1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Giới thiệu một sản phẩm du lịch được khai thác từ di sản ẩm thực, có ẩm thực chủ đạo ở địa phương nơi mình sinh sống – Lễ Hội làng Đình Bảng – Từ Sơn , Bắc Ninh

10 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 31,09 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề bài : Giới thiệu một sản phẩm du lịch được khai thác từ di sản ẩm thực, có ẩm thực chủ đạo ở địa phương nơi mình sinh sống – Lễ Hội làng Đình Bảng – Từ Sơn , Bắc Ninh. Bài Làm I Giới thiệu chung. 1. Giới thiệu về làng Đình Bảng. Vị trí địa lí: Đình Bảng là một phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, được thành lập từ làng Đình Bảng gồm có 9 xóm. Sau này thêm phố Chùa Dận, xóm Mới và 4 Nông khu.Phường rộng 8,3 km2 và có 16.771 dân (tháng 92008)

Trang 1

Đề bài : Giới thiệu một sản phẩm du lịch được khai thác từ di sản ẩm thực, có

ẩm thực chủ đạo ở địa phương nơi mình sinh sống – Lễ Hội làng Đình Bảng – Từ Sơn , Bắc Ninh

Bài Làm

I Giới thiệu chung.

1. Giới thiệu về làng Đình Bảng.

- Vị trí địa lí: Đình Bảng là một phường thuộc thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, được thành lập từ làng Đình Bảng gồm có 9 xóm Sau này thêm phố Chùa Dận, xóm Mới và 4 Nông khu.Phường rộng 8,3 km2 và có 16.771 dân (tháng 9/2008)

- Lịch sử : Đình Bảng xưa vốn thuộc hươngCổ Pháp (hương là đơn vị hành chính cổ gồm nhiều xã, làng), huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn Hương Cổ Pháp và rộng hơn là vùng hai bờ sông Thiên Đức và sông Tiêu Tương nối

từ Gia Lâm ngày nay qua Đình Bảng tới Tiêu Sơn chính là nơi phát tích của nhà Lý

Đình Bảng được coi là vùng quê địa linh nhân kiệt Đây là nơi phát tích vương triều Lý, là quê hương của Lý Thái Tổ – người khởi lập triều Lý, khai sáng Thăng LongHà Nội

Đình Bảng giáp Hà Nội là cửa ngõ mở thông lên phía Bắc nên nơi đây có phong trào cách mạng sôi nổi, là an toàn khu của Trung ương Đảng và Xứ ủy Bắc Kỳ, tổng khởi nghĩa cách mạng tháng Tám (1940- 1945) Nơi tổ chức Hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII đã họp tại nhà Đám Thi ở Đình Bảng từ ngày 9 đến 11/11/1940 Làng Đình Bảng đã Nhân dân Đình Bảng được Nhà nước trao tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, bằng " CÓ CÔNG VỚI NƯỚC ", lá cờ THIẾU NIÊN ANH DŨNG do chính phủ và Trung Ương đoàn thanh niên cứu quốc, lá cờ ủy ban Kháng chiến chiến khu 12 tặng dân quân xã Đình Bảng, lá cờ TUỔI TRẺ VÌ HÒA BÌNH của liên đoàn Thanh

Trang 2

niên dân chủ thế giới tặng đội thiếu niên du kích xã Đình Bảng vinh dự

được Bác Hồ về thăm 3 lần

Đình Bảng nổi tiếng với rượu nấu từ nếp cái hoa vàng, bánh phu thê, giò lụa, thịt chuột

Nghề săn chuột tại làng rất phát triển và món thịt chuột cũng rất phổ thông trong thực đơn của nhà

2 Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội

- Điều kện tự nhiên : Có địa hình tương đối bằng phẳng , thuộc vùng đồng

bằng Có hướng dốc chủ yếu từ bắc xuống nam Thuận lợ i cho phát triển nông nghiệp Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa , chia làm 4 mùa

rõ rệt Có sự chênh lệch nhiệt độ rõ ràng giữa mùa hè và mùa đông Nghèo

về tài nguyên khoáng sản

- Điều kiện kinh tế xã hội :Làng Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn Là một

trong những nơi có số dân đông nhất việt nam.Là thị xã cửa ngõ của tỉnh Bắc Ninh, là một trong hai trung tâm kinh tế - văn hoá – giáo dục của tỉnh Bắc Ninh Có nhiều khu công nghiệp và làng nghề truyền thống như Đa Hội , Đồng Kị….Giao thông thuận tiện , đa dạng với nhiều loại phương tiện tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu với các tỉnh khác

3 Lễ hội đình làng Đình Bảng

“Thứ nhất là Đình Đông Khang

Thứ hai Đình Bảng, vẻ vang đình Diềm"

“Thứ hai Đình Bảng, vẻ vang đình Diềm" Câu ca xưa vẫn được người Kinh Bắc lưu truyền lại cho các thế hệ sau với niềm tự hào Đây là một ngôi đình cổ được xây dựng từ đầu thế kỉ 18, còn giữ lại được rất nhiều nét kiến trúc độc đáo đời

Lê - Trịnh, đồng thời là nơi thường xuyên tổ chức lễ hội Đình vào tháng 2 âm lịch hàng năm

Truyền thuyết kể rằng, từ xa xưa, dân Đình Bảng phải vật lộn với nạn thú dữ, thủy quái mà chưa biết trồng trọt, chăn nuôi Một hôm, có một vị lão nông xuất hiện dạy mọi người biết cách khai phá đất đai, đất thấp trồng lúa, đất cao trồng bầu bí ngô lạc Cuộc sống dân làng trở nên ấm no, hạnh phúc Đến một năm,

Trang 3

khi mùa màng bội thu, vị lão nông đó họp mọi người và đưa ra một bức tranh

vẽ Lệ Thần và bảo dân làng lập miếu thờ thần bảo hộ Sang ngày hôm sau, cụ già biến mất Lúc đó dân làng mới biết là thần hiển linh và thờ làm thành hoàng làng với hiệu là Bạch Lệ Đại Vương Từ đó, dân làng mở hội vào ngày 12 âm lịch đến hết ngày 15 âm lịch để tưởng nhớ công lao của thần Khi tiếng trống hội gióng lên vào sáng ngày 12 âm lịch thì các lễ tế được diễn ra liên tục cho đến khi tan hội Phẩm vật tế thần chủ yếu là xôi nếp và thịt lợn luộc, riêng đêm

13 có tục tế thần bằng một cặp lợn sống Tế xong, lợn được mổ và chia đều cho các "hiệu" mang thịt về từng nhà Đặc biệt, trong các ngày hội đình, dân làng Đình Bảng còn dành riêng một ngày đón "chạ anh" từ Cẩm Giàng (Hải Dương) sang dự hội Đây là một nét văn hóa cổ của người Việt còn được lưu giữ qua tục

"kết chạ" - tương tự như phong trào kết nghĩa giữa các địa phương như hiện nay

- thể hiện truyền thống hiếu khách của người Kinh Bắc Nếu bạn có mặt ở đây trong những ngày này, bạn sẽ được thấy lại những nghi lễ cổ gìn giữ nhiều đời với lễ tế, lễ dâng phẩm vật gợi lại ký ức về quá trình mở đất, mở làng từ thủa

xa xưa Những nghi lễ này được giới nghiên cứu văn hóa đánh giá là gần như nguyên bản từ khi hình thành mà không bị thời gian mai một Bạn cũng sẽ rất hào hứng khi được xem các trò diễn hội đình như chọi gà, thả chim câu, hát tuồng, diễn chèo cùng các trò chơi lễ hội khác được tổ chức Nhưng thú vị nhất vẫn là xem chèo đò hát Quan họ và đấu vật Trên ao đình là những chiếc thuyền được trang trí lộng lẫy với các liền anh, liền chị và luôn có hai người được cử ra để đối đáp thi tài Các tay chèo và người ngồi thuyền thêm phần hát đệm Trong gió xuân ấm áp, hương lúa nồng nàn, tiếng hát Quan họ vút lên đượm đà, đằm thắm, âm vang trên những làn sóng hồ làm người hát, người nghe đều bị cuốn vào một không khí vui tươi, tràn trề sức sống Nếu như nói hát Quan họ thể hiện tinh thần và khả năng nghệ thuật của người Kinh Bắc thì hội vật lại tượng trưng cho sức mạnh tộc Việt có từ ngàn đời nay Hội được tổ chức ngay tại sân đình và trên các bãi đất trống Sới vật là cát và đất nện được phủ bạt với vòng người xem lớp lớp trong ngoài Mở màn của cuộc đấu là các đô thực hiện các động tác múa "xe đài", biểu thị sự tôn trọng thần linh, các cụ cao niên, khán giả và chính đối thủ Trong tiếng trống thúc giục giã, các đô xoắn vào nhau, thể hiện sức mạnh và sự khéo léo qua những miếng vật cổ truyền như

"lộn cối", "giát bốc", "móc chảo" để giành lấy chiến thắng vinh quang Phần thưởng không có giá trị lớn về kinh tế nhưng đặc biệt có giá trị lớn về danh dự bởi người thắng cuộc là người vượt qua rất nhiều đối thủ từ các lò vật đổ về Thấm thoắt mà mấy ngày lễ hội đình đã tan Người Quan họ hát câu giã bạn nhưng chỉ là tạm thời chia tay Trong tiết xuân, không khí lễ hội còn nồng, chỉ bấm đốt ngón tay là đã đến hội Đền Đô vào trung tuần tháng 3 với quy mô hoành tráng và chứa đựng nhiều điều khám phá dành cho bạn

Trang 4

II Giới thiệu về Bánh Phu Thê.

Nằm cạnh đường số 1 nối Bắc Ninh với Hà Nội, cách Hà Nội về phía Bắc chỉ chừng nửa giờ chạy xe, Đình Bảng là một làng cổ thuộc vùng đất Kinh Bắc xưa, không chỉ nổi danh với ngôi đình làng to lớn được xây dựng cuối thế kỷ XVIII còn lại khá nguyên vẹn, với ngôi đền Đô lịch sử thờ tám vị vua nhà Lý quen được dân gian gọi là đền Lý Bát Đế…, nơi đây còn lưu truyền một loại bánh huyền thoại, biểu trưng cho sự gắn bó son sắt giữa tình nghĩa vợ chồng, được nhiều người biết đến với tên gọi bánh “xu xê” hay bánh “phu thê”

1 Nguồn gốc

Không ai rõ bánh “xu xê” đã ra đời từ lúc nào và vì sao lại được gọi bằng cái tên khá lạ lẫm với ngôn ngữ Việt như thế Cũng có thể đây là một loại bánh được du nhập trong quá trình giao thoa với tên gọi được giữ lại trong nguyên ngữ, hoặc giả các bậc tiên nhân khi tạo ra loại bánh này đã tùy tiện mà gọi tên như vậy chăng? Chỉ biết trong dân gian lưu truyền hai chuyện tích khá thú vị nhằm giải thích cho một cái tên khác có vẻ thuần Việt hơn: bánh “phu thê”

Chuyện kể rằng có một người nọ phải trẩy đi buôn bán ở phương xa, trước khi lên đường người vợ có làm cho chồng một số bánh với lời gởi gắm chân tình “cho dù

có xa nhau nhưng lòng nàng vẫn luôn thủy chung, ngọt ngào như chiếc bánh chàng mang theo vậy” Người chồng đã rất cảm động gọi loại bánh này là bánh “phu thê”, nghĩa là bánh “vợ chồng” Ấy vậy mà khi đến phương xa, bị mê hoặc bởi sắc đẹp của các cô gái trẻ, anh đã sớm quên mối tình xưa nơi quê nhà và chẳng còn màng đến chuyện trở về nữa Biết được tin không vui, người vợ liền làm một mớ bánh gởi đến chồng kèm theo lời nhắn:

“Từ ngày chàng bước xuống ghe, Sóng bao nhiêu đợt, bánh phu thê rầu bấy nhiêu…”

Nhận được bánh và lời nhắn đầy tâm tình, người chồng đã kịp thời tĩnh ngộ, tức tốc quay về và không còn nghĩ đến chuyện thay lòng đổi dạ nữa Từ đó trong dân gian xem bánh xu xê là biểu tượng của sự thủy chung và trong các đám hỏi, đám sêu, đám cưới, những bữa cổ trang trọng thường có sự hiện diện của bánh xu xê như một thông điệp gởi đến các đôi lứa…

Cũng trong ý nghĩa tương tự, một chuyện tích khác kể rằng khi vua Lý Anh Tông xuất chinh, hoàng hậu đã đích thân vào bếp làm một loại bánh để gởi theo chồng ra

Trang 5

trận mạc Loại bánh này khi bóc ra tỏa mùi hương thơm dịu, ăn vào có vị ngon đậm đà đã làm nhà vua cảm động, ngài bèn đặt tên bánh là “phu thê” với ý nghĩa

đề cao tình nghĩa son sắt vợ chồng và truyền nhân rộng ra trong dân chúng Là nơi phát tích nhà Lý, làng Cổ Pháp (nay là làng Đình Bảng) đã có duyên may phát triển loại bánh này và lưu truyền đến tận ngày nay

Qua hai câu chuyện được truyền tụng, có thể phỏng đoán “xu xê” là một loại bánh

đã được biết đến từ trước trong dân gian Mãi về sau này, chí ít là từ thời vua Lý Anh Tông (1138 - 1175), tên bánh “phu thê” mới được biết đến và sử dụng song hành

Theo các cụ cao niên của làng cho biết, ngày xưa, dân làng chỉ gói một chiếc mà

không buộc bánh xu xê thành đôi như ngày nay.

Thời vua Lý Thánh Tông (1054- 1072), mỗi dịp đầu năm, ngài về Thái miếu tế

tổ, dân làng bèn cúng bánh xu xê cho nhà vua và hoàng hậu ăn Thấy ngon, ngài hỏi bánh có tên là gì, làm bánh bằng chất liệu gì và làm bánh vào dịp nào? Dân kể

ra các nguyên liệu làm bánh đều là sản vật của làng và dân làng làm bánh để cúng

tổ tiên, trời đất vào dịp đầu năm và hội làng Tên bánh gọi là su sê (chữ Nôm cổ, nghĩa là vui vẻ) Lập tức, nhà vua truyền cho dân làng nên làm bánh trong các dịp

ăn hỏi và ăn cưới của cặp vợ chồng đôi tân lang- tân nương Ngài lại gợi ý là nên gói hai cái bánh thành một cặp và cho đổi tên là bánh phu thê (bánh vợ chồng) Ngài nói: cặp bánh bó lại với nhau là thể hiện ý nguyện tình nghĩa vợ chồng gắn bó suốt đời với nhau Từ đó, bánh xu xê còn được gọi là bánh phu thê và ngoài việc sử dụng là vật phẩm tế Thành hoàng và thưởng thức trong dịp tết Nguyên đán, dịp hội làng, bánh phu thê còn được người dân trong vùng sử dụng làm lễ vật trọng dịp ăn hỏi, ăn cưới của các đôi vợ chồng trẻ

Cả nước Việt Nam không một địa phương nào cung cấp cho thực khách loại bánh

su sê như bánh xu xê của Đình Bảng Sở dĩ có thực tế đó là vì:

Thứ nhất, đất trồng trọt ở Đình Bảng là loại đất phù sa rất màu mỡ, lúa nếp được trồng ở đây là loại nếp cái hoa vàng có hương vị thơm ngon rất đặc trưng; cánh đồng

Cao Lâm (gần khu Thọ Lăng) chuyên trồng loại đỗ xanh- một loại thực phẩm thích hợp với công nghệ làm bánh xu xê; lá dong, lá chuối, lạt giang dùng để gói bánh su

sê đều là sản vật của làng Đình Bảng

Hai là, nước giếng làng Đình Bảng rất trong, mát và tinh khiết như nước mưa Người dân Đình Bảng dùng nước ấy chế biến bột gạo để làm bánh, nếu dùng nước giếng làng khác thì chất lượng bánh xu xê sẽ giảm rõ rệt

Ba là, bí quyết làm bánh xu xê được con em người Đình Bảng giữ “độc quyền”

Trang 6

2.Nguyên liệu

- Bột gạo - được làm từ gạo nếp cái hoa vàng

- Đu Đủ xanh

-Quả Dành Dành chín

- Đường kính

- Đậu Xanh đã xát vỏ

- Hạt sen

- Một ít sợi Dừa nạo

- Lá Dong hặc lá chuối tươi và lá chuối khô

- Dây buộc bánh

3.Các công đoạn làm bánh Phu Thê.

Làm bánh su sê trải qua các công đoạn sau:

Công đoạn thứ nhất là làm bột bánh: người ta làm bột bánh từ gạo nếp cái

hoa vàng Gạo được giã trắng, ngâm nước giếng khơi của làng từ tối hôm trước, xay bằng cối xay bột, để lắng, rồi đổ nước cũ thay nước mới, ngâm 1 giờ rồi đổ nhiều lần để bột thật trắng Sau đó, người ta phơi bột thành từng miếng nhỏ (Bột đó, ngoài việc dùng để làm bánh xu xê, còn để nấu chè hạt sen) Sau đó, nghệ nhân làm bánh su sê, theo tỷ lệ nhất định, rồi ngâm bột với nước quả dành dành (Quả dành dành được lấy từ cây dành dành mọc tự nhiên trong rừng Báng) Những quả dành dành dùng để lấy nước làm bánh

xu xê phải là những quả không thối, không mốc, phơi khô, lấy phần ruột, ngâm vào nước Khi đó, nước dành dành có màu vàng rất hấp dẫn Sau đó, người ta dùng nước đó ngâm với bột gạo nếp, lập tức, bột có màu vàng rất đặc trưng.Ngoài ra còn nạo đu đủ xanh ngâm phèn rồi xắt nhỏ nhào lẫn với bột để vỏ bánh có thêm độ dòn

Công đoạn thứ hai là làm nhân bánh Đỗ xanh được xay cho vỡ đôi, ngâm

nước cho dóc vỏ, rồi cho vào chõ đồ chín trộn với đường trắng (ngày xưa, người Đình Bảng dùng ruột cây báng ở rừng Báng ép lấy nước rồi nấu thành đường, sau này thì dùng đường phèn mà không dùng mật mía), hạt sen Trong nhân bánh, người ta cho 8 hạt sen Tương tự, hạt sen cũng được luộc chín, để ráo nước, giã nhuyễn Đậu sẽ được đem giã cho thật mịn, trộn đều với hạt sen tạo thêm vị thơm ngon Để tăng thêm vị béo ngậy, người ta còn cho thêm sợi dừa nạo và thêm một ít dầu chuối để có vị thơm hấp dẫn Đem hỗn hợp quậy với đường cát trắng cho thật dẻo tựa như chè kho, rồi bắt thành từng viên để làm nhân bánh

Trang 7

Công đoạn thứ ba là gói và buộc bánh: Bánh xu xê được gói bằng hai loại

lá Bên trong được gói bằng lá dong và buộc bằng lạt giang, bên ngoài gói bằng lá chuối xanh (sau khi đã luộc chín), thành hình vuông.Sau khi gói bằng lá dong và buộc xong, người ta cho vào nồi đồng đại luộc bánh Ngày xưa, để cho nồi bánh chín đều, người ta điều chỉnh cho ngọn lửa cháy vừa phải, không to quá, không nhỏ quá, và để xác định thời gian cho một nồi bánh su sê chín kỹ, người ta châm hương và đốt tương ứng với 1 giờ (60 phút) là được

Công đoạn cuối cùng là hoàn tất công việc: sau khi luộc chín bánh, người ta

vớt bánh ra phản gỗ, nén bánh như nén bánh chưng vuông để bánh thoát hết nước ra ngoài Khi lá bánh đã ráo hết nước, người ta lấy lá chuối xanh gói bọc bên ngoài, dùng lạt giang được nhuộm màu cánh sen gói lại

Bánh xu xê phải ăn khi nguội mới cảm nhận được độ dẻo, dai và giòn của vỏ bánh, nhưng nếu thưởng thức bánh lúc còn nóng, vị thơm ngọt bùi của hạt sen, đậu xanh và dừa tươi khi tan ra trong miệng sẽ đánh thức các giác quan, giúp thực khách cảm nhận được hương vị độc đáo của bánh

4 Công dụng

Bánh phu thê dùng để cúng Thành hoàng, trước đây có kích thước lớn hơn bánh

mà ngày nay người ta dùng trong đám cưới Hàng năm, vào dịp đầu xuân, mỗi gia đình thường mang 4 cặp bánh ra đình tế Thành hoàng Còn mâm bánh của làng để

tế Thành hoàng là 16 cặp

Ở nhiều nơi bánh phu thê được sử dụng như một lễ vật đựng trong các tráp ăn hỏi Trong đám cưới người ta cũng dùng bánh này làm món tráng miệng

5 Nét đặc biệt

Cả nước Việt Nam không một địa phương nào cung cấp cho thực khách loại bánh

su sê như bánh xu xê của Đình Bảng Sở dĩ có thực tế đó là vì:

Thứ nhất, đất trồng trọt ở Đình Bảng là loại đất phù sa rất màu mỡ, lúa nếp được trồng ở đây là loại nếp cái hoa vàng có hương vị thơm ngon rất đặc trưng; cánh đồng

Cao Lâm (gần khu Thọ Lăng) chuyên trồng loại đỗ xanh- một loại thực phẩm thích hợp với công nghệ làm bánh xu xê; lá dong, lá chuối, lạt giang dùng để gói bánh

xu xê đều là sản vật của làng Đình Bảng

Trang 8

Hai là, nước giếng làng Đình Bảng rất trong, mát và tinh khiết như nước mưa Người dân Đình Bảng dùng nước ấy chế biến bột gạo để làm bánh, nếu dùng nước giếng làng khác thì chất lượng bánh xu xê sẽ giảm rõ rệt

Ba là, bí quyết làm bánh xu xê được con em người Đình Bảng giữ “độc quyền”

6 Bánh xu xê trong đời sống tinh thần người dân Việt.

Là một loại bánh dân dã với nguyên vật liệu từ hoa màu ruộng đất vốn sẵn của vùng nông thôn Bắc bộ, xu xê Đình Bảng có hình thức vuông vắn với kích thước lớn hơn chiếc bánh cốm, được gói bằng lá chuối tây và bọc bên ngoài lớp

lá dong tươi xanh, buộc chặt bởi sợi lạt nhuộm màu cánh sen Bên trong bánh

có màu vàng óng ả nhờ pha nước nấu với quả dành dành

Bánh luôn có đôi có cặp như thể vợ chồng tạo thành một cặp đôi thắm thiết, vì vậy mà đơn vị đếm luôn là cặp, mỗi cặp là một đôi bánh Dựa trên truyền tích

về ý nghĩa bánh phu thê, nhiều người đã đi khá xa, viện dẫn đến cả nguyên lý

âm dương, ngũ hành… để thêu dệt, khoác thêm ý nghĩa thần thiêng, xem bánh

là vật biểu trưng “không thể thiếu” trong việc cưới xin

Điều đáng suy nghĩ là không thấy bất kỳ ca dao, tục ngữ, phong tục, lễ nghi nào liên quan đến việc cưới xin ngày trước có đề cập đến bánh xu xê hay phu thê, cũng không thấy chúng được nhắc đến trong bất cứ tác phẩm văn học cổ nào, ngoài việc được chú thích ngắn ngủi trong “Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị” của Giáo sư Lê Ngọc Trụ (Nhà xuất bản Thanh Tân, Sài Gòn, 1959): “bánh xu-xê hoặc sô-sê do tiếng ‘phu thê bính’ đọc trại”

Ở đây tưởng đã có sự nhầm lẫn của tác giả bởi những âm hưởng đồng nguyên giả tạo (false cognatic inferences), vì “phu thê bính” chỉ là một loại bánh nướng của người Tàu, được làm bằng bột mì, không gói hay gói bằng giấy năm, bảy cái lại với nhau, hoàn toàn không liên quan gì đến bánh xu xê (xu xê hay phu thê) của Việt Nam cả

Theo truyền tụng, bánh xu xê đã từng là trân phẩm tiến về kinh đô Huế Có thể do thấy bánh mang ý nghĩa luân lý khá hay, lại cũng dễ làm nên các bà nội trợ chốn thần kinh đã khéo cách tân làm nên loại bánh su sê có chất liệu tuy giống với xu xê Đình Bảng nhưng hình thức và màu sắc đã khác đi ít nhiều Xu

xê Huế không pha màu, nhỏ hơn và đóng gói trong chiếc hộp vuông xinh xắn được kết từ lá dừa Vẫn tôn trọng ý nghĩa như cách giải thích của người miền

Trang 9

Bắc nhưng người Huế đã tỏ ra tinh tế, ý nhị khi kết hợp chiếc bánh tròn (khi bắt nắn) trong chiếc hộp vuông, vừa thể hiện sự viên thành của hôn nhân cách thâm thúy lại vừa mang tính thẩm mỹ cao…

7 Khác nhau giữa bánh Phu Thê ở Đình Bảng với ở Huế:

Về màu sắc:

- Huế :Xu Xê Huế không pha màu, có màu trắng đục

- Ở Đình Bảng: Được pha màu có màu vàng ửng hoặc xanh

Kích thước :

- Làng Đình Bảng : Bánh to hơn , được gói bằng lá chuối khô bên trong , chuối xanh hoặc lá dong bọc bên ngoài

- Huế: nhỏ hơn và đóng gói trong chiếc hộp vuông xinh xắn được kết từ lá dừa

Vị khi ăn

- Bánh Phu Thê phải ăn khi nguội mới cảm nhận được độ dẻo, dai và giòn của vỏ bánh, nhưng nếu thưởng thức bánh lúc còn nóng, vị thơm ngọt bùi của hạt sen,

- Phu thê Huế khi ăn có vị dai dai của bột, sần sật của dừa, ngon ngọt của nhân đậu, thơm của nước hoa bưởi và lá dừa Mặt có hình vuông, hay kiểu cách hơn, mặt là hình ngũ giác

III Kết luận

Mang trong mình ý nghĩa luân lý khá độc đáo, bánh xu xê đã trở thành biểu tượng của tình nghĩa vợ chồng, của lòng thủy chung son sắt… Quả không lạ khi bánh xu xê thường hiện diện trong mâm quả ngày cưới, góp phần gìn giữ truyền thống và đạo lý tốt đẹp của người Việt trải qua bao thế hệ…

Trang 10

Tài liệu tham khảo

1.Văn hóa ẩm thực Việt Nam tập 1 Miền Bắc

2.http://www.lamsao.com/3-mon-dac-san-bac-ninh-noi-tieng-hap-dan-du-khach-p214a100298.html

3 http://www.tourbalo.vn/Pages/KhamphaDiadanh.aspx?

ItemID=298&Sukienid=2&CityID=3

4 Nguyễn Quang Khải- Bánh xu xê Đình Bảng

http://baobacninh.com.vn/news_detail/85287/banh-su-se-dinh-bang.html#

5 http://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C3%ACnh_B%E1%BA%A3ng,_T

%E1%BB%AB_S%C6%A1n

6 lukhach24h.com/event/hoi-dinh-bang.html

7 Khánh Thành -Thăm làng nghề làm bánh Xu Xê Đình Bảng, Bắc Ninh

: http://diemhenviet.com/bac-ninh-434/tham-lang-nghe-lam-banh-xu-xe-dinh-bang-bac-ninh-6294/#ixzz3TM4MKITe

8.Trích nguồn: aseantraveller

: http://diemhenviet.com/bac-ninh-434/tham-lang-nghe-lam-banh-xu-xe-dinh-bang-bac-ninh-6294/#ixzz3TM4MKITe

Ngày đăng: 26/03/2021, 11:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w