1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số đặc điểm sinh học của các giống lợn nái bản địa được nuôi tại huyện hòa an cao bằng, các bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị

70 87 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 2,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Phạm Thị Nga Tên luận văn: Một số đặc điểm sinh học của các giống lợn nái bản địa được nuôi tại huyện Hòa An – Cao Bằng, các bệnh thường gặp và biện phá

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Đức Tám

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo

vệ lấy bất kỳ học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày… tháng… năm…

Tác giả luận văn

Phạm Thị Nga

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được

sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc cô giáo TS Trần Thị Đức Tám đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Giải phẫu – Tổ chức – Phôi thai, Khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ viên chức Trung tâm giống vật nuôi cây trồng Thủy sản Cao bằng; Ban giám hiệu, cùng các thầy cô giáo, cán bộ nhân viên lao động của Trường Trung cấp Kinh tế Kỹ thuật Cao Bằng và một số hộ dân của huyện Hòa An tỉnh Cao Bằng đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./

Hà Nội, ngày… tháng… năm…

Tác giả luận văn

Phạm Thị Nga

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục bảng v

Danh mục đồ thị, hình, sơ đồ, ảnh vi

Trích yếu luận văn vii

Thesis abstract ix

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Nguồn gốc và đặc điểm sinh học của lợn 3

2.1.1 Nguồn gốc và sự hình thành giống lợn 3

2.1.2 Một số đặc tính sinh học và khả năng sản xuất của lợn 5

2.2 Đặc điểm sinh sản ở lợn 8

2.2.1 Đặc điểm sinh sản 8

2.2.2 Quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn ở giai đoạn mang thai 10

2.2.4 Những chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái 12

2.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản 14

2.3 Đặc điểm về ngoại hình và tính năng sản xuất của một số giống lợn chính được điều tra 16

2.3.1 Giống lợn Móng Cái 16

2.3.2 Lợn Hương 18

2.3.3 Lợn Đen Cao Bằng 19

2.4 Căn bệnh 21

2.4.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái 21

2.4.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn náı 22

Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 28

3.1 Nội dung nghiên cứu 28

Trang 5

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 28

3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Phương pháp nghiên cứu của lợn Hương 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu của lợn Đen 29

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu lợn Móng cái 29

3.5 Các chỉ tiêu theo dõi 30

3.5.1 Chỉ tiêu về sinh lý sinh dục của giống lợn nội theo dõi 30

3.5.2 Chỉ tiêu về khả năng sinh sản của lợn nái nội 30

3.5.3 Chỉ tiêu về khả năng sinh trưởng của thịt lợn địa phương 31

3.5.4 Chỉ tiêu về khả năng mắc bệnh sinh sản của đàn lợn nái địa phương 32

3.5.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 32

3.6 Phương pháp xử lý số liệu 33

Phần 4 Kết quả và thảo luận 34

4.1 Kết quả điều tra tình hình chăn nuôi lợn ở 3 giống lợn trên địa bàn huyện hòa an, tỉnh cao bằng 34

4.2 Kết quả nghiên cứu về khả năng sinh sản của lợn nái địa phương 37

4.2.1 Kết quả nghiên cứu về một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái địa phương 37

4.2.2 Kết quả nghiên cứu về sức sản xuất của lợn nái địa phương 38

4.3 Kết quả đánh giá khả năng sinh trưởng của lợn nội địa phương 40

4.3.1 Sinh trưởng tích luỹ lợn nội qua các tháng tuổi 40

4.3.2 Sinh trưởng tuyệt đối của 3 giống lợn nội qua các giai đoạn tuổi 42

4.3.3 Sinh trưởng tương đối của 3 giống lợn nội qua các giai đoạn tuổi 43

4.4 Kết quả đánh giá khả năng mắc bệnh của lợn nái nội địa phương 45

4.5 Kết quả điều trị theo các phác đồ của lợn nội địa phương 47

4.5.1 Kết quả điều trị bệnh suyễn lợn theo các phác đồ 47

4.5.2 Kết quả điều trị bệnh Viêm tử cung của lợn nái theo các phác đồ 48

Phần 5 Kết luận và đề nghị 50

5.1 Kết luận 50

5.2 Đế nghị 50

Tài liệu tham khảo 51

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Danh sách các giống lợn bảo tồn ở Việt nam (tính đến 30/12/2007) 21

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn gia súc, gia cầm của huyện Hòa An trong 3 năm gần đây 34

Bảng 4.2 Cơ cấu đàn lợn của huyện Hòa An qua 3 năm 2013, 2014, 2015 35

Bảng 4.3 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục của lợn nái địa phương 37

Bảng 4.4 Khả năng sản xuất của đàn lợn nái nội của huyện Hòa An 38

Bảng 4.5 Khối lượng của 3 giống lợn nội qua các tháng tuổi 40

Bảng 4.6 Sinh trưởng tuyệt đối của 3 giống lợn nội qua các giai đoạn tuổi 42

Bảng 4.7 Sinh trưởng tương đối của lợn Táp Ná qua các giai đoạn 44

Bảng 4.8 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái nội của huyện Hòa An 45

Bảng 4.9 Tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái theo các giống lợn 46

Bảng 4.10 Kết quả điều trị bệnh Suyễn lợn theo các phác đồ 47

Bảng 4.11 Kết quả điều trị bệnh Viêm tử cung theo các phác đồ 48

Trang 7

DANH MỤC ĐỒ THỊ, HÌNH, SƠ ĐỒ, ẢNH

Hình 2.1 Lợn Móng Cái 17

Hình 2.2 Lợn Hương 18

Hình 2.3 Lợn ỉ pha (trái) và lợn ỉ mỡ (phải) 19

Hình 2.4 Lợn Đen 20

Đồ thị 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của lợn nội qua các tháng tuổi 41

Đồ thị 4.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của lợn nội qua các giai đoạn 43

Đồ thị 4.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn nội qua các giai đoạn 44

Trang 8

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Phạm Thị Nga

Tên luận văn: Một số đặc điểm sinh học của các giống lợn nái bản địa được

nuôi tại huyện Hòa An – Cao Bằng, các bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị

mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi và thú y cho lợn địa phương

2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp điều tra thu thập số liệu qua các phiếu điều tra rồi thống kê số các chỉ tiêu qua phiếu

Phương pháp kiểm tra, theo dõi, cân đo trực tiếp các chỉ tiêu nghiên cứu trên đàn lợn nội khi đã xác định được tuổi của lợn cần nghiên cứu, sau đó ghi chép lại

Phương pháp cách ly, theo dõi, chẩn đoán các bệnh trên đàn lợn nội, sau đó tiến hành điều trị so sánh giữa các phác đồ điều trị trên đàn lợn bệnh cần nghiên cứu, rồi ghi chép lại

Phương pháp tổng hợp, xử lý số liệu trên Excel bởi các số liệu đã thu thập, ghi chép lại

Trang 9

Khả năng kháng bệnh của lợn nái nội tương đối tốt

Khi lợn bị suyễn điều trị có kết quả cao khi dùng Cefadoc: 1ml/10kg thể trọng kết hợp Kanamycin và trợ sức trợ lực

Khi lợn bị viêm tử cung ở lợn nái điều trị có kết quả cao khi dùng kháng sinh amoxycillin 10-15mg/kg thể trọng kết hợp với tiêm hanprost hoặc oxytoxin, thụt dung dịch lugol 0,1% bảo vệ niêm mạc và trợ sức, trợ lực

Đối với các hộ chăn nuôi nên sử dụng kháng sinh tác dụng kéo dài có hoạt phổ rộng để điều trị cho lợn nái nhằm giảm số lần tiêm tránh stress cho nái

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Author name: Pham Thi Nga

Thesis title: Some biological characteristics of the native varieties bred sows in

Hoa An district - Cao Bang, common diseases and treatment measures

Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01

Educational organization: Vietnam Natioanl Universityof Agriculture

1 Research Objectives:

Reviews are the physiological characteristics, the ability to produce the growth process, play the exercise, the ability of some disease like sow internal feed at Hoa An district, Cao Bang From which to compare the treatment to bring out the most resonant treatments to bring high efficiency in animal husbandry and veterinary medicine for the local pig

2 Materials and Methods:

The investigation method of data collection through the survey and statistics of indicators through the vote

Test methods, tracking, weight measure directly the norms of research on inner pig when pig's age have identified the need for research, then the record

Quarantine methods, monitoring, diagnosis of the diseases on the pig, then proceed to the treatment of the comparison between the treatment on pig disease need research, and record Synthetic methods, data processing on Excel by the figures collected, record

3 Results and conclusion:

Body mass when pigs swine: 8.53kg/births; Black pig: 20.25 kg/births; pigs Mong Cai 40.5 kg/births

The number of offspring out/of Mong Cai average 9.71 births/child ages; Perfume 8.23 average pig head / group; Black Pig average 6.85 children / litter

Cumulative volume of pigs through the years: a black Pig has accumulated volume is highest, then to the pig Mong Cai and finally pigs

About the potential growth of the inner pig equivalent, up from weaning to 4, 5 months old then gradually reduced from May 5th to June 7th Also the ability to grow relatively tends to reduce over months, years higher growth is relatively lower

Disease resistance by relatively good domestic sows

Trang 11

When pigs with asthma treated with high results when used Cefadoc: 1ml/10kg of body weight and sustain kanamycin combination synergy

When the pigs were metritis in sows treated with high results when antibiotics amoxycillin 10-15 mg/kg in combination with either oxytocin injection hanprost, indented 0.1% Lugol mucosal protection and health assistance, support

For the farmers should use long-acting antibiotic with broad-spectrum activity for the treatment of sows to reduce the number of injections to avoid stress for sows

Trang 12

PHẦN 1 MỞ ĐẦU

1.1.TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Chăn nuôi lợn trên thế giới cũng như ở Việt Nam giữ một vai trò rất quan trọng, được phát triển ở hầu khắp các nước trên thế giới Sở dĩ lợn có thể phát triển một cách dễ dàng là do nó có nhiều đặc tính ưu việt: ăn tạp, chi phí/1kg tăng khối lượng thấp, sức chịu đựng tốt với các điều kiện vệ sinh chăm sóc khác nhau, chu kỳ sinh sản ngắn và tốc độ tăng trưởng nhanh, nên khả năng cho sản phẩm rất lớn Mỗi năm, một con lợn nái có thể đẻ từ 2 đến 2,4 lứa và lượng thịt lợn được sản xuất từ một lợn nái cũng rất cao, có thể đạt tới 2 tấn/năm Mặt khác, thịt lợn giàu dinh dưỡng, phẩm chất tốt, dễ chế biến, phù hợp với khẩu vị của đa số người tiêu dùng, nên mức tiêu thụ rất cao Lượng thịt lợn tiêu thụ trên thế giới tương đương với thịt bò, ở mức khoảng 40% tổng lượng thịt (FAO) Ở Việt Nam, thịt lợn là nguồn thực phẩm chính

Ngoài việc cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng, thì chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng phân bón rất lớn cho ngành trồng trọt, khí biogas phục vụ sinh hoạt ở nông thôn, cung cấp nguồn nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, thuộc da…

Trước sức ép của thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế, cũng như các ngành khác, ngành chăn nuôi lợn cũng có sự cạnh tranh xuất khẩu rất khắt khe, đòi hỏi

về số lượng và chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm cao Từ thực tế đó, Nhà nước đã và đang có những chính sách phát triển ngành chăn nuôi lợn, áp dụng công nghệ tiên tiến nhất hiện nay, theo hướng phát triển chăn nuôi lợn công nghiệp, thực hiện nhập khẩu một số giống lợn ngoại cao sản trên thế giới như Landrace, Yorkshire, Duroc, Pietrain…, nhằm cải tiến giống lợn nội và nâng cao năng suất, tăng nhanh số lượng thịt lợn, đồng thời nâng cao chất lượng thịt, phục

vụ cho nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu Các nhà khoa học đã nghiên cứu lai tạo thành công giống lợn ngoại với một số lợn nội tạo ra tập đoàn các giống lợn ngoại và lợn lai tại Việt Nam đáp ứng với tình hình phát triển chăn nuôi lợn đa dạng, phù hợp với các vùng sinh thái của nước ta

Bên cạnh việc quan tâm phát triển các giống lợn ngoại, lợn cao sản, thì con lợn nội ít được đầu tư, chưa có những chính sách, định hướng cụ thể để phát triển Lợn nội chỉ được phát triển trong kinh tế hộ gia đình nhỏ lẻ, mang tính tự cung tự cấp, không có sự đầu tư thoả đáng để có thể phát triển thành hàng hoá

Trang 13

Chúng được nuôi phổ biến ở nông thôn, vùng miền núi và thực sự đã trở thành loài vật nuôi lâu đời nhất, gần gũi đối với người dân Việt Nam Nước ta có tới hơn 60 giống lợn nội, chúng phân bố rộng khắp ở các vùng sinh thái Tại mỗi vùng đều có những giống lợn địa phương đặc trưng cho vùng và thị hiếu riêng của cộng đồng vùng đó Các giống lợn này đều có chung đặc điểm là thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên, chịu đựng kham khổ tốt, thành thục sớm Hiện nay, một số giống lợn nội đang được đưa vào danh sách cần được bảo tồn như: lợn Ỉ, lợn Hương, lợn Lang hồng, lợn Đen hay còn gọi là lợn Mán hay lợn Táp ná… số lượng lợn nội ngày càng giảm Trong khi đó, nhu cầu về thịt lợn nội ngày càng tăng do xu thế hiện nay, đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao, nhu cầu ăn không chỉ dừng lại ở no và đủ, mà hướng tới chất lượng, an toàn

Từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Một số đặc điểm sinh học của các

giống lợn nái bản địa được nuôi tại huyện Hòa An – Cao Bằng, các bệnh thường gặp và biện pháp phòng trị” nhằm phục vụ cho việc bảo tồn quỹ gen

và áp dụng các biện pháp để khai thác tiềm năng di truyền của một giống lợn địa phương ở miền núi và nâng cao năng suất chăn nuôi

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Mô tả được đặc điểm ngoại hình, một số đặc tính sinh học của giống lợn nái nội nuôi tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

- Xác định một số chỉ tiêu sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn nái địa phương nuôi tại khu vực huyện Hòa An

- Xác định được khả năng sinh trưởng của lợn nái nội bản địa

- Xác định một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái nội nuôi tại địa phương

Từ đó đưa ra các phác đồ điều trị bệnh nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi

1.3 Ý NGHĨA KHOA HỌC THỰC TIỄN

- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin cơ bản có hệ thống về giống

lợn Hương, lợn Đen và lợn Móng cái tại huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng

- Số liệu thu được phục vụ cho công tác bảo tồn quỹ gen và là cơ sở để lựa chọn các công thức lai tạo sau này

- Góp phần chủ động trong công tác chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng chống bệnh tật trên đàn lợn địa phương

- Kết quả của đề tài là tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu phát triển tiếp theo

Trang 14

PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NGUỒN GỐC VÀ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA LỢN

2.1.1 Nguồn gốc và sự hình thành giống lợn

2.1.1.1 Nguồn gốc

Lợn ngày nay có nguồn gốc từ 2 giống lợn rừng được thuần hóa mà thành, đó là:

- Lợn rừng châu Âu (Sus Scrofa ferus)

- Lợn rừng châu Á ( Sus vitatus)

* Đặc điểm của lợn rừng châu Âu

- Phân bố chủ yếu ở vùng Trung và Nam châu Âu, ngoài ra còn có ở vùng Bắc Á

và Bắc Châu Phi

- Đặc điểm ngoại hình: Lợn rừng châu Âu có tầm vóc tương đối lớn

+ Khối lượng cơ thể: 120 – 140kg

+ Chiều cao thân: 90 – 100cm

+ Chiều dài thân: 150 – 160cm

- Kết cấu ngoại hình: Lưng võng, mình chắc, đầu dài hẹp chắc chắn, mõm thẳng, răng nanh rất phát triển Đặc biệt con cái có chân dài chắc chắn, lông da khô, lông gáy dài cứng

Màu lông: đa số có màu lông nâu hoặc xám, đầu lông phần lớn bị chẻ, ngoài lớp lông bình thường còn có lớp lông nhung mao nhỏ, loại lông này phát triển về mùa đông, mùa hè thì thưa hơn Đuôi tương đối dài, chùm lông đuôi khá lớn

- Đặc điểm sinh sản: Lợn cái có 8 – 10 vú, đẻ 1 năm 1 lần vào mùa ấm, mỗi lứa từ 5 -8 con Lợn con trên thân có những đường sọc trắng, lớn lên thì mất dần, khi được 4 tháng tuổi thì mất hoàn toàn, lợn con theo mẹ đến khi giao phối mới thôi

- Đặc điểm sinh trưởng: sinh trưởng rất chậm, thành thục về tính muộn, song có thể sống được 20 -25 năm và cũng có 44 răng như lợn nhà

- Tập tính sinh hoạt: lợn đực thường sống một mình, lợn cái sống theo bầy đàn từ 20 -30 con Lợn thường hoạt động về ban đêm còn ban ngày ngủ trong hang hốc

* Đặc điểm của lợn rừng châu Á

Phân bố chủ yếu ở phía Đông và Nam châu Á và một số đảo của Thái Bình Dương

Trang 15

Đặc điểm ngoại hình: do điều kiện sống không giống nhau nên lợn rừng châu

Á có ngoại hình thay đổi rất lớn, tuy nhiên nó vẫn có một số nét nổi bật chính sau: tầm vóc nhỏ hơn lợn rừng châu Âu, có tầm vóc hơi tròn Đầu tương đối rộng

và ngắn, xương lệ rộng ngắn, răng nanh không phát triển, người hẹp, toàn thân có màu lông đen, lông hơi ngắn và mềm, một số có màu vàng chạy dọc theo thân

- Khả năng sinh sản thấp Khối lượng cơ thể từ 100 – 150 kg, chiều dài thân

từ 120 – 140cm

2.1.1.2 Sự hình thành giống lợn nhà hiện nay

Từ 2 nhóm lợn rừng châu âu và châu Á tạo nên 2 nhóm lợn lợn nguyên thủy châu Âu và lợn nguyên thủy châu Á

Lợn nguyên thủy châu âu được hình thành từ lợn rừng châu Âu vào thời kỳ

cổ đại châu Âu, do điều kiện tự nhiên tương đối khắc nghiệt, do đó đã hình thành giống lợn có khả năng chịu đựng kham khổ cao, thành thục muộn Căn cứ vào hình dáng tai lợn người ta chia giống lợn này thành lợn tai dài và lợn tai ngắn Lợn nguyên thủy châu Á được hình thành từ lợn rừng châu Á, lợn rừng châu Á có lịch sử hình thành sớm hơn lợn rừng châu Âu, và sớm nhất là ở vùng Đông Nam Á Lợn nguyên thủy có đặc điểm chung là nuôi dễ béo, thành thục sớm Cũng căn cứ vào hình dáng của tai lợn người ta chia giống này ra thành lợn tai dài và lợn tai ngắn Sự tạp giao của 2 nhóm lợn nguyên thủy trên, đã hình thành nên nhóm lợn cổ đại, được nuôi nhiều ở các nước dọc Địa Trung Hải Trong đó lấy giống lợn lông xoăn, lợn La Mã là giống lợn ở bán đảo Ban Căng, sau đó dùng lợn Trung Quốc là giống lợn thuần thục sớm, phẩm chất thịt ngon mềm, dễ tiến hành tạp giao rộng rãi và có mục đích, đời sau cho tự tạp giao và đã hình thành giống lợn lai cổ đại, và dần dần đã hình thành nên giống lợn nhà ngày nay Như vậy giống lợn nhà hiện nay được hình thành từ 3 giống lợn cổ đại trước kia thông qua các phương pháp tạp giao không giống nhau mà thành

2.1.1.3 Sự thuần hóa lợn rừng thành lợn nhà

- Thời gian thuần hóa: bằng sự so sánh bộ xương lợn cổ đại trước kia và bộ xương lợn ngày nay, các nhà nghiên cứu cho rằng vào khoảng 8 000 – 10 000 năm trước đây vào thời kỳ đồ đá mới, cùng với sự xuất hiện của nền nông nghiệp nguyên thủy, con người đã bắt đầu thuần hóa lợn rừng Lợn nhà ngày nay do lợn rừng châu Âu và lợn rừng châu Á được nhân dân lao động thuần hóa, cải tạo trong thời gian dài mà thành

Trang 16

- Địa điểm thuần hóa: Sự thuần hóa lợn rừng thành lợn nhà được tiến hành

ở nhiều nơi trên thế giới theo các vùng phân bố của chúng

- Quá trình thuần hóa: Loài người từ chỗ săn bắn lợn rừng về để ăn, trong quá trình săn bắn có những lúc không sử dụng hết, hoặc bắt được những con còn nhỏ, hay những con mang thai, con người đã để lại để nuôi (nuôi vô ý thức), dần dần thấy con vật lớn lên và sinh sản, họ thấy đây là phương phức có lợi hơn và từ

đó con người có hình thức thuần hóa và nuôi dưỡng lợn và cho đến khi trở thành lợn nhà ngày nay Lợn rừng đã được huấn luyện, chọn lọc, cải tiến điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng lâu dài trên các mặt:

+ Con người đã thay đổi điều kiện sinh tồn của lợn rừng

+ Con người làm thay đổi về số lượng và chất lượng thức ăn của lợn rừng + Trong quá trình thuần hóa, con người còn làm thay đổi chế độ nuôi dưỡng

và tập tính sinh hoạt của lợn rừng

+ Trong quá trình chọn lọc các giống lợn, con người đã giữ lại những đặc điểm tốt của một cá thể như khả năng sinh trưởng nhanh, khả năng lợi dụng thức

ăn tốt và biến những đặc điểm đó thành những đặc điểm tốt của cả đàn có tính di truyền ổn định

2.1.2 Một số đặc tính sinh học và khả năng sản xuất của lợn

Từ xa xưa lợn là loài sống thành bầy đàn và thường sống trong rừng Chúng trú ẩn trong bụi cỏ hay là ở đầm lầy và ở trong các hang mà do chúng đào hay hoang dã được bỏ không bởi các động vật khác Lợn là loại động vật có chân chắc chắn và có thể chạy nhanh, bơi tốt và rất thích đằm mình trong các bãi lầy Lợn có phổ thức ăn rộng, thành phần của nó bao gồm nấm, lá cây, củ quả, ốc, động vật xương sống nhỏ, trứng và các xác chết Nó dùng các cơ, mũi linh hoạt

và chân chắc chắn để đào bới và tìm thức ăn

Theo Nguyễn Quang Linh kể cả khi được thuần dưỡng trở thành vật nuôi trong các hộ gia đình, lợn vẫn mang các đặc tính sinh học sau đây:

2.1.2.1 Lợn có khả năng sản xuất cao

Lợn ngày nay là những cỗ máy chuyển hóa thức ăn có hiệu quả, có tốc độ sinh trưởng cao Điều này đã rút ngắn thời gian nuôi và có ý nghĩa là hạn chế được rủi ro về kinh tế Một con lợn nái có thể dễ dàng sản xuất 8 đến 12 lợn con/lứa sau khoảng thời gian có chửa là 114 ngày và trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì có thể có 2 lứa/năm Khả năng sản xuất thịt cũng khá cao Một

Trang 17

con lợn có trọng lượng xuất chuồng khoảng 100kg sẽ có khoảng 42kg thịt, 30kg đầu, máu và nội tạng … và 28kg mỡ, xương

2.1.2.2 Lợn là động vật ăn tạp và chịu kham khổ tốt

Lợn trong mọi giai đoạn khác nhau có thể thích hợp với nhiều loại thức ăn khác nhau, tuy nhiên lợn con có phạm vi thức ăn hẹp hơn Một số giống có thể thích hợp với khẩu phần ăn có chất lượng thấp và nhiều xơ Những giống như thế này có vai trọng trong chăn nuôi quảng canh Điều này đã được chứng minh trong thực tế ở một số quốc gia mà ở đó người ta sử dụng rau xanh nhiều và bổ sung một lượng nhỏ protein để nuôi lợn Nó đã làm giảm năng lượng đầu vào và nâng cao hiệu quả sản xuất của lợn nái

2.1.2.3 Khả năng thích nghi cao và dễ huấn luyện

Lợn là một trong những giống vật nuôi có khả năng thích nghi cao, chịu đựng kham khổ tốt, đồng thời còn là một con vật thông minh và dễ huấn luyện

Từ các đặc điểm đó đã tạo cho lợn có khả năng sinh tồn cao trong các điều kiện môi trường địa lý khác nhau: lợn rất năng động trong việc khám phá các môi trường mới tìm các loại thức ăn mới Trong trường hợp cần thiết lợn có thể chống chọi lại một cách giận giữ để bảo vệ lãnh thổ của mình cũng như chống chọi lại địch hại Lợn khá mắn đẻ và có khả năng sinh sản rất nhanh, đặc điểm này có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành bầy đàn mới cũng như sự tồn tại lâu dài của giống nòi trong các điều kiện môi trường mới

