1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích một số yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thu nhập và an ninh lương thực của các xã atk phía bắc huyện định hóa tỉnh thái nguyên

138 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề xuất giải pháp tăng thu nhập gắn liền với đảm bảo an ninh lương thực của các hộ nông dân các xã ATK phía Bắc Huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên.. Việt Nam với đặc điểm diện tích địa

Trang 1

Phan Thị Vân Giang

PHÂN TÍCH MỘT SỐ YẾU TỐ KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC CỦA CÁC XÃ ATK PHÍA

BẮC HUYỆN ĐỊNH HOA - TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp

Mã số: 60-31-10

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

(Ngành Kinh tế nông nghiệp)

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn “Phân tích một số yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến

thu nhập và an ninh lương thực của các xã ATK phía bắc huyện Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên” được thực hiện từ tháng 5/2011 đến tháng

5/2012 Luận văn sử dụng những thô ng tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đã được chỉ rõ nguồn gốc , phần lớn thông tin thu thập từ điều tra thực tế ở địa phương, số liệu đã được tổng hợp và xử lý trên các phần mềm thống kê SPSS 17, Excel

Tôi xin cam đoan rằng , số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị

nào tại Việt Nam

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Thái Nguyên, tháng 5 năm 2012

Tác giả

Phan Thị Vân Giang

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau Đại học, cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt xin chân thành cảm ơn tới thầy giáo TS.Trần Đại Nghĩa, PGS.TS Đỗ Anh Tài đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tận tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ, lãnh đạo Huyện uỷ, UBND huyện Định Hóa - Tỉnh Thái Nguyên, trạm Khuyến nông, phòng Nông nghiệp&PTNT, phòng Thống kê, Phòng lao động thương binh xã hội, Phòng tài nguyên và môi trường, cán bộ và nhân dân các xã Lam Vỹ, Phúc Chu và Tân Dương đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ khi điều tra thực địa giúp tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn cơ quan, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, đã luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Thái Nguyên, ngày tháng 5 năm 2012

Tác giả luận văn

Phan Thị Vân Giang

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 5

1.1 Các lý thuyết kinh tế về thu nhập và an ninh lương thực của hộ sản xuất nông nghiệp 5

1.1.1.Hộ kinh tế nông dân và các loại thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp 5 1.1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân 13

1.1.3 An ninh lương thực và mối quan hệ của thu nhập nông hộ và an ninh lương thực 16

1.1.4 Cơ sở thực tiễn 29

1.2 Các phương pháp nghiên cứu đề tài 35

1.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 35

1.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 36

1.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 38

1.2.4 Phương pháp phân tích đánh giá 39

1.2.5 Hệ thống chỉ tiêu phân tích đánh giá 40

1.2.6 Mô hình cho nghiên cứu An ninh lương thực 41

CHƯƠNG 2 44

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG THU NHẬP VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC CÁC XÃ ATK PHÍA BẮC HUYỆN ĐỊNH HÓA 44

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 44

2.1.1 Điều kiện tự nhiên của huyện Định Hoá 44

2.1.2 Kinh tế - xã hội huyện Định Hoá 48

Trang 5

2.2 Thực trạng thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân các xã ATK Phía Bắc Huyện Định Hóa 56 2.3 Nghiên cứu các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thu nhập hộ của các

xã ATK phía bắc huyện Định Hóa 82 2.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ điều tra 82 2.3.2 Phân tích các yếu tố kinh tế xã hội ảnh hưởng đến thu nhập các xã ATK phía Bắc huyện Định Hóa 86 2.4 Đánh giá mức độ an ninh lương thực của các hộ vùng nghiên cứu 96 CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO THU NHẬP VÀ ĐẢM BẢO AN NINH LƯƠNG THỰC TẠI CÁC XÃ ATK PHÍA BẮC HUYỆN ĐỊNH HÓA 98 3.1 Quan điểm, phương hướng và mục tiêu của Huyện Định hóa về phát triển kinh tế hộ nông dân và an ninh lương thực cho khu vực các xã ATK Phía Bắc huyện Định Hóa 98 3.1.1 Quan điểm chung 98 3.1.2 Định hướng phát triển ngành nông lâm nghiệp thủy sản Định Hóa giai đoạn 2010 - 2020 99 3.2 Đề xuất giải pháp tăng thu nhập gắn liền với đảm bảo an ninh lương thực của các hộ nông dân các xã ATK phía Bắc Huyện Định Hóa Tỉnh Thái

Nguyên 100 3.2.1 Nhóm giải pháp đề xuất với chính quyền huyện Định Hóa 101 3.2.2 Nhóm giải pháp cho người nông dân 106 3.2.3 Giải pháp đảm bảo an ninh lương thực hộ nông dân các xã ATK phía Bắc huyện Định Hóa 109 KẾT LUẬN 112 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 116

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

SPSS Statistical Package For Social Sciences

Trang 7

DANH MỤC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Tình hình sử dụng quỹ đất của huyện Định Hoá năm 2010 46

Bảng 2.2: Nhân khẩu và lao động của huyện Định Hóa năm 2010 49

Bảng 2.3: Cơ cấu kinh tế huyện Định Hoá, 2008 - 2010 52

Bảng 2.4: Ma trận chọn điểm nghiên cứu 57

Bảng 2.5: Tổng hợp thông tin điều tra 58

Bảng 2.6: Đặc điểm chung của các hộ nghiên cứu 62

Bảng 2.7: Tình hình nhân khẩu, lao động của các hộ được điều tra 62

Bảng 2.8: Tình hình đất đai của nhóm hộ nghiên cứu 64

Bảng 2.9: Nguồn vốn của nhóm hộ nghiên cứu 66

Bảng 2.10: Thu nhập bình quân của các nhóm hộ nghiên cứu 67

Bảng 2.11: Kết quả sản xuất của hộ 71

Bảng 2.12: Thu nhập từ sản xuất một số cây trồng chính của các nhóm hộ 73

Bảng 2.13: Cây trồng cho thu nhập chính của các vùng nghiên cứu 75

Bảng 2.14: Giá trị sản xuất và chi phí sản xuất của các nhóm hộ 76

Bảng 2.15: Hiệu quả kinh tế trên đất trồng trọt của nhóm hộ phân theo diện tích canh tác ( Tính cho 1 sào canh tác) 79

Bảng 2.16: Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư các lĩnh vực của vùng nghiên cứu 80 Bảng 2.17: Hiệu quả lao động của các vùng nghiên cứu 81

Bảng 2.18: Thu nhập của hộ điều tra phân theo đặc điểm của chủ hộ 82

Bảng 2.19: Thu nhập của hộ nông dân phân theo quy mô nguồn lực 84

Bảng 2.20: Mô tả các biến sử dụng trong mô hình hàm CD Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nhóm hộ điều tra 89

Bảng 2.21: Kết quả ước lượng hồi quy hàm CD cho thu nhập hộ nông dân 90

Bảng 2.22: Kết quả ước lượng hồi quy hàm CD cho thu nhập từ trồng lúa của nhóm hộ điều tra 93

Bảng 2.23 : Thu nhập cần thiết để đảm bảo ANLT của nhóm hộ nghiên cứu các xã ATK phía bắc huyện Định Hóa năm 2011 96

Bảng 2.24: Cơ cấu chi tiêu của hộ vùng nghiên cứu 96

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ_Toc325280109

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu diện tích đất 46

Biểu đồ 2.2.: Cơ cấu lao động của huyện chia theo ngành 50

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu nguồn vốn của nhóm hộ nghiên cứu 66

Biểu đồ 2.4: Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ nghiên cứu 70

DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ số 01: Mô hình tính toán thu nhập cho hộ nông dân 11

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thế giới đã đón nhận công dân thứ 7 tỷ vào ngày 31 tháng 10 năm

2011 Trong bối cảnh An ninh lương thực (ANLT) đang trở thành nỗi lo chung của toàn cầu khi những diễn biến về biến đổi khí hậu, chính sách thương mại của các quốc gia ngày càng gây khó khăn cho việc cung cấp nguồn lương thực Theo số liệu do Liên hợp quốc công bố ngày 16-10-2010 trên thế giới có khoảng 1 tỷ người thiếu ăn Còn theo FAO số người đói là

925 triệu, 2/3 số người đói tập trung ở bảy quốc gia là Bangladesh, Trung Quốc, Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Indonesia và Pakistan Khu vực có số người đói nhiều nhất là châu Á - Thái Bình Dương với 578 triệu người Tỷ lệ người đói cao nhất ở khu vực tiểu vùng Sahara châu Phi, chiếm 30% trong năm

2010 (239 triệu) (trích nguồn: Vnxpress Net)

Hiện nay, ở tầm quốc gia, Việt Nam đã có được an ninh lương thực, nhưng có thể nói chưa đảm bảo chắc chắn an ninh lương thực hộ gia đình và

cá thể Nguy cơ mất ANLT hộ gia đình càng cao trong bối cảnh thay đổi khí hậu, nhu cầu sản xuất năng lượng sinh học và khủng hoảng kinh tế toàn cầu Trước hết, thay đổi khí hậu đã và đang tạo ra vô số thảm họa thiên tai như bão, lũ lụt, hạn hán, động đất, dịch bệnh và quan trọng hơn là thay đổi hệ sinh vật và sinh thái Khủng khoảng năng lượng và tài chính đã gây ra không ít khó khăn cho việc sản xuất lương thực thực phẩm, giá lương thực tỷ lệ thuận với giá năng lượng, nguồn dự trữ lương thực thế giới giảm thấp kỷ lục Như là hậu quả tất yếu, hàng loạt vấn đề về an ninh lương thực thực phẩm, dinh dưỡng và sức khỏe đã và đang đe dọa tính mạng và đời sống của nhân loại, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, mà theo dự báo của Liên Hợp quốc, Việt Nam là 1 trong 5 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của hiện tượng nước

biển dâng cao.(Trích báo cáo về biến đổi khí hậu IPC, 2009)

Trang 10

Bằng chứng của mất ANLT hộ gia đình ở Việt nam là hiện nay vẫn còn một bộ một phận lớn các hộ gia đình nghèo (khoảng 3 triệu người), số hộ gia đình nghèo, thu nhập thấp này nằm chủ yếu ở vùng nông thôn, khu vực hay gặp thiên tai, lũ lụt, hạn hán, các tỉnh miền núi phía Bắc

Tác động của nghèo đói, thiếu an ninh lương thực hộ đến kinh tế xã hội

là rất lớn, trước mắt đó là tàn phá môi trường sống xung quanh Đói thì họ phải tự tìm cái ăn, và môi trường xung quanh chính là điểm dừng chân của họ, môi trường rừng, môi trường nước sẽ bị tàn phá nặng nề Thiếu ANLT do nghèo đói, thu nhập thấp còn là nguyên nhân nâng cao khoảng cách giàu nghèo, tác động xấu đến môi trường xã hội như mất ổn định, gia tăng các tệ nạn xã hội, các hệ lụy dẫn đến khủng hoảng chính trị ở các vùng có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn

Việt Nam với đặc điểm diện tích địa hình đồi núi chiếm ¾ tổng diện tích đất cả nước, diện tích đất trồng lúa thấp, vậy làm thế nào để nâng cao thu nhập cho người dân, tự chủ sản xuất lương thực, bảo đảm an ninh lương thực cho các hộ ở khu vực miền núi Việt Nam thực sự là một bài toán lớn nhưng không thể giải quyết tổng thể mà phải tính đến đặc thù tự nhiên và xã hội của từng vùng

Định Hóa là một huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Thái Nguyên Là căn

cứ địa của Chiến khu Việt Bắc trong Kháng chiến chống Pháp (từ 1947 đến 1954) Với vị trí rất quan trọng cả về kinh tế, chính trị và văn hoá, lịch sử của mảnh đất an toàn khu kháng chiến đến nay, Đảng và chính phủ đã có rất nhiều những chính sách ưu tiên phát triển cho vùng đất miền núi này Đã có rất nhiều nghiên cứu về quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Định hóa, đặc biệt là những chương trình đầu tư phát triển hạ tầng đã giúp cho thay đổi diện mạo các xã ATK phía Nam của huyện như Phú Đình, Điềm Mạc vv là địa điểm du lịch lịch sử, sinh thái hấp dẫn, đời sống nhân dân dần được cải thiện Tuy nhiên do địa hình và quá trình hình thành và phát triển dân cư, các xã ATK phía Bắc huyện Định Hóa lại là nơi tập trung nhiều hộ nghèo hơn cả, vấn đề an

Trang 11

ninh lương thực vẫn là nỗi lo thường trực của người dân Vì vậy, nghiên cứu đề

tài “ Phân tích một số yếu tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thu nhập và an

ninh lương thực của các xã ATK phía Bắc Huyện Định Hóa – Tỉnh Thái Nguyên” là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cho mục tiêu phát triển kinh

tế nói chung, phát triển nông nghiệp miền núi trung du trên cơ sở phát huy lợi thế của vùng nói riêng

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài nhằm chỉ ra thực trạng về thu nhập kinh tế hộ nông dân của các

xã ATK vùng phía Bắc huyện Định Hóa và các nhân tố kinh tế xã hội cơ bản ảnh hưởng đến thu nhập cũng như vấn đề an ninh lương thưc của người dân,

từ đó đề xuất giải phải nâng cao thu nhập và đảm bảo an ninh lương thực các

xã ATK phía Bắc huyện Định Hóa nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo sự phát triển đồng bộ cho huyện miền núi ATK Định Hóa nói riêng

và các khu vực trong cả nước có cùng điều kiện nói chung

3 Đối tượng nghiên cứu

Thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập và vấn đề an ninh lương thực của các hộ nông dân các xã ATK Phía Bắc huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên

Trang 12

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài giới hạn nghiên cứu tại huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên Địa điểm nghiên cứu là tại ba xã Lam Vỹ, Tân Dương và Phúc Chu, nơi có đặc điểm đại diện và điển hình nhất cho các xã ATK phía Bắc huyện Định Hóa, cũng như của vùng núi phía Bắc Việt Nam

- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu số liệu thứ cấp qua 03 năm

2008 - 2010 ; thu thập số liệu sơ cấp năm 2011

- Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu một số nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến thu nhập và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao thu nhập và đảm bảo an ninh lương thực cho các hộ nông dân huyện Định Hóa

5 Bố cục của đề tài

Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có 03 chương:

Chương 1: Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu đề tài

Chương 2: Phân tích thực trạng thu nhập và an ninh lương thực các

xã ATK phía bắc huyện Định Hóa

Chương 3: Giải pháp nâng cao thu nhập và đảm bảo an ninh lương

thực tại các xã ATK phía Bắc Huyện Định Hóa

Trang 13

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1.1 Các lý thuyết kinh tế về thu nhập và an ninh lương thực của hộ sản xuất nông nghiệp

1.1.1 Hộ kinh tế nông dân và các loại thu nhập của hộ sản xuất nông nghiệp

1.1.1.1 Hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân

Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp

và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp

ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận

Khái niệm hộ nông dân gần đây được định nghĩa như sau: "Nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" [11]

Hộ nông dân có những đặc điểm sau:

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng

- Quan hệ giữa tiêu dùng và sản xuất hiện ở trình độ phát triển của hộ

tự cấp, tự túc Trình độ này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân và thị trường

Trang 14

Các hộ nông dân ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ rất khác nhau

Lý thuyết về doanh nghiệp gia đình nông dân, coi hộ nông dân là một doanh nghiệp không dùng lao động làm thuê, chỉ sử dụng lao động gia đình

Do đó các khái niệm kinh tế thông thường không áp dụng được cho kiểu doanh nghiệp này Do không thuê lao động nên hộ nông dân không có khái niệm tiền lương và tiếp theo là không thể tính được lợi nhuận, địa tô và lợi tức Hộ nông dân chỉ có thu nhập chung của tất cả hoạt động kinh tế của gia đình là giá trị sản lượng hàng năm trừ đi chi phí Mục tiêu của hộ nông dân là

có thu nhập cao không kể thu nhập ấy do nguồn gốc nào, trồng trọt, chăn nuôi, ngành nghề, đó là kết quả chung của lao động gia đình

Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động - tiêu dùng giữa sự thoả mãn các nhu cầu của gia đình và sự nặng nhọc của lao động Giá trị sản lượng chung của hộ gia đình trừ đi chi phí sẽ là giá trị sản lượng thuần mà gia đình sử dụng cho tiêu dùng, đầu tư tái sản xuất và tích luỹ Người nông dân không tính giá trị tiền công lao động đã sử dụng, mà chỉ lấy mục tiêu là có thu nhập thuần cao Bởi vậy, muốn có thu nhập cao hơn thì các hộ nông dân phải tăng thời gian lao động của gia đình

1.1.1.2 Cách tính thu nhập hộ nông dân

* Khái niệm về thu nhập hộ nông dân:

Thu nhập theo khái niệm chung được hiểu là Tiền lương + tiền lãi + tiền thuế + lợi nhuận Vậy thu nhập hộ nông dân bản chất là gì?

Thu nhập của một hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng thêm mà hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích luỹ và tái sản xuất mở rộng nếu có Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của các hoạt động sản xuất kinh doanh mà hộ thực hiện

Trang 15

* Cách tính thu nhập hộ nông dân:

Để tính toán giá trị gia tăng thuần tạo ra bởi hộ nông dân thì phải biết

giá trị của sản xuất hay Tổng sản phẩm (TP) của hộ (cả phần bán đi và phần

giữ lại cho hộ)

Thực ra sản phẩm của hộ trong một chu kỳ sản xuất không được bán đi toàn bộ:

- Một phần được giữ lại cho tiêu dùng của gia đình: đây là phần tự tiêu

mà chúng ta sẽ tính trong sản phẩm của hộ với giá mà lẽ ra sản phẩm này đã bán được

- Một phần được giữ lại để cho tiêu dùng gia đình hoặc có thể không được bán hết toàn bộ vào cuối chu kỳ sản xuất Như vậy, cũng có thể có một

số sản phẩm được bán trong vòng chu kỳ sản xuất nghiên cứu lại là sản phẩm của năm trước tích trữ lại

Để tính toán Tổng sản phẩm trồng trọt, chỉ cần tính cho từng cây trồng của

hộ trong chu kỳ sản xuất trên cơ sở xác định:

Diện tích gieo trồng của cây trồng * năng suất trên đơn vị diện tích * giá đơn vị sản phẩm của cây trồng.(1)

Chúng ta cũng có thể tính toán Tổng sản phẩm trồng trọt theo cách:

Sản lượng của cây trồng * Giá bán sản phẩm (2)

Tuy nhiên công thức (2) thực tế sẽ rất khó áp dụng đối với các bài toán phân tích kinh tế số lớn mà nó chỉ phù hợp để hạch toán kinh tế hộ gia đình Lý do, thực tế khi thu thập số liệu chúng ta có thuận lợi vì các số liệu diện tích gieo trồng, năng suất trên đơn vị diện tích, giá đơn vị sản phẩm của cây trồng, hàng kỳ, phòng thống kê địa phương đã thực hiện điều tra lấy mẫu)

Để tính toán Tổng sản phẩm chăn nuôi, phải tính toán sự tăng trưởng

của đàn ngay cả khi sự tăng trưởng này chưa mang lại thu nhập bằng tiền mặt trước mắt

Trang 16

Một phần của sự tăng trưởng này có thể do mua gia súc từ bên ngoài như vậy không phải là sản phẩm của hộ Nhưng trái lại nếu một phần đàn gia súc bị bán đi trong vòng chu kỳ sản xuất thì đây là sản phẩm của hộ

Vậy, chúng ta có thể tính sản phẩm chăn nuôi như sau: Giá trị sản

phẩm chăn nuôi được gia đình tiêu dùng trong chu kỳ + phần bán của các sản phẩm từ chăn nuôi như (sữa, trứng…) + Giá trị của số gia súc (bán – mua) + (giá trị của đàn gia súc vào cuối chu kỳ sản xuất – giá trị của đan gia súc đầu chu kỳ)

Để có được các sản phẩm này, nông dân phải sử dụng các hàng hoá và dịch vụ đi mua từ bên ngoài: giống, phân bón, một phần thức ăn gia súc, nước, năng lượng, các dịch vụ khác đã được sản xuất ra bởi các cơ sở sản xuất

khác Người ta gọi các yếu tố này là Chí phí trung gian (CI) bởi vì đây là

các hàng hoá dành để đưa vào trong một quá trình sản xuất khác và chúng sẽ bị tiêu thụ toàn bộ trong vòng một chu kỳ sản xuất Các hàng hoá và dịch vụ này sẽ bị biến đổi nhờ vào lao động và các phương tiện sản xuất của hộ để thành những hàng hoá khác có giá trị cao hơn Vì thế Giá trị gia tăng cho thấy

sự đóng góp riêng của hộ vào giá trị của sản phẩm

Giá trị gia tăng thô (VAT) = Giá trị tổng sản phẩm - Chi phí trung gian

Nhưng có những hàng hoá khác cũng mua từ bên ngoài và được sử dụng trong quá trình sản xuất như công cụ sản xuất, các đầu tư cải tạo ruộng đất, các vườn cây cũng là một phần của phương tiện sản xuất, được gọi là

Vốn cố định và không được tiêu thụ toàn bộ trong vòng một chu kỳ sản xuất

mà nó được dùng trong vòng nhiều năm Trong quá trình sử dụng các yếu tố này bị mất dần giá trị qua nhiều chu kỳ sản xuất

Người ta gọi Khấu hao là một phần của giá trị của Vốn cố định được

phân chia hàng năm vào trong giá trị của sản phẩm và kéo dài trong suốt thời gian sử dụng của những hàng hoá này

Trang 17

Ví dụ, đối với một công cụ có thời gian sử dụng chắc chắn trong 10 năm, ta tính khấu hao bằng 1/10 giá trị thay thế của công cụ này Thường ta cần biết giá trị của cùng loại tài sản nếu phải mua mới tại thời điểm nghiên cứu để làm giá trị tính khấu hao

Người ta phân biệt Giá trị tăng thuần (NVA) và Giá trị tăng thô tuỳ

theo ta đã trừ hay chưa giá trị toàn bộ của khấu hao

GIÁ TRỊ GIA TĂNG THÔ = GIÁ TRỊ TỔNG SẢN PHẨM - CHI PHÍ TRUNG GIAN GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẦN = GIÁ TRỊ TĂNG THÔ – GIÁ TRỊ KHẤU HAO

Giá trị tăng thuần/lao động cho biết năng suất lao động của hộ

Người ta gọi là năng suất được Bảng hiện của lao động và ta chỉ chia giá trị gia tăng theo một yếu tố duy nhất là lao động mà không tính toán tới vốn Ta cũng có thể tính theo cùng cách đối với vốn: năng suất Bảng thị của

vốn bởi quan hệ Giá trị gia tăng thuần / Vốn của hộ)

Giá trị gia tăng là một kết quả quan trọng bởi vì nó cho phép so sánh hoạt động có hiệu quả cao giữa các hộ mà không cần phải xem xét sự phân chia của giá trị sản phẩm

Cần phải chú ý là bằng phương pháp tính của nó thì giá trị gia tăng thuần thể hiện cả tình trạng của giá cả nông nghiệp Ví dụ một Giá trị gia tăng cao có thể là do một chính sách bảo trợ giá hay chính sách “đóng cửa” trong xuất nhập khẩu đặc biệt thuận lợi cho một vài sản phẩm Theo phương pháp tính này thì sẽ gặp phải khó khăn trong việc so sánh trên quy mô quốc tế các sức sản xuất do chính sách kinh tế của các nước khác nhau

Sự phân bổ Giá trị gia tăng:

Tính Thu nhập nông nghiệp thuần (NAR)

Trong thực tế Giá trị gia tăng thuần sản xuất ra được phân chia tiếp theo giữa các tác nhân có quan hệ trong quá trình sản xuất: hoặc là vì họ có một phần của vốn sử dụng, hoặc bởi vì họ đã tham gia sản xuất trực tiếp trong

Trang 18

hộ nông dân Nhà nước cũng trích ra dưới dạng thuế một phần của giá trị gia tăng thuần:

Giá trị gia tăng thuần cũng được huy động để chi trả các khoản:

- Tiền thuê đất trả cho các chủ sở hữu đất ngoài hộ nông dân

- Chi phí tài chính trả cho Ngân hàng đã cho vay vốn

- Các loại thuế liên quan đến sản xuất trả cho Nhà nước và cho các Tổ

chức nghiệp đoàn

Ta có thể gọi phần của giá trị gia tăng là phần còn lại của Giá trị gia

tăng thuần cho gia đình sau khi đã thực hiện các khoản nộp nói trên

Ta chỉ có thể đánh giá chức năng thứ nhất của hộ nông dân là nuôi sống các thành viên làm việc trong hộ bằng cách xem xét khả năng của hộ về tái sản xuất khi nghiên cứu quan hệ Phần của giá trị gia tăng/Tổng số người lao động (đi thuê và gia đình)

Nếu hộ nông dân sử dụng lao động làm công thì một phần của Phần của giá trị gia tăng sẽ dùng để trả thù lao cho sức lao động của họ Phần còn lại

cho chủ hộ là Thu nhập thuần nông nghiệp

THU NHẬP THUẦN NÔNG NGHIỆP = GIÁ TRỊ GIA TĂNG THUẦN - TIỀN THUÊ ĐẤT - LÃI TIỀN VAY - THUẾ CÁC LOẠI - LƯƠNG CỦA LAO ĐỘNG LÀM THUÊ

Với Thu nhập thuần nông nghiệp, nông dân không chỉ phải trả thù lao cho lao động gia đình mà còn phải tích luỹ vốn cho hộ (đảm bảo tái sản xuất

mở rộng) Trong thực tế, chúng ta biết rằng nếu nông dân tự bằng lòng với tái sản xuất giản đơn hay không tích luỹ thì hộ sẽ bị giảm sức sản xuất và giảm sức mua

Thu nhập thuần nông nghiệp cho chúng ta biết một chỉ số phụ về khả năng tái sản xuất của hộ nông nghiệp

Không nên quên rằng các kết quả này chỉ đặc trưng cho một thời điểm nào đó của một hệ thống sản xuất chứ không đặc trưng hoá động thái phát

Trang 19

triển của hệ thống này Động thái là một yếu tố không thể thiếu được trong việc chẩn đoán một hệ thống sản xuất

Nghiên cứu sự phân chia của giá trị gia tăng thuần trong hộ nông dân hay từ hộ tới các tác nhân kinh tế khác cho chúng ta những thông tin quý giá

về những mối quan hệ xã hội tồn tại trong một xã hội

Có lẽ cũng cần thiết khi xem xét tỷ lệ giữa phần của giá trị gia tăng/ lao động do người làm công và lao động gia đình đóng góp đặc biệt khi mà sự mất cân đối giữa hai phần này khá lớn

Tỷ lệ của tiền thuê đất hay tiền nợ trong giá trị gia tăng thuần cũng cho biết tình trạng của các mối quan hệ kinh tế tồn tại giữa nông nghiệp và phần còn lại của nền kinh tế cũng như khả năng tiềm năng của tái sản xuất của các hộ nông dân nghiên cứu

Có thể khái quát mô hình tính toán thu nhập của nông hộ như sau:

Sơ đồ số 01 Mô hình tính toán thu nhập cho hộ nông dân

Chi phí trung gian

- Vật chất

- Dịch vụ: làm đất, thuỷ lợi phí,

bảo vệ mùa màng

Giá trị tổng sản phẩm thô

Khấu hao tài sản cố định

(máy móc, nhà xưởng, con nái )

Giá trị gia tăng thô

Chi phí xã hội:

- Lãi tiền vay, tín dụng

- Tiền thuê đất, đấu thầu đất

+ Công lao động gia đình và trao đổi không tính vào chi phí lao động

+ Các đầu vào do hộ gia đình tự sản xuất được không tính trong chi phí trung gian

Trang 20

Cỏc chỉ tiờu khỏc:

Mụ̣t số chỉ tiờu khỏc cú thể giỳp mụ tả mụ̣t hệ thống sản xuất:

Các đặc điểm về mụi trường: đụ̣ cao, vị trớ địa lý của nụng hụ̣

- Quy mụ của hộ:

+ Diện tớch canh tác / lao đụ̣ng , + Vốn cố định / diện tớch nụng nghiệp cú ớch, + Giỏ trị của cụng cụ sản xuất / lao đụ̣ng

- Quan hệ sở hữu:

+ Tỷ lệ đất sở hữu của hụ̣/diện tớch canh tỏc (%), + Tỷ lệ vay hơn mụ̣t năm/tổng vốn cố định của hụ̣ (%), + Diện tớch canh tác/lao đụ̣ng gia đỡnh

- Định hướng sản xuất :

+ Giỏ trị sản phẩm trồng trọt / tổng sản phẩm hụ̣,

+ Diện tớch cõy hàng hoỏ / diện tớch canh tỏc

- Cỏc chỉ tiờu kinh tế :

+ Tổng sản phẩm / diện tớch canh tỏc,

+ Chi phớ trung gian / diện tớch canh tỏc, + Giỏ trị gia tăng thuần / diện tớch canh tỏc, + Thu nhập nụng nghiệp thuần / lao đụ̣ng gia đỡnh

1.1.1.3 Cỏc loại nguồn thu nhập ở hộ nụng dõn

Hụ̣ nụng dõn là các đơn vị kinh kế hoạt đụ̣ng trong linh vực nụng nghiệp là chớnh Nghĩa là, hoạt đụ̣ng sản xuất của hụ̣ nụng dõn quyết định nụ̣i dung các loại thu nhập Các nguồn thu nhập của hộ nông dân gồm: Thu từ họat động sản xuất nông, lâm, ng- nghiệp, thu từ các hoạt động phi nông nghiệp nh- sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề nông thôn, dịch vụ, buôn bán nhỏ, sửa chữa cơ khí, thu từ tiền công, tiền l-ơng, tiền lãi từ các khoản tiết kiệm, tiền đ-ợc cho, đ-ợc tặng, các khoản trợ cấp của nhà n-ớc Các khoản thu nhập từ sản xuất là khoản còn lại của giá trị tổng sản

Trang 21

l-ợng sau khi đã trừ đi các khoản chi phí sản xuất sau một chu kỳ sản xuất

kinh doanh Chu kỳ này th-ờng đ-ợc tính bằng một năm

Cú thể phõn thu nhập của hụ̣ nụng dõn thành 3 loại:

 Thu nhập nụng nghiệp: Bao gồm thu nhập từ cỏc hoạt đụ̣ng sản xuất

trong nụng nghiệp như: Trồng trọt (lỳa, màu, rau, quả, ); từ chăn nuụi (Gia sỳc, gia cầm, ) và nuụi trồng thuỷ hải sản (tụm, cua, cỏ, )

 Thu nhập phi nụng nghiệp: Là thu nhập được tạo ra từ cỏc hoạt đụ̣ng

ngành nghề cụng nghiệp và tiểu thủ cụng nghiệp, bao gồm cỏc ngành nghề chế biến, sản xuất vật liệu xõy dựng, gia cụng cơ khớ, Ngoài ra thu nhập phi nụng nghiệp cũn được tạo ra từ cỏc hoạt đụ̣ng thương mại dịch vụ như buụn bỏn, thu gom,

 Thu nhập khỏc: Đú là các nguồn thu từ cỏc hoạt đụ̣ng làm thờm, làm

thuờ; làm cụng ăn lương; từ cỏc nguồn trợ cấp xó hụ̣i và sản xuất hoặc cỏc nguồn thu nhập bất thường khỏc

1.1.2 Cỏc yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nụng dõn

là những khoản khụng phụ thuụ̣c vào số giờ lao đụ̣ng của cỏc thành viờn hụ̣

Giờ lao đụ̣ng được tớnh bằng cỏch chia tổng số giờ làm việc của cỏc thành viờn của hụ̣ cho số lượng thành viờn làm việc trong hụ̣

1.1.2.2 Nguồn lực

Người cú thu nhập thấp thường thiếu nhiều nguồn lực, họ khụng thể đầu tư vào nguồn vốn nhõn lực của họ Ngược lại, nguồn vốn nhõn lực thấp lại cản trở họ thoỏt khỏi nghốo đúi Các hụ̣ nghốo cú rất ớt đất đai và tỡnh trạng khụng cú đất đang cú xu hướng tăng lờn Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc

Trang 22

đảm bảo lương thực của hộ cũng như đa dạng hoá sản xuất, để hướng tới sản xuất cây trồng với giá trị cao Đa số hộ nông lựa chọn phương án sản xuất tự cung tự cấp họ vẫn giữ các phương thức sản xuất truyền thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi nhuận cao, do vậy giá trị sản phẩm và năng suất các loại cây trồng và vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh trên thị trường và vì vậy đã không tạo ra thu nhập cao cho hộ dẫn tới tình trạng luẩn quẩn nghèo đói của hộ

Bên cạnh đó, nhiều người nghèo chưa có nhiều dịp tiếp cận với các dịch vụ sản xuất như khuyến nông, khuyến lâm, bảo vệ động vật, thực vật, nhiều yếu tố đầu vào sản xuất như điện nước, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón đã làm tăng chi phí, giảm thu nhập tính trên đơn vị giá trị sản phẩm

Hộ nông cũng gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn tín dụng Sự hạn chế của nguồn vốn là một trong những nguyên nhân trì hoán khả năng đổi mới sản xuất, áp dụng khoa học công nghề, giống mới…, mặc dù trong khuôn khổ của dự án tín dùng cho người nghèo thuộc Chương trình xoá đói giảm nghèo, khả năng tiếp cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều, song do không có tài sản thế chấp, các hộ chỉ có thể vay với số vốn nhỏ

1.1.2.3 Trình độ học vấn

Hộ nông chiếm phần lớn những người có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc làm tốt, ổn định Mức thu nhập của hộ hầu như chỉ bảo đảm nhu cầu dinh dưỡng tối thiểu và do vậy không có điều kịên để nâng cao trình độ của mình trong tương lai để tạo ra thu nhập cao hơn trong tương lai

và cải thiện mức sống Trình độ học vấn thấp ảnh hưởng đến các quyết định

có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con cái không những của thế

hệ hiện tại mà cả thế hệ trong tương lai Đối với khu vực nông thôn ở các cấp học càng cao thì số lượng người đi học càng thấp, những người có trình độ, bằng cấp cao còn thấp nên việc tạo ra năng suất cây trồng vật nuôi còn hạn chế Học vấn là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quá trình CNH - HĐH đất nước và

Trang 23

thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức sống của người dân Trong những năm gần đây người có trình độ học vấn càng cao thì người đó có khả năng làm được nhiều công việc khó hơn vì vậy thu nhập thường là cao hơn, vì thế

xã hội rất tôn trọng người có học vấn cao

1.1.2.4 Quy mô hộ

Quy mô hộ là yếu tố quan trọng tác động tới thu nhập bình quân của các thành viên trong hộ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển từ mức khởi điểm thấp dựa chủ yếu vào nông nghiệp nên nó bị chi phối bởi sản xuất mang tính sử dụng nhiều lao động Khi hộ có quy mô lớn hơn sẽ thu được thu nhập bình quân trên một lao động cao hơn do các hộ này có thể khai thác được lợi thế kinh tế nhờ quy mô hộ lớn hơn, mặt khác, với những hộ sản xuất Nông nghiệp có quy mô hộ lớn năng suất lao động cận biên có thể giảm Quy mô hộ lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao nhưng đây cũng có thể là nguồn lao động tạo ra thu nhập cho hộ, cũng có thể hộ có qui mô lớn sẽ tạo ra được thu nhập lớn hơn so với hộ có qui mô hộ nhỏ hơn, ở khu vực nông thôn thì các thành viên trong hộ có thể sử dụng sức khoẻ của mình để làm những công việc giản đơn giúp đỡ gia đình tạo ra thu nhập

1.1.2.5 Giới tính của chủ hộ

Việt Nam là một trong những nước Châu Á còn tồn tại các phong tục

và nghi lễ truyền thống Tôn ti trật tự trong gia đình không thể bị lu mờ trong nhiều quyết định về kinh tế như con cái trong gia đình làm nghề gì, họ sống

và làm việc tại đâu, học ngành gì phụ thuộc vào quyết định của người chủ của gia đình Vì vậy các quyết định của chủ hộ là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới thu nhập của hộ Sự sáng suốt của các quyết định này lại phụ thuộc nhiều vào đặc điểm của chủ hộ

1.1.2.6 Một số yếu tố khác

- Chi phí cho đào tạo, nâng cao tay nghề: mọi nghề nghiệp bao giờ

cũng có một chi phí nhất định Có thể đây là hao mòn xe cộ tiền mua xăng,

Trang 24

tiền bồi dưỡng trong lao động Chi phí này nó phụ thuộc vào tần suất công việc của người lao động Nó quan hệ tỉ lệ thuận với thu nhập

- Vùng kinh tế: mỗi vùng kinh tế đều có đặc điểm địa lý, kinh tế riêng nên yếu tố vùng cũng là nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập trung bình của hộ

1.1.3 An ninh lương thực và mối quan hệ của thu nhập nông hộ và an ninh lương thực

1.1.3.1 Quan niệm về an ninh lương thực

An ninh lương thực là gì?

An ninh lương thực là khái niệm linh hoạt, được thể hiện khác nhau trong nhiều định nghĩa của các nghiên cứu và chính sách Ngay cả một thập kỷ trước thì cũng đã có đến khoảng 200 định nghĩa trong các bài viết được xuất bản

(Maxwell & Smith, 1992) Vì thế khái niệm này được diễn giải theo nhiều cách

khác nhau Maxwell (1996) cho rằng bất cứ khi nào quan niệm này được đề cập đến trong tiêu đề của một nghiên cứu thì nên đưa ra các định nghĩa rõ ràng hoặc ngầm định cho sát với thực tế An ninh lương thực là quan niệm chỉ mới xuất hiện vào giữa những năm 70 trong các thảo luận về tình hình lương thực thế giới

và là phản ứng trước cuộc khủng hoảng lương thực toàn cầu vào thời điểm đó Quan tâm ban đầu chủ yếu tập trung các vấn đề cung lương thực - đảm bảo nguồn cung cấp và ở một mức độ nào đó là ổn định giá cả của nguồn thực phẩm chủ yếu ở cấp độ quốc gia và quốc tế Mối quan ngại về cung của các tổ chức quốc tế bắt nguồn từ việc thay đổi tổ chức của nền kinh tế lương thực toàn cầu và điều này đã gây ra khủng hoảng Sau đó đã diễn ra các vòng đàm phán quốc

tế dẫn đến việc tổ chức Hội nghị lương thực thế giới năm 1974 và các hệ thống thể chế mới liên quan đến thông tin, nguồn lực để đảm bảo an toàn lương thực và các diễn đàn thảo luận chính sách

Là một trong những khái niệm ứng dụng trong chính sách công, quan niệm về an ninh lương thực tiếp tục được phát triển để phản ánh được độ phức

tạp của các vấn đề chính sách và kỹ thuật có liên quan (FAO, 2003) Hội nghị

Trang 25

thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1974 định nghĩa an ninh lương thực là:

“lúc nào cũng có đủ nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm cơ bản của thế giới để đảm bảo việc tiêu dùng lương thực, thực phẩm ngày một nhiều

hơn và để bù đắp được những biến động trong sản xuất và giá cả” (UN, 1975)

Năm 1983, FAO mở rộng quan niệm này để tính thêm cả việc đảm bảo cho những người dễ bị tổn thương tiếp cận được với các nguồn cung cấp sẵn

có, hàm ý rằng cần phải quan tâm đến sự cân bằng giữa cầu và cung trong phương trình an ninh lương thực: “đảm bảo tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực mà họ cần” Sau

đó, Báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) năm 1986 với tiêu đề “Đói nghèo” đã tập trung vào tính linh hoạt theo thời gian của mất an ninh lương thực Báo cáo này đã đưa ra sự phân biệt giữa mất an ninh lương thực kinh niên, gắn liền với các vấn đề về nghèo khổ lâu năm hoặc nghèo khổ cơ cấu và thu nhập thấp và mất an ninh lương thực đang chuyển đổi liên quan đến các giai đoạn khi thảm hoạ thiên nhiên, kinh tế sụp đổ hoặc xung đột gây ra các sức ép lớn; và điều này đã được chấp thuận rộng rãi Quan niệm về an ninh lương thực được cụ thể hoá hơn theo nghĩa: “Tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được với đủ lương thực, thực phẩm để đảm bảo một cuộc sống khoẻ mạnh và năng động.”

Đến giữa những năm 1990, an ninh lương thực được xem là mối quan ngại nghiêm trọng, trải nhiều cấp độ từ cấp cá nhân lên đến cấp toàn cầu Tuy nhiên, vấn đề “tiếp cận” trong an ninh lương thực hiện nay còn bao gồm cả vấn đề có đủ lương thực và điều này cho thấy người ta vẫn lo ngại về suy dinh dưỡng prôtêin Việc mở rộng quan niệm bao gồm các khía cạnh an toàn lương thực, cân bằng dinh dưỡng cũng cho thấy quan ngại về thành phần lương thực, thực phẩm gồm các điều kiện về dinh dưỡng vi mô và vĩ mô cần thiết cho một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh Người ta cũng khuyến cáo các hộ gia đình để đảm bảo cho con em mình có cân bằng dinh dưỡng và thực

Trang 26

phẩm, đặc biệt trong giai đoạn phát triển ban đầu Các tổ chức quốc tế liên quan đến các vấn đề về lương thực và y tế như Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Tổ chức y tế thế giới (WHO), Chương trình lương thực thế giới (WFP), Viện nghiên cứu và chính sách lương thực thế giới (IFPRI) và nhiều

tổ chức khác kêu gọi phát triển nguồn lương thực, thực phẩm cân bằng và đời sống khoẻ mạnh Người ta cũng quan tâm nhiều hơn đến sở thích đối với lương thực, thực phẩm theo truyền thống văn hoá hoặc xã hội Mức độ phức tạp và cụ thể theo từng hoàn cảnh của an ninh lương thực cho thấy rằng quan niệm này không còn đơn giản và tự nó không phải là mục đích mà nó là một loạt các hành động trung gian nhằm đạt được một đời sống năng động và khoẻ mạnh Báo cáo phát triển con người của UNDP năm 1994 cổ vũ cho quan niệm về an ninh con người, bao gồm một loạt khía cạnh trong đó có an ninh lương thực Quan niệm này cũng lien quan chặt chẽ đến quan điểm về quyền con người trong phát triển đã có ảnh hưởng đến đến các thảo luận về an ninh lương thực

Hội nghị lương thực thế giới năm 1996 sử dụng một khái niệm thậm chí còn phức tạp hơn: “an ninh lương thực ở các cấp độ cá nhân, gia đình, khu vực và toàn cầu (đạt được) khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng, để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn, nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh” (FAO, 1996)

Báo cáo về tình hình mất an ninh lương thực năm 2001 đã chỉnh sửa lại quan niệm này như sau: “An ninh lương thực là tình trạng khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ, an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu bữa ăn và sở thích đối với thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động

và khoẻ mạnh”

Đặc biệt, an ninh lương thực có thể được xem là một hiện tượng liên

Trang 27

quan đến các cá nhân Đây là tình trạng dinh dưỡng của các thành viên trong gia đình (mục tiêu cuối cùng) và rủi ro không đạt được tình trạng này thoả đáng hoặc tình trạng thoả đáng này bị suy yếu Rủi ro thứ hai phản ánh sự tổn thương của các cá nhân trong bối cảnh này Các tổn thương có thể xuất hiện như là các hiện tượng kinh niên hoặc tạm thời Người ta ít quan tâm đến tình trạng mất an ninh lương thực tạm thời và rủi ro khủng hoảng lương thực.Theo

WB năm 1986 “nguyên nhân chính của mất an ninh lương thực tạm thời là thay đổi hàng năm của giá nông sản quốc tế, nguồn ngoại tệ thu được, sản xuất lương thực trong nước và thu nhập của các hộ gia đình Các yếu tố này thường liên quan với nhau Khả năng của người dân sản xuất hoặc mua lương thực hoặc các nhu yếu phẩm khác tạm thời giảm sút sẽ làm suy yếu sự phát triển dài hạn và gây tổn thất về nguồn vốn con người mà phải mất nhiều năm mới phục hồi được (FAO, 2003)

Trong các định nghĩa về an ninh lương thực có ba biến số riêng biệt ảnh hưởng đến an ninh lương thực: sẵn có, tiếp cận được và sử dụng Các biến số này được định nghĩa trên thực tế như sau:

Sẵn có lương thực: đảm bảo có đủ khối lượng lương thực ở một mức

độ chất lượng phù hợp từ các nguồn sản xuất hoặc đầu vào khác ở trong nước

Tiếp cận lương thực: khía cạnh tiếp cận lương thực của an ninh lương

thực liên quan đến khả năng của các cá nhân tiếp cận được với nguồn tài nguyên và các tài sản sở hữu khác để có được một lượng lương thực thích hợp với chế độ ăn uống dinh dưỡng “Tài sản sở hữu” là một loạt hàng hoá mà một người có thể thiết lập được quyền kiểm soát đối với chúng trong bối cảnh luật pháp, chính trị, kinh tế và xã hội của cộng đồng nơi người đó đang sinh sống (bao gồm cả các quyền truyền thống như sử dụng các nguồn tài nguyên chung) Ở cấp độ quốc gia, tiếp cận đối với lương thực được tính dựa trên mức giá của lương thực nhập khẩu và tỷ lệ nguồn chi cho lương thực nhập khẩu so với nguồn thu được từ xuất khẩu lương thực

Trang 28

Ổn định lương thực: khía cạnh ổn định lương thực hàm ý một dân tộc

hoặc một hộ gia đình hoặc một cá nhân lúc nào cũng phải tiếp cận được với nguồn lương thực phù hợp Những người này không gặp phải rủi ro không tiếp cận được với lương thực do các cú sốc bất thường (như khủng hoảng khí hậu hoặc kinh tế) hoặc các hiện tượng chu kỳ (như mất an ninh lương thực theo mùa) Bên cạnh các cuộc tranh cãi về khả năng của môi trường có thể đảm bảo được nhu cầu lương thực toàn cầu thì cũng có các yếu tố mới tác động đến độ ổn định của nguồn cung lương thực, bao gồm:

• Thay đổi khí hậu và các biến động hàng năm và các tác động không thuận đối với ổn định sản lượng và tăng khả năng mất an ninh lương thực;

• Tình trạng suy thoái ở mức độ báo động về môi trường cũng như là tính

tự túc của hệ thống sinh thái và nông-sinh thái toàn cầu;

• Tác động của cải cách thương mại đối với giá cả và sản lượng (có thể

do thay đổi mùa vụ), đặc biệt là tác động tiêu cực đến an ninh lương thực ở nông thôn nếu như điều này làm giảm giá cả thực tế theo hướng bất lợi cho nông dân trong nước

Tiêu dùng lương thực: tiêu dùng lương thực thông qua các chế độ ăn

uống hợp lý, nước sạch, đảm bảo vệ sinh và y tế để đảm bảo dinh dưỡng khi tất cả các nhu cầu tâm sinh lý được đáp ứng Điều này khiến cho các yếu tố phi lương thực cũng có vai trò quan trọng đối với an ninh lương thực

Tóm lại, an ninh lương thực là khi tất cả mọi người lúc nào cũng tiếp cận được về mặt vật lý, xã hội và kinh tế đối với nguồn lương thực đầy đủ,

an toàn và đảm bảo dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu ăn uống và khẩu vị thức ăn nhằm đảm bảo một cuộc sống năng động và khoẻ mạnh Mặc dù trong nhiều năm an ninh lương thực được xem là vấn đề của một số nước đang phát triển song gần đây nó đã trở thành mối quan tâm toàn cầu Thay đổi khí hậu nhanh chóng, nguy cơ khủng hoảng nguồn nước và nhu cầu ngày càng lớn đối với nguồn thịt gia súc, gia cầm và năng lượng sinh học

Trang 29

đang tạo ra những bất ổn mới đối với đảm bảo nguồn lương thực cho nền kinh tế toàn cầu (AusAid, 2008)

1.1.3.2 Vấn đề an ninh lượng thực hiện nay

* Trên thế giới

Hạn hán, thiên tai, thời tiết bất thường là do hậu quả của biến đổi khí hậu toàn cầu đang de dọa an ninh lương thực toàn thế giới Giá lương thực, thực phẩm tăng cao nên an ninh lương thực ngày càng trở thành vấn đề nóng bỏng của nhiều quốc gia Một số nông phẩm thời gian gần đây tăng giá với tốc độ chóng mặt

Theo báo cáo của FAO công bố ngày 5-1 thì giá lương thực tăng cao kỷ lục trong tháng 12-2010 và có thể còn cao hơn nữa do biến đổi bất thường của khí hậu toàn cầu, chỉ số giá lương thực tính theo tháng, dựa trên giá một số hàng hóa như: lúa mì, ngô, gạo, các loại hạt, sản phẩm sữa, đường, thịt, cá trong tháng 12-2010 đã tăng 4,2% so với tháng 11, tăng lên 214,7 điểm, vượt mức 213,5 điểm vào tháng 6-2008, là mức cao nhất kể từ khi FAO thiết lập chỉ số này năm 1990

Trước đó, trong báo cáo “Triển vọng lương thực”, FAO cũng đưa ra nhận định, giá lương thực toàn cầu trong năm 2011 có thể tăng từ 10-20% do mất mùa và giảm sút các nguồn dự trữ toàn cầu Ngày 12-1, báo cáo của Bộ Nông nghiệp Mỹ cho biết, giá lúa mì năm 2010 đã tăng 47%, trong khi giá ngô tăng hơn 50% và đậu tương tăng 34%

Theo báo Wall Stree Journal, trong sáu tháng qua, giá đậu nành đã tăng 46%, lên mức 14 USD cho mỗi bushel (=35,24 lít); giá đường cao hơn 31%

so với 6 tháng trước, đứng ở mức 31xu Mỹ mỗi pound…

Sylvain Charlebois - Giáo sư về các chính sách và phân phối lương thực thuộc Đại học Guelph (Canada) cho biết, hiện nay giá ngô tăng 29%, giá lúa mì tăng 71%, giá đậu tương tăng 22%, giá nước cam tăng 17%, giá đường tăng 51%

Trang 30

Ngày 9-2, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đưa ra báo cáo sản lượng các nông phẩm điều chỉnh giảm so với trước đó khiến giá nông sản thế giới trong tuần biến động mạnh

Theo đánh giá của FAO, thời tiết biến động là nguyên nhân chính làm sản lượng lúa mì thế giới giảm mạnh trong năm 2010 như lũ lụt tại Australia

và Pakistan, hạn hán ở Argentina, thời tiết khô hạn gây cháy rừng ở Nga, sương giá phá hoại mùa màng ở châu Âu, Bắc Mỹ

Nguồn dự trữ và mục đích tiêu dùng biến đổi

Mặt khác còn do các quốc gia mua để dự trữ, và để sản xuất nhiên liệu sinh học ethanol Viện Nghiên cứu Trái Đất ở Washington DC cho biết, riêng tại Mỹ – nước xuất khẩu ngũ cốc hàng đầu thế giới, đã dành 30% số lượng ngô sản xuất đại trà để chế biến ethanol dùng chạy xe thay vì để ăn

Bulog, cơ quan thu mua của Indonesia được lệnh phải tăng dần lượng gạo nhập khẩu để bảo đảm dự trữ 2 triệu tấn gạo so với 1,5 triệu tấn hiện nay Các nhà kinh doanh gạo dự đoán, tăng cường dự trữ lúa, gạo là lựa chọn của nhiều quốc gia châu Á trước những mối quan ngại chung về tình hình lương thực toàn cầu

Ngày 9 - 2, chính quyền Indonesia đã quyết định tăng cường dự trữ gạo

từ 1,5 triệu tấn lên 2,0 triệu tấn trước sự lo ngại về giá lương thực tăng cao nguồn cung bị thu hẹp và lạm phát tăng lên Trong tháng 2, Trung Quốc cũng tăng giá mua lương thực tối thiểu để dự trữ

Đầu tháng 2, Chính phủ Ả rập Xê-út cũng quyết định tăng gấp đôi lượng dự trữ lúa mì từ mức 1,4 triệu tấn lên mức 2,52 triệu tấn trong bối cảnh giá lương thực toàn cầu tăng mạnh và dân số nước này cũng tăng nhanh Cũng theo báo cáo của USDA, ước tính lượng ngô trên thế giới trong vụ tính đến tháng 8 sẽ giảm 16%, xuống 122,5 triệu tấn Sản lượng ngô toàn cầu thấp chủ yếu do sự sụt giảm nguồn cung từ Mỹ, Argentina Trong khi đó, nhu cầu

về ngô không ngừng tăng cao

Trang 31

Mới đây Ấn Độ tuyên bố ngừng xuất khẩu ngô sang Việt Nam khiến Việt Nam có thể phải quay sang nhập từ các nhà cung ứng Nam Mỹ Theo USDA lượng dự trữ toàn cầu về lúa mì đến tháng 6 sẽ giảm xuống 177,77 triệu tấn, thấp hơn 0,1% so với dự báo tháng 1

Dân số tăng cao, diện tích trồng cây lương thực giảm

Theo các chuyên gia, nguyên nhân khiến giá lương thực tăng cao chủ yếu do mất cân đối cung - cầu, trong khi cầu có xu hướng tăng cao thì nguồn cung lại bị giảm mạnh trong những năm gần đây Cầu tăng cao trước hết do dân số thế giới tăng lên chóng mặt, mỗi năm tăng 80 triệu người

Cung giảm do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do diện tích sản xuất lương thực và lượng lương thực thế giới đang giảm mạnh So với năm

2009, diện tích đất trồng lúa năm 2010 chỉ còn 155,1 triệu ha, giảm 2,7 triệu

ha và sản lượng gạo đạt 442,6 triệu tấn, giảm 5,4 triệu tấn

Theo ông Matthew, Viện Chính sách Trái đất, Mỹ, sản lượng lương thực thế giới giảm còn do nguồn nước bên dưới tầng địa chất bị cạn kiệt vì nhiều khu rừng biến mất do nạn phá cây rừng bừa bãi, đất canh tác không còn

đủ màu mỡ để trồng trọt Thêm vào đó, khí hậu biến đổi vì địa cầu nóng ấm dần, băng tan làm nước biển dâng tràn gây hiện tượng nhiễm mặn trên đất trồng lúa tại châu Á mà đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam là một thí dụ điển hình

Hệ lụy từ mất an ninh lương thực

Theo số liệu do Liên hợp quốc công bố ngày 16-10-2010 trên thế giới

có khoảng 1 tỷ người thiếu ăn Còn theo FAO số người đói là 925 triệu, 2/3 số người đói tập trung ở bảy quốc gia là Bangladesh, Trung Quốc, Congo, Ethiopia, Ấn Độ, Indonesia và Pakistan Khu vực có số người đói nhiều nhất

là châu Á - Thái Bình Dương với 578 triệu người Tỷ lệ người đói cao nhất ở khu vực tiểu vùng Sahara châu Phi, chiếm 30% trong năm 2010 (239 triệu)

Trang 32

Cũng theo đánh giá của FAO, giá lương thực leo thang là thủ phạm gây nên nhiều cuộc khủng hoảng chính trị trên thế giới FAO cảnh báo rằng, sự tăng đột biến giá cả có thể là một mối đe dọa chính trị đối với an ninh lương thực cho người nghèo ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Theo cảnh báo đầu tháng 1 của Olivier de Schutter, chuyên gia Liên hợp quốc về lương thực, đã bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu của một cuộc khủng hoảng lương thực trên quy mô toàn cầu giống như năm 2008

Theo Olivier de Schutter, hiện nay có khoảng 80 quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạng thiếu lương thực Những khu vực bị đe dọa nhiều nhất là Bắc và Trung Phi, tiếp đó là châu Á như: Afghanistan, Mông

Cổ, Triều Tiên

Chủ tịch Ngân hàng thế giới (WB) Robert Zoellick khẳng định, sự nghèo đói đang tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn tại 37 quốc gia trên thế giới Quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất do giá lương thực leo thang là Ai Cập Làn sóng biểu tình chống tăng giá đã dẫn đến sự ra đi của Tổng thống Mubanrak sau 31 năm cầm quyền Tại Mozambique, sau khi chính phủ quyết định tăng giá bánh mì lên 30%, nhiên liệu lên 17%, cũng dẫn đến bạo động bùng nổ làm hàng trăm người bị thương và bị chết, hơn 400 người bị bắt giữ

Nhà kinh tế học Abdolreza Abbassian của FAO dự báo, trong tương lai gần có thể xảy ra nhiều vụ bạo động vì tăng giá do khan hiếm lương thực ở các nước kém phát triển, nhất là ở châu Phi và Trung Đông vốn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu lương thực, thực phẩm Mặt khác, tình trạng thiếu lương thực càng trở nên nghiêm trọng hơn đối với các quốc gia phải nhập nhẩu lương thực, nhưng lại thiếu ngoại tệ

Như vậy, có nhiều nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực, nhưng theo FAO thì biến đổi khí hậu là nguyên nhân chính làm sản lượng lương thực giảm và kéo theo các hệ lụy khác Vì thế, các nước cần có

Trang 33

giải pháp toàn diện để bảo đảm an ninh lương thực, trong đó xây dựng chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu cần được đặc biệt quan tâm

* Tại Việt Nam

Nước ta hiện có hơn 85 triệu dân nhưng dự báo đến năm 2020, dân số khoảng 100 triệu người Cùng với đó, những thách thức về biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, suy giảm diện tích đất trồng lúa đang đặt ra không ít thách thức cho Việt Nam trong vấn đề đảm bảo ANLT quốc gia Ở một nước nông nghiệp như Việt Nam, an ninh lương thực được coi là mục tiêu hàng đầu Kể

từ khi Việt Nam tién hành công cuộc cải cách nền kinh tế, nhờ việc phát triển đúng hướng các ngành kinh tế, trong đó đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và sản xuất lương thực- thực phẩm với mục tiêu đẩy lùi nạn đói nghèo, mưu sinh bền vững và nâng cao mức sống cho người dân An ninh lương thực và mưu sinh bền vững quốc gia đã được thiết lập và đạt được nhiều thành công Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Việt Nam đã tiến tới đứng hàng thứ hai trên Thế giới về xuất khẩu lúa gạo Sản lượng lương thực (lúa ngô) tăng theo từng năm, từ 30.307.5000 tấn/năm (1998) lên 39.322.9000 tấn/năm (2004)

Tuy nhiên, mục tiêu nâng cao khả năng tiếp cận anh ninh lương thực và mưu sinh bền vững cho mọi người, cho mọi đối tượng còn nhiều hạn chế Sức tiêu thụ sản phẩm của xã hội còn tăng chậm Đặc biệt, một bộ phận dân

cư các dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người thường xuyên bị đói nghèo uy hiếp, họ vẫn loay hoay với việc tìm kế sinh nhai để tồn tại chứ đừng nói đến việc làm giàu

Hiện trạng đất đai nhiều nơi bị thoái hoá và thu hẹp dần Cả dẻo đất miền Trung từ Quảng Bình đến Bình Thuận đang bị sa mạc hoá Đất ở đồng bằng và thành thị đang bị thu hẹp dần do quá trình công nghiệp hoá – đô thị hoá Đất ở miền núi lại càng khan hiếm do nạn chặt phá rừng bừa bãi làm đất đai bi suy thoái, môi trường bị ô nhiễm, nguồn nước bị cạn kiệt Quá trình

Trang 34

CNH - ĐTH, chính sách đất đai cùng với việc di dân tự do đang có diễn biến phức tạp, đặt ra những vấn đề nổi cộm, bức xúc

1.1.3.3 Mối quan hệ giữa thu nhập nông hộ và an ninh lương thực

Thu nhập nông hộ là tất cả giá trị gia tăng mà hộ nông dân sản xuất ra,

do đó Thu nhập chính là yếu tố đảm bảo an ninh lương thực của hộ nông dân Thu nhập là một thước đo mức độ đảm bảo an ninh lương thực

Theo khái niệm về an ninh lương thực, có rất nhiều chỉ tiêu để đánh giá về

an ninh lương thực nhưng với cá nhân hộ thì có thể nói Thu nhập là chỉ tiêu tổng hợp nhất phản ánh thực trạng an ninh lương thực theo khía cạnh cá nhân

Tuy nhiên, nếu lấy thu nhập làm chỉ tiêu đánh giá an ninh lương thực chúng ta sẽ gặp phải hạn chế như chỉ tiêu thu nhập thường bị ảnh hưởng bởi yếu tố giá LTTP, chính sách của nhà nước … Do đó, Khi đánh giá về an ninh lương thực bằng chỉ tiêu thu nhập cần tính đến yếu tố giá cả LTTP trong từng thời kỳ

Trên thế giới và Việt Nam hiện nay đã đưa chuẩn nghèo được tính bằng giá trị thu nhập để đánh giá mức độ đảm bảo an ninh lương thực cũng như các chỉ tiêu chất lượng cuộc sống khác

Chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 được xây dựng trên cơ sở quan trọng nhất là “mức chi tiêu của hộ gia đình” Trong đó, chi tiêu cho lương thưc thực phẩm (LTTP) đảm bảo năng lượng bình quân 2100 Kcalo/ngày /người được xem là vấn đề cốt lõi Giá của khối khối lượng hàng hóa LTTP

để đản bảo 2100 Kcalo được tính trên cơ sở giá trung bình của khoảng 40 mặt hàng LTTP thiết yếu của từng khu cực (Thành thị và nông thôn) Cơ cấu chỉ tiêu cho LTTP được xác định chiếm 60% trong tổng chỉ tiêu, còn lại 40% thuộc về chi tiêu phi lương thực thực phẩm Theo quyết định của Số 170/2005/QĐ-TTg ký ngày 08 Tháng 07 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ

về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 : Khu vực nông thôn: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000

Trang 35

đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Khu vực thành thị: những hộ có mức thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo Vừa qua Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg

về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 Quyết định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011

Theo Quyết định, hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4,8 triệu đồng/người/năm) trở xuống

Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6 triệu đồng/người/năm) trở xuống

Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Như vậy có thể hiểu theo khía cạnh thu nhập thì Chuẩn đảm bảo an ninh lương thực ở đây trước hết là đảm bảo đủ năng lượng bình quân

2.100Kcalo/ngày/người Và mức thu nhập đảm bảo an ninh lương thực là số tiền đảm bảo cho bình quân 1 người trên 1 số năng lượng bình quân trên

Tăng thu nhập cho người dân đã đảm bảo đủ cho bảo đảm an ninh lương thưc?

Đất đai và tài nguyên thiên nhiên là nguồn tư liệu sản xuất chủ yếu đối với người nghèo Tại Việt Nam, khoảng 70% người nghèo dựa vào sản xuất nông nghiệp vốn là nguồn thu nhập chính Đất đai được phân bố tương đối đồng đều ở Việt Nam, đây là một nhân tố quan trọng làm nên thành công của Việt Nam trong công cuộc xóa đói giảm nghèo trong những thập kỉ qua Tuy nhiên, trong những năm tới, với áp lực đô thị hóa, công nghiệp hóa và nền sản xuất theo định hướng thị trường, việc chuyển đổi đất sản xuất nông nghiệp sang các mục đích công nghiệp và thương mại sẽ không thể tránh khỏi Điều

Trang 36

này làm nảy sinh mối quan ngại về tác động tiêu cực đối với các hộ gia đình phải thay đổi chỗ ở do sinh kế bị rối loạn, mất an ninh lương thực và những đảo lộn về xã hội và văn hóa

Đất đai và tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt Việc khai thác ồ ạt các nguồn tài nguyên thiên nhiên hữu hạn đã làm thay đổi cấu trúc sinh kế của các cộng đồng ở nông thôn và vùng xa Điều này khiến các hộ gia đình bị lệ thuộc vào các công nghệ tốn kém Vậy lúc này bài toán tăng thu nhập hộ nông dân rất cần phải đi kèm với đảm bảo an ninh lương thực cho vùng, quốc gia và toàn cầu

Trước đây chúng ta đã có những lúc nôn nóng công nghiệp hóa nhằm mục tiêu chính tăng thu nhập người dân, có những địa phương nhận thức và hành động không đúng, tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và bảo đảm an ninh lương thực Có nơi, do nôn nóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đã dùng đất “bờ xôi ruộng mật” để triển khai các dự án công nghiệp, dịch vụ mà hiệu quả mang lại không tương xứng Dự báo, từ nay đến năm 2025, nước ta

có thể phải lấy 10 - 15% diện tích đất nông nghiệp và các loại đất khác để phục vụ phát triển công nghiệp

Sự lãng phí đất nông nghiệp còn thể hiện ở khâu quy hoạch: hai tỉnh liền kề đều mở khu công nghiệp trên đất lúa, thu hút các dự án có công nghệ giống nhau nên không thể lấp đầy; trong khi các địa phương khác còn rất nhiều đất đồi, đất bạc màu bỏ không Và hậu quả thì thu nhập người nông dân thì chưa thấy tăng, nhưng sản lượng lượng thực thì giảm, giá lương thực leo thang, người nghèo lúc này lại khốn đốn vì đói, vì thiếu lương thực

Vậy khi xem xét mối quan quan hệ giữa thu nhập hộ nông dân và vấn

đề an ninh lương thực cần phải được xem xét đầy đủ trên 2 mặt, một mặt tăng thu nhập cho người dân nhưng luôn phải đảm bảo yêu cầu về an ninh lương thực Ngược lại bài toán đảm bảo an ninh lương thực cho vùng và quốc gia

Trang 37

cần tính đến lợi ích của người nông dân được thể hiện thu nhập của họ được đảm bảo không bị mất lợi thế so với những ngành nghề khác

1.1.4 Cơ sở thực tiễn

1.1.4.1 Tổng quan nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng lương thực, thực phẩn (LTTP) là một trong những đề tài nghiên cứu quen thuộc trong nước và ngoài nước Một số nghiên cứu nước ngoài tiêu biểu như nghiên cứu “Thương mại hóa tiêu dùng lương thực tại vùng nông thôn Trung Quốc” Nghiên cứu đánh giá dân số nông thôn Trung Quốc giảm từ 80% xuống còn 60% tổng dân số trong vòng vài thập niên vừa qua; tiêu thụ lương thực tự sản xuất là khác biệt chính giữa tiêu dùng LTTP tại nông thôn và thành thị, đó là một tác nhân thường bị bỏ quên trong các nghiên cứu thị trường lương thực và thực phẩm tại Trung Quốc Các nghiên cứu về cầu các mặt hàng LTTP ở Trung Quốc sẽ rất hữu ích cho việc tham khảo cho nghiên cứu này

Những phát hiện chính của nghiên cứu bao gồm: Hộ nông thôn Trung Quốc giảm thiểu chi tiêu lương thực bằng việc phụ thuộc vào nguồn ngũ cốc và thực phẩm tự sản xuất Hộ nông thôn tiêu thụ khoảng 2.600 calo/ngày (người trưởng thành) với chi tiêu cho lương thực hàng năm là 107 USD Xu hướng thương mại hóa và sử dụng tiền mặt để mua LTTP của các hộ nông thôn tăng với tốc độ khoảng 7,4%/năm (giai đoạn 1994-2003) Tiêu dùng ngũ cốc và rau

tự sản xuất giảm xuống và việc sử dụng tiền mặt có được từ các hoạt động phi nông nghiệp để mua thực phẩm tăng nhanh hơn so với mức tăng của thu nhập Sử dụng thực phẩm thông qua kênh phân phối của thị trường cao hơn ở những hộ có thu nhập tương đối cao và các hộ nông dân sống tại các tỉnh miền tây, tuy nhiên thậm chí cả những hộ có thu nhập cao đó cũng tự sản xuất ngũ cốc và rau quả họ tiêu dùng Cơ cấu chi tiêu hộ nông thôn cho thực phẩm ở Trung Quốc giảm mạnh thay bằng tăng cơ cấu chi tiêu cho giáo dục, nhà ở, y tế, đi lại, liên lạc, và đồ dùng Tuy nhiên, tiêu dùng lương thực ngoài bữa ăn gia đình như nhà

Trang 38

hàng quán cà phê là một trong những nhóm có tốc độ tăng nhanh nhất, tăng gấp đôi giữa năm 1995 và năm 2001

1.1.4.2 Tình hình nghiên cứu cầu về LTTP trong nước

Các nghiên cứu trong nước liên quan đến nhu cầu sử dụng LTTP tiêu biểu như “Chi tiêu và tiêu dùng lương thực của hộ gia đình Việt Nam trong năm 2004 và 2006” đánh giá sự giống nhau và khác biệt về thói quen chi tiêu và tiêu dùng LTTP của hộ gia đình theo vùng nông thôn và thành thị, theo nhóm thu nhập và theo quy mô hộ gia đình Phát hiện chính trong nghiên cứu này chỉ ra rằng: chi tiêu trên đầu người cho thực phẩm và đồ uống tăng 29% tính trung bình cả nước, trong đó khu vực nông thôn tốc độ tăng ở mức 22%; chi tiêu trên đầu người tại nông thôn thấp hơn 40% so với chi tiêu tại đô thị; người dân nông thôn tiêu dùng gạo nhiều hơn (25%) nhưng tiêu thụ thịt thấp hơn (70%) so với người dân tại thành thị Tiêu thụ gạo trên đầu người/năm tại nông thôn cao hơn 35 kg so với tại thành thị Tại nông thôn, nhóm thu nhập nghèo nhất tiêu thụ ít hơn 12 kg gạo

so với nhóm không nghèo Ngược lại, tại thành thị, nhóm không nghèo tiêu thụ ít hơn 30 kg gạo so với nhóm nghèo nhất

Nghiên cứu cầu LTTP tại Việt Nam (Le Quang Canh) tiếp nối nhận định của FAO 1999: “Việt Nam có sự chuyển dịch cơ cấu khẩu phần ăn, giảm lượng cabon và gạo, tăng nguồn đạm, rau quả” Nghiên cứu sử dụng mô hình (AIDS) đánh giá tiêu thụ thực phẩm tại Việt Nam, tính toán độ co giãn về giá

và thu nhập đối với 3 nhóm thực phẩm: thực phẩm gạo, thực phẩm ngoài gạo, thịt/cá

Phát hiện chính của nghiên cứu cho thấy thực phẩm gạo, thịt và cá là hàng hóa thông thường cho tất cả nhóm thu nhập; thực phẩm gạo, thịt, cá là thực phẩm quan trọng và chủ yếu của người dân thu nhập thấp; đặc điểm người đứng đầu hộ gia đình như độ tuổi, giới tính và giáo dục ít ảnh hưởng tới tiêu dùng lương thực; sự khác biệt về địa lý mới có ảnh hưởng lớn tới chi tiêu

và tiêu dùng thực phẩm của hộ gia đình

Trang 39

Nghiên cứu về “Tiêu thụ LTTP và đồ uống tại Việt Nam giai đoạn 2005-2014 của MBI Theo dự báo MBI, tổng mức tiêu dùng thực phẩm ở các thị trường Việt Nam trong giai đoạn 2009-2014 sẽ tăng 67,3%, mức tiêu thụ bình quân đầu người ước đạt 4,5 triệu đồng vào năm 2014, nhưng tính theo GDP thì mức tiêu thụ thực phẩm có thể giảm nhẹ từ 15,5% (2009) xuống 14,8% (2014); Trong ngắn hạn, giá mặt hàng LTTP ở mức thấp, tuy nhiên mức giá thấp mà các nhà bán lẻ hiện nay áp dụng vẫn cao hơn rất nhiều so với khả năng tài chính của NTD trung bình ở nông thôn và họ chỉ đủ điều kiện tiêu thụ các loại thực phẩm và đồ uống thiết yếu

Việc mở rộng quy mô ngành công nghiệp bán lẻ đang diễn ra mạnh mẽ kéo theo mức tiêu thụ thực phẩm bình quân/người tăng cũng như cạnh tranh

về giá cả tại các đại lý Như vậy, tăng trưởng tiêu dùng thực phẩm phụ thuộc vào khả năng khai thác sức mua ở vùng nông thôn của chính phủ cũng như khả năng thu hút sự quan tâm của NTD từ các nhà bán lẻ hiện đại cộng với yếu tố quyết định sức mua là giá cả

Rủi ro đối với các nhà bán lẻ là, trong trường hợp các thành phố lớn có quá nhiều các cửa hàng bán lẻ, thì hiện nay có rất ít tỉnh thành khác có thể phát triển hệ thống bán lẻ hiện đại Ngay cả NTD ở nông thôn bị hấp dẫn bởi mức giá rẻ, tính tự cung tự cấp và thói quen mua hàng ở chợ vẫn chiếm ưu thế Tuy nhiên trong dài hạn, các nhà đầu tư nước ngoài vẫn đầu tư vào thị trường bán lẻ ở Việt Nam với niềm tin kinh tế phát triển sẽ kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên

Tham luận của TS Đặng Kim Sơn “Kích cầu nông nghiệp nông thôn và những tác động đối với tái cấu trúc nền kinh tế” nhìn nhận các gói kích cầu của chính phủ (lần 1: 6 tỷ USD năm 2008, lần 2: 8 tỷ USD tháng 5, 2009) trong đó khu vực nông nghiệp nông thôn được đặc biệt quan tâm do lo ngại xấu của suy thoái kinh tế thế giới đã làm giảm mạnh việc làm ở đô thị và lao động di cư trở lại nông thôn do mất việc hoặc thu nhập quá thấp Tác giả xác

Trang 40

định rõ mục đích của gói hỗ trợ phải là kích thích “tiêu dùng và đầu tư” của người dân nông thôn và các tổ chức kinh tế nông thôn nói chung chứ không chỉ là kích cầu tiêu dùng cho hàng nông sản và các sản phẩm khác do kinh tế nông thôn sản xuất Tác giả nhận định kích cầu nông nghiệp nông thôn là giải pháp hợp lý để kích thích tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và tái cấu trúc nền kinh tế trong dài hạn

Trong nước cũng có một số nghiên cứu và tham luận liên quan tới đề tài nghiên cứu nhưng các số liệu đưa ra của báo cáo trên không cập nhật và chưa dựa trên điều tra cầu tiêu thụ chính thức nào ở khu vực nông thôn

1.1.4.3 Chính sách đảm bảo an ninh lương thực và xóa đói giảm nghèo hiện nay ở Việt nam

Vấn đề an ninh lương thực (bao gồm lương thực, thực phẩm) được Đảng và Nhà nước luôn đặc biệt quan tâm, chỉ đạo, nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài, đã đạt được những thành tựu quan trọng, nổi bật là:

Sản lượng lương thực có hạt tăng bình quân 3,7%/năm trong giai đoạn

2001 - 2008, cao hơn khoảng 3 lần tốc độ gia tăng dân số trong cùng thời kỳ Sản xuất lúa gạo đã đảm bảo nhu cầu trong nước và xuất khẩu bình quân khoảng 4 - 5 triệu tấn gạo/năm Sản lượng thực phẩm từ rau màu, quả, sản phẩm chăn nuôi và thủy sản cũng gia tăng đáng kể

Hệ thống lưu thông lương thực đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân tiếp cận lương thực Thị trường nội địa chuyển dần sang cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước Tình trạng suy dinh dưỡng của người dân được cải thiện Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng đã giảm từ 25% vào năm 2005 đến năm 2008 còn 20%, đạt trước mục tiêu kế hoạch của năm 2010

Tuy đạt được các thành tựu trên, an ninh lương thực nước ta vẫn còn hạn chế, yếu kém là: sản xuất lương thực, thực phẩm chưa thực sự bền vững;

Ngày đăng: 26/03/2021, 10:55

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w