Các chất hoạt động bề mặt trong nước đa số là các chất hữu cơ: axit béo, muối của axit béo, ester, rượu, alkyl sulfate… Phân tử chất hoạt động bề mặt thường được cấu tạo bởi hai phần:
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THUỶ LỢI
BỘ MÔN KỸ THUẬT HÓA HỌC
http://www.tlu.edu.vn
Bài giảng HÓA HỌC CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT
HÀ NỘI – 2018
Mẫu1
Trang 2Mục lục
Chương 1 (3 tiết) 4
TỔNG QUAN VỀ CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 4
1.1 Lịch sử chất hoạt động bề mặt 4
1.1.1 Giới thiệu 4
1.1.2 Lịch sử 4
1.2 Định nghĩa về các chất hoạt động bề mặt 5
1.3 Phân loại các chất hoạt động bề mặt theo sử dụng 7
1.3.1 Chất hoạt động bề mặt tan trong nước 7
1.3.2 Chất hoạt động bề mặt hòa tan dầu nước 7
1.3.3 Chất hoạt động bề mặt tan trong dầu 7
1.4 Ứng dụng của các chất hoạt động bề mặt trong sản xuất và đời sống 8
1.4.1 Công nghiệp hóa chất: 8
1.4.2 Khai thác và chế biến dầu mỏ 8
1.4.3 Công nghiệp nhẹ như dệt, da, thực phẩm, nhuộm 9
1.4.4 Công nghiệp luyện thép và chế tạo máy 9
1.4.5 Công nghiệp và kĩ thuật xây dựng 9
1.4.6 Nông nghiệp 9
1.4.7 Công nghiệp thực phẩm 9
1.4.8 Công nghiệp dược phẩm 10
1.4.9 Sinh học 10
Chương 2 (9 tiết) 12
PHÂN LOẠI VÀ TÍNH CHẤT CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 12
2.1 Phân loại các chất hoạt động bề mặt 12
2.1.1 Chất hoạt động bề mặt anionic 12
2.1.2 Chất hoạt động bề mặt cationic 16
2.1.3 Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính 17
2.1.4 Chất hoạt động bề mặt không ion 19
2.1.5 Chất hoạt đông bề mặt ampholit (giới thiệu để đọc tài liệu) 20
2.1.6 Chất hoạt động bề mặt đa điện tích (giới thiệu để sv tự đọc) 23
2.1.7 Chất hoạt động bề mặt polime (giới thiệu) 27
2.2 Một số tính chất của các chất hoạt động bề mặt 28
2.2.1 Sức căng bề mặt 28
2.2.2 Cấu tạo chất hoạt động bề mặt trên ranh giới lỏng – khí 36
2.2.3 Sự hình thành micelle 36
2.2.4 Nồng độ micelle tới hạn 38
2.2.5 Điểm Kraft 39
2.2.6 Điểm đục 40
2.2.7 Cân bằng hydrophin-lipophin (HLB) 40
2.2.8 Đặc tính bề mặt lỏng – rắn và quan hệ bề mặt trong hệ ba pha 43
Chương 3 (6 tiết) 45
KHẢ NĂNG TẠO NHŨ TƯƠNG, TẠO BỌT CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 45
3.1 Khả năng tạo nhũ tương 45
3.1.1 Phân loại nhũ tương 45
3.1.2 Hiện tượng nhũ hóa 46
3.1.3 Chất nhũ hóa 46
3.1.4 Độ bền vững và tập hợp của nhũ tương 48
Trang 33.1.5 Các biện pháp làm bền nhũ 49
3.1.6 Điều chế và phá vỡ hệ nhũ tương (sự đảo nhũ) 51
3.1.7 Một số chất hoạt động bề mặt được dùng làm chất nhũ hóa O/W 52
3.2 Khả năng tạo bọt 54
3.2.1 Độ bền vững tập hợp của bọt 54
3.2.2 Các nguyên nhân làm bền bọt 55
3.2.3 Các tác nhân làm tăng bọt 55
3.2.4 Các tác nhân chống bọt 56
3.2.5 Điều chế và phá vỡ bọt 57
Chương 4 (3 tiết) 59
KHẢ NĂNG TẨY RỬA CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 59
6.1 Cơ chế tẩy rửa 59
6.1.1 Tẩy các vết bẩn có chất béo 59
6.1.2 Tẩy các vết bẩn dạng hạt 62
6.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tẩy rửa: 64
6.2.1 Ảnh hưởng của pH 64
6.2.2 Ảnh hưởng của nhiệt độ 65
6.2.3 Ảnh hưởng của chất điện ly 65
6.3 Đánh giá khả năng tẩy rửa 65
6.4 Chất hoạt động bề mặt và các chỉ tiêu khác 66
6.4.1 Khả năng tạo huyền phù 66
6.4.2 Khả năng thấm ướt 66
6.4.3 Chỉ số canxi chấp nhận 66
Chương 5 (8 tiết) 67
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT MỘT SỐ CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 67
5.1 Công nghệ sản xuất chất HĐBM anionic 67
5.1.1 Công nghệ sản xuất muối axit béo (xà phòng) 67
5.1.2 Công nghệ sản xuất chất HĐBM sulfate 77
5.1.3 Công nghệ sản xuất chất HĐBM sulfonate 82
5.1.4 Ứng dụng 86
5.2 Công nghệ sản xuất chất HĐBM cationic 87
5.2.1 Từ các axit béo mạch dài 87
5.2.2 Từ các dẫn xuất halogenua 88
5.2.3 Từ các rượu mạch dài (ancol béo) 88
5.2.4 Từ ankanolamide (este-quat) 88
5.2.5 Chuyển hóa amin thành muối amoni bậc 4 89
5.2.6 Ứng dụng 89
5.3 Công nghệ sản xuất chất HĐBM non-ionic 90
5.3.1 CN sản xuất chất HĐBM non-ionic từ ankyl phenol 90
5.3.2 CN sản xuất chất HĐBM non-ionic từ rượu béo mạch dài 91
5.3.3 Ứng dụng 91
Trang 4Chương 1 (3 tiết) TỔNG QUAN VỀ CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT 1.1 Lịch sử chất hoạt động bề mặt
1.1.1 Giới thiệu
1.1.2 Lịch sử
Công nghệ hóa học được coi là một trong những ngành khoa học có lịch sử lâu đời nhất trong lịch sử nhân loại Từ ngàn xưa nó đã được chú trọng phát triển vì có những ứng dụng thiết thực trong cuộc sống Cùng với thời gian, hóa học ngày càng có những bước tiến vượt bậc trở thành một ngành quan trọng, có ảnh hưởng tới sự phát triển của các nghành khác Một trong những ứng dụng phổ biến của ngành hóa là việc sử dụng các chất hoạt động bề mặt để sản xuất các chất tẩy rửa trong đời sống sinh hoạt hằng ngày, hay sử dụng chúng làm các chất xúc tác trong các phản ứng công nghiệp nhằm nâng cao hiệu suất sản xuất của các quá trình công nghiệp
Khoảng 2800 B.C người Babylon cổ đại đã phát minh ra xà phòng (đây là chất hoạt động
bề mặt đầu tiên được sử dụng trong việc tẩy rửa)
Hình 1.1 Lọ đựng xà phòng của người Babylon cổ
Sau đó người ta nhận thấy rằng một vài dịch ép thực vật, như saponin glycosit từ bồ kết hoặc bồ hòn có thể hỗ trợ quá trình giặt rửa Từ đó công nghệ sản xuất xà phòng được phát triển nhờ áp dụng quá trình xà phòng hóa (thủy phân trong môi trường kiềm) đối với dầu mỡ động và thực vật
Hình 1.2 Bồ kết và bồ hòn
Trang 5Do xà phòng có nhiều hạn chế khi sử dụng nên chất hoạt động bề mặt tổng hợp bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỉ XIX với tên gọi turkey red oil (TRO) –sulfate hóa dầu thầu dầu đỏ,
có vai trò quan trọng trong quá trình nhuộm vải
Hình 1.3 Turkey red oil (TRO)
Trong thế chiến thứ nhất, do sự thiếu hụt về dầu mỡ tự nhiên, người Đức đã tổng hợp ra chất hoạt động bề mặt hoàn toàn từ nguyên liệu công nghiệp: alkyl naphthalene sulfonates (từ propyl hoặc buthyl ancohol với naphthalene), có khả năng thấm ướt nổi bật, được sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay
Đến đầu những năm 1930, các alkyl aryl sulfonates mạch dài xuất hiện ở Mỹ Đến khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, các alkyl aryl sulfonates chiếm dần thị phần của ancohol sulfonates và được ứng dụng như chất tẩy rửa chính trong nhiều sản phẩm
Cùng lúc đó tại Anh, alkylbenzene sulfonate (ABS) được tổng hợp từ phân đoạn của dầu
mỏ Với ưu điểm là giảm chi phí sản xuất và tăng khả năng sử dụng mà ABS nhanh chóng chiếm thị phần của chất tẩy rửa, chiếm hơn 1 nửa lượng chất hoạt động bề mặt được sử dụng trên thế giới trong giai đoạn 1950-1965
Hình 1.4 Butyl naphthalene sulfonates (a); ABS (b) và LAS (c)
Đến đầu những năm 1960, người ta nhận thấy các chất hoạt động bề mặt ABS có chứa các mạch alkyl dài, phân nhánh rất khó bị phân hủy sinh học tự nhiên (xuất hiện bọt ở các sông
hồ và nước thải sinh hoạt) Do đó, nhóm các chất hoạt động bề mặt linear alkylbenzene sulfonate (LABSA hay LAS) dễ phân hủy hơn đã dần thay thế vị trí của ABS trong công nghiệp chất tẩy rửa
Ngày nay, các chất hoạt động bề mặt ngoài việc được nghiên cứu để sử dụng làm chất tẩy rửa thân thiện với môi trường còn được sử dụng vào các mục đích khác trng y học, sinh học, công nghiệp khai khoáng…
1.2 Định nghĩa về các chất hoạt động bề mặt
Chất hoạt động bề mặt (HĐBM) là là những chất có khả năng làm thay đổi tương tác pha
và năng lượng ở mặt ranh giới tiếp giáp lỏng – khí, lỏng – rắn hoặc dầu – nước … Các chất
Trang 6này có khả năng hấp phụ lên lớp bề mặt (độ hấp phụ Г > 0), có độ tan tương đối nhỏ và sức căng bề mặt σ bé hơn dung môi
Các chất hoạt động bề mặt trong nước đa số là các chất hữu cơ: axit béo, muối của axit béo, ester, rượu, alkyl sulfate…
Phân tử chất hoạt động bề mặt thường được cấu tạo bởi hai phần:
Phần phân cực (hidrophin hay lipophob): là các nhóm chức có cực: COOH, CONH2, -C6H4SO3-, - SO32- các nhóm này liên kết mạnh với các dung môi có cực như (H2O ) gọi là đầu ưa cực (với dung môi là nước được gọi là đầu ưa nước (ái nước, háo nước))
- Phần không phân cực (lipophin hay hidrophob): đó là các gốc hydrocacbon Các gốc này liên kết tốt với dung môi không cực nên được gọi là đuôi kị nước (ghét nước, ái dầu, háo dầu hay ưa dầu))
Chất hoạt động bề mặt gồm hai nhóm ưa nước và ưa dầu kết hợp với nhau trong phân tử nên được gọi là chất hoạt động bề mặt lưỡng chức
Người ta thường ký hiệu các chất hoạt động bề mặt theo một trong ba kiểu sau:
Đuôi kỵ nước (không cực)
Đầu ưa nước (có cực)
Ngoài ra người ta có thể đánh dấu thêm bằng các ký hiệu:
Chất hoạt động bề mặt anion
Chất hoạt động bề mặt cation
Chất hoạt động bề mặt lưỡng ion
Chất hoạt động bề mặt không ionChất không phải là chất HĐBM, chúng có xu hướng rời khỏi bề mặt dung dịch để tan vào trong dung dịch (độ hấp phụ Г < 0), có độ tan cao và sức căng bề mặt σ lớn hơn dung môi
Sức căng bề mặt
Trang 7Nồng độ
Hình 1.3 Sự phụ thuộc của sức căng bề mặt theo nồng độ (điều kiện đẳng nhiệt)
1: Chất hoạt động bề mặt 2: Chất không hoạt động bề mặt
3: Chất không ảnh hưởng đến sức căng bề mặt
Chất không ảnh hưởng đến sức căng bề mặt là những chất phân bố đều đặn trên cả lớp bề mặt và trong dung dịch, do đó không ảnh hưởng nhiều đến sức căng bề mặt của dung môi
Ví dụ: đường saccharose hòa tan vào trong nước không làm thay đổi sức căng bề mặt trên giới hạn lỏng – khí
1.3 Phân loại các chất hoạt động bề mặt theo sử dụng
Trên cơ sở tính chất của các chất HĐBM và các hệ thống nhũ người ta phân chia chúng thành một số loại sau đây:
1.3.1 Chất hoạt động bề mặt tan trong nước
Các chất HĐBM này gồm 2 phần: phần hiđrocacbon (lipophin hay hidrophob) và phần chứa các nhóm phân cực như –COONa, –SO3Na, –OH … (hidrophin hay lipophob) có tác dụng làm cho chúng dễ tan trong nước Chúng được sử dụng ở dạng dung dịch nước làm các chất giặt rửa, chất tuyển nổi, chất phá nhũ, chất ức chế ăn mòn, chất thấm ướt…
Tính chất đặc trưng của các chất HĐBM tan trong nước là tác dụng của nó ở trên bề mặt phân cách nước - không khí nghĩa là làm giảm sức căng bề mặt của chất điện ly ở giới hạn tiếp giáp không khí
Về mặt cấu tạo, các chất HĐBM tan trong nước được chia thành các chất HĐBM cationic, anionic và không ionic
1.3.2 Chất hoạt động bề mặt hòa tan dầu nước
Phần hiđrophin làm cho nó tan trong nước còn gốc hiđrocacbon dài tạo cho nó tan trong dầu Chất HĐBM tan dầu nước được sử dụng làm các chất phá nhũ, tạo nhũ và chất ức chế
ăn mòn kim loại
1.3.3 Chất hoạt động bề mặt tan trong dầu
Phần lipophin là các gốc hiđrocacbon mạch nhánh hay hiđrocacbon vòng thơm tạo cho nó
dễ tan trong dầu Chất HĐBM tan trong dầu được sử dụng để thêm vào dầu, mỡ làm chất ức chế ăn mòn, biến tính bề mặt chất rắn, tạo nhũ… Chất HĐBM tan trong dầu, không hòa tan
và không phân ly trong dung dịch nước
Trang 8Các chất HĐBM tan trong dầu, trong môi trường hiđrocacbon ít phân cực cũng như các chất HĐBM tan trong nước trong môi trường nước phân cực đều tạo nên các mixen gây nên giới hạn tướng mixen-môi trường
Hình 1.5 Chất HĐBM tan trong nước và chất HĐBM tan trong dầu
Ngoài ra, dựa trên hiện tượng hình thành keo tụ của dung dịch người ta cũng phân chia các chất HĐBM thành hai nhóm là chất HĐBM keo tụ và chất HĐBM không keo tụ:
Chất HĐBM keo tụ (hay tạo mixen) là những chất trong dung dịch sau khi đạt nồng
độ bão hòa không tạo ra kết tủa hay không phân lớp mà tạo ra các mixen có kích thước vài nanomet đến vài micronmet
Chất HĐBM không keo tụ (hay hòa tan phân tử) tạo ra một dung dịch trong
Chất HĐBM keo tụ được ứng dụng làm bền vững hóa hệ phân tán và các chất giặt rửa Chất HĐBM không keo tụ được dùng làm chất phân tán và chất tạo bọt Tuy nhiên trong một
số trường hợp cả hai chất này đều có tác dụng như nhau, ví dụ chất HĐBM không keo tụ được dùng làm chất đồng nhũ hóa hay chất bền vững hóa bọt kém bền, còn chất HĐBM keo tụ lại được dùng làm chất tạo màng
1.4 Ứng dụng của các chất hoạt động bề mặt trong sản xuất và đời sống
Các chất HĐBM có ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành sản xuất công, nông nghiệp, xây dựng
1.4.1 Công nghiệp hóa chất:
Trong công nghiệp hoá chất, các chất hoạt động bề mặt được dùng làm:
Chất tạo màng: giảm độ dính của cao su, hỗ trợ quá trình nhuộm màu, kị nước hóa của giấy (không thấm nước)
Chất phân tán: tăng chất lượng của quá trình hòa trộn của cao su, phân tán chất màu, nghiền
xi măng…
Chất thấm ướt: quá trình sản xuất nhựa
Chất bền nhũ: polime hóa thể nhũ, chế tạo cao su mủ, tạo hạt sản phẩm
Chất tạo bọt: chế tạo chất dẻo xốp, sự tạo bọt trong các quá trình sản xuất khác nhau như công nghiệp sản xuất chất giặt rửa, sản xuất và pha chế các thuốc bảo vệ thực vật
Chất tuyển nổi: tuyển nổi các muối và quặng
1.4.2 Khai thác và chế biến dầu mỏ
Chất ức chế ăn mòn: phá nhũ dầu thô
Trang 9Chất giặt rửa: chất tạo bọt và nhũ hóa
Dịch khoan, thêm chất nhũ hóa vào dung dịch khoantạo ra nhũ tương
Làm sạch và bảo vệ các phương tiện chứa đựng và vận chuyển dầu mỡ
Bền vững hóa các chất chống oxi hóa
Phá nhũ dầu thô- làm sạch dầu thô
1.4.3 Công nghiệp nhẹ như dệt, da, thực phẩm, nhuộm
Chất chống thấm ướt: Xử lý bề mặt sợi và sản phẩm khác
Chất thấm ướt: công nghiệp da, sợi và chất màu
Chất nhũ hóa: bôi mỡ dầu các da, da có lông, sợi
Chất giặt rửa
1.4.4 Công nghiệp luyện thép và chế tạo máy
Màng mỏng: chất phủ bề mặt điện hóa, chất giúp cháy khi hàn thép
Chất thấm ướt
Chất ức chế ăn mòn
Chất nhũ hóa
Chất tuyển nổi và chất tẩy rửa
1.4.5 Công nghiệp và kĩ thuật xây dựng
Chất tạo màng và chất kị nước: chất phụ gia xi măng
Chất phân tán: trộn tốt hơn các thành phần
Điều hòa sự phát triển của các tinh thể trong quá trình sản xuất xi măng
Chất tạo bọt: chế tạo bê tông bọt, thạch cao mịn, bọt chữa cháy
Chất nhũ hóa: nhũ bitum, nhũ chữa cháy
Chất phụ gia cho quá trình nghiền xi măng và đông cứng xi măng
1.4.6 Nông nghiệp
Chất phun mù: chế tạo thuốc bảo vệ thực vật (trừ sâu, trừ cỏ ) dạng sương mù phun bằng máy bay…
Chất tạo màng và chất kị nước: chất chống mất phân bón trong đất
Chất nhũ hóa: chế tạo các dung dịch thuốc bảo vệ thực vật dạng nhũ phun tay, phun máy…
1.4.7 Công nghiệp thực phẩm
Chất tạo màng ngăn cản sự hóa cứng của bánh mì
Trang 10Chất điều hòa sự phát triển của tinh thể trong quá trình chế biến đông lạnh
Chất nhũ hóa trong quá trình sản xuất magarin (bơ thực vật), sữa nhân tạo, mayone và các
sản phẩm khác
Chất bám dính bề mặt kim loại khi sơn phủ các lớp bảo vệ hộp đựng thực phẩm
1.4.8 Công nghiệp dược phẩm
Chất thấm ướt làm cho thuốc phân tán lan truyền tốt hơn trong cơ thể
Chất nhũ hóa trong quá trình sản xuất crem bôi mặt, crem dưỡng da, các dạng thuốc phun
sát trùng
Chất bền nhũ chế tạo thuốc dạng sirô
Chất khử bọt, công nghiệp tổng hợp vi sinh
Chất giặt tẩy
Chất chống vi trùng, vi khuẩn
1.4.9 Sinh học
Chế tạo màng sinh học
Chất bền vừng tạo nhũ thiên nhiên (sữa, mủ cao su)
Bảng 1.1 Một số ứng dụng tiêu biểu của chất hoạt động bề mặt T
TT
1 Sản phẩm chăm sóc cá nhân (Personal
care product)
Sản phẩm tẩy rửa gia đình và công nghiệp
(Household & Industrial Laudry &
Trang 11Gia công sợi (Fibre Processing)
Tẩy rửa, nhũ hóa và bôi trơn
Bôi trơn và chống tĩnh điện
8 Dược phẩm
Công nghệ sinh học
Trang 12Chương 2 (9 tiết) PHÂN LOẠI VÀ TÍNH CHẤT CỦA CHẤT HOẠT ĐỘNG BỀ MẶT
2.1 Phân loại các chất hoạt động bề mặt
Các chất hoạt động bề mặt (HĐBM) trong phân tử của chúng có chứa những nhóm ưa nước (hidrophin) và nhóm kị nước (hidrophob) do đó được coi là phân tử lưỡng tính
Dựa trên cấu tạo hóa học người ta phân chia các chất HĐBM thành 4 loại:
Chất HĐBM anionic, kí hiệu
Chất HĐBM cationic, kí hiệu
Chất HĐBM không ionic, kí hiệu
Chất HĐBM lưỡng tính
Chất HĐBM ampholit (amphotere) chứa điện tích âm hay điện tích dương phụ thuộc
pH môi trường, kí hiệu
Xà phòng chủ yếu thu được từ phản ứng xà phòng hóa dầu mỡ của động thực vật
Nguyên tắc chính là thủy phân liên kết ester của glyceride, đưa về dạng axit tự do và trung hòa các axit béo đó để được xà phòng
RCOOH + NaOH RCOONa + H2O
2.1.1.2 Các sulfate
Người ta dùng thuật ngữ “chất hoạt động bề mặt sulfate” để chỉ nhóm các chất hoạt động
bề mặt có chứa nhóm sulfate –OSO3- trong phần ái nước Trong đó:
Nhóm sulfate này có thể liên kết trực tiếp với phần kị nước hoặc liên kết gián tiếp qua các liên kết trung gian như amide, ester, ether …
Trang 13 Nhóm sulfate có thể là nhóm phân cực duy nhất trong phần ái nước hoặc là nhóm phân cực chính trong phần ái nước có nhiều nhóm phân cực
Hình 2.1 Chất hoạt động bề mặt sodium lauryl sulfate (a) (b)
Alkyl sulfate là chất hoạt động bề mặt tiêu biểu cho họ sulfate này Các tính chất hoạt động
bề mặt của alkyl sulfate phụ thuộc vào cấu tạo và chiều dài của gốc alkyl cũng như vị trí của nhóm sulfate trong mạch Các kết quả thực nghiệm cho thấy:
Khả năng tẩy rửa của alkyl sulfate bậc I tốt nhất khi mạch C chứa 12-16 nguyên tử, đối với alkyl sulfate bậc II tốt nhất là 15-18 Khả tẩy rửa của alkyl sulfate bậc I tốt hơn bậcII
Trong các alkyl sulfate bậc II, tính hoạt động bề mặt giảm khi nhóm sulfate di chuyển vào giữa mạch Ví dụ như pentadecyl sulfate: C15H31OSO2ONa bậc 2, khi nhóm sulfate di chuyển từ C2 vào C6 thì khả năng tẩy rửa của chúng chỉ còn một nửa
Tính hoạt động bề mặt của alkyl sulfate giảm khi gốc alkyl phân nhánh, mặt khác
sự phân nhánh của gốc alkyl sẽ làm giảm khả năng phân hủy sinh học của alkyl sulfate
2.1.1.3 Các sulfonate
Người ta dùng thuật ngữ chất hoạt động bề mặt sulfonate để chỉ các chất hoạt động bề mặt
có chứa nhóm sulfonate (-SO3-) trong phần ái nước Trong đó:
Nhóm sulfonate có thể là nhóm phân chức duy nhất trong phần ái nước hoặc là nhóm phân chức chính trong phần ái nước chứa nhiều nhóm phân cực
Nhóm sulfonat có thể liên kết trực tiếp với phần kị nước hoặc liên kết gián tiếp qua các liên kết trung gian như liên kết amide, ester…
Quá trình sulfo hóa thu được các axit sulfonic hay dẫn xuất của nó có nguyên tử lưu huỳnh liên kết trực tiếp với nguyên tử carbon
Trang 14Chất hoạt động bề mặt alkyl arene sulfonate:
Các chất hoạt động bề mặt alkyl arene sulfonate phổ biến nhất là alkyl benzene sulfonate (ABS) có phần kị nước là gốc alkyl nối vào vòng benzene, phần ái nước là nhóm sulfonate – SO3-, gốc alkyl thường có C trên dưới 12 Chúng có một số tính chất
Khi gốc alkyl thẳng, nhóm phenyl sulfate ở vị trí C1 thì khả năng tẩy rửa của sulfonate đạt cực đại khi gốc alkyl dài khoảng C11- C14
Vị trí nhóm phenyl sulfonate cũng ảnh hưởng đến tính chất tẩy rửa Alkyl benzene sulfonate trong đó gốc alkyl là C12, thẳng, khả năng tẩy rửa tốt khi nhóm phenyl sulfonate ở C1, C2, C3, khi nhóm này di chuyển vào giữa thì khả năng tẩy rửa giảm
Khi mức độ phân nhánh của gốc alkyl tăng, khả năng phân hủy sinh học giảm, cùng một số lượng C, alkyl benzene sulfonate mạch thẳng có khả năng phân hủy sinh học gấp hàng chục lần so với các alkyl benzene sulfonate nhánh
Sản phẩm tiêu biểu cho loại này được sử dụng nhiều nhất là DBSA (dodecyl benzene sulfonic axit), trong đó gốc alkyl là tetramer của propylene Hiện nay DBSA bị cấm
sử dụng do khả năng phân hủy sinh học kém, được thay bằng LAS (Linear Alkylbenzene Sulfonate)
Các chất hoạt động bề mặt sulfonate khác:
Parafin sulfonate ( SAS: Secondary Alkyl Sulfonate)
Sulfat rượu bậc một ( PAS: Primery Alcohol Sulfate)
CH2CH2)n(O
(CH2)n C
SO3(CH2)m CH3-
Trang 15 Alkyl Ether Sulfate ( LES: Lauryl Ether Sulfate)
Hình 2.2 DBAS (a,c) và LAS (b,d)
2.1.1.4 Các sản phẩm ngưng tụ của axit béo
Isothinonat
OOCH2CH2SO3Na
Taurat
O N
CH3
CH2CH2COONa
Axit béo ngưng tụ
Ankylamit glutamic Dẫn xuất axit photphoric (axyl hóa protein)
OH
ON
Trang 16Axyl hóa sản phẩm thủy phân protein Dẫn xuất anionic của alkylpoliglicosit
OORRO
RO
OROORO
RO
OROnR= H, CO CH
OHCHCOONaOH
, CO CH2 C
OHCOONa
CH2COONa CO CH2 CH
SO3Na
COONa,
2.1.2 Chất hoạt động bề mặt cationic
2.1.2.1 Giới thiệu
Chất hoạt động bề mặt mà khi hòa tan vào nước phân ly ra ion hoạt động bề mặt dương (chiếm phần lớn kích thước toàn bộ phân tử do chứa hidrocacbon mạch khá dài) và ion âm không có tính hoạt động bề mặt
Có khả năng hoạt động bề mặt không cao
Chất hoạt động bề mặt cation được gọi là xà phòng đảo ngược, chúng không có khả năng tẩy rửa cho xơ sợi như các chất hoạt động bề mặt anion mà bị hấp phụ mạnh lên xơ sợi hoặc vải, len
Có khả năng phân giải sinh học kém
Trang 17Phân loại:
Theo nguyên tố dị tố trong chất hoạt động bề mặt:
Cation chứa nitơ:
CH3Cl
Muối amoni bậc 4 Công thức tổng quát:
Các hợp chất chứa 1 dây ankyl:
Các hợp chất chứa 2 dây ankyl:
Cũng như các chất hoạt động bề mặt anion, ion không hoạt động bề mặt cũng có ảnh hưởng đến tính chất của chất hoạt động bề mặt Các ion khác nhau sẽ làm cho tính hoạt động bề mặt cũng như độ tan khác nhau
R1
N+R3
Trang 18Phân loại:
Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính axit cacboxylic, thường là các amino axit có gốc ankyl mạch dài
Chất hoạt động bề mặt lưỡng tính sulfate/sulfonate
Trong nhóm các chất hoạt động bề mặt lưỡng tính, hiện nay các dẫn xuất từ betain được
sử dụng rộng rãi nhất Chúng gồm các nhóm chính sau: Ankylamino propyl betain
Hình 2.6 Cocoamino propyl betain (CAPB)
Khi R là gốc lauryl thì có tính tẩy rửa rất tốt, khả năng tạo bọt mạnh, không là khô
da, dịu cho da được sử dụng phối trộn trong: dầu gội, sữa tắm, nước rửa chén với tên gọi: cocoamino propyl betain (CAPB)
Các chất hoạt đông bề mặt lưỡng tính betain thường dùng là:
Alkyl amido propyl betain
CH2-CH2-CH2 CH2 SO3NH
-C
O R
Trang 19 Không hại da, không làm rát da
Ít độc hại
2.1.4 Chất hoạt động bề mặt không ion
2.1.4.1 Giới thiệu
Các chất tẩy rửa khi hòa tan vào trong nước không phân ly thành ion gọi là chất hoạt động
bề mặt không sinh ion (NI) do phần ái nước có những đặc trưng:
Không ion hóa khi hòa tan vào nước nhưng vẫn phân cực
Kích thước đủ lớn để chất hoạt động bề mặt có thể hòa tan được vào nước
Khi thay đổi kích thước phần ái nước thì mối tương quan giữa phần ái nước và kị nước thay đổi trong một khoảng rộng
Chủ yếu chứa các liên kết polyete và nhóm hydroxyl
NI có khả năng hoạt động bề mặt không cao Êm dịu với da, lấy dầu ít Làm bền bọt, tạo nhũ tốt Có khả năng phân giải sinh học Ít chịu ảnh hưởng của nước cứng và pH của môi trường, tuy nhiên có khả năng tạo phức với một số ion kim loại nặng trong nước
Phân loại:
Copolimer có công thức chung: HO-(OE)n-(OP)m-(OE)n-H, hoặc HO-(OP)n-(OE)m(EP)n-H Chúng tạo bọt kém nên dùng phổ biến trong các sản phẩm tẩy rửa chuyên dùng cho máy: máy rửa chén, máy giặt, không gây hại cho môi trường, độc tính yếu Tuy nhiên dùng lượng không lớn vì khả năng phân hủy sinh học chậm
- Các oxit amin, ankyl amin, rượu amit, polyglycerol ete, polyglucosit (APG) Nhóm này có tính chất nổi trội là rất ổn định với chất tẩy có clo, nước javel, chất oxy hóa thường dùng làm tác nhân nền, tăng tính ổn định bọt, làm sệt, tạo ánh xà cừ cho sản phẩm đặc biệt dễ bị phân hủy sinh học
Một số non ionic tiêu biểu là:
Các rượu béo ethoxy hóa:
Các copolymer oxít ethylen (OE) và oxít propylen (OP)
CH2-CH2-OH
Trang 20O C2H4 N
CH3
CH3 OH
CH3(A) Hiđroxit của trimetylamino etanol hay cholin
b) Photphatiđyletanolamin: céphaline (xephalin)
(A) Etanolamin hay colamin
CH2OH OH
Trang 21A lµ: CH
NH2
COOH
CH2O
R NH (CH2)n C
OOH
A lµ:
OH
OH
HOHH
Trang 22c) Este của axit béo
O R
N
CH2 CH2OH
CH2 CH2 O C
O R
d) Các sunfobeten hay cacboxylbeten:
Trang 232.1.5.4 Các arylsunfon: dạng muối nội phân tử
CNCR
NH2
SO3
2.1.6 Chất hoạt động bề mặt đa điện tích (giới thiệu để sv tự đọc)
Chất HĐBM đa điện tích đã được biết đến và sử dụng trên 50 năm, đặc biệt phổ biến là dạng cation Trong phân tử của chúng có thể chứa 2, 3 hoặc nhiều hơn nữa tâm mạng điện tích dương (+) hoặc âm (-), phân tử thường có dạng đime, trime hay polime.Về mặt cấu tạo các chất HĐBM này còn có thể phân chia theo các loại:
2.1.6.1 Chất HĐBM gemini (đime)
a) Chất HĐBM gemini (đime) dạng cation
Trong phân tử có chứa hai nửa mang điện tích dương (+) đối xứng với nhau, thường gặp là các muối amoni bậc 4 như các chất dưới đây:
Trang 24N R
O
N R
2Br n
N S
(d)
(e) H
N
N
O R O
O N
N
O R O
X Y
O R
Y = O, O-(CH 2 CH 2 O) n
-(a) X = CH 2 CH 2 CH 2 SO 3 Na (b) X = OSO3Na
(c) X = OPO(OH)(ONa) (d) X = OCH 2 CO 2 Na
O
O O
c) Chất HĐBM dẫn xuất axit amin
Từ các axit amin điều chế các chất HĐBM gemini với sự thay đổi cấu tạo ở các đầu phân tử khác nhau như hình dưới: chất (a) không ionic, chất (b) anionic
C R O
N
SO 3 K
S O
NH
N
R O
N
KO 3 S
S O
(a)
(b)
d) Chất HĐBM dẫn xuất đường
Trang 25Chất HĐBM gemini dựa trên cacbohiđrat là các sản phẩm mới, chúng có khả năng phân hủy sinh học, ví dụ chất (a), (b) đều là chất HĐBM không ionic:
R O OH
O
O HO
OH
OH OH O
O
O
O
O O R O OH
O O
OH
HO HO
O OPO3Na2
OOR
Na2O3P
*
*
Trang 26N
NR
NR3Br
SO3Na
OOONaO3S
OR
O
OOR
Trang 27Các chất (a), (b) mạch thẳng, (c), (d) mạch nhánh, hợp chất (e) polime vòng thơm benzen
O
CmH2m+1
(c) RCONH(CH2)3N
O OH
OH HO
2.1.7 Chất hoạt động bề mặt polime (giới thiệu)
Phân tử polime có thể chứa một hay nhiều điện tích âm hoặc dương hoặc không mang điện tích, có cấu tạo chung:
CH2(a)
Chất HĐBM anionic
CH3O (CH2CH2O)45 C
O
CH CH COOC12H25(b)
Trang 282.2 Một số tính chất của các chất hoạt động bề mặt
2.2.1 Sức căng bề mặt
2.2.1.1 Định nghĩa
Xét trên bề mặt phân chia pha lỏng – khí của một chất lỏng nguyên chất:
Mọi phân tử chất lỏng đều chịu sự tương tác của các phân tử chất lỏng khác xung quanh nó
Các phân tử trong lòng pha lỏng: các lực tương tác cân bằng nhau
Các phân tử ở trên ranh giới phân chia pha: lực tương tác về phía pha lỏng lớn hơn
về phía pha khí → tạo ra lực ép lên phần chất lỏng về phía bên trong→ tạo ra áp nội
áp pi (hay áp suất phân tử) → kéo các phân tử chất lỏng vào trong →sức căngbề mặt giảm đến mức tối thiểu
Hình 2.9 Bề mặt phân chia lỏng – khí của một chất lỏng nguyên chất
Các phân tử ở trên lớp bề mặt có thế năng lớn hơn so với các phân tử bên trong Phần năng lượng lớn hơn đó gọi là năng lượng bề mặt của chất lỏng
Sức căng bề mặt được định nghĩa là lực căng trên một đơn vị chiều dài cắt ngang bề mặt.Trong
hệ đo lường quốc tế, sức căng bề mặt được đo bằng Newton trên mét (N·m-1)
dEs = ds hay = dEs/ds Trong đó:
năng lượng tạo ra một đơn vị bề mặt hay còn gọi là sức căng bề mặt
Nói cách khác: “ Lực tác dụng trên một đơn vị chiều dài của giới hạn (chu vi) bề mặt phân
chia pha và làm giảm bề mặt của chất lỏng gọi là sức căng bề mặt ”
Đơn vị của : N/m
dyn/cm = erg/cm2 = 10-3 N/m = 1 mN/m J/m2 = kg/s2 = N/m
Trang 29Cũng có thể định nghĩa sức căng bề mặt là công cơ học thực hiện khi lực căng làm cho diện tích bề mặt thay đổi một đơn vị đo diện tích Như vậy nó cũng là mật độ diện tích của năng lượng; ý nghĩa này mang lại tên gọi năng lượng bề mặt cho đại lượng vật lý này Như vậy, trong hệ đo lường quốc tế, đơn vị đo sức căng bề mặt tương đương Jul trên mét vuông Dưới tác dụng của sức căng bề mặt, thể tích khối chất lỏng sẽ hướng tới dạng hình cầu (nếu không có ngoại lực).
2.2.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức căng bề mặt
a Ảnh hưởng của bản chất chất hoạt động bề mặt
Hình 2.11 Sự phụ thuộc của sức căng bề mặt vào số nguyên tử cacbon trong mạch thẳng
b Ảnh hưởng của bản chất pha tiếp xúc
Sức căng bề mặt phân chia pha là sức căng hình thành giữa bề mặt hai pha không tan vào nhau và có cùng đơn vị với sức căng bề mặt
Trang 30AB = A + B - 2AB
Trong đó: AB là sức căng bề mặt phân chia hai pha A và B
A là sức căng bề mặt của pha A
B là sức căng bề mặt của pha B
AB là năng lượng tương tác giữa 2 pha trên một đơn vị diện tích
Bảng 2.4 Sức căng bề mặt của các chất lỏng tiếp xúc với không khí (o) và của chất lỏng
tiếp xúc với nước (I) ở 20oC (dyn/cm)
Giá trị AB cho biết mức tương đồng giữa hai dung môi tại bề mặt phân chia pha:
AB = 0 → 2AB = A + B → hai phân tử A và B có độ phân cực bằng nhau
AB = A → A
Trên bề mặt phân cách pha lỏng – lỏng: Nếu hai chất lỏng hòa tan một phần vào nhau thì sức căng bề mặt trên giới hạn lỏng - lỏng gần bằng hiệu số giữa sức căng bề mặt của mỗi chất (đã bão hòa chất kia) so với không khí
Bảng 2.5 Sức căng bề mặt ở ranh giới lỏng – khí và lỏng – lỏng của hệ benzene/nước và
anilin/nước
Bề mặt chất lỏng
Nhiệt
độ (oC)
Sức căng bề mặt lỏng-không
khí (dyn/cm)
Sức căng bề mặt lỏng-lỏng
(dyn/cm) Lớp hữu cơ Lớp nước Tính toán Thực nghiệm
Trang 31Benzene/nước 19 28,8 63,2 34,4 34,4
c Ảnh hưởng của nhiệt độ
Sức căng bề mặt của đa số chất lỏng giảm gần như tuyến tính khi nhiệt độ tăng (trừ các kim loại nóng chảy)
Theo phương trình của W Ramsay và J Shields sau khi hiệu chỉnh phương trình của R Eotvos:
V2/3 = k (T c - T – 6) Trong đó:
Hình 2.12 Quan hệ giữa sức căng bề mặt và nhiệt độ
TheoVan der Waals đưa ra phương trình có dạng sau:
= o (1 – T/T c)n
Với chất hữu cơ có n = 11/9
Với kim loại có n 1
Nói chung quan hệ tuyến tính giữa sức căng bề mặt và nhiệt độ có dạng sau:
T = - T (d/dT) (d/dT) = const
d Ảnh hưởng của khối lượng riêng
Sức căng bề mặt ngoài tỉ lệ thuận với khối lượng riêng của pha lỏng và tỉ lệ nghịch với khối lượng riêng của pha rắn theo phương trình Mc Leod:
/(D-d)4 = K
Trang 32Trong đó:
D: khối lượng riêng của pha lỏng (g/cm3)
d: khối lượng riêng của pha khí (g/cm3)
K: Hằng số phụ thuộc vào nhiệt độ và tính chất của chất lỏng
e Ảnh hưởng của nồng độ
Khi tăng nồng độ chất hoạt động bề mặt: lúc đầu sức căng bề mặt giảm mạnh Sau đó, ở nồng độ trung bình, sức căng bề mặt tiếp tục giảm nhưng chậm hơn do phần lớn bề mặt đã
bị chiếm chỗ Ở nồng độ lớn sức căng bề mặt ít phụ thuộc vào nồng độ
Tính hoạt động bề mặt của một chất không chỉ phụ thuộc vào bản chất của nó mà còn phụ thuộc vào môi trường chứa nó (dung môi): dung môi có sức căng bề mặt cao có thể làm tăng tính hoạt động bề mặt của chất tan và ngược lại Ví dụ: một số chất có tính hoạt động bề mặt với nước nhưng không có tính hoạt động bề mặt trong rượu Ở chương trình này chỉ khảo sát các chất hoạt động bề mặt trong môi trường nước
Sức căng bề mặt của chất lỏng nguyên chất gần như giảm đều đặn khi nhiệt độ tăng còn dung dịch chứa chất hoạt động bề mặt có thể là một đường biểu diễn có cực đại
2.2.1.3 Độ hoạt động bề mặt – qui tắc Trauble
Độ hoạt động bề mặt -d/dc là biến thiên sức căng bề mặt theo nồng độ chất hoạt động bề mặt còn gọi là đại lượng Gibbs:
-d/dc = G*
Khi tăng nồng độ thì sức căng bề mặt của các chất tan (trong cùng dãy đồng đẳng) có mạch cacbon càng dài thì sẽ càng giảm mạnh → độ hoạt động bề mặt càng lớn
Hình 2.13 Sức căng bề mặt của các chất thuộc dãy đồng đẳng axit fomic
(1) HCOOH (2) CH3COOH (3) CH3CH2COOH (4) CH3(CH2)2COOH (5) (CH3)2CHCH2COOH
Trang 33Trên cơ sở thực nghiệm DuclauX và Trauber đã đưa ra quy tắc Trauber I: “ Độ hoạt động
bề mặt tăng lên từ 3 đến 3,5 lần khi tăng chiều dài mạch carbon lên 1 nhóm – CH 2 ” Quy
tắc này là cơ sở để tổng hợp các chất hoạt động bề mặt có độ hoạt động bề mặt theo yêu cầu
2.2.1.4 Các phương pháp xác định sức căng bề mặt
Có 7 phương pháp phổ biến để xác định sức căng bề mặt là:
Xác định sự biến đổi của mực chất lỏng trong mao quản
Phương pháp cân giọt lỏng
Phương pháp Lecomte duNouy
Bản phẳng L.Wilhelmy
Phương pháp đo dựa trên áp suất cực đại của bọt khí
Phương pháp xác định hình dạng hạt và bọt khí
Phương pháp quay nhỏ giọt
a Xác định sự biến đổi mực chất lỏng trong quá trình mao quản
Đây là một trong những phương pháp chính xác nhất để xác định sức căng bề mặt
Hình 2.14 Ống mao quản xác định sức căng bề mặt
Nguyên tắc đo: đo chiều cao cột chất lỏng trong mao quản
P = P1 – P2 = gh(β-) = 2/r Trong đó:
: góc dính ướt, cos = Ro /r
Ro: bán kính của mao quản r: bán kính mặt khum ở nơi tiếp xúc (m) g: gia tốc trọng trường (m/s2)
h: độ cao mực chất lỏng trong ống mao quản (m)
P1 và P2: áp suất pha khí ở trong và ngoài ống mao quản (Pa, N/m2 hoặc kg/m.s2)
và β: khối lượng riêng của pha khí và pha lỏng (kg/m3)
Trang 34sức căng bề mặt (kg/s2)
→ = (1/2) (Ro gh(1-2) /cos
b Phương pháp cân giọt lỏng
Đây là phương pháp khá chính xác, được sử dụng phổ biến trong phòng thí nghiệm để xác định sức căng bề mặt trên giới hạn lỏng – khí và lỏng –lỏng
Nguyên tắc đo: thu các giọt lỏng hình thành dưới mao quản, cân để xác định chính xác khối lượng một giọt bằng phương pháp lấy trung bình
Biểu thức toán (định luật Tate T) có dạng đơn giản sau:
Trang 35Hình 2.15 Sơ đồ phương pháp kéo vòng Lecomte du Nouy
Nguyên tắc đo: xác định lực kéo vòng kim loại ra khỏi bề mặt chất lỏng
Wk= 4Ro’=f (*) Trong đó:
Wk: khối lượng của vòng, f là lực kéo vòng (dyn)
Để khắc phục sai số thì đưa vào hệ số hiệu chỉnh * (bù trừ biến dạng mặt phẳng khi kéo vòng, tra trong sổ tay về sức căng bề mặt hoặc dựa vào đồ thị Harkins), hệ số này là hàm của (R3/V, Ro/ro):
* = /’ = f(R3/V, Ro/ro) Trong đó:
’: sức căng bề mặt được tính theo phương trình (*) V: Thể tích bề mặt cong
ro: bán kính của tiết diện vòng R0: bán kính của vòng W.D, Jordan H.F cũng có thể tính được * theo phương trình Znidema- Waters::
(* -a)2 = (4b/ 2).(1/Rò ).(f/(4Ro.(1 - 2))) + c Trong đó:
1 và 2 khối lượng riêng của chất lỏng ở dưới và trên vòng
Trang 36Hình 2.16 Máy đo sức căng bề mặt Dunouy Ring (Xác định theo hai phương pháp
vòng Dunouy và bản phẳng Wilhelmy)
2.2.2 Cấu tạo chất hoạt động bề mặt trên ranh giới lỏng – khí
Sự hấp phụ () tăng tỷ lệ với chiều dài mạch carbon trong một dãy đồng đẳng và các đường này đạt giá trị giới hạn khi nồng độ chất hoạt động bề mặt đủ lớn
Ở nồng độ nhỏ, trên cùng một đơn vị diện tích bề mặt, số lượng phân tử chất hoạt động bề mặt là khác nhau khi chiều dài phần kị nước khác nhau Ở nồng độ đủ lớn, một đơn vị bề mặt
sẽ chứa cùng một số lượng phân tử chất hoạt động bề mặt có chiều dài phần kị nước khác nhau
Khi nồng độ C nhỏ, mạch hydrocarbon sẽ bị đẩy về phía không khí, có thể bị ngã nghiêng
do mạch hydrocarbon linh động và có khối lượng riêng bé, phần phân cực ở trong nước Khi nồng độ C lớn, số phân tử chất hoạt động bề mặt tăng lên, mạch hydrocarbon dựng đứng lên, song song với nhau, vuông góc với mặt nước, tạo thành một màng sít chặt gọi là màng ngưng
tụ → các phân tử chất hoạt động bề mặt sẽ chiếm cùng diện tích dù cho chúng có chiều dài khác nhau
Khí
Lỏng
Hình 2.17 Phân bố của chất hoạt động bề mặt tạ ranh giới lỏng – khí
(a) Khi nồng độ thấp (b) Khi nồng độ đủ lớn
2.2.3 Sự hình thành micelle
Trong dung dịch, ở nồng độ nhỏ, các phân tử chất hoạt động bề mặt hoà tan riêng biệt Khi nồng độ chất họat động bề mặt tăng lên một giá trị nào đó, các phân tử hòa tan liên kết với nhau tạo thành các micelle Các micell có dạng hình cầu trong đó trong đó các phân tử chất
Trang 37hoạt động bề mặt liên kết với nhau bằng đầu hydrocarbon và hướng nhóm phân cực ra dung dịch nước
Ví dụ trong dung dịch xà phòng (muối của axit béo), xà phòng có thể tồn tại dưới dạng các phân tử không ion hóa RCOONa, ion RCOO- và Na+, các sản phẩm do thủy phân RCOOH, dạng tập hợp các phân tử không ion hóa, các ion và các axit béo (micelle): xRCOONa.yRCOOH.zRCOO-.z’Na+
Số phân tử xà phòng trong một tập hợp như vậy vào khoảng 50, đường kính hình cầu khoảng gấp đôi chiều dài phân tử xà phòng tạo nên nó
Hình 2.18 Sự hình thành cấu trúc micelle của chất hoạt động bề mặt
Ở các nồng độ cao hơn, các micell có kích thước tăng lên và các gốc hydrocarbon mỗi lúc mỗi thêm song song với nhau hình thành các micell tấm hay các dạng khác:
Hình 2.19 Các dạng cấu trúc micelle khác nhau
Trong dung môi không phân cực, các phân tử xà phòng trong micell sẽ hướng các nhóm phân cực vào phía trong micell còn phần kị nước sẽ quay ra ngoài
Trang 38Hình 2.20 Các dạng micelle trong dung môi nước và dung môi không phân cực
Các micelles làm cho dung dịch CHĐBM có dạng tự nhiên là dạng keo, điều này rất quan trọng đối với những tính chất của chất tẩy rửa, vì:
Cung cấp lượng CHĐBM dự trữ ở bề mặt chất lỏng để giữ cho dung dịch bãohòa
và làm cho ứng suất bề mặt của dung dịch luôn luôn nhỏ nhất, điều này giúp việc thấm ướt các thớ vải dễ dàng hơn
Có thể hòa tan các chất dầu: bên trong các micelle gần như là một dung môi
Hydrocarbon có thể chứa các chất bẩn dạng dầu và mang nó theo để thải cùng nước giặt
2.2.4 Nồng độ micelle tới hạn
Hình 2.21 Sự thay đổi tính chất vật lý của dung dịch chất hoạt động bề măt tại nồng độ
micell tới hạn Nồng độ dung dịch chất hoạt động bề mặt mà ở đó sự hình thành micell trở nên đáng kể gọi là nồng độ micell tới hạn (CMC)
Trang 39Khi nồng độ dung dịch chất hoạt động bề mặt đạt đến giá trị CMC, sẽ có sự thay đổi rõ rệt tính chất vật lý: độ đục, độ dẫn điện, sức căng bề mặt, áp suất thẩm thấu… xác định được CMC
Các yếu tố ảnh hưởng đến CMC:
Chiều dài mạch cacbon: tỉ lệ nghịch với CMC Trong môi trường nước cất, đối với các phân tử có C ≤ 16, CMC của các chất hoạt động bề mặt ion giảm đi ½ lần khi mạch cacbon tăng thêm 1nhóm –CH2- Đối với chất hoạt động bề mặt không ion,
sự khác biệt này còn rõ ràng hơn Khi mạch C 18 thì CMC hầu như không đổi
Ví dụ: CMC của chất họat động bề mặt alkyl sulfate Natri trong nước ở 40oC
Nhiệt độ: tỉ lệ nghịch với CMC
Chất điện ly: tỉ lệ nghịch với CMC
Ví dụ: CMC của lauryl sulfate natri trong dung dịch NaCl ở 25oC
Chất hữu cơ: Việc thêm các chất hữu cơ vào dung dịch chất hoạt động bề mặt ảnh hưởng đến CMC theo những hướng khác nhau tùy thuộc vào bản chất của chất thêm vào Dung dịch chứa nhiều chất hoạt động bề mặt có CMC nhỏ hơn CMC của các
dung dịch chứa từng chất hoạt động bề mặt riêng biệt
2.2.5 Điểm Kraft
Điểm Kraft là nhiệt độ tại đó chất hoạt động bề mặt có độ hòa tan bằng CMC Khi đạt đến
nhiệt độ này một lượng lớn chất hoạt động bề mặt sẽ được phân tán trong dung dịch dưới dạng micelle
Đối với chất hoạt động bề mặt anion, khi chiều dài mạch C tăng, điểm Kraft cũng tăng
Ví dụ:Điểm Kraft của dung dịch alkyl sulfate trong nước như sau:
Lưu ý rằng các giá trị này có thể thay đổi khi có mặt của các thành phần khác
Trang 402.2.6 Điểm đục
Điểm đục là nhiệt độ tại đó chất hoạt động bề mặt không ion không thể hòa tan, tách ra khỏi dung dịch làm dung dịch trở nên đục
Đối với chất hoạt động bề mặt không ion trên cơ sở ethylen oxýt, điểm đục sẽ giảm khi độ
dài gốc alkyl tăng hoặc khi lượng oxit ethylene trong phân tử giảm xuống
2.2.7 Cân bằng hydrophin-lipophin (HLB)
Nếu phần ái nước tác dụng mạnh hơn phần kị nước thì chất họat động bề mặt dễ hòa tan trong nước hơn, ngước lại nếu phần kị nước tác dụng mạnh hơn phần ái nước thì chất họat động bề mặt dễ tan trong pha hữu cơ hơn Mối tương quan giữa phần ái nước và kị nước được đặc trưng bằng giá trị HLB
HLB cho biết tỷ lệ giữa tính ái nước so với tính kị nước, được biểu thị bằng thang đo có 0 giá trị từ 1-40 Các chất hoạt động bề mặt có tính ái nước thấp sẽ có HLB nhỏ, các chất họat động bề mặt có tính ái dầu thấp sẽ có HLB lớn
Có thể ước lượng sơ bộ giá trị HLB dựa trên tính chất hòa tan trong nước hay tính phân tán của chất hoạt động bề mặt trong nước Ứng với độ phân tán khác nhau thì giá trị HLB khác nhau
Bảng 2.6 Giá trị HLB trong một số môi trường phân tán
Ngoài ra giá trị HLB còn được xác định theo nhóm ưa nước và kị nước (theo Davies) Giá trị HLB của các nhóm cho trong bảng dưới đây:
Bảng 2.7 Giá trị HLB đối với một số nhóm ưa nước và kị nước
- SO4Na 38,7 -CH<,-CH2-, -CH3, =CH- 0,475