* Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển [3]đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn như
Trang 1Phần Mở đầu
1 1 Tính cấp thiết của đề tài
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là một trong những vấn đề cơ bản mà trên toàn thế giới cũng như ở nước ta đã và đang quan tâm Nhằm giải quyết mâu thuẫn ngày càng lớn giữa sự giảm đi của diện tích đất nông nghiệp, và
sự gia tăng không ngừng về nhu cầu nông sản của con người Trong quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện nay ở nước ta có nhiều vấn đề bất cập tại những vùng trũng Do đặc điểm địa hình ở vùng trũng là độ cao trung bình thấp so với mực nước biển nên gây ra tình trạng ngập úng vào mùa mưa, đất
bị chua, Việc sử dụng đất trũng vào trồng lúa cho hiệu quả kinh tế thấp Để khắc phục tình trạng này nhiều vùng úng trũng trong cả nước đã thực hiện việc chuyển dịch từ trồng lúa sang nuôi trồng thuỷ sản, đã đem lại kết quả rất cao Phát triển nuôi trồng thuỷ sản (NTTS) đã trở thành nhu cầu thiết thực của nhiều địa phương nhất là vùng xa biển một mặt nó tạo thu nhập và tận dụng mặt nước bỏ hoang hoặc diện tích ruộng trũng canh tác kém hiệu quả Khi mà ngành khai thác gặp khó khăn do nguồn lợi bị suy giảm, trong khi đó nhu cầu về cá và các sản phẩm thuỷ sản ngày càng tăng
Trong đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Đảng
ta [1] đã nhấn mạnh: " Phát huy lợi thế về thuỷ sản, tạo thành một ngành kinh tế mũi nhọn, vươn lên hàng đầu trong khu vực Phát triển mạnh nuôi, trồng thuỷ sản nước ngọt, nước lợ và nước mặn, nhất là nuôi tôm, theo phương thức tiến bộ, hiệu quả và bền vững môi trường” Qua đó ta thấy tầm quan trọng to lớn của nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản đối với nông dân, đất nước
ta
Không những là nguồn thực phẩm, thuỷ sản còn là nguồn thu nhập trực tiếp
và gián tiếp cho một bộ phận nhân dân làm nghề khai thác, nuôi trồng, chế biến
và tiêu thụ cũng như các ngành dịch vụ cho nghề cá như cảng, bến, đóng sửa tàu thuyền, cung cấp các thiết bị nuôi, và sản xuất hàng tiêu dùng cho ngư dân
- 1 -
Trang 2Theo ước tính có tới 150 triệu người trên thế giới sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào ngành thuỷ sản Thuỷ sản cũng là một ngành tạo ra nguồn ngoại tệ quan trọng cho nhiều nước như Thái Lan, Việt Nam, Equado
Gia Bình là một huyện chiêm trũng của tỉnh Bắc Ninh Trong vùng đất trũng từ một vụ lúa bấp bênh chuyển sang nuôi cá hoặc hình thức canh tác lúa - cá với quy mô mức độ khác nhau ở một số xã trong huyện Những hộ mạnh dạn chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ ruộng một vụ lúa không ăn chắc và tận dụng diện tích sông ngòi ao hồ chưa sử dụng sang NTTS đã cho hiệu quả kinh tế cao hơn Năm 2000 sản lượng cá của huyện đạt 1.350 nghìn tấn Ngành còn tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường, tận dụng và phát huy đựơc thế mạnh nguồn lực chế của địa phương Tài nguyên - lao động - vốn, giúp huy
động vốn sẵn có tại địa phương vào sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao
Cho đến nay hình thức NTTS vẫn diễn ra nhanh và phổ biến ở nhiều địa phương có vùng đất trũng cấy lúa không hiệu quả, và đặc biệt khi có chính sách chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp với quy mô, mức độ thâm canh và hiệu quả kinh
tế khác nhau Vì vậy đánh giá tình hình NTTS trong vùng đất trũng là cần thiết Việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả kinh tế cao có ý nghĩa to lớn và bức thiết Được sự đồng ý của Trường Đại học nông nghiệp 1, Khoa Sau đại học, Khoa Kinh tế & PTNT, và cô giáo hướng dẫn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài " Thực trạng và giải pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả kinh tế Nuôi trồng thuỷ sản trên vùng đất trũng ở huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh"
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng tình hình phát triển và hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản, xác định những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó ở huyện trong thời gian qua làm cơ sở đề ra những giải pháp chủ yếu, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản của huyện trong thời gian tới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- 2 -
Trang 3- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng hiện nay trong huyện Đánh giá thực trạng hiệu quả kinh
tế trong nuôi trồng thuỷ sản ở vùng đất trũng của huyện trong những năm gần
đây
- Tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản trong vùng nghiên cứu và phát hiện ra khả năng tăng hiệu quả kinh tế nuôi trồng thuỷ sản trên vùng đất trũng ở trong huyện
- Đề xuất định hướng và một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế ngành nuôi trồng thuỷ sản của huyện trong những năm tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Địa bàn huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh
- Thời gian: Số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài về thực trạng từ năm
2001 - 2003 và đưa ra định hướng phát triển gắn liền với các giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế NTTS trên đất trũng của huyện đến năm 2010
1.4 Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm 5 phần, ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Đề tài gồm 3 phần chính:
Phần thứ 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- 3 -
Trang 4Phần thứ 3: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu Phần thứ 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- 4 -
Trang 5Phần thứ hai cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Lý luận về hiệu quả kinh tế
2.1.1.1 Các quan điểm về hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế Mục đích của sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội là đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về vật chất và tinh thần của toàn xã hội, khi nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng trở lên khan hiếm, việc nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội Dưới góc độ nghiên cứu khác nhau, phạm trù hiệu quả đang được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Khi nước ta chuyển sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì việc xác định rõ bản chất hiệu quả kinh
tế trở thành một đòi hỏi cấp bách Do vậy, hiểu đúng bản chất và có quan niệm thống nhất về hiệu quả kinh tế là vấn đề không những có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà rất cần thiết trong hoạt động thực tiễn Nó giúp các cơ sở xác
định đúng đắn các mục tiêu và giải pháp để nâng cao hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển kinh tế Hiệu quả kinh tế được xem xét dưới nhiều góc độ và quan
điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm kinh tế cùng tồn tại
- Quan điểm kinh tế truyền thống: Quan điểm này cho rằng hiệu quả kinh tế
là phần còn lại của hiệu quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí nó được
đo bằng các chỉ tiêu lãi hay lợi nhuận Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế
được xem như là tỉ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là mức sinh lời của đồng vốn Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh
Các quan điểm truyền thống trên khi xem xét hiệu quả kinh tế đã coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, xem xét hiệu quả sau khi đã đầu
- 5 -
Trang 6tư Trong khi đó, hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng không những cho phép ta xem xét kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta quyết định nên đầu tư cho sản xuất bao nhiêu, đến mức độ nào Trên phương diện này quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ Mặt khác quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế thường chưa tính đủ và chính xác Ngoài ra, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần
về mặt kinh tế mà còn cả về mặt xã hội và môi trường, có những phần thu và những khoản chi khó lượng hoá thì không thể phản ánh trong cách tính này
- Quan điểm của các nhà tân cổ điển về hiệu quả kinh tế:
Theo các nhà kinh tế tân cổ điển như Luyn Squire, Herman Gvander Tack[3] thì hiệu quả kinh tế phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán hiệu quả kinh tế, dùng chỉ tiêu hiệu quả kinh tế để xem xét trong việc đề ra các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh Hiệu quả kinh tế không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường Chính vì thế nên khái niệm về thu và chi trong quan
điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và chi phí
+ Xét theo mối quan hệ động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế
* Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư thêm Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm thăng thêm trên chi phí tăng thêm Tỷ số này gọi là sản phẩm biên, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm Hiệu quả kỹ thuật của việc
sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu
ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất
- 6 -
Trang 7* Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả
kỹ thuật và hiệu quả phân bổ Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp Nếu
đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt hiệu quả kinh tế Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ khi đó sản xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế
* Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển [3]đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng
có thể có hiệu quả khác nhau, bởi thời gian bỏ vốn đầu tư khác nhau thì thì thời gian thu hồi vốn khác nhau
Tuy nhiên, để hiểu được thế nào là hiệu quả kinh tế, cần phải tránh những sai lầm như việc đồng nhất giữa kết quả và hiệu quả kinh tế, đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế hoặc quan niệm cũ về hiệu quả kinh tế đã lạc hậu không phù hợp với hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường Với cách xem xét này, hiện nay có nhiều ý kiến thống nhất với nhau Có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, kết quả kinh tế và hiệu quả kinh tế là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau về hình thức hiệu quả kinh tế là một phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được Còn kết quả kinh tế chỉ là một
vế trong mối tương quan đó là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức sản xuất cũng như của nền kinh
tế quốc dân để đưa đến kết quả là khối lượng sản phẩm hàng hoá tạo ra, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu bán hàng Nhưng kết quả này chưa nói nên được
nó tạo nên bằng cách nào, bằng phương tiện gì? Chi phí là bao nhiêu? Như vậy,
nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất của nền kinh tế quốc dân Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí với các nguồn lực khác Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản
- 7 -
Trang 8xuất cao và tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội, chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân
Thứ hai, cần phân biệt giữa hiệu quả kinh tế với các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế vừa là phạm trù trìu tượng vừa là phạm trù cụ thể Hiệu quả kinh tế là phạm trù trìu tượng vì nó phản ánh trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất, của nền kinh tế quốc dân Các yếu tố cấu thành của nó là kết quả sản xuất và nguồn lực cho sản xuất mang các đặc trưng gắn liền với quan hệ sản xuất của xã hội Hiệu quả kinh tế chịu ảnh hưởng của các quan hệ kinh tế, quan hệ xã hội, quan hệ luật pháp trong quốc gia và các quan hệ khác của hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc Với nghĩa này thì hiệu quả kinh tế phản ánh toàn diện sự phát triển của tổ chức sản xuất, của nền sản xuất xã hội Tính trìu tượng của phạm trù hiệu quả kinh tế thể hiện trình độ sản xuất, quản lý kinh doanh, trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của tổ chức sản xuất để đạt được mục tiêu, kết quả cao nhất ở đầu ra
Hiệu quả kinh tế là phạm trù cụ thể vì hiệu quả kinh tế có thể đo lường thông qua mối quan hệ bằng lượng giữa kết quả sản xuất với chi phí bỏ ra
Đương nhiên, không thể có một chỉ tiêu tổng hợp nào đó để phản ánh được đầy
đủ các khía cạnh của hiệu quả kinh tế Thông qua các chỉ tiêu thống kê kế toán
để có thể xác định hệ thống chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh tế, mỗi chỉ tiêu được phản ánh một khía cạnh nào đó của hiệu quả kinh tế trên phạm vi mà nó được tính toán Hệ thống chỉ tiêu này quan hệ với nhau theo thứ bậc từ chỉ tiêu tổng hợp, sau đó đến các chỉ tiêu phản ánh các yếu tố riêng lẻ của quá trình sản xuất kinh doanh Như vậy, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng tổng hợp của quá trình sản xuất kinh doanh, nó bao gồm hai mặt định tính
Trang 9Về mặt định tính, tức là mức độ hiệu quả kinh tế cao phản ánh nỗ lực ở trong khâu, mỗi cấp trong hệ thống sản xuất, phản ánh trình độ năng lực, quản lý sản xuất kinh doanh, sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu cầu và mục tiêu chính trị xã hội Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của hiệu quả kinh tế, nó có quan hệ mật thiết với nhau Thứ ba, phải có quan niệm về hiệu quả kinh tế phù hợp với hoạt độnh kinh
tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước định hướng xã hội chủ nghĩa Trước đây, khi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung bao cấp hoạt động của các tổ chức sản xuất kinh doanh được đánh giá bằng mức độ hoàn thành các chỉ tiêu pháp lệnh do Nhà nước giao như giá trị sản lượng hàng hoá, khối lượng sản phẩm chủ yếu, doanh thu bán hàng, chỉ tiêu nộp ngân sách, Thực chất, đây chỉ
là các chỉ tiêu kết quả, không thể hiện được mối quan hệ so sánh với phí bỏ ra Mặt khác, giá cả giai đoạn này mang tính bao cấp nặng nề, việc tính toán hệ thống chỉ tiêu thống kê kế toán mang tính hình thức không phản ánh được trình
độ sản xuất và quản lý của các tổ chức sản xuất kinh doanh nói riêng và của nền sản xuất xã hội nói chung Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chức năng quản lý bằng chính sách vĩ mô, thông qua các công cụ là hệ thống luật pháp hành chính, luật kinh tế, luật doanh nghiệp, Nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn xã hội, các tổ chức sản xuất kinh doanh là chủ thể sản xuất ra sản phẩm hàng hoá là pháp nhân kinh tế bình đẳng trước pháp luật Mục tiêu của các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế không những thu được lợi nhuận tối đa mà còn phù hợp với những yêu cầu của xã hội theo những chuẩn mực mà Đảng và Nhà nước quy định gắn liền với lợi ích của người sản xuất, người tiêu dùng và lợi ích xã hội
Qua những phân tích trên trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận thấy, Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế - xã hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất, là đặc trưng của mọi nền sản xuất xã hội Quan niệm về hiệu quả kinh tế ở các hình thái kinh tế khác nhau không giống nhau Tuỳ tuộc vào
- 9 -
Trang 10các điều kiện kinh tế - xã hội và mục đích yêu cầu của một nước, vùng, một ngành sản xuất cụ thể mà đánh giá theo những góc độ khác nhau phù hợp
2.1.1.2 Nội dung và bản chất của hiệu quả kinh tế
- Nội dung hiệu quả kinh tế:
Mục đích của sản xuất hàng hoá là thoả mãn tốt nhất các nhu cầu vật chất
và tinh thần cho xã hội Mục đích đó được thực hiện khi nễn xã hội tạo ra những kết quả hữu ích ngày càng cao cho xã hội Sản xuất đạt mục tiêu về hiệu quả kinh
tế khi có một khối lượng nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sản phẩm hữu ích lớn nhất
Theo các quan điểm trên thì hiệu quả kinh tế luôn liên quan đến các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh Do đó nội dung để xác định hiệu quả kinh tế bao gồm các nội dung sau:
+ Xác định các yếu tố đầu vào: Hiệu quả là một đại lượng để đánh giá xem xét kết quả hữu ích được tạo ra như thế nào, từ nguồn chi phí bao nhiêu, trong các điều kiện cụ thể nào, có thể chấp nhận được hay không Như vậy, hiệu quả kinh tế liên quan trực tiếp đến các yếu tố đầu vào và việc sử dụng nó với các yếu
tố đầu ra của quá trình sản xuất
+ Xác định yếu tố đầu ra: đây là công việc xác định mục tiêu đạt được, các kết quả đạt được có thể là giá trị sản xuất, khối lượng sản phẩm, giá trị sản phẩm, giá trị gia tăng, lợi nhuận
- Bản chất hiệu quả kinh tế:
Bản chất của hiệu quả kinh tế là sự gắn kết mối quan hệ giữa kết quả và chi phí Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là sự tối đa hoá kết quả và tối thiểu hoá chi phí trong điều kiện tài nguyên có hạn Tuỳ từng ngành, từng mức độ mà ta xác
định đâu là kết quả, đâu là hiệu quả
2.1.1.3 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế
Từ bản chất và đặc điểm đánh giá hiệu quả kinh tế, đến nay có nhiều ý kiến thống nhất cần sử dụng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế như sau:
Cong thức 1: Hiệu quả = Kết quả thu được - Chi phí bỏ ra, hay H = Q - C
- 10 -
Trang 11Trong đó: H: hiệu quả; Q: kết quả thu được; C: chi phí bỏ ra
Công thức này cho ta nhận biết qui mô hiệu quả của đối tượng nghiên cứu Loại chỉ tiêu này được thể hiẹn bàng nhiều chỉ tiêu khác nhau tuỳ thuộc vào phạm vi tính chi phí (C) là chi phí trung gian hoặc chi phí vật chất hoặc tổng chi phí Xác định hiệu quả kinh tế từ các chỉ tiêu chủ yếu của hệ thống tài khoản quốc gia và được xác định bằng các công thức sau:
+ Tổng giá trị sản xuất (GTSX): Là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch
vụ được tạo ra trong một thời kỳ nhất định thường là một năm
+ Chi phí sản xuất bỏ ra, có thể biểu hiện theo các phạm vi tính toán sau: Tổng chi phí trung gian (CPTG): Là toàn bộ các khoản chi phí thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để mua và thuê các yếu tố đầu vào và chi phí dịch vụ trong thời kỳ sản xuất ra tổng sản phẩm đó
+ Tổng chi phí vật chất (CPVC): Là toàn bộ các khoản chi phí chi phí vật chát tính bằng tiền, gồm chi phí trung gian cộng với khoản chi phí khấu hao tài sản cố định và khoản tiền thuế, chi phí tài chính khác trong quá trình sản xuất tạo
ra sản phẩm đó
+ Tổng chi phí sản xuất (CPSX): Là tổng hao phí tính bằng tiền của các nguồn tài nguyên và các chi phí dịch vụ vậth chất khác tham gia vào quá trình sản xuất ra tổng sản phẩm đó Hay tổng chi phí sản xuất được bao gồm tổng chi phí vật chất và chi phí tính bằng tiền của lao động gia đình
+ Hiệu quả đựơc tính theo công thức 1 biểu hiện qua các chỉ tiêu cụ thể như: Giá trị gia tăng được tính: GTSX = GTSX - CPTG
Thu nhập hỗn hợp được tính: TNHH = GTSX - CPVC
Lợi nhuận được tính: LN = GTSX - CPSX
Công thức 2: Hiệu quả = Kết quả thu được/ Chi phí bỏ ra, hay H = Q/C Việc tínha toán công thức này cho phép hiệu về kết quả sản xuất (tính phần
tử số) và chi phí sản xuất (tính phần mẫu số) có phạm vi rộng hơn
Phần tử số có thể là kết quả và hiệu quả chung như là: tổng giá trị sản xuất, hoặc giá trị gia tăng, hoặc thu nhập hỗn hợp, hoặc lợi nhuận
- 11 -
Trang 12Phần mẫu số có thể hiệu là chi phí các yếu tố đầu vào như: tổng chi phí bằng tiền (CPTG, CPTC, CPSX) hay tổng vốn đầu tư sản xuất; tổng diện tích đất canh tác; tổng số lao động đầu tư trong sản xuất ra sản phẩm đó
Công thức 3: So sánh mức chênh lệch của kết quả sản xuất với mức chênh lệch của chi phí bỏ ra Như thế sẽ có hai cách so sánh là số tuyệt đối và số tương
đối Biểu hiện công thức cụ thể sau:
H = tQ - tC (1) và H = tQ / tC (2)
+ Cách xác định kết quả sản xuất thu được và chi phí sản xuất bỏ ra cũng
được hiệu tương tự như đối với công thức thứ hai trên Xác định tQ và tC là chênh lệch của Q và C theo thời gian hay theo tình huống của đối tượng cụ thể
mà ta cần nghiên cứu Do đó ở đây cũng có nhiều chỉ tiêu xác định cụ thể, tuỳ từng đối tượng và mục đích nghiên cứu mà lựa chọn chỉ tiêu cho phù hợp
+ Chỉ tiêu đánh giá ở trường hợp (1) phản ánh mức hiệu quả đạt được khi
đầu tư thêm một lượng chi phí yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất Trường hợp (2) phản ánh mức độ hiệu quả đạt được khi đầu tư thêm một đơn vị yếu tố đầu vào nào đó cho sản xuất Nhóm chỉ tiêu thứ (3) này thường được sử dụng xác
định hiệu quả kinh tế của đầu tư theo chiều sâu hoặc hiệu quả kinh tế của việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất
2.1.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế NTTS
Với cách tính hiệu quả kinh tế là H = Q/C dễ dàng nhận ra có hai nhóm yếu
tố làm ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế đó là: Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến tử số (Q) và nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến mẫu số (C) Nhóm yếu tố cấu thành và ảnh hưởng đến tử số (Q)
Nhóm này thể hiện giá trị sản phẩm của một quá trình sản xuất, nó phụ thuộc vào hai yếu tố là giá bán và sản lượng hàng hoá sản xuất ra
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến giá bán như: thị phần của sản phẩm, chất lượng sản phẩm, thời điểm bán sản phẩm, kênh tiêu thụ sản phẩm, quy cách, tính chất của sản phẩm, chiến lược của nhà sản xuất, thị hiếu người tiêu dùng, chính sách phát triển của đất nước sản xuất cũng như của các đối thủ cạnh tranh,
- 12 -
Trang 13+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khối lượng sản phẩm: hình thức và rủi ro trong vận chuyển, điều kiện tự nhiên (đặc biệt là đối với sản phẩm ngành thuỷ sản), thị trường tiêu thụ và hình thức bảo quản,
Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến mẫu số (C)
Trong quá trình sản xuất, đây là tập hợp tất cả các chi phí nguồn lực đầu vào và các yếu tố ảnh hưởng đến các nguồn lực đó Các chi phí cơ bản phục vụ sản xuất thường có: nguyên vật liệu, sức lao động, nhà xưởng và công nghệ, tuy nhiên chi phí cho mỗi nguồn lực lại chịu rất nhiều các yếu tố khác nhau, cụ thể là:
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến chi phí nguyên vật liệu như: giá mua con giống, chất lượng con giống, điều kiện tự nhiên của vùng thu mua, thời gian thu mua, đối tượng cung cấp, hình thức vận chuyển,
+ Các yếu tố ảnh hưởng đến khấu hao tài sản cố định như: đặc điểm vùng sinh thái, tính hiện đại của công nghệ, giá thành lắp giáp, thời gian sử dụng, nhà cung cấp,
+ Chi phí lao động phục vụ sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố chư: sức lao động, trình độ lao động, thị trường lao động, chiến lược đào tạo sử dụng của nhà sản xuất,
+ Chi phí thuế sản xuất chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chính sách thuế của Nhà nước, mặt hàng của doanh nghiệp sản xuất, thị trường bán sản phẩm của doanh nghiệp,
Như vậy, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng của nó phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, chính sách và cơ chế quản lý của quốc gia, trình độ năng lực của nhà sản xuất và lực lượng lao động, mức độ phát triển của khoa học công nghệ, tập quán tiêu dùng, Từ nhận định đó
có thể rút ra một số nhận xét về hiệu quả kinh tế là:
+ Việc làm thế nào để nâng cao hiệu quả kinh tế, đánh giá chính xác được hiệu quả kinh tế là rất khó khăn Để làm được việc đó cần phải đánh giá chính
- 13 -
Trang 14xác các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế, các yếu tố cấu thành và tác động
đến đầu vào và đầu ra của qúa trình sản xuất
+ Hiệu quả kinh tế luôn biến động, chỉ thể hiện tương đối chính xác mối quan hệ giữa giá trị các yếu tố đầu vào và giá trị sản phẩm đầu ra trong một giai
đoạn nhất định
+ Bất kỳ thời điểm nào hiệu quả kinh tế cũng nằm ở 1 trong 3 khả năng, đó
là H < 1, H = 1, H > 1 Trong trường hợp H < 1 hay H = 1, khi chi phí các yếu tố
đầu vào lớn hơn hay bằng giá trị sản phẩm sản xuất ra (lỗ hay hoà vốn), trường hợp này không đạt hiệu quả kinh tế Như vậy, chỉ có trường hợp H > 1 mới đạt hiệu quả kinh tế Do đó bất kỳ nhà sản xuất nào cũng cố gắng áp dụng khoa học tiên tiến để tíêt kiệm nguyên vật liệu và hao phí lao động; áp dụng chiến lược tiếp thị, quan hệ hợp tác để tiêu thụ và mua nguyên vật liệu được nhiều hơn, rẻ hơn và bán sản phẩm với giá đắt nhất Tất cả các cố gắng đó chỉ nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao hơn
+ Đạt hiệu quả kinh tế là mục đích chung của các nhà sản xuất và quản lý trong cả quá trình sản xuất
2.1.1.5 ý nghĩa và nội dung nghiên cứu hiệu quả kinh tế trong nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
- NTTS mang lại lợi ích cho cho nhiều quốc gia, mang lại thu nhập cao hơn hẳn một số cây trồng vật nuôi phổ biến khác, thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, đặc biệt là người dân nghèo
- NTTS góp phần giảm chi phí và phát triển sản xuất cho ngành trồng trọt trong sản xuất nông nghiệp, tận dụng tối đa diện tích hiện có, làm tăng độ màu
mỡ cho tài nguyên đất, góp phần phát triển cân đối bền vững và ổn định trong sản xuất nông nghiệp
- Nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng đất trũng thông qua chuyển đổi phương thức sản xuất phù hợp
- Hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất và áp dụng tiến bộ khoa học trong NTTS
- 14 -
Trang 15- Hiệu quả xã hội: tạo việc làm, tăng thu nhập cho nông dân, góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Hiệu quả môi trường: giảm ô nhiễm môi trường
* Đặc điểm của hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp tại các vùng đất trũng
Thực tế ở nước ta cho thấy tại các vùng úng trũng, việc sử dụng đất nông nghiệp cho hiệu quả kinh tế thường thấp hơn những vùng khác, đặc biệt khi chưa
có sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng,vật nuôi mà chỉ độc canh cây lúa Trong những năm gần đây, Nhà nước có chủ trương thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên những vùng đất trũng từ đó hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp ở những nơi này cũng được nâng nên rõ rệt
2.1.2 Lý luận về NTTS
2.1.2.1 Đặc điểm đất trũng và canh tác trên đất trũng
* Khái niệm đất trũng
Cho tới nay chưa có một khái niệm nào về đất trũng được đưa ra Chúng ta
có thể hiểu đất trũng dựa trên một số đặc điểm sau: Có điạ hình rất thấp, thường
bị ngập úng vào mùa mưa Thành phần cơ giới của đất là thịt nặng hoặc sét, mức glây mạnh Hàm lượng mùn, độ pH, hàm lượng đạm, hàm lượng P2O5 trong đất thấp
Do những đặc điểm trên, nên đất trũng cho hiệu quả kinh tế sử dụng đất không cao trong trồng lúa mà lâu nay nhân dân ta vẫn thường làm Để nâng cao hiệu quả kinh tế sử dụng vùng đất trũng cần chuyển dịch sang mô hĩnh sản xuất khác phù hợp hơn như nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa, trang trại,…
* Đặc điểm của nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
- Đặc điểm cơ bản của đất úng trũng là chua và thường bị ngập úng, không phù hợp với phần lớn những loại cây trồng thông thường như lúa, ngô, khoai, Thường được sử dụng vào mục đích nuôi trồng thuỷ sản, hoặc một số cây trồng
ưu nước như sen, rau cần, Do đó, nuôi trồng thuỷ sản có những đặc điểm sau:
- 15 -
Trang 16+ Đối tượng NTTS là động vật thuỷ sinh, nó là nguồn tài nguyên hết sức nhạy cảm, có khả năng tái tạo cao nhưng lại dễ dàng bị huỷ diệt và có nhiều loại
có giá trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao
+ NTTS được tiến hành rộng khắp trên các vùng địa lý những nới có diện tích mặt nước, mặt nước NTTS bao gồm cả đất và nước, nó vừa là đối tượng lao
động vừa là tư liệu lao động và không thể thay thế được
+ Quá trình NTTS là tác động tự nhiên xen kẽ tác động nhân tạo nên thời gian sản xuất và thời gian lao động không trùng nhau Do đó NTTS mang tính mùa vụ cao
+ Điều kịên sống của thuỷ sinh dựa vào tự nhiên nên yêu cầu lao động NTTS phải am hiểu điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, thuỷ văn để ứng dụng khoa học kỹ thuật cho phù hợp
+ NTTS đòi hỏi các dịch vụ hỗ trợ lớn đặc biệt là giống, thức ăn, tín dụng, khuyến ngư và thị trường tiêu thụ Sản phẩm của NTTS tươi sống, dễ hư hại mau hỏng nên phải có kế hoạch thu hoạch và sau thu hoạch
2.1.2 Lý luận nuôi trồng thuỷ sản trên đất trũng
2.1.3.1 Một số khái niệm
* Nuôi trồng thuỷ sản: Theo định nghĩa của FAO (1992) [7], NTTS là các hoạt động canh tác trên đối tượng sinh vật thuỷ sinh như cá, nhuyễn thể, giáp xác, thực vật thuỷ sinh, Quá trình này bắt đầu từ thả giống, chăm sóc, nuôi lớn cho tới khi thu hoạch xong Có thể nuôi từng cá thể hay cả quần thể với nhiều hình thức nuôi theo các mức độ thâm canh khác nhau như quảng canh, bán thâm canh và thâm canh
* Quảng canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư thấp, nguồn dinh dưỡng chỉ trông vào tự nhiên Hình thức nuôi cá kết hợp trồng lúa hoặc cây trồng khác chủ yếu thuộc hình thức này
* Bán thâm canh là hình thức canh tác ở mức độ đầu tư trung bình, nguồn dinh dưỡng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn dinh dưỡng được cung cấp từ tự nhiên là chính Lượng thức ăn, phân bón tuy có bổ sung nhưng không nhiều
- 16 -
Trang 17* Thâm canh là hình thức chăn nuôi với mức độ đầu tư tương đối cao Nguồn dinh dưỡng chủ yếu dựa vào thức ăn được cung cấp Đó là những thức ăn trộn tươi sống hay đã sấy khô Sự gia tăng sản lượng có thể có nhờ đóng góp của thức ăn tự nhiên nhưng không đáng kể
* Nuôi tổng hợp (nuôi ghép) là nuôi nhiều đối tượng trong cùng thuỷ vực với mục đích chính là lợi dụng tự nhiên một cách hợp lý Thí dụ : nuôi ghép cá trắm cỏ với cá mè trắng, mè hoa và một số loại cá khác; nuôi ghép cá trắm cỏ với cá trôi ấn, cá mè trắng, mè hoa và một số loại khác,
* Nuôi chuyên canh (nuôi đơn) là hình thức nuôi chỉ với một loại cá có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao; người nuôi tạo điều kiện thuận lợi nhất về thức ăn, phân bón cho chúng để thu hoạch với năng suất cao nhất có thể đạt
được
* Nuôi kết hợp (nuôi bền vững) là hình thức nuôi mà chất thải của quá trình này là chất dinh dưỡng cung cấp cho quá trình kia, như : nuôi theo hệ VAC, nuôi với công thức cá - vịt hoặc cá - lợn, nuôi cá trong ruộng cấy lúa,…vv
* Nuôi luân canh là hình thức sử dụng nhiều vụ nối tiếp nhau, đối tượng nuôi vụ sau sử dụng chất thải hay vật chất còn lại của đối tượng nuôi vụ trước, như lúa (vụ xuân) + cá (vụ mùa) [39]
2.1.3.2 Đặc điểm sinh học của các loài cá nước ngọt
Theo FAO (1996), cá là một loài động vật bậc thấp, sống thuỷ sinh, có xương sống, thân nhiệt thấp và thay đổi theo môi trường Các loài cá chiếm tỷ lệ lớn (151/262) trong tổng số các loài động vật thuỷ sinh đang được nuôi trồng FAO đã xếp các đối tượng trong NTTS thành 5 nhóm chính: thuỷ sản nước ngọt, cá
di cư 2 chiều, cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong tảo Trong đó, thuỷ sản nước ngọt chiếm 44,3% tổng sản lượng NTTS thế giới [28]
Trong tổng số trên 100 loài cá nước ngọt được nuôi có một số loài cá luôn luôn chiếm ưu thế , đó là: mè trắng, trắm cỏ, mè hoa, cá chép, cá trôi Những loài cá được chọn nuôi thường có những ưu điểm chính như sau:
- Chóng lớn, thịt thơm ngon
- 17 -
Trang 18- Sinh sản dễ, sức sản xuất cao
- Có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nước ta
- Thức ăn đơn giản, dễ kiếm, dễ gây nuôi, rẻ tiền
ở các tỉnh phía bắc, các loài cá được nuôi phổ biến là: chép, mè trắng, trôi, trắm cỏ, trắm đen, mè hoa, rô phi, ở các tỉnh phía nam thường nuôi các loài: cá tra, rô phi vằn, cá vồ, cá chép, mè vinh, Gần đây nước ta mới cho nhập hai loại cá từ ấn Độ vào nuôi là Rô hu và Mrigan cho kết quả rất tốt Có thể nói
đàn cá nuôi ở nước ta rất phong phú về chủng loại và thích nghi với điều kiện nhiệt đới
Cũng như các động vật khác, cá có đặc tính sinh sống khác nhau giữa các loài Đặc tính sinh sống của cá phù hợp với cấu tạo của cơ quan bắt mồi, bộ máy tiêu hoá và hô hấp của chúng Chính vì thế mà có các loài cá ăn các loại thức ăn khác nhau, sống ở các tầng nước khác nhau theo sự phân bổ thức ăn tự nhiên của các loài cá, đồng thời lượng ô-xi cần cho sự thở phù hợp với cơ thể của cá
Cá mè thường sống ở tầng nước trên , ăn sinh vật phù du, vì sinh vật phù
du ở tầng này nhiều, hơn nữa ở tầng nước trên hàm lượng ôxi bao giờ cũng cao hơn (từ 5 - 7 mg/lít) rất thích hợp cho sự hô hấp của cá mè
Cá trắm đen và cá chép thường sống ở tầng đáy, chúng ăn ốc, hến, giun, sâu bọ, côn trùng (có nhiều ở tầng đáy) Các loài này thích nghi với hàm lượng
ôxi trong nước từ 0,5 - 1 mg/lit
Cá trôi thường sống ở tầng giữa và tầng đáy, ăn chất thối mục, mùn bã hữu cơ, sâu nhỏ ở đáy
Cá trắm cỏ thường sống ở tầng nước mặt và tầng giữa Chúng ưa sạch sẽ
- 18 -
Trang 19Các giống cá nuôi tương trợ lẫn nhau thể hiện như sau: cá mè, cá trắm cỏ sống ở tầng nước trên, bài tiết ra phân làm mồi cho ốc, hến, côn trùng phát triển
Đó là cách làm tăng thức ăn cho cá chép và cá trắm đen Ngược lại cá chép, cá trắm đen sống ở tầng đáy bài tiết ra phân, rũi bùn để tìm mồi tạo điều kiện tốt cho phù du phát triển là thức ăn cho cá mè Vì vậy trong kỹ thuật nuôi cá, cần lợi dụng hợp lý quan hệ tương trợ giữa các giống cá nuôi để nuôi chung, nuôi ghép nhiều giống cá với nhau, đó cũng là biện pháp có hiệu quả để cho cá lớn mau và
đạt năng suất cao
Cần phải nắm chắc các đặc điểm về môi trường và thức ăn của cá Cá là nhóm động vật biến nhiệt, nhiệt độ cơ thể của chúng chủ yếu phụ thuộc vào nhiệt độ nước (môi trường sống), dù chúng có vận động thường xuyên thì kết quả vận động sinh ra nhiệt không đáng kể Nhiệt độ nước quá cao hoặc quá thấp đều không thuận lợi cho đời sống của cá Nếu nhiệt độ vượt quá giới hạn cho phép có thể dẫn đến cá chết, thậm chí chết hàng loạt Mỗi loài cá có ngưỡng nhiệt độ khác nhau Về mùa đông khi nhiệt độ nước giảm xuống 10 - 120C với thời gian kéo dài
có thể làm chết cá rô phi Sự thay đổi đột ngột của nhiệt độ (ngay cả trong phạm vi nhiệt độ thích hợp, nếu nhiệt độ chênh lệch 50C) cũng có thể khiến cho cá bị xốc (stress) mà chết
Thức ăn đối với cá có vai trò hết sức quan trọng, nó trực tiếp ảnh hưởng
đến năng suất, sản lượng cá nuôi Thức ăn của cá gồm 2 loại: thức ăn có nguồn gốc tự nhiên và thức ăn nhân tạo
- 19 -
Trang 20Qui trình kỹ thuật nuôi cá thịt đơn giản hơn so với nuôi cá giống Nó gồm
4 công đoạn chủ yếu sau:
- Chọn và chuẩn bị ao nuôi cá
- Kỹ thuật tuyển chọn và vận chuyển cá giống
- Công tác quản lý và chăm sóc ao cá
- Công việc thu hoạch và hạch toán kinh tế
Về hình thức nuôi, theo tác giả Nguyễn Việt Thắng (1993), trên thế giới hiện nay phổ biến 2 loại hình cơ bản là nuôi đơn và nuôi ghép [10]
+ Hình thức nuôi đơn được áp dụng phổ biến ở các nước Châu Âu, như: Hungari, Rumania, Tiệp khắc (cũ)
+ Hình thức nuôi ghép được áp dụng phổ biến ở các nước châu á, như: Thái Lan, Trung Quốc, ấn Độ, Băng La Đét
Về mức độ thâm canh, theo tác giả Bai-ley (1992) [28], hiện nay người ta vẫn thực hiện ở 3 mức độ thâm canh khác nhau: Thâm canh, bán thâm canh và quảng canh Nhìn chung phương thức nuôi bán thâm canh tồn tại phổ biến nhất,
được ưa chuộng nhất và phù hợp với các trang trại vừa và nhỏ
Về các công thức nuôi ghép thì có rất nhiều công thức khác nhau nhưng chủ yếu tập trung vào 8 công thức chính sau đây:
+ Cá trắm cỏ là chính, ngoài ra còn có mè trắng, mè hoa, rô phi, rô hu, mrigan, chép
+ Cá trắm cỏ và mè hoa là chính , ngoài ra còn có mè trắng, chép, rô phi, vền + Cá trắm cỏ và trôi là chính, ngoài ra còn có mè trắng, rô hu, mrigan, cá quả + Cá trắm đen là chính, ngoài ra còn có trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, chép, diếc + Cá mè trắng và mè hoa là chính, ngoài ra còn có trắm cỏ, chép, diếc, rô phi + Cá trắm đen và cá trắm cỏ là chính, ngoài ra còn có mè trắng, mè
hoa, chép, diếc
+ Cá rô phi là chính, ngoài ra còn có trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, chép, trôi, diếc
+ Cá chép là chính, ngoài ra còn có cá trắm cỏ, mè trắng, mè hoa, diếc
- 20 -
Trang 21Với công thức nuôi ghép trên, tuỳ thuộc vào điều kiện thực tế về đất đai, môi trường sinh thái và mục đích kinh doanh của người NTTS chọn lựa cho phù hợp, đảm bảo kết quả và hiệu quả kinh tế cao nhất
Ngoài loại hình nuôi cá đơn thuần còn có loại hình thâm canh cá + lúa hoặc tôm + lúa [28]
2.1.3.4 Một số đặc điểm về kinh tế
Sản phẩm cá là một loại sản phẩm bổ sung cho các loại thực phẩm khác Qua thực tế cho thấy giá cả sản phẩm cá ổn định hơn so với các loại thực phẩm thông thường khác Biên độ dao động giá cả của sản phẩm cá nhỏ hơn Nhu cầu sử dụng cá tương đối ổn định và dàn đều qua các tháng trong năm
Việc nuôi thuỷ sản sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với thâm canh các loại cây lương thực và rau màu thông thường ở mức độ thâm canh trung bình có thể cho thu nhập gấp 3 - 5 lần trồng lúa Giá trị sản phẩm thu từ 1
ha nuôi cá có thể đạt từ 70 - 100 triệu đồng Trong khi đó cấy lúa thu cả 2 vụ chỉ
đạt giá trị từ 18 - 22 triệu đồng/ha [34]
2.1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến NTTS
Có 3 nhóm yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc nâng cao hiệu quả nuôi trồng thuỷ sản, đó là: các yếu tố tự nhiên, các yếu tố về kinh tế và các yếu tố về xã hội
Các yếu tố tự nhiên (thời tiết, khí hậu, môi trường) ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của đàn cá Trong các yếu tố tự nhiên và môi trường, nước có vai trò hết sức quan trọng Nước là môi trường sống của cá và nhiều loại sinh vật thuỷ sinh khác Nước là yếu tố môi trường chủ yếu ảnh hưởng tới sự sống
và phát triển của cá Nước có nhiều đặc điểm và tính chất riêng, những đặc điểm
và tính chất này ảnh hưởng trực tiếp đến sinh vật sống trong nước Nước có khả năng hoà tan rất lớn các chất hữu cơ và vô cơ; nhiệt độ của nước thường ổn định và
điều hoà hơn ở trên cạn (mùa đông thường ấm hơn, mùa hè thường mát hơn ở trên cạn); nước có tỷ trọng lớn nên các loại động vật không xương có thể sống bình
- 21 -
Trang 22thường, hàm lượng ôxi trong nước ít hơn so với ở trên cạn (thông thường ít hơn 20 lần so với hàm lượng ôxi ở trên cạn)
Bên cạnh các yếu tố tự nhiên, các yếu tố về kinh tế -xã hội như vốn đầu tư, trình độ kỹ thuật, tập quán canh tác, thị trường tiêu thụ, các vấn đề an ninh xã hội, là những yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của việc nuôi thuỷ sản Nghề nuôi thuỷ sản có phát triển được hay không phải do hiệu quả việc nuôi cá quyết định Nếu nuôi thuỷ sản đem lại hiệu quả cao hơn so với việc sử dụng đất
đai vào các lĩnh vực sản xuất khác thì nghề thuỷ sản sẽ được phát triển và ngược lại
Để mở rộng phát triển chăn nuôi cá và nâng cao trình độ thâm canh, cần phải có đầy đủ vốn, trang thiết bị kỹ thuật, diện tích đất đai và có thị trường tiêu thụ thuận lợi
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tổng quan tài liệu về NTTS ở các nước trên thế giới
2.2.1.1 Tình hình chung về NTTS và tiêu thụ sản phẩm thuỷ sản trên thế giới
Các sản phẩm thuỷ sản nói chung, luôn được coi là rẻ và ngon miệng, chất lượng cao, an toàn Chính vì thế mà thị trường sản phẩm thuỷ sản tương đối ổn
định Chương trình Nông nghiệp và Lương thực của liên hợp quốc (FAO) ước tính khả năng bền vững tiềm tàng, sản xuất sản phẩm thuỷ sản từ 90 - 120 triệu tấn/năm Trong đó, nhu cầu tiêu thụ sản phẩm cá trên thế giới những năm gần
đây là từ 95 - 120 triệu tấn/năm [10] Nhu cầu tiên thụ sản phẩm cá trên thị trường ngày một tăng lên Mức thiếu hụt này sẽ được bù đắp thông qua các hoạt
động đẩy mạnh việc NTTS Người ta đã tính toán được sản lượng NTTS cần thiết
để lập lại sự cân bằng đó là 37,5 triệu tấn vào năm 2010 và 62,4 triệu tấn vào năm 2025 [10]
Từ những năm 50 trở lại đây, lượng thuỷ sản được tiêu dùng theo đầu người trên thế giới không ngừng tăng lên Đến nay mức tiêu thụ bình quân trên đầu người
đạt trên 16kg/người/năm Năm 1999, có khoảng 97,2 triệu tấn thuỷ sản được mọi
- 22 -
Trang 23người tiêu dùng trong đó có 7 triệu tấn thuỷ sản được khai thác từ nước ngọt và khoảng 30 triệu tấn được nuôi trồng trong các mặt nước Trong số thuỷ sản được sản xuất và tiêu dùng trên thế giới năm 1995 có 44% được tiêu dùng trong các nước đang phát triển và 56% được tiêu dùng ở các nước đã phát triển
Một đặc điểm nổi bật từ năm 1980 trở lại đây là việc gia tăng sản lượng thuỷ sản của các nước đang phát triển là rất mạnh Nếu như năm 1970 sản lượng thuỷ sản ở các nước đang phát triển chỉ chiếm 50% thì đến nay là 65% Có tới 60% sản lượng hải sản của thế giới được dùng làm thực phẩm cho con người, còn 40% được dùng để chế biến các sản phẩm kỹ thuật, như: dầu cá, bột cá NTTS cung cấp 27% tổng sản lượng thuỷ sản thế giới nhưng chiếm 35% sản lượng dùng làm thực phẩm Phần lớn sản phẩm NTTS có nguồn gốc từ các loài thuỷ sản nước ngọt [39]
Hàng thuỷ sản tươi sống đang tăng nhanh, từ 23,5% (trong tổng số) năm
1991 lên 29,6% năm 1995 với mức tăng trung bình là 1,5%/năm Xu hướng thị trường thuỷ sản tươi sống tăng nhanh, đặc biệt ở khu vực Đông á: Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông,
Hàng thuỷ sản đông lạnh giảm nhanh từ 24,8% năm 1991 xuống 21,5% năm 1995 Mức giảm diễn ra nhanh ở thị trường Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản Xu hướng hàng thuỷ sản đông lạnh còn tiếp tục giảm
Đồ hộp thuỷ sản (chủ yếu là cá hộp) giảm từ 14,7 % năm 1991 xuống 10,5% năm 1995 Nhưng tôm hộp , thịt cua hộp, trứng cá hộp lại tăng nhanh Xu hướng chung là cá hộp giảm Hàng thuỷ sản nấu chín ăn liền giảm nhanh từ 10,6
% năm 1991 xuống 7,2 % năm 1995 và có xu hướng tiếp tục giảm Bột cá chăn nuôi biến động lớn phụ thuộc chủ yếu vào sản lượng khai thác cá cơm và cá trích của Pêru và Chilê
Nhật Bản vẫn duy trì hàng đầu về nhập khẩu hàng thuỷ sản trên thế giới Nhập khẩu thuỷ sản của Nhật Bản tăng rất nhanh, từ 12,5 tỷ USD năm1991 lên 17,6 tỷ USD năm 1996 Nhật Bản sẽ tiếp tục là thị trường tiêu thụ thuỷ sản lớn nhất thế giới
- 23 -
Trang 24Thị trường thuỷ sản Mỹ rất lớn cả về xuất và nhập khẩu Nhiều mặt hàng
thuỷ sản khác nhau được nhập vào để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước một
phần và tái chế rồi lại xuất khẩu
EU là thị trường lớn thứ 2 thế giới, ngang với thị trường Mỹ Nhưng từ
năm 1996 - 1999, EU giảm 30% sản lượng thuỷ sản và sẽ tiếp tục giảm 5% vào
các năm 1999 - 2002 Giá thực tế của sản phẩm thuỷ sản gia tăng trong suốt
khoảng thời gian từ 1980 trở lại đây Tiêu dùng thuỷ sản của thế giới không
ngừng tăng lên kể từ những năm 50 đến nay Theo dự báo nhu cầu thuỷ sản toàn
thế giới đến năm 2010 sẽ tăng khoảng 14 triệu tấn so với năm 1997 Trong đó
nhu cầu thuỷ sản thực phẩm châu á tăng 9,7 triệu tấn, châu Phi tăng 0,9 triệu tấn,
châu Âu tăng 1,2 triệu tấn Do vậy ít nhất nhu cầu thực phẩm thuỷ sản thế giới
đòi hỏi phải được đáp ứng là 107 triệu tấn Tuy nhiên, thực tế nhu cầu thực phẩm
thuỷ sản có thể còn tăng hơn thế nhiều [39]
NTTS đã được phát triển hầu như ở tất cả các vùng trên thế giới, đặc biệt
là đã tạo ra nguồn thu nhập đáng kể ở các nước đang phát triển Các nước này đã
cung cấp khoảng 3/4 tổng sản lượng NTTS của thế giới Mặc dù một số nước có
nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Nauy và Mỹ nằm trong 10 nước đứng đầu
thế giới về NTTS Nhưng nhìn chung NTTS vẫn phát triển chủ yếu ở các nước
LIFDCs Năm 1996, các nước này chiếm 82% (27 triệu tấn ) tổng sản lượng
Trang 25Nguồn: Bộ Thuỷ sản - theo tính toán của FAO
Châu á là nơi có nghề NTTS phát triển mạnh nhất Theo FAO-Roma,
2000-Vol 86/2 thì 7 nướcgiữ vị trí hàng đầu thế giới về sản lượng NTTS đều
thuộc khu vực Châu á, thứ tự từ cao đến thấp như sau: Trung Quốc, ấn Độ, Nhật
Bản, Inđônêxia, Bănglađét, Thái Lan và Việt Nam [16] Theo FAO ( 1999) thì năm
1997, riêng các nước Châu á đạt 25,6 triệu tấn sản phẩm, chiếm 80% tổng sản
lượng NTTS của thế giới (trong đó Trung Quốc là nước chủ lực, sản xuất 19,3
triệu tấn) Năm 1996, riêng nước này đã chiếm 61,8% sản lượng NTTS thế giới Tuy
nhiên, do phần lớn sản lượng NTTS là cá nước ngọt thông thường và rong biển nên
đóng góp về giá trị sản phẩm NTTS của Trung Quốc chỉ chiếm khoảng 45,4% so với
tổng giá trị sản lượng NTTS thế giới Bên cạnh đó, Nhật Bản mặc dù sản lượng chỉ
chiếm 4% sản lượng NTTS thế giới nhưng đã chiếm 8% giá trị sản phẩm NTTS thế
giới vì nước này tập trung nuôi các loài thuỷ sản có giá trị cao như cá ngừ, sò, điệp
[43]
Khu vực Đông Nam á là một trong những khu vực có ngành thuỷ sản nói
chung, nghề NTTS nói riêng phát triển mạnh trên thế giới Tổng sản lượng thuỷ
sản ở khu vực này năm 1999 đạt trên 15 triệu tấn, chiếm 12% tổng sản lượng
thuỷ sản thế giới So với năm 1990, sản lượng thuỷ sản ở khu vực này đã tăng
39% và vẫn đang có chiều hướng gia tăng mạnh ở khu vực này có khoảng 10
triệu người tham gia nghề cá và mức tiêu thụ cá bình quân đầu người cũng khá
cao, nhất là đối với các nước ven biển Đông Nam á Khu vực này cũng là khu
- 25 -
Trang 26vực xuất khẩu thuỷ sản rất mạnh, năm 1999 đã đạt 7,8 tỷ USD (với 2,5 triệu tấn sản phẩm), chiếm 14,7 % tổng giá trị sản phẩm xuất khẩu trên thế giới Bốn nước
có sản lượng thuỷ sản lớn nhất khu vực là Indonexia, Thái Lan, Việt Nam và Philipin Đây cũng là những nước trong danh sách 10 nước đứng đầu thế giới về sản phẩm NTTS năm 1998 [39]
2.2.2 Kinh nghiệm Nuôi trồng thuỷ sản ở một số nước trên thế giới
* NTTS ở Trung Quốc
Trung Quốc bắt đầu phát triển nhanh NTTS từ giữa những năm 80 của thế
kỷ trước và nhanh nhất từ năm 1989 Đến năm 1997, Trung Quốc đạt sản lượng 19,3 triệu tấn sản phẩm (chiếm 75,4% sản phẩm NTTS ở Châu á và chiếm 60,1% tổng sản phẩm NTTS thế giới) Trung Quốc là thị trường lớn hàng đầu Châu á với đặc điểm vừa tiêu thụ, vừa tái chế xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc đã vượt mức 3 tỷ USD/1năm Nhưng nhập khẩu cũng tăng rất nhanh và vượt 2 tỷ USD vào năm 1996
Qua tổng kết quá trình phát triển nghề nuôi trồng thuỷ sản hơn 20 năm nay, Chính phủ Trung Quốc đã rút ra 4 kinh nghiệm quan trọng, đó là:
- Một là, mở cửa toàn diện thị trường hàng thuỷ sản
- Hai là, thực hiện cải cách thể chế kinh doanh lấy gia đình nhận thầu và chế độ cổ phần hợp tác làm chính, tìm được phương thức kinh doanh phù hợp với
đặc điểm sản xuất nuôi thuỷ sản ở Trung Quốc và mức phát triển lực lượng sản xuất nghề cá Đồng thời, Chính phủ cải thiện phương thức điều khống đối với quản lý nghề cá, phát huy một cách đầy đủ tác dụng có tính cơ sở của cơ chế thị trường trong sự phát triển kinh tế nghề cá
- Ba là, xác lập phương châm phát triển nghề cá lấy nuôi làm chính, tiến hành đồng thời nuôi trồng, khai thác, chế biến và chiến lược phát triển “Khoa học công nghệ chấn hưng nghề cá”
- Bốn là, kiên trì “bằng pháp luật chấn hưng nghề cá” Việc quản lý và bảo
vệ tài nguyên nghề cá được đẩy mạnh, tăng nhanh tiến trình xây dựng pháp chế, bước đầu hình thành hệ thống pháp luật nghề cá có màu sắc Trung Quốc, đồng
- 26 -
Trang 27thời hình thành đội ngũ chấp pháp hành chính nghề cá thống nhất lãnh đạo phân cấp quản lý Việc quản lý nghề cá cơ bản đã được đưa vào quỹ đạo pháp chế
Chính phủ Trung Quốc tích cực đẩy mạnh việc điều chỉnh có tính chiến lược kết cấu nghề cá, gia sức tăng thu nhập cho ngư dân, phát triển trọng điểm nghề NTTS, kiên trì lấy thị trường làm dẫn hướng, ưu hoá kết cấu nuôi trồng, đột xuất nắm chắc nuôi trồng giống loài có tiếng, đặc sản, ưu thế và giống mới Củng
cố và hoàn thiện cơ bản chế độ kinh doanh nhận thầu mặt nước nuôi trồng, nhất
là đối với ngư dân chuyển từ nghề đánh bắt sang nuôi trồng, ưu tiên cấp phát giấy chứng nhận nuôi trồng để ngư dân được uống “viên thuốc định tâm” Từ mặt đảm bảo chế độ, Chính phủ Trung Quốc đã huy động đầy đủ tính tích cực và tính sáng tạo của ngư dân vào việc phát triển nghề NTTS [3], [43]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Mỹ
Nghề NTTS ở Mỹ mới bắt đầu khoảng 30 năm trở lại đây và đang phát triển nhanh NTTS ở Mỹ chủ yếu là nuôi cá nước ngọt Sản lượng nuôi trồng tăng nhanh, từ 150 nghìn tấn năm 1980 lên 315 nghìn tấn năm 1990 và 413 nghìn tấn năm 1996, đứng hàng thứ 6 trên thế giới và đứng hàng đầu Châu Mỹ (năm 1998 tụt xuống hàng thứ 8 trên thế giới) Chất lượng sản phẩm NTTS của Mỹ khá cao
NTTS của Mỹ tuy sản lượng không cao nhưng hiệu quả lớn và đạt trình độ rất cao Hầu như mọi quá trình được cơ giới hoá và tự động hoá Chính phủ Mỹ
đã đẩy mạnh công nghiệp chế biến, cả chế biến thuỷ sản thực phẩm và chế biến sản phẩm kỹ thuật Mặt khác, việc đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị kỹ thuật
được nhà nước bảo hộ nên tăng rất nhanh trong quá trình CNH - HĐH ngành NTTS [11]
Lịch sử nghề NTTS ở Mỹ tuy ngắn ngủi nhưng do ưu thế của xã hội công nghiệp hoá cao nên đã hình thành đặc điểm riêng của mình:
- Sự phân công ngành nghề rất rõ ràng: trại nuôi chuyên lo sản xuất cá giống và cá thịt, xí nghiệp thức ăn chuyên lo sản xuất thức ăn và căn cứ vào nhu cầu của hộ nuôi mà đưa thức ăn đến tận nơi, xí nghiệp chế biến phụ trách thu
- 27 -
Trang 28mua và chế biến cá ở Mỹ, nghề chế biến không thể thiếu được trong việc phát triển nghề NTTS
- Đơn vị sản xuất có qui mô lớn, trình độ cơ giới cao Thường mỗi trại nuôi cá có diện tích hàng trăm đến hàng nghìn ha, mỗi ao nuôi có diện tích từ vài
ha đến hàng chục ha Phần lớn công việc đều được cơ giới hoá, tự động hoá, kể cả việc chăm sóc và thu hoạch
- Phương thức nuôi thường là nuôi đơn, không chạy theo sản lượng mà chú
ý đến chất lượng Đó là nét riêng biệt trong NTTS với điều kiện của nền kinh tế
Mỹ
- Đặc biệt coi trọng nguồn nước: người ta rất trú trọng đến việc quản lý chất lượng nước, nhất là tăng cường việc quản lý số lượng cá thả và thức ăn nuôi cá, hết sức đề phòng nước biến chất
- Hết sức coi trọng sức khoẻ con người và bảo vệ môi trường: khống chế nghiêm ngặt việc sử dụng nông dược hoá và thuốc chữa bệnh cho cá, việc quản lý
đối với nước thải nuôi cá cũng rất chặt chẽ, cá chết trong các trại nuôi không
được tự ý vứt bừa bãi mà phải đưa đến nơi qui định để chôn hoặc tiêu huỷ [11]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Thái Lan
Thái Lan luôn là nước xuất khẩu thuỷ sản số 1 thế giới, hàng năm xuất khẩu từ 4 - 6 tỷ USD Năm 1994, Thái Lan là nước đứng thứ 5 trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể Nói chung sản lượng tăng theo hàng năm với các đối tượng nuôi đa dạng Thái Lan giữ vững thứ hạng với sản lượng cá và các loài nhuyễn thể là khoảng trên dưới 600 nghìn tấn, trong đó có từ 250 - 300 nghìn tấn là cá nước ngọt Thái Lan phát triển triển mạnh việc nuôi cá rô phi, đặc biệt là rô phi dòng Nile và các loài cá trê Thái Lan là nước có sản lượng cao nhất về cá rô phi (102.744 tấn năm 1997) và là nước đứng đầu khu vực về sản xuất cá rô phi
từ năm 1995 - 1997 Thái Lan cũng là nước đứng đầu khu vực về sản xuất tôm sú (211.100 tấn năm 1997) Đây cũng là nước sản xuất tôm càng xanh chỉ sau Malaixia và Mianma với sản lượng 7.800 tấn vào năm 1997 [30]
- 28 -
Trang 29Chính phủ Thái Lan rất quan tâm đến việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật phục vụ cho phát triển NTTS Nguồn nhân lực phục vụ cho chăn nuôi cá cũng
được nhà nước quan tâm đào tạo Chỉ tính cấp trung ương, Thái Lan cũng đã có 9
đơn vị chuyên nghiên cứu về kỹ thuật NTTS, với các lĩnh vực: kỹ thuật nuôi cá, thức ăn cá, bệnh cá, di truyền cá, công trình nghề cá và quản lý nghề nuôi Hiện tại có 3 trường đại học quốc lập (Kasetsart, Khonkaen và Songkha) và Học viện
kỹ thuật Châu á (AIT) đang thực hiện việc đào tạo và nghiên cứu NTTS Việc
đào tạo ở đây đảm bảo cả đào tạo kỹ thuật viên và cán bộ khoa học kỹ thuật cấp
đại học [10]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Inđônexia
Từ năm 1994, Inđônêxia là nước đứng thứ tư trên thế giới về sản xuất cá
và nhuyễn thể Cũng như Thái Lan, Inđônêxia đã giữ vững thứ hạng về NTTS trên thế giới Sản lượng NTTS năm 1997 đạt 754.610 tấn Trong đó phần lớn là các loài cá nước ngọt như : cá chép, rô phi, với tổng sản lượng 407.990 tấn thuỷ sản nước ngọt (chiếm 54% tổng sản lượng thuỷ sản) Năm 1996 và 1997, Inđonêxia trở thành nước đứng đầu về sản xuất cá măng và chỉ đứng sau Thái Lan trong sản xuất tôm sú [10]
* Nuôi trồng thuỷ sản ở Philipin
Philipin là nước đứng thứ 7 trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể vào năm 1994, nhưng sau đó tụt xuống thứ 11 vào năm 1997 với tổng sản lượng cá và nhuyễn thể là 330.443 tấn Năm 1993, Philipin trở thành nước sản xuất các loài cá rô phi lớn nhất khu vực Nhưng đến năm 1995 sản lượng cá rô phi giảm đáng
kể và đến năm 1997 lại giảm một lần nữa Các loài cá nước ngọt khác cũng được nuôi, bao gồm nhóm cá chép, cá trê và cá quả Philipin cũng đã từng là nước
đứng đầu khu vực về nuôi cá măng Nhưng sản lượng cá măng giảm khi sản lượng tôm sú tăng vào năm 1992 do việc sử dụng các ao nước lợ cho nuôi tôm [35]
Trong những năm gần đây, chăn nuôi cá trên thế giới được phát triển mạnh
mẽ, với trình độ thâm canh cao, hình thức thâm canh phong phú và đa dạng, nhất
- 29 -
Trang 30là ở các nước ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan, Bănglađét, ở một số nước phát triển và một số nước có tiềm năng thuỷ sản phong phú đã bắt đầu chuyển sang nuôi với qui mô lớn Nhiều tổ chức quốc tế quan tâm giúp đỡ các nước có tiềm năng phát triển nghề NTTS mà chưa phát huy được
Nước ta có tiềm năng to lớn để phát triển nghề NTTS Cả nước có 1,7 triệu
ha mặt nước có khả năng NTTS , trong đó có trên 600.000 ha ruộng trũng, trên 200.000 ha quá trũng[34] cấy lúa bấp bênh, phải mất rất nhiều công sức và tiền của mới có thể cấy lúa được Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chăn nuôi cá nói riêng và nghề NTTS nói chung ở nước ta bắt đầu được phát triển
2.2.3 Tình hình phát triển NTTS ở Việt Nam
* Thời kỳ trước năm 1954
Nửa đầu thế kỷ XX, NTTS ở Việt Nam mới chỉ phát triển và phổ biến ở miền Bắc do nguồn cá tự nhiên bị hạn chế trong khi nhu cầu ngày càng tăng theo nhịp độ phát triển dân số và đô thị Cho đến đầu những năm 30, nuôi cá nước ngọt đã được lan rộng, khắp từ các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng đến các tỉnh miền núi phía bắc và Tây Bắc [35]
* Thời kỳ hợp tác hoá
Thời kỳ này phong trào NTTS đã bắt đầu phát triển ở cả 3 thành phần kinh tế: Các xí nghiệp quốc doanh, các hợp tác xã và các hộ gia đình Tuy nhiên, do cơ chế quản lý và trình độ kỹ thuật lúc đó còn nhiều hạn chế nên việc nuôi cá mang tính chất tự cung tự cấp trong phạm vi hợp tác xã và các hộ gia đình là chính Chỉ có một số rất ít các đơn vị quốc doanh sản xuất mang tính chất kinh doanh, trình độ thâm canh thấp, mang tính quảng canh, thả là chính chứ chưa đầu tư nuôi cá [35]
* Thời kỳ từ sau khi đổi mới
Thời gian gần đây, NTTS được phát triển ở nhiều nơi thuộc cả 3 miền: Bắc
- Trung - Nam Nghề NTTS ở nước ta đã chuyển từ một nền sản xuất tự túc tự cấp sang nền sản xuất hàng hoá Hằng năm, tốc độ tăng trưởng ngành thuỷ sản là từ 4 - 5% Năm 1998, diện tích NTTS tăng 4,38%, sản lượng NTTS tăng 5,5% so với
- 30 -
Trang 31năm 1997 Cuối năm 1998, cả nước đã có 626.330 ha mặt nước được đưa vào sử
dụng để NTTS Trong đó, có 335.890 ha mặt nước ngọt Năm 1994, Việt Nam là
nước đứng thứ 13 trên thế giới về sản xuất cá và nhuyễn thể Nhưng đến năm 1997
vươn lên hàng thứ 7 với tổng sản lượng cá và nhuyễn thể là 480.000 tấn [11], [43]
Tính đến năm 2001 diện tích có khả năng nuôi trồng thuỷ sản khoảng 1.700.000 ha Diện tích các loại mặt nước đã được sử dụng năm 2001 là 993.264
ha, chiếm 59% so với diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thuỷ sản, trong
đó mặt nước vùng triều đã sử dụng tới 91%, tính riêng diện tích nuôi tôm nước lợ
chiếm 75%, các loại mặt nước còn lại có thể phát triển thêm, đặc biệt là loại hình
DT (ha)
Tỷ lệ sử dụng
so khả năng (%)
Nguồn: Quy hoạch tổng thể ngành thuỷ sản
Từ phát triển nhanh chóng về diện tích đã dẫn đến việc tăng sản lượng
Mặt khác, chất lượng và giá trị sản phẩm cũng dần dần được nâng lên Tuy nhiên
trong quá trình phát triển vừa qua cũng còn những vấn đề tồn tại, như: chưa quan
- 31 -
Trang 32tâm đến việc qui hoạch sử dụng hợp lý mặt nước NTTS, thiếu qui hoạch cụ thể cho từng tiểu vùngđể đầu tư phù hợp, với cơ sở hạ tầng đồng bộ; sự phát triển chủ yếu vẫn mang tính tự phát, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, việc ban hành các chính sách chưa kịp thời, thiếu tính đồng bộ nên chưa phát huy được thế mạnh của nghề NTTS nói chung và chăn nuôi cá nói riêng
Giai đoạn 1996 - 2000 là thời kỳ chuyển tiếp từ một nền kinh tế nghề cá mang nặng tính tự phát, khai thác các nguồn lợi tự nhiên sang nghề cá có đầu tư Năm 2000, ngành thuỷ sản đã thu hút được 1.141.500 lao động , trong đó có 560.000 lao động NTTS [16] Giai đoạn này đã kết thúc một cách tốt đẹp
Hiện nay hang thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam có mặt trên 60 nước trên thế giới, được FAO xếp thứ 3 trong các nước xuất khẩu thuỷ sản vùng Đông Nam
á , đứng thứ 25 trên thế giới về giá trị kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản Xuất khẩu thuỷ sản đã trở thành động lực cho toàn ngành thuỷ sản phát triển, đfặc biệt thúc
đẩy phát triển nuôi trồng thuỷ sản và chế biến thuỷ sản Tốc độ phát triển xuất khẩu thuỷ sản bình quân trong những năm qua đạt 117%/năm, trong đó giá trị kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ nuôi trồng thuỷ sản ngày càng chiếm tỷ trọng cao
Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu tốc độ phát triển NTTS Việt Nam thời kỳ 2000 - 2002
(%)
1 Tổng diện tích NTTS ha 652.113 993.264 955.000 121 Trong đó: Diện tích NTTS nước ngọt ha 310.383 410.537 425.000 117
2 Tổng sản lượng NTTS tấn 723.110 891.695 976.100 116 Trong đó: Sản lượng NTTS nước ngọt tấn 495.764 567.294 586.100 109
3 Tổng giá trị KNXK toàn ngành triệu
USD
1.478 1.760 2.014 117
4 Tỉ lệ KNXK từ sản phẩm NTTS % 50 57 60 110
5 Lao động NTTS tgười 560.000 580.000 600.000 104Nguồn: Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành Thuỷ sản đến 2010
và Báo cáo tổng kết ngành Thuỷ sản hàng năm
- 32 -
Trang 33Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt đang phát triển rất mạnh, và đang có bước chuyển biến mạnh từ sản xuất nhỏ tự túc, sang sản xuất hàng hoá nhất là việc phát triển nuôi cá tra, cá basa một vài năm gần đây đã đem lại hiệu quả kinh tế cao, giá trị xuất khẩu lớn
Đặc biệt nuôi trồng thuỷ sản cũng đã phát triển tới các vùng sâu vùng xa, không những là nguồn cung cấp dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần quan trọng vào việc xoá đói giảm nghèo Nhiều trang trại nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt chuyên canh hoặc canh tác tổng hợp nhưng lấy nuôi trồng thuỷ sản làm hạt nhân đã và đang hình thnàh và phát triển khắp nơi góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn
Chủ trương phát triển nghề NTTS và cho phép nông dân đổi ruộng trũng, ruộng cấy lúa đạt hiệu quả thấp sang NTTS là một chủ trương lớn, việc chuyển
đổi này cần đạt được hiệu quả kinh tế cao Trong thực tế những năm qua, việc chuyển đổi này còn có những khó khăn, lúng túng; việc chuyển đổi mang nặng tính tự phát, các vùng chuyển đổi chưa được qui hoạch hoàn chỉnh, đồng bộ; hệ thống mương máng thiếu thốn, không đảm bảo, chưa có hệ thống điện, diện tích còn manh mún, phân tán, không thể nuôi thâm canh được
Chúng ta đang bước vào giai đoạn 2001 - 2005 là giai đoạn tích cực đầu tư
và phát huy hiệu quả đầu tư Nhiều địa phương trong cả nước đang phát triển nghề NTTS một cách rầm rộ Kết quả đánh giá năm 2001 đã thể hiện rõ điều đó: Tổng diện tích NTTS là 751.900 ha (nhiều hơn năm 2000 là 192.501 ha, tăng 34,4%), Tổng sản lượng thuỷ sản nuôi trồng trong năm 2001 là 725.827 tấn (nhiều hơn năm 2000 là 180.569 tấn) Tổng giá trị nghề NTTS năm 2001 của cả nước đạt 4224 tỷ đồng, lợi nhuận thu từ việc NTTS đạt 1032 tỷ đồng (tỷ suất lợi nhuận đạt 32,3%)[14] Đó là những tín hiệu đáng mừng báo trước một thời kỳ phát triển của ngành thuỷ sản nói chung và chăn nuôi cá nói riêng Tuy nhiên, trong việc phát triển NTTS thời gian qua đã bộc lộ một số điểm yếu như sau :
- Hầu hết các địa phương chưa có qui hoạch tổng thể vùng nuôi và các tiểu vùng nuôi, hoặc đã có qui hoạch nhưng không còn phù hợp với tình hình phát
- 33 -
Trang 34triển nghề NTTS hiện tại, do đó cần phải được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với thực tế
- Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng cơ sở, nhất là thuỷ lợi phục vụ việc NTTS còn yếu kém, có nơi còn chưa đầu tư gì cho việc NTTS
- Việc giao đất, mặt nước NTTS hiện nay ở một số địa phương chưa hoàn thành, gây khó khăn cho việc dùng quyền sử dụng đất làm tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng; có nơi thời hạn giao đất ngắn, không ổn định làm cho người dân không yên tâm đầu tư vào các công trình NTTS
- Người NTTS còn thiếu kiến thức về khoa học kỹ thuật, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa Đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật và lực lượng làm công tác khuyến ngư còn quá mỏng, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế phát triển NTTS
- Việc quản lý và tổ chức sản xuất con giống còn lỏng lẻo, có lúc có nơi xuất hiện tình trạng dư thừa một lượng lớn con giống; trong khi đó có nơi lại xảy
ra tình trạng khan hiếm và thiếu con giống
- Các cơ sở sản xuất thức ăn công nghiệp phục vụ NTTS còn thiếu vàyếu, chất lượng sản phẩm thấp Việc nhập khẩu nhiều loại thức ăn cho NTTS còn chưa
được quản lý chặt chẽ
- Môi trường sinh thái ở một số vùng nuôi bị nhiều tác động tiêu cực và chưa được xã hội quan tâm bảo vệ đã làm ảnh hưởng đến chất lượng nuôi trồng, nhất là gây ảnh hưởng tới việc phát triển NTTS bền vững
Trước những khó khăn vướng mắc đó, nghề NTTS đã được Chính phủ quan tâm kịp thời, các chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển nghề NTTS đã
được ban hành Ngày 15 tháng 6 năm 2000, Chính phủ đã có nghị quyết số 09/2000/NQ- CP về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp Trong đó chỉ rõ về chương trình phát triển NTTS, Chính phủ cho phép nông dân được chuyển đổi ruộng trũng, năng suất lúa thấp sang NTTS [4] Nghị quyết đại hội IX của Đảng cũng đã định rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2010 phải đạt 3-3,5 triệu tấn thuỷ sản (trong đó có 1/3 là sản
- 34 -
Trang 35phẩm nuôi trồng) Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản phải đạt 3,5 tỷ USD [1, tr 53]
2.2.4 Các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, ngành thuỷ sản liên quan đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản tại Việt Nam
- Các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về sử dụng đất và mặt nước, thuế, khuyến khích phát triển nuôi trồng thuỷ sản, mở rộng thị trường sản phẩm thuỷ sản, bao gồm các chính sách sau:
+ Quyết định số 224/TTg ngày 8/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình Phát triển Nuôi trồng thuỷ sản thời kỳ 1999 – 2010;
+ Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ về một số chủ trương và chính sách về chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
+ Quyết định số 103/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/2000 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách khuyến khích phát triển giống thuỷ sản;
+ Nghị định số 86/2001/NĐ-CP ngày 16/11/2001 về điều kiện kinh doanh các ngành nghề thuỷ sản;
+ Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27/9/2001 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2001 - 2005;
+ Quyết định số 132/2001/QĐ-TTg ngày 20/12/2001 về cơ chế tài chính thực hiện chương trình phát triển đường giao thông nông thôn, cơ sở hạ tầng nuôi trồng thuỷ sản, cơ sở hạ tầng làng nghề nông thôn;
+ Quyết định số 193/2001/QĐ/TTg ngày 20/12/2001 về việc ban hành Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ;
+ Các chính sách về trợ cước, trợ giá giống thuỷ sản cho vùng sâu, vùng xa;
- Các chủ trương chính sách của ngành Thuỷ sản
Ngoài chương trình phát triển Nuôi trồng thuỷ sản đã được Chính phủ phê duyệt, ngành Thuỷ sản đã chỉ đạo xây dựng các quy hoạch phát triển, ban hành các thông tư, quyết dịnh tạo điều kiện cho phát triển ngành Các quy hoạch,
- 35 -
Trang 36thông tư, quyết định có liên quan trực tiếp đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản bao gồm:
+ Quyết định số 03/2002/QĐ-BTS ngày 23 tháng 01 năm 2002 về việc ban hành Quy chế quản lý thuốc thú y thuy sản;
+ Quyết định số 04/2002/QĐ-BTS ngày 24 tháng 1 năm 2002 về việc ban hành Quy chế quản lý môi trường vùng nuôi tôm tập trung;
+ Quy hoạch tổng thể pt kinh tế - xã hội ngành thuỷ sản đến 2010;
+ Quy hoạch phát triển nuôi trồng thuỷ sản đến 2010 các vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Bắc bộ và Bắc Trung Bộ;
+ Quy hoạch hệ thống giống thuỷ sản đến 2010;
+ Quy hoạch nuôi cá ruộng trũng đến 2010;
+ Các quy hoạch phát triển thuỷ sản của các tỉnh
2.2.5 Tổng quan nghiên cứu NTTS trên thế giới và ở Việt Nam
điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau trong các vấn đề về kinh tế và kỹ thuật NTTS Nhóm tác giả Martưsev, Movtran, Proxianưi có các quan điểm trái ngược với nhóm tác giả Sapecklau, Knaute, Arnold về vấn đề hiệu quả của quá trình phơi ao, cải tạo ao [8] Về vấn đề quan hệ tỷ lệ giữa việc tăng mật độ thả cá giống với tổng sản lượng, năng xuất và trọng lượng cá thể của cá nuôi cũng có những quan điểm khác hẳn nhau giữa nhóm tác giả Martưsev, Eleonski, Cudơnhetxôv với nhóm tác giả Irikhimôvit và Tagirôvôi [8] ý kiến về khả năng
- 36 -
Trang 37sử dụng phân khoáng như một phương tiện để nâng cao năng suất cá của ao hồ đã
có từ lâu Trong các tác phẩm của Bogođin, Spitracov, Eleonski, Arnolđ, Stođolski và các nhà nghiên cứu khác đã nói về điều này và đặt cơ sở cho khoa học nuôi cá ao hồ cuả nước ta [8] Về vấn đề này, các tác giả Gaevskaia và Erunan (một trong những chuyên gia nổi tiếng về lĩnh vực này) cũng đã có những nhận định và đánh giá qua các công trình nghiên cứu của mình, đặc biệt là sau khi tổng kết các kết quả nghiên cứu của các viện nghiên cứu khoa học [8] Vấn đề liên quan giữa nhiệt độ, môi trường với tốc độ lớn
của cá và các biện pháp thâm canh tương ứng được các tác giả Proxianưi, Xolovei, Spet và Martưsev nêu rõ trong các cuốn sách mà các ông đã viết để hướng dẫn về kỹ thuật nuôi cá ở ao hồ [8]
Cuối những năm 60, các viện nghiên cứu khoa học về nuôi cá ở Liên-xô
đã chú trọng tới vấn đề nâng cao hiệu quả cho ăn trong chăn nuôi cá ao hồ Một trong những phương hướng cơ bản của các công trình nghiên cứu là chế biến thức
ăn hỗn hợp có giá trị kinh tế, trong đó dạng thức ăn tối ưu nhất của nó là phải kết hợp được đầy đủ giá trị sinh học của chúng với giảm giá thành Các tác giả Proxian, Geltov và Pheđorencô còn chỉ rõ rằng:khi thành phần của khẩu phần thức ăn khác nhau thì chi phí thức ăn cho một đơn vị tăng trọng có thể biến động trong một giới hạn lớn [8]
Cũng trong những năm 60, các chuyên gia nổi tiếng về nuôi cá của Tiệp Khắc như Phoma Duditr, Stodonski và Borođin lại tập trung nghiên cứu về luân canh nuôi cá trong nông nghiệp, nhất là nuôi cá trong hệ thống tưới tiêu của trồng trọt ở các nông trang và các nông trường [45, tr.92 - 99]
Trong những năm gần đây, tổ chức FAO cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực thuỷ sản ở Việt nam và đã khởi xướng chiến lược
“NTTS bền vững để xoá đói giảm nghèo” (Sustainable Aquaculture for Poverty Alleviation-SAPA) Mạng lưới các trung tâm NTTS Châu á Thái Bình Dương (NACA) cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu ở khu vực và ở Việt Nam, từ đó một chiến lược quốc gia đã được đưa ra nhằm tăng cường sự đóng góp của NTTS
- 37 -
Trang 38vào chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo của chính phủ (Hunger and Poverty Reduction - HEPR) Năm 2000, nhóm Hợp tác và đối tác (Cooperation and Partnership Group- CPG) do tổ chức FAO thành lập đã cùng Bộ thuỷ sản tiến hành nghiên cứu và đưa ra một số chính sách nhằm phát triển NTTS và cùng với UNDP, NACA giúp đỡ Chính phủ Việt Nam hình thành Chiến lược quốc gia về chứng nhận sức khoẻ và chất lượng động vật thuỷ sinh, đồng thời giúp Việt Nam xây dựng Luật Thuỷ sản Việt Nam [8]
* Nghiên cứu ở Việt Nam
Với sự trợ giúp của FAO, Viện nghiên cứu NTTS I cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về NTTS theo các góc độ cả về kỹ thuật, cả về kinh tế xã hội Trong đề tài “Nuôi thâm canh cá rôphi thương phẩm trong ao nước ngọt”, các tác giả: Phạm Anh Tuấn, Phạm Đức Lương, Lê Quang Hưng đã cho thấy hiệu quả của việc nuôi cá rôphi ở các mô hình khác nhau
Các thành tựu kỹ thuật và công nghệ di giống, thuần dưỡng giống mới, nuôi năng suất cao, của các Viện, trung tâm nghiên cứu ngành thuỷ sản Liên quan trực tíêp đến phát triển nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt là các thành tựu về sản xuất nhân tạo giống một số loài: cá trê lai, tôm càng xanh, cá chim trắng; bước đầu thuần dưỡng một số loài thuỷ sản nước mặn, lợ vào trong nuôi nước ngọt như: tôm sú, có song, cá vược,
Năm 1997, sau một thời gian tập trung nghiên cứu, Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản ( Bộ Thuỷ sản) đã hoàn thành dự án Quy hoạch tổng thể ngành thuỷ sản đến năm 2010 Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản cũng đã tiến hành nghiên cứu và quy hoạch phát triển thuỷ sản giai đoạn 2000-2010
Trước đây đã có một số công trình nghiên cứu tiềm năng đất đai và xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp nhằm khai thác các vùng úng trũng của đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ đi sâu nghiên cứu mô hình đặc trưng với một số công thức luân canh đang được sử dụng Các giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa thật cụ thể rõ ràng; Nhất là trong điều kiện cụ thể của huyện Gia Bình Do đó việc đánh giá tiềm năng, xác định hiện trạng và tìm ra các
- 38 -
Trang 39giải pháp để nần cao hiệu quả kinh tế NTTS trên địa bàn huyện Gia Bình vẫn còn
là vấn đề thời sự, có ý nghĩa lớn đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Gia Bình
Qua những vấn đề trên cho thấy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề NTTS Tuy nhiên, hầu hết các công trình trên là các đề tài nghiên cứu tự nhiên
và kỹ thuật, rất ít đề tài mang tính kinh tế - xã hội Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả, các phương pháp nghiên cứu của các đề tài khoa học đã được công
bố, đề tài của chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu tình hình thực trạng và giả pháp nâng cao hiệu quả kinh tế NTTS trên đất trũng của các hộ nông dân trên địa bàn huyện Gia Bình; phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và hiệu quả việc NTTS của các hộ nông dân trên địa bàn; đánh giá tiềm năng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả NTTS trên địa bàn huyện Gia Bình nhằm tăng giá trị thu từ
1ha đất canh tác, nâng cao thu nhập và nâng cao đời sống của nhân dân
- 39 -
Trang 40Toạ độ địa lý: 21001’ 14” đến 21006’ 51 ” vĩ độ Bắc
105007’ 43” đến 106018’ 22 ” vĩ độ Đông
- Phía Bắc là con sông Đuống giáp bên kia là huyện Quế Võ
- Phía Nam giáp huyện Lương Tài có dòng sông Ngụ chạy dọc là đường phân cách hai huyện
- Phía Đông giáp tỉnh Hải Dương có con sông Thái Bình chảy qua
- Phía Tây giáp huyện Thuận Thành
Với vị trí như trên, Gia Bình có những thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện như sau:
Hệ thống tuyến đường tỉnh lộ 280, 282, 284, 285 nối liền với quốc lộ 1A và quốc lộ 5 qua huyện cùng với hệ thống các tuyến đường huyện lộ hình thành nên mạng lưới giao thông khá thuận lợi Hiện nay Đường 288 (đường 38 cũ) đã được nâng cấp thành quốc lộ và xây dựng cầu hồ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá và tiêu thụ sản phẩm
3.1.1.2 Điều kiện thời tiết, khí hậu thuỷ văn
Gia Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa: nóng ẩm, mưa nhiều, chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Thời tiết trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô Mùa mưu từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau
- 40 -