Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở lý luận và thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, luận văn hướng tới đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ / ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM TIẾN DŨNG
BỒI DƢỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ / ./
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM TIẾN DŨNG
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH SẢN
HÀ NỘI - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Minh Sản - Học viện Hành chính Quốc gia Các thông tin, số liệu và kết quả trong đề tài này hoàn toàn trung thực, nguồn gốc rõ ràng và xuất phát từ thực tế nghiên cứu về công tác bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bản huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Tên luận văn không trùng lặp với bất cứ công trình nghiên cứu nào đã được công bố
Phạm Tiến Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tôi
đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè,
gia đình và người thân
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành
chính Quốc gia, các thầy, cô giáo giảng viên thuộc các ban, khoa, các tổ bộ
môn của Học viện đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về mọi mặt trong suốt
thời gian học tập và nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất đến thầy TS
Nguyễn Minh Sản - Học viện Hành chính Quốc gia đã dành nhiều thời gian,
công sức và sự tâm huyết hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận
văn này
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện
Sa Pa, Ban Tổ chức, Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Trung tâm
Bồi dưỡng chính trị, Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường
xuyên huyện Sa Pa đã cung cấp các số liệu, tài liệu cần thiết cũng như những
kiến thức thực tế liên quan đến đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi cảm ơn gia đình, bạn bè những người đã luôn bên cạnh,
tạo mọi điều kiện tốt nhất về tinh thần, vật chất, thời gian để tôi hoàn thành
khóa học này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nỗ lực để hoàn thiện luận văn, tuy nhiên
vẫn không thể tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận
được những đóng góp quý báu của các thầy, cô giáo và các bạn
Tác giả
Phạm Tiến Dũng
Trang 5ĐC-NN-XD&MT : Địa chính - Xây dựng - Đô thị và môi trường (đối với
thị trấn) hoặc Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường (đối với xã)
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 10
1.1 Cấp xã và công chức cấp xã 10
1.1.1 Cấp xã 10
1.1.2 Công chức cấp xã 14
1.2 Bồi dưỡng công chức cấp xã 20
1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng và bồi dưỡng công chức cấp xã 20
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức cấp xã 25
1.2.3 Mục đích và yêu cầu bồi dưỡng công chức cấp xã 27
1.2.4 Quy trình thực hiện bồi dưỡng công chức cấp xã 29
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức cấp xã 32
1.3.1 Các quy định của Đảng, Nhà nước về bồi dưỡng công chức cấp xã 32
1.3.2 Nội dung chương trình bồi dưỡng công chức cấp xã 38
1.3.3 Các yếu tố thuộc về cơ sở bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên 40
1.3.4 Các yếu tố thuộc về người học 42
1.4 Kinh nghiệm bồi dưỡng công chức cấp xã của một số địa phương và bài học rút ra 42
1.4.1 Kinh nghiệm của một số địa phương 42
1.4.2 Một vài bài học rút ra 45
Tiểu kết Chương 1 48
Chương 2 THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI 49
2.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 49
2.1.1 Khái quát về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 49
Trang 72.1.2 Thực trạng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 51
2.2 Phân tích thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai 64
2.2.1 Hệ thống các quy định về bồi dưỡng công chức cấp xã 64
2.2.2 Về hệ thống cơ sở vật chất và đội ngũ giảng viên tham gia bồi dưỡng công chức cấp xã 66
2.2.3 Về hệ thống chương trình, hình thức, phương pháp bồi dưỡng công chức cấp xã 71
2.2.4 Về kinh phí bồi dưỡng công chức cấp xã 72
2.2.5 Về kết quả thực hiện bồi dưỡng công chức cấp xã 74
2.3 Đánh giá chung thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 79
2.3.1 Những kết quả đạt được 79
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 84
Tiểu kết Chương 2 88
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN SA PA, TỈNH LÀO CAI 89
3.1 Phương hướng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 89
3.1.1 Bồi dưỡng công chức cấp xã trên cơ sở quán triệt đầy đủ nội dung các nguyên tắc của chế độ công chức, công vụ trong điều kiện mới 92
3.1.2 Bồi dưỡng công chức cấp xã trên cơ sở phù hợp với thực tiễn huyện Sa Pa nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ngày một chính quy, hiện đại 96 3.1.3 Bồi dưỡng công chức cấp xã cần được tiến hành đồng bộ 97
3.1.4 Bồi dưỡng công chức cấp xã phải là công việc thường xuyên và liên tục 98
3.1.5 Bồi dưỡng công chức cấp xã cần phải được kiểm soát về hiệu quả 99
Trang 83.2 Giải pháp bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào
Cai 99
3.2.1 Nhóm giải pháp đối với các chủ thể quản lý bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 100
3.2.2 Nhóm giải pháp đối với các cơ sở tham gia bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai 105
3.2.3 Nhóm giải pháp đối với công chức cấp xã tham gia các khóa bồi dưỡng 112
Tiểu kết Chương 3 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Các chức danh công chức cấp xã huyện Sa Pa 52
Bảng 2.2: Cơ cấu giới tính công chức cấp xã huyện Sa Pa 52
Bảng 2.3: Cơ cấu về độ tuổi công chức cấp xã huyện Sa Pa 53
Về dân tộc, tôn giáo: 54
Bảng 2.4 Cơ cấu về dân tộc, tôn giáo công chức cấp xã huyện Sa Pa 54
Bảng 2.5: Cơ cấu ngạch công chức cấp xã huyện Sa Pa 56
Bảng 2.6 Trình độ chuyên môn nghiệp vụ công chức cấp xã huyện Sa Pa 57
Bảng 2.7: Trình độ lý luận chính trị công chức cấp xã huyện Sa Pa 58
Bảng 2.8: Trình độ quản lý Nhà nước công chức cấp xã huyện Sa Pa 60
Bảng 2.9 Trình độ ngoại ngữ, tiếng dân tộc, tin học công chức cấp xã huyện Sa Pa 62
Bảng 2.10: Cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ công tác bồi dưỡng công chức cấp xã ở hai Trung tâm 67
Bảng 2.11: Đội ngũ quản lý, giảng viên tại hai Trung tâm 70
Bảng 2.12: Kinh phí bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã huyện Sa Pa giai đoạn 2011 - 2016 73
Bảng 2.13: Số lượng công chức cấp xã tham gia bồi dưỡng các lớp giai đoạn 2011 - 2016 75
Biểu 2.14 Phân xếp loại chính quyền cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa 77
Biểu 2.15 Phân xếp loại công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa 78
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nhận thức vai trò của công tác bồi dưỡng trong nâng cao chất lượng đội ngũ công chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII về việc phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về xây dựng chiến lược cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó khẳng định:
“Cán bộ là nhân tố quyết định đến sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước, của chế độ” [3, tr.66] Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX; X; XI; XII cũng tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Để triển khai thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã xác định việc đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là một trong những nội dung cơ bản, trọng tâm của Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-
2020
Trong hệ thống tổ chức bộ máy Nhà nước ở Việt Nam, chính quyền cấp
xã (xã, phường, thị trấn) là một cấp trong hệ thống chính quyền các cấp ở nước ta, bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống chính trị ở cơ sở Năng lực, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã tác động trực tiếp đến việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của đất nước Chính quyền cấp xã không thể đảm nhận được vai trò, nếu thiếu nhân tố có ý nghĩa quyết định đó là công chức chính quyền cấp xã
Sa Pa là một huyện vùng cao, biên giới và miền núi phía Bắc của Việt Nam, có 18 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 01 thị trấn và 17 xã) thuộc tỉnh Lào Cai Với 07 dân tộc cùng sinh sống, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trở thành mảnh đất phong phú về bản sắc văn hóa, về truyền thống lịch sử, di sản văn
Trang 11hóa Chính sự phong phú về đời sống các dân tộc đã tạo ra một bản sắc riêng của huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai Khu du lịch nghỉ mát Sa Pa - là một trong
21 khu du lịch quốc gia của Việt Nam (đã được Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể Khu du lịch Quốc gia Sa Pa đến năm 2030 tại Quyết định số 1845/QĐ-TTg ngày 26/9/2016) Thị trấn Sa Pa nằm ở độ cao trung bình từ 1.200 m - 1.800 m, khí hậu mát mẻ quanh năm, có phong cảnh rừng cây núi đá, thác nước và là nơi hội tụ nhiều hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc như chợ vùng cao, chợ tình Sa Pa Dãy núi Hoàng Liên Sơn có đỉnh Phan Xi Păng - nóc nhà của Việt Nam - và có Vườn Quốc gia Hoàng Liên hấp dẫn nhiều nhà khoa học, du khách Cặp cửa khẩu quốc tế Lào Cai (Việt Nam) - Hà Khẩu thuộc Vân Nam (Trung Quốc) cách nhau qua sông Nậm Thi cũng là một điểm du lịch thú vị Đây là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, có nguồn nhân lực dồi dào, cần cù, sáng tạo Trong những năm qua, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh vững chắc, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đã quan tâm xây dựng đội ngủ cán bộ, công chức cơ sở xã, thị trấn vững mạnh, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của các địa phương trên địa bàn
Tuy nhiên, công tác bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa
Pa, tỉnh Lào Cai còn chậm đổi mới, chưa bảo đảm tính khoa học và lâu dài; kế hoạch bồi dưỡng thiếu toàn diện và chủ động; hệ thống các cơ sở đào tạo còn bất cập cả về quy mô, cơ cấu nội dung, phương pháp và chất lượng, phân cấp trong công tác bồi dưỡng còn bất cập, chưa đáp ứng kịp nhu cầu ngày càng cao đối với công chức cấp xã; nội dung bồi dưỡng còn chồng chéo, nặng về lý thuyết và thiếu tính thực tiễn; chưa chú trọng bồi dưỡng các kỹ năng, nâng cao năng lực thực hành; phương pháp bồi dưỡng chưa thực sự khuyến khích
sự tham gia tích cực của người học; năng lực, trình độ đội ngũ giảng viên ở các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng không đồng đều, còn thiếu kiến thức thực tiễn,
Trang 12kỹ năng, phương pháp sư phạm hạn chế; cơ sở vật chất chưa đáp ứng được yêu cầu giảng dạy và học tập v.v Trong khi đó, hệ thống các cơ quan quản lý
về bồi dưỡng chưa được tổ chức, phân cấp hợp lý; đội ngũ cán bộ quản lý còn lúng túng trong chỉ đạo, điều hành; hệ thống các văn bản pháp quy làm cơ sở pháp lý để tổ chức, quản lý điều hành trong lĩnh vực này vừa thiếu, vừa mâu thuẫn, chồng chéo và khó thực hiện; nguồn kinh phí dành cho bồi dưỡng công chức cấp xã còn chưa bảo đảm Những hạn chế này là một trong những nguyên nhân cơ bản quyết định phẩm chất, năng lực của công chức cấp xã và ảnh hưởng đến kết quả phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương
Để công tác bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai đổi mới cơ bản, có hệ thống, các nguyên tắc, định hướng và mục đích đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công chức cấp xã, nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì vậy, việc chọn và nghiên cứu đề tài: “Bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” là yêu cầu tất yếu khách quan, cấp thiết cả về lý luận, pháp lý và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Bồi dưỡng công
chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” cho thấy các nhà khoa
học tiếp cận theo nhiều cách, với những cấp độ khác nhau
Nhóm thứ nhất, gồm các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp
đến sơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực nói chung, cán bộ chủ chốt cấp xã nói riêng, có thể kể đến các công trình tiêu biểu là sách chuyên khảo, luận án, đề tài khoa học sau:
PGS.TS Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sầm - Đồng chủ biên (2001),
Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội Cuốn sách đề cập tới bốn nội dung lớn Một là, Những vấn đề lý luận
Trang 13và phương pháp luận về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước thông qua việc luận giải và đưa ra một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức, viên chức, cán bộ lãnh đạo, chính khách Từ đó, phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về cán bộ và công tác cán bộ; xuất phát từ sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất
nước đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hai là, nghiên cứu
kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong lịch sử nước ta và một
số nước trên thế giới, cụ thể là một số kinh nghiệm xây dựng đội ngũ quan chức thời kỳ phong kiến ở nước ta; kinh nghiệm của Đảng ta về xây dựng đội ngũ cán bộ trong các thời kỳ cách mạng; kinh nghiệm đào tạo, sử dụng cán bộ,
công chức ở một số nước Ba là, phân tích, đánh giá về thực trạng đội ngũ cán
bộ và công tác cán bộ hiện nay Bốn là, đề xuất quan điểm, phương hướng và
giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
TS Ngô Thành Can (2014), Đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân
lực trong khu vực công, Nxb Lao động, Hà Nội Cuốn sách đề cập những vấn
đề cơ bản và quan trọng về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực trong khu vực công thông qua tám nội dung chủ yếu như: học tập và phát triển nhân lực; đào tạo, bồi dưỡng trong khu vực công; xác định nhu cầu đào tạo; xây dựng kế hoạch đào tạo; thực hiện kế hoạch đào tạo; đánh giá đào tạo; phương pháp đào tạo và trang thiết bị đào tạo
Luận án tiến sĩ của tác giả Lại Đức Vương (2009), Quản lý Nhà nước
về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay Từ
việc xây dựng cơ sở lý luận của quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính, luận án đã phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính và quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính; trên cơ sở đó có những đánh giá về những kết quả đạt, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của thực trạng này Trên cơ sở đó, luận án xác
Trang 14định mục tiêu, phương hướng và đề xuất hệ thống các giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng công chức hành chính trong giai đoạn hiện nay
Đề tài Khoa học cấp Bộ của PGS.TS Bùi Đức Kháng (2010), Đổi mới
phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập Sau khi phân tích tổng quan và
thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước, đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đề tài đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán
bộ, công chức, v.v
Nhóm thứ hai, gồm các công trình nghiên cứu đề cập theo từng nội
dung về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã như:
Tác giả Thang Văn Phúc với bài “Những định hướng đổi mới công tác
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001 - 2010)”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 9/2003; Tác giả
Hữu Phan với bài “Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các chức danh cán bộ,
công chức cấp xã”, Tạp chí Tổ chức Nhà nước, số 10/2003; Tác giả Hiền
Lương với bài “Chính sách của Đảng và Chính phủ nhằm nâng cao chất
lượng cán bộ xã vùng cao”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5/2004; Tác giả
Nguyễn Ngọc Khanh, Nguyễn Văn Thắng với bài “Công tác lãnh đạo, quản
lý ở cơ sở xã, phường, thị trấn hiện nay”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 9/2006;
Tác giả Nguyễn Thị Giáng Hương với bài “Phát huy nguồn lực con người
trong giáo dục - đào tạo đại học” Tạp chí Lý luận chính trị, số 7/2010; Tác
giả Ngô Thành Can với bài “Những yêu cầu cải cách công tác đào tạo, bồi
dưỡng cán bộ, công chức”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 08/2010; Tác giả
Nguyễn Thị Hồng Hải với bài “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tuyển chọn và đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số
01/2011; Tác giả Nguyễn Hữu Tám với bài “Nâng cao chất lượng, hiệu quả
Trang 15bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủt”, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 4/2012, v.v
Nhóm thứ ba, gồm các công trình bước đầu nghiên cứu có liên quan
trực tiếp đến sơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói riêng:
Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán
bộ, công chức xã trước yêu cầu đổi mới; Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm
Minh Thủy (2004), Một số giải pháp hoàn thiện công tác đào tạo, bồi dưỡng
cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Điện Biên; Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê
Đình Vĩ (2005), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay;
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Tuyền (2009), Chất lượng đội ngũ
cán bộ, công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay;
Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Chất lượng
cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Tuyên Quang; Luận văn thạc sĩ của tác giả
Vương Đức Thủy (2010), Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ,
công chức cấp xã huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ; Luận văn thạc sĩ của tác
giả Tô Thị Linh (2011), Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức xã theo tiêu
chuẩn chức danh; Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Tình (2016), Bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Gia Lai, v.v
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, đã có nhiều công trình
khoa học nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Bồi dưỡng công chức cấp xã trên
địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”, như các sách chuyên khảo, đề tài khoa
học, luận án, các bài báo, luận văn Các công trình khoa học này trong chừng mực nhất định đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã trong tình hình mới Tuy vậy, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn
diện và chuyên biệt về “Bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa
Trang 16Pa, tỉnh Lào Cai” Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một
cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống về chủ đề này dưới góc độ của khoa học quản lý công Với kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần khắc phục tình trạng nêu trên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa
bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, luận văn hướng tới đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện
Sa Pa, tỉnh Lào Cai
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, xây dựng cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức cấp xã, thông
qua việc phân tích rút ra khái niệm bồi dưỡng công chức cấp xã; làm rõ đặc điểm bồi dưỡng công chức cấp xã; xác định nội dung, chế độ, hình thức, phương pháp, các nguyên tắc và vai trò bồi dưỡng công chức cấp xã; luận giải các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức cấp xã
Thứ hai, phân tích thực trạng bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn
huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai, trên cơ sở đó đánh giá về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập này
Thứ ba, đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng bồi
dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
42 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: Luận văn nghiên cứu công tác bồi dưỡng công chức xã
trong phạm vi 18 xã, thị trấn thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Trang 17Về thời gian:
Thứ nhất, mốc đánh giá thực trạng: Luận văn nghiên cứu công tác bồi
dưỡng công chức xã từ năm 2011 đến năm 2016 Khoảng thời gian trên được chọn để nghiên cứu vì đây là 06 năm gần nhất với thời điểm hiện tại, sát với thực tế công tác bồi dưỡng công chức xã của huyện Thêm vào đó, quá trình theo dõi suốt 06 năm liên tục cũng có tính ổn định khá cao, đủ cho việc đánh giá và kết luận vấn đề được đúng đắn
Thứ hai, mốc đề xuất giải pháp: Giải pháp nêu trong Luận văn áp dụng
được cho công tác bồi dưỡng công chức xã năm 2018 và một số năm tiếp theo
Về nội dung: Luận văn nghiên cứu các hoạt động liên quan đến bồi
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản như hệ thống, phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh và dự báo để chọn lọc tri thức khoa học cũng như kinh nghiệm thực tiễn về bồi dưỡng công chức cấp xã
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và
có hệ thống về bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai trên cả phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn Vì vậy, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là những bổ sung quan trọng vào lý luận Quản lý
Trang 18công; góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã và công tác bồi dưỡng công chức cấp xã
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong tham mưu, hoạch định chính sách về công tác bồi dưỡng công chức cấp xã; trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành và liên ngành Quản lý công
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học và kinh nghiệm thực tiễn bồi dưỡng công
Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng
công chức cấp xã trên địa bàn huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai
Trang 19+ Cơ quan quyền lực Nhà nước: bao gồm Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp ở địa phương;
+ Cơ quan hành chính Nhà nước (gồm Chính phủ, bộ, các cơ quan ngang bộ và Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan chuyên môn thuộc UBND
+ Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân các cấp
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả tập trung đi vào loại cơ quan hành chính Nhà nước Một đặc điểm nổi bật của cơ quan hành chính Nhà nước đó là có quan hệ trực thuộc dọc, ngang tạo thành một hệ thống thống nhất, theo thứ bậc chặt chẽ Hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm duy trì trật tự xã hội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội
Ngoài bộ máy thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước ở Trung ương, bộ máy hành chính địa phương ở nước ta chia thành 3 cấp: cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã Hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước ở địa phương có vị trí, vai trò, chức năng rất quan trọng, đó là chức năng quản lý Nhà nước trong phạm vi lãnh thổ Và trong mỗi cấp hành chính, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định cụ thể trong pháp luật Có thể nhận thấy, sự khác
Trang 20biệt tương đối rõ nét ở ba cấp chính quyền trong tổ chức hành chính Nhà nước
ở địa phương nước ta Cụ thể là:
Chính quyền cấp tỉnh: thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình chủ
yếu thông qua hoạt động hoạch định, xây dựng quy hoạch tổng thể, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho toàn tỉnh, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra các hoạt động diễn ra trong từng lĩnh vực Điều này được thể hiện rất rõ trong luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 Ví dụ: trong các lĩnh vực quản lý Nhà nước của chính quyền cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện một trong những nhiệm vụ, quyền hạn: “Tổ chức thực hiện ngân sách tỉnh, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch
vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi; thực hiện các biện pháp quản lý, sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác; thực hiện các biện pháp phòng, chống thiên tai, bảo
vệ môi trường trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền.” [40; Điều 21] Trong lĩnh vực của địa phương, Ủy ban nhân dân tỉnh: “Xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, đề án của tỉnh đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Thực hiện các biện pháp xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên địa bàn tỉnh; chỉ đạo thực hiện kế hoạch xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc trên địa bàn tỉnh; tổ chức giáo dục quốc phòng, an ninh
và công tác quân sự địa phương; xây dựng và hoạt động tác chiến của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ; xây dựng lực lượng dự bị động viên và huy động lực lượng bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ theo quy định của pháp luật; xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc ở địa phương” [40; Điều 21]
Đối với chính quyền cấp huyện: việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn
thông qua cả hoạt động hoạch định và thực thi các chính sách Đây là cấp trung gian trong hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước địa phương, là cầu
Trang 21nối giữa cấp tỉnh và cấp xã Do vậy, có thể thấy đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện vừa là những người trực tiếp triển khai, hướng dẫn thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện, vừa là những người xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm cho địa phương mình Chẳng hạn, trong việc thực hiện các nhiệm
vụ quản lý Nhà nước tại địa phương, Ủy ban nhân dân huyện có nhiệm vụ, quyền hạn: “Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ,
du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông
hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật [40; Điều 28] Hay có nhiệm vụ: “Thực hiện các nhiệm vụ về
tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật” [40; Điều 28] Điều này đặt ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện phải có kiến thức tổng hợp, có kinh nghiệm thực tiễn và nắm chắc nghiệp vụ công tác Có như vậy, chức năng vừa hoạch định, vừa thực thi nhiệm vụ mới đảm bảo có hiệu quả
Chính quyền cấp xã (xã, phường, thị trấn): Là cấp cơ sở trong cơ cấu tổ
chức hành chính Nhà nước địa phương ở nước ta Đây là cấp quan trọng nhất, đồng thời là cấp gần dân nhất, trực tiếp triển khai, thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước, nội dung văn bản pháp luật tới người dân dựa trên sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên trực tiếp và thực hiện theo những chương trình, kế hoạch do cấp trên trực tiếp xây dựng nên Trong việc thực hiện các nhiệm vụ
Trang 22quản lý của chính quyền thì cấp xã đảm nhận nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng
Trong việc thực thi các nhiệm vụ theo sự phân công, phân cấp thì đối với ủy ban nhân dân xã thực hiện nhiệm vụ quyền hạn sau: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các khoản 1, 2 và
4 Điều 33 của Luật Chính quyền địa phương năm 2015 và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã” [40, Điều 35]
Đối với ủy ban nhân dân phường, nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân phường quyết định các nội dung quy định tại khoản
1 và khoản 3 Điều 61 của luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân phường; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền [40, Điều 63]
Đối với thị trấn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn: “Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân thị trấn quyết định các nội dung quy định tại khoản 1 và khoản
3 Điều 68 của luật này và tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân thị trấn; Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương; Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan Nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền [40; Điều 70]
Từ vị trí, chức năng của chính quyền cấp xã như trên cũng đặt ra những yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ tương ứng của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn Họ phải là những người am hiểu các vấn
đề kinh tế - xã hội, khả năng nhận thức đúng và hiểu đúng các chính sách của Đảng và Nhà nước, các văn bản quy phạm pháp luật để thực thi một cách có hiệu quả nhất
Như vậy, có thể thấy ở mỗi cấp chính quyền, tuỳ vào nhiệm vụ và quyền hạn đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức - những người có nghĩa vụ, trách
Trang 23nhiệm thực hiện những nhiệm vụ ấy cần phải đáp ứng được những yêu cầu nhất định về năng lực chuyên môn, tư tưởng chính trị, đạo đức công chức Đây cũng là yếu tố ảnh hưởng cần được xét đến trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, phù hợp với đặc thù từng cấp chính quyền Đối với từng cấp, từng đối tượng đào tạo, bồi dưỡng cần phải xây dựng nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng cho phù hợp, đáp ứng yêu cầu công việc trong hiện tại và cả tương lai
Xét ở góc độ tổng thể thì đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương có vai trò đặc biệt quan trọng Điều này đã được xác định rõ trong Quyết định số 163/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức giai đoạn 2016-2025 “Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp có đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế” [48]
Do đó, tập trung đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, nhất là đối với công chức cấp xã sẽ góp phần đưa nền hành chính cơ sở nước ta ngày một vững mạnh hơn
1.1.2 Công chức cấp xã
1.1.2.1 Khái niệm, chức danh công chức cấp xã
Tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức xã
là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước” [39; tr.5]
Căn cứ theo Điều 3 Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Công chức xã, thị trấn gồm các chức danh sau:
Trang 24Văn hóa - xã hội [16; tr.22]
1.1.2.2 Đặc điểm, vai trò của công chức cấp xã
Về đặc điểm công chức cấp xã
Thứ nhất, công chức cấp xã (xã, phường, thị trấn), đặc biệt là tại xã
thường là người được tuyển dụng từ nguồn tại chỗ của địa phương, sinh sống
và có quan hệ gắn bó với cộng đồng dân cư nơi làm việc
Thứ hai, họ là đội ngũ gần dân nhất, là cầu nối quan trọng chính quyền
với nhân dân Bản thân công chức cấp xã là người thường trực tiếp tiếp xúc và giải quyết các công việc hằng ngày liên quan đến đời sống của nhân dân Họ
là người truyền tải chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân và ngược lại quá trình tiếp xúc với nhân dân làm cho công chức cấp xã hiểu đầy đủ về tâm tư, nguyện vọng của nhân dân
để báo lên cấp trên
Thứ ba, là đội ngũ đã được đào tạo, rèn luyện, trưởng thành trong thực
tiễn, họ vừa có kiến thức về chuyên môn, vừa có kinh nghiệm về thực tiễn Vì thế họ là nguồn cán bộ cho cơ sở cũng như cung cấp cho cấp huyện, tỉnh và cho cả hệ thống chính trị
Thứ tư, thường thì mỗi chức danh công chức cấp xã phải kiêm nhiệm
nhiều công việc, nhiều chuyên ngành đào tạo khác nhau: Địa chính - xây dựng; Văn phòng - thống kê v.v
Trang 25Từ những đặc thù của công chức cấp xã như đã nêu trên, đòi hỏi về mặt đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã phải phù hợp nhằm xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng với yêu cầu công việc
Vai trò của công chức cấp xã
Trong hệ thống chính quyền ở nước ta thì chính quyền cấp cơ sở có một vị trí rất quan trọng, là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền Nhà nước với nhân dân thông qua đội ngũ công chức cấp xã Công chức cấp xã là những người gần dân nhất, sát dân nhất, mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước có đến được với nhân dân hay không, đến đúng, đến đủ và có được nhân dân tiếp thu đúng đắn hay không đều thông qua đội ngũ công chức cấp xã Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ công chức cấp xã
Vị trí vai trò của công chức cấp xã được thể hiện trong các mối quan hệ sau:
Thứ nhất, công chức cấp xã trong mối quan hệ với chủ trương, đường
lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương
Đội ngũ công chức xã là người hiện thực hóa sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội ở địa phương
Là người giữ vai trò quyết định trong việc tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp ủy cấp trên, cấp ủy cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã Là người trực tiếp tuyên truyền, phổ biến, vận động và tổ chức nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên địa bàn dân cư, giải quyết mọi nhu cầu của dân cư, bảo đảm sự phát triển kinh tế của địa phương, duy trì trật tự, an ninh, an toàn xã hội trên địa bàn cấp xã
Do tính chất công việc của cấp xã, họ vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, lại phải
Trang 26nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để từ đó đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, thiết thực, phù hợp Nhiệm vụ của họ rất nặng nề, vai trò của họ có tính then chốt xét cả trong quan hệ giữa Đảng viên với dân, giữa công dân với Nhà nước Họ là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân
Thứ hai, công chức cấp xã trong mối quan hệ với bộ máy Nhà nước ở
địa phương
Công chức là người đội ngũ vận hành bộ máy hành chính ở địa phương Công chức là chủ thể của tổ chức bộ máy Nhà nước đồng thời tổ chức là môi trường để công chức hoạt động và phát triển Công chức khi thực hiện công
vụ phải gắn liền với tổ chức, nhân danh tổ chức và đại diện Nhà nước để quản
lý xã hội Công chức chỉ mang quyền lực Nhà nước khi gắn liền tổ chức, đại diện Nhà nước, khi rời khỏi hệ thống tổ chức bộ máy hà nước, công chức trở thành những công dân và chịu sự quản lý của hệ thống bộ máy Nhà nước Như vậy, để có một bộ máy hành chính Nhà nước địa phương hoạt động hiệu quả vai trò của một đội ngũ công chức xã giàu năng lực, kiến thức kinh nghiệm kỹ năng là rất quan trọng
Thứ ba, công chức cấp xã trong mối quan hệ với hoạt động thực thi
công vụ
Việc làm của công chức xã là hoạt động thực thi công vụ Mỗi một công chức xã đều thực hiện nhiệm vụ thể chế hóa các chủ trương đường lối của Đảng, kế hoạch chính sách, pháp luật của Nhà nước thành hiện thực và đi vào đời sống xã hội Công chức xã là người có nhiệm vụ phục vụ nhân dân, cũng là người trực tiếp cùng nhân dân, giúp đỡ nhân dân, giải đáp những khó khăn, vướng mắc của nhân dân về những vấn đề trong cuộc sống Công chức
xã cùng với cán cân pháp luật trở thành trọng tài công lý của cuộc sống, thường xuyên kiểm tra và kịp thời phát hiện những sai phạm của công dân để điều chỉnh đúng hướng và bảo vệ công bằng cho nhân dân
Trang 27Bằng việc thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, đội ngũ công chức xã là những người chăm sóc cho cuộc sống của nhân dân, tạo ra một môi trường thuận lợi thúc đẩy tất cả các hoạt động và con người phát triển
Thứ tư, công chức cấp xã trong cải cách hành chính Nhà nước ở địa phương
Công chức xã có vai trò to lớn trong cải cách hành chính Nhà nước ở địa phương Đội ngũ công chức xã vừa là chủ thể cải cách hành chính nhưng đồng thời cũng là đối tượng cải cách hành chính
Với tư cách là người đại diện của cơ quan hành chính trực tiếp giải quyết công việc, thủ tục hành chính với công dân, nên khi bố trí sử dụng đòi hỏi bản thân người công chức phải có phẩm chất và năng lực, có trình độ văn hóa, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, gương mẫu về đạo đức, lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, không cơ hội, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác phong dân chủ, khoa học, thái độ lễ phép, tận tụy phục vụ nhân dân, phải thấm nhuần nền hành chính nước ta là nền hành chính phục vụ, dân chủ, minh bạch, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển bền vững
1.1.2.3 Những quy định về tiêu chuẩn công chức cấp xã
Tiêu chuẩn chung:
Công chức cấp xã phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, thị trấn đó là:
Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước
Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trang 28Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác
Có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước (Đối với công chức Chỉ huy trưởng quân
sự cấp xã và Trưởng công an xã)
Những yêu cầu cụ thể của công chức cấp xã:
Thực hiện Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội
vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, thị trấn; Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số 43/2013/QĐ-UBND ngày 10/10/2013 quy định tiêu chuẩn, chức trách, nhiệm
vụ đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Lào Cai thì công chức cấp xã nói chung, công chức cấp xã trên địa bàn tỉnh Lào Cai nói riêng ngoài những tiêu chuẩn chung đã nói ở trên, cần phải có những tiêu chuẩn cụ thể sau:
Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp Trung cấp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức đảm nhiệm;
Trình độ tin học: có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; Tiếng dân tộc thiểu số: Phải biết giao tiếp thành thạo tiếng DTTS đối địa bàn công tác cần sử dụng tiếng DTTS trong thực thi công vụ Nếu khi tuyển dụng chưa đảm bảo tiêu chuẩn này thì chậm nhất sau 36 tháng sau khi tuyển dụng phải hoàn thành;
Quản lý hành chính Nhà nước và trình độ chính trị: Chậm nhất 36 tháng sau khi tuyển dụng phải được đào tạo, bồi dưỡng theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đang đảm nhiệm;
Trang 29Bên cạnh đó, UBND tỉnh Lào Cai ban hành Quyết định số UBND ngày 18/8/2017 về phê duyệt Đề án vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức đối với cán bộ, công chức cấp xã - tỉnh Lào Cai thì yêu cầu về trình
3673/QĐ-độ chuyên môn: Đối với xã vùng I có trình 3673/QĐ-độ từ Đại học trở lên (trừ chức danh Công an xã, Quân sự xã có trình độ từ Cao đẳng trở lên), xã loại II, III có trình
độ chuyên môn từ Cao đẳng trở lên (trừ chức danh Công an, Quân sự, Tư pháp
- Hộ tịch) Như vậy, để thực hiện tốt công việc của mình, công chức cấp xã nhất thiết phải không ngừng học tập rèn luyện và tu dưỡng về nhiều mặt
Hiểu theo nghĩa hẹp, bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu, nhằm mục đích nâng cao hoặc hoàn thiện năng lực hoạt động trong các lĩnh vực cụ thể để làm tốt hơn công việc đang tiến hành
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng
lực hoặc phẩm chất” [69]
Theo các tài liệu của UNESCO, bồi dưỡng được hiểu như sau: Bồi dưỡng là quá trình cập nhật, bổ sung kiến thức, kỹ năng, thái độ để nâng cao năng lực trình độ, phẩm chất của người lao động về một lĩnh vực hoạt động mà người lao động đã có một trình độ năng lực chuyên môn nhất định qua một hình thức đào tạo nào đó
Tại Điều 5 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính
phủ thì cụm từ “bồi dưỡng” được hiểu: “đó là hoạt động trang bị, cập nhật,
nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc” [17; tr.8]
Trang 30Một số cách hiểu khác thì bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất, đó là quá trình hoạt động làm tăng thêm những kiến thức mới, đòi hỏi bổ sung những kỹ năng hoạt động đối với cán bộ, công chức đang giữ một chức danh, một ngạch công chức, viên chức nhất định
Bồi dưỡng cũng có ý nghĩa là nâng cao trình độ nghiệp vụ, quá trình này diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hay kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng các yêu cầu của lao động nghề nghiệp
Bồi dưỡng cũng có thể được hiểu là việc:
Hệ thống hóa lại kiến thức mà người học đã biết liên quan đến nội dung khóa học
Bổ sung những mảng kiến thức mà người học đã từng có nhưng lúc “bị rơi rụng” theo thời gian
Cập nhật những kiến thức của ngành, lĩnh vực
Nâng cao được một phần sự thành thạo công việc thông qua sự rèn luyện, thực hành, trao đổi kinh nghiệm trên lớp
Đặc điểm của bồi dưỡng:
Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [38; tr45]
Là một quá trình nhằm hoàn thiện kỹ năng, năng lực của người lao động nhằm đáp ứng mục tiêu của tổ chức; đó là cơ hội mà người quản lý tạo
ra cho người lao động nhằm hoàn thiện kỹ năng, kiến thức chuyên môn có liên quan đến công vụ hiện tại
Là quá trình hoạt động nhằm tăng thêm những kiến thức mới đòi hỏi với những người mà họ đang giữ chức vụ, đang thực thi công vụ của một ngạch bậc nhất định
Như vậy bồi dưỡng là quá trình đào tạo nối tiếp, đào tạo liên tục trong khi làm việc nhằm cập nhật kiến thức còn thiếu hay đã lạc hậu, củng cố, mở
Trang 31mang và trang bị một cách có hệ thống những tri thức, kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để có thể
Mục đích của bồi dưỡng là nhằm bổ sung kiến thức và kỹ năng cần thiết nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng, và nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn - nghiệp vụ đã có, từ đó nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm
Thời gian của hoạt động bồi dưỡng thường ngắn hơn so với thời gian của hoạt động đào tạo Thời gian của một khóa bồi dưỡng là 1 đến 3 tháng, có khi là 1 hoặc 2 tuần, có khi là vài ngày Hoàn thành khóa bồi dưỡng, người học nhận chứng chỉ ghi nhận kết quả học tập
1.2.1.2 Phân biệt giữa bồi dưỡng và đào tạo
Đào tạo, bồi dưỡng là một trong những hoạt động quan trọng của quản
lý nguồn nhân lực nói chung và quản lý nguồn nhân lực hành chính Nhà nước nói riêng
Đào tạo là quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người
đó lĩnh hội và nắm vững tri thức kỹ năng, kỹ xảo một cách hệ thống nhằm chuẩn bị người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển xã hội, duy trì
và phát triển nền văn minh nhân loại
Thông thường hoạt động đào tạo được tổ chức trong những cơ sở giáo dục đào tạo như trường học, học viện, trung tâm dạy nghề hoặc tại các cơ sở sản xuất với nội dung chương trình và thời gian khác nhau cho các cấp bậc đào tạo khác nhau Cuối mỗi khóa đào tạo, học viên sẽ được cấp bằng tốt nghiệp
Đào tạo cán bộ, công chức là một hoạt động có mục đích, có tổ chức, được thực hiện theo những quy trình nhất định nhằm truyền đạt cho cán bộ, công chức hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ, đạo đức phù hợp để thực thi công vụ
Trang 32Đào tạo cán bộ, công chức là một hoạt động mang tính đặc thù, bởi đối tượng của đào tạo là những con người hoạt động trong bộ máy chính trị, bộ máy Nhà nước, là những Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nhân danh quyền lực Nhà nước là thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước, quản lý xã hội
Hoạt động đào tạo cán bộ, công chức được thực hiện ở một số cơ sở của Đảng, Nhà nước như: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, trường cán bộ, trường chính trị của các tỉnh, các trung tâm chính trị huyện, một số trường đại học và các trung tâm đào tạo khác
Bồi dưỡng “là bồi bổ, nuôi dưỡng thêm”, giúp cho học viên gia tăng
thêm những kiến thức mới và cần thiết cho nghề nghiệp và rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp để lao động hiệu quả hơn Học viên tham gia các khóa bồi dưỡng
thường được xác nhận bằng chứng chỉ
Qua hai khái niệm trên, có thể nhận thấy những điểm khác nhau tương
đối giữa hai khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” như sau:
kỹ năng cụ thể
Hoàn chỉnh một bước hoặc nâng cao một mặt nào đó trình độ cho người được bồi dưỡng
2
Cung cấp tri thức, kỹ năng đầy đủ, hoàn chỉnh, có hệ thống
Bổ sung các tri thức, kỹ năng, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
3
quy 4
5
Được xác nhận bằng các loại văn bằng theo quy định của Nhà nước
Được xác nhận qua việc cấp cho các học viên các chứng chỉ bồi dưỡng
Trang 33Như vậy, đào tạo được xem như là một quá trình làm cho người ta “trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định và Bồi dưỡng được xác định là quá trình làm cho người ta tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất Việc tách bạch khái niệm đào tạo và bồi dưỡng riêng rẽ chỉ để tiện cho việc phân tích điểm giống và khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng Một định nghĩa chung cho ĐTBD CBCC có thể được hiểu như là quá trình làm biến đổi hành
vi con người một cách có hệ thống thông qua việc học tập này có kết quả của giáo dục, hướng dẫn phát triển và lĩnh hội kinh nghiệm theo một cách bài bản
có kế hoạch
Với quan niệm như vậy, ĐTBD nhằm tới các mục tiêu chính sau:
Trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc thực tế theo từng vị trí công việc, việc làm của CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức
Trang bị kiến thức, kỹ năng, cách thức làm việc đáp ứng yêu cầu tương lai của vị trí việc làm, tiêu chuẩn của ngạch CBCC, viên chức theo yêu cầu của tổ chức
Trang bị, cung cấp kiến thức, kỹ năng, thái độ và cách thức làm việc cần thiết để giúp CBCC, viên chức làm quen, thích ứng với vị trí công việc, việc làm mới do luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái, đề bạt
Mặc dù giữa đào tạo, bồi dưỡng có những điểm khác nhau tương đối, tuy nhiên trong thực tế nhiều khi khó phân biệt một cách rạch ròi Do vậy, hai khái niệm này thường được sử dụng cùng nhau: “đào tạo, bồi dưỡng”, “đào tạo - bồi dưỡng” trong việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức Trong luận văn này tác giả sử dụng cách viết “đào tạo, bồi dưỡng”
để thuận tiện cho quá trình xử lý và phân tích thông tin thực tế thu thập được
1.2.1.3 Bồi dưỡng công chức cấp xã
Theo quy định tại Điều 5, Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 5/3/2010
của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng áp dụng chung cho các đối tượng trong
đó có công chức cấp xã bao gồm có các loại như sau:
Trang 34Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức là trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức
Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý là trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp làm việc theo chương trình quy định cho từng chức vụ lãnh đạo quản lý
- Bồi dưỡng theo vị trí việc làm là trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao [17; tr.12]
Đối với công chức việc bồi dưỡng có nhiều hình thức khác nhau, tuy nhiên bắt buộc hằng năm tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết) [17]
Từ những vấn đề trên có thể hiểu:“bồi dưỡng công chức cấp xã là hoạt
động của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trên cơ sở tiêu chuẩn, yêu cầu công việc nhằm cung cấp, trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc đối với đội ngũ công chức cấp xã”
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức cấp xã
Công chức cấp xã luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động công
vụ, trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Nhà nước ở chính quyền cơ sở Đội ngũ công chức cấp xã có năng lực, trình độ và phẩm chất tốt mới có thể đề ra đường lối đúng Mặt khác, công chức cấp xã cũng là người thực thi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, do đó công chức cấp xã cũng chính là người đóng vai trò quan trọng trong đảm bảo kỷ cương, phép nước và thực thi công vụ ở cơ sở
Mọi hoạt động của con người nói chung và hoạt động của bộ máy công quyền nói riêng đều hướng đến mục tiêu nhất định Hoạt động bồi dưỡng công chức cấp xã cũng không nằm ngoài đặc tính trên Có thể thấy mục tiêu chung của bồi dưỡng là giúp tổ chức đạt được các mục tiêu hoạt động nhằm nâng cao giá trị của con người - nguồn lực then chốt của tổ chức Trong nền
Trang 35công vụ, bồi dưỡng là hoạt động quan trọng để công chức cấp xã có được kiến thức, kỹ năng cần thiết, đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong quá trình thực thi công vụ, đồng thời, nâng cao được giá trị của công chức cấp xã trong bộ máy hành chính Nhà nước Do vậy, công tác bồi dưỡng công chức cấp xã nói riêng
và đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã nói chung có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng, phát triển đội ngũ công chức cấp xã, cũng như trong tiến trình cải cách hành chính hiện nay
Công tác bồi dưỡng công chức cấp xã hiện nay đang ngày càng được cải tiến và thực hiện nghiêm túc hơn Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã ngày càng được nâng cao Đến nay, tuyệt đại đa số công chức cấp xã đã đáp ứng yêu cầu của tiêu chuẩn ngạch và đang hướng tới thực hiện bồi dưỡng theo nhu cầu Việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã thời gian qua là một trong những nguyên nhân góp phần làm tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; đảm bảo sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước Công tác bồi dưỡng công chức cấp xã được xác định có vai trò, vị trí như sau:
Thứ nhất, là tiền đề quyết định trong việc xây dựng đội ngũ công chức
cấp xã vững mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước Chỉ khi nào có đội ngũ công chức cấp xã có trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức tốt thì việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao mới đạt hiểu quả tốt nhất Thực tế hiện nay, công tác bầu cử, bổ nhiệm và tuyển dụng đội ngũ công chức cấp xã Nhà nước đã và đang được thực hiện một cách
có hiệu quả và đúng pháp luật Như vậy, việc đầu tiên trong xây dựng đội ngũ công chức cấp xã chính là việc thực hiện tốt công tác bồi dưỡng công chức cấp xã
Thứ hai, là yếu tố không thể thiếu được trong một nền công vụ Qua
công tác bồi dưỡng giúp công chức cấp xã thường xuyên được cập nhật kiến
Trang 36thức, kỹ năng công tác thông qua các lớp ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo mức độ, yêu cầu của chức năng, nhiệm vụ được giao
Thứ ba, là yếu tố tác động trực tiếp đến tư duy của công chức cấp xã
Qua bồi dưỡng công chức cấp xã giúp cho họ nhận biết được vị trí, vai trò của mình trong hoạt động công vụ để hướng đến một nền hành chính hiện đại Qua đó phục vụ nhân dân, phục vụ xã hội tốt hơn, thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước nói chung, của từng địa phương nói riêng
Thứ tư, thông qua bồi dưỡng, công chức cấp xã sẽ liên tục hoàn thiện
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng tiêu chuẩn đối với mỗi vị trí việc làm; đồng thời đáp ứng yêu cầu tự hoàn thiện bản thân
Thứ năm, công tác bồi dưỡng công chức cấp xã luôn hướng đến mục
tiêu xây dựng đội ngũ công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu về cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay
Như vậy, bồi dưỡng công chức cấp xã là một yêu cầu bắt buộc phải thực hiện nhằm đảm bảo nội dung đổi mới, nâng cao chất lượng công chức cấp xã Công tác bồi dưỡng công chức cấp xã có vai trò, vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và trong công cuộc cải cách hành chính nói riêng Bồi dưỡng không chỉ cung cấp những tri thức cần thiết, giúp công chức cấp xã nâng cao trình độ, hoàn thành các nhiệm vụ được giao
mà còn giúp họ thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, xứng đáng là công bộc của người dân
1.2.3 Mục đích và yêu cầu bồi dưỡng công chức cấp xã
Trang 37Thứ nhất, Việc bồi dưỡng công chức cấp xã nhằm mục đích nâng cao
tay nghề và kỹ năng của đội ngũ công chức cấp xã đối với công việc hiện hành hay trước mắt Mục đích của công tác bồi dưỡng là nhằm chuẩn bị cho công chức cấp xã theo kịp với sự thay đổi cơ cấu của tổ chức khi có sự thay đổi và phát triển trong tương lai
Thứ hai, công tác bồi dưỡng công chức cấp xã là nhằm xây dựng được
đội ngũ công chức có bản lĩnh chính trị, năng lực thực tiễn, có phẩm chất và đạo đức cách mạng trong sáng, tác phong làm việc khoa học, hiệu quả Đảm bảo có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị và có kiến thức phù hợp chức năng, nhiệm vụ được giao
Thứ ba, bồi dưỡng chính là bù đắp, bổ sung những thiếu hụt về kiến
thức, trình độ chuyên môn hay cung cấp hoàn toàn những kiến thức, kỹ năng mới cho công chức cấp xã
Thứ tư, đáp ứng việc kiện toàn, nâng cao năng lực lãnh đạo, tăng cường
hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền nói chung và chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Gia Lai nói riêng, đáp ứng như cầu trong giai đoạn mới - giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
1.2.3.2 Yêu cầu bồi dưỡng
Bồi dưỡng công chức cấp xã được xác định là một nhiệm vụ thường xuyên, có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của công chức cấp xã; hướng tới mục tiêu là tạo được sự thay đổi về chất trong thực thi nhiệm vụ chuyên môn Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 03 năm
2010 của Chính phủ nhấn mạnh: “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm
nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao” [17]
Với yêu cầu, mục tiêu đó, trong công tác bồi dưỡng cần tập trung trang
bị những kiến thức, kỹ năng, thái độ thực hiện công việc cho công chức cấp
Trang 38xã; trong đó, cung cấp những kiến thức, lý luận cơ bản, trang bị kỹ năng, cách thức hoạt động thực thi công việc, còn thái độ thực hiện công việc thể hiện sự nhiệt tình, tinh thần trách nhiệm của người công chức cấp xã Để thực hiện được các kế hoạch bồi dưỡng và góp phần nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã, thời gian tới phải đảm bảo các yêu cầu sau đây:
Phải căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn chức danh Bồi dưỡng công chức cấp xã quản lý Nhà nước về kinh tế nếu không căn cứ vào hệ thống tiêu chuẩn
cụ thể rất dễ dẫn đến đánh giá theo cảm tính, thiếu khách quan và thậm trí có thể đánh giá sai công chức cấp xã Nếu bồi dưỡng không hợp lý công chức cấp xã sẽ hoạt động không hiệu quả, gây thiệt hại cho Nhà nước, Bên cạnh
đó, công tác bồi dưỡng công chức cấp xã cần phải chú trọng việc phát hiện nhân tài để có kế hoạch bồi dưỡng, phát triển thành những công chức cấp xã lãnh đạo, quản lý giỏi cho địa phương cũng như cho đất nước
Đổi mới nội dung chương trình, giáo trình và tài liệu giảng dạy cho phù hợp theo vị trí việc làm; trong đó chú trọng kỹ năng thực tiễn áp dụng cho từng đối tượng người học; cần có sự liên thông trong nội dung chương trình, giảm bớt những nội dung trùng lắp
Tiếp tục đổi mới và áp dụng tốt các phương pháp truyền đạt kiến thức theo từng đối tượng bồi dưỡng như: thuyết trình, làm việc theo nhóm, nghiên cứu tình huống, thảo luận, đóng vai
Mời giảng viên tham gia giảng dạy, truyền đạt kiến thức là những người
có kiến thức sâu, rộng, có nhiều kinh nghiệm trong thực tế; cung cấp cho người học những thông tin, kiến thức thiết thực; mời lãnh đạo các cơ quan, đơn vị công tác trong ngành, trong địa phương các chuyên gia có kinh nghiệm thực tiễn để truyền đạt kiến thức, hướng dẫn kỹ năng theo từng vị trí việc làm
1.2.4 Quy trình thực hiện bồi dưỡng công chức cấp xã
Bồi dưỡng được hiểu là một quy trình có hoạch định và có tổ chức nhằm nâng cao năng lực làm việc cho học viên và qua đó làm tăng kết quả
Trang 39thực hiện công việc Vậy để bồi dưỡng có hiệu quả thì việc nắm chắc và tuôn theo đúng quy trình là điều rất cần thiết Hơn nữa, nó đảm bảo việc thực hiện công tác bồi dưỡng mang tính khoa học và có căn cứ
Một quy trình bồi dưỡng bao gồm những bước cơ bản sau:
Nguồn: [13; tr.23]
Với sơ đồ quy trình bồi dưỡng như trên ta thấy, một quy trình bồi dưỡng bao gồm 5 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Xác định nhu cầu bồi dưỡng
Đây là giai đoạn mở đầu nhưng có ý nghĩa rất quan trọng Bởi ngày nay chúng ta nghe nói nhiều đến bồi dưỡng theo nhu cầu Nhu cầu bồi dưỡng ở
Đánh giá thực hiện kế hoạch BD
Thực hiện kế hoạch BD
Trang 40đây có thể là nhu cầu của tổ chức muốn nâng cao chất lượng nhân lực, nhu cầu của chính bản thân những người tham gia trong tổ chức đó Nhu cầu lớn hay nhỏ, nhu cầu bồi dưỡng về nội dung gì sẽ là những căn cứ quan trọng khi xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Xác định đúng nhu cầu bồi dưỡng là cơ sở để
tổ chức xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng công chức cấp xã
Giai đoạn 2: Xác định yêu cầu học tập
Việc xác định yêu cầu học tập sẽ là căn cứ cho quá trình đánh giá kết quả bồi dưỡng Là cơ sở để người học khi tham gia các khoá bồi dưỡng tạo nhận thức rõ mình cần phải làm gì và đạt được kết quả như thế nào cũng như những mong muốn của tổ chức Ngoài ra, xác định yêu cầu học tập còn là xác định những nội dung bồi dưỡng nào cần thiết, quan trọng cho hiện tại và cả trong tương lai
Giai đoạn 3: Kế hoạch chương trình bồi dưỡng
Xây dựng kế hoạch chương trình bồi dưỡng nhằm đảm bảo tính khả thi của chương trình, tính khoa học và mục tiêu của chương trình cần đạt được
Kế hoạch càng chi tiết, càng hạn chế tối đa những rủi ro trong quá trình thực hiện kế hoạch gặp phải Trong kế hoạch chương trình bồi dưỡng cần xác định chính xác những tiền đề, điều kiện thuận lợi khi triển khai kế hoạch Đồng thời, dự báo trước những khó khăn gặp phải để có phương án giải quyết trước
Nội dung của kế hoạch cần nêu rõ các yếu tố về kỹ thuật, trang thiết bị,
cơ sở bồi dưỡng, đội ngũ giáo viên, hình thức kinh phí Bởi đây là những nhân tố không thể thiếu trong quá trình thực hiện hoạt động bồi dưỡng
Giai đoạn 4: Thực hiện kế hoạch bồi dưỡng
Sau khi đã chuẩn bị đầy đủ những điều kiện, giai đoạn thực hiện kế hoạch được tiến hành Trong giai đoạn này người làm công tác bồi dưỡng cần theo dõi tiến độ và sẵn sàng thay đổi khi cần thiết, linh hoạt và chủ động trong việc sử dụng các phương án