1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng tại khu vực hà nội của công ty cổ phần sông đà 1

125 56 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,47 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do vậy, áp lực cạnh tranh không nhỏ đối với Công ty là vấn đề làm sao để nâng cao năng lực đấu, đặc biệt là các gói thầu xây lắp nhà cao tầng sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng

Trang 1

NGUYỄN TIẾN DŨNG

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU CÁC GÓI THẦU XÂY LẮP NHÀ CAO TẦNG TẠI KHU VỰC HÀ NỘI CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 1

Chuyên nghành: Kinh tế TNTN và Môi trường

Mã số: 60 - 31 - 16

LUẬN VĂN THẠC SĨ Người hướng dẫn KH: PGS.TS NGUYỄN BÁ UÂN

Hà Nội - 2013

Trang 2

Tác giả xin cam đoan toàn bộ Luận văn này là công trình nghiên cứu

của riêng tác giả Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận văn đã được ghi

rõ nguồn gốc Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

TÁC GI Ả LUẬN VĂN

Nguyễn Tiến Dũng

Trang 3

Trường Đại học Thủy Lợi; đặc biệt là các cán bộ, giảng viên khoa Kinh tế và

Quản lý, phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành bản luận văn này Đặc biệt tác giả xin trân trọng cảm

ơn thầy giáo hướng dẫn khoa học - PGS TS Nguyễn Bá Uân đã hết lòng ủng

hộ và hướng dẫn tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong hội đồng khoa học đã đóng góp những ý kiến và lời khuyên quý giá cho bản luận văn

Tác giả cũng xin trân trọng cảm ơn các Lãnh đạo và đồng nghiệp trong

Công ty C ổ phần Sông Đà 1 nơi tác giả đã từng công tác đã quan tâm tạo

điều kiện thuận lợi hỗ trợ, giúp đỡ tác giả trong việc thu thập thông tin, tài

liệu trong quá trình thực hiện luận văn

Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã thường xuyên chia sẻ khó khăn và động viên tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để có thể hoàn thành

luận văn này

Do điều kiện thời gian và chuyên môn còn hạn chế nên nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo, các nhà khoa học và các đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân tr ọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 05 năm 2013

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguy ễn Tiến Dũng

Trang 4

Hình 2.2: Trình tự tham gia đấu thầu xây lắp

Hình 3.1: Cơ cấu nghành nghề SXKD đến năm 2015 của Công ty Hình 3.2: Sơ đồ quy trình Quản lý thi công xây dựng công trình

Trang 5

Bảng 2.2: Hồ sơ kinh nghiệm Công ty

Bảng 2.3: Bảng thống kê kết quả đấu thầu giai đoạn 2007 ÷ 2011

Bảng 2.4: Cơ cấu lao động theo trình độ của Công ty

Bảng 2.5: Báo cáo tài chính Công ty giai đoạn 2008 ÷ 2011

Bảng 2.6: Các chỉ tiêu tài chính Công ty giai đoạn 2008 ÷ 2011

Bảng 2.7: Bảng thống kê các công trình nhà cao tầng trúng thầu giai đoạn

2007 ÷ 2011 của Công ty

Bảng 3.1: Tình hình công nợ của Công ty từ năm 2009 đến năm 2011

Trang 6

WTO: Tổ chức thương mại thế giới

AFTA: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN

ASEAN: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

Bộ KH&ĐT: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

CBCNV: Cán bộ công nhân viên

SXKD: Sản xuất kinh doanh

VL: Vật liệu

NC: Nhân công

MTC: Máy thi công

VAT: Thuế giá trị gia tăng

Trang 7

Xây dựng là một trong những ngành kinh tế lớn của nền kinh tế quốc dân Là ngành mà quá trình mua bán diễn ra ngay từ trước lúc bắt đầu giai đoạn thi công xây dựng công trình hay chính là trước giai đoạn sản xuất,

thông qua việc đấu thầu, thương lượng và ký kết hợp đồng xây dựng Quá trình này còn được tiếp diễn qua các đợt thanh toán trung gian đến khi bàn giao và quyết toán công trình xây dựng

Đấu thầu trong giai đoạn hiện nay đã trở thành phương thức phổ biến trong ngành xây dựng ở nước ta Thông qua một quá trình xem xét, lựa chọn, cân nhắc kỹ lưỡng, trên cơ sở cạnh tranh công khai lành mạnh giữa các nhà thầu để chọn được nhà thầu có đủ năng lực, mang lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động xây dựng Điều này tạo ra môi trường cạnh tranh tốt cho các doanh nghiệp Xây dựng và trên thực tế đấu thầu là hình thức cạnh tranh giúp cho việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng đạt hiệu quả cao

Công ty Cổ phần Sông Đà 1 là một đơn vị thành viên thuộc Tổng Công

ty Sông Đà với nhiệm vụ truyền thống là thi công các công trình dân dụng trên địa bàn Hà Nội và một số công trình công nghiệp, thủy điện Trước đây, hầu hết các công trình do Công ty đảm nhận thi công dưới hình thức chỉ định thầu của Tập đoàn Tuy nhiên trong quá trình hội nhập, phát triển và mở cửa thị trường hiện nay đã đặt ra nhiều cơ hội cũng như thách thức lớn Cơ chế sản xuất kinh doanh cũng chuyển từ hình thức chỉ định thầu sang đấu thầu cạnh tranh Do vậy, áp lực cạnh tranh không nhỏ đối với Công ty là vấn đề làm sao để nâng cao năng lực đấu, đặc biệt là các gói thầu xây lắp nhà cao tầng (sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong sản lượng hàng năm của Công ty) là bài toán mà Công ty cần tìm lời giải đáp Với mong muốn tìm hiểu, nghiên

Trang 8

xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng tại khu vực Hà Nội của Công ty Cổ phần Sông Đà 1” làm luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích của đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa những lý luận cơ bản về đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng tại Việt Nam, nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến công tác đầu thầu của các doanh nghiệp xây lắp và phân tích, đánh giá thực trạng đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng tại Công ty Cổ phần Sông Đà 1 Từ đó

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty trong hoạt động đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng trên địa bàn Thành phố Hà Nội

3 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận chung về đấu thầu; hệ thống các văn bản, chế độ, chính sách hiện hành về đấu thầu của Nhà nước và tình hình triển khai công tác đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng của Công ty Cổ phần Sông Đà

1 trong những năm vừa qua Đề tài áp dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp thống kê; Phương pháp phân tích so sánh; Phương pháp điều tra thu thập số liệu; Phương pháp đối chiếu hệ thống văn bản pháp quy và một số phương pháp khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến quá trình nghiên

cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là hoạt động đấu thầu của Công ty

Cổ phần Sông Đà 1 trong lĩnh vực xây lắp nhà cao tầng

Trang 9

nhà cao tầng tại địa bàn Thành phố Hà Nội để làm rõ những điểm mạnh, điểm

hạn chế trong hoạt động đấu thầu của Công ty Cổ phần Sông Đà 1

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận về đấu thầu và cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp, luận văn phân tích thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng của Công ty Cổ phần Sông Đà 1 trên địa bàn Hà

Nội, chỉ ra những ưu điểm, lợi thế, những tồn tại, hạn chế và những vấn đề đang đặt ra hiện nay đối với Công ty qua việc tạo lập, phát huy lợi thế, nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng

Những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp nói chung, các gói thầu xây lắp nhà cao tầng nói riêng là những gợi ý quan trọng của đề tài trong việc góp phần nâng cao năng lực đấu thầu của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp nói chung và Công ty

Cổ phần Sông Đà 1 nói riêng

6 Kết quả dự kiến đạt được

Với mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của mình, bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học, luận văn dự kiến đạt được kết quả như sau:

- Hệ thống hóa các cơ sở lý luận về đấu thầu nói chung, đấu thầy xây lắp nói riêng, quy trình thủ tục trong công tác đấu thầu và các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đấu thầu và năng lực cạnh tranh c ủa doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp

Trang 10

lực cạnh tranh trong trong đấu thầu xây lắp của Công ty Cổ phần Sông Đà 1

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong trong đấu thầu xây lắp các gói thầu xây lắp nhà cao tầng trên địa bàn Thành phố Hà

Nội của Công ty Cổ phần Sông Đà 1

NỘI DUNG CỦA LUẬN VĂN

Để thực hiện được các mục tiêu đặt ra , tác giả bố trí kết cấu luận văn gồm 03 chương, Phần mở đầu và Phần kết luận 3 chương nội dung chính của luận văn gồm:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp xây dựng

Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng của Công ty Cổ phần Sông Đà 1

Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực đấu thầu các gói thầu xây lắp nhà cao tầng trên địa bàn Hà Nội của Công ty Cổ phần Sông Đà 1

Trang 11

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU CỦA DN NGHIỆP XÂY DỰNG 1.1 Cơ sở lý luận chung về đấu thầu xây lắp

1.1.1 Khái niệm chung về đấu thầu xây lắp

Khi một dự án đã được phê duyệt, công việc tiếp theo là triển khai thực

hiện dự án Để triển khai thực hiện dự án có rất nhiều việc phải làm như: tư

vấn, thiết kế kỹ thuật, thi công, mua sắm thiết bị, xây lắp Có hai cách để

thực hiện các công việc này:

- Chủ dự án tự mình làm tất cả các công việc của dự án

- Thuê các đối tác bên ngoài

Đối với cách thứ nhất, chủ dự án sẽ tự mình thực hiện toàn bộ dự án

bằng các nguồn lực sẵn có, phát triển những công nghệ sẵn có của mình Nếu theo cách thứ hai, chủ đầu tư sẽ phải tìm kiếm các đối tác cho các công việc

cụ thể, chi tiết của dự án từ một Công ty khác bằng cách sử dụng hình thức đấu thầu (khi đó chủ dự án sẽ là Chủ đầu tư và các đối tác tham gia là các Nhà

thầu) để lựa chọn Nhà thầu thích hợp nhất hoặc Chủ đầu tư có thể thoả thuận, thuyết phục trực tiếp bên đối tác nhất định thực hiện dự án cho mình

Tuy nhiên trong một nền kinh tế phát triển luôn tồn tại rất nhiều các doanh nghiệp xây dựng (chính là các đối tác của Chủ đầu tư) có các thế mạnh

và nhược điểm khác nhau, giữa các doanh nghiệp này luôn có sự cạnh tranh gay gắt Do đó, Chủ dự án có rất nhiều cơ hội lựa chọn cho mình một đối tác tốt nhất Để lựa chọn được thì Chủ đầu tư nên chọn phương thức đấu thầu Vậy, đấu thầu là quá trình lựa chọn Nhà thầu, có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, tiến độ và chi phí xây dựng công trình Theo Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ

Trang 12

nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005: Đấu thầu là quá trình lựa chọn Nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu đề thực hiện gói thầu thuộc

dự án trên cơ sở đảm bảo tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Việc tiến hành đấu thầu đem lại rất nhiều thuận lợi cho cả ba bên: Nhà nước, Chủ đầu tư và Nhà thầu

1.1.2 M ột số khái niệm liên quan

Để hiểu rõ hơn khái niệm đấu thầu, tác giả làm rõ hơn một số khái niệm liên quan chặt chẽ với khái niệm đấu thầu Theo Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005:

- “Dự án” là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công

việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định

- “Chủ đầu tư” là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay

mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án

- “Bên mời thầu” là Chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn có đủ năng

lực và kinh nghiệm được Chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu

- “Nhà thầu” là tổ chức, cá nhân có đủ tư cách hợp lệ theo quy định tại

Luật Đấu thầu

- “Nhà thầu chính” là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu

thầu, đứng tên dự thầu, ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu tham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập Nhà thầu cùng với một hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh

Trang 13

- “Nhà thầu xây lắp” là nhà thầu tham gia đấu thầu các gói thầu xây lắp,

gồm những công việc thuộc quá trình xây dựng và lắp đặt thiết bị các công trình, hạng mục công trình, cải tạo, sửa chữa lớn

- “Nhà thầu phụ” là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu

trên cơ sở thoả thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụ không phải là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu

- “Nhà thầu trong nước” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo

pháp luật Việt Nam

- “Nhà thầu nước ngoài” là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo

pháp luật của nước mà nhà thầu mang quốc tịch

- “Gói thầu” là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt

gói thầu là toàn bộ dự án; gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dự án hoặc là khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên

- “Hồ sơ mời thầu” là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi

hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yêu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp

lý để nhà thầu chuẩn bị hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

- “Hồ sơ dự thầu” là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ

sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu

- “Giá dự thầu” là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự

thầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá dự thầu là giá sau giảm giá

Trang 14

- “Giá trúng thầu” là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà

thầu làm cơ sở để thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng

- “Hợp đồng” là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu được lựa

chọn trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu

1.1.3 Hệ thống văn bản pháp quy về đấu thầu xây lắp

Để tạo môi trường pháp lý, nhằm thống nhất các hoạt động đấu thầu, tuyển chọn, tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp và thực hiện các dự án hoặc

từng phần dự án trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhà nước đã ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu Hệ

thống văn bản về đấu thầu đã được ban hành, bổ sung và sửa đổi ngày càng hoàn thiện hơn

1 Đầu năm 1990, Bộ Xây dựng ban hành “Quy chế đấu thầu trong xây

d ựng” kèm theo Quyết định số 24/BXD-VKT ngày 12/2/1990, nhưng

trong văn bản này chưa quy định rõ ràng về điều kiện áp dụng cũng như quy trình đấu thầu xây lắp

2 Tháng 3/1994, Bộ xây dựng ban hành quyết định số 06/BXD-VKT

ngày 17/3/1994 “Quy ch ế đấu thầu xây lắp” thay thế quyết định số

24/BXD-VKT Đây là văn bản được coi là quy chế đầu tiên quy định về đấu thầu

3 Nghị định số 43/CP ngày 16/7/1996 của Chính phủ về việc ban hành Quy chế đấu thầu Nghị định này được sửa đổi, bổ sung và thay thế bởi các Nghị định số 93/CP ngày 23/8/1997; Nghị định số 88/1999/NĐ-CP ngày 01/9/1999; Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000; Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 (hiện nay, các nghi định này

đã hết hiệu lực thi hành)

Trang 15

4 1TLuật xây dựng số 16/2003/QH11 đã được Quốc hội nước cộng hoà xã

hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003

5 Luật đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội

chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 19/11/2005

và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/4/2006

6 1TLuật số 38/2009/QH12 đã được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 19/6/2009 về việc sửa đổi, bổ sung

một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản

7 Nghị định số 111/2006/NĐ-CP ngày 29/9/2006 của Chính phủ về việc: Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật xây

dựng Nghị định này được thay thế, sửa đổi bổ sung bởi các nghị định

số 58/2008/NĐ-CP ngày 05/5/2008; Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009;

8 Nghị định số 68/2012/NĐ-CP ngày 12/9/2012 về việc sửa đổi, bổ sung

một số điều của Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009

9 Nghị định 53/2007/NĐ-CP ngày 04/4/2007 của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư

10 Nghị định 62/2010/NĐ-CP ngày 04/6/2010 của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 53/2007/NĐ-CP

11 Quyết định 1121/2008/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Mẫu Báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu đối với gói thầu mua

sắm hàng hóa, xây lắp

12 Thông tư 02/2009/TT-BKH ngày 17/2/2009 của Bộ Kế hoạch và Đầu

tư về hướng dẫn lập kế hoạch đấu thầu

13 Thông tư 03/2010/TT-BKH ngày 27/1/2010 của Bộ Kế hoạch và Đầu

Trang 16

tư quy định chi tiết lập Hồ sơ mời sơ tuyển xây lắp

14 Thông tư 04/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi

tiết lập Hồ sơ yêu cầu chỉ định thầu xây lắp

15 Thông tư 21/2010/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi

tiết về thẩm định hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu

16 Thông tư 01/2011/TT-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư quy định chi

tiết kiểm tra về công tác đấu thầu

1.2 Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các DN xây dựng

1.2.1 28TKhái niệm về khả năng cạnh tranh

Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (nhà sản xuất, nhà phân phối, bán lẽ, người tiêu dùng, thương nhân,…) nhằm giành lấy những vị thế tạo nên lợi thế tương đối trong sản xuất, tiêu thụ hay tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ hay các lợi ích về kinh tế, thương mại khác để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình Cạnh tranh có thể xảy ra giữa những nhà sản xuất, phân phối với nhau hoặc có thể xảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bán hàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá thấp Cạnh tranh của một doanh nghiệp là chiến lược của một doanh nghiệp với các đối thủ trong cùng một ngành

Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch

vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế

Trang 17

Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thõa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác,

sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường

Khả năng canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính băng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực,

tổ chức quản trị doanh nghiệp,… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh

Khả năng cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá

cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới

Như vậy, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là quá trình các doanh nghiệp xây dựng ganh đua nhau để đưa ra các giải pháp về kỹ thuật, tài chính, tiến độ thi công công trình nhằm thỏa mãn yêu cầu của Chủ đầu tư

1.2.2 28TKhả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các DN xây dựng

Đối với doanh nghiệp, vì mục tiêu khi tham gia đấu thầu là phải giành được chiến thắng nên việc xây dựng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu có ý nghĩa rất quan trọng Chính mục tiêu này sẽ là động lực để doanh nghiệp phát huy được tính năng động, sáng tạo trong đấu thầu, tích cực tìm kiếm thông tin, xây dựng các mối quan hệ, tìm mọi cách nâng cao uy tín, thương hiệu trên

Trang 18

thị trường Và trong quá trình thực hiện dự án, với yêu cầu phải đảm bảo đúng tiến độ, đúng kế hoạch và hoàn thành càng sớm càng tốt đã thúc đẩy doanh nghiệp tìm mọi cách nâng cao năng lực về kỹ thuật công nghệ tiên tiến để rút ngắn thời hạn thi công Mặt khác, việc thắng thầu sẽ giúp doanh nghiệp tạo được công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ngược lại nếu doanh nghiệp trượt thầu thì

sẽ không có việc làm, không tạo được thu nhập cho người lao động, hiệu quả kinh doanh giảm sút, nếu kéo dài thì sẽ dẫn đến thua lỗ, phá sản

Trong đấu thầu xây dựng, các Nhà thầu thường cạnh tranh trên những lĩnh vực sau:

1.2.2.1 28TC ạnh tranh bằng giá dự thầu

Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó quyết định việc doanh nghiệp có trúng thầu hay không Nếu xây dựng được mức giá bỏ thầu tốt sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng trúng thầu cao đồng thời cũng bảo đảm được hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Giá bỏ thầu liên quan đến rất nhiều yếu tố như trình độ tổ chức, quản lý của doanh nghiệp, kỹ thuật thi công, khả năng áp dụng công nghệ tiên tiến, năng lực tài chính của doanh nghiệp, Việc xác định giá để đánh giá là xác định chi phí trên cùng một mặt bằng về kỹ thuật, tài chính, thương mại và các yếu tố khác nhằm so sánh, xếp hạng các hồ sơ dự thầu Hồ sơ dự thầu có giá đánh giá thấp nhất sẽ được xếp thứ nhất Vì vậy, để giá bỏ thầu có ưu thế cạnh tranh thì đòi hỏi doanh nghiệp phải có chính sách giá linh hoạt dựa trên cơ sở: năng lực thực sự của doanh nghiệp; mục tiêu tham gia đấu thầu; quy mô, đặc điểm, địa điểm của dự án, các phong tục tập quán của địa phương có dự án thi công,

Trang 19

Thông thường thì việc xây dựng giá bỏ thầu phụ thuộc lớn vào mục tiêu đấu thầu của nhà thầu như: tìm kiếm lợi nhuận, tạo công ăn việc làm hay mở

cửa thị trường mới Tuỳ theo những mục tiêu cụ thể mà nhà thầu xây dựng

những mức giá phù hợp để đạt được mục tiêu

1.2.2.2 28TC ạnh tranh bằng chất lượng công trình

Chất lượng sản phẩm là khả năng thoả mãn nhu cầu của khách hàng, một sản phẩm hay công trình được coi là tốt khi nó đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách hàng Để nâng cao năng lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn luôn giữ vững và không ngừng nâng cao chất lượng công trình, đây

là điều kiện không thể thiếu được nếu doanh nghiệp xây dựng muốn giành chiến thắng trong cạnh tranh đấu thầu Trong lĩnh vực xây dựng, chất lượng công trình là vấn đề sống còn đối với doanh nghiệp Việc nâng cao chất lượng công trình có ý nghĩa hết sức quan trọng, nó được thể hiện trên các mặt:

- Nếu chất lượng công trình tốt sẽ góp phần tăng uy tín, thương hiệu của doanh nghiệp qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rộng thị trường

- Khi chất lượng công trình được nâng cao thì hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng, doanh thu, lợi nhuận tăng theo, đời sống của công nhân viên được nâng lên, kích thích mọi người làm việc nhiều hơn

Khi cạnh tranh bằng phương thức này, các nhà thầu cạnh tranh với nhau không chỉ bằng chất lượng cam kết trong công trình đang tổ chức đấu thầu mà còn cạnh tranh thông qua chất lượng các công trình khác đã xây và đang xây dựng Trên thực tế cho thấy hậu quả của công trình xây dựng kém chất lượng để lại thường là rất nghiêm trọng, gây thiệt hại không chỉ là tiền bạc mà còn cả yếu tố con người Hiện nay Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy định rõ trách nhiệm của Chủ đầu tư, do đó các Chủ đầu tư ngày càng

Trang 20

xem trọng chất lượng công trình và nó được xem là một trong những công cụ mạnh trong đấu thầu xây dựng

1.2.2.3 28TC ạnh tranh bằng tiến độ thi công

Tiến độ thi công là bảng kế hoạch tổng hợp việc thực hiện các bước công việc trong công tác thi công công trình của nhà thầu Tiến độ thi công thể hiện những cam kết của doanh nghiệp về các mặt chất lượng, an toàn lao động, thời hạn bàn giao công trình Bảng tiến độ thi công giúp Chủ đầu tư đánh giá được năng lực của nhà thầu trên các mặt như trình độ quản lý, kỹ

thuật thi công, năng lực máy móc thiết bị, nhân lực

Nếu như trước đây khi xem xét, đánh giá, lựa chọn nhà thầu trong các cuộc đấu thầu chủ đầu tư thường chọn nhà thầu bỏ giá thấp, giá càng thấp thì khả năng trúng thầu càng cao mà không chú trọng đến các mặt khác và hậu quả là nhiều công trình kéo dài tiến độ thi công, chất lượng thấp kém ảnh hưởng nghiệm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội Vì vậy hiện nay khi xem xét, chấm thầu thì Chủ đầu tư chú trọng nhiều hơn đến chất lượng, tiến

độ Giá bỏ thầu tuy vẫn là yếu tố quan trọng nhưng không còn yếu tố quyết định đến khả năng trúng thầu

1.2.2.4 28TC ạnh tranh bằng năng lực tài chính

Hiện nay các Chủ đầu tư trước khi ra quyết định còn xem xét đến khả năng ứng vốn thi công và khả năng huy động vốn của nhà thầu Thực tế vừa qua cho thấy trong rất nhiều dự án, các nhà thầu đã trúng thầu nhờ có năng lực tài chính tốt và lành mạnh

1.2.2.5 28TC ạnh tranh bằng năng lực máy móc thiết bị, công nghệ thi công

Đối với doanh nghiệp xây dựng, máy móc thiết bị được xem là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp Nó là

Trang 21

thước đo trình độ kỹ thuật, là thể hiện năng lực hiện có đồng thời là nhân tố quan trọng góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu Trong quá trình chấm thầu năng lực về máy móc thiết bị được chủ đầu

tư xem xét rất kỹ, bởi vì nó có tác động rất lớn đến chất lượng và tiến độ thi công Khi đánh giá năng lực về máy móc thiết bị và công nghệ Chủ đầu tư thường đánh giá các mặt sau:

- Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ, biểu hiện ở các thông số như tên nhà sản xuất, nước sản xuất, năm sản xuất, model, công suất, giá trị còn lại của thiết bị

- Tính trạng đồng bộ của thiết bị, công nghệ, vì nếu thiết bị đồng bộ sẽ đảm bảo sự phù hợp gữa thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất; giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra

- Tính hiệu quả: Thể hiện qua việc sử dụng máy móc thiết bị sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động và phát huy tối đa nguồn lực về máy móc thiết bị sẵn có phục vụ cho mục đích cạnh tranh của nhà thầu

1.2.3 28TNhững chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của

doanh nghi ệp xây dựng

% 100

x DA DA

TT = tt (1.1)

Trang 22

Trong đó:

- TT: là tỷ lệ trúng thầu theo số lần tham gia đấu thầu

- DAR tt R: là số lượng dự án (hay số gói thầu) trúng thầu trong năm

- DA R dt R: là số lượng dự án (hay số gói thầu) dự thầu trong năm

1.2.3.2 16TL ợi nhuận đạt được

Đây là một chỉ tiêu tổng hợp, nó phản ánh kết quả kinh doanh nhưng đồng thời cũng phản ánh năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Khi đánh giá chỉ tiêu này thông thường chủ đầu tư xem xét lợi nhuận của doanh nghiệp qua nhiều năm (từ 3 - 5 năm), tính tốc độ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm đồng

thời kết hợp với việc đánh giá chỉ tiêu về giá trị sản lượng xây lắp hoàn thành trong năm Nếu giá trị xây lắp hoàn thành tăng mà lợi nhuận không tăng thì có thể là hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chưa đạt yêu cầu hoặc cũng có thể là doanh nghiệp vận dụng chính sách chiến lược giá thấp để đạt mục tiêu giải quyết công ăn việc làm hay mở rộng thị trường Do đó, các doanh nghiệp cần lưu ý thuyết minh, giải thích rõ thêm phần này trong các hồ

sơ năng lực của mình

1.2.3.3 16TCh ất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng hàng đầu năng lực cạnh tranh của sản phẩm, mà năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Chất lượng của sản phẩm là tổng hợp các đặc tính của nó theo yêu cầu của sản phẩm, của quá trình xây dựng hoặc tiện nghi phục vụ, vì vậy chất lượng sản phẩm vừa phải tuân theo các quy phạm kỹ thuật vừa phải thoả mãn nhu cầu mong muốn của con người

Trang 23

Trong lĩnh vực xây dựng thì chất lượng sản phẩm chính là chất lượng công trình, nó biểu hiện thông qua tính năng, tuổi thọ, độ an toàn, độ bền vững, tính kỹ thuật, mỹ thuật, kinh tế và bảo vệ môi trường của công trình Vì sản phẩm của ngành xây dựng không thể sản xuất ra sẵn để bán cho khách hàng được nên để đánh giá chất lượng sản phẩm của nhà thầu thì chủ đầu tư thường căn cứ vào những công trình nhà thầu đã và đang thi công (thông qua bảng danh mục những công trình đã và đang thực hiện mà nhà thầu thống kê theo yêu cầu bắt buộc trong hồ sơ năng lực của mình)

1.2.3.4 16TCơ sở vật chất, kỹ thuật công nghệ

Cơ sở vật chất, kỹ thuật là yếu tố cơ bản góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhóm này bao gồm nhà xưởng, hệ thống kho tàng, hệ thống cung cấp năng lượng, kỹ thuật công nghệ thi công Tóm lại, đây là chỉ tiêu tổng hợp của các yêu cầu về kỹ thuật, chất lượng, biện pháp thi công và tiến độ thi công công trình Nó đóng vai trò quan trọng trong công tác đấu thầu, là yếu tố quyết định đến chất lượng công trình, giúp giảm chi phí nâng cao hiệu quả kinh tế và được thể hiện qua mức độ đáp ứng các yêu cầu sau:

- Về mặt kỹ thuật, đòi hỏi nhà thầu phải đưa ra các giải pháp và biện pháp thi công, sử dụng máy móc thiết bị một cách hợp lý và khả thi nhất (được nêu cụ thể trong hồ sơ mời thầu), từ đó đưa ra được sơ đồ tổ chức hiện trường, bố trí nhân lực, các biện pháp về bảo đảm an toàn lao động và vệ sinh môi trường

- Về tiến độ thi công, đây là khoảng thời gian cần thiết để nhà thầu hoàn thành dự án, với yêu cầu là tiến độ thi công được bố trí sao cho phải hết sức khoa học nhằm sử dụng tối đa các nguồn nhân lực sẵn có của nhà thầu và mang tính khả thi cao, đảm bảo tổng tiến độ quy định trong hồ sơ mời thầu và

Trang 24

tính hợp lý về tiến độ hoàn thành giữa các hạng mục liên quan Tiến độ thi công được quy định cụ thể trong hồ sơ mời thầu, khi lập tiến độ thi công thì nhà thầu cần phải tiến hành khảo sát, nghiên cứu kỹ lưỡng địa bàn thi công, mặt bằng thi công, nguồn gốc nguyên vật liệu, từ đó có thể sắp xếp thi công các hạng mục, các công việc một cách hợp lý nhất để đưa ra được tổng thời gian thi công ngắn nhất Nếu thời gian thực hiện dự án càng dài thì chỉ tiêu này rất được coi trọng vì mục đích của một dự án không phải phục vụ cho một cá nhân mà chủ yếu nhằm mục đích phục vụ công cộng, đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hoặc phát triển của một doanh nghiệp, một ngành hay một địa phương nào đó, do đó vấn đề này được chủ đầu tư đánh giá rất cao

1.2.3.5 16TKinh nghi ệm và năng lực thi công

Đây cũng là một trong những chỉ tiêu xác định điều kiện đảm bảo nhà thầu được tham gia cạnh tranh đấu thầu trong mỗi dự án, hầu như các chủ đầu

tư khi phát hành hồ sơ mời thầu đều có yêu cầu về tiêu chuẩn này Tiêu chuẩn này được thể hiện năng lực hiện có của nhà thầu trên các mặt:

- Kinh nghiệm đã thực hiện các dự án có yêu cầu kỹ thuật ở vùng địa lý

và hiện trường tương tự Ví dụ doanh nghiệp có bao nhiêu năm kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng dân dụng? Bao nhiêu năm trong lĩnh vực cầu đường, thủy lợi, thuỷ điện, hay kinh nghiệm thi công ở miền núi, đồng bằng, nơi có địa chất phức tạp

- Số lượng và trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công nhân viên trực tiếp thực hiện dự án

1.2.3.6 16TNăng lực tài chính

Năng lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để xem xét “sức khỏe”, tiềm lực của doanh nghiệp mạnh yếu như thế nào Trong lĩnh vực xây dựng, để

Trang 25

đánh giá về năng lực tài chính của nhà thầu chủ đầu tư thường đánh giá thông qua một số các chỉ tiêu cơ bản sau đây:

- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (Current Ratio) = Tổng tài sản lưu động/Tổng nợ ngắn hạn

- Hệ số khả năng thanh toán nhanh (Quick Ratio) = (Tổng tài sản lưu động - Hàng tồn kho)/ Tổng nợ ngắn hạn

- Kỳ thu tiền bình quân (ngày) = Số ngày trong năm x khoản phải thu/ Doanh số tín dụng

- Chu kỳ chuyển hoá tồn kho (ngày) = Số ngày trong năm x Tồn kho bình quân/ Chi phí hàng bán

- Tỷ lệ nợ trên vốn chủ = Tổng nợ/Vốn CSH

- Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản (%) D/A = Tổng nợ/Tổng tài sản

- Thu nhập trên đầu tư ROA (%) = Lợi nhuận ròng/ Tổng tài sản

- Thu nhập trên vốn chủ ROE (%) = Lợi nhuận ròng/ Vốn CSH

1.2.4 28TNhững nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu

của doanh nghiệp xây dựng

Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết quyết định sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, để

có được năng lực cạnh tranh thì doanh nghiệp phải trải qua một quá trình xây dựng bộ máy tổ chức, xây dựng chiến lược kinh doanh (trong đó bao gồm các chiến lược về sản phẩm, thị trường, nhân lực, công nghệ, cạnh tranh) Việc tạo dựng môi trường bên trong và thích ứng với môi trường bên ngoài tốt sẽ làm cơ sở cho vững chắc cho doanh nghiệp hoạt động Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể chia làm hai nhóm:

Trang 26

1.2.4.1 Nhóm nhân tố bên trong

Các nhân tố bên trong là các nhân tố phát sinh từ trong lòng doanh nghiệp có ảnh hưởng đến việc củng cố và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, đó là:

1 Nguồn lực tài chính

Đây là nguồn lực quan trọng nhất và quyết định đến mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều là hoạt động đầu tư mang tính chất sinh lời Trong nền kinh tế thị trường sản xuất kinh doanh hàng hóa, doanh nghiệp phải có vốn bằng tiền hay bằng nguồn lực tài chính để thực hiện được hoạt động sản xuất kinh doanh Với nguồn lực tài chính này doanh nghiệp sẽ chi cho các hoạt động như đầu tư mới, mua nguyên vật liệu, trả lương cho công nhân

Trong đấu thầu xây dựng năng lực tài chính được xét trên hai phương diện:

- Năng lực tài chính mạnh giúp doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, bảo đảm chất lượng, tiến độ và tạo niềm tin cho chủ đầu tư đồng thời nâng cao uy tín, thương hiệu của nhà thầu

- Trong đấu thầu với khả năng tài chính mạnh sẽ được chủ đầu tư đánh giá cao vì đối với các nguồn vốn không phải ngân sách nhà nước trong các hồ

sơ mời thầu chủ đầu tư thường yêu cầu nhà thầu tự ứng vốn trước thi công cho đến khi có khối lượng nghiệm thu rồi mới thanh toán, do đó chỉ có những doanh nghiệp có năng lực tài chính mạnh mới đáp ứng được Mặt khác, với nguồn lực tài chính mạnh sẽ cho phép doanh nghiệp quyết định ra giá bỏ thầu một cách hợp lý

2 Nguồn nhân lực

Trang 27

Ngày nay, tất cả chúng ta đều biết rằng nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, then chốt, có vai trò đặc biệt quan trọng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Khi đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp thì chủ đầu tư thường chú trọng đến các vấn đề:

- Cán bộ quản trị viên cao cấp (Ban Giám đốc) là những người có vai trò quan trọng trong việc xây dựng chiến lược, điều hành và quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp phụ thuộc vào các quyết định của họ Khi đánh giá bộ máy lãnh đạo Chủ đầu tư thường quan tâm đến các tiêu thức như kinh nghiệm lãnh đạo, trình độ quản

lý doanh nghiệp, phẩm chất kinh doanh và các mối quan hệ và xa hơn nữa là khả năng xây dựng một tập thể đoàn kết, vững mạnh, thúc đẩy mọi người hết mình cho công việc Điều này sẽ giúp doanh nghiệp tăng thêm sức mạnh, tăng thêm năng lực cạnh tranh

- Cán bộ quản trị cấp trung gian là những người đứng dưới quản trị viên cao cấp và đứng trên quản trị viên cấp cơ sở Ở vị trí này họ vừa quản trị các quản trị viên cấp cơ sở thuộc quyền, vừa điều khiển các nhân viên khác Chức năng của họ là thực hiện các kế hoạch và chính sách của doanh nghiệp bằng cách phối hợp thực hiện các công việc nhằm dẫn đến hoàn thành mục tiêu chung Để đánh giá năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ cấp này Chủ đầu tư thường xem xét trên các mặt:

+ Trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, thâm niên nghề nghiệp, tác phong làm việc, sự am hiểu về kinh doanh và pháp luật

+ Cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ qua đó cho biết trình độ chuyên môn hoá và khả năng đa dạng hóa của doanh nghiệp Thường thì đội ngũ cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản trị và công nhân lành nghề

Trang 28

có chuyên môn về lĩnh vực chính của doanh nghiệp phải chiếm tỷ trọng ít nhất là 60%

- Các chuyên viên, đây là một trong những khác biệt so với các ngành khác Họ là những người không làm quản lý mà chỉ làm nhiệm vụ chuyên môn đơn thuần Đó là những kỹ sư, cử nhân trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh như lập dự toán, giám sát thi công và vai trò của họ cũng rất quan trọng Chẳng hạn như cá nhân người kỹ sư giám sát thi công có quyền quyết định mọi vấn đề trong quá trình thi công một hạng mục mà họ được phân công, quyết định của họ có ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình

- Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị một doanh nghiệp Thông thường họ là những đốc công, tổ trưởng, trưởng ca Nhiệm vụ của họ

là hướng dẫn, đôn đốc, điều khiển công nhân hoàn thành các công việc hàng ngày theo tiến độ kế hoạch để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả doanh nghiệp Đây là đội ngũ quản trị viên lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp qua khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công Và cuối cùng là là đội ngũ lao động với trình độ tay nghề cao, có khả năng sáng tạo trong công việc, họ chính là những người thực hiện những ý tưởng, chiến lược của các quản trị cấp cao, tạo nên năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

- Một vấn đề mà Chủ đầu tư quan tâm là khả năng huy động lực lượng công nhân kịp thời về số lượng và chất lượng để phục vụ cho quá trình thi công công trình Đây là việc rất khó vì khác với các ngành sản xuất khác trong ngành xây dựng, nhu cầu sử dụng công nhân tuỳ thuộc vào tiến độ thi công, số lượng không ổn định, có khi chỉ cần vài chục công nhân nhưng có

Trang 29

khi phải huy động hàng trăm, thậm chí hàng ngàn công nhân vào phục vụ dự

án

3 Hoạt động Marketing

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, Marketing là một công cụ cạnh tranh đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, tăng doanh thu, hiệu quả của doanh nghiệp Một doanh nghiệp nếu xây dựng được chiến lược marketing và biết cách sử dụng nó trong những tình huống, thời điểm thích hợp thì sẽ giúp doanh nghiệp đó giữ được ưu thế trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh

Trong lĩnh vực xây dựng, do đặc thù sản phẩm của các doanh nghiệp ngành này là không thể đưa sản phẩm ra thị trường cho khách hàng lựa chọn như các ngành công nghiệp khác được mà chủ yếu dựa vào danh tiếng, thương hiệu, chất lượng của của những công trình đã thi công để khách hàng xem xét và tìm đến yêu cầu sản xuất sản phẩm Sự cạnh tranh trực tiếp giữa các doanh nghiệp xây dựng chủ yếu là sự so sánh về thành tích, về thương hiệu Thành tích và thương hiệu của doanh nghiệp càng lớn thì khả năng trúng thầu của doanh nghiệp càng cao Do đó trước khi đấu thầu cần phải làm tốt công tác quảng cáo, tiếp thị để nâng cao mức độ tin cậy của chủ đầu tư với doanh nghiệp, từ đó góp phần vào việc nâng cao khả năng trúng thầu

4 Khả năng liên danh, liên kết

Khả năng liên danh, liên kết là sự kết hợp giữa hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo thành một pháp nhân mới nhằm tăng sức mạnh tổng hợp về năng lực kinh nghiệm, tài chính và thiết bị công nghệ, giúp doanh nghiệp phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu nâng cao năng lực cạnh tranh

Đối với những dự án, công trình có quy mô lớn, những yêu cầu kỹ thuật đôi khi vượt quá khả năng của doanh nghiệp thì để tăng khả năng trúng

Trang 30

thầu các doanh nghiệp thường liên danh, liên kết với nhau để tăng năng lực của mình trên thị trường Đây là một trong những giải pháp quan trọng và phù hợp nhất, qua đó doanh nghiệp có khả năng đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về công nghệ, mức độ phức tạp cũng như quy mô của công trình, của dự án

5 Trình độ và công tác tổ chức lập hồ sơ dự thầu

Đây là công việc hết sức quan trọng vì khả năng cạnh tranh trong đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lập hồ sơ dự thầu Nhà thầu có thể bị loại ngay từ vòng đầu do hồ sơ không đảm bảo yêu cầu Do đó chất lượng hồ sơ thầu là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định nhà thầu có trúng hay không Việc tổ chức lập hồ sơ dự thầu đòi hỏi phải trải qua các bước sau:

Trước tiên là nghiên cứu hồ sơ mời thầu, đây là bước quan trọng nhất quyết định sự thành công hay thất bại của nhà thầu khi tham gia đấu thầu, vì vậy công việc này đòi hỏi phải tiến hành một cách tỷ mỷ, nghiêm túc, đầy đủ các nội dung trong hồ sơ mời thầu Yêu cầu phải nắm được tính chất, quy mô, phạm vi đấu thầu, mức độ phức tạp về kỹ thuật, các yêu cầu về tiến độ thi công, thời hạn hoàn thành, nguồn vốn đầu tư, phương thức thanh toán, các thông tin về cơ quan tư vấn, giám sát,

Đồng thời tiến hành tìm hiểu môi trường đấu thầu, khảo sát hiện trạng mặt bằng thi công, lập phương án thi công, xây dựng giá dự thầu Việc tìm hiểu môi trường đấu thầu bao gồm việc tìm hiểu các điều kiện về thi công, vị trí địa lý, điều kiện địa hình địa chất, giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điều kiện cung ứng vật tư, nguyên liệu, giá cả thị trường, khả năng khai thác nguyên vật liệu tại chỗ, lao động phổ thông, khả năng về cung cấp lương thực, thực phẩm, môi trường thiên nhiên và các điều kiện kinh tế xã hội của dự án những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến phương án thi công và giá thành công trình Vì thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu rất ngắn nên để khảo sát và xử

Trang 31

lý hàng loạt số liệu, thông tin nói trên đòi hỏi nhà thầu phải có một đội ngũ cán bộ lập hồ sơ dự thầu có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm và am hiểu

kỹ càng tất cả các lĩnh vực

Công việc cuối cùng, sau khi tiến hành điều tra, khảo sát, xử lý tất cả các vấn đề có liên quan là công tác xác định giá dự thầu, đây là công việc quan trọng, phức tạp quyết định đến việc trúng thầu, do đó công việc này đòi hỏi phải do một bộ phận chuyên nghiệp thực hiện với sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng và kịp thời của các bộ phận chuyên môn khác

1.2.4.2 Nhóm nhân t ố bên ngoài

Cùng với các nhân tố bên trong như đã phân tích ở phần trên, thì các yếu tố bên ngoài cũng có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Các nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp rất nhiều, nhưng trong khuôn khổ luận văn tác giả chỉ đề cập đến những nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp, đó là các nhân tố sau:

1 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý bao gồm luật và các văn bản dưới luật Luật gồm

có luật trong nước và luật quốc tế, các văn bản dưới luật cũng vậy, có những quy định do Chính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ chức quốc tế (WTO, AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào hội nhập và toàn cầu hoá phải tuân theo Mọi quy định và luật lệ trong hợp tác kinh doanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh, nó tác động trực tiếp đến mọi phương diện như tín dụng, thuế, chống độc quyền, bảo hộ, ưu đãi, bảo vệ môi trường, những chính sách này khi tác động lên nền kinh tế sẽ ra cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng sẽ tăng nguy cơ cho doanh nghiệp khác

Trang 32

Sự ổn định của môi trường pháp lý cũng như sự ổn định chính trị sẽ là một nhân tố thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp đồng thời góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp phải nhiều khó khăn khi phải đối diện với những thay đổi liên tục của pháp luật, dẫn đến suy yếu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp

có ảnh hưởng rất lớn đến các doanh nghiệp tham gia đấu thầu xây dựng

Theo Luật đấu thầu thì bên mời thầu có quyền lựa chọn nhà thầu trúng hoặc huỷ bỏ kết quả lựa chọn theo quy định của pháp luật về đấu thầu Việc bên mời thầu tự thực hiện hay lựa chọn tư vấn lập hồ sơ mời thầu, chọn tư vấn đánh giá hồ sơ dự thầu có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của doanh nghiệp Họ có thể đưa ra những yêu cầu mà chỉ có một vài doanh nghiệp định trước mới thắng thầu được

Trong quá trình đấu thầu, bên mời thầu có quyền yêu cầu các các bên

dự thầu cung cấp các thông tin cần thiết phục vụ cho việc lựa chọn nhà thầu Nếu bên mời thầu có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn nghiệp

vụ tốt sẽ tạo nên cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu và từ đó sẽ lựa chọn ra được nhà thầu tốt nhất, ngược lại dễ tạo ra sự quan liêu, tiêu cực trong đấu thầu

3 Các đối thủ cạnh tranh

Trang 33

Khi doanh nghiệp tham gia dự thầu cũng có nghĩa là doanh nghiệp phải tham gia vào cuộc cạnh tranh công khai trên thị trường, trong đó các đối thủ cạnh tranh là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp nhất đến khả năng trúng thầu của doanh nghiệp Mức độ cạnh tranh quyết liệt hay không phụ thuộc vào năng lực và số lượng nhà thầu tham gia Để giành chiến thắng thì doanh nghiệp bắt buộc phải vượt qua được tất cả các đối thủ trong tham dự cuộc đấu thầu, muốn vậy doanh nghiệp phải đảm bảo có năng lực vượt trội hơn hẳn các đối thủ cạnh tranh Do đó, yêu cầu doanh nghiệp phải coi trọng công tác thu thập thông tin và tiến hành nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh trong quá trình đấu thầu, tìm hiểu điểm mạnh, điểm yếu để có biện pháp đối phó

4 Các nhà cung cấp vật tư

Cuối cùng một nhân tố nữa có ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu xây dựng cần phải đề cập đó là các nhà cung ứng vật tư, thiết bị Trong thời đại của sự phân công lao động và chuyên môn hóa cao thì không có một doanh nghiệp nào có thể tự lo cho mình các đầu vào được Để kinh doanh đạt hiệu quả thì doanh nghiệp phải tìm mua các vật tư đầu vào từ bên ngoài với điều kiện là người cung ứng phải giao hàng đúng hẹn, đúng chủng loại, đảm bảo yêu cầu về chất lượng và giá cả phải ổn định trong thời gian dài Nếu các nhà cung cấp tăng giá hoặc giao vật liệu kém phẩm chất thì chất lượng và giá thành công trình sẽ bị ảnh hưởng, dẫn đến lợi nhuận và uy tín của doanh nghiệp sẽ giảm, điều này đồng nghĩa với việc năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ bị giảm sút và cơ hội thắng thầu cũng giảm đi

Vì vậy, để việc cung cấp vật tư, nguyên liệu đúng hạn và đảm bảo yêu cầu chất lượng thì doanh nghiệp cần phải tiến hành lựa chọn nhà cung cấp một cách cẩn thận Tức là phải điều tra các điều kiện và hoạt động sản xuất

Trang 34

kinh doanh của nhà cung cấp đó có phù hợp với mình hay không, mặt khác không ngừng củng cố mối quan hệ tốt đẹp với các nhà cung ứng, cùng nhau giải quyết những khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng, tạo niềm tin cho nhau Ngoài ra, nếu có điều kiện các doanh nghiệp xây dựng đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng như gạch, đá, xi măng như vậy doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong quá trình thi công và hiệu quả mang lại sẽ lớn hơn

1.3 Đặc điểm của các gói thầu xây lắp nhà cao tầng

Việc thi công công trình xây dựng phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của

sản phẩm Sản phẩm của ngành xây dựng sẽ khác nhiều so với sản phẩm của các ngành khác như công nghiệp hay thương mại Ngay trong ngành xây

dựng các loại hình sản phẩm khác nhau cũng đưa đến việc thi công khác nhau: Chẳng hạn như sản phẩm xây dựng là công trình dân dụng sẽ khác nhiều so với sản phẩm công trình công nghiệp, giao thông hoặc thủy lợi Vì

vậy, các gói thầu xây lắp nhà cao tầng có một số đặc điểm như sau:

- Gói thầu xây lắp nhà cao tầng mang tính riêng lẻ, đơn chiếc Mỗi gói thầu có yêu cầu về mặt thiết kế kỹ thuật, kết cấu, hình thức, địa điểm xây dựng khác nhau Vì vậy, mỗi gói thầu xây lắp nhà cao tầng đều có yêu cầu tổ chức quản lý, tổ chức thi công và biện pháp thi công phù hợp với từng gói thầu cụ thể, có như vậy việc sản xuất mới mang lại hiệu quả cao

- Do sản phẩm có tính đơn chiếc như vậy nên chi phí sản xuất cho từng công trình sẽ khác nhau Do vậy, việc tập hợp chi phí, tính giá thành sản phẩm xây lắp chưa tạo ra sản phẩm xây lắp cũng được tính cho từng sản phẩm xây lắp riêng biệt

- Gói thầu xây lắp nhà cao tầng có giá trị lớn, kết cấu phức tạp, đòi hỏi chất lượng, kỹ thuật cao, thời gian thi công trung bình từ 1 - 3 năm Trong quá

Trang 35

trình xây lắp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, vốn

- Doanh nghiệp xây lắp thường có địa bàn rộng, sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất các điều kiện để sản xuất (xe, máy, nhân công, thiết bị, phương tiện thi công) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm Đặc điểm này làm cho công tác quản lý rất phức tạp Thông thường các doanh nghiệp xây lắp sử dụng lực lượng lao động thuê ngoài tại chỗ, nơi thi công công trình

để giảm bớt chi phí di dời

- Gói thầu xây lắp nhà cao tầng phần lớn là thực hiện ngoài trời, thi công trên độ cao lớn, chịu sự tác động trực tiếp của thiên nhiên, thời tiết nên việc thi công ở mức độ nào đó mang tính thời vụ Do đặc điểm này, trong quá trình thi công cần quản lý lao động, vật tư chặt chẽ, thi công nhanh, đúng tiến

độ khi điều môi trường, thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi ảnh hưởng đến chất lượng công trình có thể phải đi làm lại và các thiệt hại phát sinh do ngừng sản xuất

1.4 Tình hình th ực hiện công tác đấu thầu ở nước ta trong thời gian qua

1.4.1 Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện,

th ống nhất theo hướng tăng cường phân cấp

Luật Đấu thầu được ban hành đã tăng cường tính pháp lý của hoạt động đấu thầu; thống nhất các quy định của nhà nước về đấu thầu theo hướng là Luật gốc về đấu thầu sử dụng vốn nhà nước; khắc phục các tồn tại trong đấu thầu; tăng cường tính công khai, minh bạch, tăng cường phân cấp, đơn giản hóa thủ tục, tăng cường hậu kiểm; tăng cường hội nhập với quốc tế và tăng cường năng lực cạnh tranh giữa các nhà thầu trong nước

Hệ thống văn bản pháp luật về đấu thầu cơ bản đã được hoàn thiện,

thống nhất theo hướng tăng cường phân cấp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã ban

Trang 36

hành các Thông tư hướng dẫn về đấu thầu nhằm đảm bảo sự thống nhất và thuận tiện trong quá trình thực hiện dự án, khắc phục những khó khăn trong

quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng cơ bản Các mẫu hồ sơ hướng dẫn trong công tác đấu thầu được ban hành ngày càng đầy đủ, chi tiết và đồng bộ đã tạo nên sự chuyên môn hóa trong công tác đấu thầu, giúp cho các cơ quan chức năng quản lý về đấu thầu ở Bộ, ngành, địa phương, chủ đầu tư trong quá trình

thực hiện được dễ dàng và nhanh chóng, từ đó nâng cao chất lượng tài liệu đấu thầu cũng như quá trình đấu thầu được công bằng, minh bạch hơn Ngoài

ra việc ban hành các mẫu hồ sơ đấu thầu còn giúp hạn chế các sai sót và cách

hiểu khác nhau giữa các cơ quan chuyên môn, chủ đầu tư và các đơn vị tư

vấn Vì vậy hệ thống văn bản pháp luật đấu thầu thực sự đã hướng theo hành lang pháp lý chung, các chủ đầu tư và nhà thầu đã dần từng bước chấp hành

tốt những quy định trong Luật, không còn nhiều sai sót như thời gian trước

1.4.2 Ti ết kiệm đáng kể nguồn vốn của Nhà nước

Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/4/2006 Tiếp đó, Luật số 38/2009/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 19/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2009 tại Điều 2 đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đấu thầu Hai Luật này cùng với một số luật có liên quan và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo thành một hệ thống pháp luật về đấu thầu tương đối đồng bộ, khả thi, tạo thuận lợi cho việc thống nhất quản lý công tác đấu thầu trong phạm vi cả nước Theo đó, việc thực hiện theo Luật Đấu thầu và Luật số 38/2009/QH12 không chỉ giúp chủ đầu tư, bên mời thầu lựa chọn được nhà

thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu mà còn giúp tiết kiệm được đáng kể nguồn vốn của Nhà nước thông qua số liệu cụ thể qua các năm như sau:

Trang 37

Năm Tổng số gói thầu giá trúng thầu và giá gói thầu Tổng giá trị chênh lệch giữa

(Nguồn: Báo cáo thực hiện Luật đấu thầu - Bộ KH & ĐT)

Như vậy qua 5 năm thực hiện Luật Đấu thầu, Luật số 38/2009/QH12, thông qua đấu thầu, nguồn vốn của Nhà nước đã tiết kiệm được tổng cộng 84,873 nghìn tỷ đồng và giá trị tiết kiệm đều tăng qua các năm, qua đó thấy

rằng đấu thầu ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chi tiêu sử dụng nguồn

vốn Nhà nước (chi tiêu công)

1.4.3 Ho ạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã được chú trọng và triển

khai trên diện rộng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu thầu

Trong bối cảnh tăng cường phân cấp nhưng năng lực của chủ đầu tư ở

một số Bộ, ngành, địa phương còn hạn chế, thanh tra, kiểm tra về đấu thầu đã góp phần nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu, tăng cường hiệu lực và tính thực thi của pháp luật, chính sách về đấu thầu Trong thời gian qua, hầu

hết các địa phương đã tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra về đấu thầu

nhằm sớm phát hiện các thiếu sót, hướng dẫn chủ đầu tư và bên mời thầu giải quyết theo đúng quy định và đúng thẩm quyền Do đó, hoạt động kiểm tra cũng đã giúp tăng cường nhận thức của các đối tượng được kiểm tra trong

Trang 38

việc thực thi pháp luật Ngoài ra, kiểm tra, thanh tra về đấu thầu cũng đã góp

phần ngăn ngừa các hành vi sai phạm nói chung và các quy định của pháp luật

về đấu thầu nói riêng

Thông tư 01/2011/TT-BKHĐT quy định chi tiết về kiểm tra công tác đấu thầu ra đời đã quy định khá cụ thể và chi tiết quy trình kiểm tra trong công tác đấu thầu, đáp ứng được yêu cầu về việc thực hiện hoạt động kiểm tra

về công tác đấu thầu tại các Bộ ngành, địa phương và các Tập đoàn, Tổng công ty Việc ban hành Thông tư quy định chi tiết kiểm tra về công tác đấu

thầu đã chi tiết hoá hoạt động hậu kiểm trong công tác đấu thầu, góp phần giúp các cơ quan quản lý nhà nước cũng như người có thẩm quyền, chủ đầu tư

của các dự án chủ động nắm bắt và kiểm soát được tình hình thực hiện công tác đấu thầu tại các dự án Theo đó đã góp phần nâng cao chất lượng công tác đấu thầu nói chung

1.4.4 Năng lực của Chủ đầu tư và nhà thầu được cải thiện

Tại Điều 9 của Luật Đấu thầu và hướng dẫn tại Điều 5 Nghị định 85/2009/NĐ-CP đã quy định về việc đào tạo, bồi dưỡng cho các cán bộ trực

tiếp tham gia các hoạt động đấu thầu (tổ chuyên gia, bên mời thầu, chủ đầu tư ) nhằm tăng cường tính chuyên môn, chuyên nghiệp trong quá trình thực

hiện

Để triển khai nội dung này, hầu hết các Bộ ngành, địa phương đã tổ

chức các hội nghị tập huấn để quán triệt các quy định của pháp luật về đấu

thầu Các Bộ và Tổng công ty thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về quản

lý đầu tư xây dựng (trong đó đấu thầu là một nội dung chính) cho các cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào hoạt động đấu thầu Các Sở Kế hoạch và Đầu tư đã chủ động trong việc chủ trì, phối hợp tổ chức các hoạt động đào

Trang 39

tạo, tập huấn sâu rộng cho các Sở ban ngành ở địa phương, đặc biệt là chú

trọng tới các cán bộ thuộc các ban quản lý dự án ở cấp huyện, cấp xã

Ngoài ra, công tác phổ biến, quán triệt nội dung của Luật Đấu thầu,

Luật sửa đổi, các Nghị định hướng dẫn của Chính phủ đã được thực hiện nghiêm túc thông qua nhiều hình thức như: phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu

tư tổ chức các lớp tập huấn về đấu thầu cho các đơn vị, chủ đầu tư, tổ chức tư

vấn Đến nay, hầu hết các cán bộ tham gia trong lĩnh vực đấu thầu đều được

cấp chứng chỉ tham gia các khóa đào tạo về đấu thầu Hiệu quả và tác động

của các văn bản hướng dẫn được ban hành đối với việc quản lý đấu thầu trên địa bàn địa phương giúp các chủ đầu tư cập nhật kịp thời thông tin để tham dự

có hiệu quả, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật, nâng cao chất lượng

quản lý đấu thầu trên địa bàn

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, hội nghị phổ

biến, giới thiệu các quy định của pháp luật về đấu thầu; ngoài ra cũng đã tổ

chức các khoá đào tạo hoặc đào tạo tại chỗ cho các đơn vị thí điểm đấu thầu qua mạng và các đơn vị khác có nhu cầu

Đồng thời với việc phối hợp, trợ giúp cho các Bộ ngành và địa phương trong việc tập huấn, quán triệt các quy định của Luật Đấu thầu, Bộ Kế hoạch

và Đầu tư tiếp tục thực hiện công tác hướng dẫn, trao đổi, giải đáp thắc mắc liên quan tới công tác đấu thầu cho các cơ quan, doanh nghiệp, chủ đầu tư và nhà thầu trên cả nước thông qua các các hoạt động như: trả lời bằng văn bản, trả

lời qua điện thoại, thư điện tử và trao đổi trực tiếp

Đặc biệt, năng lực các nhà thầu Việt Nam nói chung đã có sự trưởng thành đáng kể Từ chỗ nhà thầu Việt Nam chỉ làm thầu phụ cho nhà thầu nước ngoài, sau đó tham gia liên doanh với tỷ lệ nhỏ, nay phần lớn các nhà thầu

Việt Nam có thể đấu thầu độc lập và trúng thầu

Trang 40

Sự trưởng thành của các nhà thầu Việt Nam còn vượt ra ngoài phạm vi

quốc gia Nhà thầu Việt Nam đã trúng thầu ở Lào, Campuchia Ví dụ như

Tổng Công ty Sông Đà đã đảm đương tổng thầu một số công trình thủy điện trên đất nước Lào, Campuchia

1.4.5 Nh ững tồn tại và hạn chế trong công tác đấu thầu

Bên cạnh những kết quả đạt được trong thời gian qua, trong công tác đấu thầu những vẫn tồn tại và hạn chế như:

- Các văn bản hướng dẫn về đấu thầu của một số cơ quan chính phủ chưa được ban hành kịp thời và việc triển khai thực hiện còn hạn chế

- Tính chuyên môn, chuyên nghiệp về đấu thầu chưa đồng đều và còn

tư vấn đấu thầu cần phải thực hiện tốt hơn nữa việc đánh giá tư cách hợp lệ và năng lực của nhà thầu khi tham gia dự thầu nhằm phát hiện và ngăn chặn kịp

thời các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đấu thầu để tránh xảy ra tình trạng đấu thầu hình thức, thiếu tính cạnh tranh làm giảm hiệu quả kinh tế

- Chất lượng của hồ sơ mời thầu còn thấp, nhiều bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho công tác lựa chọn nhà thầu Trong một số trường hợp

chỉ vì một vài chi tiết trong hồ sơ mời thầu do tư vấn lập không chuẩn xác mà

có thể dẫn đến phức tạp trong đánh giá hồ sơ dự thầu, phải xử lý tình huống

Ngày đăng: 26/03/2021, 12:44

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm