TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH ĐÀO THỊ BÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐÀO THỊ BÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế Nông nghiệp
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
ĐÀO THỊ BÌNH
PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN TẠI HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60.62.01.15
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Minh Yến
THÁI NGUYÊN - 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ trong quá trình thực hiện Luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013
Tác giả luận văn
Đào Thị Bình
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bản luận văn, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cơ quan, các cấp lãnh đạo và cá nhân Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn và kính trọng tới tất cả tập thể và cá nhân đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Trần Minh Yến người đã hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa sau đại học, Khoa Kinh tế, các đơn vị liên quan của Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên Tôi xin trân trọng cảm ơn các giáo sư, tiến sĩ của Trường Đại học Kinh tế
và Quản trị kinh doanh - những người đã trang bị cho tôi những kiến thức quý báu
để giúp tôi hoàn thành công trình này
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, UBND tỉnh Thái Nguyên, UBND huyện Phú Lương, Phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Phú Lương, Chi cục Thống kê huyện Phú Lương, các xã và các hộ nông dân huyện Phú Lương đã giúp tôi trong quá trình điều tra số liệu
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đồng nghiệp đã động viên chia
sẻ, giúp đỡ nhiệt tình và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận án
Thái Nguyên, tháng 08 năm 2013
Tác giả luận văn
Đào Thị Bình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Giới hạn của đề tài 3
5 Những đóng góp mới của Luận văn 4
6 Bố cục của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN 5
1.1 Cơ sở lý luận 5
1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân 5
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa 6
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 13
1.2 Cơ sở thực tiễn 13
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở một số nước trên thế giới 18
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở Việt Nam 18
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
2.1 Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu 26
2.2 Phương pháp nghiên cứu 26
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 27
Trang 62.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 30
2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của kinh tế hộ nông dân 31
2.3 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 32
2.3.1 Chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân 32
2.3.2 Nhóm các chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất của hộ nông dân 32
2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu phản ánh kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp 32
2.3.4 Các chỉ tiêu phản ánh phân bổ và hiệu quả sử dụng nguồn lực 32
2.3.5 Các chỉ tiêu phản ánh sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 33
2.3.6 Chỉ tiêu phản ánh thu nhập của hộ nông dân 33
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP CHO HỘ NÔNG DÂN Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN 34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 34
3.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội 36
3.1.3 Đánh giá chung về những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến sự phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 43
3.2 Thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Phú Lương 46
3.2.1 Một số kết quả phát triển nông nghiệp của huyện Phú Lương 46
3.2.2 Phát triển về lượng 47
3.2.3 Phát triển về chất 56
3.3 Những vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân của huyện Phú Lương 72
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM TĂNG THU NHẬP CHO NÔNG HỘ Ở HUYỆN PHÚ LƯƠNG - TỈNH THÁI NGUYÊN 77
4.1 Quan điểm, mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ ở huyện Phú Lương 77
Trang 74.1.1 Quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa hộ nông dân nhằm nâng cao thu
nhập cho hộ nông dân ở huyện Phú Lương 77
4.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế hàng hóa hộ nông dân nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Phú Lương 80
4.1.3 Định hướng phát triển kinh tế hàng hóa hộ nông dân nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Phú Lương 81
4.2 Một số giái pháp chủ yếu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân 87
4.2.1 Giải pháp về đẩy mạnh thực hiện chủ trương, chính sách liên quan đến quy hoạch và phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 87
4.2.2 Giải pháp về mở rộng thị trường nông sản phẩm 91
4.2.3 Giải pháp về quản lý và tổ chức sản xuất nông nghiệp 92
4.2.4 Nâng cao nhận thức của các chủ thể tham gia phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa 94
4.2.5 Giải pháp về ứng dụng khoa học và công nghệ 94
4.2.6 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 96
4.2.7 Giải pháp về vốn đầu tư 97
4.2.8 Giải pháp củng cố và phát triển quan hệ sản xuất 99
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Kiến nghị 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 106
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Tình hình đất đai của huyện Phú Lương 3 năm (2010 - 2012) 37 Bảng 3.2: Tình hình nhân khẩu của huyện Phú Lương 3 năm (2010 - 2012) 39 Bảng 3.3: Kết quả sản xuất các ngành kinh tế huyện Phú Lương giai đoạn
2010 - 2012 42 Bảng 3.4: Cơ cấu giá trị sản xuất ngành nông nghiệp huyện Phú Lương 2010 - 2012 47 Bảng 3.5: Diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện Phú Lương 2010 -2012 48 Bảng 3.6: Diện tích, năng suất, sản lượng cây lương thực có hạt của huyện
Phú Lương 2010 - 2012 49 Bảng 3.7: Diện tích, năng suất, sản lượng cây thực phẩm của huyện Phú
Lương 2010 - 2012 50 Bảng 3.8: Diện tích, năng suất, sản lượng cây công nghiệp hàng năm của
huyện Phú Lương 2010 - 2012 51 Bảng 3.9: Diện tích, sản lượng cây lâu năm của huyện Phú Lương 2010 - 2012 53 Bảng 3.10: Kết quả ngành chăn nuôi huyện Phú Lương giai đoạn 2010 - 2012 55 Bảng 3.11: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành trồng
trọt năm 2010 - 2012 58 Bảng 3.12: Hiệu quả sản xuất ngành trồng trọt ở các hộ điều tra năm 2012 59 Bảng 3.13: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành chăn
nuôi năm 2010 - 2012 61 Bảng 3.14: Hiệu quả sản xuất ngành chăn nuôi ở các hộ điều tra năm 2012 62 Bảng 3.15: Cơ cấu hộ nông dân theo quy mô hàng hóa 64 Bảng 3.16: Quy mô và cơ cấu giá trị sản phẩm hàng hóa bình quân ở hộ nông
dân điều tra năm 2012 65 Bảng 3.17: Mức thu nhập bình quân theo nhân khẩu và lao động của hộ nông
dân điều tra năm 2012 67 Bảng 3.18: Một số chỉ tiêu của trang trại huyện Phú Lương năm 2012 68 Bảng 3.19: Tình hình chế biến và tiêu thụ sản phẩm của trang trại 69
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết phải nghiên cứu
Hộ nông dân (nông hộ) là đơn vị kinh tế cơ bản ở nông thôn Ở Việt Nam, nông dân chiếm gần 70% tổng số dân sống ở nông thôn nhưng mức đóng góp của dân cư nông thôn chỉ bằng 1/4 so với dân cư thành thị trong tổng mức thu nhập quốc dân, tỷ lệ nghèo đói trong nông thôn chiếm 90% tổng số người nghèo đói của
cả nước Do đó, nâng cao thu nhập cho hộ nông dân là vấn đề quan trọng trong mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Nâng cao thu nhập cho hộ nông dân theo hướng phát triển kinh tế hàng hóa hiệu quả, bền vững là một hướng đi đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời
đó cũng là một xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập với kinh tế thế giới Trong báo cáo tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ định hướng phát triển ngành nông nghiệp là: “Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững, phát huy lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới Trên cơ sở tích tụ đất đai, đẩy mạnh cơ giới hóa, áp dụng công nghệ hiện đại (nhất là công nghệ sinh học); bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi; phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã nông nghiệp Phát triển nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao, thân thiện với môi trường, gắn sản xuất với chế biến và thị trường, mở rộng xuất khẩu” [Đảng cộng sản VN (2006), văn kiện Đại Hội Đảng Toàn quốc lần X]
Kinh tế nước ta trong 5 năm qua tăng trưởng khá nên đời sống nhân dân nói chung và cư dân nông thôn ngày càng được cải thiện, thu nhập ngày càng cao Thu nhập bình quân 1 nhân khẩu nông thôn năm 2010 tăng 112% so với năm 2006 Điều này đã tạo điều kiện cho cư dân nông thôn tăng thêm tích lũy Theo kết quả sơ bộ, vốn tích lũy bình quân 1 hộ nông thôn tại thời điểm 01/7/2011 đạt 16,8 triệu đồng tăng gấp 2,5 lần so với tích lũy tại thời điểm 1/7/2006 Khu vực trung du và miền núi phía Bắc (vốn tích lũy
là trên 9 triệu đồng /người, thấp nhất trong 6 khu vực cả nước
Vùng trung du miền núi phía bắc có 1,9 triệu hộ nông dân thu nhập bình quân trong vùng là 45 tr.đ/hộ tức mỗi nhân khẩu chỉ đạt 904.700 đồng/người/tháng Đây là mức thu nhập thấp nhất trong 7 vùng kinh tế cả nước Muốn nâng cao thu nhập nông hộ cần phải phát triển nông nghiệp bằng mọi cách nâng cao giá trị thu
Trang 11hoạch và thu nhập ròng trên một ha đất nông nghiệp lên gấp nhiều lần Nhưng thực hiện điều này như thế nào vẫn là câu hỏi quan trọng cần được giải đáp? Để góp phần làm sáng tỏ vấn đề trên, chúng tôi nghiên cứu thực tế tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên Nơi đây có vị trí thuận lợi lớn nhất để kinh tế huyện phát triển liên vùng vì nằm trên tuyến quốc lộ III theo trục kinh tế Hà Nội - Thái Nguyên - Cao Bằng Đặc biệt những năm gần đây nhiều cơ chế chính sách được mở rộng, nhiều chương trình dự án được triển khai trên địa bàn huyện như: Quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi của huyện Phú Lương đến năm 2020; dự án phát triển vùng rau an toàn quy mô 65 ha năm 2015; dự án phát triển các vùng cây
ăn quả kết hợp, cây nguyên liệu giấy, trồng cây nhân dân tại các xã trong địa bàn huyện, dự án chăn nuôi dê tại các xã vùng Tây bắc của huyện; dự án phát triển đàn lợn hướng nạc; dự án xây dựng nhà máy chế biến gỗ rừng trồng; dự án kiên cố hóa kênh mương… Tuy nhiên, trong thực tế thu nhập của hộ gia đình vẫn còn thấp, tỷ lệ
hộ nghèo và tỷ lệ thất nghiệp ở đây vẫn cao Do vậy, vấn đề cần phải quan tâm là: Thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân huyện Phú Lương trong những năm qua như thế nào? Những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó là gì? Giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nâng cao thu nhập đối với các hộ nông dân sẽ được giải quyết như thế nào? Để trả lời những câu hỏi
nghiên cứu này, tôi đã chọn đề tài “Phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân tại huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên: Thực trạng
và giải pháp” làm luận văn của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản xuất hàng hóa nông nghiệp và thu nhập của hộ nông dân ở huyện Phú Lương (tỉnh Thái Nguyên) để tìm ra những yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và thu nhập của hộ, từ đó đề xuất giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa tăng thu nhập cho hộ nông dân nhằm nâng cao mức sống của nông dân huyện Phú Lương
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Góp phần hệ thống hóa và làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
Trang 12- Đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa ở huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu có tính khả thi nhằm phát triển kinh tế hàng hóa hộ nông dân theo hướng bền vững nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
3 Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề về sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên và kết quả, tình hình sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, các trang trại
- Những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn liên quan đến sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển kinh tế; vai trò tác động của quản lý nhà nước trong tổ chức sản xuất, cơ chế chính sách và quản lý điều hành, vận dụng các cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
4 Giới hạn của đề tài
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và thu nhập của hộ nông dân, những yếu tố ảnh hưởng tới phát triển kinh tế hàng hóa Các quan điểm chủ trương chính sách của Nhà nước nhằm thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế hàng hóa nông nghiệp và tăng thu nhập cho nông hộ; đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm tăng thu nhập cho nông hộ
- Về không gian: Việc nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi 3 xã: xã Ôn Lương, Vô Tranh, Cổ Lũng thuộc huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
- Về thời gian: tìm hiểu thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập của hộ nông dân huyện Phú Lương trong những năm từ 2010 đến nay
- Mức độ nghiên cứu: Đề tài đi sâu nghiên cứu thực trạng phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng sản xuát hàng hóa; đưa ra các giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ trên địa bàn huyện Phú Lương - tỉnh
Trang 135 Những đóng góp mới của Luận văn
- Khảo cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và của một số địa phương về thu nhập và nâng cao thu nhập của người nông dân
- Phân tích thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa trên địa bàn huyện Phú Lương
- tỉnh Thái Nguyên Đánh giá những kết quả đạt được và những điểm còn hạn chế trong việc phát triển kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm góp phần nâng cao thu nhập cho hộ nông dân trên địa bàn
6 Bố cục của luận văn
Kết cấu luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm tăng thu nhập cho nông hộ ở huyện Phú Lương - tỉnh Thái Nguyên
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HÀNG HÓA NHẰM NÂNG CAO THU NHẬP
CHO HỘ NÔNG DÂN 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân
Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động trong nông hộ và ngoài nông hộ Thu từ sản xuất trong nông hộ bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ bao gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu…
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm
vi một vùng, một nước Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực của đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển
Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng Kinh tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp
Theo quan niệm của Frank Ellis (1988): "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường"
Trang 15Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau:
+ Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc
và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá
+ Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng Người nông dân phấn khởi trong sản xuất Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ
+ Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác
+ Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại
Trước thực tiễn phong phú của sản xuất hiện nay, kinh tế hộ nông dân đang được nghiên cứu để định hướng phát triển Vấn đề này sẽ còn gây nhiều tranh luận
về mặt lý luận và thực tiễn ở nước ta trong nhiều năm tới
1.1.2 Phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hóa
1.1.2.1 Một số khái niệm
a Khái niệm hàng hóa
Hàng hóa là một dạng vật chất được đem ra trao đổi Hàng hóa là sản phẩm của lao động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người thông qua trao đổi là mua bán Hàng hóa có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng
Từ khái niệm đó ta thấy một sản phẩm sản xuất ra được đem ra trao đổi mới được gọi là hàng hóa; song trao đổi được thì sản phẩm đó đã có một giá trị nhất định
và sản phẩm đó đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng
Trang 16Như vậy sản phẩm hàng hóa trên thị trường chịu sự chi phối của 2 quy luật: Quy luật cung cầu và quy luật cạnh tranh Nếu sản phẩm cung vượt cầu thì sản phẩm
đó hoặc là thừa hoặc phải chịu bán với giá thấp, chịu thua lỗ Ở khía cạnh khác, cùng một loại sản phẩm lưu thông trên thị trường nhưng sản phẩm có chất lượng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng, có giá cả hợp lý hơn thì sản phẩm đó được tiêu thụ dễ dàng Sản phẩm kém chất lượng, giá cả cao, cung cấp không ổn định thì sản phẩm đó bị thừa ế, thua lỗ, không đủ sức cạnh tranh trên thị trường hàng hóa
Sản xuất hàng hóa có đặc trưng và ưu thế sau:
+ Do mục đích của sản xuất hàng hóa không phải để thỏa mãn nhu cầu của người sản xuất như trong kinh tế tự nhiên mà để thỏa mãn nhu cầu của người khác, của thị trường Sự gia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển
+ Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hóa phải năng động trong sản xuất kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa để sản xuất để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được hàng hóa và thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Cạnh tranh đã thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển mạnh mẽ
+ Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất mở cửa các quan hệ hàng hóa tiền tệ làm cho giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các địa phương trong nước và
Trang 17quốc tế ngày càng phát triển Từ đó tạo điều kiện ngày càng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân
Kinh tế hàng hóa ra đời và tồn tại nhiều hình thái kinh tế xã hội gắn liền với 2 điều kiện: sư phân công lao động xã hội và các hình thức sở hữu Phân công lao động
xã hội không mất đi mà ngày càng phát triển về chiều rộng lẫn chiều sâu Hình thức
sở hữu cũng được thay đổi để phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất
Sự chuyên môn hóa và phân công hợp tác quốc tế đã trở thành một yêu cầu tất yếu ngay cả trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp Ở nước ta kinh tế hàng hóa đã
ra đời nhưng đang trong dạng sản xuất hàng hóa nhỏ và đang từng bước thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển theo chiến lược kinh tế mở: Đưa nhanh cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại làm cho trình độ xã hội hóa sản xuất ngày càng được mở rộng Sản xuất hàng hóa không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế kỹ thuật mà
đã tính đến khả năng liên kết quốc tế Chính sự giao lưu và hợp tác quốc tế đã làm cho nền kinh tế hàng hóa nước ta có những bước phát triển mới
* Phân loại sản xuất hàng hóa
+ Sản xuất hàng hóa đơn giản là quá trình sản xuất hàng hóa ở trình độ thấp
- Sản phẩm được gọi là hàng hóa chỉ là ngẫu nhiên
- Trình độ của kỹ thuật sản xuất lạc hậu, phân công lao động thấp
- SXHH giản đơn được tiến hành bởi nông dân sản xuất nhỏ, thủ công cá thể + SXHH lớn là hình thức sx ở trình độ cao, thể hiện múc đích của người sản xuất
- Sản phẩm trở thành hàng hóa trước khi sản xuất
-Trình độ kỹ thuật, trình độ phân công lđ cao trong sxhh lớn cao hơn
c Phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Kết hợp những khái niệm riêng biệt trên, ta có thể hiểu phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa là quá trình thay đổi nền nông nghiệp ở giai đoạn này
có số lượng và chất lượng cao hơn giai đoạn trước, theo hướng thỏa mãn nhu cầu của thị trường và người tiêu dùng, trên cơ sở cải tiến và áp dụng các kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất trong đó có chuyên môn hóa cây con, nhằm tiêu thụ được nông sản ngày càng nhiều và tạo ra nhiều lợi nhuận hơn cho người sản xuất, tiến tới nền nông nghiệp hiện đại, đa dạng và bền vững trong tương lai
Trang 18* Chuyên môn hóa cây con có lợi thế
Xuất phát từ đặc điểm của nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa là đa dạng về tự nhiên và sinh học, để thúc đấy kinh tế nong nghiệp hàng hóa phát triển, tăng khối lượng nông lâm hàng hóa, điều uqan trọng là phải lựa chọn và phân bố chuyên môn hóa tập đoàn cây con thích hợp cho từng vùng theo hướng cây con có lợi thế
+ Cây con được lựa chọn phải thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu và môi trường, với khả năng canh tác của từng vùng, tiểu vùng, từng hộ gia đình về khả năng đầu tư và trình độ sản xuất, phát huy khai thác nội lực, tranh thủ ngoại lực
+ Cây con được lựa chọn phải có khả năng phát triển tập trung, quy mô lớn
để tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa lớn phục vụ nhu cầu tiêu dùng của thị trường hay nguyên liệu cho công nghiệp chế biến trong vùng hoặc liên vùng, trong huyện và liên huyện một cách ổn định
+ Cây con được lựa chọn trước mắt lợi dụng những cơ sở hạ tầng sẵn có như
cơ sở chế biến, đường giao thông, đường điện để giảm chi phí sản xuất và tiêu thụ nhưng về lâu dài phải tiếp thu được kỹ thuật mới và cơ sở hạ tầng mới, nguồn nhân lực mới để tăng được năng lực cạnh tranh trên thị trường
* Phát triển kinh tế sản xuất nông nghiệp hàng hóa bền vững là một đặc trưng cơ bản trong cơ chế thị trường hàng hóa
Nền sản xuất nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững phải dựa trên mấy tiêu chí: + Bền vững về mặt sản xuất: Sản phẩm được tạo ra không những phải khai thác được lợi thế tự nhiên (đất đai, khí hậu, thời tiết ) lợi thế về mặt kinh tế (lao động, vốn, trình độ sản xuất cơ sở hạ tầng hiện có ), về mặt xã hội và môi trường (tạo ra được sự liên kết trong nông thôn, xây dựng nông thôn mới và cải tạo được môi trường )
+ Bền vững về thị trường tiêu thụ: Sản phẩm sản xuất ra đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của thị trường trong nước và xuất khẩu về khối lượng, chất lượng và giá cả có tính cạnh tranh cao Có thị trường tiêu thụ ổn định và tạo khả năng mở rộng thị trường mới Thị trường ở đây được hiểu là thị trường tiêu dùng sản phẩm cùng thị trường nguyên liệu sản phẩm cho công nghiệp chế biến
+ Bền vững về môi trường kinh tế xã hội nông thôn: sản xuất sản phẩm hàng hóa (sản phẩm chuyên môn hóa) phải gắn với sự phát triển sản phẩm đa dạng, đáp
Trang 19ứng nhu cầu tiêu dùng tại chỗ và sử dung lao động, tài nguyên tại chỗ, phải là sản phẩm sạch, không gây ô nhiễm môi trường
+ Gắn được sản xuất, chế biến với môi sinh môi trường nông thôn mới, tạo điều kiện xây dựng một cơ cấu kinh tế mới phù hợp, bền vững: gắn được sản xuất với chế biến để vừa sử dụng được nguyên liệu tại chỗ, giảm được chi phí vận chuyển, thu hút được lao động tại chỗ, tạo thêm được việc làm Đa dạng hóa sản phẩm nhằm sử dụng tiềm năng đa dạng của điều kiện tự nhiên, đất đai và lao động của từng địa phương, tăng thu nhập cho hộ gia đình, tạo điều kiện để sản phẩm hàng hóa phát triển thuận lợi, hiệu quả
* Nguyên tắc phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa bền vững
+ Đây là quá trình từ một nền nông nghiệp truyền thống, phấn tán, lạc hậu, cơ
sở hạ tầng thấp kém lên một nền sản xuất nông nghiệp hiện đại một nền kinh tế mở, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới
+ Ở một nền sản xuất nông nghiệp như nước ta sản xuất hàng hóa phải đi từng bước vững chắc, không chủ quan nóng vội, duy ý chí nhưng không thể ngồi chờ, phải tạo ra thế và lực để phát triển
+ Đi từng bước vững chắc, trước hết phải giải quyết tốt nhu cầu tiêu dùng tại chỗ bằng cách đa dạng hóa sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm Phát huy nội lực của mình bằng cách thâm canh sản xuất, bằng các biện pháp kỹ thuật tiên tiến tăng nhanh sản phẩm vừa đáp ứng tiêu dùng vừa có sản phẩm trao đổi Khi đã tạo được thế đứng vươn lên làm giàu, lựa chọn sản phẩm vừa có nhu cầu trên thị trường vừa có lợi thế của địa phương để sản xuất hàng hóa Khi đã có hàng hóa, có chỗ đứng của hàng hóa rồi mở rộng sản xuất, phát huy cao lợi thế từng bước đi vào chuyên môn hóa, tranh thủ ngoại lực để phát triển Đó là bước đi của một nền nông nghiệp hàng hóa phát triển bền vững
+ Giai đoạn nông nghiệp sản xuất hàng hóa bền vững Đặc trưng của nó là nền nông nghiệp được thương mại hóa và chuyên môn hóa cao, khối lượng hàng hóa nhiều và chủng loại phong phú, có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cho phép hình thành và phát triển các vùng cây con chuyên môn hóa và thâm canh với quy mô lớn,
cơ cấu sản xuất hợp lý, khai thác tối đa thế mạnh sản xuất nông nghiệp từng vùng,
Trang 20từng địa phương; thị trường mở rộng cả trong và ngoài nước Mục đích của sản xuất nông nghiệp hàng hóa là tối đa hóa lợi nhuận, sản phẩm trở thành hàng hóa đã được xác định từ trước khi quá trình sản xuất diễn ra Do đó, sản xuất cái gì và sản phẩm như thế nào không phải xuất phát từ nhu cầu của người sản xuất mà xuất phát từ nhu cầu người mua, của thị trường Thời kỳ này được tự do thương mại hóa nên con người sản xuất tìm mọi cách đưa tiến bộ khoa học công nghệ vào công nghiệp hóa hiện đại hóa sản xuất nhằm làm tăng năng suất lao động, giảm giá thành sản phẩm
để tối đa hóa lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm trên thị trường
+ Vai trò của Nhà nước ở thời kỳ này chủ yếu là thiết lập hệ thống pháp luật, chính sách về thị trường, đào tạo cán bộ, cung cấp hàng hóa công cộng, tổ chức hệ thống dự báo, thông tin cho các cơ sở sản xuất, tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh nông nghiệp
1.1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Phát triển nông nghiệp hàng hóa phụ thuộc vào các yếu tố sau:
Thứ nhất, nhóm nhân tố về thể chế chính trị, chủ trương, chính sách của
Đảng Việc nghiên cứu để thực thi một hệ thống thể chế pháp lý và chính sách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu Vì có phát huy được lợi thế so sánh nhằm làm tăng các loại sản phẩm, giá trị hàng hóa sản xuất nông nghiệp, thỏa mãn ngày càng cao về nhu cầu nông sản cho sản xuất, đời sống và xuất khẩu, góp phần thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa
+ Chính sách kinh tế nhiều thành phần: Trong nông nghiệp, nông thôn hiện nay nhiều thành phần kinh tế có thể tham gia như: Kinh tế quốc doanh, kinh tế hợp tác, kinh tế nông dân, kinh tế trang trại, kinh tế tư nhân Việc quy định vị trí vai trò của các nền thành phần kinh tế trong nền kinh tế là quan trọng nhằm đảm bảo tính
ổn định của sản xuất
+ Chính sách đầu tư và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào nông nghiệp Đầu tư trước hết vào việc xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng như hệ thống điện, đường giao
Trang 21thông và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa
+ Chính sách giá cả, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp: Khi cần thiết Nhà nước có những chính sách tác động đến giá cả, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể và hỗ trợ cho các chủ thể một phần khi gặp khó khăn trong sản xuất
+ Chính sách kinh tế vĩ mô có ý nghĩa tạo ra môi trường kinh doanh để hình thành nông nghiệp hàng hóa Vì thế, nếu chính sách đúng đắn, thích hợp nó sẽ phát huy được tính năng động của các chủ thể sản xuất kinh doanh, khai thác tốt nhất mọi tiềm năng thế mạnh của đất nước, thúc đấy phát triển nông nghiệp hàng hóa và ngược lại
+ Phát triển khoa học công nghệ, cung cấp dịch vụ thông tin, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng (hệ thống đường giao thông, điện, thủy lợi, hệ thống thông tin liên lạc ), cung cấp vốn, tín dụng những vấn đề này thể hiện sự can thiệp và trợ giúp của Nhà nước có vai trò hết sức quan trọng và là nhân tố không thể thiếu được trong phát triển nông nghiệp hàng hóa
Thứ hai, bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, thị trường càng mở cửa tạo ra cơ
hội và thách thức cho phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa Đây là một tất yếu và phải đảm bảo thõa mãn các yêu cầu trong hội nhập WTO
Thứ ba, nhu cầu về thị trường và hệ thống thị trường Điều kiện cơ bản để
các chủ thể kinh thế trong nông nghiệp tiến hành hoạt động kinh doanh của mình là phải xác định được thị trường đầu ra, tìm kiếm được khách hàng và lựa chọn được phương thức tiêu thụ sản phẩm, xây dựng được hệ thống thị trường nhằm mục đích lâu dài và ổn định
Thứ tư, trình độ nền sản xuất, mức độ công nghiệp hóa của nền kinh tế nói
chung Nền sản xuất và mức độ công nghiệp hóa nền kinh tế nói chung càng cao thì sản xuất theo hướng hàng hóa càng phát triển Quy mô sản xuất nông nghiệp càng lớn cũng thể hiện việc chuyên môn hóa và tập trung hóa trong sản xuất theo hướng hàng hóa càng lớn và được chú trọng
Thứ năm, trình độ nhận thức và năng lực tư duy của người dân và cán bộ
thực hiện sản xuất hàng hóa Người dân không có kiến thức, tư duy về sản xuất
Trang 22hàng hóa sẽ khó thực hiện tốt vai trò của mình Các nhà khoa học không hiểu biết
về các chủ trương, chính sách về SXNN theo hướng, không có năng lực chuyên môn sẽ không đảm nhiệm được vai trò cầu nối khoa học kỹ thuật tới người dân Bản thân các doanh nghiệp không biết về tầm quan trọng của mình trong khâu tiêu thụ, không biết về các chính sách ưu đãi sẽ không tích cực tham gia Trình độ và tư duy
về SXNN theo hướng hàng hóa tốt sẽ nâng cao hiệu quả SXNN
Thứ sáu, nhóm nhân tố thuộc về thị trường đầu vào, bao gốm đất, lao động,
đặc tính của sinh vật, trình độ và áp dụng khoa học công nghệ, vốn sản xuất
Thứ bảy, nhân tố về tổ chức sản xuất Việc tổ chức sản xuất như thế nào và
quy định quy trình sản xuất có vai trò quyết định sự thành công hay thất bại trong cả quá trình cho ra sản phẩm Đây là yếu tố kết hợp tổng hợp các điều kiện thuận lợi về nhiều mặt để giúp sản phẩm hàng hóa có chỗ đứng trên thị trường và đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật
Thứ tám, nhóm nhân tố thuộc về thị trường marketing và đầu ra Marketing
bao gồm các hoạt động chủ yếu sau: thu gom, chế biến, phân phối, đóng gói, vận chuyển, bảo quản, ngừa rủi ro, bán hàng và các kênh tiêu thụ Các hoạt động này hoạt động có hiệu quả đảm bảo hàng hóa nông sản có giá trị Thị trường đầu ra tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp rất đa dạng và phong phú, đó có thể là doanh nghiệp công nghiệp, các doanh nghiệp thương mại, và những người tiêu dùng, nông lâm sản thông qua các chợ nông thôn các đại lý tiêu thụ, các cơ sở chế biến công nghiệp tiêu thụ ở nước ngoài thông qua các nhà xuất khẩu, các hợp đồng kinh tế, khả năng khai thác và
mở rộng thị trường của các cơ sở kinh doanh nông nghiệp là nhân tố hết sức quan trọng quyết định quy mô và trình độ phát triển nông nghiệp hàng hóa
Tóm lại, các nhân tố nêu trên có mối quan hệ cùng thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển bền vững, trong mỗi nhóm nhân tố đều có mặt tích cực riêng song nếu không giải quyết đồng bộ thì sản xuất hàng hóa hoặc không phát triển hoặc phát triển không bền vững
Trang 23Trên cả phương diện lý luận và thực tiễn đều cho thấy, không có một công thức phát triển chung cho quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đối với tất cả các nước Mỗi nước có cách đi riêng, tùy theo những đặc điểm, điều kiện cụ thể của mình, dưới đây là kinh nghiệm phát triển nông nghiệp của một số nước ở Châu Á:
1.2.1.1 Phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Trung Quốc
Trung Quốc là nước có nền nông nghiệp lớn và lâu đời nhất thế giới, đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền nông nghiệp thế giới Do đó, nền nông nghiệp Trung Quốc đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thâm canh cổ truyền với một hệ thống công cụ sản xuất thủ công phong phú, đa dạng, tận dụng nguồn lao động dồi dào ở nông thôn, bảo đảm sản xuất nông nghiệp tự túc, tự cấp có hiệu quả cao Kể
từ khi tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa đến nay, nền nông nghiệp Trung Quốc
đã có nhiều thay đổi, phát triển theo hướng hiện đại hóa và bền vững Kinh tế nông nghiệp Trung Quốc đã có sự chuyển dịch cơ cấu tích cực nhằm tạo ra năng suất cây trồng, vật nuôi cũng như hiệu quả lao động cao, sản xuất nhiều nông sản hàng hóa Nông nghiệp, nông thôn Trung Quốc đã có những bước thay đổi to lớn và đạt được những thành tựu đáng kể, đời sống nông dân được cải thiện từng bước, một bộ phận dân cư đã có đời sống khá giả
Hiện nay, nông nghiệp vẫn đóng một vai trò hết sức quan trọng và đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Trung Quốc Tổng kết kinh nghiệm 20 năm cải cách và phát triển kinh tế nông thôn, Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ rõ:
"Không có sự ổn định của nông thôn sẽ không có sự ổn định của cả nước, không có
sự sung túc của nông dân sẽ không có sự sung túc của nhân dân cả nước, không có hiện đại hóa nông nghiệp sẽ không có hiện đại hóa của toàn bộ nền kinh tế quốc dân" Đảng Cộng sản Trung Quốc khẳng định rằng, hiện nay và trong một thời gian dài nữa, nông nghiệp Trung Quốc vẫn giữ vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển kinh tế; hiện đại hóa nông nghiệp là một bộ phận trọng yếu trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Quan điểm trên xuất phát từ thực tế là ở Trung Quốc, nông nghiệp có vai trò mà không một ngành kinh tế nào có thể thay thế được Tuy nhiên, trên thực tế, nông nghiệp Trung Quốc vẫn chưa đạt tới trình độ hiện đại hóa và bảo đảm sự phát triển bền vững Vì vậy, hiện đại hóa nông nghiệp nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển trở thành đòi hỏi cấp bách hơn bao giờ hết Trong những
Trang 24năm gần đây, Trung Quốc đã ban hành một loạt chính sách có lợi cho việc giải quyết vấn đề "tam nông" như: thực hiện xóa bỏ thuế nông nghiệp và phụ thu thuế nông nghiệp; trợ cấp cho nông dân sản xuất lương thực; thực hiện chế độ khám chữa bệnh loại hình mới trong cả nước, trong đó có việc giải quyết khám chữa bệnh cho nông dân
Qua hơn 20 năm cải cách nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững, Trung Quốc đã thu được những bài học kinh nghiệm cả về lý luận và thực tiễn Đó là: Bảo đảm đầy đủ quyền tự chủ, phát huy tính tích cực của nông dân; phát triển nhiều loại hình sở hữu kinh tế, trong đó công hữu là chủ thể, thực hiện sở hữu tập thể đối với ruộng đất kinh doanh khoán gia đình, tách quyền sử dụng với quyền sở hữu; cải cách theo hướng thị trường, tạo ra sức sống mới cho kinh tế nông thôn; xây dựng địa vị chủ thể của trang trại trong kinh doanh tự chủ của các nông hộ, khuyến khích nông dân phát triển sản xuất hàng hóa hướng về thị trường; tôn trọng tinh thần sáng tạo của nông dân, thúc đẩy sự nghiệp cải cách, khoán chế độ trách nhiệm đến hộ gia đình và phát triển các xí nghiệp hương trấn; kiên trì đường lối căn bản “từ quần chúng mà ra, đi vào quần chúng"; coi trọng cao độ nông nghiệp, kết hợp cải cách nông thôn và cải cách thành thị
Trên cơ sở phát triển nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa mà thu nhập của người nông dân Trung Quốc được tăng lên đáng kể từ năm 1978 đến nay: năm
1978 thu nhập thuần túy bình quân mỗi nông dân Trung Quốc là 134 nhân dân tệ (NDT), năm 1990 đạt 630 NDT, năm 2010 đạt 5.919 nhân dân tệ (tương đương 898 USD) Năm 2010 là năm đầu tiên mà thu nhập của người dân nông thôn Trung Quốc tăng mạnh hơn thu nhập của người thành thị kể từ năm 1997 tới nay Điều này
đã giúp thu hẹp khoảng cách giữa thu nhập của người dân nông thôn và thu nhập của người dân thành thị một cách đáng kể
1.2.1.2 Thái Lan với chiến lược xây dựng nền nông nghiệp chất lượng cao, sức cạnh tranh mạnh
Thái Lan là nước có nền nông nghiệp chiếm địa vị chi phối, dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước Nông nghiệp Thái Lan trong hàng thập kỷ
Trang 25lượng cuộc sống cho người dân Chính phủ Thái Lan xác định hướng chiến lược là xây dựng nền nông nghiệp với chất lượng cao, có sức cạnh tranh mạnh Do đó, những năm gần đây, Thái Lan tập trung mũi nhọn phát triển mạnh hàng chế biến nông sản và công nghiệp phục vụ nông nghiệp Hiện Thái Lan có tới hơn 1/4 số xí nghiệp gia công sản phẩm được xây dựng ngay tại nông thôn, nhờ đó đã tạo dựng
sự vững mạnh, ổn định về kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống người nông dân Bên cạnh đó, Chính phủ còn chú trọng xây dựng các tổ chức nông nghiệp
và phát triển hệ thống điều hành nông nghiệp và nông thôn trên cơ sở sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý hướng tới phát triển bền vững
Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược như: Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân Đối với các sản phẩm nông sản, Nhà nước tăng cường sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản bằng việc tăng khả năng tổ chức và tiếp thị thị trường Phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, ngăn chặn tình trạng khai thác tài nguyên bừa bãi và kịp thời phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái Giải quyết tốt những mâu thuẫn
về tư tưởng trong nông dân có liên quan đến việc sử dụng tài nguyên lâm, thủy hải sản, đất đai, đa dạng sinh học, phân bổ đất canh tác Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp Chương trình điện khí hóa nông thôn với các dự
án thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước
Một trong những tiêu chí để phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và hiện đại hóa là cơ giới hóa nông nghiệp và áp dụng các quy trình kỹ thuật sản xuất tiên tiến Thái Lan chú trọng phát triển cơ giới hóa nhằm đưa nông nghiệp đi vào thâm canh, cải
Trang 26tạo và xây dựng nông thôn Phát triển mạng lưới xí nghiệp cơ khí nhỏ và vừa của tư nhân ở các thành phố, thị trấn và nông thôn Khuyến khích nông dân mua máy móc do các xí nghiệp cơ khí trong nước chế tạo, có cơ chế bảo hành và sửa chữa miễn phí trong vòng từ 1 đến 3 năm Đẩy mạnh công tác nghiên cứu cải tạo đất, áp dụng công nghệ sinh học để lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; thực hiện việc chuyển giao công nghệ nuôi cấy phôi; nghiên cứu các công nghệ bảo quản sau thu hoạch
Thái Lan còn chú trọng phát triển các ngành mũi nhọn như hàng nông, hải sản phục vụ xuất khẩu, thúc đẩy mạnh mẽ công nghiệp chế biến nông sản cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu sang các nước khác, nhất là các nước công nghiệp phát triển Hiện nay, ngoài mặt hàng xuất khẩu truyền thống như gạo, ngô, cao su, đường, nông nghiệp Thái Lan còn có nhiều mặt hàng xuất khẩu mới như hải sản đông lạnh, gia cầm, hoa quả tươi, chế biến rau xanh và sắn củ Nhờ có chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển mạnh, Thái Lan đã đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo (khoảng 5 triệu tấn/năm), là nước xuất khẩu thực phẩm mạnh nhất khu vực Đông - Nam Á
Dưới sự chỉ đạo và đường hướng dẫn dắt của Chính phủ, đến nay Thái Lan
có khoảng 5,2 triệu hộ nông dân, chiếm khoảng 41,5% dân số cả nước với mức thu nhập của nông dân ở mức trên 1.000 đô la Mỹ/người/năm từ nhiều năm qua
1.2.1.3 Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn ở Nhật Bản
Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng người đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Với đặc điểm tự nhiên và xã hội, trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược khôn khéo và hiệu quả, như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ quan trọng) để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn,
Trang 27hợp này là những điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa
Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông nghiệp, tạo
ra năng suất lao động cao trong nông nghiệp, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng và thông tin liên lạc hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp (như
tơ tằm, dệt may ), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông thôn toàn quốc Tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn
ra thành thị Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn
Theo thống kê của Bộ nông - lâm - ngư nghiệp, tổng thu nhập bình quân mỗi năm của một hộ gia đình nông dân Nhật Bản trong năm 1996 là 6.647.400 yên, tính theo tỉ giá khi đó là vào khoảng 64.000 đôla Năm 2012, Chính phủ hiện trả cho người nông dân 80.000 yên (800 USD) mỗi năm trên mỗi 1.000 m2 đất canh tác lúa gạo Cao gấp nhiều lần so với thu nhập của người nông dân Việt Nam
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện
là xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản đều thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển nông nghiệp hướng vào xuất khẩu làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước, nhờ đó mà thu nhập của người nông dân đã tăng lên đáng kể Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng hiện đại hóa và phát triển bền vững của các nước này là bài học kinh nghiệm để chúng ta tham khảo và học tập
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập cho hộ nông dân ở Việt Nam
Quan điểm chủ trương chính sách của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để thúc đẩy sự liên kết giữa các chủ thể trong sản xuất nông nghiệp như: Nghị quyết số 06 - NQ/TW ngày 10/11/1998 của Bộ Chính trị khi ban hành về phát triển
Trang 28kinh tế trang trại đã chỉ rõ: “Nhà nước cần có chính sách khuyến khích phát triển hình thức kinh tế trang trại gia đình cũng như các hình thức kinh tế khác của hộ gia đình Đặc biệt khuyến khích các hộ nông dân, các trang trại gia đình, hình thành các
tổ chức, các hình thức kinh tế hợp tác để mở rộng quy mô sản xuất, thu hút và hỗ trợ các hộ gia đình còn khó khăn.”
Quyết định số 67/QĐ-TTg ban hành ngày 30/03/1999 về “Một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn” cũng góp phần tạo điều kiện cho hộ gia đinh, hộ làm kinh tế hàng hóa, kinh tế trang trại, HTX và doanh nghiệp vay vốn theo quy định để phát triển sản xuất
Trải qua quá trình tổng kết thực tiễn sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa của các doanh nghiệp và địa phương diễn ra từ nhiều năm, ngày 24/06/2002, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg về chính sách “Khuyến khích tiêu thụ nông sản hàng hóa thông qua hợp đồng giữa doanh nghiệp với nông dân.” Theo quyết định này, Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ký kết hợp đồng tiêu thụ nông sản hàng hóa với người sản xuất nhằm gắn với chế biến và tiêu thụ nông sản hàng hóa để phát triển sản xuất ổn định
và bền vững
Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, Đảng ta đã định hướng phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững trên cơ sở “Gắn liền chặt chẽ, hài hòa lợi ích giữa người sản xuất, người chế biến và người tiêu thụ, giữa việc áp dụng kỹ thuật với công nghệ với tổ chức sản xuất, giữa phát triển nông nghiệp với xây dựng nông thôn mới” “Phải luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn hướng tới xây dựng, phát triển một nền nông nghiệp hàng hóa lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và hiệu quả cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành một nền nông nghiệp sạch, phấn đấu giá trị tăng thêm trong nông nghiệp lâm nghiệp thủy sản tăng 3-3.2%/ năm.”
Trên cơ sở đó, mới gân đây nhất, một số văn bản khác hỗ trợ cho mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa và đáp ứng điều kiện gia nhập WTO đã được ban hành như: Quyết định số 315/QĐ-TTg ngày 01/03/2011 về việc
Trang 2914/2011/TT-BNNPTNT ngày 29/03/2011 về “Quy định về việc kiểm tra, đánh giá
về cơ sở sản xuất kinh doanh vật tư nông nghiệp - nông lâm thủy sản”
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước luôn đóng vai trò định
hướng quan trọng cho các chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước nói chúng và sự phát triển của nông nghiệp nói riêng Các chủ trương chính sách của Đảng về vấn đề sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa và sự trợ giúp nông nghiệp phát triển đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế khá kịp thời, phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước Đó chính là một trong những căn cứ để định hướng giải pháp phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa
* Giải pháp phát triển kinh tế hàng hóa nhằm nâng cao thu nhập hộ nông dân ở Việt Nam
Trước năm 1980, sản xuất nông nghiệp nước ta lâm vào tình trạng đình đốn do
mô hình hợp tác kiểu cũ và cơ chế kế hoạch hóa tập trung không phù hợp Vào những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, mức sản xuất lương thực bình quân đầu người liên tục giảm, lượng gạo hàng năm nhập khẩu tăng lên gần 1 triệu tấn, tình trạng khoán chui diễn ra phổ biến Chỉ thị 100/CT-TW ngày 13/01/1981 của Ban chấp hành
TƯ Đảng đã bước đầu giải phóng lao động nông dân, gắn trách nhiệm và lợi ích của
họ với sản phẩm cuối cùng trên ruộng khoán, khuyến khích đầu tư thêm lao động, phân bón, vật tư để thu thêm nhiều sản phẩm vượt khoán Kết quả đem lại 6 - 7 vụ được mùa liên tiếp, sản lượng lương thực tăng gần 1 triệu tấn/năm
Bắt đầu từ cuối năm 1983 đến 1984, động lực khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động có dấu hiệu suy giảm, bởi lẽ khoán sản phẩm mới chỉ điều chỉnh cơ chế phân phối và cơ chế quản lý giữa người lao động và hợp tác xã, giữa công nhân lao động và nông trường, chưa thiết lập đầy đủ quyền làm chủ cho các hộ nông dân Nghị quyết 10-NQ/TW ngày 5/4/1988 về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp đã chính thức thừa nhận vai trò của kinh tế hộ và coi kinh tế hộ là đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp Đồng thời nhiều chính sách khác được thiết lập như xóa bỏ chế
độ độc quyền thu mua nông sản, xóa bỏ chế độ 2 giá, thực hiện chính sách khuyến khích nông dân tăng sản lượng để bán ra thị trường, cải cách chế độ thuế và hỗ trợ đối với nông nghiệp, từng bước cải cách pháp lý để hỗ trợ kinh tế thị trường phát triển trong nông nghiệp Kết quả đến năm 1995 lần đầu tiên hầu hết các chỉ tiêu kế
Trang 30hoạch 5 năm 1991 - 1995 trong đó có chỉ tiêu nông nghiệp, đều hoàn thành và vượt mức, đưa nước ta thành nước xuất khẩu trên dưới 3 triệu tấn gạo/ năm
Từ năm 1995 đến nay, đổi mới trong nông nghiệp tiếp tục được thực hiện để tăng trưởng và hội nhập Ngày 10/11/1998, Ban bí thư ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về một số vấn đề phát triển nông nghiệp và nông thôn, trong đó khẳng định vấn đề trọng yếu là kinh tế trang trại Ngày 2/2/2000 Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03/NQ-CP về kinh tế trang trại Những văn bản chính sách về khuyến khích phát triển nông nghiệp tiếp tục được hoàn thiện tạo động lực cho nông nghiệp nước
ta phát triển và đã đạt được những thành tựu quan trọng:
+ Trồng trọt: sản xuất lương thực tiếp tục tăng cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thị trường Đến năm 2011, sản lượng lương thực
có hạt cả nước đạt 48,4 triệu tấn Trong đó sản lượng lúa cả 3 vụ đều được mùa, đạt hơn 43,7 triệu tấn; sản lượng ngô đạt 4,8 triệu tấn Diện tích gieo cấy lúa cả năm ước đạt 7.753,2 nghìn ha, năng suất ước đạt 56,3 tạ/ha Các cây lâu năm chủ lực, diện tích cho sản phẩm đều tăng như chè, cao su, cà phê, hồ tiêu, dẫn đến sản lượng các cây trồng này đạt mức tăng khá cao trong năm 2012
+ Chăn nuôi, theo Tổng Cục Thống kê, tổng hợp sơ bộ kết quả chương trình điều tra chăn nuôi năm 2012, cả nước có 2,6 triệu con trâu; 5,2 triệu con bò; 26,48 triệu con lợn; 308,3 triệu con gia cầm Đàn bò sữa vẫn có hướng phát triển tốt, đạt
167 nghìn con Sản lượng thịt hơi các loại năm 2012 đạt 4,27 triệu tấn, tăng 2,45%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thịt trâu hơi, bò hơi tăng, sản lượng thịt gia cầm hơi đều tăng Về cơ bản, ngành chăn nuôi nước ta đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và một phần xuất khẩu
Ngành thủy sản đang vươn lên thành ngành mũi nhọn trong nông lâm thủy sản Thủy sản, tổng sản lượng thuỷ sản năm 2012 ước đạt 5,75 triệu tấn, tăng 2,56 lần
so với năm 2000 Thành tựu đáng chú ý nhất là sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng trưởng ở mức cao So với năm 2000, năm 2012 sản lượng tăng gấp 5,2 đạt 3.112 ngàn tấn Trong quá trình phát triển, các hoạt động khai thác nuôi trồng và chế biển thủy sản đã gắn kết chặt chẽ Các khâu trọng yếu về hạ tầng kỹ thuật phục vụ nuôi trồng, khai thác, hậu cần nghề cá, chế biến đã được đầu tư, từng bước hiện đại hóa
Trang 31Sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản đã phát triển sau đổi mới đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản tăng nhanh chóng, giá trị xuất khẩu nông lâm thuỷ sản năm 2012 đạt 27,54 tỷ USD Trong đó: giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính đạt 14,99 tỷ USD; thuỷ sản ước đạt 6,15 tỷ USD; lâm sản chính đạt 4,9 tỷ USD, tăng gấp 3,57 lần so với năm 2000 Thị trường xuất khẩu được đa dạng hơn,
có nhiều thị trường mới cho hàng nông, lâm, thủy sản VN
Bên cạnh những kết quả đạt được, nông nghiệp nông thôn nước ta còn gặp một số khó khăn, thách thức đó là:
Tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng các yếu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và bóc lột đất đai Sản xuất nông nghiệp đã
và đang có dấu hiệu gây tác động tiêu cực đến môi trường, như: mất đa dạng sinh học, suy thoái tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm nguồn nước, đất đai bị bạc màu, thoái hóa do hóa chất, tăng chi phí sản xuất và đe dọa tính bền vững của tăng trưởng Vì vậy, chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam
là vấn đề cần được quan tâm trong giai đoạn tới
Trong tương lai, nguồn lực cho tăng trưởng nông nghiệp sẽ không còn được dồi dào, nông nghiệp sẽ phải cạnh tranh với các ngành công nghiệp và dịch vụ khác Chí phí sản xuất ngày càng cao cũng bắt đầu làm giảm khả năng cạnh tranh của nông nghiệp Việt Nam với vị thế nhà sản xuất “chi phí thấp” trên thị trường quốc tế
"Xây dựng nông thôn mới" là chương trình lớn nhất từ trước đến nay trong ngành Nông nghiệp, nhiều kế hoạch, cơ chế chính sách đã được ban hành, nhưng nhiều nơi vẫn mới dừng lại ở quy hoạch, đề án
Đặc biệt, nếu nhìn lại tốc độ tăng trưởng của Ngành trong những năm gần đây, sẽ thấy sự giảm sút đáng ngại của nông nghiệp Việt Nam Tốc độ tăng GDP nông nghiệp giai đoạn 1995 - 2000 đạt 4%/năm, giảm xuống còn 3,83%/năm trong giai đoạn 2001 - 2005 và 3,4%/năm trong giai đoạn 2006 - 2011 Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng có xu hướng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 57,6% năm 2011 (theo giá thực tế) và 45,6% năm 2000 xuống 38,3% năm 2011 (theo giá so sánh)
Trang 32Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do đầu tư cho nông nghiệp ngày càng giảm dần, không tương xứng với sự đóng góp của nông nghiệp cho nền kinh tế Nếu như năm 2000, tỷ trọng đầu tư vào ngành Nông nghiệp chiếm 13,85% tổng đầu tư của xã hội, thì tới năm 2005 chỉ còn 7,5%; năm 2008: 6,45%; năm 2009: 6,26%; năm 2010: 6,2% Đầu tư từ ngân sách nhà nước và trái phiếu Chính phủ cho nông nghiệp cũng giảm, từ 21,5% năm 2006 xuống 21,3% năm 2010 trong tổng số Đặc biệt, việc thống kê về đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn rất khó bóc tách do có rất nhiều khoản chi cho công nghiệp, kết cấu hạ tầng quốc gia nằm trên địa bàn nông thôn
Trong khi đó, kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp luôn chịu độ rủi ro rất cao (tuy việc bảo hiểm nông nghiệp đã được đặt ra, nhưng mới chỉ ở giai đoạn thí điểm đối với một số loại cây và con) càng khiến các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài dè dặt khi đầu tư Đầu tư trực tiếp của nước ngoài đã giảm đáng kể, từ 8% năm 2001 xuống còn chỉ 1% năm 2010 Đầu tư của tư nhân trong nước chỉ chiếm từ 13-15% tổng số đầu tư mới của mỗi năm
Hơn nữa, quá trình đổi mới và gia tăng giá trị của ngành Nông nghiệp có dấu hiệu chậm lại Đối với những loại cây trồng quan trọng, tốc độ tăng năng suất đã chậm lại Trong lĩnh vực chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, dịch bệnh tràn lan đang dẫn tới bất ổn về năng suất và thu nhập Tỷ lệ giá trị gia tăng so với tổng giá trị sản xuất nông nghiệp cũng có xu hướng giảm, từ 66,35% năm 2000 xuống 58,8% năm 2010 (theo giá thực tế) và 45,6% năm 2000 xuống 38,8% năm 2010 (theo giá so sánh)
Công nghiệp chế biến nông sản vẫn còn kém phát triển Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nguyên liệu thô, trong khi hàng hóa thành phẩm được sản xuất ở nước khác và sau đó lại được nhập khẩu trở lại Việt Nam Điều này phản ánh nông dân, doanh nghiệp Việt Nam đang tự làm thất thoát giá trị hàng nông sản trên thị trường quốc tế Cho tới nay, chỉ có rất ít thương hiệu và chỉ dẫn địa lý nổi tiếng gắn với nông sản Việt Nam Tình trạng sản xuất nông nghiệp manh mún, ruộng đất bị xé lẻ, phần lớn nông hộ có diện tích đất nhỏ, rải rác làm tăng rủi ro, ngăn cản quá trình áp dụng công nghệ tiên tiến, khó bảo quản hàng hóa, tăng chi phí sản xuất, gây phức tạp cho quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm, kiểm soát dịch bệnh, cản trở phát
Trang 33triển hợp tác nông-công do tính rủi ro khi ký kết hợp đồng bao tiêu nông sản với hàng trăm nông hộ nhỏ, lẻ
Trong thời gian tới,“ngành Nông nghiệp sẽ phải nâng cao vị thế cạnh tranh
trên cơ sở nâng cao chất lượng, giá trị gia tăng và an toàn vệ sinh thực phẩm”, đó
là nhấn mạnh của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại dự thảo Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp Việt Nam Điều này có thể đạt được thông qua tận dụng tiềm năng và cơ hội để nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp, tăng giá trị gia tăng hàng nông sản, đồng thời giảm tác động tiêu cực đến môi trường Để làm được điều này, cần triển khai một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tăng cường đầu tư vào phát triển nghiên cứu có chọn lọc; tích cực
chuyển giao công nghệ, đào tạo và dạy nghề cho nông dân nhằm phát huy tài nguyên con người và áp dụng khoa học - công nghệ có hiệu quả Đây là động lực chính cho tăng trưởng nông nghiệp tương lai, tạo ra bước đột phá về năng suất, chất lượng của nông sản; tăng khả năng cạnh tranh ở trong nước và ngoài nước
Công nghệ cao là hướng đi duy nhất để nâng cao giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa, khi mà các động lực khác cho phát triển như đất đai, lao động đều bị giới hạn Vì vậy, nếu doanh nghiệp không tham gia vào quá trình này e rằng sẽ khó thành công Tuy nhiên, do nông nghiệp là lĩnh vực rủi ro cao, phụ thuộc lớn vào vùng nguyên liệu và thời tiết…, nên Đảng và Chính phủ cần rà soát, ban hành đồng
bộ các chính sách để thu hút doanh nghiệp về nông thôn
Thứ hai, có chính sách bảo hộ hợp lý đối vối nông sản trên cơ sở tuân thủ các
quy định của WTO cùng các chính sách hỗ trợ khác Chính sách hỗ trợ trong nông nghiệp gồm 2 loại: hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu Nông dân Việt Nam vẫn cần tiếp tục nhận được những hỗ trợ khác để giúp đỡ họ trong phát triển sản xuất nông sản nhằm xóa đói giảm nghèo Nhà nước cần hỗ trợ mạnh cho các hợp tác xã, hội nông dân để giúp các tổ chức này hoạt động tốt trong vai trò cung ứng vật tư nông nghiệp thiết yếu, đào tạo, dạy nghề, cung cấp thông tin, hỗ trợ kinh phí, điều kiện sinh hoạt, buôn bán xuất khẩu nông sản, bảo vệ lợi ích của người nông dân
Thứ ba, cần xem xét và thực hiện có hiệu quả chính sách dồn điền đổi thửa
Nghiên cứu cho thấy, diện tích ruộng đất bình quân ở Việt Nam chỉ có 0,6 ha/hộ vào loại thấp nhất thế giới Tình trạng này dẫn đến sản xuất phân tán manh mún, năng
Trang 34suất không cao, không hiệu quả Chính sách dồn điền đổi thửa cho phép xử lý vấn đề đất đai manh mún, song cần có những tác động hỗ trợ cần thiết của Chính phủ trong tiến trình này và nên tiến hành từng bước tích tụ ruộng đất gắn với phân công lại lao động trong nông thôn, nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế hộ gia đình
Thứ tư, tạo điều kiện cho nông dân, khu vực kinh tế tập thể, doanh nghiệp
nông nghiệp mở rộng sản xuất, Nhà nước cũng cần sớm rà soát, điều chỉnh để nâng cao chất lượng tín dụng nông nghiệp Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa để nông dân, các doanh nghiệp nông nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn Vì hiện nay, tuy đã có chính sách về vấn đề này, nhưng còn chưa đồng bộ, nhiều điểm thiếu hợp lý Điển hình như Nghị định 41/2010/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì nhiều nông dân sống ở các phường mới được đô thị hóa không được tiếp cận nguồn vốn này, vì Nghị định chỉ quy định cho nông dân ở xã mới được vay vốn Hoặc, chính sách hỗ trợ nông dân tiếp cận nguồn vốn để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị sản xuất nông nghiệp quy định chỉ hỗ trợ nông dân mua các loại máy nông nghiệp có tỷ lệ nội địa hóa từ 60% trở lên (Quyết định số 65/2011/QĐ-TTg), nhưng thực tế, nông dân không muốn vay là do các máy móc có tỷ lệ nội địa hóa cao, thì chất lượng lại rất thấp, công suất và độ bền của thiết bị khi vận hành thường không ổn định, dễ gặp trục trặc hơn so với các máy móc nhập ngoại
Thứ năm, xây dựng các đô thị ngay bên trong nông thôn để tạo điều kiện
cho người nông dân có thể tự tăng được thu nhập và có động lực ở lại làm giàu cho mảnh đất mình sinh ra và lớn lên Để làm được điều đó, Chính phủ cần xây dựng kết cấu hạ tầng tốt, đào tạo dạy nghề tốt ở nông thôn để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nhà máy ở nông thôn Nếu tìm được những ngành nghề có ưu thế để phát triển (phát triển các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, các ngành công nghiệp sản xuất vật tư, thiết bị cho nông nghiệp và hàng tiêu dùng cho nông thôn ) cũng sẽ có thể hình thành nhiều đô thị ở nông thôn Việc này vừa giúp tăng thu nhập cho cư dân nông thôn, vừa giúp giảm áp lực dân nông thôn đổ dồn vào thành thị theo con đường di cư tự phát
Trang 35Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Câu hỏi đặt ra cho vấn đề nghiên cứu
Kinh tế hộ nông dân của nói chung và đặc biệt là vùng nông thôn của Huyện Phú Lương có nhiều khó khăn, lạc hậu Vấn đề phát triển kinh tế hộ nông dân theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao thu nhập cho hộ đang được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, các ngành và các nhà khoa học quan tâm Những vấn
đề đặt ra hay câu hỏi cần nghiên cứu của đề tài là: Thực trạng phát triển hàng hoá
của kinh tế hộ ở huyện Phú Lương ra sao? Những giải pháp chủ yếu nào nhằm thúc đẩy kinh tế hộ nông dân phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá nhằm nâng cao thu nhập cho nông hộ?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, địa điểm nghiên cứu phải đại diện cho vùng nghiên cứu về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, môi trường, văn hóa… Căn cứ vào đặc điểm riêng của các vùng sinh thái huyện Phú Lương được chia huyện thành 3 khu vực đại diện cho 3 vùng sinh thái khác nhau:
- Vùng phía Bắc và Tây Bắc (gọi tắt là phía Bắc) gồm 6 xã: Yên Trạch, Yên
Đổ, Yên Ninh, Phủ Lý, Ôn Lương, Hợp Thành Địa hình nhiều rừng núi thuận lợi cho phát triển lâm nghiệp và chăn nuôi đại gia súc lớn (trâu, bò, dê) , phát triển lúa, cây đặc sản, cây ăn quả các loại (mô hình nông + lâm kết hợp)
- Vùng phía Đông gồm 4 xã: Phú Đô, Tức Tranh, Vô Tranh, Yên Lạc có lợi thế về nông, lâm, thủy sản, các cây công nghiệp lâu năm (chè, cây ăn quả), cây trồng đặc sản
- Vùng Phía Nam và trung tâm huyện (gọi tắt là phía Nam) gồm 6 xã: Động Đạt, Thị trấn Đu, Phấn Mễ, Thị trấn Giang Tiên, Cổ Lũng, Sơn Cẩm, cùng nằm trên quốc lộ 3 có lợi thế về phát triển mạnh nông nghiệp (các sản phẩm sơ chế, chế biến của huyện đặc biệt là chè an toàn, bánh chưng…), sản xuất lương thực và kinh doanh dịch vụ
Căn cứ vào đặc điểm của 3 vùng sinh thái trên tôi chọn 3 xã đại diện cho 3 vùng nghiên cứu và mỗi xã chọn 30 hộ để điều tra thông tin
Trang 36- Vùng 1 chọn xã Ôn Lương
- Vùng 2 chọn xã Vô Tranh
- Vùng 3 chọn xã Cổ Lũng
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.2.2.1 Thu lập tài liêu, số liệu đã công bố
Việc thu thập các tài liệu, số liệu đã công bố, với các nội dung thu thập cùng nguồn gốc số liệu, tất cả được trình bày ở bảng sau:
1 Sách, báo, tạp chí, internet và
những công trình nghiên cứu đã được
công bố
2 Các cơ quan Nhà nước có liên quan
trong quá trình nghiên cứu: Sở Nông
nghiệp và PTNT tỉnh Thái Nguyên;
phòng Nông nghiệp huyện Phú
Lương; UBND huyện Phú Lương; các
hợp tác xã nông nghiệp; chi cục
Thống kê huyện Phú Lương…
- Tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề phát triển nông nghiệp và phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa; thu nhập và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân
- Các văn bản chi thị, các thông tư hướng dẫn có liên quan đến vấn đề phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa
- Các báo cáo tổng kết của các cơ quan, các địa phương nghiên cứu
- Các công trình nghiên cứu đã được công bố để có được những số liệu với hộ nông dân về tình hình sản xuất, đời sống, việc làm, nhà ở, ngành nghề, sức khỏe và môi trường
2.2.2.2 Thu lập số liệu mới
- Cấp huyện, xã, thôn
Những số liệu này thuộc số liệu thô được thu thập từ các cơ quan Nhà nước các công trình nghiên cứu đã được công bố, các báo cáo của các cơ quan chức năng Song để đáp ứng cho việc nghiên cứu đề tài đòi hỏi chúng ta phải chọn lọc, xử lý và
Trang 37phân tích chúng dựa trên bản gốc để hình thành lên các bảng biểu cụ thể Việc thu thập được tiến hành như sau:
Nơi điều tra Số liệu thu thập Mục đích sử dụng
- Thông tin về vị trí địa lý, địa hình
- Thông tin tài nguyên đất đai
- Thông tin về dân số
và lao động
- Thông tin về vốn vay
- Thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh
- Thông tin về khuyến nông
- Thông tin về hộ giầu nghèo
Tìm hiểu tình hình mưa, hạn, gió, bão,
lũ lụt theo các tháng trong năm để bố trí cây trồng, vật nuôi phù hợp và bố trí mùa vụ thích hợp, tránh thiên tai + Xác định gianh giới tiếp giáp với huyện nhằm tìm đầu mối tiêu thụ cho sản phầm
+ Xác định lợi thế của từng vùng để định hướng sản xuất chọn sản phẩm mũi nhọn cho từng vùng
+ Nắm được tình hình sử dụng đất trong huyện để quy hoạch vùng sản xuất, bố trí sử dụng đất hợp lý
+ Tìm hiểu các chủ trương, chính sách về đất đai đã và đang thực hiện trong huyện + Nắm bắt được mức tăng dân số, nguyên nhân tăng, việc sử dụng lao động, chất lượng lao động trong huyện + Tìm hiểu các chính sách cho người lao động, chính sách giải quyết việc làm
+ Xác định đối tượng vay, hình thức cho vay
+ Xác định số lượng vốn vay, thời gian vay
+ Tìm hiểu các mức lãi suất + Đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của huyện theo từng ngành (nông nghiệp - CN - dịch vụ) bao gồm tổng giá trị sản phẩm, tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế
+ Tìm hiểu các số liệu về tổng kết chương trình phát triển kinh tế, các dự
Trang 38Nơi điều tra Số liệu thu thập Mục đích sử dụng
- Thông tin về tình hình kinh tế của hộ nông dân
án được triển khai trong huyện
+ Tìm hiểu về chuyển giao KHKT và công nghệ tiên tiến vào sản xuất + Tìm hiểu hình thức, đối tượng và nội dung đào tạo
+ Xác định tiêu chí phân loại hộ giàu nghèo trong huyện
+ Xác định được đối tượng trợ cấp mức trợ cấp
+ Cho số liệu về tỷ lệ hộ nghèo trong huyện
+ Tìm hiểu phương thức sản xuất kinh doanh của hộ, hộ làm kinh tế giỏi nhằm xây dựng các mô hình trình diễn
+ Tìm hiểu các hình thức liên kết, liên doah của các nông hộ
- Thông tin về lịch sử phát triển quá trình phát triển nông thôn
+ Năm bắt tình hình sản xuất chung của xã để xác định hướng điều tra + Tìm hiểu các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế tại địa phương
+ Tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của các ngành sản xuất của địa phương, phong tục tập quán sản xuất, những thay đổi trong thời kỳ mới
+ Nắm rõ tình hình cơ bản của hộ như tên chủ hộ, địa chỉ của hồ cần điều tra
Trang 39* Cấp hộ: Bằng phương pháp điều tra
- Chọn mẫu điều tra: Phương pháp chọn mẫu điều tra là căn cứ vào danh sách hộ nông dân trên địa bàn tiến hành phân loại hộ theo tiêu chí hộ giàu, hộ khá,
hộ trung bình và hộ nghèo Sau đó tính bước nhảy (theo danh sách các hộ của vùng điều tra)
Lấy số ngẫu nhiên bất kỳ (Nh) trong khoản 1- Kh, từ đó tính được các giá trị
Nh, Nh+Kh, Nh+2Kh Các hộ được chọn có số thứ tự trùng với các giá trị trên
- Xây dựng phiếu điều tra: Phiếu điều tra được xây dựng cho hộ điều tra, nội dung của phiếu điều tra bao gồm những thông tin chủ yếu về tình hình cơ bản của nông hộ, về tình hình hoạt động sản xuất, giá cả và đời sống cũng như nhận thức của nông hộ
Tổng hợp số liệu trên cơ sở phân tổ thống kê
Để phản ánh và đánh giá thực trạng kinh tế hộ nông dân cần phải phân tổ thồng kê để so sánh và đánh giá Các tiêu thức phân tổ như sau:
Theo xuất xứ của chủ hộ (hộ bản địa, hộ di dời, khai hoang); theo tộc người (Kinh, Tày, Nùng, Sán dìu ); Theo xã điều tra (Ôn Lương, Vô Tranh, Cổ Lũng); theo quy mô các nguồn lực sản xuất của hộ nông dân (như đất đai, lao động, vốn ); theo quy mô sản xuất hàng hoá của hộ (hộ hàng hoá lớn, hộ hàng hoá trung bình, hộ hàng hoá nhỏ) Căn cứ vào điều kiện phát triển kinh tế của hộ sản xuất hàng hoá của huyện Phú Lương, chúng tôi xây dựng tiêu chí về quy mô hộ sản xuất hàng hoá như
sau: Hộ hàng hoá lớn có giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm
từ 15 triệu đồng trở lên Hộ hàng hoá trung bình có giá trị sản phẩm hàng hoá và dịch vụ bình quân bán ra khỏi hộ từ 10 triệu đồng đến dưới 15 triệu đồng Hộ hàng
hoá nhỏ có giá trị sản phẩm bán ra khỏi hộ dưới 10 triệu đồng; theo hướng sản xuất
kinh doanh chính (gồm cây hàng năm, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi và lâm nghiệp) Hướng sản xuất kinh doanh chính là ngành có giá trị sản phẩm
và sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao (thường trên 50%) của hộ
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê kinh tế:
Phương pháp phân tổ thống kê bao gồm chủ yếu là thống kê mô tả và thống
kê so sánh Phương pháp thống kê mô tả được thực hiện thông qua việc sử dụng số
Trang 40bình quân, tần suất, số tối đa và tối thiểu Phương pháp thống kê so sánh bao gồm
cả số tương đối và số tuyệt đối để đánh giá sự vật và hiện tượng theo không gian và thời gian
Trên cơ sở các chỉ tiêu đã được tính toán cho từng dạng hộ nông dân theo các dạng nhóm phân tổ, có thể so sánh các vùng khác nhau, giữa các năm với nhau và giữa các dân tộc khác nhau, nhằm rút ra những ưu điểm, những hạn chế của các đối tượng, làm cơ sở cho việc đề ra những giải pháp triển phù hợp với các mô hình sản xuất của hộ trên vùng sinh thái
Phương pháp so sánh chỉ áp dụng đối với các chỉ tiêu và các đối tượng so sánh có ý nghĩa nhằm phát hiện những nét đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân Đồng thời phương pháp này được sử dụng chủ yếu là so sánh kinh tế hộ nông dân theo hướng phát triển kinh tế hàng hoá ở những mô hình kinh tế trong các vùng
ở các đồng bào dân tộc khác nhau
- Phương pháp phân tích kinh tế: Phương pháp này với mục đích là đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế sản xuất với các chỉ tiêu thu nhập hỗn hợp (MI), giá trị sản xuất/đồng chi phí, giá trị gia tăng/đồng chi phí Thông qua các chỉ tiêu này đánh giá thu nhập hỗn hợp/ đồng chi phí Đây là một tiêu chí quan trọng đánh giá mức thu nhập của hộ nông nghiệp/ đồng chi phí là cao hay thấp
- Công cụ xử lý: các số liệu thu thập được xử lý trên phần mềm Excel
2.2.4 Các chỉ tiêu phản ánh trình độ và hiệu quả sản xuất hàng hoá của kinh tế
hộ nông dân
Nhóm chỉ tiêu phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, khả năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính
Nhóm chỉ tiêu phản ánh điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ nông dân: đất đai bình quân 1 hộ, 1 lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân 1 hộ và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/người tiêu dùng bình quân
Nhóm chỉ tiêu phản ánh phương hướng và kết quả sản xuất hàng hoá của hộ nông dân: giá trị sản xuất trong năm, cơ cấu giá trị sản xuất Giá trị sản xuất hàng hoá của hộ, tỷ trọng giá trị sản xuất hàng hoá, cơ cấu sản phẩm hàng hoá