Số lao động còn lại chưa tham gia BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ… trốn tránh không tham gia BHXH c
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MA TỪ THỊ MAI LY
GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Chuyên ngành: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN, NĂM 2014
Trang 2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
MA TỪ THỊ MAI LY
GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG
NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI
Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn kinh tế này do chính tôi nghiên cứu và thực hiện Các thông tin, số liệu đƣợc sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn chính xác và có nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Ma Từ Thị Mai Ly
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo hướng dẫn PGS.TS Đỗ Thị Bắc,
người đã tận tình hướng dẫn và cho tôi những ý kiến định hướng quý báu giúp tôi thực hiện Luận văn
Tôi gửi lời cảm ơn tới các thầy, cô giáo trong phòng Quản lý Đào tạo sau đại học, các thầy, cô giáo và toàn thể cán bộ Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh Thái Nguyên đã dìu dắt, truyền đạt những kiến thức quý báu để tôi áp dụng trong thực tiễn và quá trình hoàn thiện Luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Ban Giám đốc BHXH tỉnh Thái Nguyên, BHXH huyện Đồng Hỷ đã tạo điều kiện cho tôi được đi học để nâng cao trình
độ, động viên khích lệ và cung cấp số liệu quý báu
Tôi xin gửi lời biết ơn đến gia đình, bạn bè đã động viên, khích lệ và ủng hộ trong suốt quá trình học tập vừa qua
Học viên
Ma Từ Thị Mai Ly
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 5
1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH 5
5
9
1.2 Cơ sở lý luận về nợ đọng và trốn đóng BHXH 11
1.2.1 Thu BHXH 11
1.2.2 Vấn đề nợ đọng và trốn đóng BHXH 17
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng và trốn đóng BHXH 19
1.4 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam 20
1.4.1 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới 20
1.4.2 Kinh nghiệm nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Việt Nam 22
đóng BHXH 26
Trang 6Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài 27
2.2 27
2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 27
2.2.2 Thu thập số liệu 28
2.2.3 Phương pháp phân tích 31
2.2.4 Các chỉ tiêu phân tích 32
Chương 3 THỰC TRẠNG NỢ ĐỌNG VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ 33
3.1 Khái quát về tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 33
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đồng Hỷ 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội huyện Đồng Hỷ 33
3.1.3 Đánh giá thuận lợi và khó khăn trong hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 34
3.2 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH 34
3.2.1 Tổ chức hệ thống BHXH huyện Đồng Hỷ 34
3.2.2 Thu BHXH ở BHXH huyện Đồng Hỷ 41
3.2.3 Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 53
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 66
3.3.1 Nhận thức, ý thức, tâm lý, thói quen của NLĐ và NSDLĐ 66
3.3.2 Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người 67
3.3.3 Qui mô DN 68
3.3.4 Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền 69
3.4 Đánh giá chung về tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên 72
3.4.1 Những mặt đạt đươc 72
3.4.2 Những mặt còn hạn chế 72
3.4.3 Nguyên nhân của những hạn chế: 72
Trang 7Chương 4 GIẢI PHÁP NHẰM HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TRỐN
ĐÓNG VÀ NỢ ĐỌNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ 73
4.1 Những quan điểm, định hướng, mục tiêu hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73
4.1.1 Những quan điểm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73
4.1.2 Những định hướng hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73
4.1.3 Những mục tiêu hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 73
4.2 Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 74
4.2.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện Đồng Hỷ 74
75
82
, khen 83
4.3 Kiến nghị 83
83
4.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 84
84
84
4.3.5 Kiến nghị với cấp ủy, chính quyền địa phương 85
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 91
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp BHXH : Bảo hiểm xã hội BHYT : Bảo hiểm y tế
DN : Doanh nghiệp DNNN : Doanh nghiệp nhà nước HCSN : Hành chính sự nghiệp HTX : Hợp tác xã
KDCT : Kinh doanh cá thể NCL : Ngoài công lập NSNN : Ngân sách nhà nước
SDLĐ : Sử dụng lao động
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Số lượng người và các địa điểm điều tra 30
Bảng 3.1: Số lao động và số đơn vị tham gia BHXH bắt buộc tại BHXH huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013 47
Bảng 3.2: Số đơn vị tham gia BHXH theo khối quản lý 2011-2013 48
Bảng 3.3: Số lao động tham gia BHXH theo loại hình DN, tổ chức 49
Bảng 3.4: Số tiền phải thu BHXH phân theo khối loại hình DN, tổ chức 49
Bảng 3.5: Số tiền thu BHXH của huyện Đồng Hỷ 2011-2013 50
Bảng 3.6: Kết quả thu BHXH theo loại hình DN, tổ chức 51
Bảng 3.7: Kết quả số nợ phải thu và nợ đọng BHXH năm 2011-2013 53
Bảng 3.8: Số tiền nợ đọng Bảo hiểm xã hội theo khối quản lý 54
Bảng 3.9: Các đơn vị nợ Bảo hiểm xã hội kéo dài ở huyện Đồng Hỷ 55
Bảng 3.10: Kết quả rà soát tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội 56
Bảng 3.11: Số DN, tổ chức trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 57
Bảng 3.12: Lao động trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 58
Bảng 3.13: Số tiền trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ 58
Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra các DN 2011-2013 59
Bảng 3.15: Kết quả kiểm tra liên ngành tại các DN 2011-2013 59
Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra chấp hành luật BHXH ở một số DN 59
Bảng 3.17: Bảng tổng hợp mức độ hiểu biết của CSDLĐ về pháp luật Bảo hiểm xã hội đối với 50 DN điều tra 67
Bảng 3.18: Bảng tổng hợp thu nhập bình quân của NLĐ tại 50 DN điều tra 67
Bảng 3.19: Tổng hợp điều tra số lao động tại 50 DN 68
Bảng 3.20: Bảng tổng hợp tình hình thanh tra, kiểm tra công tác thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại các DN 69
Bảng 3.21: Ma trận SWOT 70
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Hệ thống BHXH Việt Nam 36
Sơ đồ 3.2: Hệ thống tổ chức bộ máy hoạt động của BHXH huyện Đồng Hỷ 39
Sơ đồ 3.3: Quy trình quản lý tiền thu BHXH 47
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Số thu BHXH của huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2011-2013 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH) và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản và là trụ cột của an sinh xã hội (ASXH) nhằm đảm bảo thu nhập, đời sống cho hàng triệu người lao động cùng các đối tượng hưởng các chế độ BHXH, Đảng ta đã xác định: “Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã
hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc” (Bộ Chính trị, 1997, Chỉ thị số 15 CT/TW) Nền kinh tế nước ta đang chuyển mạnh sang cơ chế thị
trường, các thành phần kinh tế đan xen lẫn nhau, các quan hệ lao động cũng trở nên
đa dạng và phức tạp hơn Do vậy, chính sách BHXH không ngừng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Thực hiện Bộ Luật lao động trong đó có Chương XII về BHXH nhất là từ khi Chính phủ ban hành Nghị định số 12/NĐ - CP ngày 23/01/1995 thì các đối tượng tham gia đóng, hưởng BHXH đã được mở rộng đến tất của các thành phần kinh tế Vì vậy, số lao động tham gia BHXH tăng hàng năm khoảng 7,5%; Số thu BHXH tăng bình quân hàng năm 10%, quỹ BHXH độc lập với ngân sách Nhà nước Đây là bước chuyển đổi căn bản về sự nghiệp BHXH từ cơ chế bao cấp chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước sang cơ chế quỹ BHXH chủ yếu dựa trên nguồn thu do người lao động, người chủ sử dụng lao động đóng góp… để chi trả các chế độ Bảo hiểm xã hội
Tính đến hết năm 2013, cả nước có hơn 11,5 triệu người tham gia BHXH bắt buộc đạt trên 86% số đối tượng phải tham gia Số lao động còn lại chưa tham gia BHXH tập trung chủ yếu ở khu vực ngoài nhà nước như: Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tổ hợp tác, người buôn bán nhỏ… trốn tránh không tham gia BHXH cho người lao động hoặc còn cố tình tìm mọi cách trốn đóng BHXH mặt khác nợ đọng BHXH thời gian dài, thậm chí có những đơn vị sử dụng lao động lạm dụng quỹ BHXH, lạm dụng tiền đóng BHXH của người lao động để làm vốn sản xuất kinh doanh… Do đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện chế độ, chính sách
Trang 12BHXH cho người lao động nói chung và việc thực hiện công tác quản lý thu BHXH nói riêng, làm ảnh hưởng đến việc thu, nộp BHXH
Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm ở phía Đông Bắc của Tỉnh Thái Nguyên Toàn huyện có 125.000 người, trong đó dân số trong độ tuổi lao động chiếm 50,8%
Bảo hiểm xã hội huyện Đồng Hỷ là cơ quan chuyên môn do BHXH tỉnh Thái Nguyên trực tiếp quản lý về ngành dọc đóng trên địa bàn huyện Đồng Hỷ
và chịu sự quản lý hành chính của Đảng bộ, UBND huyện Đồng Hỷ Trên huyện
có 36 cơ quan hành chính sự nghiệp; 18 UBND xã thị trấn; 46 trường THPT, THCS và tiểu học; 77 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hợp tác xã; 98 hộ cá thể với tổng số 5.096 người lao động tham gia BHXH, so với tỷ lệ người trong
độ tuổi lao động thì mới chỉ đạt 12,3%
Trong những năm gần đây, việc thu nộp BHXH đã và đang phát triển Tuy nhiên vẫn còn có một số chủ doanh nghiệp trên huyện còn chưa hiểu đúng, đủ về chế độ BHXH nên vẫn còn xảy ra tình trạng trốn đóng, chậm đóng, đóng chưa đủ dẫn đến việc người lao động không được tham gia BHXH hoặc được tham gia nhưng đơn vị sử dụng lao động không nộp tiền cho cơ quan BHXH huyện Đồng hỷ như: Công ty CP quản lý đầu tư và vệ sinh môi trường Đồng hỷ có 18 lao động nhưng tính đến tháng 12/2013 còn nợ tổng số 680.375.898đ tỷ lệ nợ 39 tháng (tức là mới đóng BHXH cho 18 lao động đến hết tháng 9/2010) do vậy các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản của người lao động không được giải quyết, dẫn đến việc công nhân đình công không đi làm vì không được hưởng chế độ
Huyện Đồng Hỷ là một huyện đang có sự chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Việc hình thành các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các làng nghề đã và đang thu hút lực lượng lao động lớn Trong những năm qua, chính sách BHXH nói chung, công tác thu BHXH tại huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên nói riêng đã đạt được những thành tích đáng khích lệ như: số đơn vị, số người, số tiền tham gia BHXH ngày càng tăng, năm sau cao hơn năm trước, làm nguồn thu tăng lên rõ rệt, quyền lợi BHXH của người lao động (NLĐ) được đảm bảo
Tuy nhiên, quá trình tổ chức thu BHXH ở huyện Đồng Hỷ vẫn còn một số hạn chế đang đặt ra vấn đề quan tâm cần giải quyết đó là: Tình trạng nợ đọng BHXH đang diễn ra hết sức nhức nhối ở tất cả các nhóm đối tượng tham gia BHXH Tình trạng trốn đóng BHXH ngày càng phổ biến, gia tăng trong toàn huyện
Trang 13Những vấn đề trên nếu không đƣợc quan tâm khắc phục sẽ tác động xấu đến toàn bộ hoạt động của BHXH ở huyện Đồng Hỷ
Xuất phát từ đó em lựa chọn đề tài: “Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ
đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên” làm đề tài nguyên
cứu để nhằm gióp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế nêu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu thực trạng tình hình nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ; đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH trong thời gian tới
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ đọng và trốn đóng BHXH
- , đánh giá thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ
- Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ trong thời gian tới
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
nợ đọng và trốn
đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên
, doanh nghiệp (trong đó tập trung ở các đơn vị thuộc khu vực kinh tế ngoài quốc doanh): Công ty
- Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi về thời gian: Đề tài nghiên cứu các tài liệu, số liệu từ năm 2011 - 2013
Trang 14- : Đề tài tập trung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH tại các đơn vị, DN ở huyện Đồng Hỷ
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Góp phần hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH, thu BHXH, nhất là vấn đề nợ đọng, trốn đóng BHXH
- Kết quả nghiên cứu chỉ ra những mặt tích cực, những hạn chế cần phải hoàn thiện trong việc tổ chức quản lý thu BHXH và giải quyết nợ đọng, trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ, qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm
- Đề xuất những giải pháp có thể được vận dụng vào thực tế để thực hiện tốt công tác thu BHXH, hạn chế nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ Đồng thời giúp các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành chức năng làm căn cứ trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đồng Hỷ
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn gồm 4 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nợ đọng và trốn đóng BHXH
- Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Thực trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ
- Chương 4: Giải pháp nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH
ở huyện Đồng Hỷ
Trang 15Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ ĐỌNG
VÀ TRỐN ĐÓNG BẢO HIỂM XÃ HỘI 1.1 Những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH
Theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp để trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuổi già và chết Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế cho các thân nhân trong gia đình người lao động, để góp phần ổn định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình, góp phần an toàn xã hội”
Như vậy có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội
1.1.1.2 Bản chất của BHXH
Bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của xã hội, nhất là trong xã hội mà sản xuất hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó Kinh tế càng phát triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham
Trang 16gia BHXH có thể chỉ là NLĐ hoặc cả NLĐ và NSDLĐ Bên BHXH (Bên nhận nhiệm
vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là NLĐ và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Hoặc cũng có thể là những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: Tuổi già, thai sản v.v… Đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động
- Phần thu nhập của NLĐ bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được
sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của NLĐ trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Mục tiêu này đã được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hoá như sau:
+ Đền bù cho NLĐ những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ
Ưu đãi xã hội là sự đãi ngộ đặc biệt về cả vật chất và tinh thần của Nhà nước, của
xã hội nhằm đền đáp công lao đối với những người hay một bộ phận xã hội có nhiều cống hiến cho xã hội Chẳng hạn những người có công với nước, liệt sỹ và thân nhân liệt
Trang 17sỹ, thương binh, bệnh binh v.v đều là những đối tượng được hưởng sự đãi ngộ của Nhà nước, của xã hội, ưu đãi xã hội tuyệt nhiên không phải là sự bố thí, ban ơn, mà nó là một chính sách xã hội có mục tiêu chính trị - kinh tế - xã hội, góp phần củng cố thể chế chính trị của Nhà nước trước mắt và lâu dài, đảm bảo sự công bằng xã hội
Mặc dù có nhiều điểm khác nhau về đối tượng và phạm vi, song BHXH, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội đều là những chính sách xã hội không thể thiếu được trong một quốc gia Những chính sách này luôn bổ sung cho nhau, hỗ trợ nhau và
tất cả đề góp phần đảm bảo an toàn xã hội
1.1.1.3 Vai trò của BHXH
* Vai trò của BHXH đối với NLĐ và gia đình của họ
Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của BHXH Chúng ta có thể liệt kê một số vai trò của BHXH đối với cá nhân
- Thứ nhất: BHXH có vai trò ổn định thu nhập cho NLĐ và gia đình họ Khi
tham gia BHXH, NLĐ phải trích một khoản phí nộp vào quỹ BHXH, khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách BHXH mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm
để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống
- Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, BHXH tạo được tâm lý an
tâm, tin tưởng Khi đã tham gia BHXH góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho NLĐ đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động
* Vai trò của BHXH đối với xã hội:
- Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, mối
quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ
Trang 18khác nhau NLĐ tham gia BHXH với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội NSDLĐ tham gia BHXH là
để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho NLĐ nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của BHXH
- Thứ hai: BHXH thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHXH tạo cho
những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của
xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của
chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHXH là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên
- Thứ ba: BHXH thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương
thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
- Thứ tư: BHXH góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHXH là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho NLĐ Trên giác độ kinh tế, BHXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, không phân biệt các tầng lớp trong xã hội
* Vai trò BHXH đối với nền kinh tế thị trường:
- Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa các lớp
trong xã hội trở nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xảy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn BHXH đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ
- Thứ hai: Đối với các DN, khi những NLĐ không may gặp rủi ro thì đã
được chuyển giao cho cơ quan BHXH chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các
Trang 19DN được ổn định hơn Hệ thống BHXH đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường
- Thứ ba: Khi tham gia BHXH cho NLĐ sẽ phát huy tinh thần trách nhiệm,
gắn bó tận tình của NLĐ với các DN làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn
- Thứ tư: Quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung
rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho NLĐ
- Thứ năm: BHXH vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển
nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động
1.1.2.1 Chức năng BHXH
BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động tham gia BHXH khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ tính chất và
cơ chế tổ chức của BHXH
BHXH tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH Các bên tham gia BHXH đều phải tham gia đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người tham gia BHXH khi bị giảm hoặc bị mất thu nhập Theo quy luật “Số đông bù số ít” BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang Thực hiện chức năng này BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội
BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, góp phần nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Người lao động khi bị đau, thai sản, tai nạn lao động, về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Do đó cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được bảo đảm, tạo cho người lao động luôn yên tâm làm việc
Trang 20BHXH gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội, giải quyết được mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, đồng thời làm cho họ gắn bó và hiểu nhau hơn Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức chi ít nhất và có hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động
1.1.2.2 Tính chất của BHXH
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội
Như ở phần trên đã trình bày, trong quá trình lao động sản xuất NLĐ có thể gặp nhiều biến cố, rủi ro khi đó NSDLĐ cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không cảm như: sản xuất kinh doanh bị gián đoạn, vấn đề tuyển dụng lao động và hợp đồng lao động luôn phải được đặt ra để thay thế v.v Sản xuất càng phát triển, những rủi ro đối với NLĐ và những khó khăn đối với NSDLĐ càng nhiều và trở nên phức tạp, dẫn đến mối quan hệ chủ - thợ ngày càng căng thẳng Để giải quyết vấn đề này, Nhà nước phải đứng ra can thiệp thông qua BHXH Và như vậy, BHXH
ra đời hoàn toàn mang tính khách quan trong đời sống kinh tế xã hội của mỗi nước
- BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không gian Tính chất này thể hiện rất rõ ở những nội dung cơ bản của BHXH Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia để hình thành quỹ BHXH Từ những rủi ro phát sinh ngẫu nhiên theo thời gian và không gian đến mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho NLĐ v.v
- BHXH có tính kinh tế, tính xã hội, đồng thời còn có tính dịch vụ
Tính kinh tế thể hiện rõ nhất là ở chỗ, quỹ BHXH muốn được hình thành, bảo toàn và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải được quản lý chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích Mức đóng góp của các bên phải được tính toán rất
cụ thể dựa trên xác suất phát sinh thiệt hại của tập hợp NLĐ tham gia BHXH Quỹ BHXH chủ yếu dùng để trợ cấp cho NLĐ theo các điều kiện của BHXH Thực chất, phần đóng góp của mỗi NLĐ là không đáng kể, nhưng quyền lợi nhận được là rất lớn khi gặp rủi ro Đối với NSDLĐ việc tham gia đóng góp vào quỹ BHXH là để bảo hiểm cho NLĐ mà mình sử dụng Xét dưới góc độ kinh tế, họ cũng có lợi vì không
Trang 21phải bỏ ra một khoản tiền lớn để trang trải cho những NLĐ bị mất hoặc giảm khả năng lao động Với Nhà nước BHXH góp phầm làm giảm gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho nền kinh tế quốc dân
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống bảo đảm xã hội, vì vậy tính xã hội của nó thể hiện rất rõ nét Xét về lâu dài, mọi NLĐ trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm cho mọi NLĐ và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang trong độ tuổi lao động Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó Khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển
thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hoá của BHXH cũng ngày càng cao
độ BHXH và hoạt động của tổ chức sự nghiệp BHXH
Thu BHXH thực chất là quá trình phân phối lại một phần thu nhập của các đối tượng tham gia BHXH Phân phối và phân phối lại một phần của cải xã hội dưới dạng giá trị nhằm giả quyết hài hoà các mặt lợi ích xã hội góp phần bảo đảm công bằng xã hội
- Vai trò của thu BHXH:
Quỹ BHXH hiện đang được thực hiện nhằm đạt mục tiêu là một công quỹ độc lập với ngân sách nhà nước, nhằm đảm bảo về tài chính để chi trả các chế độ BHXH cho NLĐ Vì thế công tác thu BHXH ngày càng trở thành khâu quan trọng
và quyết định đến sự tồn tại và phát triển của việc thực hiện chính sách BHXH
+ Công tác thu BHXH là hoạt động thường xuyên và đa dạng của ngành BHXH nhằm đảm bảo nguồn quỹ tài chính BHXH đạt được tập trung thống nhất: Thu đóng góp BHXH là hoạt động của các cơ quan BHXH từ Trung ương đến
Trang 22địa phương cùng với sự phối hợp của các ban ngành chức năng trên cơ sở quy định của pháp luật về thực hiện chính sách BHXH nhằm tạo ra nguồn tài chính tập trung
từ việc đóng góp của các bên tham gia BHXH Đồng thời tránh được tình trạng nợ đọng BHXH từ các cơ quan đơn vị, từ người tham gia BHXH Qua đó, đảm bảo sự công bằng trong việc thực hiện và triển khai chính sách BHXH nói chung và giữa những người tham gia BHXH nói riêng
+ Để chính sách BHXH được diễn ra thuận lợi thì công tác thu BHXH có vai trò như một điều kiện cần và đủ trong quá trình tạo lập cùng thực hiện chính sách BHXH: Bởi đây là đầu vào, là nguồn hình thành cơ bản nhất trong quá trình tạo lập quỹ BHXH Đồng thời đây cũng là một khâu bắt buộc đối với người tham gia BHXH thực hiện nghĩa vụ của mình Do vậy công tác thu BHXH là một công việc đòi hỏi độ chính xác cao, thực hiện thường xuyên, liên tục, kéo dài trong nhiều năm
và có sự biến động về mức đóng và số lượng người tham gia
+ Công tác thu BHXH vừa đảm bảo cho quỹ BHXH được tập trung về một mối, vừa đóng vai trò như một công cụ thanh kiểm tra số lượng người tham gia BHXH biến đổi ở từng khối lao động, cơ quan, đơn vị ở từng địa phương hoặc trên phạm vi toàn quốc Bởi công tác thu BHXH cũng đòi hỏi phải được tổ chức tập trung thống nhất có sự ràng buộc chặt chẽ từ trên xuống dưới, đảm bảo an toàn tuyệt đối về tài chính, đảm bảo độ chính xác trong ghi chép kết quả đóng BHXH của từng cơ quan đơn vị cũng như của từng NLĐ Hơn nữa, hoạt động thu BHXH là hoạt động liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của cả một đời người và có tính kế thừa, số thu BHXH một phần dựa trên số lượng người tham BHXH để tạo lập lên quỹ BHXH, cho nên nghiệp vụ của công tác thu BHXH có một vai trò hết sức quan trọng và rất cần thiết trong thực hiện chính sách BHXH Bởi đây là khâu đầu tiên giúp cho chính sách BHXH thực hiện được các chức năng cũng như bản chất của mình
+ Hoạt động của công tác thu BHXH ở hiện tại ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH trong tương lai Do BHXH cũng như các loại hình bảo hiểm khác đều dựa trên cơ sở nguyên tắc có đóng có hưởng BHXH đã đặt ra yêu cầu quy định đối với công tác thu nộp BHXH Nếu không thu được BHXH thì quỹ BHXH không có nguồn để chi trả cho các chế độ BHXH cho
Trang 23NLĐ Vậy hoạt động thu BHXH ảnh hưởng trực tiếp đến công tác chi và quá trình thực hiện chính sách BHXH Do đó, thực hiện công tác thu BHXH đóng một vai trò quyết định, then chốt trong quá trình đảm bảo ổn định cho cuộc sống của NLĐ cũng như các đơn vị DN được hoạt động bình thường
- Đặc điểm của công tác thu BHXH:
Số đối tượng phải thu là rất lớn và gia tăng theo thời gian, nên công tác quản
lý thu BHXH là rất khó khăn và phức tạp; Công tác thu mang tính chất định kỳ, lặp
đi lặp lại, do đó khối lượng công việc là rất lớn đòi hỏi nguồn nhân lực và cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thu cũng phải tương ứng; Đối tượng thu là tiền nên dễ xảy ra sai phạm, vi phạm đạo đức và lạm dụng quỹ vốn, tiền thu BHXH
Việc tham gia BHXH của NLĐ, NSDLĐ đảm bảo công khai, thực hiện công bằng ở các thành phần kinh tế Các đơn vị tham gia BHXH đều phải công khai minh bạch số lao động phải đóng BHXH và số tiền đóng theo đúng quy định, có sự kiểm tra, thanh tra, kiểm soát của Nhà nước và giám sát của các cơ quan chức năng và các tổ chức chính trị-xã hội Tính công bằng được thể hiện trong việc thu nộp BHXH, không phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, tức là đều có tỷ lệ phần trăm thu BHXH như nhau
Thực hiện quản lý chặt chẽ tiền thu BHXH theo chế độ quản lý tài chính của Nhà nước và sử dụng nguồn thu đúng mục đích Nguồn thu BHXH do được tồn tích cộng đồng, nên thường có khối lượng tiền nhàn rỗi tương đối lớn chưa sử dụng cần được đầu tư tăng trưởng, vừa nâng cao hiệu quả sử dụng, vừa an toàn tiền thu BHXH
về mặt giá trị do các yếu tố trượt giá Vì vậy, thông qua cơ chế quản lý nghiêm ngặt
về thu BHXH để tránh lạm dụng, thất thoát; Đồng thời nghiên cứu các lĩnh vực đầu
tư để đảm bảo thu hồi được vốn và có lãi, tức là hiệu quả sử dụng nguồn thu
* Cơ sở thu BHXH
- Cơ sở pháp lý
Theo quy định của pháp luật hiện hành việc điều chỉnh các quan hệ về thu nộp BHXH và công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH được ràng buộc thông qua mối quan hệ 3 bên: NLĐ, đơn vị SDLĐ và cơ quan BHXH bao gồm:
Trang 24Luật BHXH số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Nghị định số 152/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc; Nghị định số 190/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện; Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm
2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về bảo hiểm thất nghiệp; Nghị định số 68/2007/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2007 quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân;
Nghị quyết số 49/NQ-CP ngày 09/12/2010 của Chính phủ về việc đơn giản hóa thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của BHXH Việt Nam;
Quyết định 1111/QĐ BHXH ngày 25 tháng 10 năm 2011 về việc ban hành quy định quản lý thu BHXH, BHYT, quản lý sổ BHXH, thẻ BHYT
- Đối tượng thu BHXH:
Tùy vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước mà thu BHXH có thể là tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động hoặc toàn bộ thu nhập của NLĐ Tuy nhiên, đối tượng thu BHXH phải mang tính ổn định để thuận tiện cho công tác quản lý BHXH Ở những nước có nền kinh tế phát triển, việc ứng dụng công nghệ thông tin phổ biến trong quản lý thì đối tượng thu BHXH là mức thu
nhập của NLĐ Theo luật ở Việt Nam đối tượng thu bao gồm:
+ Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ ba tháng trở lên; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức; Công nhân quốc phòng, công nhân công an; Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp
vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác
cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân; Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; Người làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc Người tham gia BHXH tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao
Trang 25động không thuộc các đối tượng trên
NSDLĐ tham gia BHXH bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; DN, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho NLĐ
- Mục đích thu
+
tắc hạch toán cân đối thu-chi và được Nhà nước bảo hộ Quỹ BHXH được quản lý
và sử dụng theo chế độ tài chính của Nhà nước, bảo đảm chi ổn định, lâu dài các chế độ BHXH, giảm dần sự cấp phát từ ngân sách Nhà nước
+ Tạo lập mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH
+ Thực hiện nguyên tắc “có đóng, có hưởng”, đảm bảo sự công bằng giữa cống hiến và hưởng thụ Góp phần khắc phục các tiêu cực trong giải quyết chế độ chính sách BHXH
- Phương thức thu
Có thể phân loại ra 3 phương thức:
+ Thu trực tiếp từ NLĐ: Được áp dụng ở những nước sử dụng hệ thống tài khoản cá nhân Thông qua phương thức này NLĐ đăng ký với cơ quan BHXH, hàng tháng nộp tiền vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH bằng hình thức đăng ký chuyển khoản tự động, tài khoản sẽ tự động in ra một bảng thông báo tới NLĐ về số tiền đã đóng, số tiền nợ Nếu có vướng mắc trong quá trình chuyển khoản, tài khoản sẽ tự động gửi thông báo tới cơ quan BHXH, ngay lập tức sẽ có bộ phận kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện phát hiện những sai lệch hệ thống
+ Thu gián tiếp thông qua hệ thống thuế: Được áp dụng ở những nước có đánh thuế thu nhập và có chương trình BHXH phổ cập Việc thu BHXH qua cơ quan thuế sẽ đảm bảo hiệu quả của công tác thu, góp phần làm giảm tình trạng trốn đóng BHXH Đây là phương thức thu tiết kiệm chi phí, song nhận thức của người đóng BHXH sẽ bị sai lệch, coi đóng góp BHXH là một loại thuế
+ Thu gián tiếp qua đại lý (qua người SDLĐ):
Trang 26Người SDLĐ sẽ thu BHXH từ NLĐ sau đó chuyển toàn bộ đóng góp BHXH của cả NLĐ và người SDLĐ cho cơ quan BHXH Đây là phương thức phổ biến nhất, được áp dụng với các trường hợp có đối tượng tham gia BHXH là người làm công ăn lương cụ thể là
Hàng tháng, chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng, người SDLĐ đóng BHXH trên quỹ tiền lương, tiền công của những NLĐ tham gia BHXH, đồng thời trích từ tiền lương, tiền công tháng của từng NLĐ theo mức quy định để đóng cùng vào tài khoản chuyên thu của cơ quan BHXH mở tại Ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Hàng tháng, người SDLĐ được giữ lại một tỷ lệ % (hiện nay 2%) số phải nộp
để chi trả kịp thời 2 chế độ ốm đau, thai sản cho NLĐ Hàng quý thực hiện quyết toán, trường hợp tổng số tiền quyết toán nhỏ hơn số tiền giữ lại thì người SDLĐ phải nộp số chênh lệch này vào tháng đầu quý sau (Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, 2007, Quyết định 902)
-Các chủ thể liên quan đến thu BHXH
+ NLĐ khi tham gia BHXH có quyền và trách nhiệm: Được cấp sổ BHXH, nhận sổ khi không còn làm việc, nhận lương hưu và trợ cấp BHXH, hưởng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) khi ốm đau, nằm viện, phẫu thuật; ủy quyền cho người khác nhận lương hưu, trợ cấp, khiếu nại tố cáo về BHXH và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Có trách nhiệm kê khai trung thực, đúng sự thật thông tin theo mẫu của cơ quan BHXH và chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự kê khai này
+ Người SDLĐ có quyền và trách nhiệm: Từ chối thực hiện những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật về BHXH; khiếu nại, tố cáo về BHXH Có trách nhiệm: Đóng BHXH cho NLĐ hàng tháng; lập hồ sơ để NLĐ được cấp sổ, thẻ BHYT, đóng và hưởng BHXH; bảo quản sổ BHXH, cấp thẻ BHYT cho NLĐ trong thời gian NLĐ làm việc và trả sổ, thu hồi thẻ BHYT của NLĐ khi NLĐ không làm việc; hàng tháng đối chiếu quỹ lương với cơ quan BHXH để làm căn cứ trích nộp BHXH
+ Cơ quan BHXH có quyền tổ chức quản lý nhân sự, tài chính và tài sản như mọi cơ quan Nhà nước Khiếu nại và kiến nghị với Nhà nước các vấn đề về BHXH; kiểm tra việc đóng BHXH và chi trả các chế độ BHXH; kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về BHXH cũng như về chế độ, chính sách BHXH Có trách nhiệm: Tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách pháp luật
Trang 27của Nhà nước về BHXH; hướng dẫn thủ tục thực hiện chế độ BHXH đối với NLĐ, người SDLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH; thực hiện thu BHXH, quản lý và sử dụng quỹ BHXH; tiếp nhận hồ sơ và giải quyết chế độ BHXH; trả lương hưu và trợ cấp BHXH cho các đối tượng được hưởng…
+ Cơ quan quản lý khác: Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH; Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về BHXH; Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý Nhà nước về BHXH trong phạm vi địa phương (Quốc hội 2006, Luật BHXH)
* Các hình thức nợ đọng BHXH
- Phân loại theo thời gian: Nợ đọng BHXH ngắn hạn (nợ gối đầu) và nợ đọng BHXH dài hạn Nợ đọng BHXH ngắn hạn là chậm đóng BHXH dưới 3 tháng so với thời gian quy định; Nợ đọng BHXH dài hạn là chậm đóng BHXH từ 3 tháng trở lên
so với thời gian quy định
Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định rõ những đơn vị SDLĐ
nợ dài hạn cần phải tập trung đôn đốc thu, những đơn vị SDLĐ thuộc diện khó thu hồi để có thông tin phản hồi với cơ quan quản lý Nhà nước về BHXH và có biện pháp xử lý để hạn chế số lượng đơn vị nợ đọng dây dưa, khó thu hồi
- Phân loại theo quy mô: đơn vị nợ BHXH với số tiền ít (dưới 100 triệu đồng) và nợ BHXH với số tiền lớn (trên 100 triệu đồng)
Trang 28Việc phân loại này giúp cho cơ quan BHXH xác định được quy mô nợ của từng đơn vị, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau Trước hết xử lý các đơn vị nợ BHXH với số tiền lớn, bởi tại những đơn vị đó quyền lợi của NLĐ bị ảnh hưởng lớn và thu hồi được nợ của những đơn vị này sẽ góp phần tăng thu nhiều hơn cho quỹ BHXH
ít người và không truy đóng cho thời gian trước đó
- Đóng không đúng mức quy định: Báo cáo sai sự thật, cung cấp sai lệch thông tin, số liệu tiền đóng và quỹ BHXH Gian lận, giả mạo hồ sơ trong việc thực hiện BHXH, cố tình không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH Kê khai giảm
số lao động, mức lương thấp hơn trong hợp đồng lao động để giảm chi phí BHXH phải nộp dù tiền công phải trả cao hơn rất nhiều Xây dựng phương án trả lương không rõ ràng, thang bảng lương không phù hợp
+ Cố tình kéo dài thời gian thử việc, hợp đồng lao động dưới ba tháng để không đóng BHXH, thỏa thuận hợp đồng lao động không thành văn
+ Chấm dứt hợp đồng với NLĐ đã làm việc lâu năm, có mức tiền lương cao, thay thế bằng lực lượng lao động mới để giảm chi phí tiền lương, trốn đóng BHXH
- Sử dụng tiền đóng và quỹ BHXH trái quy định của pháp luật: Hiện nay, khi Nhà nước giao quyền cho người SDLĐ chủ động trích tỷ lệ % tiền lương tháng của NLĐ để đóng BHXH, mặc dù NSDLĐ đã chiết trừ hết phần đóng góp BHXH của NLĐ nhưng người SDLĐ vẫn chưa chịu chuyển tiền đóng góp này cùng với phần đóng góp thuộc trách nhiệm của họ cho tổ chức BHXH Như vậy có nghĩa là NSDLĐ lừa gạt, chiếm dụng số tiền đóng BHXH của NLĐ Và mặc dù NLĐ đã tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình song quyền hưởng BHXH của họ có thể bị
Trang 29tước đoạt do hành vi vi phạm của NSDLĐ Đây được coi là các hình thức phổ biến trên thị trường hiện nay, việc trốn đóng BHXH xuất phát từ lợi ích của chủ SDLĐ,
sự hiểu biết của NLĐ, công tác quản lý của cơ quan BHXH Vấn đề này đã làm thất thoát vốn không nhỏ của Nhà nước, tính công bằng của hệ thống ASXH ở mỗi quốc
gia không được đảm bảo
- Tốc độ tăng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người
Thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh đã giúp đời sống của NLĐ dần được cải thiện; Việc sản xuất, kinh doanh của các DN được thuận lợi, vì thế các chủ
DN có ý thức hơn với trách nhiệm tham gia BHXH cho NLĐ
- Qui mô DN
Qui mô của DN càng lớn thì việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHXH càng được chặt chẽ
- Công tác thanh tra, kiểm tra của các cấp chính quyền
Công tác thanh tra, kiểm tra cũng là một biện pháp rất quan trọng trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp lật BHXH
Cùng với việc phát hiện và xử lý các vi phạm, thanh tra, kiểm tra còn đóng vai trò như là một biện pháp phòng ngừa hữu hiệu các vi phạm pháp luật
Trang 30Tuy nhiên, Do lực lượng thanh tra của các cơ quan chức năng còn mỏng, vì vậy số vụ vi phạm do cơ quan BHXH báo cáo thì nhiều nhưng được xử lý thì rất ít Mặt khác, sự phối hợp cũng như cơ chế xử lý các vi phạm còn nhiều bất cập về thủ tục cũng như mức độ xử phạt
Có thể nói công tác thanh kiểm tra, xử lý vi phạm rất quan trọng, có liên quan đến toàn bộ quyền lợi của người tham gia BHXH Đồng thời, còn có ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín của Đảng bộ, chính quyền địa phương
* Nguyên nhân của nợ đọng và trốn đóng BHXH
Có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng nợ và chậm đóng BHXH
- Khách quan là do tình hình kinh tế - xã hội gặp khó khăn, khiến nhiều DN không có khả năng tài chính để đóng đủ, đúng hạn tiền BHXH
- Chủ quan là do nhận thức chưa đầy đủ về trách nhiệm đóng BHXH của các
DN Không ít DN cố tình không đóng BHXH hoặc chỉ đóng BHXH cho một số người trong bộ khung quản lý của đơn vị để giảm chi phí, thu lợi nhuận nhiều hơn Cán bộ chuyên trách thu khi thực hiện nhiệm vụ của mình đi kiểm tra đôn đốc việc thu nộp vẫn chưa được kiên quyết trong các trường hợp NSDLĐ khất nộp, chậm nộp Nhiều cán bộ còn e dè, nể nang , né tránh sự va chạm, đốc thúc thu nộp BHXH Và trên hết là do cơ chế, chính sách pháp luật, đặc biệt là khâu tổ chức thực thi chưa đủ chặt chẽ và nghiêm khắc để xử lý các trường hợp vi phạm Chính vì yếu
tố này mà không ít DN đã cố tình chây ỳ, chậm đóng BHXH nhằm chiếm dụng tiền, phục vụ đầu tư, kinh doanh khác…
Pháp luật và thực thi pháp luật chưa đủ nghiêm khắc góp một phần khá lớn trong thực trạng chây ỳ, nợ đọng BHXH hiện nay nhưng bên cạnh đó có một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là chế tài xử lý DN vi phạm chưa đủ sức răn đe để tình trạng người làm - người chịu
1.4 Kinh nghiệm hạn chế tình trạng nợ đọng, trốn đóng BHXH của một số nước trên thế giới và ở Việt Nam
nước trên thế giới
- Kinh nghiệm của CHLB Đức
Trang 31Cộng hòa Liên bang Đức là nước đầu tiên thiết lập BHXH bắt buộc Các chế
độ BHXH bao gồm: ốm đau, thai sản; tuổi già và tàn tật; tai nạn lao động; thất nghiệp; bảo hiểm phụ thuộc Hiện tại NLĐ và người SDLĐ có tỷ lệ đóng BHXH bắt buộc là 19,9%; ngoài ra còn khoản trợ cấp của Liên bang Các khoản đóng BHXH là 180,5 tỷ EUR, hỗ trợ từ ngân hàng liên bang là 61,3 tỷ EUR Để công tác quản lý thu BHXH được hiệu quả, CHLB Đức đã xây dựng hệ thống giám sát chủ SDLĐ Hằng năm kiểm tra tính tuân thủ khoảng 800 nghìn vụ việc trong đó: 50%
do các chuyên gia được đào tạo chuyên biệt của cơ quan Bảo hiểm hưu trí Liên bang Đức (DRV Bund) tiến hành, 50% do 14 cơ quan khu vực của DRV Bund tiến hành Đức đã xây dựng 20 khu vực giám sát ở tất cả Liên bang với số lượng nhân viên rất lớn 1.732 người, công tác quản trị hành chính được đặt tại 20 khu vực, số giám sát viên là 309 người Ngoài nhiệm vụ giám sát chủ SDLĐ, công tác quản trị hành chính bao gồm: quan hệ cộng đồng, đưa ra các con số thống kê, các báo cáo kiểm soát… Với các trường hợp nợ quá hạn chia làm 2 loại là: Trường hợp không
cố ý sẽ yêu cầu nộp các khoản nợ quá hạn, trường hợp cố ý sẽ bao gồm nộp các khoản nợ quá hạn + 1% lãi suất mỗi tháng Các trường hợp gian lận, giả mạo hồ sơ, lao động bất hợp pháp và những trường hợp chủ ý phạm tội sẽ chuyển hồ sơ lên cơ quan công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự
Việc khai, nộp thuế và trích nộp BHXH rất chặt chẽ, hầu như không thể có vấn
đề về trốn nộp BHXH Thực tế nếu NLĐ có kê khai sai, kiểm tra từ hệ thống Ngân hàng, Chính phủ cũng buộc phải nộp và có thể còn bị phạt, mức phạt rất cao Do đó, hầu như cả NLĐ và chủ các DN không ai nghĩ đến việc trốn tránh trích nộp BHXH
Việc tổ chức quản lý BHXH ở Đức phụ thuộc vào từng loại hình chế độ BHXH và có rất nhiều cơ quan tham gia trong lĩnh vực này Họ đều hoạt động và được điều chỉnh theo Luật hành chính công Do có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau nên tính chất cạnh tranh trong lĩnh vực BHXH ở Đức diễn ra mạnh mẽ
- Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Tại Hàn Quốc, cơ quan quản lý về BHXH là tổ chức xã hội thuộc Bộ Lao động cung cấp các dịch vụ quản lý liên quan tới lao động và việc làm thuộc diện
Trang 32BHXH và phúc lợi xã hội Về nguồn nhân lực có tồng số là 5051 nhân viên/01 trụ
sở chính, 06 trụ sở khu vực, 49 văn phòng chi nhánh 06 ủy ban và 09 bệnh viện đền
bù cho NLĐ Khách hàng của họ là NLĐ, người SDLĐ, người thất nghiệp… chiếm 62,3% dân số tham gia hoạt động kinh tế
Về quản lý nợ BHXH cơ quan BHXH Hàn Quốc thực hiện như sau:
Về phía cơ quan BHXH: Khuyến khích đóng các khoản nợ đọng BHXH trong năm hiện tại thông qua các hình thức gọi điện, gặp trực tiếp sau đó gửi thư thúc giục các đơn vị nợ BHXH Thời gian được tính từ ngày công văn nhắc nhở tới các đơn vị SDLĐ đến hạn cuối cùng đóng BHXH đã được ghi trong công văn Việc thu các khoản nợ này trước tiên tập trung vào các doanh nghiệp có số tiền nợ nhiều
và thời gian kéo dài Trong các trường hợp quá thời hạn quy định, trụ sở chính của
cơ quan BHXH sẽ lên danh sách các đơn vị này, tiến hành truy vấn tài sản trên toàn quốc như bất động sản, phương tiện đi lại, nhà xưởng máy móc…với sự trợ giúp của các cơ quan liên quan như Bộ Đất đai, Giao thông
Bên cạnh đó, cơ quan BHXH tại trụ sở chính và văn phòng chi nhánh cũng khuyến khích các đơn vị SDLĐ, NLĐ đóng BHXH, trao đổi thông tin giữa các cán
bộ chuyên trách thông qua các bài thuyết trình thực tiễn, đồng thời cung cấp các biện pháp tốt hơn phục vụ cho đơn vị SDLĐ chuyển tiền tự động, thuận tiện
Mở các khóa đào tạo nhằm nâng cao nghiệp vụ của cán bộ phụ trách nợ BHXH từ đó cho phép các học viên xử lý vụ việc hiệu quả Với các phương pháp như trên số nợ của Hàn Quốc đã giảm liên tiếp trong 4 năm từ 686 triệu USD (năm 2006) xuống 498 triệu USD (năm 2009)
1.4.2 Kinh nghiệm nhằm hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH ở Việt Nam
- Kinh nghiệm của thành phố Hải Phòng
Hải Phòng là một TP cảng biến lớn, là đầu mối giao thông trong nước và quốc tế với nhiều DN kinh doanh trong các ngành công nghiệp và dịch vụ có mối quan hệ đối tác không chỉ trong nước mà còn mở rộng trên phạm vi quốc tế Việc quản lý công tác thu BHXH trên địa bàn vì thế gặp nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn bởi các DN tuy lớn nhưng lại có mối quan hệ kinh tế quốc tế rất
Trang 33chặt chẽ, do đó quá trình sản xuất kinh doanh phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của đối tác nước ngoài Trong những năm qua, nhất là trong những năm gần đây tình trạng các DN nợ BHXH, BHYT ngày một tăng cao Theo ông Trương văn Quý
- Giám đốc BHXH TP, nguyên nhân chủ yếu nợ đọng là do ảnh hưởng của việc suy thoái kinh tế toàn cầu, tình hình lạm phát, lãi xuất tăng cao dẫn đến nhiều đơn vị đình đốn, thậm chí ngừng hoạt động khi không tiêu thụ được sản phẩm, không vay được tiền vốn để hoạt động sản xuất kinh doanh; bên cạnh đó, vẫn còn những đơn
vị có điều kiện thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh nhưng lại cố tình trốn đóng, đóng không đầy đủ, nợ đọng lâu dài làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của NLĐ về chế
độ BHXH, trong thời gian vừa qua Vì vậy, để hoàn thành công tác thu BHXH mà BHXH Việt Nam giao, cán bộ phòng thu nói riêng và tập thể cán bộ viên chức BHXH
TP Hải Phòng nói chung phải rất nỗ lực, cố gắng
Kết quả năm 2011, số DN nợ đọng BHXH kéo dài trên địa bàn TP Hải Phòng đã giảm từ 70 DN xuống còn 46 DN (giảm 34,3%) và số tiền nợ đọng giảm
từ từ 81 tỷ đồng xuống còn 41,6 tỷ đồng (giảm 48,7%)
Bí quyết thành công của TP Hải Phòng là sự thấu hiểu và thông cảm giữa
“chủ nợ” và “con nợ” Hải Phòng luôn lắng nghe DN, tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc của họ với thái độ tôn trọng, chia sẻ Lãnh đạo ngành BHXH TP đã trực tiếp đến nhiều DN để tiếp xúc với đơn vị, vừa tìm hiểu nguyên nhân, vừa tìm cách tháo gỡ với DN với mục tiêu trước hết là đảm bảo quyền lợi cho NLĐ
Để giải quyết vấn đề này, BHXH TP Hải Phòng đã chủ động đề nghị với chủ DN việc đóng tiền nợ BHXH chia làm nhiều đợt, tùy vào tình hình ngân sách của DN cùng với bản cam kết sẽ đóng nốt các khoản còn lại trong thời gian nhất định Việc đóng một phần tiền nợ đọng này được phía cơ quan BHXH ghi nhận và làm thủ tục giải quyết các chế độ tồn đọng của NLĐ do DN thiếu nợ trước đây Việc làm này đã được hầu hết các
DN tích cực hưởng ứng Nhiều DN ngay lập tức đã trích một phần ngân sách để đóng BHXH, thậm chí còn nhiều DN sẵn sàng đi vay ngân hàng để nộp nợ BHXH Bên cạnh
đó đưa việc thu nộp vào đánh giá thi đua, khen thưởng dịp cuối năm
Trang 34Ngoài việc phối hợp với các ngành trên địa bàn TP đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động thì công tác kiểm tra, thanh tra, xử phạt, đưa việc thu nộp vào tiêu chí đánh giá thi đua, khen thưởng dịp cuối năm và công khai các đơn vị sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH trên các phương tiện thông tin đại chúng được triệt để thực hiện Thì BHXH TP trong thời gian tới sẽ khởi kiện, đưa các đơn vị nợ đọng BHXH ra TAND các cấp Những biện pháp đối với các DN cố tình chây ì sẽ được lập danh sách để gửi lên UBND TP Đồng thời đưa những đơn vị nợ đọng chây ì lên truyền hình để mọi người dân được biết thông tin
Thoát khỏi tâm lý ngại ngần khi tiếp xúc với các đơn vị nợ đọng, thấu hiểu nỗi khó khăn của DN và quan trọng hơn là để giải quyết chế độ hợp pháp cho NLĐ, cùng với thái độ kiên quyết của lãnh đạo BHXH TP Hải Phòng đã giúp cho việc thu nợ đọng BHXH ở Hải Phòng đạt những kết quả đáng khích lệ (http://www.bhxhhaiphong.vn)
- Kinh nghiệm của tỉnh thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, diện tích 2.095 km2 với dân số hơn 7 triệu người Nguồn nhân lực hiện tại khoảng 4,8 triệu; lao động đang có việc làm khoảng 3,5 triệu người Các thành phần kinh tế phát triển mạnh mẽ, đa dạng về loại hình sản xuất và hình thức sở hữu Do
đó, đã thu hút lực lượng lao động khác rất đông Theo số liệu thống kê, hiện có khoảng hơn 40.000 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp trong nước chiếm 90%; trên 35.000 cơ sở kinh doanh cá thể Điều đó đã tạo ra tiềm năng và những điều kiện thuận lợi để mở rộng quy mô thực hiện chính sách BHXH, BHYT trên địa bàn Tuy nhiên, vấn đề vi phạm BHXH đã và đang trở thành mối quan tâm, bức xúc của
dư luận xã hội nếu không có biện pháp kiên quyết, vi phạm này sẽ cản trở lớn cho việc thực hiện chính sách BHXH Tính đến cuối năm 2010, thành phố Hồ Chí Minh
có 19.139 DN, đơn vị nợ đọng BHXH của trên 687.100 NLĐ Chỉ tính riêng số nợ trên 12 tháng đã có tới 205 DN nợ tổng cộng 75 tỷ đồng, trong đó có DN nợ trên 10
tỷ đồng Tổng nợ BHXH bắt buộc đến cuối năm 2010 tại thành phố Hồ Chí Minh
là gần 374 tỷ đồng Hiịen nay cơ quan BHXH thành phố Hồ Chí Minh không xác định được chính xác số lượng đơn vị, DN có SDLĐ cũng như số lượng NLĐ thuộc
Trang 35diện phải tham gia BHXH bắt buộc
Để góp phần giải quyết thực trạng này, bên cạnh việc tập trung nâng cao chất lượng công tác kiểm tra chấn chỉnh, BHXH Thành phố Hồ Chí Minh đã tập trung thực hiện một số biện pháp chủ yếu như sau:
- BHXH Thành phố Hồ Chí Minh xây dựng quy chế phối hợp:
+ Phối hợp với Sở LĐ - TB&XH xây dựng chương trình hành động liên tịch, thường xuyên trao đổi các thông tin về tình hình thực hiện BHXH của các doanh nghiệp Sau khi cơ quan BHXH Thành phố kiểm tra, nếu các đơn vị vẫn không tích cực khắc phục vi phạm thì sẽ lập danh sách chuyển Sở LĐ - TB&XH để xem xét xử phạt theo quy định Căn cứ vào danh sách này, Đoàn kiểm tra liên ngành sẽ tiến hành kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật Thông qua các quan hệ phối hợp,
đã kịp thời xử lý các vi phạm pháp luật lao động phát sinh, chủ yếu là vi phạm về BHXH, để giảm thiểu các vi phạm ảnh hưởng đến quyền lợi của NLĐ
+ Xây dựng mối quan hệ với Tòa án nhân dân các cấp để xử lý các vụ kiện của cơ quan BHXH đòi nợ các đơn vị SDLĐ Nhờ đó, đã kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh trong quá trình tố tụng, đảm bảo thụ lý đúng trình tự và thời gian, xét
xử theo quy định của Pháp luật
+ Phối hợp với Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để đảm bảo quá trình thi hành án được kịp thời Tập huấn kiến thức về Luật thi hành án cho BHXH quận, huyện nhằm trang bị và hướng dẫn những kiến thức cần thiết, những công việc phải làm sau khi có quyết định, bản án của tòa án Các mối quan hệ này góp phần tạo ra bước chuyển biến lớn trong công tác xử lý vi phạm nói chung
- Hợp tác tốt với báo chí: Tại Thành phố Hồ Chí Minh, sự phê phán của công luận thông qua báo chí có tác dụng tích cực Đa số người dân có thói quen đọc báo
và có thái độ phê phán mạnh mẽ các hành vi xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng Hợp tác tốt với báo chí là một biện pháp có hiệu quả để các DN thực hiện trách nhiệm nộp BHXH BHXH Thành phố đã thường xuyên công bố thông tin về
vi phạm trên các phương tiện thông tin đại chúng Các báo cũng có nhiều bài điều tra, phản ánh các doanh nghiệp né tránh nhiệm vụ nộp BHXH
- Khởi kiện tại tòa án: Với biện pháp xử lý nêu trên, vẫn còn đơn vị chiếm dụng hoặc nợ đọng BHXH xấu, kéo dài Do vậy, năm 2011, BHXH Thành phố đã
Trang 36tiến hành khởi kiện ra tòa 60 doanh nghiệp cố tình vi phạm nghiêm trọng (nợ BHXH nhiều, kéo dài trên 6 tháng) Từ kinh nghiệm của việc khởi kiện các đơn vị
sử dụng lao động vi phạm pháp luật BHXH năm 2011 và trước tình hình vi phạm chế độ thu nộp BHXH của một số DN ngày một diễn biến phức tạp nhưng chưa có biện pháp khắc phục Tác động tích cực của biện pháp này là ngăn chặn có hiệu quả
ý định không nộp BHXH của các DN còn lại Có thể kết luận biện pháp khởi kiện góp phần quan trọng đến việc hạn chế việc chiếm dụng quỹ BHXH, giữ vững sự ổn định chính trị trên địa bàn Thành phố, làm cơ sở cho việc hoàn thành vượt mức kế hoạch thu năm 2009, đồng thời kéo giảm tỷ lệ nợ đọng xuống dưới 1 tháng Mặt khác, thông qua khởi kiện đã góp phần vào việc xây dựng và hình thành các chủ trương chỉ đạo về việc xử lý vi phạm của các đơn vị SDLĐ của BHXH Việt Nam, tham mưu với UBND Thành phố đề xuất các biện pháp giải quyết, góp phần ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn Thành phố và đề xuất với Nhà nước những nội dung cần xem xét điều chỉnh, sửa đổi cụ thể các văn bản pháp luật về chính sách ASXH nhằm bảo vệ tốt hơn về quyền lợi của NLĐ Tuy vậy, việc khởi kiện các DN trốn, nợ đóng BHXH kéo dài chỉ là biện pháp giải quyết cuối cùng, tốn nhiều thời gian, công sức và tuân thủ một quy trình phức tạp BHXH thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị, các hành vi vi phạm phải được xử lý nghiêm khắc ngay từ đầu, tăng nặng mức xử phạt theo tỷ lệ % luỹ tiến số tiền phạt theo số nợ quỹ BHXH mà không xử phạt theo các mức cố định như hiện nay
số nước trên thế giới như CHLB Đức, Hàn Quốc; của một số
: Một là: Tranh thủ sự lãnh đạo của cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương trong công tác BHXH;
Hai là: Thường xuyên tổ chức tuyên truyền các chế độ chích sách pháp luật
về BHXH, BHYT trên địa bàn dưới nhiều hình thức;
Ba là: Thực hiện việc thanh tra, kiểm tra việc thực hiện Luật BHXH tại các đơn vị có sử dụng lao động;
Bốn là: Việc cải cách thủ tục hành chính, đổi mới tác phong phục vụ
Trang 37Năm là: Đặc biệt quan tâm Phát huy nhân tố con người, nhất là cán bộ làm
công tác thu Những cán bộ này phải được đào tạo một cách bài bản, chuyên nghiệp, bám sát đối tượng, đơn vị thu đặc biệt là các đơn vị nợ đọng, bằng các biện pháp cụ thể gây áp lực mạnh đối với đơn vị nợ đọng, từ đó nâng cao được chất lượng, hiệu quả công việc, xử lý công việc một cách linh hoạt
Sáu là: Thực hiện thu-chi minh bạch các khoản đóng góp BHXH thông qua
hệ thống ngân hàng và kho bạc nhà nước
Bẩy là: Áp dụng các chế tài mạnh và xử lý kiên quyết đối với các đơn vị, DN cố tình nợ đọng, trốn đóng BHXH, như truy vấn tài sản của DN trên toàn quốc, phạt tiền rất nặng hoặc chuyển hồ sơ sang truy tố theo luật hình sự đối với đơn vị cố tình vi phạm luật
Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Các câu hỏi nghiên cứu của đề tài
- Quy trình quản lý thu, nợ đọng và trốn đóng BHXH như thế nào để mang lại hiệu quả trong công tác thu BHXH?
- Thực trạng tình hình trốn đóng BHXH và nợ đọng BHXH ở BHXH huyện Đồng Hỷ như thế nào?
- Nguyên nhân, nhân tố nào ảnh hưởng đến nợ đọng, trốn đóng BHXH ở huyện Đồng Hỷ?
- Giải pháp cơ bản nào để hạn chế tình trạng nợ đọng và trốn đóng BHXH tại các đơn vị, DN ở huyện Đồng Hỷ?
2.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu
Đồng Hỷ là huyện miền núi nằm phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên, huyện có nhiều khu công nghiệp với hơn 200 doanh nghiệp ngoài quốc doanh Lực lượng lao động tập trung trong các doanh nghiệp này rất lớn; độ rủi ro trong công việc cũng như các bệnh nghề nghiệp mắc phải là rất phổ biến Tuy nhiên mới có khoảng 55 % doanh nghiệp trên huyện đăng ký tham gia BHXH
Trang 38Căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và những đặc điểm khác của từng xã trên huyện để nghiên cứu đại diện cho công tác thu bảo hiểm xã hội ở huyện Đồng Hỷ chọn 3 xã, thị trấn trong huyện làm điểm nghiên cứu:
- Xã Tân Long ở vùng Bắc
- Xã Quang Sơn ở vùng Giữa
- Thị trấn Chùa Hang ở vùng Nam
Những xã, thị trấn này có thể đại diện cho từng vùng và cho cả huyện, có tính chất điển hình cho tổng thể nghiên cứu, đại diện và suy rộng được cho cả huyện Đồng Hỷ
BHXH của BHXH huyện Đồng Hỷ trong các năm 2011 - 2013 (Báo cáo quyết toán các năm 2011 - 2013)
2.2.2.2 Thu thập số sơ cấp
Số liệu sơ cấp thu thập thông qua phiếu điều tra trực tiếp đến các nhóm đối tượng tham gia khác nhau: Người tham gia BHXH làm trong các đơn vị doanh nghiệp nhà nước, người tham gia BHXH làm trong các đơn vị doanh nghiệp ngoài quốc doanh, người tham gia BHXH làm trong các đơn vị hành chính, chủ sử dụng
Trang 39lao động, cán bộ làm công tác BHXH tại các đơn vị, cán bộ quản lý trong huyện Đồng Hỷ, cán bộ BHXH huyện Đồng Hỷ
* Phương pháp điều tra
Điều tra chủ yếu bằng phương pháp phỏng vấn, chọn mẫu điển hình
Chọn mẫu nghiên cứu Để đảm bảo lượng mẫu điều tra đủ lớn, có một kết quả cao trong quá trình nghiên cứu tránh những sai sót đáng tiếc trong chọn mẫu
- Nhóm cán bộ quản lý trong huyện Đồng Hỷ
- Nhóm cán bộ BHXH công tác tại BHXH huyện Đồng Hỷ
Trang 40* Tổng hợp điều tra
Bảng 2.1 Số lượng người và các địa điểm điều tra
Đơn vị tính: Người
Địa điểm Đối tượng
Tổng Thị trấn
Chùa Hang
Xã Quang Sơn
Xã Tân Long
1 Người lao động và người sử dụng
lao động tham gia BHXH làm trong
các Công ty TNHH
2 Người lao động và người sử dụng
lao động tham gia BHXH làm trong
các Công ty cổ phần
3 Người lao động và người sử dụng
lao động tham gia BHXH làm trong
Doanh nghiệp tư nhân
* Thông tin thu thập từ điều tra
- Những bất cập trong công tác giải quyết chế độ BHXH?
- Những bất cập trong các thủ tục hành chính?
- Thời gian giải quyết các chế độ đã phù hợp chưa?
- Tình hình tham gia bảo hiểm xã hội và những hiểu biết của người lao động
về bảo hiểm xã hội như thế nào?
- Vấn đề tuyên truyền bảo hiểm xã hội đến với người lao động, người sử dụng lao động như thế nào?
- Việc thu bảo hiểm xã hội tại tỉnh có những thuận lợi và khó khăn gì?
- Tham khảo ý kiến của chủ sử dụng lao động, cán bộ bảo hiểm xã hội huyện
Đồng Hỷ, ý kiến của lãnh đạo quản lý trong huyện Đồng Hỷ