường dịch vụ môi trường từ việc bảo tồn ví dụ như bảo vệ đầu nguồn

- Xây dựng những chương trình bảo tồn hỗ trợ địa phương và khu vực

- Bảo vệ quyền sử dụng đất và các nền văn hóa truyền thống của người dân địa phương

- Cung cấp một khu bảo tồn của các loài động vật và thực vật cho các nhu cầu sử dụng của con người và cho việc khôi phục các loài, quần thể và quá trình sinh thái ở những vùng bị suy giảm

 Lợi ích kinh tế

- Các khoản đền bù của nhà nước cho những khoản thu nhập bị mất đi của người dân từ việc xây dựng khu bảo tồn

Trang 23

- Tăng thêm nguồn thu nhập cho người dân từ các hoạt động du lịch như cung cấp dịch vụ mua bán hàng hóa, nhà nghỉ, khách sạn, nhà hàng …

- Năng suất, chất lượng các sản phẩm được nâng cao từ việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, giống cây trồng vật nuôi cho năng suất cao

- Xây mới và cải thiện cơ sở hạ tầng từ sự đầu tư vào khu vực bảo tồn;

- Cải thiện và gia tăng cơ hội tiếp cận với những thị trường mới

- Tăng cường việc tiếp cận với các dịch vụ công cộng của người dân

 Lợi ích liên quan đến thể chế chính sách

- Phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia giúp tăng cường sự tham gia của người dân trong việc bảo tồn và phát triển vùng đệm

- Nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc lồng ghép các yếu tố bảo tồn thiên nhiên vào việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương [27]

1.1.1.3 Hiệu quả kinh tế và chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một tiêu chí quan trọng đánh giá tính bền vững của

mô hình NLKH Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh về mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khi các nguồn lực sản xuất có hạn, nhu cầu về hàng hóa và dịch vụ của xã hội ngày càng gia tăng và đa dạng thì nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách quan và bức xúc của sản xuất xã hội

Bản chất của hiệu quả xuất phát từ mục đích của sản xuất và sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia, đó là thỏa mãn ngày càng cao (tăng số lượng và chất lượng) về nhu cầu vật chất xã hội Đánh giá kết quả sản xuất là đánh giá về mặt số lượng còn đánh giá hiệu quả của sản xuất là xem xét tới mặt chất lượng của quá trình sản xuất đó

Trang 24

Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh mặt chất lượng của hoạt động kinh tế và là đặc trưng của mọi hình thái kinh tế xã hội Bởi thế, để có một quan điểm hoàn chỉnh về hiệu quả kinh tế, chúng tôi xuất phát từ luận điểm kinh tế học của Các Mác “Quy luật tiết kiệm thời gian trong khi sử dụng các nguồn lực xã hội” [28] và những luận điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con người và con người trong quá trình sản xuất

- Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế

Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế- xã hội phản ánh mặt chất của các hoạt động sản xuất kinh doanh và là đặc trưng cho mọi hình thái xã hội Bản chất của hiệu quả kinh tế có thể được hiểu như sau:

+ Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế khách quan nhưng nó không phải là mục đích cuối cùng của sản xuất Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã chỉ rõ “Nền kinh tế đa thành phần nước ta (gồm thành phần kinh tế Nhà nước, thành phần kinh tế hợp tác, thành phần kinh tế cá thể, dân chủ) hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

+ Hiệu quả kinh tế là quan hệ so sánh, đo lường cụ thể quá trình sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đai, vốn, lao động, khoa học kỹ thuật, tiến bộ quản lý…) để tạo ra khối lượng sản phẩm lớn hơn với chất lượng cao hơn [29]

+ Hiệu quả kinh tế phải được gắn liền với kết quả của những hoạt động sản xuất cụ thể trong các doanh nghiệp, nông hộ và nền sản xuất xã hội ở những điều kiện xác định về thời gian và hoàn cảnh kinh tế xã hội [29]

+ Hiệu quả kinh tế phải lượng hóa được cụ thể việc sử dụng các yếu tố đầu vào (chi phí) và các yếu tố đầu ra (kết quả) trong quá trình sản xuất ở

Trang 25

từng đơn vị, ngành, nền sản xuất xã hội trong từng thời kỳ nhất đị nh các doanh nghiệp với mục đích là tiết kiệm lợi nhuận tối đa trên cơ sở khối lượng sản phẩm hàng hóa nhiều nhất với các chi phí tài nguyên và lao động thấp nhất Do đó hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình sản xuất

Như vậy việc đánh giá hiệu quả kinh tế phải được xem xét một cách toàn diện, cả về mặt thời gian và không gian trong mối liên hệ giữa hiệu quả chung của nền kinh tế quốc dân với hiệu quả của từng bộ phận của các đơn vị,

xí nghiệp; hiệu quả đó bao gồm cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và có quan hệ mật thiết với nhau như một thể thống nhất không tách rời nhau Gắn chặt hiệu quả của các đơn vị kinh tế với hiệu quả toàn xã hội là đặc trưng riêng thể hiện tính ưu việt của nền kinh tế thị trường dưới CNXH [12]

* Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả

- Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

+ Giá trị gia tăng = Giá trị sản xuất - Chi phí trung gian

VA = GO - IC

+ Giá trị sản xuất/ ha canh tác (gieo trồng) (GO/ha)

+ Giá trị sản xuất/ 1 đơn vị chi phí trung gian (GO/IC)

+ Giá trị sản xuất/ 1 ngày lao động

1.1.2.Cơ sở thực tiễn

1.1.2.1 Thực trạng phát triển NLKH và kinh nghiệm áp dụng NLKH tại vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới

a Tình hình phát triển NLKH trên thế giới

NLKH đã được áp dụng và phát triển rất lâu đời ở nhiều nước trên thế giới Nhiều phương thức canh tác truyền thống ở Châu Á, châu Phi và khu vực nhiệt đới châu Mỹ đã có sự phối hợp giữa cây thân gỗ với cây nông

Trang 26

nghiệp nhằm mục đích chủ yếu là hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp và tạo ra một số sản phẩm khác như: gỗ, củi, đồ gia dụng …

Vào cuối thế kỷ 19 hệ thống Taungya, bắt đầu phát triển rộng rãi ở Myanmar dưới sự bảo hộ của Anh Theo Blanford (1858) nguồn gốc của thuật ngữ này là từ ngôn ngữ địa phương: taung là canh tác, ya là đồi núi Như vậy,

Taungya là hệ thống canh tác trên đất đồi núi Hệ thống này sau đó đã được

áp dụng rộng rãi ở Ấn Độ và Nam Phi [26]

+ NLKH ở Ấn Độ

Ấn Độ nổi tiếng thế giới về cuộc "cách mạng xanh”, về canh tác NLKH trong đó hệ canh tác các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng phổ biến Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực Trong các cây trồng của Ấn Độ, dừa là cây đáng chú ý, người ta gọi nó là quả Chúa trời (Tree of heaven) hoặc cây bách dụng (Tree of hundred uses) Ngoài dừa, hồ tiêu cũng là loài cây được chú ý, nó được trồng kết hợp trong các hộ gia đình Ca cao là cây trồng xen với dừa trong điều kiện nước tưới thuận lợi Ngoài ra cà phê và cao su được trồng kết hợp với hồ tiêu, mít và cây ăn quả khác Tếch, mít rừng và phi lao thường được trồng kết hợp với tre tạo thành các đai bảo vệ cũng là một hình thức phổ biến [30]

Các mô hình thường gặp là:

- Dừa - Sắn - Cà phê - Hồ tiêu - đai bảo vệ

- Dừa - Khoai sọ - đai bảo vệ

- Dừa - Ca cao

- Dừa - Chuối - đai bảo vệ

+ NLKH ở Inđônêxia

Từ năm 1972, hoạt động NLKH ở nước này do các công ty lâm nghiệp

tổ chức và quản lý Việc chọn đất khai hoang để trồng cây lâm nghiệp, nông

Trang 27

dân được các cán bộ kỹ thuật công ty hướng dẫn trồng cây lâm nghiệp kết hợp với cây nông nghiệp Sau khi trồng cây nông nghiệp hai năm nông dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp do họ toàn quyền sử dụng Với phương thức này, tại khu rừng trồng ở Savadan trên diện tích 300 ha người

ta đã thu được 1426 tấn lúa, 126 tấn sắn, 73 tấn ngô và 19,5 đậu đỗ Tổng giá trị thành tiền là 155.000 USD, thực lãi 116.000 USD (bình quân 385 USD/ha/vụ)

Các mô hình trồng xen chủ yếu là:

- Sầu riêng (Durio zibethinus) - cây gỗ - quế (Cinamomum sp) - cà phê (Cofea sp)

- Vườn cà phê - 2 hoặc 3 tầng cây gỗ hoặc xen cây ăn quả, cây lấy gỗ nhục đậu khấu (Myristis fragans) - quế

- Cây ăn quả - cây gỗ - cây nông nghiệp

+ NLKH ở Philippin

Philippin được nhiều người biết đến với các mô hình canh tác trên đất dốc (SALT) Đây là hệ canh tác theo hướng bảo vệ đất được phát triển từ những năm 1970 do tổ chức MBRLC (The Mindanao Baptist Rural Life Center) ở Phillipine thực hiện Kỹ thuật NLKH này dựa trên cơ sở thoả mãn nhu cầu sản xuất ngô ở vùng đồi núi phía Nam Philippine SALT đã đạt được mong muốn, ở phần lớn các nước Châu Á và được đánh giá là một khuynh hướng canh tác phù hợp về sinh thái học, hiệu quả kinh tế và là công cụ nhạy bén SALT (Sloping Agricultural Land Technology - kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc) là phương thức canh tác đồng thời các cây ngắn ngày với các cây lâu năm giữa các hàng keo đậu, các hàng này được trồng rất dày tạo ra các băng xanh có tác dụng ngăn chặn dòng chảy, hạn chế xói mòn và cải tạo đất Hiện nay SALT đã được phát triển theo nhiều mức độ và loại hình khác nhau như SALT 1, SALT 2, SALT 3, SALT 4 [26]

+ NLKH ở Brazil

Ở Brazil các mô hình NLKH phổ biến là:

Trang 28

- Doi (Syzygium romatium) kết hợp với hồ tiêu đen (pipper nirgum), doi là loài cây được trồng phổ biến trong hai năm gần đây, lúc đầu doi được trồng dưới tán hồ tiêu leo trên cột gỗ, sau 4 - 6 năm hồ tiêu chết doi bắt đầu có sản phẩm

- Ca cao thường được trồng xen với doi và quế trong các vườn rừng và vườn gia đình Ca cao kết hợp với cao su, ở Brazil có khoảng 200.000 ha trồng kết hợp giữa ca cao và cao su [20]

Tính hiệu quả về nhiều mặt cùng với sự phù hợp với đất đai đồi núi đã khiến cho phương thức sản xuất NLKH ngày càng được áp dụng phổ biến trên thế giới Hiện nay, cùng với sự phát triển khoa học kỹ thuật, các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu và áp dụng nhiều mô hình sản xuất theo hướng đa dạng hóa cây trồng, bảo vệ đất, chống sói mòn và đem lại hiệu quả kinh tế cao

b Kinh nghiệm áp dụng NLKH tại vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên trên thế giới

Với mục tiêu bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên trước những nguy cơ suy giảm nghiêm trọng do sự phát triển một cách nhanh chóng của các nền kinh tế đem lại, trong vài thập kỷ qua, các khu bảo tồn thiên nhiên (BTTN) trên thế giới đã có sự gia tăng đáng kể cả về số lượng và diện tích Hiện nay trên thế giới có hơn 100.000 khu BTTN (Tạp chí khu BTTN, tập 14,

số 3 năm 2004) chiếm 11,7% diện tích đất liền toàn thế giới VQG chiếm diện tích lớn nhất, tiếp đến là các khu bảo tồn loài và sinh cảnh [11] Tuy nhiên, để đảm bảo một hệ thống quản lý phù hợp trên thực tế nhằm hiện thực hóa các lợi ích tiềm năng mà khu BTTN có thể đem lại vẫn còn là thách thức lớn tại nhiều quốc gia trên thế giới

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, những mối đe dọa chính tới khu BTTN ở hầu hết các nước thường xuất phát từ bên ngoài ranh giới khu bảo

Trang 29

tồn Khi những mối liên kết giữa khu BTTN và các yếu tố bên ngoài chưa được xác định và giải quyết thì những vấn đề cơ bản của bảo tồn khó mà giải quyết được Do vậy, việc xây dựng các giải pháp quản lý và phát triển vùng đệm của các khu BTTN một cách hợp lý chính là yếu tố quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu bảo tồn [11] Nhận thức được vấn đề này, nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện nhiều chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng dân cư sống trong vùng đệm của các VQG Một trong những giải pháp được áp dụng phổ biến là khuyến khích người dân tăng cường xây dựng và áp dụng các mô hình sản xuất NLKH

- Kinh nghiệm áp dụng NLKH tại vùng đệm VQG Shinharaja, Sri Lanka

Shinharaja là rừng nguyên sinh nhiệt đới cuối cùng còn sót lại của Sri Lanka Do giao thông đi lại khó khăn nên người dân sống trong khu vực vùng đệm của VQG gần như bị cô lập, sống phụ thuộc chủ yếu vào các hệ thống canh tác nương rẫy, vườn nhà và thu hái các sản phẩm từ rừng Tuy nhiên, trong 15 năm trở lại đây, sự phát triển của sản xuất chè cùng với việc xây dựng hệ thống giao thông trong khu vực đã làm thay đổi hẳn bộ mặt của vùng này Đời sống kinh tế người dân được nâng lên, thu hút thêm nhiều dân từ vùng khác đến định cư Sự phát triển nhanh chóng này cũng mang lại những tác động xấu đến nguồn tài nguyên thiên nhiên của vùng này đặc biệt là sự suy giảm tài nguyên rừng do người dân mở rộng diện tích trồng chè Đất đai trong vùng cũng bị xói mòn, thoái hóa nghiêm trọng, đi kèm với đó là sự thay đổi về dòng chảy của các nguồn nước …

Nhận thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề này, năm 2003 quỹ Sewalanka, một tổ chức phi chính phủ ở Sri Lanka, đã triển khai một dự án NLKH cho những người trồng chè trong khu vực Mục tiêu của dự án là xây dựng lại vùng đệm cho khu bảo tồn thông qua việc giảm sử dụng các hóa chất nông nghiệp, giới thiệu những phương thức canh tác xen canh với cây chè

Trang 30

nhằm bảo tồn đất Dự án đã triển khai các khóa tập huấn cho hơn 500 nông dân tại 22 làng ở cả phía bắc và phía nam của khu vực Các khóa tập huấn tập trung vào các biện pháp canh tác nhằm bảo vệ đất trong đó khuyến khích việc xen canh một số giống cây bản địa của Nam Á trong canh tác Đó là những giống cây đem lại nhiều lợi ích như: làm phân xanh, cây bóng mát, gỗ nguyên liệu …

Dự án đã góp phần làm tăng tính bền vững và năng suất sản xuất chè trong khu vực, và làm giảm những tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của khu bảo tồn [32]

- Kinh nghiệm quản lý và phát triển vùng đệm các VQG tại Philippine

Ở Philippine, hệ thống canh tác NLKH và lâm nghiệp truyền thống là những mô hình nổi bật cho sự phát triển của hệ thống vùng đệm nhằm bảo vệ đất rừng Hệ thống NLKH bản địa ở vùng đệm VQG Ifugao là một minh chứng rõ ràng cho vấn đề này Hệ thống này là sự kết hợp của ba phương thức sử dụng đất truyền thống bao gồm: Rừng khộp thứ sinh kết hợp với cà phê (Muyung), canh tác nương rẫy truyền thống (Uma) và ruộng bậc thang (payoh) Ba phương thức sử dụng đất này thường được nhìn nhận là độc lập với nhau, nhưng trong thực tế chúng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Hệ

thống Muyung bảo vệ môi trường cho hệ thống Uma và Payoh Hạt giống từ Muyung được phân tán đến các nương rẫy, liền kề, do đó làm giảm diện tích

đất bị hoang hóa và phục hồi khả năng tái sinh của đất Muyung cũng điều chỉnh và tăng cường nguồn cung cấp nước cho ruộng bậc thang, tạo điều kiện cho việc canh tác 2 vụ lúa mỗi năm Diện tích đất bị mất do xói mòn cũng sẽ giảm [31]

1.1.2.2 Tình hình phát triển NLKH và quản lý vùng đệm các VQG ở Việt Nam

a Tình hình phát triển NLKH ở Việt Nam

Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, các phương thức canh tác

Trang 31

NLKH ở Việt Nam đã có từ rất lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước Xét ở khía cạnh mô hình và kỹ thuật thì NLKH ở Việt Nam đã có sự phát triển không ngừng Từ những năm 1960, hệ sinh thái Vườn-Ao-Chuồng (VAC) được nông dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể Sau đó là hệ thống rừng-vườn-ao-chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh mẽ ở các khu vực dân cư miền núi Các hệ thống rừng ngập mặn-nuôi trồng thuỷ sản cũng được phát triển mạnh mẽ ở vùng duyên hải các tỉnh miền Trung và miền Nam Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi [3]

Trong hai thập niên gần đây, phát triển nông thôn miền núi theo phương thức NLKH được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm khuyến khích Điều này được thể hiện thông qua một loạt các chính sách liên quan đến phát triển NLKH như: chính sách định canh định cư, phát triển vùng kinh tế mới, chương trình 327, chương trình 5 triệu ha rừng (661), chính sách phát triển kinh tế trang trại, chính sách xóa đói giảm nghèo, chính sách khuyến nông, khuyến lâm …

Những mô hình NLKH phổ biến ở nước ta hiện nay bao gồm:

 Các mô hình NLKH vùng đồi núi

- Trồng xen cây nông nghiệp ngắn ngày với cây rừng trong giai đoạn rừng trồng chưa khép tán

- Trồng xen cây lương thực, thực phẩm, dược liệu dưới tán rừng

- Trồng xen cây nông nghiệp ở cả 2 giai đoạn của rừng trồng: khi rừng chưa khép tán: trồng xen lúa nương, sắn, lạc… khi rừng trồng đã khép tán: trồng xen sa nhân dưới tán rừng

Trang 32

- Trồng và kinh doanh các cây công nghiệp lâu năm với cây rừng (cà phê, ca cao, caosu…)

- Trồng và kinh doanh “rừng lương thực, thực phẩm” (rừng dẻ, rừng sến mật, rừng dừa, rừng điều…)

- Vườn quả, vườn rừng và rừng vườn (táo + lạc + đậu tương; vải thiều + dong riềng; mít + chè, dứa; …)

- Chăn nuôi trâu bò, chăn thả luân phiên dưới tán rừng trồng (bạch đàn + keo lá trầm + cỏ Panggola) [3]

 Các mô hình NLKH vùng ven biển

- Trên đất cát ven biển: Các giải rừng phi lao + lúa, khoai, lạc, vừng, củ đậu, sắn…

- Trên đất ngập mặn ven biển: Lâm ngư kết hợp trên đất ngập mặn ven biển (trồng cây rừng ngập măn + nuôi tôm)

- Trên đất phèn: Lên líp để trồng cây rừng gỗ lớn + cây hoa màu trên mặt líp [3]

Hiện nay, các mô hình NLKH trên đang được áp dụng một cách rộng rãi, đem lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần đẩy nhanh công cuộc xóa đói giảm nghèo ở nhiều địa phương trong cả nước Ngoài ra, NLKH còn một giải pháp hữu hiệu nhằm phục hồi bảo vệ nguồn tài nguyên rừng và đất rừng ở các địa phương miền núi, đặc biệt là vùng đệm của các khu BTTN và VQG

Trên địa bàn tỉnh Điện Biên, mô hình trồng cây lâm nghiệp như thông, bạch đàn, keo lai xen trên nương lúa đang được triển khai khá hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường, tạo sinh kế bền vững cho người dân Từ năm 2009 đến nay, Trung tâm Khuyến nông Điện Biên đã xây dựng và triển khai dự án phát triển trồng rừng nguyên liệu, canh tác nông - lâm kết hợp tại xã Si Pa Phìn thuộc huyện Mường Chà tỉnh Điện Biên Đây là một xã biên giới đặc biệt khó khăn của tỉnh, với phần đông dân số là đồng bào dân tộc thiểu số với

Trang 33

trình độ canh tác lạc hậu, cuộc sống phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên Năm 2010, dự án đã xây dựng mô hình thâm canh cây thông ba lá quy mô 5ha với sự tham gia của 10 hộ dân theo phương thức trồng xen nương lúa; mô hình thâm canh cây bạch đàn U6 quy mô 5ha và mô hình trồng keo lai với sự tham gia của 20 hộ nông dân (5ha) Kết quả, năng suất lúa vẫn đạt so với đại trà, cây thông trồng xen sinh trưởng, phát triển tốt [35]

Tại tỉnh Quảng Nam, các mô hình NLKH đã được áp dụng như một giải pháp góp phần đạt được mục tiêu giảm nghèo và bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên Từ năm 2004, Dự án NLKH do chính phủ Italia tài trợ đã được triển khai thực hiện trên địa bàn 6 xã của tỉnh Quảng Nam, gồm: Tam Lộc (huyện Phú Ninh), Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên Hà, Tiên Phong và Tiên Thọ (huyện Tiên Phước) Hoạt động chính của dự án là xây dựng và phát triển

mô hình NLKH (NLKH) chất lượng cao và bền vững Trong đó tập trung phát triển 1.500 ha vườn nhà và vườn rừng theo định hướng thị trường; hỗ trợ xây dựng và phát triển doanh nghiệp; thực hiện thí điểm tài chính vi mô tuyến thôn; phát triển hệ thống dịch vụ khuyến nông khuyến lâm; xây dựng hệ thống thông tin thị trường để hỗ trợ 5 loại hình NLKH như kinh tế hộ gia đình vườn nhà, kinh tế hộ gia đình vườn rừng, vườn ươm hộ gia đình, quỹ tiết kiệm và tín dụng theo nhóm hộ, doanh nghiệp NLKH nhóm hộ [34]

Phú Yên cũng là một địa phương áp dụng rất thành công các mô hình sản xuất NLKH Hiện nay, toàn tỉnh có 1.788 trang trại hoạt động theo mô hình NLKH và hầu hết hình thành trên những vùng đất có độ dốc từ 15 đến 25

độ Các chủ trang trại nói trên sở hữu 12.140 ha đất và canh tác theo phương châm lấy ngắn nuôi dài đem lại thu nhập khá Mô hình phổ biến là trang trại trồng cây công nghiệp chủ yếu là mía, sắn, keo lai, trồng rừng xen canh trồng

cỏ kết hợp chăn nuôi bò đàn Đến nay, tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh đều có những mô hình kinh tế trang trại với mức thu nhập mỗi năm vài chục

Trang 34

triệu đồng trở lên Các trang trại canh tác trên vùng đất dốc hoạt động theo mô hình NLKH ở Phú Yên được xem như là một giải pháp tối ưu vì vừa tạo ra giá trị sản lượng hàng hoá, đem lại thu nhập cho người lao động, vừa tạo đà

để tích tụ ruộng đất và chống xói mòn đất [36]

Có thể nói canh tác nông lâm NLKH không chỉ nâng cao năng suất nông lâm nghiệp, nâng cao đời sống của người dân mà còn góp phần tạo ra môi trường ổn định cho mọi vùng Tuy nhiên trên thực tế, phương thức canh tác NLKH vẫn chưa phát triển rộng khắp trong cả nước, rất nhiều địa phương chỉ dừng lại ở việc xây dựng mô hình mà chưa nhân rộng ra toàn vùng Bên cạnh đó, nhà nước cũng chưa có cơ chế chính sách cụ thể nhằm đẩy mạnh phát triển NLKH, mà chủ yếu lồng ghép ở trong các chính sách, chương trình

dự án phát triển khác (dự án trồng rừng, xóa đói giảm nghèo )

b Vấn đề quản lý vùng đệm các VQG ở Việt Nam

Hiện nay, việc hình thành hệ thống quan điểm về nhiệm vụ, quy hoạch và cách quản lý vùng đệm của các khu bảo tồn thiên thiên vẫn chưa có được

sự thống nhất Nhiều khu bảo tồn, VQG, trong luận chứng kinh tế kỹ thuật đã

có đề xuất việc thành lập vùng đệm, diện tích, ranh giới vùng đệm v.v , nhưng cũng có những khu bảo tồn, VQG lớn không có vùng đệm trong luận chứng kinh tế kỹ thuật

Dù vùng đệm của khu bảo tồn được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập khu bảo tồn không nói đến vùng đệm, thì những công việc hàng ngày xẩy ra, do dân cư sinh sống xung quanh khu bảo tồn, vẫn đang tạo sức

ép nặng nề lên các khu bảo tồn Tình trạng nghèo đói và gia tăng dân số ở vùng đệm là những tác nhân chính đe dọa đến công tác bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên của ở các khu bảo tồn và VQG của nước ta hiện nay Nhiều khu bảo tồn của Việt Nam là nơi sinh sống của các dân tộc ít người Ở Việt Nam, các dân tộc ít người chiếm khoảng 14% dân số cả nước và tình

Trang 35

trạng nghèo đói của họ cũng chủ yếu do các nguyên nhân như thuộc vùng sâu, vùng xa, thiếu thị trường và diện tích canh tác Vì vậy, các cộng đồng này thường phụ thuộc nhiều vào các nguồn tài nguyên còn lại trong các khu bảo tồn Để có những sản phẩm thiết yếu phục vụ cuộc sống hàng ngày, họ phát nương làm rẫy, săn bắt động vật, chặt gỗ, lấy củi, thu lượm các sản phẩm của rừng và do đó ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ

Thực trạng này đã buộc các ban quản lý VQG và khu bảo tồn phải có những hoạt động liên quan đến việc ổn định cuộc sống của dân cư ở đây như giáo dục, khuyến khích họ bảo vệ thiên nhiên, giải quyết những mâu thuẫn xẩy ra giữa khu bảo tồn và dân, giảm sức ép của dân lên khu bảo tồn v.v Đó là những công việc quan trọng mà ban quản lý khu bảo tồn nào cũng phải thường xuyên lo lắng, và không thể bỏ qua được Các công việc đó thực chất là một trong những công việc quan trọng của việc quản lý vùng đệm [13]

Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, tuy chưa có sự hướng dẫn cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền nhưng nhiều ban quản lý khu bảo tồn và chính quyền thuộc các cấp (huyện và xã) có liên quan đến các khu bảo tồn và VQG đã có nhiều cố gắng tổ chức các hoạt động bằng những hình thức khác nhau và bước đầu đã thu được những kết quả khả quan Một số dự án quốc tế cũng đã đạt nhiều kết quả trong việc hỗ trợ các khu bảo tồn về nâng cao nhận thức cho người dân, hoặc giúp dân vùng đệm nâng cao cuộc sống để họ giảm bớt sức ép lên khu bảo tồn

- Kinh nghiệm phát triển vùng đệm VQG Bạch Mã

Một trong các giải pháp có tầm chiến lược lâu dài để bảo vệ rừng, bảo

vệ thiên nhiên và môi trường hiện nay mà VQG Bạch Mã đã và đang triển khai là lồng ghép và thực hiện song song đồng thời các hoạt động ở vùng đệm, bao gồm giáo dục bảo tồn và hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đệm nhằm tăng thu nhập phục vụ cuộc sống cộng đồng Để thực hiện được điều này ngay

Trang 36

từ những năm 1990 vườn đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền thông qua các phương tiện như: chiếu phim về bảo vệ rừng; cung cấp các khẩu hiệu, tờ bướm, ấn phẩm, lịch bảo vệ động vật hoang dã; tổ chức các hoạt động giao lưu với các đoàn thể địa phương; nói chuyện theo từng chủ đề; sáng tác nhiều tiểu phẩm, hội diễn văn nghệ; phối hợp với các hạt kiểm lâm trên địa bàn tổ chức các cuộc thi tìm hiểu và bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ thiên nhiên, phòng chống cháy rừng cho các em học sinh và thôn bản

Song song với những hoạt động tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức trên VQG Bạch Mã đã triển khai những hoạt động trợ giúp phát triển kinh tế cho cư dân vùng đệm như: trồng rừng phục hồi hệ sinh thái bằng nhiều loài cây bản địa nhiều mục đích, chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, trồng nấm, gieo ươm cây có nguồn gốc tại chổ để phục vụ công tác trồng rừng và khai thác tiềm năng sẳn có của địa phương phục vụ cuộc sống con người Vườn cũng khuyến khích người dân áp dụng một số mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tận dụng tối đa tiềm năng hạn hẹp của đất đai để sản xuất nông nghiệp, tăng thu nhập chohộ gia đình Một số mô hình vườn cây kinh tế, cải tạo vườn tạp, 327, 5 triệu ha rừng … đang được triển khai ở nhiều nơi trong vùng đệm

Bên cạnh việc phát huy nội lực, vườn cũng tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của nhiều tổ chức trong và ngoài nước tài trợ cho những hoạt động trên thông qua các chương trình dự án như: Hội Vườn thiên nhiên vùng Nord Pas

de Calais (Pháp), Chương trình bảo tồn Hổ của WWF Đông Dương, Chương trình tài trợ các dự án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu … [14]

- Vùng đệm VQG Tam Đảo

Vùng đệm VQG Tam Đảo có khoảng 200.000 dân cư sinh sống, với thu nhập chủ yếu bằng các hoạt động sản xuất nông nghiệp Đời sống của họ phụ thuộc rất lớn vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong VQG như: khai thác

Trang 37

gỗ, củi, cây thuốc, nước uống và tưới tiêu …Việc khai thác một cách tràn lan đã làm cho những nguồn tài nguyên của VQG bị suy giảm nghiêm trọng Trước tình hình này, dự án Quản lý vườn rừng quốc gia và vùng đệm Tam Đảo đã được xây dựng và triển khai dưới sự hợp tác và hỗ trợ của Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức (GTZ), Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn và các xã thuộc vùng đệm của VQG Sau 6 năm thực hiện, Dự án đã hỗ trợ cho hơn 12.000 hộ gia đình thông qua các biện pháp nâng cao sinh kế, ví dụ trồng cỏ làm thức ăn cho gia súc, trồng cây phân tán lấy củi và trồng cây thuốc nam

Dự án cũng giới thiệu một cơ chế tín dụng quy mô nhỏ cho các câu lạc bộ phụ

nữ [37]

1.1.2.3 Tình hình phát triển sản xuất NLKH trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn

Bắc Kạn là một tỉnh miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Việt Nam Giống như nhiều địa phương khác trong vùng, Bắc Kạn có diện tích đất lâm nghiệp lớn, chiếm tới 90% tổng diện tích đất tự nhiên Theo số liệu thống kê năm 2009, Bắc Kạn có tổng diện tích rừng lâm nghiệp là 420.990,5 ha Trong

đó, đất có rừng là 263.503,9 ha, rừng tự nhiên 224.151,4 ha, rừng trồng 39.352,5 ha, đất chưa có rừng là 157.484,6 ha Với diện tích rừng và đất rừng lớn như vậy, có thể nói tỉnh Bắc Kạn có một lợi thế rất lớn để phát triển nông lâm nghiệp, đặc biệt là phương thức canh tác NLKH

Ngay từ rất lâu đời đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh đã biết vận dụng những lợi thế này để sản xuất ra lương thực, thực phẩm và những sản phẩm khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt của gia đình, đó chính là phương thức canh tác nương rẫy Đối với đồng bào dân tộc ở các xã vùng núi cao, thì canh tác nương rẫy chính là nguồn cung cấp lương thực duy nhất Trong hệ thống canh tác này, cây ngô có vai trò rất quan trọng, nó được xem như lúa gạo đối với người dân Để bổ sung vào bữa ăn hàng ngày người dân đã trồng xen vào nương ngô các loại đậu và bí đỏ Trồng trọt quảng canh trên các nương rẫy có

Trang 38

chu kỳ bỏ hoá ngắn đã làm cho năng suất cây trồng thấp và giảm nhanh sau năm đầu tiên trồng trọt Năng suất ngô rất biến động từ chỉ đạt 8,5 tạ/ha đến

30 tạ/ha Hiện nay có một số công thức luân canh chính trên đất dốc là:

- Bỏ hoá vụ xuân, trồng ngô hoặc đỗ tương vào vụ hè thu

- Trồng ngô vụ xuân và đỗ tương vào vụ hè thu

- Trồng ngô vào vụ hè thu và đỗ nho nhe

Một số năm gần đây, với sự tiến bộ của KHKT, một số mô hình canh tác trên đất dốc đem lại hiệu quả kinh tế cao cũng đã được người dân đưa vào sản xuất như:

- Trồng cỏ voi để chăn nuôi trâu bò

- Trồng các loại cây ăn quả: dứa, cam, quýt, mận tam hoa

- Trồng một số cây hoa màu: khoai môn, dong riềng, gừng, vừng Trong những năm qua, bằng nguồn kinh phí của nhà nước và kinh phí tài trợ từ các cơ quan tổ chức trong và ngoài nước, các cơ quan chuyên môn của tỉnh đã triển khai nhiều chương trình dự án liên quan đến việc xây dựng các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp bền vững, mang lại hiệu quả kinh tế cao, như chương trình quản lý rừng cộng đồng, nghị quyết 30a, dự án 3PAD

Dự án “Quan hệ đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm

nghiệp tỉnh Bắc Kạn” (Dự án 3PAD) do Quỹ Quốc tế về phát triển nông

nghiệp (IFAD) tài trợ chính là một điển hình trong việc đưa các mô hình sinh

kế bền vững vào áp dụng trong cộng đồng Từ năm 2009-2011, dự án đã phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người nghèo thông qua các mô hình nông - lâm nghiệp thành công tại các huyện vùng Dự án như: mô hình trồng khoai môn tại Na Rì, mô hình trồng lúa cạn

và mô hình chăn nuôi lợn địa phương tại Pác Nặm, mô hình nông - lâm kết

Trang 39

hợp tại Ba Bể; phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện 05 mô hình canh tác lúa cải tiến, canh tác trên đất dốc… với sự tham gia của 122 hộ gia đình

Những năm gần đây, với sự nỗ lực của người dân trong tỉnh cùng sự lãnh đạo của các ban ngành chuyên môn, sản xuất nông lâm nghiệp của Bắc Kạn đã đạt được những thành tựu rất đáng kể Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2011, đạt 162.515 tấn, đạt 106% kế hoạch, đảm bảo an ninh lương thực trên địa bàn tỉnh, so với cùng kỳ năm 2010 tăng 8%, lương thực bình quân đầu người khoảng 548 kg/người/năm Về chăn nuôi – thủy sản, mặc dù chịu ảnh hưởng từ những biến động của dịch bệnh, tuy nhiên số lượng và chất lượng vẫn gia tăng hàng năm, tồng đàn lợn năm 2011 là 230.857 con tăng 21% so với năm 2010, năng suất, sản lượng nuôi trồng thủy sản cũng tăng 1%

so với năm 2010 đạt 872 tấn Tuy nhiên, ngành chăn nuôi của tỉnh vẫn chưa mang tính chất sản xuất hàng hóa, chăn nuôi đại gia súc chủ yếu vẫn là chăn thả tự do Về lâm nghiệp, tỷ lệ che phủ rừng từ 53,8 % năm 2005 lên 57,5% năm 2010, diện tích trồng rừng giai đoạn 2006-2010 thông qua các chương trình, dự án và người dân tự đầu tư là 25.212 ha, bình quân mỗi năm toàn tỉnh trồng 5.000 ha (mục tiêu 4.000ha/năm) Khai thác lâm sản nhất là khai thác rừng trồng tăng mạnh, thu nhập về rừng của người dân được tăng lên qua các năm, đây là nguồn thu đáng kể cho sinh hoạt gia đình [15]

Những thành tựu trên đã cho thấy hiệu quả của các giải pháp chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, và việc áp dụng các mô hình sản xuất NLKH của người dân trong tỉnh

1.2 Phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Phương pháp thu thập số liệu

 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp

Trang 40

Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa và tóm tắt về cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn có liên quan đến đề tài Nguồn số liệu thứ cấp được tổng hợp từ các thông tin công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn, kinh tế hộ nông dân và tổ chức kinh tế - xã hội trong và ngoài nước, các chính sách nông nghiệp, các phương thức canh tác,… Những thông tin về tình hình cơ bản của huyện, các mô hình phát triển kinh tế hiện tại trong vùng được thu thập tại các cơ quan trên địa bàn huyện Ba Bể (Chi cục thống

kê, phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ban quản lý VQG Ba Bể, UBND các xã trong vùng đệm…)

 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp

Những tài liệu này được thu thập dựa trên phương pháp đánh giá nhanh nông thôn RRA và phương pháp điều tra trực tiếp hộ gia đình trong các mô hình quản lý rừng và NLKH

* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn

Phương pháp này được sử dụng để quan sát thực tế, thảo luận nhóm và phỏng vấn cán bộ, nhân dân địa phương về những tác động của các phương thức sản xuất NLKH mang lại, do họ là những người trực tiếp hoặc gián tiếp

có liên quan

* Phương pháp điều tra hộ

- Điều tra chọn mẫu: Các mẫu điều tra được chọn ngẫu nhiên dựa theo

danh sách các hộ có mô hình phát triển kinh tế đặc trưng trên địa bàn Sau khi chọn được mẫu điều tra sẽ tiến hành phỏng vấn hộ theo mẫu phiếu điều tra đã xây dựng sẵn

Số mẫu thu thập: Để đảm bảo tính đại diện tôi chọn 150 hộ để điều tra, thu thập số liệu

Ngày đăng: 28/03/2021, 20:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w