1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại thị xã sông công tỉnh thái nguyên

96 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH =====o0o===== CHU LAN HƯƠNG MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH V

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

=====o0o=====

CHU LAN HƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG – TỈNH THÁI NGUYÊN

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP

MÃ SỐ: 60.31.10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM THỊ LÝ

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

=====o0o=====

CHU LAN HƯƠNG

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP TẠI THỊ XÃ SÔNG CÔNG – TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

THÁI NGUYÊN -2011

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công nghiệp hóa – hiện đại hóa (CNH - HĐH) là quá trình tất yếu của các quốc gia Tất cả các quốc gia muốn phát triển đều phải trải qua quá trình này, như một điều kiện để quốc gia đó phát triển kinh tế, nâng cao năng lực sản xuất của xã hội và là tiền đề để thực hiện các chiến lược, mục tiêu phát triển trong ngắn hạn cũng như dài hạn Việt nam là một nước nông nghiệp, có nền văn minh lúa nước hàng ngàn năm nay Trải qua nhiều năm đấu tranh với giặc ngoại xâm và nội xâm với một nền nông nghiệp lạc hậu và kém phát triển đã làm cho kinh tế nước ta kiệt quệ và được xếp vào danh sách những nước nghèo

và kém phát triển trên thế giới Để khôi phục, ổn định và phát triển kinh tế đất nước sau chiến tranh thì con đường nhanh nhất với nước ta đó là thực hiện việc phát triển công nghiệp mà khởi đầu của nó là xây dựng các khu công nghiệp (KCN)

Do lợi ích phát triển của công nghiệp là rất lớn, nên trong lịch sử phát triển của nhân loại từ trước đến nay, chưa có một quốc gia phát triển nào mà không trải qua giai đoạn CNH-HĐH, chuyển nền kinh tế chủ yếu từ nông nghiệp lên công nghiệp và hiện đại hóa các ngành sản xuất cũng như dịch vụ Để phát triển công nghiệp, một trong những điều kiện quan trọng nhất là phải chuyển đổi một phần diện tích đất nông nghiệp sang công nghiệp để có mặt bằng xây dựng Việc phát triển các KCN diễn ra tạo ra giá trị sản xuất lớn hơn và làm cho bộ mặt kinh tế xã hội thay đổi cả về mặt lượng và chất

Tuy nhiên bên cạnh những mặt tích cực thì quá trình này còn để lại những vấn đề tiêu cực như giải quyết việc ổn định cuộc sống, việc làm cho một bộ phận người lao động, giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường, giải quyết các vấn đề thuần phong mỹ tục, các vấn đề về văn hóa - xã hội…Không nằm ngoài

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

sự phát triển chung của cả nước, thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên trong những năm gần đây quá trình xây dựng KCN cũng diễn ra hết sức mạnh mẽ và nhanh chóng, có thể coi đây là điểm cho sự phát triển của quá trình phát triển KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Vấn đề ổn định và phát triển kinh tế cho đối tượng nông hộ bị thu hồi đất cho xây dựng KCN luôn được các cấp chính quyền địa phương quan tâm sâu sắc, chính vì vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu:

“Một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên”

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề trong phát triển kinh tế

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nông hộ dưới ảnh hưởng của quá trình phát triển các khu công nghiệp Trong đó

tập trung vào các nông hộ bị thu hồi đất để xây dựng khu công nghiệp

3.2 Phạm vi nghiên cứu

3.2.1 Phạm vi thời gian

Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011

Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2005-2010

Số liệu sơ cấp được khảo sát trong năm 2010

3.2.2 Phạm vi không gian

Đề tài được tiến hành điều tra nghiên cứu trên địa bàn thị xã Sông Công, nghiên cứu điểm tại xã Tân Quang nơi có diện tích đất xây dựng khu công nghiệp lớn nhất

3.2.3 Phạm vi nội dung

Ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến phát triển kinh tế của các nông hộ từ đó đưa ra những giải pháp phát triển kinh tế phù hợp cho từng nhóm

hộ cụ thể

4 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Góp phần hệ thống hóa lý luận và các thông tin thực tiễn về kinh tế hộ,

về tác động của quá trình phát triển KCN đến đời sống nông hộ và các giải pháp

ổn định, phát triển

- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về thực trạng ảnh hưởng của các hộ bị mất đất sản xuất trên địa bàn Các ứng xử của nông hộ, cách sử dụng tiền đền bù của các nhóm hộ Giúp địa phương nhận dạng được các vấn đề hiện đang nảy sinh trong các nông hộ bị ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN

- Giúp địa phương có các chính sách và giải pháp ổn định kinh tế cho nông hộ, đặc biệt là các hộ nghèo thiếu kinh nghiệm và khả năng xoay sở kém, các hộ bị mất nhiều đất sản xuất và đang gặp các vấn đề khó khăn

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Thực trạng ảnh hưởng của các khu công nghiệp đến đời sống hộ nông dân ở Thị xã Sông Công – Thái Nguyên

Chương 3: Một số giải pháp nhằm ổn định và phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất trong quá trình phát triển khu công nghiệp tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Khái niệm, đặc trưng của kinh tế hộ

1.1.1 Khái niệm nông hộ

Khi tiến hành nghiên cứu mô hình kinh tế nông hộ nhiều học giả trên thế giới đã đưa ra quan điểm riêng của mình về nông hộ và kinh tế nông hộ để làm

cơ sở cho việc nghiên cứu Từ đó xây dựng các đề án để nghiên cứu, phát triển kinh tế nông hộ Theo Elis (1988) nông hộ được định nghĩa như sau:

- Hộ nông dân là các hộ, thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh chưa cao

Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh doanh đựa trên các nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan trong quá trình tồn tại

và phát triển

1.1.2 Đặc trưng của kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau:

+ Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị tiêu dùng

+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường

+ Ngoài hoạt động nông nghiệp các nông hộ còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau làm khó giới hạn thế nào là một nông hộ

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau

+ Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất

+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu tố sản xuất Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên trong

hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản khác của

hộ Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ

+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất Trong nông hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết thống Hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất Cho nên tính thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao

+ Kinh tế nông hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao Do kinh tế

hộ có quy mô nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình thức sản xuất khác có quy mô lớn hơn, thí dụ như các xí nghiệp sản xuất … do vậy

mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp sản xuất khi gặp các điều kiện bất lợi

+ Có sự gắn bó chặt chẽ giữa quá trình sản xuất với lợi ích của người lao động Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau không chỉ trên cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết quả sản xuất

và lợi ích của người lao động Lợi ích kinh tế là động lực thúc đẩy hoạt động của

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế của hộ

Kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả Sản xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp Kinh tế nông hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nông nghiệp có quy mô lớn Đặc biệt, kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế hợp nhất với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng

và vật nuôi Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh cho chúng ta thấy rõ: Kinh tế nông hộ có quy mô nhỏ chủ yếu sử dụng lao động gia đình gắn bó với vật nuôi và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả

“Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ gia

đình cũng rất quan trọng, vì nó không những là “tế bào” của xã hội, là đơn vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà còn

là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế Nhưng trước xu thế quốc tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển”

1.2 Một số lý luận chung về phát triển khu công nghiệp

1.2.1 Khái niệm về khu công nghiệp

Hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa theo lãnh thổ có xu hướng phát triển ngày càng rộng rãi trên thế giới và ở nước ta là cụm công nghiệp, khu công nghiệp tập trung, khu công nghiệp kỹ thuật cao và khu chế xuất Các hình thức tổ chức doanh nghiệp theo hướng tập trung chuyên môn hóa đó có nét đặc trưng tổng quát chung là mật độ tập trung khá cao một số doanh nghiệp và các hoạt động phục vụ trên một khu vực có không gian giới hạn Song, giữa chúng có những nét đặc thù riêng về quy mô và ranh giới địa lý, về tính chất sản xuất của các doanh nghiệp, về tổ chức quản lý

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

+ Theo Nghị định số 192/CP ngày 25.12.1994 của Chính phủ, các KCN được định nghĩa là các khu vực công nghiệp tập trung, không có dân cư, được thành lập với các ranh giới được xác định nhằm cung ứng các dịch vụ để hỗ trợ sản xuất

+ Như vậy, khu công nghiệp là một khu vực sản xuất công nghiệp tập trung trên một phạm vi lãnh thổ nhất định Một khu công nghiệp có thể gồm các cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công nghiệp

+ Cụm công nghiệp được phân bổ trên phạm vi lãnh thổ không lớn Các

cơ sở thuộc cụm công nghiệp có thể là đơn vị cùng nganh hoặc khác ngành nhưng có mối liên hệ sản xuất với nhau hoặc sử dụng chung một kết cấu hạ tầng

+ Khu công nghiệp kỹ thuật cao tập trung những doanh nghiệp công nghiệp thuộc những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao và những cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu

và ứng dụng triển khai tổ chức có hiệu quả, loại hình khu công nghiệp này cũng được coi là hạt nhân cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước

1.2.2 Vai trò của khu công nghiệp

Trong thời kỳ CNH-HĐH việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp là cần thiết và được nhà nước khuyến khích

Từ năm 1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các

DN nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp Lợi ích của việc sản xuất tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo tiết kiệm

về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi

Các khu công nghiệp, khu chế xuất được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống vừa không thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa gây ô nhiễm môi

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

trường xung quanh khu dân cư làm ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân

cư trong vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân

Trên góc độ hiệu quả kinh tế thì khu công nghiệp trở thành động lực của vùng kinh tế Không có khu công nghiệp thì không có vùng kinh tế trọng điểm theo ý nghĩa kinh tế thị trường Sự tách rời khu công nghiệp với vùng kinh tế theo địa phương là không phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế thị trường, là sai lầm về thể chế quản lý Nhà nước Trong khi ở nước ta hơn 60% diện tích đất trong khu công nghiệp còn bỏ hoang thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không

có mặt bằng đủ cho sản xuất kinh doanh Báo chí cho biết ngay ở các địa phương giá đất rẻ mà tiền thuê đất trong khu công nghiệp đã chiếm 30% tổng vốn của doanh nghiệp, do hoạt động của đơn vị chuyên trách xây dựng cơ sở hạ tầng kém hiệu quả, chi phí cao Đó là một trong những nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp lảng tránh khu công nghiệp

Khu công nghiệp là nơi kết hợp sức cạnh tranh của doanh nghiệp với sức cạnh tranh kinh tế vĩ mô Ngày nay, vị thế của doanh nghiệp và của cả nền kinh

tế cũng như của đất nước đều được quyết định bởi sức cạnh tranh trên thị trường Đối với các nước đang phát triển như nước ta, tiến hành CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường thế giới đã phát triển cao thì thách thức lớn nhất trước mắt và lâu dài là vấn đề sức cạnh tranh Thách thức ấy ngày càng trở nên lớn hơn theo tiến trình hội nhập, nhất là ở giai đoạn kinh tế tri thức và toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới như hiện nay Để giải bài toán sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập chỉ có con đường kết hợp nâng cao sức cạnh tranh của kinh tế

vĩ mô đồng thời với nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Khu công nghiệp là mô hình kết hợp như thế một cách có hiệu quả Chính ở các khu công nghiệp chứ không phải ở đâu khác, lợi thế so sánh của đất nước có thể trực tiếp chuyển thành lợi thế cạnh tranh và nâng cao uy tín chính trị của Nhà nước

Khu công nghiệp còn là nơi đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

lượng cao cho quá trình hiện đại hóa đất nước Chính việc các lao động trong nước được thu hút vào làm việc trong các KCN sẽ có được năng lực và tác phong làm việc chuyên nghiệp, thậm chí có cả các cấp quản lý bậc cao cũng được hình thành từ đây Tuy vậy, số lượng lao động trực tiếp và quản lý trong các khu công nghiệp chưa đạt được chất lượng và cơ cấu phù hợp Thực tế này, một mặt do các KCN chưa tạo được các điều kiện cần thiết cho người lao động chỗ ăn ở đi lại và nhất là tiền lương còn quá thấp (mức thu nhập bình quân của người lao động ở đây khoảng 1,2-1,5 triệu đồng/tháng, kéo dài trong nhiều năm

và tính cả tiền tăng ca) Mặt khác, công tác đào tạo của nước ta còn kém về tay nghề và cơ cấu chưa phù hợp với KCN

1.2.3 Đặc điểm của khu công nghiệp

Khu công nghiệp thể hiện những đặc trưng chung nhất của tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ Khu công nghiệp là khái niệm phổ biến nhất ở nhiều nước Trên góc độ khác nhau của sự phân bố, khu công nghiệp được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:

+ Xét về quy mô: Do điều kiện thuận lợi về tài nguyên, lao động, vị trí địa

lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nên có những khu công nghiệp phát triển gắn với những thành phố hàng triệu dân hoặc hàng chục vạn dân Bên cạnh đó có khu công nghiệp chỉ bao gồm một số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ gắn với các thị trấn, thị xã vài vạn dân

+ Xét về vị trí địa lý: Khu công nghiệp được phân bố trong một tỉnh, một vùng, trên lãnh thổ liên tỉnh, liên vùng

+ Xét về trình độ phát triển: Nếu xét trong mỗi thời điểm nhất định nào đó

có thể thấy khu công nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, có khu công nghiệp cần đầu tư xây dựng bổ xung, có khu công nghiệp đang xây dựng Trong tiến trình phát triển, việc phân loại khu công nghiệp theo cách này chỉ

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

mang ý nghĩa tương đối

Về mặt pháp lý:

+ Đầu tư vào KCN bao gồm các thành phần kinh tế Việt Nam và các nhà đầu tư nước ngoài Những bộ phận tham gia trong khu công nghiệp sẽ phải hoạt động theo luật tương ứng, người nước ngoài theo luật đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước theo luật doanh nghiệp nhà nước,…

+ Việc xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp có thể gồm nhiều đối tượng tham gia: công ty, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, xí nghiệp liên doanh với nước ngoài, công ty 100% vốn nước ngoài Vấn đề

tổ chức điều hành hoạt động của khu công nghiệp là ban quản lý các khu công nghiệp

Mục tiêu phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam là tranh thủ tiếp nhận công nghệ kỹ thuật cao, tiên tiến của thế giới, giải quyết việc làm cho người lao động trên cơ sở đảm bảo thu nhập tương xứng với mức hao phí lao động trong tương quan với giá cả sức lao động của thị trường thế giới

1.2.4 Tính tất yếu khách quan của việc phát triển KCN

Thực chất của việc thu hồi một phần diện tích đất để chuyển sang phát triển công nghiệp là phân bố lại nguồn lực đất đai của xã hội theo hướng hiệu quả Do là nguồn lực tự nhiên nên diện tích đất sử dụng cho sản xuất và đời sống của một quốc gia có tính cố định Nhưng nhu cầu về đất lại ngày một tăng, nên tình trạng khan hiếm về đất là không thể tránh khỏi Khan hiếm nguồn đất càng trở thành vấn đề lớn đối với nước ta khi bình quân đất tự nhiên vào loại thấp so với nhiều nước trên thế giới, chỉ khoảng 0,4 ha/người còn đất nông nghiệp chỉ

có 0,1 ha/người

Muốn tăng thêm phần diện tích đất cho phát triển công nghiệp thì phải giảm nguồn đất sử dụng vào các mục đích khác, về mặt kinh tế tức là không thể

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hy sinh sản xuất một lượng hàng hóa ở các ngành khác để đánh đổi lấy sự tăng trưởng cao hơn của ngành sản xuất công nghiệp Đó chính là lựa chọn mà xã hội phải đặt ra Một nền kinh tế có hiệu quả tức là không bị lãng phí, là cách thức phân bổ nguồn lực sao cho đạt được kết quả tối ưu Thế nhưng một trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng KCN là phải chuyển đổi đất từ đất sản xuất nông nghiệp Đối với những nước đất đai được thừa nhận là của dân, việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các chủ sở hữu thuộc các ngành kinh tế chủ yếu được thực hiện thông qua quan hệ mua bán do cơ chế thị trường và quan hệ cung-cầu điều tiết, nhà nước chỉ hỗ trợ việc chuyển đổi đạt được mục tiêu nhà nước đã lựa chọn

Đối với nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nên nhà nước có quyền giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng và có quyền thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử dụng

Về thực chất, đất nông nghiệp là đất Nhà nước giao cho nông dân quyền sử dụng vào phát triển sản xuất nông nghiệp Theo pháp luật, người nông dân không chỉ

có quyền có đất sản xuất, mà còn có các quyền trong sử dụng đất, được hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất khi được Nhà nước giao Việc Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển sang phát triển CN và xây dựng các kết cấu hạ tầng khác trong giai đoạn đẩy mạnh CNH-HĐH là cần thiết và đây là lẽ đương nhiên của người đại diện chủ sở hữu đất

Đây không phải là việc làm tùy tiện, mà nó được xuất phát từ yêu cầu CNH-HĐH đất nước vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia Không những thế, nó còn do chính yêu cầu phát triển ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn Bởi lẽ

sự phát triển CN không chỉ tạo cơ hội việc làm mới mà nó còn tạo nhiều cơ hội phát triển cho các đối tượng khác nhau và đây cũng là nội hàm của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý Bên cạnh đó nó cũng tạo ra sức mua của các sản

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

phẩm được sản xuất từ nông nghiệp Còn những sản phẩm được sản xuất ra từ

CN sẽ là những yếu tố sản xuất và hàng tiêu dùng đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất và đời sống của người dân nông thôn Nhờ phát triển CN mà người nông dân có điều kiện tham gia thị trường tiêu thụ sản phẩm và mua sắm hàng hóa, cung cấp các nguyên vật liệu cho CN và lương thực, thực phẩm cho những người làm CN

1.2.5 Cơ sở để xây dựng khu công nghiệp

Để xây dựng khu công nghiệp hợp lý cho từng vùng, từng lãnh thổ phải dựa trên các nguyên tắc sau đây:

- Có khả năng tạo ra kết cấu hạ tầng thuận lợi về giao thông vận tải, cung cấp điện nước và thải nước Xử lý môi trường đảm bảo có hiệu quả và phát triển bền vững lâu dài, có đủ dư địa để mở rộng và phù hợp với những tiến bộ khoa học và công nghệ của nền văn minh công nghiệp và hậu công nghiệp

- Có khả năng cung cấp nguyên liệu tương đối thuận lợi, hoặc tốt hơn là trực tiếp với nguồn nguyên liệu Đôi khi do cự ly và yêu cầu bảo quản nguyên liệu, quy mô xí nghiệp công nghiệp phải thích hợp để đảm bảo hiệu quả

- Có nguồn lao động cả về số lượng và chất lượng đáp ứng được yêu cầu sản xuất với chi phí tiền lương thích hợp

- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và ngoại tiêu

- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử dụng đất để xây dựng khu công nghiệp

- Chú ý kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn

Theo các chuyên gia đến từ Nhật Bản, chìa khóa cho sự thành công của

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các khu công nghiệp là vị trí, dịch vụ hạ tầng và năng lực quản lý

1.3 Vấn đề ruộng đất và nông dân trong nền kinh tế thị trường

Đất đai là điều kiện đầu tiên kiên quyết cho mọi hoạt động của con người, đặc biệt ruộng đất nó gắn liền với nông dân Giải quyết vấn đề ruộng đất, tức là giải quyết mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nông nghiệp, trong đó chủ yếu là mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng

Trong nông nghiệp, đất đai được coi là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay thế vì nó vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động trong nông nghiệp vì nó chịu tác động của con người để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì nó phát huy tác động như một công cụ lao động Con người dùng đất đai để trồng cấy và chăn nuôi, vì vậy không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp

Luật đất đai năm 1993, luật đất đai năm 1998, luật đất đai năm 2003 và nhiều chỉ thị về đất đai như chỉ thị 100 CT-TW ngày 31/10/1981 về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm người lao động trong HTX nông nghiệp; Chỉ thị 33 CT-TW ngày 28/03/1988 về việc thi hành luật đất đai; Chỉ thị 47 CT-TW ngày 31/08/1988 về giải quyết một số vấn đề cấp bách về ruộng đất; Nghị quyết TW5 khóa III ngày 10/06/1993 về tiếp tục đổi mới và phát triển nông thôn đã mang lại quyền lợi về ruộng đất gắn liền với quyền sử dụng và quyền sở hữu đất cho nông dân Điều đó giúp cho người nông dân yên tâm sản xuất Những văn bản luật và dười luật đã gắn người nông dân với đất đai vì thế sản xuất nông nghiệp ngày càng phát triển

Ngày nay, sự hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế vận động theo kinh tế thị trường thì nhiều khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp mới ra đời và phát triển, đây là một xu hướng phát triển tất yếu nảy sinh các vấn

đề như đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, nông dân ngày càng ít ruộng đất

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

để sản xuất sẽ dẫn tời thời gian nhàn rỗi trong dân tăng lên, dư thừa lao động trong nông thôn ngày một nhiều, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận người lao động nông nghiệp nông thôn Vấn đề cần phải có giải pháp giải quyết, tháo gỡ kịp thời để đáp ứng sự thay đổi và điều chỉnh theo hướng an sinh xã hội Thời gian gần đây Chính phủ đã ban hành một số nghị định về các vấn đề liên quan đến thu hồi và bồi thường đất sản xuất nông nghiệp của nông dân như sau:

+ Thông tư số 69/2006/TT-BTC của Bộ tài chính ngày 02/08/2006 về sửa đổi bổ sung cho Thông tư số 116/2004/TT-BTC, cụ thể là sửa đổi, bổ sung một

số điều khoản: điểm 3 mục 3 phần I về chi trả bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; điểm 3.1 mục 3 phần II về giá đất để tính bồi thường, chi phí đầu tư vào đất còn lại; mục 2 phần IV về hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm; mục 3 và mục 4 phần VII về mức chi cho công tác tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư: “Không quá 2% tổng số kinh phí bồi thường, hỗ trợ của dự án”

+ Thông tư 14/2008/TTLB-BTC-BTNMT của Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 31/01/2008 về hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 84/2007/NĐ-CP: hướng dẫn về hỗ trợ đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, đất vườn, đất ao xen kẽ với đất ở trong khu dân cư; hướng dẫn kinh phí chuẩn bị hồ sơ Địa chính cho khu đất bị thu hồi bao gồm kinh phí do nhà đầu tư trả sẽ được quyết toán vào vốn đầu tư của dự án, kinh phí do Nhà nước trả sẽ được quyết toán vào nguồn kinh phí hoạt động của Tổ chức phát triển quỹ đất hoặc cơ quan Tài nguyên – Môi trường hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất; hướng dẫn lập, thẩm định và xét duyệt phương án tổng thể

về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và việc lập thêm “Hội đồng thẩm định” khi cần thiết

+ Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ và tái định cư về cơ bản được tóm tắt như sau: Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền tính theo giá đất cùng mục đích sử dụng Xác định giá đất sát với giá thị trường tại thời điểm quyết định thu hồi đất

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được bồi thường bằng đất được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm theo 1 trong các hình thức sau đây:

- Hỗ trợ bằng tiền từ 1,5 – 5 lần giá đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi;

- Hỗ trợ bằng 1 suất đất ở hoặc 1 căn hộ chung cư hoặc 1 suất đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp Trường hợp người được hỗ trợ có nhu cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo cho 1 khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất thuộc đối tượng chuyển đổi nghề

1.4 Tác động của việc phát triển khu công nghiệp đến nông hộ

Trong giai đoạn 2000 - 2010, chuyển dịch đất đai ở Việt Nam diễn ra rất sôi động, có được và cũng có chưa được, cụ thể như sau:

Đất ở tăng trên 24.000 ha mỗi năm, trong đó trung bình đất ở tại nông thôn tăng gần 18.000 ha mỗi năm, đất ở tại đô thị tăng hơn 6.000 ha mỗi năm Đất ở nông thôn tăng do đáp ứng nhu cầu phát triển gia đình ở nông thôn, đất ở tại đô thị tăng chủ yếu do giao đất cho cho các dự án xây dựng kinh doanh nhà ở

và do chuyển các khu dân cư nông thôn sang đô thị theo quy hoạch Diện tích đất xây dựng đô thị của cả nước tăng nhanh, năm 2010 tăng gấp gần 2 lần so với năm 2000 Năm 2000, chúng ta có 629 đô thị với diện tích 990.276 ha đất với cư dân chiếm 24% dân số cả nước; năm 2010, số lượng đô thị tăng lên 752 với

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.372.038 ha đất và 30% dân số cả nước; quy hoạch đến năm 2020 sẽ có 1.000

đô thị với khoảng 2.000.000 ha đất và 50% dân số cả nước [ 2 ]

Đất làm cơ sở sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp tăng lên khoảng 19.000 ha mỗi năm Đất khu công nghiệp tăng 77 nghìn ha và đất làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh riêng lẻ cũng tăng tới 78 nghìn ha

Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư (năm 1991) cho tới cuối tháng 12/2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập 250 khu công nghiệp, chiếm 72 nghìn ha đất, trong đó 46 nghìn ha làm mặt bằng sản xuất

đã lấp đầy được 46% Hệ thống các cụm công nghiệp do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập gồm khoảng 650 cụm đã có quyết định thành lập với

28 nghìn ha đất, tỷ lệ lấp đầy đạt 44% Theo quy hoạch đến năm 2020, cả nước

sẽ có 558 khu công nghiệp với diện tích 200 nghìn ha, tăng 128 nghìn ha so với năm 2010 Theo quy hoạch của các tỉnh, đến năm 2020 cả nước sẽ có 1.872 cụm công nghiệp, sử dụng 76.520 ha đất

Tỷ lệ lấp đầy của các khu công nghiệp còn quá thấp, trong khi diện tích mặt bằng sản xuất, kinh doanh ngoài khu công nghiệp vẫn được giao đất, cho thuê đất với một diện tích tương đương như tổng các khu công nghiệp Đây là một khuynh hương không tốt đang diễn ra trên thực tế

Thủ tướng Chính phủ đã quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghệ cao, khu kinh tế ven biển, khu kinh tế cửa khẩu, khu kinh tế - quốc phòng và đã quyết định thành lập nhiều khu công nghệ cao, khu kinh tế Hiện nay, cả nước có 2 khu công nghệ cao là Khu Công nghệ cao Hòa Lạc với tổng diện tích 1.586 ha và Khu Công nghệ cao Tp Hồ Chí Minh với tổng diện tích 913 ha; 23 khu kinh tế cửa khẩu đã được thành lập, đang xây dựng, hoạt động, quy hoạch đến năm 2020 tăng lên thành 30 khu kinh tế cửa khẩu trên phạm vi cả nước; 15 khu kinh tế ven biển đã được thành lập Tổng diện tích đất đai chiếm trên 2 triệu ha Theo dư luận hiện nay, mới chỉ có một vài khu kinh tế

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

hoạt động có hiệu quả, hầu hết đang chiếm giữ nhiều đất nhưng triển khai chậm, không thu hút được đầu tư, chưa tạo được động lực phát triển

Đất sử dụng vào mục đích công cộng để xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tăng lên khoảng 41.000 ha mỗi năm, trong đó đất giao thông tăng khoảng 16.000 ha mỗi năm Sự thực, hạ tầng kỹ thuật nước ta đã đóng góp nhiều vào tạo cơ hội phát triển nhưng đầu tư còn thiếu trọng tâm Tỉnh nào cũng muốn

có sân bay, tỉnh ven biển nào cũng muốn có vài cảng nước sâu

Về tổng diện tích đất đã thu hồi, theo báo cáo của 49 đơn vị hành chính cấp tỉnh, trong giai đoạn từ 2004 tới 2009, đã thu hồi khoảng 750.000 ha để giao hoặc cho thuê cho khoảng 29.000 dự án đầu tư, trong đó khoảng 600.000 ha là đất nông nghiệp, 300.000 ha là đất chuyên lúa thuộc 2 vùng kinh tế trọng điểm gắn với Hà Nội và tp Hồ Chí Minh Như vậy, có thể thấy trong giai đoạn này

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã quyết định thu hồi trung bình mỗi năm khoảng 100.000 ha đất nông nghiệp để sử dụng vào mục đích công nghiệp hóa và đô thị hóa Quá trình phát triển các khu đô thị và các dự án bất động sản, các khu công nghiệp, các khu kinh tế ở Việt Nam được khắc họa như dưới đây Con số về diện tích đất bị thu hồi ở đây có vẻ nhiều hơn con số chuyển dịch đất đai ở trên ghi nhận theo kết quả kiểm kê đất đai [ 2 ]

Nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH chính là việc chuyển dịch mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển công nghiệp, dịch vụ, và xây dựng đô thị tăng nhanh, điều này dẫn đến một

bộ phận không nhỏ lao động trong nông nghiệp rơi vào tình trạng không có việc làm trong khi Nhà nước chưa có chính sách đồng bộ để giải quyết việc làm cho

số lao động nói trên Do đó thất nghiệp, tăng trưởng kinh tế, lạm phát là 3 vấn đề quan trọng trong nền kinh tế thị trường đã và đang thể hiện rõ ở nước ta Ba chỉ

số này phản ánh một cách khái quát nhất, toàn diện nhất thực trạng nền kinh tế,

xã hội của mỗi quốc gia

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hiện nay thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang là mối quan tâm của Chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế và mọi người trên thế giới Giải quyết việc làm cho người lao động đang trở thành vấn đề toàn cầu, là một thách thức lớn của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Ở Việt Nam, thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ là bài toán khó trong quá trình vận động và phát triển của nền kinh tế trên con đường CNH, HĐH đất nước

Do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp và đô thị ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong những năm gần đây nên một diện tích lớn đất nông nghiệp đã phải chuyển sang để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới và các công trình kết cấu kỹ thuật Việc chuyển mục đích đối với đất nông nghiệp nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, việc làm của người bị thu hồi đất Theo kết quả điều tra thì trung bình cứ mỗi hộ dân bị thu hồi đất có 1,5 lao động mất việc làm

Tại thành phố Hà Nội, chỉ tính trong giai đoạn 3 năm từ 2003 đến 2006 đã

có gần 90.000 lao động mất việc làm Tính đến hết năm 2007, Hà Nội có khoảng 200.000 người thất nghiệp do mất đất sản xuất Thành phố đã đưa ra nhiều giải pháp như hỗ trợ đào tạo nghề cho một người trong độ tuổi lao động là 3,8 triệu đồng, tuy nhiên việc sử dụng khoản hỗ trợ này chưa có hiệu quả

Tại thành phố Hồ Chí Minh thì trong vòng 05 năm trở lại đây, thành phố

đã triển khai 412 dự án, diện tích đất đã thu hồi của các hộ dân lên tới 60.203.074m2; tổng số hộ bị ảnh hưởng là 53.853 hộ trong đó có 20.014 hộ bị giải tỏa trắng; tổng dự toán chi phí bồi thường cho các hộ dân khi Nhà nước thu hồi đất lên tới hơn 12.300 tỷ đồng Tuy nhiên, nhiều người sau khi nhận tiền bồi thường, tiền hỗ trợ đã sử dụng vào việc mua sắm phương tiện đi lại, vật dụng sinh hoạt chứ không chú tâm đến việc học nghề, giải quyết việc làm Có gia đình trở nên giầu có sau khi nhận tiền bồi thường (có cả tỷ đồng) nhưng chỉ sau một vài năm lại rơi vào tình cảnh khó khăn do thất nghiệp

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trước khi bị thu hồi đất, phần lớn người dân đều có cuộc sống ổn định vì

họ có đất sản xuất có tư liệu sản xuất mà đất sản xuất, tư liệu sản xuất đó được

để thừa kế từ thế hệ này cho các thế hệ sau Sau khi bị thu hồi đất, đặc biệt là những hộ nông dân bị thu hồi hết đất sản xuất, điều kiện sống và sản xuất của hộ

bị thay đổi hoàn toàn Mặc dù nông dân được giải quyết bồi thường bằng tiền, song họ vẫn chưa định hướng ngay được những ngành nghề hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống

Trong những năm vừa qua, cùng với quá trình phát triển KCN, hiện đại hóa đất nước thì một diện tích lớn đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn đã được chuyển sang đất công nghiệp và đô thị Người dân không còn đất canh tác buộc phải chuyển đổi sang các ngành sản xuất khác, trong số đó có ngành chăn nuôi, đặc biệt là nuôi các loại gia súc, gia cầm như: lợn, gà, trâu, bò Mặt khác,

do tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nên nên hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình dần bị xóa bỏ và chuyển dần sang hình thức chăn nuôi theo quy mô lớn hơn Chính việc gia tăng số lượng vật nuôi một cách đột ngột cùng với cơ sở hạ tầng chuồng trại không đảm bảo, trình độ quản lý của người dân thấp, cộng với ý thức bảo vệ môi trường của người dân không cao dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải, phân thải ra từ hoạt động chăn nuôi

ở nhiều vùng nông thôn nước ta

Kết luận: quá trình phát triển KCN tạo ra nhiều cơ hội để phát triển kinh

tế cho các nông hộ nhưng bên cạnh đó nó cũng là một thách thức lớn mà người nông dân phải đối mặt từ góc độ kinh tế đến tình cảm, nếu như biết tận dụng và

sử dụng tốt các nguồn lực đó thì sẽ tạo đà bứt phá cho kinh tế nông hộ nhưng nếu không nó lại là rào cản cho quá trình phát triển và tích lũy kinh tế của hộ

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.5 Thực trạng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam

có 170 KCN (chiếm 68% tổng số KCN của cả nước) đã đi vào hoạt động, số còn lại đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Các KCN chủ yếu được thành lập

ở ba vùng kinh tế trọng điểm (vùng kinh tế trọng điểm phía bắc; vùng kinh tế trọng điểm phía nam; vùng kinh tế trọng điểm miền trung), song cho đến nay cả nước có 57 tỉnh, thành phố có KCN được thành lập

Hiện nay, các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỉ (chiếm 30% FDI cả nước), còn lại là vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước Nếu tính về giá trị sản xuất công nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn 30% giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,5 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp Ngoài ra, các KCN phát triển

đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước ) Những kết quả này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Ðó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; tạo công ăn việc làm cho người lao động; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế; nâng trình độ công nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, v.v Như vậy, các KCN thật sự là một động lực mạnh

mẽ của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa [ 5 ]

1.5.1 Tình hình cho thuê đất và thu hút đầu tư

Từ khi bắt đầu thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư (năm 1991) đến cuối tháng 12/2010, đã có 250 khu công nghiệp được thành lập, chiếm 71,394 ha đất, trong đó 45.854 ha có thể sử dụng làm mặt bằng sản xuất, đã đưa 21.095 ha vào sử dụng với tỷ lệ lấp đầy 46%

Hiện nay, các KCN đã thu hút được 8.500 dự án đầu tư trong và ngoài

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nước với tổng vốn đăng ký khoảng 70 tỉ USD, trong đó vốn đầu tư nước ngoài hơn 52 tỉ (chiếm 30% FDI cả nước) [5]

Những năm gần đây, vùng Đồng bằng sông Hồng đã đạt được những kết quả tích cực trong quy hoạch, xây dựng và thu hút đầu tư vào KCN Kết quả đó không những đạt được ở các tỉnh, thành phố thuộc Vùng kinh tế trọng điểm Bắc

bộ như Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh mà còn thể hiện khá rõ ở các tỉnh nam đồng bằng sông Hồng như

Hà Nam, Nam Định, Thái Bình

Mặc dù vậy, trong 2 năm vừa qua, đặc biệt là năm 2009, do suy thoái kinh

tế toàn cầu tác động tới thu hút đầu tư và triển khai các dự án trên phạm vi cả nước, tình hình sử dụng đất và thu hút đầu tư vào các KCN của vùng cũng chịu những ảnh hưởng nhất định Việc sử dụng đất và thu hút đầu tư vào các KCN của vùng được tóm lược qua những kết quả chính sau đây:

Quỹ đất phát triển KCN theo quy hoạch được duyệt đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 tiếp tục được sử dụng để thành lập và xây dựng KCN Trong hai năm 2008 và 2009, các tỉnh, thành phố vùng Đồng bằng sông Hồng

đã thành lập thêm 9 KCN với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 2.400 ha và diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê đạt khoảng trên 1.500 ha Số lượng và diện tích KCN gia tăng hàng năm tương đối ổn định ở mức 4-5 KCN và 1.200-1.500 ha mỗi năm Tính đến cuối năm 2009, vùng Đồng bằng sông Hồng có 61 KCN được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên trên 13.800 ha, trong đó có 9.400 ha đất công nghiệp có thể cho thuê So với cả nước, vùng Đồng bằng sông Hồng chiếm 26% về số lượng KCN và 23% về diện tích đất tự nhiên các KCN

Các KCN tiếp tục triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, một số KCN đã cơ bản hoàn thành công tác chuẩn bị hạ tầng để thu hút đầu tư Trong

số 61 KCN đã thành lập, 49 KCN đã cơ bản hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng

và đi vào vận hành với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 9.550 ha, chiếm 70%

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

tổng diện tích đất tự nhiên của các KCN đã thành lập trong vùng Tính đến cuối năm 2009, tổng vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng các KCN vùng Đồng bằng sông Hồng đạt gần 2.300 triệu USD và 12.200 tỷ đồng, trong đó vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 30% Tỷ lệ này tương đối thấp và có phần giảm sút do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế làm chững lại tiến độ góp vốn đầu tư xây dựng

Trong 2 năm gần đây, do xu hướng giảm sút đầu tư chung và có thêm một số KCN thành lập mới, tỷ lệ lấp đầy diện tích đất công nghiệp của các KCN

có giảm sút so với các năm trước Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy vẫn được duy trì ổn định đối với các KCN đang vận hành Tổng diện tích đất đã cho thuê của các KCN đang vận hành đạt gần 4000 ha, chiếm khoảng 65% tổng diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê Bên cạnh một số KCN đã cơ bản sử dụng hết diện tích đất công nghiệp có thể cho thuê như Thăng Long, Nomura, Tiên Sơn, Quế

Võ I, Đồng Văn I, Hoà Xá, một số KCN mới thành lập cũng đã đạt được những kết quả bước đầu tích cực trong thu hút đầu tư như Yên Phong I, VSIP Bắc Ninh, Phú Nghĩa, Đồng Văn II

Công tác quy hoạch phát triển KCN tại các địa phương được chấn chỉnh theo hướng lập quy hoạch tổng thể hệ thống KCN trên địa bàn trong dài hạn Tình trạng địa phương đề xuất quy hoạch KCN tràn lan hoặc bổ sung quy hoạch từng KCN riêng lẻ được hạn chế Tính phù hợp của quy hoạch KCN với quy hoạch sử dụng đất và vấn đề sử dụng đất nông nghiệp trong quy hoạch KCN cũng được cân nhắc kỹ lưỡng trong quá trình xây dựng quy hoạch KCN ở các địa phương đồng bằng sông Hồng Đối với các địa phương có truyền thống nông nghiệp như ở đồng bằng sông Hồng, việc sử dụng đất nông nghiệp là khó tránh khỏi trong quá trình quy hoạch và phát triển KCN phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và trình duyệt Đề

án quy hoạch KCN cũng như phương án triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, các địa phương đã có sự tính toán, cân nhắc cẩn trọng về tính hiệu quả

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

của phát triển KCN trên đất nông nghiệp được chuyển đổi đảm bảo và nâng cao đời sống cho người nông dân có đất bị thu hồi để phát triển KCN [ 7 ]

Theo Báo cáo tình hình hoạt động các KCN – KCX thành phố Hồ Chí Minh năm 2010, tổng vốn đầu tư thu hút kể cả cấp mới và điều chỉnh tại các khu công nghiệp, khu chế xuất của thành phố đạt khoảng 775 triệu đô la Mỹ, tăng 123% so với năm 2009, trong đó có 255 triệu đô la Mỹ từ các dự án vốn đầu tư nước ngoài

Các ngành nghề đăng ký đầu tư mới tại các khu công nghiệp, khu chế xuất trong năm qua chủ yếu là các ngành điện tử, cơ khí, hàng gia dụng, vật liệu xây dựng, nhựa cao cấp, hàng may mặc cao cấp Hiện nay, thành phố có 13 khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động thu hút khoảng 1.200 dự án đầu tư, thu hút lực lượng lao động khoảng 255 ngàn người [ 3 ]

1.5.2 Về hiệu quả sản xuất kinh doanh trên đất khu công nghiệp

Đã có 6.800 dự án đang hoạt động sản xuất kinh doanh và đóng góp trên 25% GDP cả nước, giá trị nhập khẩu đạt 18,5 tỷ USD, giá trị xuất khẩu đạt 19

tỷ USD và nộp ngân sách Nhà nước 19.165 tỷ đồng và 344,37 triệu USD Giá trị sản xuất công nghiệp bình quân trên 1 ha đất (đã cho thuê) đạt khoảng 1,6 triệu USD/ha/năm Các dự án đầu tư nước ngoài cũng đã tạo việc làm mới cho hơn 1,6 triệu lao động trực tiếp và gần 1,8 triệu lao động gián tiếp [ 4 ]

Khoảng 70% số dự án được cấp phép đầu tư vào KCN đã xây dựng nhà xưởng và đi vào sản xuất kinh doanh; 20% số dự án đang triển khai xây dựng nhà xưởng Tỷ lệ dự án chưa triển khai thấp chiếm 10% do trong quá trình cho thuê đất và cấp phép, chủ đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước đã có sự cân nhắc

về năng lực, khả năng triển khai của dự án

Giá trị sản xuất CN tính trên 1 ha đất đã cho thuê đạt khoảng 1,6 triệu USD/1 ha/1 năm; lớn hơn nhiều so với giá trị sản xuất nông nghiệp bình Các

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

KCN đóng góp đáng kể vào tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu của cả nước, hàng năm đạt tỷ trọng khoảng 20% Tính bình quân 1 ha đất CN đã cho thuê tạo ra giá trị xuất khẩu khoảng 700.000 USD/ha Giá trị này cao hơn giá trị xuất khẩu gạo tính trung bình cho 1 ha (khoảng 320 USD/ha)

Hiện nay, các KCN đã tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động làm việc trực tiếp trong KCN, bình quân 1 ha đất CN đã cho thuê thu hút được trên 70 lao động trực tiếp, nếu tính theo diện tích đất CN của các dự án thực tế đã đi vào hoạt động thì số lượng lao động bình quân sẽ còn cao hơn (một số dự án mới cấp phép đầu tư) ; trong khi đó 1 ha đất nông nghiệp chỉ thu hút được khoảng 10-12 lao động [ 1 ]

1.5.3 Về đất quy hoạch phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất

Tổng diện tích đất KCN đã thành lập và dự kiến thành lập mới và mở rộng theo quy hoạch đến năm 2015 là gần 90.000 ha Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 là của các địa phương, tổng diện tích đất dành cho phát triển KCN đến 2010 trên 142.000 ha Như vậy, tổng diện tích đất KCN đã thành lập

và quy hoạch đến năm 2015 mới đạt hơn 63% so với tổng diện tích đất KCN theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 [ 1 ]

Kết quả kiểm tra công tác quy hoạch phát triển KCN ở các địa phương trên cả nước cho thấy việc xây dựng quy hoạch KCN của các địa phương nhìn chung đều phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương theo từng thời kỳ được phê duyệt Nhìn chung, việc thành lập KCN phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển KCN trên cả nước được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo từng thời kỳ Chỉ có một số ít KCN đã quy hoạch nhưng chưa triển khai được vì đền bù, giải phóng mặt bằng

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.5.4 Về sử dụng đất nông nghiệp và an ninh lương thực trong quy hoạch phát triển khu công nghiệp

Thực tế ở một số địa phương, đặc biệt là vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long có sử dụng đất nông nghiệp, đất trồng lúa nước trong phát triển KCN Đây là vấn đề khó tránh khỏi khi thực hiện CNH, HĐH Theo thống kê sơ bộ, diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi trong các KCN đã thành lập khoảng trên 10.000 ha, chiếm trên 20% tổng diện tích đất tự nhiên của KCN Diện tích đất trồng lúa trong các KCN quy hoạch phát triển đến năm 2015 ước tính từ 8000-10.000 ha Tổng diện tích đất trồng lúa được chuyển đổi để phát triển các KCN đến năm 2015 từ 18.000 – 20.000 ha Mặt khác, các địa phương phát triển nhiều KCN thời gian qua như ở Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long thì diện tích đất trồng lúa so với diện tích đất tự nhiên của KCN chiếm tỷ

lệ 7-8%, thấp hơn so với tỷ lệ này ở vùng đồng bằng sông Hồng và một số tỉnh miền Bắc

Việc phát triển KCN đã có những tác động tích cực đến nông dân, nông nghiệp và nông thôn, góp phần hiện đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn; thu hút nhiều lao động ở nông thôn; tăng thu nhập, nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động khu vực nông thôn … Qua đó, KCN đã góp phần cải thiện đời sống của người dân khu vực nông thôn

Bên cạnh đó, các địa phương còn sử dụng đất nông nghiệp cho các công trình như đường giao thông, phát triển đô thị, khu dân cư, các khu kinh doanh tập trung khác Việc sử dụng đất trồng lúa vào mục đích phát triển công nghiệp, dịch vụ, hạ tầng kinh tế… đã được địa phương cân nhắc kỹ khi lập quy hoạch

Các địa phương chủ yếu sử dụng đất trồng lúa có năng suất thấp, 1 vụ và không ổn định để phát triển KCN, đa số các KCN ở miền Trung và miền Nam nếu có sử dụng đất lúa thì đều là đất có năng suất thấp hơn nhiều so với năng suất lúa trung bình trên cả nước Chỉ có một số tỉnh ở đồng bằng sông Hồng như

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam sử dụng đất lúa có năng suất cao hơn năng suất trung bình để phát triển KCN Tuy nhiên, đối với các địa phương này thì việc sử dụng một phần diện tích đất nông nghiệp để phát triển KCN là thực sự cần thiết

để đẩy nhanh tốc độ tăng giá trị sản xuất CN, tạo động lực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng công nghiệp hóa và đảm bảo an ninh lương thực

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số

2031/VPCP-CN ngày 31/3/2008 về không phát triển K2031/VPCP-CN trên đất nông nghiệp có năng suất

ổn định và Quyết định số 391/QĐ-TTg ngày 18/4/2008, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đã có văn bản hướng dẫn các địa phương trong xây dựng quy hoạch phát triển KCN; tổ chức thẩm định các đề án quy hoạch phát triển KCN của địa phương; rà soát, xây dựng phương án điều chỉnh quy hoạch KCN trên cơ sở tuân thủ chặt chẽ việc bảo đảm không xây dựng KCN trên đất lúa có năng suất ổn định và bảo đảm an ninh lượng thực, đồng thời tổ chức các đoàn kiểm tra tình hình triển khai quy hoạch KCN, trong đó có vấn đề sử dụng đất phát triển KCN

ở các địa phương

1.5.5 Một số khó khăn, hạn chế trong quá trình phát triển các KCN

- Một số KCN triển khai không đúng tiến độ nên diện tích đất sử dụng cho

dự án chưa được khai thác Số dự án đầu tư vào KCN đi vào sản xuất kinh doanh tuy chiếm tỷ lệ lớn, tuy nhiên các dự án chưa thực sự triển khai đầu tư hết các hạng mục theo dự án được duyệt nên tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đầu tư đăng ký của dự án còn thấp (khoảng 40%)

- Công tác đền bù giải phóng mặt bằng ở một số KCN còn khó khăn, ảnh hưởng tới tốc độ triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng KCN và làm chậm tiến độ khai thác quỹ đất KCN Việc chi trả tiền đền bù giải phóng mặt bằng nhìn chung đều được triển khai theo quy định, song các công việc sau đền bù như

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

chuyển đổi nghề nghiệp, đào tạo, tái định cư, ổn định đời sống lâu dài cho người dân, đặc biệt là người nông dân ở một số KCN còn chưa thực sự được quan tâm đúng mức

- Các địa phương còn gặp nhiều khó khăn trong việc đánh giá năng lực của nhà đầu tư cơ sở hạ tầng KCN nên đã có một số KCN do chủ đầu tư kém năng lực huy động vốn, kinh nghiệm xây dựng hạ tầng, hoặc chưa thực sự tập trung hoàn thành hạ tầng KCN và chỉ đăng ký đầu tư với mục đích giữ đất Tình trạng này có ảnh hưởng tới tốc độ triển khai hạ tầng KCN cũng như chất lượng xây dựng quy hoạch KCN ở các địa phương

- Ở một số địa phương, quy hoạch phát triển KCN chưa hài hòa với quy hoạch phát triển cụm CN

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.6 Kinh nghiệm giải quyết việc làm và các vấn đề của kinh tế nông hộ trong quá trình phát triển khu công nghiệp của Trung Quốc và Nhật Bản

1.6.1 Trung Quốc

Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu Nhà nước, đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể nông dân lao động Theo quy định của Luật Đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai thuộc sở hữu nhà nước dược giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử dụng đất (xuất nhượng đất) và cho thuê đất

Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho các cơ quan nhà nước, phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì được Nhà nước giao đất theo hình thức xuất nhượng hoặc cho thuê đất

Trung Quốc là một nước đông dân nhất trên thế giới với trên 1,3 tỷ người nhưng gần 70% dân số ở khu vực nông thôn Hàng năm Trung Quốc có đến 10 triệu lao động đến độ tuổi tham gia lực lượng lao động xã hội nên yêu cầu giải quyết việc làm trở nên gay gắt Trước đòi hỏi cấp bách thực tế, ngay từ năm

1978 sau khi cải cách mở cửa nền kinh tế, Trung Quốc thực hiện phương châm

“Ly nông bất ly hương, nhập xưởng bất nhập thành” thông qua chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hưng Trấn nhằm phát triển và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phân công lại lao động ở nông thôn, rút ngắn khoảng cách nông thôn và thành thị Coi việc phát triển công nghiệp nông thôn là con đường giải quyết việc làm và nâng cao đời sống của người dân

Từ năm 1978 đến năm 1991, Trung Quốc có tới 19 triệu xí nghiệp Hưng Trấn, thu hút 96 triệu lao động bằng 13,8% lực lượng lao động nông thôn, tạo ra tổng giá trị sản lượng 1.162 tỷ NDT chiếm 1/4 GDP của cả nước Nhờ phát triển

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

công nghiệp nông thôn mà tỷ trọng lao động nông nghiệp đã giảm từ 70% năm

1978 xuống 50% năm 1991 Bình quân trong 10 năm từ năm 1980 đến 1990 mỗi năm các xí nghiệp Hưng Trấn của Trung Quốc thu hút khoảng 12 triệu lao động

dư thừa từ nông nghiệp Từ thực tiễn phát triển công nghiệp nông thôn, giải quyết việc làm ở nông thôn Trung Quốc có thể rút ra bài học kinh nghiệm:

- Trung Quốc đã thực hiện chính sách đa dạng hóa và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, khuyến khích nông dân đầu tư dài hạn phát triển sản xuất nông nghiệp và mở mang các hoạt động phi nông nghiệp Đây là nhân tố quan trọng nhất tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh

tế thu hút lao động và các hoạt động phi nông nghiệp khác ở nông thôn

- Nhà nước tăng giá thu mua nông sản một cách hợp lý, giảm giá cánh kéo giữa hàng nông nghiệp và hàng công nghiệp, khuyến khích phát triển sản xuất,

đa dạng hóa theo hướng sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế cao, phù hợp với yêu cầu thị trường, điều đó tác động đến thu nhập trong khu vực nông thôn

- Tạo môi trường thuận lợi để công nghiệp phát triển vào giai đoạn đầu của quá trình phát triển KCN-HĐH nông thôn, nhà nước thực hiện bảo hộ sản xuất hàng hóa trong nước, qua đó tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp nông thôn

- Thiết lập một hệ thống cung cấp tài chính có hiệu quả cho doanh nghiệp nông thôn, giảm chi phí giao dịch để huy động vốn cho công nghiệp nông thôn

- Duy trì và mở rộng mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp nhà nước

và doanh nghiệp nông thôn

Như vậy Trung Quốc đã thành công trong giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, bằng việc mở hàng loạt các xí nghiệp Hưng Trấn sử dụng lao động nông thôn, đồng thời kết hợp với các chính sách vĩ mô của nhà nước Đây

là một trong những kinh nghiệm quý báu có thể áp dụng vào Việt Nam để tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1.6.2 Nhật Bản

Ở Nhật Bản vấn đề cung cầu lao động được giải quyết rất hài hòa, năm

1995 cứ một chỗ làm việc trong ngành công nghiệp thì có 3,6 người xin vào làm thì đến năm 2000 cứ 01 người xin vào làm việc thì có 03 nơi cần tuyển

Xét trên góc độ kinh tế nhiều tài liệu phương tây cho biết: Nhật Bản đã duy trì được cơ cấu kinh tế “nhiều tầng” tầng trên là các công ty lớn, các xí nghiệp lớn, các tập đoàn tài chính… có từ 300 đến 1000 công nhân Còn tầng dưới 300 công nhân thậm chí có xí nghiệp khoảng 10 công nhân có tính chất gia đình Như vậy bằng “cơ cấu kinh tế hai khu vực kinh doanh sản xuất cùng tồn tại” Nhật Bản đã giải quyết được vấn đề việc làm Mọi người dân đều có việc làm, trong đó nhà nước là người đề ra chính sách và tổ chức thực hiện Ngoài ra

họ còn khuyến khích người lao động làm việc tại nhà, tạo ra tính linh hoạt của thị trường lao động Hơn nữa Nhật Bản còn chú trọng đến các chính sách, chương trình hỗ trợ nông thôn phát triển như chương trình tưới tiêu, cung cấp tín dụng, trợ giá nông nghiệp, đưa giáo dục nông học vào trường phổ thông, tạo thành các trung tâm nghiên cứu và trạm ứng dụng thử nghiệm phục vụ nông dân Những chương trình này đã tạo nên việc làm cho hộ nông dân Một nguyên nhân thành công của Nhật Bản trong việc duy trì tỷ lệ thất nghiệp ở tỷ lệ thấp là mở rộng các dịch vụ ngành nông nghiệp, bán lẻ và phân phối các lĩnh vực, nền kinh

tế thoát khỏi áp lực di dân và cạnh tranh quốc tế

1.7 Câu hỏi nghiên cứu

Đời sống của các hộ dân sau khi bị thu hồi đất thay đổi thế nào? Theo hướng tốt lên hay xấu đi? Những giải pháp nào nhằm ổn định phát triển kinh tế nông hộ bị thu hồi đất?

1.8 Phương pháp nghiên cứu

1.8.1 Chọn điểm nghiên cứu

Điểm nghiên cứu được chọn là xã Tân Quang nơi có diện tích đất thu hồi lớn

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

nhất để xây dựng khu công nghiệp, có nhiều nông hộ bị mất đất nhất

1.8.2 Thu thập số liệu

1.8.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Sử dụng các nguồn thông tin khác khác nhau để thu thập như: Báo cáo kinh tế - xã hội qua các năm 2006, 2008, 2009,2010 của thị xã Sông Công; các báo cáo về tình hình sử dụng đất, về dân số của địa phương; Báo cáo phát triển các KCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên của Ban quản lý các KCN tỉnh Thái Nguyên; trang thông tin điện tử Thái Nguyên

1.8.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Sử dụng phương pháp điều tra nhanh nông thôn (RRA) Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 70% hộ bị thu hồi đất (99 hộ) cho xây dựng khu công nghiệp tại xã Tân Quang, Thu thập số liệu bằng phương pháp phỏng vấn sâu và câu hỏi mở

Nội dung phỏng vấn gồm các vấn đề:

- Thông tin về chủ hộ, số diện tích hộ bị thu hồi, số tiền đền bù hộ nhận được, cách sử dụng tiền đền bù của hộ, đánh giá của hộ về ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN, thu nhập và chi tiêu của hộ trước và sau khi bị thu hồi đất

1.8.3 Phân tích số liệu

- Phương pháp thống kê mô tả

Được sử dụng để thu thập, mô tả số liệu về các nông hộ, các ứng xử của nông hộ trong thời gian nghiên cứu

- Phương pháp thống kê so sánh

Được sử dụng để so sánh các chỉ tiêu, các yếu tố định lượng và định tính

So sánh giữa các nhóm hộ theo tỷ lệ đất bị thu hồi Các yếu tố được so sánh với nhau qua các chỉ tiêu tuyệt đối hoặc tương đối, nhằm xác định sự thay đổi về:

- Diện tích đất canh tác, lực lượng lao động làm nông nghiệp, làm trong

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

các ngành nghề khác

- Thu nhập của nông hộ trước và sau khi bị thu hồi đất

- Đánh giá của nông hộ về mức độ tham gia thị trường, đánh giá của nông

hộ về khả năng tìm kiếm việc làm, đánh giá của hộ về tính tích cực của quá trình phát triển KCN

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC KHU CÔNG NGHIỆP ĐẾN ĐỜI SỐNG HỘ NÔNG DÂN Ở THỊ XÃ SÔNG CÔNG – THÁI NGUYÊN

2.1 Đặc điểm của thị xã Sông Công

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên

* Vị trí địa lý, địa hình

Thị xã Sông Công nằm ở phía nam tỉnh Thái Nguyên, trên vùng đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng, dốc theo hướng tây bắc – đông nam, phía đông, tây và nam giáp huyện Phổ Yên, phía bắc giáp thành phố Thái Nguyên Dòng sông Công huyền thoại chảy giữa thị xã theo hướng bắc – nam, chia thị xã thành hai vùng đông và tây Sông Công có hệ thống giao thông tương đối thuận tiện với quốc lộ 3 đi qua phía đông thị xã; tỉnh lộ 262 nối thị xã với xã Thịnh Đức của thành phố Thái Nguyên, đường liên huyện nối với xã Phúc Thuận và Phúc Tân của huyện Phổ Yên Thị xã Sông Công có 5 phường: Phố Cò, Cải Đan, Thắng Lợi, Mỏ Chè, Lương Châu và 4 xã Tân Quang, Bá Xuyên, Bình Sơn, Vinh Sơn

* Tình hình về đất đai

Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, nó là tư liệu sản xuất quan trọng tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất của xã hội Đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp thì đất đai là một tư liệu sản xuất không thể thay thế được Nó

là tiền đề để thực hiện các chương trình, kế hoạch của công nghiệp hóa hiện đại hóa Trong khi đất đai thì hạn chế mà nhu cầu sử dụng ngày càng tăng lên, nên để đảm bảo về phát triển kinh tế cấp Ủy, Chính quyền thị xã đã bố trí sử dụng tối đa nguồn lực này, vận dụng nó vào mục đích có lợi nhất để vấn đề sản xuất kinh doanh luôn được đảm bảo, phục vụ tốt cho nhịp độ phát triển chung của xã hội

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Để hiểu rõ hơn cơ cấu đất đai của thị xã chúng ta xem bảng 2.1

Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng đất đai của thị xã Sông Công qua các năm

Đơn vị tính: ha

2008/2006 2010/2008 BQ Tổng diện tích đất

II Đất lâm nghiệp 1.717,89 1.801,40 1.825,00 104,86 101,31 103,09

III Đất khu dân cƣ nông

(Nguồn: Phòng tài nguyên môi trường thị xã)

Tổng diện tích tự nhiên của thị xã là 8.346ha, trong đó cơ cấu diện tích các loại đất như sau:

Đất nông nghiệp: Diện tích đất nông nghiệp chiếm một tỷ lệ tương đối

lớn luôn lớn hơn 50% quỹ đất tự nhiên của thị xã Trong cơ cấu đất nông nghiệp

ta thấy đất trồng cây hàng năm chiếm một tỷ lệ khá cao năm 2006 tỷ lệ đất trồng cây hàng năm của thị xã là 57,85% trong tổng diện tích đất nông nghiệp, đến năm 2010 tỷ lệ này tăng lên đến 58,22% nhưng về số tuyệt đối thì diện tích giảm

Ngày đăng: 26/03/2021, 14:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w