1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở thị xã từ sơn tỉnh bắc ninh

133 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống 1.1.1 Một số khái niệm 1.1.1.1 Nghề truyền thống Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công n

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

NGÔ MINH NAM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG TRONG QUÁ TRÌNH

ĐÔ THỊ HÓA Ở THỊ XÃ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

THÁI NGUYÊN, NĂM 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đô thị hóa là trung tâm, biểu hiện của sự phát triển kinh tế, xã hội của một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia Năm 1986 đất nước ta bắt đầu thực hiện đổi mới, với chính sách phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, qua các thời kỳ từng bước mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế Kinh tế phát triển kéo theo tốc độ đô thị hóa ở thành thị cũng như nông thôn diễn ra rất nhanh, nhiều đô thị mới được thành lập, mở rộng, từ đó xuất hiện các trung tâm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ, văn hóa, y tế, tài chính được hình thành

Đảng ta chủ trương CNH - HĐH, trong đó trọng tâm là CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn nhằm đưa nông nghiệp thoát khỏi tình trạng thuần nông, tự cấp, tự túc, phát triển thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Một trong những nội dung trọng tâm phát triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay là khôi phục và phát triển các ngành nghề thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống trong khu vực nông thôn, góp phần thu hút lao động dôi

dư, giải quyết việc làm, đồng thời nâng cao thu nhập và từng bước cải thiện đời sống nhân dân Từ đó giảm được làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị, khơi dậy tiềm năng vốn có của địa phương, góp phần gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc, tạo ra sự chuyển biến tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Cùng với phong trào thi đua yêu nước, công cuộc “đổi mới” của tỉnh nói chung và thị xã Từ Sơn nói riêng, những năm qua thị xã Từ Sơn luôn là đơn vị có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao Đóng góp không nhỏ trong tổng giá trị sản xuất của thị xã Từ Sơn là các ngành nghề thủ công nghiệp (TCN), trong đó làng nghề truyền thống đóng vai trò nòng cốt Các làng nghề truyền

Trang 3

thống chủ yếu ở Từ Sơn là sản xuất sắt thép, sản xuất đồ gỗ mỹ nghệ, dệt

Sự phát triển của các làng nghề đã thu hút hàng vạn lao động tại địa phương, góp phần đáng kể vào giải quyết lao động dư thừa và thiếu việc làm trong nông thôn, nâng cao thu nhập, mức sống cho người dân, khơi dậy những tiềm năng vốn có tại địa phương, góp phần tích cực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn

Từ Sơn có vị trí nằm giữa hai thành phố là Hà Nội và Bắc Ninh, thị xã

Từ Sơn có tốc độ đô thị hóa khá nhanh, với nhiều làng nghề truyền thống có

từ lâu đời, các làng nghề này có tác động tích cực đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống nhân dân ngày càng ổn định và không ngừng nâng cao Đây là điều kiện tốt cho các làng nghề truyền thống có thể tiếp cận, tăng khả năng thích ứng với các hoạt động của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Tuy nhiên, đô thị hóa, công nghiệp hóa tạo ra những áp lực cạnh tranh,

áp lực về công nghệ, quy mô đối với làng nghề Quá trình đô thị hóa nhanh cũng làm khó khăn trong việc đáp ứng cơ sở hạ tầng, ô nhiễm môi trường ngày một gia tăng, nảy sinh các vấn đề xã hội Vì vậy cùng với quá trình đô thị hóa, đòi hỏi phát triển làng nghề truyền thống trên địa bàn thị xã Từ Sơn phải có những định hướng giải pháp cơ bản và phù hợp, vừa đẩy nhanh quá trình đô thị hóa nhưng vẫn đảm bảo cho các làng nghề truyền thống được bảo tồn, phát triển

Xuất phát từ tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Một

số giải pháp phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu tổng quát

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển làng nghề truyền thống trong tình hình mới, trên cơ sở đó đưa ra

Trang 4

định hướng và các giải pháp chủ yếu, để phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững, trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn thị xã

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu phát triển của các làng nghề truyền thống trong quá trình

đô thị hóa trên địa thị xã Từ Sơn

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng phát triển làng nghề truyền thống

về tổ chức sản xuất, quản lý, sử dụng lao động, đất đai, tác động môi trường Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn đang gặp phải từ các làng nghề truyền thống, đưa ra các định hướng và giải pháp phát triển các làng nghề truyền thống phù hợp trong quá trình đô thị hóa

- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 3 làng nghề truyền thống trên địa bàn thị xã: Làng nghề mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, làng nghề dệt Hồi Quan và làng nghề sắt thép Đa Hội

- Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp các năm: 1999, 2000,

2009, 2010, 2011 và số liệu điều tra năm 2011

4 Những đóng góp mới của đề tài

- Tạo điều kiện để người dân có cái nhìn tổng thể về lợi ích trong phát triển làng nghề, việc bảo vệ môi trường, xúc tiến thương mại, tiếp cận các chủ

Trang 5

trương chính sách của Đảng, nhà nước để các cơ sở sản xuất kinh doanh thực hiện

- Phát huy lợi thế địa lý đưa ra các định hướng quy hoạch các điểm công nghiệp, cụm công nghiệp, nhằm chuyển các hộ sản xuất ra khỏi khu dân

cư sinh sống để đảm bảo diện tích sản xuất, tiết kiệm chi phí xây dựng cơ sở

hạ tầng, xử lý môi trường, sản xuất mang tính tập trung

- Hoán cải cách đầu tư lâu nay chỉ đầu tư cho cung sang đầu tư cho cầu

cả nhà nước và các cơ sở sản xuất

- Giúp các xã, phường, các ban quản lý các cụm công nghiệp có cách nhìn nhận, tiếp cận mới trong việc quản lý làng nghề trong các cụm công nghiệp và phát triển kinh tế theo hướng bền vững

5 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, phần nội dung nghiên

cứu Luận văn được cấu thành gồm 04 chương:

Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Chương II: Phương pháp nghiên cứu

Chương III: Phân tích thực trạng phát triển LTNN trong quá trình đô

thị hóa ở thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Chương IV: Các giải pháp phát triển LNTT trong quá trình đô thị hóa ở

thị xã Từ Sơn

Trang 6

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống

1.1.1 Một số khái niệm

1.1.1.1 Nghề truyền thống

Nghề truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện

từ lâu đời trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, kể cả những nghề đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc (Trần Minh Yến, 2004)

Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền

Nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

- Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;

- Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề

* Phân loại nghề truyền thống

- Phân loại theo trình độ kỹ thuật:

+ Nghề có kỹ thuật giản đơn: đan lát (mây tre ), chế biến lương thực, thực phẩm, vật liệu nung (làm gạch, nung vôi ) Sản phẩm của những nghề này có tính chất thông dụng và phù hợp với một nền kinh tế tự cấp, tự túc

+ Nghề có kỹ thuật phức tạp: kim hoàn, đúc đồng, làm gốm, khảm gỗ, dệt lụa Các nghề này không chỉ có kỹ thuật, công nghệ phức tạp mà còn đòi hỏi ở người thợ sự sáng tạo và khéo léo

Trang 7

- Phân lọai theo tính chất kinh tế:

+ Nghề phụ thuộc vào nền kinh tế nông nghiệp tự nhiên, sản phẩm ít mang tính chất hàng hóa, chủ yếu phục vụ nhu cầu tại chỗ như sản xuất nông

cụ như cày, bừa, liềm, hái

+ Nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp, sản phẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của người thợ, tiêu biểu là các sản phẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn

1.1.1.2 Làng nghề

Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, ở nông thôn trên địa bàn một xã (phường), có các hoạt động ngành nghề phi nông nghiệp (bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ) kinh doanh độc lập và đạt tới một tỉ lệ nhất định về lao động làm nghề cũng như thu nhập từ nghề so với tổng số lao động và thu nhập của làng Trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa (Bùi Văn Vượng, 1998)

Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí sau:

- Có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn;

- Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận;

- Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 8

* Phân loại làng nghề

- Phân loại theo số lượng nghề

+ Làng một nghề: Làng ngoài nghề nông ra chỉ có một nghề thủ công duy nhất

+ Làng nhiều nghề: Làng ngoài nghề nông ra còn có một số hoặc nhiều nghề khác

- Phân theo tính chất nghề

+ Làng nghề truyền thống: Làng nghề xuất hiện từ lâu đời trong lịch sử

và còn tồn tại đến ngày nay

+ Làng nghề mới: Làng nghề xuất hiện do sự phát triển lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du nhập từ các địa phương khác Ngay các làng nghề truyền thống cũng có sự đan xen giữa nghề mới và nghề truyền thống

1.1.1.3 Làng nghề truyền thống

Làng nghề truyền thống là làng có nghề cổ truyền, tinh xảo được tồn tại

và phát triển lâu đời trong lịch sử, trong đó gồm có một hoặc nhiều nghề thủ công truyền thống, là nơi có các các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, có nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề truyền thống lâu đời, với những sản phẩm mang tính mỹ nghệ, độc đáo, đã trở thành hàng hoá mang đậm nét văn hoá

đặc sắc địa phương Giữa họ có sự liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu

thụ sản phẩm Họ có cùng tổ nghề và đặc biệt các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc (Trần Minh Yến, 2004)

Như vậy làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời và làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống

* Phân loại làng nghề truyền thống

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ như: gốm, sứ, dệt tơ tằm, chạm khắc gỗ, đá, thêu ren

Trang 9

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và đời sống như : rèn, mộc, nề, đúc đồng, nhôm, gang sản xuất vật liệu xây dựng

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng cho nhu cầu thông thường như: dệt vải, dệt chiếu cói, làm nón, may mặc

- Làng nghề truyền thống chuyên chế biến lương thực, thực phẩm như: xay xát, làm bún, chế biến hải sản

1.1.2 Đặc điểm làng nghề truyền thống

1.1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm

- Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ

+ Đặc điểm, đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết nghề nghiệp Công cụ sản xuất chủ yếu là thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra

+ Công nghệ truyền thống không thể thay hoàn toàn bằng công nghệ hiện đại mà chỉ có thể thay ở một số khâu, công đoạn nhất định Đây là một trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm

+ Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô

Trang 10

sản phẩm của làng nghề truyền thống vẫn tồn đọng những hao phí lao động sống, đó là lao động thủ công của con người

+ Sản phẩm của làng nghề truyền thống bao gồm nhiều chủng loại như sản phẩm là tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt và các sản phẩm nghệ thuật Sản phẩm không chỉ đáp ứng các nhu cầu trong nước mà còn để xuất khẩu, đặc biệt

là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ như gốm sứ, chạm trổ, thêu ren, dệt tơ tằm đã được xuất khẩu đi nhiều nước trên thế giới và ngày càng được ưu chuộng

1.1.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

+ Việc dạy nghề theo phương thức truyền nghề từ đời này sang đời khác, tuy nhiên việc đào tạo nghề hiện nay có sự kết hợp với phương thức mới, mở các trường, lớp đào tạo nghề nhưng đồng thời vừa học, vừa làm, có

sự truyền nghề của các nghệ nhân, thợ cả đối với thợ phụ, thợ học việc

- Đặc điểm về thị trường tiêu thụ sản phẩm

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của làng nghề truyền thống được hình thành từ nhu cầu tiêu dùng sản phẩm Nhu cầu tiêu dùng thường được phân chia thành các nhóm sau:

+ Sản phẩm tiêu dùng dân dụng: Được tiêu dùng khá phổ biến ở các

tầng lớp dân cư Đối với loại sản phẩm này, tiền công lao động thấp nên giá thành sản phẩm thấp, sản phẩm phù hợp với khả năng kinh tế, tâm lý và thói quen của đa số người tiêu dùng

Trang 11

+ Sản phẩm mỹ nghệ cao cấp: Khi cuộc sống nâng cao nên tiêu dùng

sản phẩm cao cấp nhiều hơn Vì vậy nhu cầu về sản phẩm này ngày càng tăng, không chỉ về số lượng và chủng loại sản phẩm mà còn về chất lượng sản phẩm

+ Sản phẩm xuất khẩu: Bao gồm cả sản phẩm dân dụng và sản phẩm

thủ công mỹ nghệ Người nước ngoài rất ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam và trầm trồ về những nét đẹp hài hoà, chứa đựng nhiều điển tích, hoa văn tinh tế và tính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay khéo léo của thợ thủ công Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối lượng ngày càng lớn ở Đài Loan, Úc, Nhật Bản Sản phẩm mỹ nghệ khảm trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộng khắp ở châu Âu Khách du lịch nước ngoài thường bỏ ra hàng giờ, nhiều lần để ngắm nhìn và lựa chọn những món quà đặc sắc được làm từ hòn đất, cành tre, khúc gỗ, xương thú, sừng, thổ cẩm, sợi đay, bẹ ngô, kim loại đơn sơ như cuộc sống đời thường của người Việt Nam nhưng rất có hồn

- Đặc điểm về tổ chức sản xuất

Trong lịch sử phát triển làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản xuất phổ biến nhất là hộ gia đình Ngày nay, cùng với quá trình phát triển kinh tế và công cuộc đổi mới của đất nước, đã xuất hiện một số hình thức tổ chức sản xuất mới:

+ Xét theo hình thức sở hữu có các loại: Công ty TNHH, doanh nghiệp

tư nhân, hợp tác xã, liên doanh, hộ sản xuất

+ Xét theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng TTCN; các cơ sở vừa làm hàng TTCN vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm; các

cơ sở vừa sản xuất hàng TTCN vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp

1.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của LNTT

Quá trình phát triển làng nghề truyền thống chịu sự tác động của nhiều nhân tố khác nhau Ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do có những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa nên sự tác

Trang 12

động của các nhân tố không giống nhau Tuy nhiên hiểu một cách tổng quát chúng gồm có các nhân tố cơ bản sau:

Thứ nhất, là thị trường sản phẩm của làng nghề: Thị trường có sự tác

động mạnh mẽ đến phương hướng phát triển, cách thức tổ chức, cơ cấu sản phẩm và là động lực thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển Sự tồn tại và phát triển của làng nghề truyền thống phụ thuộc rất lớn vào thị trường Sản xuất càng phát triển càng thể hiện rõ sự chi phối quan hệ cung cầu, cạnh tranh trên thị trường Những làng nghề có sản phẩm độc đáo, kỹ thuật tinh xảo và luôn đổi mới để phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng sẽ có khả năng thích ứng và đủ sức cạnh tranh trên thị trường Ngược lại có những làng nghề không phát triển, mai một, thậm chí có nguy cơ mất đi là do sản phẩm không đủ sức cạnh tranh hoặc nhu cầu của thị trường không cần đến sản phẩm đó nữa (như nghề sản xuất giấy dó, tranh dân gian )

Thứ hai, là vốn cho phát triển kinh doanh: Đây là nguồn lực vật chất

quan trọng đối với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào Nhiệm vụ chủ yếu nhất của nguồn vốn là đầu tư phát triển sản xuất, cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, công nghệ Do vậy sự phát triển thịnh vượng của làng nghề cũng thụ thuộc rất lớn vào các nguồn vốn được huy động Trước đây trong nền kinh tế tự cấp

tự túc, vốn phục vụ cho sản xuất thường nhỏ bé, vốn chủ yếu là tự có hoặc huy động từ người thân trong gia đình Ngày nay để đáp ứng với nền sản xuất quy mô lớn, đáp ứng nhu cầu cao của nền kinh tế thị trường thì lượng vốn cần lớn hơn Người sản xuất muốn đầu tư đổi mới công nghệ, đưa thiết bị, máy móc vào sản xuất, góp phần tăng năng suất, chất lượng sản phẩm cần các nguồn vốn khác nhất là tín dụng

Thứ ba, là cơ sở hạ tầng: Bao gồm hệ thống đường giao thông, cấp

nước, thoát nước, thông tin liên lạc, các công trình dịch vụ thương mại, công cộng Đây là yếu tố tạo điều kiện cho quá trình sản xuất, khai thác và phát huy tiềm năng sẵn có của mỗi làng nghề Đảm bảo cho quá trình cung cấp nguyên liệu sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cũng như mở rộng quy mô sản xuất,

áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, đồng thời làm giảm

Trang 13

thiểu ô nhiễm môi trường Do vậy ở những nơi có cơ sở hạ tầng đầy đủ và đồng bộ thì các làng nghề truyền thống có điều kiện phát triển mạnh Tuy nhiên hiện nay phần lớn các làng nghề truyền thống còn đang gặp rất nhiều khó khăn vì điều kiện cơ sở hạ tầng còn thiếu và chưa đồng bộ

Thứ tư, là nguồn nhân lực: Trong các làng nghề truyền thống có các

nghệ nhân, thợ thủ công giỏi, trình độ rất tinh xảo Họ là những người tâm huyết và gắn bó với nghề, đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy nghề, đồng thời là người sáng tạo những sản phẩm độc đáo Hiện nay vẫn còn nhiều nghệ nhân tâm huyết với nghề, muốn giữ gìn văn hóa dân tộc và truyền thống của ông cha Việc truyền nghề đã không còn tuân theo các quy định khắt khe như trong phường hội thời phong kiến, nhưng những bí quyết kỹ thuật, mẫu mã sáng chế có giá trị kinh tế cao vẫn được bảo vệ để tránh bị cạnh tranh Vấn đề đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế, chất lượng nguồn lao động chưa cao, trình độ chuyên môn và văn hóa thấp, nhất là đối với các chủ doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu ngày cao của thị trường trong nước cũng như quốc tế

Thứ năm, là trình độ kỹ thuật và công nghệ: Trong cơ chế thị trường sự

phát triển của làng nghề truyền thống đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về năng suất, chất lượng, giá cả Sản phẩm sản xuất ra chịu sự cạnh tranh gay gắt

từ các sản phẩm cùng loại trong nước cũng như nhập khẩu Đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại mang tính toàn cầu thì việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ càng có tác động to lớn đến khả năng cạnh tranh, tăng năng suất lao động và chất lượng của sản phẩm

Thứ sáu, là nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất: Trong thời kỳ phương

tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật chưa phát triển, thì gần các vùng nguyên liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và phát triển các làng nghề truyền thống Hiện nay, các nguyên liệu khai thác phục

vụ cho các làng nghề chủ yếu từ môi trường tự nhiên nên vùng nguyên liệu ngày càng suy giảm (như gỗ .), gây khó khăn cho sản xuất vì nguyên liệu

Trang 14

đang bị cạn kiệt Do vậy khối lượng, chất lượng, chủng loại, khoảng cách của các nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản phẩm

Qua hệ thống các khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề truyền thống, cùng với công cuộc phát triển kinh tế của đất nước, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ trong các làng nghề truyền thống, đặc biệt là những làng nghề phát triển gần các thành phố lớn Khi đó hoạt động sản xuất làng nghề gắn với nông nghiệp, nông thôn trước kia sẽ được thay thế bằng hoạt động sản xuất quy mô lớn hơn, hình thành làng công nghiệp, ở đó sẽ có sự đầu tư về công nghệ, máy móc thay thế cho thiết bị, công cụ lạc hậu, từ sản xuất quy mô nhỏ lẻ sang quy mô lớn với năng suất và chất lượng cao hơn Tổ chức sản xuất từ hộ gia đình sang các loại hình tổ chức sản xuất lớn như Công ty, HTX Do sự phát triển của làng nghề nói riêng và sự phát triển về kinh tế, xã hội nói chung trong quá trình đô thị hóa

sẽ dẫn đến sự chuyển đổi từ nông thôn sang thành thị, khi đó các làng nghề,

xã nghề trở thành phố nghề, phường Và các làng nghề truyền thống không chỉ là nơi sản xuất như trước kia mà còn có sự phát triển của các hoạt động thương mại, dịch vụ khác

1.1.4 Phát triển làng nghề truyền thống

Tăng trưởng được hiểu là sự gia tăng về mặt số lượng của một sự vật nhất định Trong kinh tế, tăng trưởng thể hiện sự gia tăng hơn trước về sản phẩm hay lượng đầu ra của một quá trình sản xuất hay hoạt động Tăng trưởng kinh tế có thể hiểu là kết quả của mọi hoạt động kinh tế trong lĩnh vực sản xuất cũng như trong lĩnh vực dịch vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định

Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững về các tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và bảo vệ môi trường

Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro đưa ra định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là: Phát triển nhằm thỏa mãn nhu cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai

Trang 15

Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, chúng tôi cho rằng phát triển làng nghề truyền thống là sự tăng lên về quy mô làng nghề truyền thống

và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của làng nghề

Sự tăng lên về quy mô làng nghề được hiểu là sự mở rộng về sản xuất của từng làng nghề và số lượng làng nghề được tăng lên theo thời gian và không gian (làng nghề mới), trong đó làng nghề cũ được củng cố, làng nghề mới được hình thành Từ đó giá trị sản lượng của làng nghề không ngừng được tăng lên, nó thể hiện sự tăng trưởng của làng nghề Sự phát triển làng nghề truyền thống phải đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường

Trên quan điểm phát triển bền vững, phát triển làng nghề truyền thống còn yêu cầu: Sự phát triển phải có kế hoạch, quy hoạch; sử dụng các nguồn lực như tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, nguyên liệu cho sản xuất đảm bảo hợp lý có hiệu quả, nâng cao mức sống cho người lao động, không gây ô nhiễm môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

1.2 Cơ sở lý luận về đô thị và đô thị hóa

1.2.1 Một số khái niệm về đô thị và liên quan đến quá trình đô thị hóa

* Khái niệm về đô thị: Khái niệm về đô thị có tính tương đối do sự

khác nhau về trình độ phát triển kinh tế - xã hội, hệ thống dân cư Mỗi quốc gia có quy định riêng, dưới đây là một số khái niệm cơ bản:

- Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sinh sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp

- Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị

- Đô thị là nơi tập trung đông dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thúc đẩy kinh tế-xã hội của cả nước, của miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hay một vùng trong tỉnh, trong huyện (thị xã)

* Khái niệm về đô thị hóa

Đô thị hoá là hiện tượng lịch sử xảy ra ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới nhưng ở từng quốc gia qúa trình đô thị hoá lại diễn ra hết sức khác nhau

Trang 16

do tác động của các nguyên nhân khách quan và chủ quan Đô thị hoá là thước đo trình độ và là tấm gương phản chiếu trình độ phát triển kinh tế của một quốc gia, một khu vực

- Đô thị hóa là quá trình tập trung dân số vào các đô thị, là sự hình thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và đời sống (Vũ Thị Bình, 2007)

- Đô thị hóa nông thôn: Là xu hướng phát triển bền vững có tính quy

mô, một quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho nông thôn Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững

Vậy quá trình đô thị hóa diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa,

là quá trình biến đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, cơ cấu tổ chức, sinh hoạt xã hội,

cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị

Qua nghiên cứu khái niệm đô thị hóa được hiểu như sau: Đô thị hóa là quá trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện

đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số (Nguyễn Văn Áng,

2002)

1.2.2 Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị

Các tiêu chuẩn cơ bản để phân loại đô thị được xem xét, đánh giá trên

cơ sở hiện trạng phát triển đô thị tại năm trước liền kề năm lập đề án phân loại

đô thị hoặc tại thời điểm lập đề án phân loại đô thị bao gồm:

Tiêu chuẩn 1 Chức năng đô thị

Là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh;

có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Tiêu chuẩn 2 Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4 nghìn

người trở lên

Trang 17

Tiêu chuẩn 3 Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc

điểm của từng loại đô thị và được tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn

Tiêu chuẩn 4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp được tính trong phạm vi

ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65%

so với tổng số lao động

Tiêu chuẩn 5 Hệ thống công trình hạ tầng đô thị gồm hệ thống công

trình hạ tầng xã hội và hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật:

a) Đối với khu vực nội thành, nội thị phải được đầu tư xây dựng đồng

bộ và có mức độ hoàn chỉnh theo từng loại đô thị;

b) Đối với khu vực ngoại thành, ngoại thị phải được đầu tư xây dựng đồng bộ mạng hạ tầng và bảo đảm yêu cầu bảo vệ môi trường và phát triển đô thị bền vững

Tiêu chuẩn 6 Kiến trúc, cảnh quan đô thị: việc xây dựng phát triển đô

thị phải theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị được duyệt, có các khu đô thị kiểu mẫu, các tuyến phố văn minh đô thị, có các không gian công cộng phục

vụ đời sống tinh thần của dân cư đô thị; có tổ hợp kiến trúc hoặc công trình kiến trúc tiêu biểu và phù hợp với môi trường, cảnh quan thiên nhiên

1.2.3 Phân loại đô thị

* Đô thị loại đặc biệt: Chức năng đô thị là Thủ đô hoặc đô thị có chức

năng là trung tâm kinh tế, tài chính, hành chính, khoa học - kỹ thuật, giáo dục

- đào tạo, du lịch, y tế, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước Quy mô dân số toàn

đô thị từ 5 triệu người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành từ 15.000 người/km2

trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu đạt 90% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị khu vực nội thành: được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh, khu vực ngoại thành: được đầu tư xây dựng cơ bản đồng bộ mạng lưới hạ tầng và các công trình hạ

Trang 18

tầng kỹ thuật đầu mối phục vụ đô thị Kiến trúc, cảnh quan đô thị: thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 60% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị

* Đô thị loại I: Chức năng đô thị trực thuộc Trung ương có chức năng

là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước Quy mô dân số đô thị trực thuộc Trung ương có quy mô dân số toàn đô thị từ 1 triệu người trở lên, đô thị trực thuộc tỉnh có quy mô dân số toàn đô thị từ 500 nghìn người trở lên Mật độ dân số bình quân khu từ 10.000 - 12.000 người/km2 trở lên Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 85% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình

hạ tầng đô thị nhiều mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và cơ bản hoàn chỉnh; bảo đảm tiêu chuẩn vệ sinh môi trường; Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 50% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị

* Đô thị loại II: Đô thị có chức năng là trung tâm kinh tế, văn hóa,

khoa học - kỹ thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong vùng tỉnh, vùng liên tỉnh có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng lãnh thổ liên tỉnh Quy mô dân số toàn đô thị phải đạt từ 300 nghìn người trở lên Trong trường hợp đô thị loại II trực thuộc Trung ương thì quy mô dân số toàn đô thị phải đạt trên

800 nghìn người Mật độ dân số khu vực nội thành từ 8.000-10.000 người/km2

trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành tối thiểu đạt 80% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh Các khu đô thị mới

Trang 19

phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị

* Đô thị loại III: Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – kỹ

thuật, hành chính, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh hoặc vùng liên tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh

tế - xã hội của một vùng trong tỉnh, một tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh Quy mô dân số toàn đô thị từ 150 nghìn người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thành, nội thị từ 6.000 người/km2

trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thành, nội thị tối thiểu đạt 75% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị từng mặt được đầu tư xây dựng đồng bộ và tiến tới cơ bản hoàn chỉnh; Các khu đô thị mới phải đạt tiêu chuẩn đô thị kiểu mẫu và trên 40% các trục phố chính đô thị phải đạt tiêu chuẩn tuyến phố văn minh đô thị

* Đô thị loại IV: Đô thị là trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính, khoa

học - kỹ thuật, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu của một vùng trong tỉnh hoặc một tỉnh Có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng trong tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với một tỉnh Quy mô dân số toàn đô thị từ 50 nghìn người trở lên, mật độ dân số khu vực nội thị từ 4.000 người/km2

trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp khu vực nội thị tối thiểu đạt 70% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình

hạ tầng đô thị đã hoặc đang được xây dựng từng mặt tiến tới đồng bộ và hoàn chỉnh; các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị

* Đô thị loại V: Đô thị là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành về

kinh tế, hành chính, văn hóa, giáo dục - đào tạo, du lịch, dịch vụ có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc một cụm xã Quy mô

Trang 20

dân số toàn đô thị từ 4 nghìn người trở lên, mật độ dân số bình quân từ 2.000 người/km2

trở lên, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tại các khu phố xây dựng tối thiểu đạt 65% so với tổng số lao động Hệ thống các công trình hạ tầng đô thị: từng mặt đã hoặc đang được xây dựng tiến tới đồng bộ, các cơ sở sản xuất mới xây dựng phải được áp dụng công nghệ sạch hoặc được trang bị các thiết

bị giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường Kiến trúc, cảnh quan đô thị: từng bước thực hiện xây dựng phát triển đô thị theo quy chế quản lý kiến trúc đô thị

1.2.4 Đặc điểm của đô thị hóa

- Đô thị hóa luôn là bước tiếp theo của việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất

- Quá trình đô thị hóa là một quá trình lâu dài và liên tục về mặt thời gian, thống nhất giữa các lĩnh vực khác nhau khi phát triển đô thị

- Đô thị hóa gắn liền với biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội của đô thị

và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, dịch vụ do vậy đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh tế, xã hội

1.3 Quan hệ giữa quá trình đô thị hóa với sự duy trì và phát triển LNTT

1.3.1 Tác động của đô thị hóa

+ Tác động tích cực:

- Kết quả của quá trình đô thị hóa góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng kinh tế ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng kinh tế ngành nông nghiệp

- Đô thị hóa dẫn tới tập trung các nguồn lực sản xuất, khoa học, công nghệ, văn hóa, kỹ thuật và sự tập trung các khu dân cư làm cho kinh tế đô thị tăng trưởng mạnh mẽ, trong đó GDP đầu người ở các đô thị thường cao hơn từ 2 đến 3 lần GĐP bình quân đầu người của cả nước và cao hơn nhiều lần so với khu vực nông thôn (Hiệp hội đô thị Việt Nam, 2011)

- Quá trình đô thị hóa kéo theo việc đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng đồng bộ và từng bước hiện đại với chất lượng ngày càng cao, để đáp ứng nhu

Trang 21

cầu phát triển của đô thị ngày càng nhanh Đó là hệ thống cầu, đường giao thông, thông tin liên lạc, đầu tư cấp điện, chiếu sáng, cấp thoát nước đô thị, thu gom xử lý chất thải, nước thải Xây dựng hạ tầng các khu đô thị mới, khu dân

cư đô thị, khu trung tâm thương mại, dịch vụ làm cho kiến trúc cảnh quan thay đổi, diện mạo đô thị được khang trang, sáng, xanh, sạch đẹp hơn

- Đô thị hóa góp phần nâng cao trình độ nhận thức, đời sống vật chất, tinh thần của người dân

+ Những hạn chế, thách thức của đô thị hóa:

Quá trình đô thị hoá tạo sự tăng trưởng và phát triển, nhưng cũng là những thách thức tới sự phát triển ổn định của các đô thị Đó là:

- Phát triển mất cân đối: Do sự phát triển quá tập trung vào các đô thị

làm cho trình độ phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng miền ngày càng lớn Việc phát triển không gian đô thị làm giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng dòng người di dân từ nông thôn ra thành thị

- Phát triển không bền vững: Dân số đô thị tăng nhanh đã gây ra sự quá

tải hạ tầng kỹ thuật đô thị Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội ở hầu hết các đô thị phát triển chậm hơn so với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội đô thị Phát triển đô thị chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (nhất là tài nguyên đất đai, nguồn nước ngầm…), đặc biệt

là tình trạng yếu kém và lạc hậu của hệ thống cấp, thoát nước, thu gom và xử

lý chất thải rắn, hệ thống giao thông và nhà ở, làm nảy sinh các vấn đề xã hội

- Thiếu nguồn vốn trong phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị: Việt

Nam đang còn là một quốc gia nghèo, cơ sở hạ từng kỹ thuật đô thị lạc hậu lại

bị chiến tranh tàn phá, công tác cải tạo nâng cấp, phát triển mới cơ sở hạ tầng

kĩ thuật tại các đô thị theo hướng đồng bộ, hiện đại là một nhu cầu quan trọng, cấp bách trong phát triển đô thị Nguồn vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị Việt Nam đang còn hạn chế, chưa tạo ra sự linh hoạt, mềm dẻo để huy động, thu hút vốn đầu tư nên phần lớn tại các đô thị cơ sở hạ tầng kĩ thuật

Trang 22

chưa được đầu tư thỏa đáng, chưa đáp ứng được nhu cầu chung của từng đô thị Đây là một thách thức không nhỏ trong quá trình đô thị hóa có chất lượng tại Việt Nam

- Bất cập trong quản lí sử dụng đất đai đô thị: Công tác quản lí sử dụng

đất đai đô thị trong bối cảnh thiếu tầm nhìn chiến lược, quy hoạch còn yếu kém làm cho việc sử dụng đất đai kém hiệu quả, lãng phí; cho việc đầu cơ, trục lợi, giá cả tăng cao, ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống nhân dân Bởi vậy, công tác quản lí sử dụng đất đai đô thị đòi hỏi có sự đổi mới, phải có sự thống nhất phối hợp đa ngành, phải có cơ chế chính sách phù hợp, đủ mạnh làm công cụ đắc lực phục vụ công tác này

- Năng lực quản lý hành chính của các chính quyền đô thị: Tốc độ phát

triển nhanh của nhiều đô thị đã vượt khả năng quản lý, điều hành của chính quyền địa phương các cấp; việc quản lý đất đai, phát triển nhà ở, công trình dịch vụ đô thị, nhất là công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị đang là vấn đề nóng bỏng và thường xuyên ở nhiều đô thị Đội ngũ quản lí còn thiếu, còn yếu; chưa được đào tạo và bồi dưỡng chuyên nghiệp những kiến thức cơ bản

về quản lý đô thị, kiến thức về kinh tế thị trường, chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới, lúng túng trước những vần đề mới nẩy sinh

Việc phát triển của đô thị cũng đòi hỏi tất yếu phải phân cấp, xác lập lại thẩm quyền, nhiệm vụ và các mối quan hệ giữa các ngành từ trung ương đến địa phương và việc nâng cao trình độ nghiệp vụ đối với các tổ chức và bản thân cán bộ quản lý để có thể thích nghi với những vấn đề mới

- Vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu: Sự nóng dần lên của trái đất, sóng

thần, mực nước biển dâng, suy thoái nguồn tài nguyên đang là những vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu Theo cảnh báo của các nhà khoa học, Việt Nam là một trong nhiều nước bị ảnh hưởng mực nước biển dâng cao Hệ thống đô thị ven biển, nhất là khu vực phía Nam (trong đó có thành phố Hồ

Trang 23

Chí Minh) cần phải có giải pháp quy hoạch phát triển đô thị để đảm bảo phát triển bền vững

- Về an toàn xã hội, điều phối thu nhập và đói nghèo đô thị:

Vần đề đói nghèo và thất nghiệp thường diễn ra ở những đô thị phát triển nhanh nhưng thiếu cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật vững chắc, sự hiểu biết hạn chế về pháp luật của người dân kéo theo sự mất an toàn xã hội, an ninh trật tự đô thị cũng là nguyên nhân dẫn đến hấp dẫn đầu tư bị giảm sút Chênh lệch đô thị tăng nhanh dẫn đến nhu cầu về vật chất, dịch vụ đô thị khác cũng có sự chênh lệch ở mức đô khác nhau, đòi hỏi các giải pháp tổ chức cung cấp dịch vụ đa dạng, đặc biệt là y tế, nhà ở cho người nghèo và người có thu nhập thấp

Các thách thức đối với vần đề tăng trưởng đô thị ở Việt Nam hiện nay đáng được quan tâm, nếu không có giải pháp đáp ứng kịp thời và tương xứng thì có thể dẫn đến sự phát triển không bền vững ở tất cả các đô thị

1.3.2 Tác động của đô thị hóa đối với phát triển LNTT

Đô thị hóa là xu thế phát triển tất yếu của xã hội, là sự tập trung các nguồn lực cho phát triển công nghiệp, thương mại, khoa học, công nghệ, cơ

sở hạ tầng sẽ tạo điều kiền thuận lợi để phát triển sản xuất, trong đó có các làng nghề truyền thống

Quá trình đô thị hóa cũng sẽ dẫn đến “biến mất” các làng nghề truyền thống khi các làng nghề này phát triển chuyển từ nông thôn sang thành thị Mặc dù chuyển đổi từ làng nghề thành phố nghề thì những nghề truyền thống cũng thay đổi phù hợp trong hoàn cảnh xã hội mới, từ nơi trung tâm sản xuất

sẽ chuyển sang phát triển thương mại, dịch vụ, đây sẽ là nơi hoàn thiện và bày bán giới thiệu sản phẩm là chính, còn nơi gia công, sản xuất sẽ là các làng nghề vệ tinh

Quá trình đô thị hóa gắn liền với sản xuất công nghiệp hiện đại, các sản phẩm công nghiệp được sử dụng và tiêu thụ khắp nơi Tuy nhiên, đối với

Trang 24

những sản phẩm của làng nghề truyền thống có tính độc đáo, độ tinh xảo, nghệ thuật chứa đựng các giá trị văn hóa và được tạo nên bởi bàn tay khéo léo của những người thợ sẽ vẫn được tồn tại, phát triển và được coi trọng, bảo tồn

ví dụ như chạm khắc, khảm trai, sơn mài, thêu ren Còn đối với những làng nghề truyền thống mà sản phẩm làm ra được thay thế bằng công nghệ hiện đại như nghề cơ khí, tái chế kim loại, giấy thì sẽ gặp nhiều khó, thậm chí bị mai một hoặc thất truyền

Ngoài ra quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị luôn đặt ra yêu cầu cao đối với công tác bảo vệ môi trường, do đó với những làng nghề truyền thống sản xuất bằng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường sẽ không thể phát triển trong điều kiện chuyển đổi thành đô thị

1.3.3 Vai trò của phát triển LNTT trong quá trình đô thị hóa ở nông thôn

1.3.3.1 Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đô thị hóa trên thế giới được bắt đầu từ cách mạng thủ công nghiệp, sau đó là sự phát triển của công nghiệp hay công nghiệp hóa là cơ sở để phát triển đô thị Đối với nước ta đang trong giai đoạn CNH-HĐH, thì phát triển làng nghề truyền thống có vai trò tích cực làm dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp, chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao Như vậy phát triển làng nghề truyền thống góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thúc đẩy quá trình đô thị hóa nông thôn Quá trình này thấy rõ ở các vùng ven đô thị lớn và có nghề truyền thống phát triển Do từng bước được tiếp cận với nền kinh tế thị trường, người lao động cũng dần dần hình thành lối sống công nghiệp Cho đến nay sự phát triển của làng nghề truyền thống đã làm cơ cấu kinh tế ở nhiều làng nghề có công nghiệp và dịch vụ chiếm từ 60-80%, trong khi nông nghiệp chiếm 20-40%

1.3.3.2 Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập

Trang 25

Hiện nay ở nước ta quá trình đô thị hóa nhanh, việc xây dựng cơ sở hạ tầng đô thị, các khu công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ đã làm trung bình mỗi năm có khoảng 80-100 nghìn ha đất nông nghiệp bị chuyển đổi và kéo theo khoảng 1,5-2 triệu người mất việc làm Sức ép về việc làm, thu nhập đã thúc đẩy người nông dân di cư đến các thành phố, nơi thường xuyên có nhu cầu lao động, đặc biệt là lao động giản đơn Do vậy giảm tỷ lệ thất nghiệp là vấn đề thời sự của hầu hết các đô thị

Một trong những giải pháp mang tính chiến lược là phát triển những làng nghề truyền thống ở nông thôn với nhiều ngành nghề đa dạng và phong phú, có khả năng phát triển rộng khắp trong nông thôn, góp phần tích cực giải quyết một phần lao động địa phương, trong đó có cả những người bị mất đất trong quá trình đô thị hóa có điều kiện chuyển đổi sang ngành nghề khác Những năm gần đây, các làng nghề truyền thống đã thu hút được nhiều lao động, chủ yếu lực lượng lao động nông thôn, góp phần tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động

Sự phát triển của làng nghề truyền thống không chỉ thu hút lao động trong gia đình, làng xã mình mà còn thu hút được nhiều lao động từ các địa phương khác Các làng nghề truyền thống phát triển tạo ra cho hàng nghìn lao động từ nơi khác đến làm thuê như ở Bát Tràng (Hà Nội), Vạn Phúc (tỉnh Hà Tây cũ), Đồng Kỵ, Đa Hội (Bắc Ninh) Bình quân một cơ sở chuyên ngành nghề tạo việc làm thường xuyên cho 4-6 người (trong đó có 2-4 người làm thuê) Ngoài ra còn thu hút lao động thiếu việc làm từ lao động nông nghiệp bình quân 5 người/cơ sở và 2 người/hộ ngành nghề

Làng nghề truyền thống phát triển kéo theo sự hình thành và phát triển các ngành nghề khác như dịch vụ cung cấp nguyên, nhiên liệu, dịch vụ vận tải, dịch vụ tín dụng, ngân hàng Vai trò tạo việc làm của các làng nghề truyền

Trang 26

thống còn thể hiện rất rõ ở sự phát triển nghề truyền thống sang các làng nghề khác và tạo thêm nhiều việc làm cho các làng nghề này

1.3.3.3 Hạn chế sự di dân tự do

Đô thị hóa cũng tạo ra “sức hấp dẫn” về việc làm và thu nhập, về các

cơ hội đối với lực lượng lao động nông thôn Chính “sức hấp dẫn” của đô thị hóa là hiệu ứng kích thích “sức đẩy” di dân từ nông thôn ra thành thị, từ vùng này sang vùng khác, đây là điều mang tính quy luật của đô thị hóa Việc di dân tự do có xu hướng ngày càng tăng trong những năm gần đây, đặc biệt là các trung tâm đô thị, thành phố lớn Ở Hà Nội từ năm 1986-1993 hàng năm dân số tăng 55.000 người, trong đó có tới 22.000 người nhập cư Trong 4 năm

từ 1997-2001 Hà Nội đã có 161.000 người nhập cư ngoài tỉnh tức là tương đương dân số của một quận nội thành (Nguyễn Hữu Minh và Nguyễn Xuân Mai, 2005)

Để khắc phục tình trạng trên, nhà nước đã có nhiều chính sách để hạn chế di dân tự do thông qua phát triển kinh tế, xã hội nông thôn, đặc biệt chú ý phát triển ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, nghề truyền thống và dịch

vụ nông thôn

Việc khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống đã được thúc đẩy trên phạm vi cả nước và nó thực sự đã tạo ra sự chuyển biến quan trọng trong việc tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân Từ đó

giảm sức ép và hạn chế dòng di dân tự do hiện nay

1.3.3.4 Cải thiện hệ thống hạ tầng nông thôn

Làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng, là động lực trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động, đồng thời góp phần làm tăng thu nhập cho người lao động nông thôn Thực tế cho thấy ở những nơi có ngành nghề phát triển thì ở đó có thu nhập cao và mức sống cao hơn vùng thuần nông, thu nhập lao động ngành nghề cao hơn 3-5 lần lao động nông nghiệp Có những làng nghề có thu nhập cao như làng gốm Bát Tràng: Mức thu nhập bình quân

Trang 27

các hộ thấp cũng đạt từ 20 - 30 triệu đồng/năm, các hộ trung bình 40 - 50 triệu đồng/năm, còn các hộ có thu nhập cao tới hàng trăm triệu đồng/năm

Để thúc đẩy quá trình đô thị hóa khu vực nông thôn thì cơ sở hạ tầng phải được ưu tiên đầu tư trước Tại những nơi có làng nghề truyền thống phát triển, người dân có việc làm ổn định, thu nhập cao hơn, khi đó người dân trong làng nghề có điều kiện tham gia cùng nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng như đường giao thông, hệ thống điện, thông tin liên lạc và các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ đời sống văn hóa, nâng cao dân trí, sức khỏe như trường học, trạm y tế, vệ sinh môi trường Kết cấu hạ tầng nông thôn phát triển có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội nông thôn, trong đó tạo ra điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất làng nghề truyền thống, nâng cao đời sống, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thành thị và nông thôn

1.3.3.5 Đa dạng hóa kinh tế nông thôn và thúc đẩy quá trình đô thị hóa

Làng nghề truyền thống được hình thành lâu đời trong lịch sử, trải qua một thời kỳ dài sản xuất tự túc, tự cấp Ngày nay cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, chuyển đổi sang nền sản xuất hàng hóa thì làng nghề truyền thống có vai trò quan trọng đối với kinh tế xã hội ở nông thôn Hình thành và phát triển nền sản xuất hàng hóa đa dạng các loại sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường Ngoài ra nó còn kéo theo sự phát triển của nhiều nghề khác như thương mại, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc

Phát triển làng nghề truyền thống góp phần đa dạng hóa kinh tế nông thôn, tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn Do sự phát triển sản xuất và mở rộng thị trường làm hình thành nên các trung tâm giao lưu, buôn bán, dịch vụ và trao đổi hàng hóa Vì vậy có thể thấy ngay ở một làng nghề phát triển thì hình thành ở đó phố chợ sầm uất Chính nhờ có quá trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp mà qúa trình đô thị hóa diễn

ra “từ làng ra phố” (Bùi Văn Vượng, 1998) Từ đó hình thành cụm dân cư với

Trang 28

lối sống đô thị ngày một rõ nét Nông thôn thay đổi và từng bước được đô thị hóa qua việc xuất hiện các thị trấn, thị tứ Vậy phát triển làng nghề truyền thống thúc đẩy đô thị hóa nông thôn, đây là một xu hướng tất yếu, thể hiện trình độ phát triển kinh tế, xã hội nông thôn

1.3.3.6 Bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa dân tộc

Quá trình đô thị hóa hiện nay đang diễn ra mạnh mẽ ở nước ta, nhưng

do thực hiện công cuộc đô thị hóa không hài hòa giữa các vùng dân cư, các vùng kinh tế chiến lược của đất nước làm cho đời sống văn hóa bị ảnh hưởng xấu Đi cùng với quá trình đô thị hóa là sự ảnh hưởng của các trào lưu văn hóa du nhập từ các nước khác nhau Trong đó cũng có các văn hóa có nội dung không lành mạnh, không phù hợp và có tác động xấu đến văn hóa, thuần phong, mỹ tục của đất nước (Trần Trọng Đăng Đàn, 2006) Vì vậy khôi phục

và phát triển làng nghề truyền thống có ý nghĩa quan trọng trong việc gìn giữ, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa ở nước ta

Lịch sử phát triển làng nghề truyền thống gắn liền với lịch sử phát triển văn hóa dân tộc, đồng thời là sự biểu hiện chung nhất bản sắc văn hóa dân tộc Các sản phẩm của làng nghề truyền thống làm ra là sự kết tinh, sự giao lưu và phát triển các giá trị văn hóa, văn minh lâu đời của dân tộc Những sản phẩm đó mang nét đặc sắc riêng, đặc tính của mỗi làng nghề Với những đặc điểm ấy chúng không chỉ còn là hàng hóa đơn thuần mà đã trở thành sản phẩm văn hóa có tính nghệ thuật cao và được coi là biểu tượng nghề truyền thống của dân tộc Việt Nam Nghề truyền thống, đặc biệt là nghề thủ công mỹ nghệ là những di sản quý giá mà các thế hệ cha ông đã sáng tạo ra và truyền lại cho các thế hệ sau (Bộ Công nghiệp, 1996)

1.4 Cơ sở thực tiễn

1.4.1 Phát triển làng nghề ở một số nước trên thế giới

Trang 29

* Trung Quốc: Nghề thủ công của Trung Quốc có từ lâu đời và nổi

tiếng như gốm, dệt vải, dệt tơ lụa, luyện kim và nghề làm giấy Sang đầu thế

kỷ XX, Trung Quốc đã có khoảng 10 triệu thợ thủ công chuyên nghiệp và không chuyên làm việc trong các hộ gia đình, trong các phường nghề và các làng nghề Đến năm 1954, các ngành nghề TTCN được tổ chức vào các HTX, sau này trở thành các xí nghiệp Hương Trấn và cho đến nay vẫn tồn tại một số làng nghề

Xí nghiệp Hương Trấn là tên gọi chung các xí nghiệp công thương nghiệp, xây dựng và hoạt động ở khu vực nông thôn Nó bắt đầu xuất hiện vào năm 1978 khi Trung Quốc thực hiện chính sách cải cách mở cửa Xí nghiệp Hương Trấn phát triển mạnh mẽ đã góp phần đáng kể vào việc thay đổi bộ mặt nông thôn Vào những năm 1980 các xí nghiệp cá thể và làng nghề

đã phát triển nhanh, góp phần tích cực trong việc tạo ra 68% giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn

* Đài Loan: Trong quá trình CNH Đài Loan đã xây dựng các cơ sở

công nghiệp nhỏ sản xuất hàng tiêu dùng và chế biến thực phẩm trong nông thôn Ngoài ra các làng xã vẫn phát triển các nghề cổ truyền, các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, phục vụ du lịch và xuất khẩu Do CNH nông thôn và ngành nghề truyền thống phát triển mà số hộ nông dân chuyên làm ruộng đến nay chỉ còn trên dưới 9%, trong đó cơ cấu thu nhập của các hộ nông dân thu nhập từ hoạt động ngoài nông nghiệp chiếm 60 - 62%

* Nhật Bản: Ngành nghề TTCN của Nhật Bản bao gồm nhiều ngành

nghề khác nhau như chế biến lương thực, thực phẩm, nghề đan lát, nghề dệt chiếu, nghề thủ công mỹ nghệ Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, tuy tốc độ CNH và phát triển nhanh, song một số làng nghề vẫn tồn tại và các nghề thủ công vẫn được mở mang Họ rất quan tâm chú trọng đến việc hình thành các

xí nghiệp vừa và nhỏ ở thị trấn, thị tứ ở nông thôn để làm vệ tinh cho các xí nghiệp lớn ở đô thị

Trang 30

Đi đôi với việc thúc đẩy các ngành nghề thủ công cổ truyền phát triển, Nhật Bản còn chủ trương nghiên cứu các chính sách, ban hành các luật lệ, thành lập các viện nghiên cứu, viện mỹ thuật và thành lập nhiều văn phòng cố vấn khác Nhờ đó các hoạt động phi nông nghiệp hoạt động một cách tích cực, thu nhập từ các ngành phi nông nghiệp chiếm tới 85% tổng thu nhập của các hộ Năm 1993 các nghề thủ công và các làng nghề đạt giá trị sản lượng tới 8,1 tỷ đô la

* Hàn Quốc: Sau chiến tranh kết thúc, Chính phủ Hàn Quốc đã chú

trọng đến CNH nông thôn, trong đó có ngành nghề thủ công và làng nghề truyền thống Đây là một chiến lược quan trọng để phát triển nông thôn Các mặt hàng được tập trung chủ yếu là: hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ du lịch và xuất khẩu, ngành nghề TCN và sản xuất chế biến lương thực, thực phẩm theo công nghệ cổ truyền

Chương trình phát triển các ngành nghề ngoài nông nghiệp ở nông thôn tạo thêm việc làm cho nông dân bắt đầu từ năm 1997 Chương trình này tập trung vào các nghề sử dụng lao động thủ công, công nghệ đơn giản và sử dụng nhiều nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương, sản xuất quy mô nhỏ khoảng 10

hộ gia đình liên kết với nhau thành tổ hợp, ngân hàng cung cấp vốn tín dụng với lãi suất thấp để mua nguyên liệu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm

Phát triển ngành nghề thủ công truyền thống được triển khai từ những năm 1970-1980 đã có 908 xưởng thủ công dân tộc, chiếm 2,9% các xí nghiệp vừa và nhỏ, thu hút 23 nghìn lao động theo hình thức sản xuất tại gia đình là chính với 79,4% là dựa vào các hộ gia đình riêng biệt và sử dụng nguyên liệu địa phương và bí quyết truyền thống

* Thái Lan: Là nước có nhiều ngành nghề TTCN và làng nghề truyền

thống Các nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ như chế tác vàng, bạc, đá quý và đồ trang sức được duy trì và phát triển tạo ra nhiều hàng hoá xuất khẩu, đứng vào hàng thứ hai trên thế giới Do kết hợp được tay nghề của các

Trang 31

nghệ nhân tài hoa với công nghệ, kỹ thuật tiên tiến nên sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao, cạnh tranh được trên thị trường Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm mỹ nghệ vàng bạc đá quý năm 1990 đạt gần 2 tỷ đô la Nghề gốm sứ cổ truyền của Thái Lan trước đây chỉ sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước nhưng gần đây ngành này đã phát triển theo hướng CNH, HĐH và trở thành mặt hàng xuất khẩu thu ngoại tệ lớn thứ 2 sau gạo Vùng gốm truyền thống ở Chiềng Mai đang được xây dựng thành trung tâm gốm quốc gia với 3 mặt hàng: gốm truyền thống, gốm công nghiệp và gốm mới, được sản xuất trong 21 xí nghiệp chính và 72 xí nghiệp lân cận Cho đến nay 95% hàng hoá xuất khẩu của Thái Lan là đồ dùng trang trí nội thất và quà lưu niệm Bên cạnh đó, nghề kim hoàn, chế tác ngọc, chế tác gỗ vẫn tiếp tục phát triển đã tạo việc làm và tăng thu nhập cho dân cư nông thôn

* Ấn Độ: Là nước có nền văn hoá, văn minh rất lâu đời được thể hiện

rất rõ trên các sản phẩm thủ công truyền thống Bên cạnh nghề nông, hàng triệu người dân sinh sống bằng các nghề TTCN với doanh thu hàng năm gần

1000 tỷ rupi Ở nông thôn Ấn Độ trong thời kỳ CNH nhiều cơ sở công nghiệp mới, công nghiệp sản xuất công cụ cải tiến, công nghiệp cơ khí chế tạo và công cụ chế biến được phát triển Đồng thời Chính phủ còn khuyến khích các ngành công nghiệp cổ truyền và TTCN cùng phát triển Vào những năm 1980 lực lượng thợ thủ công hoạt động trong các làng nghề là 4-5 triệu người chuyên nghiệp, chưa kể hàng chục triệu nông dân làm nghề phụ, có những nghề sản xuất ra hàng tiêu dùng thủ công mỹ nghệ cao cấp như kim hoàn, vàng, bạc, ngọc ngà, đồ mỹ nghệ

* Kinh nghiệm rút ra từ sự phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề

truyền thống của các nước trên thế giới đối với Việt Nam:

- Thông qua sự phát triển làng nghề, ngành nghề TCN của một số nước được trình bày ở trên, thì muốn phát triển TCN trước hết phải chú ý phát triển làng nghề và ngành nghề truyền thống Từ đó tạo thị trường nông thôn rộng

Trang 32

lớn cho các sản phẩm phi nông nghiệp và dịch vụ, góp phần thúc đẩy làng nghề phát triển theo hướng CNH Để tăng năng suất lao động và giảm lao động nặng nhọc, nhiều ngành nghề cổ truyền đã trang bị một phần máy móc thiết bị cơ khí và nửa cơ khí, kết hợp bàn tay điêu luyện và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân Vì thế các ngành nghề thủ công mỹ nghệ cổ truyền đang

có điều kiện phát triển mạnh Chính điều này đã tạo điều kiện để nông dân tiếp cận kỹ thuật tiên tiến, làm quen với tác phong sản xuất công nghiệp

- Đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực ở nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp phát triển của làng nghề tiểu thủ công nghiệp Các nước đều chú ý đầu tư cho giáo dục và đào tạo tay nghề cho người lao động

để họ tiếp thu được kỹ thuật tiên tiến Hiện nay các nước đều sử dụng triệt để các phương pháp huấn luyện tay nghề cho người lao động: bồi dưỡng tại chỗ, bồi dưỡng tập trung, bồi dưỡng ngắn hạn, theo nguyên tắc thiếu gì bổ sung huấn luyện nấy Các trung tâm, các viện nghiên cứu để đào tạo nghề được thành lập một cách có hệ thống theo nhu cầu của các địa phương Ngoài ra các nước cũng rất chú ý đến kinh nghiệm thực tiễn, tức là mời các nhà kinh doanh, nhà quản lý có kinh nghiệm trong việc CNH nông thôn để báo cáo những chuyên đề hoặc mang các sản phẩm đi triển lãm, trao đổi

- Vai trò của nhà nước trong việc giúp đỡ, hỗ trợ về mặt tài chính, vốn cho các làng nghề truyền thống phát triển sản xuất kinh doanh Sự hỗ trợ về vốn, tài chính của nhà nước thông qua các dự án cấp vốn, bù lãi suất cho ngân hàng, bù giá đầu ra cho người sản xuất Thông qua sự hỗ trợ, giúp đỡ này mà các làng nghề truyền thống lựa chọn kỹ thuật gắn với lựa chọn hướng sản xuất Nhà nước tạo điều kiện cho các ngành, nghề thủ công truyền thống đổi mới công nghệ, mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường

- Nhà nước có chính sách thuế và thị trường phù hợp để thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển Đi đôi với việc hỗ trợ về tài chính, tín dụng là

Trang 33

chính sách thuế và thị trường của nhà nước để khuyến khích làng nghề truyền thống phát triển

- Khuyến khích sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN, giữa trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống, thúc đẩy nhau cùng phát triển

Sự kết hợp giữa đại công nghiệp với TTCN và trung tâm công nghiệp với làng nghề truyền thống là thể hiện sự phân công lao động, thông qua hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau, nhất là trong vấn đề lựa chọn kỹ thuật và lựa chọn hướng sản xuất Để tạo dựng cho mối quan hệ này, ở hầu hết các nước đều thiết lập chương trình kết hợp giữa các trung tâm công nghiệp với LNTT (Mai Thế Hởn, 1999)

- Việc phát triển ngành nghề TCN, làng nghề truyền thống đã được các nước trên thế giới và trong khu vực xem đó là một giải pháp phát triển kinh tế

xã hội nhằm tạo ra nhiều việc làm, tăng thu nhập, nâng cao đời sống nhân dân nông thôn Hơn nữa các nước cũng còn xem xét phát triển TCN như là một biện pháp để thực hiện công nghiệp hoá (CNH)- hiện đại hoá (HĐH) nông nghiệp nông thôn

1.4.2 Phát triển làng nghề ở Việt Nam

Nghề truyền thống ở nước ta xuất hiện từ rất sớm Từ thời kỳ Bắc thuộc (thế kỷ I trước công nguyên đến đầu thế kỷ X), ngoài sản xuất nông nghiệp đã hình thành và phát triển các làng nghề TTCN Các làng nghề này chủ yếu sản xuất các công cụ và vật dụng làm bằng sắt, đồng, giấy, thủy tinh, mộc

Vào thế kỷ IV, trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm của Ấn Độ, người Việt Nam đã thổi những bình, bát thủy tinh nhiều màu sắc Dưới thời Ngô đô hộ, hàng nghìn thợ thủ công Việt Nam bị bắt đưa sang Trung Quốc để xây dựng kinh đô Kiến Nghiệp (Nam Kinh)

Vào thời kỳ Lý-Trần (thế kỷ X-XIV) ngoài việc phát triển nông nghiệp như khai hoang vùng ven biển, củng cố đê điều thì TTCN và thương nghiệp cũng được triều đình chú trọng phát triển Nổi bật nhất là nghề dệt ở vùng

Trang 34

Thăng Long, nghề gốm ở Bát Tràng, Phù Lãng, nghề đúc đồng Đại Bái, Đê Cầu, Đông Mai (Bắc Ninh), làng rèn sắt Vân Chang (Nam Định)

Thời kỳ hậu Lê đến nhà Nguyễn, nông nghiệp phục hồi phát triển tạo điều kiện cho nghề TTCN phát triển mạnh và rộng khắp Thời kỳ này riêng ở vùng đồng bằng sông Hồng có hàng trăm nghề như nghề dệt phát triển mạnh

ở Hà Nội và Hà Tây, đúc đồng ở Ngũ Xã - Hà Nội, chế tác vàng bạc ở Châu Khê - Hải Dương, chạm bạc Đồng Xâm - Thái Bình, dát vàng quỳ Kiêu Kỵ -

Hà Nội, gốm Hương Canh - Vĩnh Phúc, gốm sứ Quan Cậy - Hải Dương, sắt

Đa Hội - Bắc Ninh

Đến thời Nguyễn (thế kỷ XIX) các ngành nghề phát triển phong phú hơn, các sản phẩm gốm, tơ lụa không chỉ phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước mà còn được đem ra trao đổi với các thương nhân nước ngoài như: Bồ Đào Nha, Hà Lan, Tây Ban Nha, Trung Quốc

Thời kỳ Pháp thuộc (cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX) nhiều sản phẩm công nghiệp xâm nhập vào thị trường Việt Nam, cạnh tranh và chiếm

ưu thế về chất lượng và công nghệ làm cho một số nghề truyền thống bị mai một và thất truyền Nhưng mặt khác lại kích thích một số ngành nghề khác phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của nhân dân Cũng trong thời kỳ này, một số nghề mới được du nhập từ Pháp và một số nước khác

Theo Nguyễn Huy Phúc, thời gian này TTCN Việt Nam có khoảng 102 phương pháp công nghệ khác nhau, trong đó có 44 loại công nghệ cổ truyền,

42 loại công nghệ mới du nhập và 16 loại công nghệ kết hợp Các nghề mới xuất hiện và du nhập vào đầu thế kỷ XX như tráng gương bằng bạc, bàn ghế mây, chế biến trà

Giai đoạn từ hoà bình lập lại đến trước những năm 1986 (Miền Nam từ 1976-1996) giai đoạn này các làng nghề được chú trọng phát triển và thị trường chủ yếu là các nước Đông Âu Mọi cá nhân, hộ làm ngành nghề được

Trang 35

vận động vào làm trong các tổ hợp tác, các hợp tác xã Đồng thời để hỗ trợ cho ngành nghề phát triển, nhà nước còn hình thành các xí nghiệp, công ty xuất nhập khẩu để thu mua, trao đổi hàng hoá lấy sản phẩm trong các ngành nghề để phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu Vào năm 1986-1987 kim ngạch xuất khẩu đạt 246 triệu Rúp - Đôla Ngành nghề TTCN phát triển đã thu hút hàng triệu lao động như ở Hà Tây năm 1986 làm nghề TTCN là 95.771 lao động, đến năm 1988 tăng lên tới 111.693 lao động, tăng 44,17%

Vào đầu những năm 1990 khi thị trường Đông Âu và Liên Xô cũ bị biến động nên hàng TTCN của Việt Nam không tiêu thụ được, sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhiều cơ sở phải đóng cửa ngừng hoạt động, lao động TTCN giảm mạnh: Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) năm 1988 có 111.693 lao động TTCN, đến năm 1991 chỉ còn 63.313 lao động, giảm 43,31% Trong thời kỳ này ở Hải Phòng, trong 6 nghề thủ công đã giảm 11.000 lao động, ở Thái Bình, nghề mây tre đan sản phẩm tiêu thụ năm 1991-1992 chỉ bằng 10-15%

so với giai đoạn 1988-1989

Từ năm 1993 trở lại đây, đường lối đổi mới kinh tế đã đem lại nhiều kết quả tích cực Chúng ta đã thực hiện chiến dịch mở rộng thị trường bằng tuyên

bố “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước”, chính vì vậy đã chuyển từ thị trường các nước Đông Âu, Liên Xô truyền thống trước đây sang các nước khác, ưu tiên các nước trong khu vực Giai đoạn này ngành nghề TTCN lại được phục hồi, chuyển hướng và phát triển

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, hiện cả nước có 1.324 làng nghề truyền thống đã được công nhận Những năm qua, Chính phủ và các bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách để phát triển sản xuất ở các làng nghề truyền thống Năm 2011, tổng giá trị sản xuất ngành nghề nông thôn đạt gần 78.195 tỷ đồng Dư nợ cho vay trong lĩnh vực này liên tục tăng, tính đến tháng 3/2012 đạt trên 53.200 tỷ đồng Bên cạnh đó, nguồn vốn hỗ trợ cho

Trang 36

nông dân, hợp tác xã, các doanh nghiệp vừa và nhỏ để phát triển ngành nghề nông thôn ngày càng được chú trọng như: Chương trình đào tạo nghề, truyền nghề và phát triển nghề cho lao động nông thôn đã đào tạo được trên 401.000 người; tỷ lệ lao động có việc làm sau đào tạo đạt trên 94% Chương trình xúc tiến thương mại đã góp phần vào việc hỗ trợ các cơ sở ngành nghề nông thôn hoạt động xúc tiến thương mại như tham gia các hội, chợ làng nghề, thủ công

mỹ nghệ trong và ngoài nước với 200 đề án, tổng kinh phí là 180 tỷ

Năm 2011, nhiều giải pháp đã được xây dựng, nhằm góp phần phát triển bền vững khu vực nông thôn những năm tới, trong đó có chính sách hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề và đất đai Theo

đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và xử

lý môi trường cho các làng nghề; ưu tiên các làng nghề sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ, các tuyến điểm phát triển làng nghề gắn với du lịch, thực hiện chính sách ưu đãi trong thuế đất, chuyển nhượng, thế chấp, quyền về sử dụng đất; giá thuê đất ở mức thấp nhất và miễn tiền thuê đất cho các cơ sở ngành nghề nông thôn; đặc biệt là nghề thủ công truyền thống của đồng bào dân tộc

và các nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống cần phải bảo tồn (Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011)

1.4.3 Phát triển làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh

Trong quá trình phát triển ngành nghề TCN ở Bắc Ninh, làng nghề đóng vai trò nòng cốt Các làng nghề của Bắc Ninh xuất hiện khá sớm, dần dần hình thành các làng nghề truyền thống

Trong từng thời kỳ phát triển, có những sản phẩm phù hợp với thị trường được mở rộng dần ra các làng trong xã thành xã nghề, như đúc đồng ở xã Đại Bái, gốm ở xã Phù Lãng hay mộc mỹ nghệ ở xã Phù Khê, Hương Mạc, Đồng Quang Ngoài ra các xã liền nhau cùng sản xuất một loại sản phẩm và tiếp tục lan sang một số xã xung quanh hình thành các cụm sản xuất sản phẩm khác nhau: Cụm hàng mộc mỹ nghệ, cụm sắt thép, cụm dệt (Từ Sơn); cụm giấy, cụm

Trang 37

hàng nhôm (Yên Phong); cụm hàng đồng, hàng nhựa (Gia Bình); cụm gốm (Quế Võ)

Trong quá trình vận động, sản xuất trong các làng nghề truyền thống cũng bộc lộ những hạn chế, mà sang thời kỳ kinh tế thị trường đã phân hoá rõ Những làng nghề truyền thống trải qua nhiều thăng trầm mà vẫn giữ được nghề, chuyển đổi sản phẩm hoặc đầu tư trang thiết bị công nghệ mới thì không những tồn tại mà còn phát triển mạnh hơn (giấy Phong Khê, thép Đa Hội, mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, Phù Khê, Hương Mạc) Những làng nghề truyền thống chậm đổi mới về sản phẩm và công nghệ thì mất dần thị trường, sản xuất bị thu hẹp, mai một

Những năm qua một số làng nghề truyền thống ở Bắc Ninh đã có sự tăng trưởng khá, trong đó phải kể đến các làng nghề: dệt, sản xuất giấy, sản xuất kim loại, sản xuất sản phẩm từ kim loại, sản xuất giường, tủ, bàn ghế Từ năm

1999 trở lại đây, nhờ có một loạt chính sách ưu tiên phát triển làng nghề và khôi phục các làng nghề truyền thống của tỉnh, một số làng nghề đã có sự phát triển nhanh Các cụm công nghiệp làng nghề được hình thành là bước đột phá trong sự phát triển TCN của Bắc Ninh (Cụm công nghiệp làng nghề sản xuất sắt thép Châu Khê, mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, giấy Phong Khê, đồng Đại Bái )

Tỉnh Bắc Ninh có vị trí địa lý thuận lợi, diện tích nhỏ, dân số đông, Bắc Ninh tự hào là đất trăm nghề Đến năm 2011 trên địa bàn tỉnh đã quy hoạch được 7 KCN tập trung và trên 40 CCN làng nghề Đây là tiền đề quan trọng

để thực hiện mục tiêu sớm đưa tỉnh Bắc Ninh trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2015 Hết năm 2011, toàn tỉnh có 62 làng nghề, phân

bố ở 37 xã trên 125 xã, phường, trong khi đó vẫn còn 73 xã thuần nông chưa

có nghề hoặc làng nghề, Trong đó có nhiều làng nghề truyền thống hoạt động trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau đã góp phần to lớn vào sự tăng trưởng kinh tế, tạo ra khối lượng hàng hoá đa dạng và phong phú phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu Làng nghề trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh phân bố không đều,

Trang 38

tập trung nhiều và phát triển mạnh ở Từ Sơn và Yên Phong có 34 làng nghề (chiếm 54,8% số làng nghề trong toàn tỉnh)

Hiệu quả sự phát triển các làng nghề ở tỉnh Bắc Ninh đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động tại địa phương và thu hút lao động ở các tỉnh lân cận, góp phần nâng cao thu nhập cải thiện chất lượng cuộc sống

Hình thức tổ chức sản xuất là hộ gia đình, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn

Căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, các làng nghề trên địa bàn tỉnh hiện nay được chia làm 3 nhóm: số làng nghề phát triển tốt, số làng nghề hoạt động cầm chừng và số làng nghề hoạt động kém, có nguy cơ mai một, mất nghề

Sự phát triển các làng nghề đã có tác động to lớn đến sự phát triển kinh

tế xã hội của tỉnh Bên cạnh những hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường thì các làng nghề cũng gặp không ít khó khăn thách thức cần khắc phục, đặc biệt là vấn đề ô nhiễm môi trường tại các làng nghề và tình trạng ô nhiễm có

xu hướng tăng

Như vậy, trong kế hoạch phát triển kinh tế nói chung và phát triển làng nghề nói riêng tỉnh Bắc Ninh cần có chính sách phù hợp nhằm phát huy tối đa những lợi ích từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của các làng nghề, đồng thời cần có những biện pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong quá trình phát triển các làng nghề nhằm hướng tới mục tiêu phát triển bền vững

Ở Từ Sơn, số làng nghề trên địa bàn thị xã cũng không ngừng tăng; năm 2011 trên địa bàn thị xã có 39 làng nghề, tăng 23 làng nghề so với năm

1999 Sự phát triển làng nghề trên cơ sở các nghề truyền thống (Sắt thép Đa Hội, đồ gỗ Đồng Kỵ, Hương Mạc, dệt Tương Giang …), các làng nghề phát triển đã giải quyết việc làm cho khoảng 51.000 lao động tại các địa phương

* Cùng với các làng nghề đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Hương Mạc, làng nghề Đồng Kỵ thật sự phát triển mạnh và trở thành “làng giám đốc” từ khoảng chục năm trở lại đây Cả phường Đồng Kỵ có hơn 300 giám đốc, bình

Trang 39

quân cứ năm, sáu hộ có một giám đốc, phó giám đốc Nhiều hộ lại có tới hai,

ba giám đốc, phó giám đốc như hộ ông Nguyễn Văn Lạc, Nguyễn Văn Khanh, Vũ Ngọc Lan Có hộ chồng làm giám đốc, vợ làm phó giám đốc, con

là nhân viên; cũng có hộ tuyển phó giám đốc là những người trẻ có trình độ, năng lực từ Hà Nội và các tỉnh về làm thuê cho mình Doanh nghiệp ra đời nhiều đến độ Khu công nghiệp Đồng Kỵ rộng 12ha nhưng chưa đáp ứng được

so với nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp Các xưởng sản xuất, trụ sở các công ty mọc lên khắp nơi, kéo dài khắp làng nghề rồi “lấn” sang cả các làng lân cận Khách hàng của làng bây giờ không chỉ ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản mà còn ở Úc, Mỹ, châu Âu … Mỗi năm, gần 80% sản phẩm sản xuất ra chủ yếu để xuất khẩu với giá trị hàng trăm tỷ đồng, đóng góp lớn vào nguồn thu ngân sách địa phương và của thị xã Từ Sơn

* Làng cổ thuộc khu phố Đa Hội, phường Châu Khê có nghề rèn từ gần

500 năm nay Đến nay nghề rèn ở đây vẫn phát triển mạnh và đã có nhiều dân làng lên Thăng Long lập nghiệp (nay thuộc phố Lò Sũ) Xưa vốn là một làng nghèo, sản phẩm rèn của làng sản xuất ra để phục vụ cho nông nghiệp như: lưỡi cuốc, xẻng, liềm cắt lúa, thuổng, mai, cày, bừa… Cho tới năm 1986, người làng Đa Hội dần chuyển từ nghề rèn thuyền thống sang làm sắt thép để bắt kịp với nhu cầu xây dựng Hiện nay ở riêng Đa Hội có 54 trạm biến áp 2.500KW Trung bình, hàng tháng số tiền Đa Hội nộp cho Sở Điện lực tỉnh trên 27 tỷ đồng Cả phường Châu Khê có 725 hộ cán kéo thép mỗi xưởng có

số vốn trên dưới 1 tỷ đồng Cả làng có trên 14.000 nhân khẩu, trong đó có khoảng 4.000 lao động sản xuất thép và còn thu hút thêm khoảng 3.000-4000 lao động từ các nơi khác Có thể thấy các chủng loại sắt thếp ở Đa Hội rất đa dạng và phong phú Từ cái đinh, tấm lưới B40 đến thép ống thép hình U, thép

V, thép I, thép vuông, thép sợi, thép xoắn, thép vằn, thép cán từ phi 6 đến phi

40, đến các loại dây buộc từ 0,2mm-6mm… Sắt Đa Hội đã có mặt trên thị trường nội địa và cả nước bạn Lào, vượt qua sự thử thách nghiệt ngã của thị

Trang 40

trường và đang khẳng định chỗ đứng của một làng nghề truyền thống Không thể phủ nhận sức sống mãnh liệt của làng nghề truyền thống Đa Hội trong cơ chế thị trường với sản phẩm mang tính thương mại này, bởi nhờ đó đã giải quyết được hàng ngàn lao động dư thừa trong làng cũng như từ các nơi khác đến lập nghiệp

* Từ Hà Nội đi Bắc Ninh Quốc lộ 1 khoảng 20km rẽ trái vào khoảng chừng hơn 1km, chúng ta tới với làng dệt Hồi Quan, xã Tương Giang Đất Hồi Quan tự hào có dòng sông Tiêu Tương thơ mộng chảy qua một thời, tuy nhiên ngày nay dòng sông xưa đã thành ruộng, thành đường của xã Tương Giang, người dân vẫn nghe văng vẳng tiếng sáo Trương Chi trong hoài niệm gợi lại mối tình giữa chàng với nàng Mỵ Nương qua câu ai oán: "Nợ tình chưa trả cho ai, khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan" Ẩn sau luỹ tre làng

là một báu vật truyền thống đến nay vẫn còn được gìn giữ và phát triển, đó chính là nghề dệt Hồi Quan Đến với Hồi Quan, bước tới cổng làng đã tạo cho

du khách sự thoải mái của làng xã Việt Nam Từ đây, con đường lớn lát gạch chỉ đã mòn đi theo thời gian, nét độc đáo của các làng cổ Bắc Bộ còn lại, đi sâu vào từng xóm ngõ chúng ta nghe rộn rã tiếng thoi đưa của các khung cửi vang vang từ những nếp nhà cổ kính, những mái ngói rêu phong làm ta lắng đọng tâm hồn

Làng dệt Hồi Quan hiện nay có 605 hộ làm nghề dệt, trong đó chiếm khoảng 5% là các hộ sản xuất lớn Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, nghề dệt có từ bao giờ và do ai truyền lại đến nay vẫn là một câu hỏi, chỉ biết rằng, từ lâu lắm rồi người làng Hồi Quan rất thạo nghề canh cửi Trước cách mạng tháng 8, hầu như nhà nào cũng có một khung cửi, nhà nhiều có tới 2-4 khung và phải thuê thợ đến làm Sản phẩm chính của làng nghề này là vải khổ hẹp (40cm), vải màn, đũi, khăn mặt… Với nghề dệt, làng xóm quanh năm nhộn nhịp, rộn tiếng thoi đưa, mọi người sống chan hoà vì nhau hơn Từ sáng đến tối, nhân lực được huy động tối đa cho sản xuất, mỗi người một việc,

Ngày đăng: 26/03/2021, 14:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w