2.1.2.4 Thịt lợn có chất lượng thơm ngon và tỷ lệ thịt xẻ và tỷ lệ thịt mỡ cao trong thân thịt

Lợn có thể sản xuất một lượng mỡ đáng kể Mỡ là một nguồn dự trữ năng lượng lớn Mỡ còn giúp cho thịt có mùi và vị ngon hơn Mặc dừ mỡ ít phổ biến hơn trong khẩu phần ăn của con người trong các xã hội hiện đại, nhưng thịt lợn vốn là loại thực phẩm có giá cao và vốn được xem là giá trị cao hơn so với thịt nạc và thịt cơ Hầu hết thân thịt lợn đều sử dụng để chế biến hoặc làm thức ăn cho con người, da của lợn có thể làm thức ăn hoặc cung cấp cho ngành thuộc gia, làm áo lông hay có thể được dùng để làm bàn chải, bút vẻ… Sự phát triển của công nghệ chế biến hun khói, lên men đã tạo nên một số lượng sản phẩm rất đa dạng từ lợn, các công nghiệp này đã giúp cho quá trình bảo quản, nâng cao tính

đa dạng hương vị và nâng cao phẩm chất khẩu phần ăn cho con người Lợn công nghiệp ngày nay có khả năng sản xuất thịt cao hơn so với giống lợn truyền thống,

bù vào đó giống lợn truyền thống có tỷ lệ mỡ cao hơn lợn công nghiệp ngày nay

Trang 18

2.1.2.5 Lợn là loài vật nuôi dễ huấn luyện

Lợn là loài động vật dễ huấn luyện thông qua việc thiết lập các phản xạ có điều kiện Ví dụ trong trường hợp huấn luyện lợn đực giống xuất tinh và khai thác tinh dịch, ngoài ra trong chăm sóc nuôi dưỡng, chúng ta có thể huấn luyện cho lợn nhiều phản xạ có lợi để nâng cao năng suất và tiết kiệm lao động, ví dụ huấn luyện lợn tiểu tiện đúng quy định

2.1.2.6 Đặc điểm tiêu hóa của bộ máy tiêu hóa lợn

Lợn là loài gia súc có dạ dày đơn Bộ máy tiêu hóa của lợn gồm miệng, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già và cuối cùng là hậu môn Khả năng tiêu hóa của lợn với các loại thức ăn cao thường với tỷ lệ là 80 – 85% tùy từng loại thức ăn

2.1.2.7 Thương mại, thu nhập và phúc lợi từ chăn nuôi lợn

Sau khi được thuần hóa, lợn sớm trở thành một món hàng có giá trị cho việc kinh doanh và buôn bán Trước khi tiền tệ xuất hiện, con người đã tiến hành trao đổi lợn để lấy các loại hàng hóa khác Quá trình thương mại diễn ra cũng có ý nghĩa là con lợn bắt đầu có giá trị kinh tế Việc bán lợn và các sản phẩm lợn cung cấp một nguồn thu nhập cho hàng triệu gia đình nông dân trên thế giới Các sản phẩm này ảnh hưởng rộng đến các hoạt động kinh doanh khác như: thương mại, vận chuyển, thị trường, giết mổ, chế biến thức ăn và nhiều lĩnh vực khác nữa Ngoài ra nó còn tác dụng kích cầu đối với ngành chế biến thức ăn, sản xuất con giống, tinh dịch, thuốc thú y và các thiết bị khác Khi lợn có giá trị kinh tế, chúng

là một hình thức tiết kiệm cho người dân Nó là một hình thức dự trữ chờ khi điều kiện thị trường thuận lợi hoặc khi gia đình cần có một món tiền đột xuất Một đàn lợn lớn có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo quản tính an toàn cho tương lai khi các bất chắc xảy ra bằng cách chuyển sản phẩm trung gian sang sản phẩm dự trữ lâu dài dưới dạng lợn

2.1.2.8 Lợn có giá trị về văn hóa và xã hội

Lợn là loài vật nuôi có tầm quan trọng không chỉ vì giá trị thức ăn mà còn

có giá trị văn hóa độc đáo Điều này được thể hiện trong các bài hát, thơ ca, tranh ảnh hội họa, sách Lợn được xem có cả đặc tính của con người Nó được thể hiện

là các đấng anh hùng hay là kẻ hung dữ trong các truyện ngụ ngôn Con người còn nuôi lợn như một động vật cảnh trong nhà để làm bạn đồng hành trong những lần dạo chơi

Trang 19

2.1.2.9 Lợn có khả năng sản xuất phân bón tốt

Giống như các gia súc, gia cầm khác, lợn đóng góp một nguồn phân bón đáng kể cho trồng trọt Một con lợn trưởng thành có thể sản xuất 600 – 730kg phân bón/năm Hàm lượng Nitơ trong phân tươi vào khoảng 0,5 – 0,6%; photpho 0,5% và kali 0,4% Ở Việt Nam phân lợn là nguồn phân hữu cơ chủ yếu cung cấp cho trồng trọt, đặc biệt cho nghề trồng rau Ở một số quốc gia nơi mà trồng mía

là một nghề chủ đạo như Philippin phân lợn được dẫn một cách trực tiếp từ trại nuôi lợn ra đồng mía để vừa có chức năng tưới tiêu vừa có chức năng nâng cao

độ màu mỡ cho đất

2.1.2.10 Một số hạn chế trong chăn nuôi lợn

- Ô nhiễm môi trường: Lợn là loài động vật dạ dày đơn và có nhu cầu protein cao cho nên phân của nó có thể gây ô nhiễm cho cộng đồng Nếu chúng

ta không xử lý một cách hợp lý thì phân và nước tiểu có thể gây ô nhiễm nguồn nước và đất đai Mùi vị của nó có thể gây khó chịu cho cộng đồng sống gần trang trại lợn, đặc biệt là sự phát xạ của Nitơ trong nước tiểu Đã có nhiều địa phương thực hiện chính sách cấm chăn nuôi lợn trong thành phố Và có nhiều giải pháp

để hạn chế sự ô nhiễm từ chuồng lợn và các chất thải khác

- Sức khỏe: Lợn có thể là một yếu tố lây truyền bệnh qua con người, ví dụ bệnh nhiệt thán, bệnh gạo lợn, bệnh do leptospira…

- Cạnh tranh lương thực: ở nhiều nước có thu nhập thấp thì không có đủ lương thực cho con người, trong khi đó hệ thống chăn nuôi công nghiệp đã tạo ra

sự tăng nhảy vọt về hiệu quả sản xuất Điều này đã làm cho nó trở thành một ngành có tính cạnh tranh cao Nhiều công ty chăn nuôi có thể có lợi nhuận lớn Các hộ chăn nuôi nhỏ phải nâng cao hiệu quả sản xuất để duy trì tính lợi nhuận của sản xuất đó Chăn nuôi lợn ngày càng phát triển thì việc sử dụng nguồn lương thực càng nhiều và gây nên tính cạnh tranh mạnh mẽ về lương thực với con người

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH SẢN Ở LỢN

2.2.1 Đặc điểm sinh sản

Sinh sản là một quá trình sinh lý phức tạp nhằm đáp ứng sự duy trì nòi

giống và đảm bảo cho sự tiến hoá của sinh vật Vì vậy, đây là một đặc tính quan trọng của sinh vật đặc biệt, trong chăn nuôi vấn đề này rất được quan tâm Mục đích của chăn nuôi lợn nái là làm sao sinh sản được nhiều nhất, trong thời gian

Trang 20

ngắn nhất để từ đó đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi Chính

vì vậy, đối với người chăn nuôi lợn nái sinh sản cần chú ý một số đặc điểm sau:

2.2.1.1.Tuổi thành thục về tính

Một cơ thể được coi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể

đó đã phát triển cơ bản hoàn thiện Dưới tác động của hệ thần kinh, nội tiết trong con vật xuất hiện các hiện tượng của hưng phấn sinh dục Sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào một số yếu tố sau:

- Giống lợn: Các giống khác nhau thường có tuổi thành thục về tính khác nhau Gia súc có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn gia súc có tầm vóc lớn Theo Phạm Hữu Doanh (1985) thì tuổi thành thục ở lợn lai muộn hơn lợn nái nội (lợn Móng Cái, Ỉ)

- Chế độ nuôi dưỡng chăm sóc và quản lý: Trong cùng một giống nếu những cá thể được chăm sóc quản lý tốt thì tuổi thành thục về tính sớm hơn và ngược lại

Theo Nguyễn Tuấn Anh (1998) để duy trì năng suất sinh sản cao thì nhu cầu dinh dưỡng đối với lợn nái hậu bị cần chú ý đến cách cho ăn hạn chế đến lúc phối giống với khẩu phần ăn 2kg/ngày (trong đó protein là 14%, năng lượng trao đổi (ME) từ 2900 – 3000 kcal/kg).Trước khi phối giống 14 ngày phải tăng lượng thức ăn 1 – 1,5kg có bổ sung khoáng và vitamin giúp cho lợn nái ăn được nhiều, tăng số lượng trứng rụng

2.2.1.2 Thành thục về thể vóc

Khi đã thành thục về tính con vật vẫn tiếp tục sinh trưởng, phát triển để hoàn thiện về thể vóc Hoàn thiện về thể vóc là tuổi mà con vật đã có sự phát triển hoàn thiện về ngoại hình, xương đã được cốt hoá hoàn toàn, tầm vóc ổn định đây mới là thời điểm tốt nhất để con vật thực hiện các hoạt động sinh sản Tuổi thành thục về thể vóc bao giờ cũng muộn hơn tuổi thành thục về tính

Vì vậy không nên cho gia súc sinh sản quá sớm sẽ ảnh hưởng tới sự thành thục

về thể vóc Ngược lại, nếu đưa gia súc vào khai thác quá muộn sẽ không đem lại hiệu quả kinh tế

2.2.1.3 Chu kỳ tính

Chu kỳ tính cũng là một quá trình sinh lý phức tạp, khi thành thục về tính,

cơ thể gia súc cái có những biến đổi theo từng giai đoạn, bên trong có hiện tượng rụng trứng Các biến đổi sau này lặp đi lặp lại theo chu kỳ gọi là chu kỳ tính

Trang 21

Thời gian của mỗi chu kỳ trung bình là 21 ngày, có thể dao động từ 18 - 25 ngày

và chia làm 4 giai đoạn:

* Giai đoạn trước động dục

Kéo dài từ 1 - 2 ngày và được tính từ khi thể vàng của chu kỳ trước bị thoái hoá đến lần động dục tiếp theo Đây là giai đoạn chuẩn bị các điều kiện cho đường sinh dục của con cái đón trứng, tiếp nhận tinh trùng và thụ tinh

Ở giai đoạn này con cái có một số biểu hiện sau: kêu rống, bồn chồn, lười hoặc bỏ ăn, thích nhảy lên lưng con khác nhưng chưa cho con khác nhảy lên lưng

nó Cơ quan sinh dục ngoài bị sung huyết có dịch nhờn chảy ra Bên trong buồng trứng có một số noãn bao phát triển nổi lên trên bề mặt

* Giai đoạn động dục

Kéo dài từ 2 - 3 ngày tiếp theo của giai đoạn trước Các hoạt động sinh dục của con cái đã mãnh liệt hơn với các biểu hiện: lợn biếng ăn, phá chuồng đi tìm con đực Bên trong cổ tử cung đã hé mở và co bóp mạnh, âm hộ chuyển sang màu mận chín có dịch nhờn chảy ra bắt đầu chịu cho con đực nhảy Khoảng 20 giờ sau khi chịu đực trứng bắt đầu rụng Nếu trứng rụng được thụ tinh thì lợn nái chuyển sang giai đoạn có chửa, ngược lại sẽ chuyển sang giai đoạn động dục

* Giai đoạn sau động dục

Đó là thời gian sau 3 - 4 ngày tiếp theo của giai đoạn trước, hoạt động sinh dục của con cái giảm dần, âm hộ teo và tái lại, lợn ăn tốt hơn Bên trong buồng trứng thể vàng xuất hiện và tiết ra progesteron tác động lên tuyến yên làm giảm tiết oestrogen từ đó làm con vật không có biểu hiện động dục nữa

Nếu gia súc mang thai thể vàng sẽ tồn tại đến 2 - 3 ngày trước khi đẻ còn không thì sau 14 - 15 ngày thể vàng sẽ tiêu biến và một chu kỳ mới lại bắt đầu

* Giai đoạn yên tĩnh

Là thời gian được tính từ ngày thứ 4 sau khi trứng không được thụ tinh đến khi thể vàng tiêu biến Đây là thời gian dài nhất con vật không biểu hiện các hành

vi sinh dục, là giai đoạn phục hồi lại cấu trúc và chức năng của đường sinh dục

2.2.2 Quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn ở giai đoạn mang thai

Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày được chia làm 3 giai đoạn

2.2.2.1 Giai đoạn phôi thai (ngày thứ 1 - 22)

Sau khi tinh trùng vào ống dẫn trứng và gặp trứng ở 1/3 ống dẫn trứng phía

Trang 22

trước thì bắt đầu thực hiện quá trình phá vỡ các lớp màng của tế bào trứng Cuối cùng chỉ có một tinh trùng chui được vào tế bào trứng và kết hợp để tạo thành hợp tử Sau khoảng 20 giờ hợp tử bắt đầu phân chia, đến 48 giờ sự phân chia đó

sẽ tạo thành 8 tế bào phôi, lúc này hợp tử chuyển dần vào 2 bên sừng tử cung và làm tổ ở đó Khi làm tổ ở sừng tử cung thì hợp tử tiếp tục phân chia thành hàng trăm tế bào hình cầu và túi phôi được hình thành sau 5 - 6 ngày, mầm thai được hình thành sau 7 - 8 ngày và đồng thời màng ối được hình thành Màng ối là màng trong cùng bao bọc thai có chứa dịch ối và có nhiều tác dụng Màng niệu hình thành sau khoảng 10 ngày và là màng ở giữa có chứa dịch niệu, chứa kích tố nhau thai và chứa nhiều nước tiểu của bào thai Màng đệm ngoài cùng hình thành sau 12 ngày và tiếp giáp với niêm mạc tử cung lợn mẹ, trên màng đệm có nhiều lông nhung có tác dụng hút các chất dinh dưỡng của mẹ vào phôi thai

Thời kỳ này chủ yếu là hình thành các nang, ở cuối kỳ hình dáng đầu cũng được hình thành, tim, gan cũng được hình thành Ở thời kỳ này sự kết hợp giữa

mẹ và con chưa chắc chắn nên rất dễ bị sảy thai Cuối thời kỳ này mỗi phôi chỉ nặng 2 - 3g

2.2.2.2 Giai đoạn tiền thai (từ ngày 23 - 39)

Giai đoạn này thai phát triển mạnh, nhau thai đã được hình thành nên sự tiếp hợp giữa cơ thể mẹ và bào thai chắc chắn hơn Hầu hết các khí quan đã được hình thành rõ rệt, cho đến cuối giai đoạn thì bào thai đã tương đối hoàn chỉnh khối lượng mỗi bào thai đã lên đến 6 - 7g

2.2.2.3 Giai đoạn bào thai (từ ngày 40 - 114)

Ở giai đoạn này sự trao đổi chất của bào thai diễn ra mãnh liệt để hoàn thành tốt những bộ phận còn lại như: da, lông, răng và bắt đầu hình thành những đặc điểm của giống Thai phát triển rất nhanh, nhất là từ ngày thứ 90 trở đi và cuối giai đoạn khối lượng tăng lên gần tới mức tối đa

Lúc này dinh dưỡng của thai được lấy qua nhau thai và cho đến khi thai phát triển đầy đủ, các khí quan hoàn chỉnh thì thai mới được đẩy ra ngoài

2.2.3 Quá trình sinh trưởng và phát triển của lợn ở giai đoạn ngoài thai (giai đoạn bú sữa)

Giai đoạn này tính từ khi đẻ đến khi cai sữa Quá trình sinh trưởng diễn ra rất nhanh chóng, khối lượng cơ thể tăng rất nhanh Theo tác giả Trương Lăng (1993) thì khối lượng lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần so với lúc sơ sinh, các cơ

Trang 23

quan tiêu hóa phát triển tăng về kích thức và hoàn chỉnh về chức năng

So với lúc sơ sinh sau 10 ngày tuổi dạ dày lợn tăng gấp 2 lần, 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần, ruột non sau 10 ngày tuổi tăng gấp 3 lần và sau 20 ngày tuổi tăng gấp 6 - 7 lần thể tích so với lúc sơ sinh

Chức năng của bộ máy tiêu hóa vẫn chưa hoàn chỉnh nhất là 3 - 4 tuần đầu

dạ dày chưa tiết HCl Nguyên nhân do men Pepsin chưa hoạt động mạnh vì thiếu HCl tự do Do đó trong thời gian này lợn con tiêu hóa rất kém, lợn con tiêu hóa tốt được sữa mẹ là nhờ men Trypsin có hoạt tính mạnh sau 4 tuần Các men Amylase trong 2 tuần tuổi đầu hoạt tính yếu nên lợn con tiêu hóa tinh bột kém nhất là tinh bột sống Chính vì vậy, công nghệ sản xuất thức ăn cho lợn thì thành phần tinh bột thường được làm chín

Ở lợn con sơ sinh mỗi ngày chúng cần từ 9 - 10mg sắt (Fe) để tạo máu và chống đỡ bệnh tật nhưng trong sữa mẹ chỉ đáp ứng được 1 - 2mg sắt/ngày Trong khi đó lượng sắt dự trữ trong cơ thể lợn con chỉ có 50mg Fe Như vậy, trong 5 -

21 ngày đầu lợn con sẽ thiếu từ 150 - 200mg Fe nên ta phải bổ sung sắt cho lợn con dưới dạng Dextran-Fe vào ngày thứ 3 và ngày thứ 10 với liều là 100mg Fe/con/lần.Theo kết quả nghiên cứu của Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ năm 2000 thì nhu cầu sắt của lợn như sau: lợn từ 3 - 5kg và 5 - 10kg là 100 mg/kg khẩu phần và lợn 10 - 20kg là 80 mg/kg khẩu phần

2.2.4 Những chỉ tiêu đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái

Để đánh giá được khả năng sinh sản của đàn lợn nái ta cần phải tiến hành theo dõi một số chỉ tiêu cụ thể như sau:

* Tuổi động dục lần đầu

Tuổi động dục lần đầu là thời gian từ khi sơ sinh đến khi lợn nái hậu bị động dục lần đầu tiên Tuỳ theo từng giống mà tuổi động dục khác nhau Nhìn chung, lợn nội có tuổi động dục sớm hơn lợn ngoại, cụ thể: lợn Móng Cái có tuổi động dục lần đầu khoảng 150 - 180 ngày tuổi, Yorkshire nhập vào Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 203 - 208 ngày và Landrace có tuổi động dục lần đầu là

208 - 209 ngày Tuổi động dục lần đầu sớm hay muộn còn phụ thuộc vào một số yếu tố như: khả năng sinh trưởng, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu, kích thích từ con đực,…

* Tuổi phối giống lần đầu

Thông thường ở lần động dục đầu tiên người ta bỏ qua không phối vì thời

Trang 24

điểm này thể vóc phát triển chưa hoàn chỉnh và số lượng trứng rụng lần đầu ít

Do đó, trong chăn nuôi lợn nái nên phối giống vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 trở đi Tuổi phối giống lần đầu thích hợp với lợn nội là 7,5 - 8 tháng tuổi và lợn ngoại là 8 - 8,5 tháng tuổi

* Tuổi đẻ lứa đầu

Là thời gian từ khi lợn được sinh ra cho đến khi lợn đẻ lứa đầu Tuổi đẻ lứa đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi phối giống lần đầu, kết quả của lần phối giống, giống lợn và thời gian mang thai Đối với lợn ngoại tuổi đẻ lứa đầu thường muộn hơn lợn nội do tuổi thành thục về tính cũng muộn hơn.Tuổi đẻ lứa đầu phản ánh khả năng thành thục về tính sớm hay muộn Lợn (Ỉ - Móng Cái) tuổi đẻ lứa đầu thường từ 11 – 12 tháng, lợn nái lai và nái ngoại là 12 – 13 tháng

tuổi (Phạm Hữu Doanh, 1996)

* Số con đẻ ra/ổ

Số con đẻ ra trên ổ là tổng số con đẻ ra trên một lứa (bao gồm cả con sống và con đã chết sau khi đẻ) Chỉ tiêu này đánh giá khả năng nuôi thai của con nái, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng của người chăn nuôi trong giai đoạn lợn nái mang thai

* Khối lượng sơ sinh/ổ

Khối lượng sơ sinh trên ổ là khối lượng lợn sơ sinh đẻ ra trên một lứa Đây

là khối lượng sau khi lợn con được cắt rốn, lau khô và chưa cho bú sữa đầu Chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật này nói lên trình độ chăn nuôi, đặc điểm của giống và khả năng nuôi thai của lợn mẹ

* Số con sơ sinh còn sống/ổ

Được tính bằng số con sống đến khi đẻ con cuối cùng Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng nuôi thai của lợn nái, khả năng đẻ nhiều con hay ít con của giống, đánh giá trình độ chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi trong giai đoạn lợn nái mang thai và kỹ thuật đỡ đẻ của hộ lý

* Số con cai sữa/ổ

Số con cai sữa trên ổ là chỉ tiêu sinh sản quan trọng nhất đánh giá tổng quát nhất đối với nghề chăn nuôi Chỉ tiêu này liên quan đến kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn mẹ

* Khối lượng cai sữa/ổ

Khối lượng toàn ổ lúc cai sữa có ảnh hưởng rất lớn đến khối lượng xuất

Trang 25

chuồng, vì tốc độ tăng trọng từ lúc cai sữa đến khi xuất chuồng có hệ số di truyền h² = 0,29 Chỉ tiêu này phản ánh khả năng tiết sữa và nuôi con của lợn mẹ và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng của người chăn nuôi lợn nái nuôi con

* Thời gian cai sữa

Đây là khoảng thời gian lợn mẹ nuôi con Hiện nay, các cơ sở chăn nuôi thường áp dụng thời gian cai sữa là 21 ngày

* Thời gian động dục trở lại

Đây là khoảng thời gian lợn nái động dục trở lại sau khi cai sữa lợn con hay phối giống không đạt Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, điều kiện

dinh dưỡng và thời gian cai sữa lợn con

* Tổng số con cai sữa/nái/năm

Đây là chỉ tiêu sinh sản quan trọng đối với lợn nái Chỉ tiêu này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: số con để nuôi, thời gian cai sữa, kỹ thuật chăm sóc và nuôi dưỡng lợn nái nuôi con,

* Số lứa đẻ/nái/năm

Đây là chỉ tiêu quan trọng nó được coi như một hệ số đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái Số lứa đẻ/nái/năm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: thời gian lợn nái mang thai, thời gian nuôi con, thời gian động dục trở lại hoặc tuổi phối giống lần đầu Trong các yếu tố đó thì thời gian mang thai là ổn định, còn các

yếu tố khác đều thay đổi (có thể tác động trong quá trình chăn nuôi)

* Khoảng cách giữa hai lứa đẻ

Được tính bằng thời điểm phối giống đạt lần trước đến thời điểm phối giống đạt lần sau hay có thể tính tổng thời gian mang thai, thời gian nuôi con và thời gian chờ phối Trong đó, thời gian mang thai là khoảng cách giữa 2 lứa đẻ Khoảng cách giữa 2 lứa đẻ ngắn sẽ làm tăng số lứa đẻ/nái/năm Theo kết quả của Đặng Vũ Bình (2002) khoảng cách lứa đẻ là 171,07 ngày tương ứng 2,2 lứa/nái/năm, còn theo Đinh Văn Chỉnh và Cs (2008) khoảng cách lứa đẻ của lợn nái là 162,11ngày tương ứng 2,25 lứa/nái/năm

2.2.5 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản

Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá thông qua khả năng sinh sản của lợn mẹ và chất lượng đàn con theo mẹ Do đó các yếu tố tác động tới khả năng sinh sản của lợn nái cũng như tác động tới chất lượng đàn con đều là những nhân tố quan trọng Năng suất sinh sản của lợn nái được đánh giá cuối cùng

Trang 26

thông qua số lượng con cai sữa/nái/năm

Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: giống, thức ăn, thời tiết, khí hậu, lứa đẻ, tuổi phối giống lần đầu, kỹ thuật và phương pháp phối giống, khoảng cách giữa hai lứa đẻ, thời gian nuôi con, số con để lại nuôi, chuồng trại, chăm sóc, song giống và kỹ thuật nuôi dưỡng là hai nhân tố quyết định hơn cả

* Ảnh hưởng của giống

Giống lợn là yếu tố quyết định tới sức sản xuất của lợn nái Giống và đặc điểm của nó gắn liền với năng suất, các giống khác nhau thì sức sản xuất khác nhau Nhìn chung, các giống lợn nội có khả năng đẻ nhiều hơn các giống lợn ngoại nhưng khối lượng của lợn con sơ sinh lại nhỏ hơn Nái lai hiện nay có năng suất sinh sản cao hơn các giống thuần

* Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng và thức ăn

Thức ăn có vai trò quan trọng đối với năng suất sinh sản của lợn nái Thức

ăn là nguồn cung cấp dinh dưỡng và năng lượng cho tất cả mọi hoạt động sống của cơ thể Do đó, thức ăn phải cung cấp đầy đủ cả về số lượng và chất lượng thì con giống mới biểu hiện hết tiềm lực di truyền của giống Lợn nái mang thai ở các giai đoạn khác nhau thì nhu cầu dinh dưỡng khác nhau Lợn nái chửa cần nhu cầu dinh dưỡng ít hơn lợn nái nuôi con

+ Nhu cầu về protein: Protein là thành phần rất quan trọng trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho lợn là thành phần không thể thay thế được, cần thiết trước tiên cho mọi hoạt động sống trao đổi chất trong cơ thể, tham gia cấu tạo nên các mô cơ trong cơ thể cũng như tạo sản phẩm (tăng trọng, tiết sữa, phát triển phôi thai, )

Thành phần cơ thể lợn có từ 14 - 15% là protein, tùy thuộc một phần vào tuổi lợn Ở tuổi còn non hàm lượng này hơi cao hơn và ngược lại Do đó, việc cung cấp thiếu protein trong giai đoạn mang thai đặc biệt là trong giai đoạn chửa

kỳ cuối sẽ làm cho khối lượng sơ sinh của lợn con thấp, số con đẻ ra ít và sức sống của lợn con kém Ở giai đoạn nuôi con sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sữa từ

đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của lợn con dẫn tới tỷ lệ nuôi sống thấp, khối lượng cai sữa thấp

+ Nhu cầu năng lượng: Năng lượng là thành phần dinh dưỡng quan trọng nhất và chi phí của nó cao hơn bất kỳ thành phần dinh dưỡng nào cung cấp cho lợn Do nguồn thức ăn tiêu thụ chủ yếu cung cấp năng lượng nên việc cung cấp

Trang 27

năng lượng phải phù hợp với từng giai đoạn của lợn nái Ngoài việc đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái thức ăn cần giúp nâng cao hiệu quả kinh tế Việc thừa hay thiếu năng lượng sẽ làm ảnh hưởng không tốt đến lợn nái Nếu thừa năng lượng sẽ làm cho lợn mẹ quá béo, làm tăng tỷ lệ chết phôi, làm cho khả năng sinh

đẻ của lợn mẹ giảm Nếu thiếu năng lượng lợn mẹ sẽ gầy yếu, lợn con đẻ ra bé, còi cọc chậm lớn, lợn mẹ chậm động dục trở lại

+ Nhu cầu của vitamin: Vitamin là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong việc xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể Nhìn chung các vitamin đều quan trọng nhưng đặc biệt quan trọng đối với lợn nái là ba loại vitamin A, D3, E Vitamin A: Ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng và phát triển của bào thai lợn con Nếu thiếu vitamin A, lợn con sẽ còi cọc, chậm lớn, lợn nái mang thai sẽ sẩy thai, đẻ non

Vitamin D3: Ảnh hưởng tới sự hấp thu Ca và P Thiếu vitamin D3 sẽ dẫn đến hiện tượng còi xương ở lợn con, xốp xương ở lợn trưởng thành và gây rối loạn chuyển hóa hấp thu Ca và P

Vitamin E: Có tác dụng tăng sinh tế bào niêm mạc sinh dục, kích thích sự hình thành và phát triển của tế bào trứng Nếu thiếu vitamin E, lợn sẽ không động dục hay động dục chậm

+ Nhu cầu khoáng: Trong cơ thể khoáng chiếm 3% tổng khối lượng, do vậy

để đảm bảo sức khỏe cho lợn mẹ cũng như sự phát triển của lợn con chúng ta phải cung cấp đầy đủ khoáng

Đối với lợn nái thời kỳ chửa cho ăn 1,8kg thức ăn hỗn hợp/ngày thì nhu cầu khoáng được tính là: Ca = 0,9% và P = 0,7% (John Bra, 1995) Nếu khẩu phần

ăn thiếu khoáng trầm trọng sẽ gây nguy cơ chết toàn bộ phôi

Ngoài các yếu tố gây ảnh hưởng trên thì khả năng sinh sản của lợn nái còn chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố khác như điều kiện khí hậu, chất lượng tinh dịch, số con để lại nuôi

2.3 ĐẶC ĐIỂM VỀ NGOẠI HÌNH VÀ TÍNH NĂNG SẢN XUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LỢN CHÍNH ĐƯỢC ĐIỀU TRA

2.3.1 Giống lợn Móng Cái

Lợn Móng Cái là giống lợn nội nuôi phổ biến ở Việt Nam, có nguồn gốc

tại huyện Hà Cối và Móng Cái tỉnh Quảng Ninh Hiện nay, lợn Móng Cái phân

bố rộng khắp cả nước nhưng được nuôi phổ biến ở các tỉnh miền Bắc

Lợn Móng Cái có khối lượng trung bình lúc 8 tháng tuổi đạt 65 - 75kg Lợn

Trang 28

ngắn mình, cổ ngắn, tai nhỏ lưng võng, bụng sệ Phần lớn cơ thể có màu đen và 6 điểm trắng đó là một đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi nằm giữa trán Mõm trắng, cuối đuôi có chùm lông trắng, bụng trắng và bốn chân trắng Đặc biệt, lợn có một khoang trắng nối giữa hai bên hông với nhau, vắt qua vai giống như cái yên ngựa

Giống lợn Móng Cái có ba dòng: xương nhỏ, xương nhỡ và xương to Lợn Móng Cái dòng xương nhỏ có tầm vóc tương tự như lợn Ỉ Vùng trắng ở bụng và vai của dòng xương nhỏ có tỷ lệ cao hơn so với hai dòng kia

+ Tính năng sản xuất

Lợn Móng Cái sinh trưởng chậm, 2 tháng tuổi đạt 6kg và 10 tháng tuổi đạt

80 - 85kg Khả năng phát dục sớm, lợn cái động dục lúc 5 tháng tuổi và lợn đực

có biểu hiện nhảy lên lưng con cái lúc 2 tháng tuổi nhưng có khả năng phối giống tốt lúc 6 tháng tuổi khi đã thành thục về thể vóc Lợn có từ 8 - 16 vú, thường là

12 vú Lợn có khả năng sinh sản tốt và khéo nuôi con Số con sơ sinh còn sống từ

11 - 13 con/lứa cá biệt có những con đẻ tới 21 con/lứa Khoảng cách 2 lứa đẻ là

165 - 175 ngày với số lứa đẻ trung bình 2,1 - 2,2 lứa/năm Khối lượng sơ sinh từ 0,5 - 0,6 kg/con và cai sữa ở 7 - 8 tuần tuổi đạt 5,5 - 6,5 kg/con Khả năng tăng trọng chậm, trung bình đạt 330 g/ngày, tỷ lệ móc hàm 73 - 75%, tỷ lệ thịt nạc/thịt

xẻ trung bình 35 - 38% Tiêu tốn thức ăn từ 4,0 – 4,5kg thức ăn/kg tăng trọng Lợn Móng Cái dễ nuôi thích nghi tốt với hầu hết các môi trường sinh thái ở Việt Nam kể cả ở những nơi điều kiện chăn nuôi chưa phát triển Hiện nay hướng sử dụng chính của giống lợn này là nhân thuần duy trì vốn gen và làm nái nền để lai với các giống lợn nhập nội có thể tạo ra đàn lợn thịt có năng xuất và chất lượng thịt cao như tổ hợp (Yorkshire x Móng Cái), (Landrace x Móng Cái),…

Hình 2.1.Lợn Móng Cái

Trang 29

* Khả năng sinh trưởng và năng suất nuôi thịt:

Tăng trọng bình quân của lợn Hương nuôi thịt chậm, ở 8 tháng tuổi chỉ đạt 39,6 kg; khả năng cho thịt đạt 74,7%; tỷ lệ thịt nạc/thịt sẻ đạt 46,5%, mỡ/thịt sẻ 24,3%, xương/thịt sẻ 16,2%, da/thịt sẻ 12,5%

có 10 - 12 vú, số lợn con trung bình /lứa/nái là 8-10 con, tỷ lệ sống đạt 93%

Hình 2.2 Lợn Hương

Trang 30

* Khả năng chống chịu bệnh tật:

Lợn Hương là giống lợn thuần, có tầm vóc nhỏ, qua nghiên cứu cho thấy lợn có khả năng thích nghi với điều kiện nuôi nhốt tại Cao Bằng, có sức đề kháng tốt, ít mắc bệnh

2.3.3 Lợn Đen Cao Bằng

* Nguồn gốc

Thuật ngữ “Lợn Đen” không được sử dụng trong các danh mục chính thức cũng như danh mục các giống lợn bảo tồn ở Việt Nam, có lẽ nó là tên chung trong dân gian được dùng chỉ các giống lợn có màu đen

“Lợn đen” có nguồn gốc từ một số giống lợn địa phương của vùng núi Cao Bằng Do điều kiện địa lý, đồi núi cao hiểm trở, việc thông thương có nhiều hạn chế, người dân nuôi lợn ở vùng núi huyện Thông Nông, một số xã của huyện Hòa

An của tỉnh Cao Bằng chỉ giao dịch mua bán lợn tại chợ Táp Ná Hiện nay giống lợn này lai tạp với nhiều giống lợn khác nhau mà chỉ phân biệt chủ yếu qua bộ lông có màu đen nên người ta gọi cái tên dân dã là lợn đen

Theo một số nhà khoa học, Lợn Đen có thể là một cách gọi con Lợn Ỉ,

thuộc lớp động vật có vú (Mamnalia), bộ Guốc chẵn (Artiodactyla), họ Silidae, chủng Sus, loài Sus domesticus, giống lợn Ỉ

“Lợn Đen” là tên chung cho các giống lợn địa phương ở Cao Bằng Hiện chưa khẳng định được chúng có bao nhiều loại và thuộc giống nào Đã có nghiên cứu một cách khoa học về một giống lợn Đen ở huyện Thông Nông, gọi là Lợn “Táp ná”

Hình 2.3 Lợn ỉ pha (trái) và lợn ỉ mỡ (phải)

Trang 31

*Ngoại hình và khả năng sản xuất:

Trọng lượng sau 1 năm khoảng 100 kg, đẻ ít (có 8 vú), sức chống chịu tốt,

tỷ lệ sống đạt 60 - 70%; chất lượng thịt cao: thơm, mỡ khổ dầy, không ngán Theo các hộ gia đình chăn nuôi Lợn Đen, có 2 loại lợn Đen ở huyện

Nguyên Bình là “Mu mẳn” và “Mu rảng” (tiếng Tày):

- Mu mẳn: Tầm vóc nhỏ, mình ngắn, chân thấp, xương ống nhỏ, 2 móng to

chụm lại, bụng xệ, mõm ngắng thẳng, tai nhỏ Trọng lượng tối đa đạt khoảng 85

kg Lông đen có khoang trắng Lập mỡ sớm, từ tháng thứ 6 Có 12 vú, đẻ trung

bình 8 - 9 con/lứa

- Mu rảng: Có đặc điểm là tầm vóc lớn, mình dài, chân cao, xương ống to,

móng tòe như 4 ngón, mõn dài, tai to ngang, toàn thân chỉ có 1 màu đen Trọng lượng khoảng 150 - 200 kg/con sau 18 tháng nuôi ở một số hộ gia đình Khả năng tích mỡ chậm, sau khoảng 8 - 9 tháng mới bắt đầu Đa số có 14 vú, đẻ trung bình 10 - 12 con/lứa

Chưa khẳng định được lợn Đen ở Nguyên Bình (cả 2 giống “Mu rẳng” và

“Mu mằn”) có phải là lợn “Táp ná” không?

Hình 2.4 Lợn Đen

Hiện nay lợn Táp ná là một giống lợn đã được đưa vào danh sách bảo tồn

nòi giống

Trang 32

Bảng 2.1 Danh sách các giống lợn bảo tồn ở Việt nam (tính đến 30/12/2007)

Thời điểm phát hiện / hoặc đưa vào danh sách

Hiện trạng

Có trong

át lát CGVNV

3 Lợn Móng cái Quảng Ninh Trước 1990 Có

4 Lợn Lang Hồng Bắc Giang Trước 1990 Không còn

5 Lợn Ba Xuyên Ba xuyên Trước 1990 Có

6 Lợn Thuộc

Nhiêu

Thuộc nhiêu Trước 1990 Không còn

7 Lợn Phú Khánh Khánh Hoà Trước 1990 Không còn

8 Lợn Mường

khương

Hà Giang Trước 1990 Có

9 Lợn Mẹo Kỳ Sơn - Nghệ An Sau 1990 Có

10 Lợn Sóc Buôn Mê thuột

Đăk Lắc

Sau 1990 Có

11 Lợn Cỏ Nghệ An Sau 1990

12 Lợn Sơn vi Vĩnh phú Trước 1990 Không còn

13 Lợn Vân Pa Quảng trị Sau 1990 Có

15 Lợn Hung Hà giang Sau 1990

17 Lợn Sau na Nghệ an Sau 1990

Nguồn: Viện Chăn nuôi (2007)

2.4 CĂN BỆNH

2.4.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự nhiễm bệnh của lợn nái

*Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý

- Khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung

- Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột, gây đẻ khó, gây viêm tử cung do xây xát

Trang 33

- Ngược lại thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nhưng chống lại vi trùng xâm nhập cũng gây viêm tử cung

- Chất khoáng vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A sẽ gây sừng niêm mạc, sót nhau

*Chăm sóc, quản lý vệ sinh

Chăm sóc, quản lý vệ sinh là khâu quan trọng Vệ sinh chuồng trại, tắm rửa giữ sạch sẽ thân thể lợn nái, thụt rửa tử cung khi sinh, sử dụng nước sạch làm giảm tỷ lệ viêm tử cung

*Tiểu khí hậu chuồng nuôi

Thời tiết khí hậu quá nóng hay lạnh trong thời gian đẻ dễ đưa đến viêm

tử cung

*Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe

Viêm tử cung dạng mủ lứa đẻ 1 và 2 chiếm 8,33% Trên 4 lứa 58,33% Lợn nái già sức khỏe kém, kế phát một số bệnh nên sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ đưa đến viêm tử cung

*Kích dục tố

Oxytocin có tác dụng kích thích co bóp tử cung tống sản dịch, nhau ra khỏi đường sinh dục làm giảm tỷ lệ viêm tử cung

*Nhiễm trùng sau khi sinh

*Đường xâm nhiễm

- Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là sự nhu động của ruột và nhất là táo bón

- Xâm nhập có thể hướng từ ngoài vào do vi khuẩn hiện

2.4.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn náı

Công tác tiêm phòng được đặt lên hàng đầu nhưng đàn lợn nái tại huyện vẫn bị mắc một số bệnh sau:

2.4.2.1 Bệnh viêm tử cung (Endometritis, Metritis)

Bệnh xảy ra sau đẻ, có thể xảy ra ở những lợn nái sau khi phối giống, rất ít xảy ra ở lợn nái hậu bị Do bị viêm niêm mạc tử cung, hoặc do tử cung bị viêm nhiễm khuẩn

Trang 34

*Nguyên nhân

- Trong quá trình sinh đẻ, đặc biệt các trường hợp đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ, làm xây xát niệm mạc đường sinh dục cái

- Kết phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm âm đạo

- Công tác vệ sinh trước, trong và sau khi đẻ không đảm bảo

* Triệu chứng

Lợn nái đẻ nhiều lần, thời gian lâu không đẻ được, cơn co bóp rặn đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối có lẫn máu màu hồng nhạt Có trường hợp lợn nái đẻ được 1 con rồi nhưng vẫn đẻ khó ở con tiếp theo Khi đưa tay vào kiểm tra thấy thai nằm ngay xương chậu nhưng do đẻ ngược thai (quay lưng ra),

do xương chậu hẹp nhưng bào thai quá to

* Điều trị

- Trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, nếu đẻ khó do rặn đẻ quá yếu cần tiêm Oxytocine 20 -40 UI/nái, có thể tiêm vào tĩnh mạch là tốt nhất Trường hợp đẻ khó do rặn đẻ quá yếu tiêm Oxytocin không có kết quả hoặc các cơn rặn vẫn diễn ra bình thường mà thai không ra được cần can thiệp bằng tay

Trang 35

hoặc phẫu thuật để lấy thai ra

- Sau khi can thiệp xong cần thụt rửa âm đạo bằng nước muối pha loãng, sau đó chống viêm tử cung, âm đạo bằng kháng sinh:

* Triệu chứng

- Bầu vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, vắt những vú sưng thấy sữa có vón cục

- Lợn nái sốt cao, bỏ ăn, nằm sấp, không cho con bú

- Có khi bầu vú bị thâm đen, nóng

Do mất cân bằng điều tiết hormone của cơ thể mẹ sau khi đẻ

Do chăm sóc nuôi dưỡng kém, thức ăn chứa độc tố và do một số bệnh truyền nhiễm khác

Ngày đăng: 26/03/2021, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm