Các hình thức quản lý dự án đầu tư Trước đây, tuỳ theo quy mô và tính chất của dự án, năng lực của chủ đầu tư CĐT mà dự án sẽ được người quyết định đầu tư quyết định được thực hiện theo
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KINH TẾ
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: P
THÁI NGUYÊN - 2014
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn
: PGS Các số liệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chính xác Những kết quả của luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Học viên
Trang 4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân thành cảm ơn Phòng Quản lý Đào tạo Sau đại học - Trường ĐH Kinh tế và QTKD đã tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành khoá học và trình bày luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Học viên
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
1
1
2
3
3
3
Chương 1 5
5
ặc trưng củ 5
8
16
25
1.2.1 Các nhân tố khách quan 25
1.2.2 Các nhân tố chủ quan 27
1.3 Cơ sở thực tiễn nâng cao năng lực ban quản lý dự án 28
ực của ban quản lý ở một số ban quản lý dự án trong nước 28
ự án xây dựng và đầ 33
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 2 34
34
34
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 34
2.2.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu 34
ứu 35
Chương 3 36
36
3.1.1 Địa bàn nghiên cứ - 36
- 36
3.1.3 Đánh giá chung những thuận lợi và khó khăn của thành phố Vĩnh Phúc trong nâng cao năng lực của ban quản lý dự án 37
39
39
40
41
44
2010 - 2013 44
3.3.2 2010 - 2013 46
50
50
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
54
64
64
66
Chương 4 69
69
70
4.2.1 Kiện toàn bộ máy quản lý của Ban quản lý dự án 70
, nhân viên củ 71
4.2.3 Nâng cao năng lực quản lý đấu thầu 73
4.2.4 Nâng cao năng lực quản lý chất lượng dự án 74
4.2.5 Nâng cao năng lực thanh quyết toán chi phí dự án 77
4.2.6 Thườ 77
4.2.7 Tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật cho Ban quản lý dự án 78
4.3 Kiến nghị đối với Nhà nước 79
80
81
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
2010 -
2013 trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên 44
51
2013 55
, năm 2013 60
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Hình thức CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án 14
Sơ đồ 1.2 Chủ đầu tƣ thuê tổ chức tƣ vấn quản lý điều hành dự án 15
42
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
-
Trang 12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 13
-Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
khác với các phương pháp quản lý khác thế nào Hiệ ất nhiều cách định nghĩa về dự án:
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hoá ISO, trong tiêu chuẩn ISO 9000:
2008 định nghĩa như sau: “Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợ
ộng có phối hợp và được kiể ắt đầu và kết thúc, được tiến hành để ợc một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về , chi phí và nguồn lực” [15]
Theo Trịnh Quốc Thắng (2007), dự án được định nghĩa như sau: “Dự
án là sự chi phí tiề an để thực hiện một kế ằm mục đích cho ra một sản phẩm duy nhất” [11]
Theo Ben Obinero Uwakenh trường Đại học Cincinnati - Mỹ “Dự án
là sự nỗ lự ợc tiến hành để ột sản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”[11]
ạm thời bở ời gian bắt đầu và kết thúc, duy nhất vì các sản phẩm, dịch vụ đều khác nhau
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
(2006):
[5]
Từ quan niệm khác nhau, ể thống nhất khái niệm dự án như
sau: Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và được kiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêu phù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí và nguồn lực
b Dự án đầu tư
- Theo Luật Đầu tư 2005 định nghĩa: “Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định” [6]
+ Về mặt hình thức, DAĐT là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
+ Về mặt nội dung, DAĐT là một tập hợp các hoạt động có liên quan
với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc
tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định
+ Về mặt quản lý, DAĐT là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật
tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời gian dài
- Theo định nghĩa trong Luật Xây dựng: Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới,
mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh
và phần thiết kế cơ sở [7]
c Dự án đầu tư xây dựng
Dự án đầu tư xây dựng là một loại công việc mang tính chất một lần, cần có một lượng đầu tư nhất định, trải qua một loạt các trình tự
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Dự án đầu tư xây dựng có những đặc trưng cơ bản sau:
- Được cấu thành bởi một hoặc nhiều công trình thành phần có mối liên
hệ nội tại chịu sự quản lý thống nhất trong quá trình đầu tư xây dựng
- Hoàn thành công trình là một mục tiêu đặc biệt trong điều kiện ràng buộc nhất định về thời gian, về nguồn lực, về chất lượng, về chi phí đầu tư và
về hiệu quả đầu tư
- Phải tuân theo trình tự đầu tư xây dựng cần thiết từ lúc đưa ra ý tưởng đến khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng
- Mọi công việc chỉ thực hiện một lần: đầu tư một lần, địa điểm xây dựng cố định một lần, thiết kế và thi công đơn nhất
1.1.1.2 Đặc trưng cơ bản của dự án
Dự án có các đặc trưng cơ bản sau [14]:
, dự án có mục đích, kết quả xác định: Tất các các dự án đều phả
ết quả được xác định rõ Kết quả ể là một toà nhà, một nhà máy hay là chiến thắng của một chiến dịch vận động tranh cử vào một vị trí chính trị gia
Dự án là một sự sáng tạo Giống như các thực thể sống, dự án cũng trải qua các giai đoạn: hình thành, phát triể ời điểm bắt đầu và kết thúc Dự án không kéo dài mãi mãi Khi dự án kết thúc, kết quả dự án được chuyển giao cho bộ phận quản lý vậ ản trị dự án giải tán
, sản phẩm của dự án mang tính chất đơn chiếc: Khác với quá
trình sản xuất liên tục và gián đoạn, kết quả của dự án không phải là sản phẩm sản xuất hàng loạ ệt cao Sản phẩm và dịch vụ do dự án đem lại là duy nhất, hầu như không lặp lại
, dự án liên, quan đến nhiều bên, và có sự tương tác phứ giữa các bộ phận quản lý chức năng với quản lý dự án: Dự ự tham gia của nhiề ủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
quan hệ chia nhau cùng một nguồn lực khan hiếm của xã hội Dự án "cạnh tranh" lẫn nhau và với các hoạt động tổ chức sản xuất khác về tiền vốn, nhân lực, thiết bị , môi trường quản lý dự ều quan hệ phức tạp nhưng năng động
, tính bất định và độ rủi ro cao: Hầu hết các án đòi hỏi qui mô
tiền vốn, vật tư và lao động rất lớn để thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thời gian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu
tư phát triển thườ ộ rủi ro cao
, các dự án đều được tiến hành bở : Bất kỳ dự án nào cũng do con người tiế ự tham gia của nhiề
chủ đầu tư, người hưởng thụ dự án, các nhà tư vấn, nhà thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước
, được ịnh, được thực hiện và được kiểm soát
Vì thế, quản lý dự án trở thành yếu tố quan trọng quyết định sự tồn tại của dự án Quản lý dự án là sự vận dụng lý luận, phương pháp, quan điểm có
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tính hệ thống để tiến hành quản lý có hiệu quả toàn bộ công việc liên quan tới
dự án dưới sự ràng buộc về nguồn lực có hạn Để thực hiện mục tiêu dự án, các nhà đầu tư phải lên kế hoạch tổ chức, chỉ đạo, phối hợp, điều hành, khống chế và định giá toàn bộ quá trình từ lúc bắt đầu đến lúc kết thúc dự án
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
;
; (4)
1.1.2.2 V
, Thông qua quản lý dự án có thể tránh được những sai sót trong
những công trình lớn, phức tạp Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật
và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, nhu cầu xây dựng các dự án công trình quy mô lớn, phức tạp cũng ngày càng nhiều Ví dụ, công trình xây dựng các doanh nghiệp lớn, các công trình thủy lợi, các trạm điện và các công trình phục vụ ngành hàng không Cho dù là nhà đầu tư hay người tiếp quản dự
án đều khó gánh vác được những tổn thất to lớn do sai lầm trong quản lý gây
ra Thông qua việc áp dụng phương pháp quản lý dự án khoa học hiện đại giúp việc thực hiện các dự án công trình lớn, phức tạp đạt được mục tiêu đề ra một cách thuận lợi
, Áp dụng phương pháp quản lý dự án sẽ có thể khống chế, điều
tiết hệ thống mục tiêu dự án Nhà đầu tư (khách hàng) luôn có rất nhiều mục tiêu đối với một dự án công trình, những mục tiêu này tạo thành hệ thống mục tiêu của dự án Trong đó, mộ ục tiêu có thể phân tích định lượng, một số lại không thể phân tích định lượng Trong quá trình thực hiện dự án, chúng ta thường chú trọng đến một số mục tiêu định lượng mà coi nhẹ những mục tiêu
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
định tính Chỉ khi áp dụng phương pháp quản lý dự án trong quá trình thực hiện dự án mới có thể tiến hành điều tiết, phối hợp, khống chế giám sát hệ thống mục tiêu tổng thể một cách có hiệu quả Một công tnnh dự án có quy
mô lớn sẽ liên quan đến rất nhiều bên tham gia dự án như người tiếp quản dự
án, khách hàng, đơn vị thiết kế, nhà cung ứng, các ban ngành chủ quản nhà nước và công chúng xã hội Chỉ khi điều tiết tốt các mối quan hệ này mới có thể tiến hành thực hiện công trình dự án một cách thuận lợi
Mỗi dự án khác nhau lại đòi hỏi phả
nhau Tính chuyên ngành dự án đòi hỏi tính chuyên ngành củ
Vì thế, quản lý dự án thúc đẩy việc sử dụng và phát triể
Quản lý dự án ngày càng trở nên quan trọng và có nghĩa trong đời sống kinh tế Trong xã hội hiện đại, nếu không nắm vững phương pháp quản lý dự
án sẽ gây ra những tổn thất lớn Để tránh được những tổn thất này và giành được những thành công trong việc quản lý dự án thì trước khi thực hiện dự
án, chúng ta phải lên kế hoạch một cách tỉ mỉ, chu đáo [9]
1.1.2.3 Nộ
[9]
: 1)
Trang 22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2) Quản lý thời gian dự án: Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra, bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ dự án
3) Quản lý chi phí dự án: Quản lý chi phí dự án là quá trình quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà chi phí không vượt quá mức trù bị ban đầu, bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí
4) Quản lý chất lượng dự án: Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà khách hàng đặt ra, bao gồm việc quy hoạch chất lượng, khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng
5) Quản lý nguồn nhân lực dự án: Quản lý nguồn nhân lực là phương pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo phát huy hết năng lực, tính tích cực, sáng tạo của mỗi người trong dự án và tận dụng nó một cách có hiệu quả nhất, bao gồm các việc như quy hoạch tổ chức, xây dựng đội ngũ, tuyển chọn nhân viên và xây dựng các ban quản lý dự án
6) Quản lý việc trao đổi thông tin dự án: Quản lý việc trao đổi thông tin
dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo việc truyền đạt, thu thập, trao đổi một cách hợp lý các tin tức cần thiết cho việc thực hiện dự
án cũng như việc truyền đạt thông tin, báo cáo tiến độ dự án
7) Quản lý rủi ro trong dự án: Khi thực hiện dự án sẽ gặp phải những nhân tố rủi ro mà chúng ta không lường trước được Quản lý rủi ro là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm tận dụng tối đa những nhân tố có lợi không xác định và giảm thiểu tối đa những nhân tố bất lợi không xác định cho
dự án, bao gồm việc nhận biết, phân biệt rủi ro, cân nhắc, tính toán rủi ro, xây dựng đối sách và khống chế rủi ro
8) Quản lý việc thu mua của dự án: Quản lý việc thu mua của dự án là biện pháp quản lý mang tính hệ thống nhằm sử dụng những hàng hóa, vật liệu
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
thu mua được từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án, bao gồm việc lên kế hoạch thu mua lựa chọn việc thu mua và trưng thu các nguồn vật liệu
9) Quản lý việc giao nhận dự án: Đây là một nội dung quản lý dự án mới mà Hiệp hội các nhà quản lý dự án trên thế giới đưa ra dựa vào tình hình phát triển của quản lý dự án Một số dự án tương đối độc lập nên sau khi thực hiện hoàn thành dự án, hợp đồng cũng kết thúc cùng với sự chuyển giao kết quả Nhưng một số dự án lại khác, san khi dự án hoàn thành thì khách hàng lập tức sử dụng kết quả dự án này vào việc vận hành sản xuất Dự án vừa bước vào giai đoạn đầu vận hành sản xuất nên khách hàng (người tiếp nhận
dự án) có thể thiếu nhân tài quản lý kinh doanh hoặc chưa nắm vững được tính năng, kỹ thuật của dự án Vì thế cần có sự giúp đỡ của đơn vị thi công dự
án giúp đơn vị tiếp nhận dự án giải quyết vấn đề này, từ đó mà xuất hiện khâu quản lý việc giao - nhận dự án Quản lý việc giao - nhận dự án cần có sự tham gia của đơn vị thi công dự án và đơn vị tiếp nhận dự án, tức là cần có sự phối hợp chặt chẽ gian hai bên giao và nhận, như vậy mới tránh được tình trạng dự
án tốt nhưng hiệu quả kém, đầu tư cao nhưng lợi nhuận thấp Trong rất nhiều
dự án đầu tư quốc tế đã gặp phải trường hợp này, do đó quản lý việc giao - nhận dự án là vô cùng quan trọng và phải coi đó là một nội dung chính trong việc quản lý dự án
1.1.2.4 Các hình thức quản lý dự án đầu tư
Trước đây, tuỳ theo quy mô và tính chất của dự án, năng lực của chủ đầu tư (CĐT) mà dự án sẽ được người quyết định đầu tư quyết định được thực hiện theo một trong số các hình thức sau: CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án; Chủ nhiệm điều hành dự án; Hình thức chìa khoá trao tay và hình thức tự thực hiện dự án
Điều 33, Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình quy định chỉ có hai hình thức quản lý dự án
đó là: CĐT trực tiếp quản lý dự án và CĐT thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án [8]:
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
a Hình thức chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án
Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án Ban Quản
lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư
Đối với dự án có quy mô nhỏ, đơn giản có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thì chủ đầu tư có thể không lập Ban Quản lý dự án mà sử dụng bộ máy chuyên môn của mình để quản lý, điều hành dự án hoặc thuê người có chuyên môn, kinh nghiệm để giúp quản lý thực hiện dự án
Sơ đồ 1.1 Hình thức CĐT trực tiếp quản lý thực hiện dự án
b Hình thức thuê tư vấn quản lý dự án
Trường hợp chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án thì
tổ chức tư vấn đó phải có đủ điều kiện năng lực tổ chức quản lý phù hợp với quy mô, tính chất của dự án Trách nhiệm, quyền hạn của tư vấn quản lý dự
án được thực hiện theo hợp đồng thoả thuận giữa hai bên Tư vấn quản lý dự
án được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn tham gia quản lý nhưng phải được chủ đầu tư chấp thuận và phù hợp với hợp đồng đã ký với chủ đầu tư
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sơ đồ 1.2 Chủ đầu tư thuê tổ chức tư vấn quản lý điều hành dự án
Khi áp dụng hình thức thuê tư vấn quản lý dự án, chủ đầu tư vẫn phải
sử dụng các đơn vị chuyên môn thuộc bộ máy của mình hoặc chỉ định đầu mối để kiểm tra, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của tư vấn quản lý dự án”
Đối với các dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước, hình thức quản lý DAĐT với dự án do UBND quận (huyện) làm chủ đầu tư: áp dụng hình thức CĐT trực tiếp quản lý dự án; dự án do UBND phường, đơn vị sự nghiệp công lập làm chủ đầu tư thì thuê tổ chức tư vấn, quản lý dự án Đơn vị được thuê tư vấn phải là một tổ chức độc lập, có đủ điều kiện năng lực phù hợp với quy mô, tính chất dự án
Mô hình tổ chức quản lý dự án có ban quản lý dự án chuyên trách: Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án chuyên trách, chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ các công việc của dự án Mô hình này thường được áp dụng đối với các dự án đơn lẻ, đơn vị chủ đầu tư có ít dự án, các dự án không có mối liên hệ với nhau
tư
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Mô hình tổ chức quản lý dự án theo ma trận: là mô hình trong đó thành viên của nhóm dự án được tập hợp từ các cán bộ của các bộ phận chức năng khác nhau dưới sự điều hành của nhóm trưởng còn gọi là giám đốc (chủ nhiệm) dự án Mỗi cán bộ có thể tham gia cùng lúc vào hai hoặc nhiều dự án khác nhau và chịu sự chỉ huy đồng thời của cả trưởng nhóm dự án và trưởng
bộ phận chức năng Mô hình tổ chức theo dạng ma trận là tổng hợp của hai dạng mô hình tổ chức theo bộ phận chức năng và theo ban quản lý dự án chuyên trách
Với mỗi dự án đơn vị chủ quản sẽ thành lập một tổ công tác để thực hiện
dự án đó Thành viên tổ công tác gồm một hoặc một số cán bộ, nhân viên của phòng liên quan như phòng dự án, phòng chuẩn bị đầu tư, phòng đấu thầu, phòng quản lý chất lượng và phòng kế toán - hành chính… Số lượng thành viên trong tổ ban quản lý tùy thuộc vào quy mô và tính chất công việc của từng dự án Chủ đầu tư cử một người có đủ năng lực làm giám đốc Ban, phụ trách toàn bộ hoạt đông của dự án và báo cáo tình hình dự án với chủ đầu tư
Tùy thuộc vào quy mô, tính chất và mục đích của dự án mà đơn vị chủ đầu tư sẽ lựa chọn mô hình quản lý phù hợp nhất với dự án của mình
1.1.3.1 Ban quản lý dự án đầu tư
Để quản lý dự án đầu, chủ đầu tư có thể trực tiếp quản lý hoặc thuê đơn
vị tư vấn để quản lý dự án của mình Trường hợp chủ đầu tư trực tiếp quản lý
dự án thì chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án để giúp chủ đầu tư làm đầu mối quản lý dự án Ban quản lý dự án là một thành phần quan trọng của Dự
án xây dựng, đó là một cá nhân hoặc một tổ chức do Chủ đầu tư thành lập, có nhiệm vụ điều hành, quản lý dự án trong suốt quá trình thực hiện dự án Ban Quản lý dự án phải có năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án theo yêu cầu của chủ đầu tư Ban Quản lý dự án có thể thuê tư vấn quản lý, giám sát một số phần việc mà Ban Quản lý dự án không có đủ điều kiện, năng lực để thực hiện nhưng phải được sự đồng ý của chủ đầu tư
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chức năng, nhiệm vụ của Ban QLDADT được quy định tại Nghị định số 12/2009/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình [7]:
“Điều 34 Nhiệm vụ, quyền hạn của chủ đầu tư và Ban Quản lý dự án trong trường hợp chủ đầu tư thành lập Ban Quản lý dự án
1 Chủ đầu tư thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn kể từ giai đoạn chuẩn bị
dự án, thực hiện dự án đến khi nghiệm thu bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng bảo đảm tính hiệu quả, tính khả thi của dự án và tuân thủ các quy định của pháp luật Ban Quản lý dự án có thể được giao quản lý nhiều dự
án nhưng phải được người quyết định đầu tư chấp thuận và phải bảo đảm nguyên tắc: từng dự án không bị gián đoạn, được quản lý và quyết toán theo đúng quy định Việc giao nhiệm vụ và uỷ quyền cho Ban Quản lý dự án phải được thể hiện trong quyết định thành lập Ban Quản lý dự án Chủ đầu tư có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của Ban Quản lý dự án
2 Ban Quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ do chủ đầu tư giao và quyền hạn do chủ đầu tư uỷ quyền Ban Quản lý dự án chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư và pháp luật theo nhiệm vụ được giao và quyền hạn được uỷ quyền”
1.1.3.2 Khái niệm năng lực quản lý của Ban QLDADT
Năng lực quản lý của Ban QLDA là khả năng thực hiện các nội dung quản lý dư án của Ban QLDA dựa vào các nguồn lực nội tại hoặc huy động từ bên ngoài nằm trong tầm kiểm soát của Ban Các nguồn lực này bao gồm cả tài chính, cơ sở vật chất, khoa học - Công nghệ, nguồn nhân lực Trong đó, nguồn lực về con người là yếu tố quan trọng nhất và chi phối các nguồn lực còn lại của tổ chức
Năng lực quản lý được đánh giá thông qua quá trình thực hiện công việc
và kết quả đạt được Năng lực đó được thể hiện trong quá trình quản lý dự án đầu tư từ khâu chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và vận hành kết quả đầu tư
Năng lực quản lý của Ban QLDA phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan và khách quan Nếu năng lực tốt thì khả năng đạt được mục tiêu công việc là cao
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nhưng cũng có thể năng lực tốt nhưng vì các lí do khách quan nên kết quả đạt được vẫn không như mong đợi
1.1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực của Ban QLDADT
Quản lý dự án đầu tư là hoạt động vô cùng quan trọng và không thể thiếu trong suốt quá trình đầu tư Quản lý dự án giúp giám sát, điều tiết các hoạt động, yếu tố của đầu tư, quyết định đến thành công và hiệu quả đầu tư Chính vì vậy, đối với bất kỳ hoạt động đầu tư nào thì quản lý luôn là vấn đề cần được quan tâm đúng mức
Năng lực của Ban QLDADT là yếu tố chính quyết định đến hiệu quả quản lý, hay nói cách khác là quyết định đến kết quả đầu tư Một dự án dù có một bộ máy quản lý lớn, hùng hậu được đầu tư nhưng nếu không có năng lực quản lý thì cũng không mang lại kết quả gì Thực tế đã cho thấy, nhiều Ban quản lý hiện nay hoạt động không hiệu quả dẫn đến những thất thoát lớn cho
dự án, vốn đầu tư không được sử dụng đúng mục đích, chất lượng công trình kém, xuống cấp nhanh chóng Đặc biệt là vấn đề về quản lý vốn đầu tư và chất lượng công trình xây dựng Có những công trình khi hoàn thành thì chi phí bị đội lên gấp nhiều lần so với dự toán Vì vậy, việc nâng cao năng lực của Ban QLDA cần phải được quan tâm theo đúng tầm quan trọng của nó
1.1.3.4 Các loại năng lực của Ban Quản lý dự án
a Năng lực của đội ngũ quản lý dự án
Con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả QLDA bởi các yếu tố khác đều được thực hiện bởi chính con người Do vậy, để đạt hiệu quả quản lý đội ngũ cán bộ của Ban quản lý dự án cần phải có năng lực cao, thể hiện ở tri thức (kiến thức), kỹ năng và thái độ tốt
Hoạt động của đội ngũ nhân sự dự án phải đảm bảo ức, chỉ
yêu cầu cho thực thi dự án Để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
dự án, cần bắt đầu từ khâu lựa chọn, tuyển dụng, thuyên chuyển cán bộ của chủ đầu tư, tiếp đến là khâu quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực với các chương trình, hình thức đa dạng, tiện lợi và có hiệu quả
Đặc biệt, trong Ban quản lý dự án, có một vị trí rất quan trọng đó là Giám đốc điều hành dự án (Project Manager), hay Giám đốc dự án, Đây phải
là một người có trình độ học vấn và kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý; có bản lĩnh cá nhân vững vàng, kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng làm việc theo nhóm,
và phải biết ngoại ngữ nếu Dự án có sự hợp tác với các đối tác nước ngoài Giám đốc điều hành dự án có thể là một kiến trúc sư, một kỹ sư xây dựng, hay một chuyên gia kinh tế xây dựng Giám đốc dự án là người hiểu rõ chủ trương, ý đồ của Chủ đầu tư, đồng thời hiểu cặn kẽ mọi khía cạnh của dự án,
để từ đó truyền đạt lại cho các thành viên khác và phải đưa ra những quyết định chính xác, hợp lý và khách quan trong quá trình quản lý, nhằm đạt được những mục tiêu của dự án đã đề ra Giám đốc dự án sẽ hoạt động liên tục trong suốt quá trình của dự án, từ khi nghiên cứu lập báo cáo dự án đến giai đoạn thiết kế, giai đoạn đấu thầu, giai đoạn thi công xây dựng và cuối cùng là giai đoạn nghiệm thu bàn giao công trình
b Năng lực lập kế hoạch dự án
Lập kế hoạch dự án là tổng thể những dự định được sắp xếp theo trình
tự về thời gian và không gian nhằm thực thi dự án đảm bảo về tiến độ thời gian với chất lượng và chi phí đã được xây dựng theo dự án đã lựa chọn và phê duyệt Về thực chất, kế hoạch dự án là kế hoạch triển khai dự án, một trong các nội dung của quản trị dự án đầu tư Bản chất của lập kế hoạch dự án
là việc tổ chức dự án theo một trình tự logic, xác định mục tiêu và các phương pháp đạt được mục tiêu dự án Đó là quá trình chi tiết hóa những mục tiêu của
dự án thành các công việc cụ thể và hoạch định các chương trình, biện pháp thực hiện các công việc đó Kế hoạch dự án là cơ sở để tuyển dụng, đào tạo
bố trí nhân lực dự án, là căn cứ để dự toán tổng ngân sách, chi phí thực hiện
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
công việc dự án, là cơ sở điều phối nguồn lực và quản lý tiến độ dự án, là cơ
sở giảm thiểu rủi ro, tránh lãng phí và là căn cứ giám sát đánh giá tiến trình thực thi dự án…
Ban quản lý dự án phải lập được các kế hoạch: (1) Kế hoạch phạm vi: Chỉ rõ phạm vi của dự án từ mục tiêu đến các phương diện tài chính, thời gian, nguồn lực… của dự án (2) Kế hoạch thời gian (tiến độ): Xác định thời gian bắt đầu, kết thúc, độ dài thời gian thực hiện toàn bộ dự án, cũng như từng công việc (3) Kế hoạch chi phí: Dự tính tổng vốn đầu tư, chi phí cho các công việc trực tiếp và gián tiếp theo từng thời gian (4) Kế hoạch nhân lực: dự tính số lao động các loại của dự án, kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, tiền lương, thưởng (5) Kế hoạch quản lý chất lượng: làm rõ những chất lượng cần đạt đối với từng hạng mục, công việc, các biện pháp và công cụ kiểm soát chất lượng dự án…
Công tác lập kế hoạch dự án phải đảm bảo những nội dung cơ bản như: Lập danh mục và mã hóa công việc; phân tách các công việc hay chia nhỏ các công việc của dự án để dễ dàng kiểm soát và quản lý; xây dựng sơ đồ kế hoạch dự án, biểu diễn mối quan hệ giữa các công việc, bằng các phương pháp theo thứ tự công việc và theo mũi tên; lập lịch trình thực hiện dự án, thực chất là lập kế hoạch tiến độ dự án, chỉ rõ khi nào bắt đầu, khi nào kết thúc, độ dài thời gian thực hiện từng công việc…; lập kế hoạch kinh phí và phân bổ nguồn lực
c Năng lực quản lý đấu thầu và thực hiện hợp đồng
Sau khi dự án được phê duyệt, lúc này đã có thiết kế cơ sở của dự án được phân chia thành các hạng mục, nội dung công việc Dựa vào thiết kế và
sự phân chia hạng mục công trình này, Ban QLDA sẽ đại diện cho chủ đầu tư
tổ chức đấu thầu từng hạng mục cho các nhà thầu thi công có đủ năng lực triển khai (năng lực tài chính, năng lực thi công,…)
Tùy tính chất, mức độ quan trọng của dự án mà Ban QLDA có thể áp dụng hình thức đấu thầu công khai hoặc hình thức chỉ định thầu theo yêu cầu
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của chủ đầu tư và quy định của pháp luật Công tác đấu thầu phải đảm bảo lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực để thực hiện dự án; coi trọng chất lượng
kỹ thuật, tiến độ thời gian và và chi phí dự án Trong trường hợp Ban QLDA hạn chế về trình độ, chuyên môn và nguồn lực tổ chức đấu thầu thì trước mắt
có thể thuê đơn vị tư vấn đấu thầu thực hiện tổ chức đấu thầu dưới sự giám sát của CĐT và Ban QLDA, từng nước nâng cao năng để chủ động trong tổ chức đấu thầu
d Năng lực quản lý thời gian dự án
Quản lý thời gian dự án là quá trình quản lý mang tính hệ thống nhằm đảm bảo chắc chắn hoàn thành dự án theo đúng thời gian đề ra Nó bao gồm các công việc như xác định hoạt động cụ thể, sắp xếp trình tự hoạt động, bố trí thời gian, khống chế thời gian và tiến độ dự án Thờ ứ
Ban QLDA căn cứ theo tiến độ thi công để triển khai công việc, kiểm tra, giám sát quá trình thi công, có biện pháp đôn đốc, nhắc nhở kịp thời để dự
án hoàn thành đúng kế hoạch Tìm ra nguyên nhân của sự chậm trễ thực hiện
dự án để có biện pháp khắc phục hợp lý, hiệu quả Đồng thời tìm cách rút ngắn thời gian thi công nhất có thể nhưng vẫn phải đảm bảo thực hiện đúng,
đủ, đảm bảo chất lượng công trình
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
e Năng lực quản lý chi phí dự án
Quản lý chi phí dự án là quá trình quản lý tổng mức đầu tư, tổng dự toán (dự toán); quản lý định mức dự toán và đơn giá xây dựng; quản lý thanh toán chi phí đầu tư xây dựng công trình; hay nói cách khác, quản lý chi phí dự
án là quản lý chi phí, giá thành dự án nhằm đảm bảo hoàn thành dự án mà không vượt tổng mức đầu tư Nó bao gồm việc bố trí nguồn lực, dự tính giá thành và khống chế chi phí
Ban QLDA phải luôn nắm rõ khoản chi phí dự toán cho từng hạng mục, từng kết cấu công trình Nếu công trình được đưa ra đấu thầu công khai thì cần so sánh giữa giá dự thầu và giá dự toán Lựa chọn giá dự thầu thấp nhất và thấp hơn giá dự toán nhưng phải khả thi Tránh trường hợp nhà thầu đưa ra giá thấp hơn thực tế để có trúng thầu nhưng sau đó lại thi công không thi công theo đúng như chi phí dự thầu đó
Trong suốt thời gian thực hiện dự án, Ban QLDA cần đảm bảo chi phí cho các khâu được thực hiện đúng, tránh lãng phí Chi phí thực tế luôn phải thấp hơn chi phí dự toán, nếu vượt dự toán thì cần có giải trình hợp lý với chủ đầu tư để chủ đầu tư cân nhắc có chi thêm dự toán bổ sung hay không
Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả đầu tư, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi của dự án đầu
tư xây dựng công trình, đảm bảo tính đúng, tính đủ, hợp lý, phù hợp với điều kiện thực tế và yêu cầu khách quan của cơ chế thị trường và được quản lý theo Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/2/2009 của Chính phủ
f Năng lực quản lý chất lượng
Quản lý chất lượng dự án là quá trình quản lý có hệ thống việc thực hiện dự án nhằm đảm bảo đáp ứng được yêu cầu về chất lượng mà dự án đặt
ra Nó bao gồm việc quy hoạch chất lượng khống chế chất lượng và đảm bảo chất lượng
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chất lượng công trình xây dựng tốt hay xấu không những ảnh hưởng đến việc sử dụng mà còn liên quan đến an toàn tài sản, tính mạng của nhân dân, đến sự ổn định xã hội Để đảm bảo yêu cầu đó, phải tuân thủ các quy định của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 và mới nhất là Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Năng lực của Ban QLDA được thể hiện ở việc tổ chức giám sát chất lượng từ giai đoạn khảo sát, giai đoạn thiết kế, giai đoạn thi công, giai đoạn thanh quyết toán và giai đoạn bảo hành công trình Trong giai đoạn khảo sát, chuẩn bị đầu tư, cần giám sát để đảm bảo chất lượng của nguồn thông tin, số liệu thu thập được để lập báo cáo tiền khả thi, báo cáo khả thi có độ chính xác cao Đây là khâu rất quan trọng, là tiền đề cho những khâu đầu tư tiếp theo Nếu thông tin không chính xác thì có thể dẫn đến ra quyết định đầu tư sai, đầu
tư không hiệu quả, gây lãng phí Đối với dự án quy mô lớn gây thiệt hại lớn đỗi với vốn đầu tư và sự phát triển của kinh tế xã hội Trong giai đoạn thiết
kế, giám sát chất lượng về mặt thiết kế kỹ thuật, đảm bảo độ bền vững của công trình, phù hợp với yêu cầu và mục đích sử dụng Trong giai đoạn thi công, luôn luôn giám sát tại hiện trường để đảm bảo các kết cấu, hạng mục được xây dựng theo đúng bản thiết kế, có biện pháp xử lý kịp thời nếu chất lượng công trình chưa được như thiết kế hoặc không phù hợp với thực tế Điều chỉnh thi công đảm bảo chất lượng và kịp thời tránh gây thiệt hại lớn, không để đến khi công trình đã hoàn thành mới phát hiện sai sót thì lúc đấy đã không thể sửa chữa được hoặc sửa chữa tốn kém chi phí Khi nghiệm thu công trình cần kiểm tra chất lượng của từng kết cấu hạng mục, chất lượng tổng thể của công trình thì mới tiến hành bàn giao và đưa công trình vào sử dụng Nếu Ban QLDA không có đủ khả năng thực hiện kiểm định chất lượng công trình có thể thuê trung tâm kiểm định chất lượng hoặc các doanh nghiệp
có khả năng thực hiện kiểm định chất lượng
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
g Năng lực quản trị nhân lực dự án
Nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của dự án, do vậy năng lực quản trị nhân lực dự án của Ban quản lý dự án đóng vai trò quan trọng Năng lực
đó thể hiện ở hoạt động thu hút, tuyển dụng những cán bộ nhân viên có đủ phẩm chất, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý dự án, ở công tác tổ chức lao động, bố trí phân công, hợp tác, phối kết hợp giữa các bộ phận, cá nhân trong dự
án, trong duy trì nguồn nhân lực như: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình
độ, công tác tạo động lực khuyến khích động viên nhân viên…
Năng lực quản trị nhân lực dự án còn thể hiện ở kỹ năng tổ chức và làm việc nhóm theo dự án sao cho vừa phát huy được năng lực của từng cá nhân, vừa phát huy được sức mạnh của nhóm dự án
h Năng lực về cơ sở vật chất và trang thiết bị
Ban QLDA cần có những thiết bị, máy móc, phần mềm riêng để có thể thực hiện các chức năng quản lý dự án Trong từng khâu của dự án, cần những máy móc, thiết bị riêng phục vụ công tác đo đạc, kiểm tra chất lượng hay những phần mềm để lên kế hoạch thực hiện, dự tính chi phí thực hiện dự
án, xây dựng công trình Chẳng hạn như: Phần mềm dự toán dùng trong lập
dự toán công trình; phần mềm lập tiến độ thi công trong lập bảng tiến độ thi công; phần mềm kế toán trong tính toán, tổng hợp, chi phí, thanh quyết toán công trình; thiết bị đo chiều dày và kiểm tra chất lượng bê tông để kiểm tra độ dày của các kết cấu, thành phần kết cấu; thiết bị đo độ lún công trình để đo độ lún công trình, độ chịu lực của móng công trình; thiết bị siêu âm để kiểm tra chất lượng bên trong kết cấu; máy kinh vĩ để kiểm ta hướng, mốc tọa độ; máy thủy bình để kiểm tra cao độ…
Năng lực về cơ sở vật chất phụ thuộc vào sự đầu tư, quan tâm của chủ đầu tư, kinh phí cho quản lý dự án Nó tùy thuộc vào quy mô dự án và nguồn lực của chủ đầu tư Nếu Ban QLDA không có đủ trang thiết bị phục vụ quản
lý dự án thì có thể thuê của đơn vị bên ngoài để phục vụ cho các hoạt động quản lý của mình
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.1.1 Hệ thống văn bản pháp luật
Hệ thống văn bản quy định của Nhà nước về hoạt động đầu tư, xây dựng, các văn bản liên quan đến hoạt động quản lý công trình xây dựng, hoạt động đấu thầu, quản lý chất lượng dự án,quản lý chi phí… Hoạt động QLDA hiện nay chịu tác động của nhiều văn bản như: Luật đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005; Luật xây dựng số 16/2003/QH11 ngày 26/11/2003 sửa đổi
bổ sung ngày 19/06/2009; Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ngày 26/11/2013; Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/2/2009 của Chính phủ về quản lý dự
án đầu tư xây dựng công trình; Nghị định số 15/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về Quản lý chất lượng công trình xây dựng; Nghị định số 112/2009/NĐ-CP ngày 14/12/2009 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình…
Trong hệ thống văn bản pháp luật đều có những quy định về công tác quản lý dự án đầu tư, đòi hỏi ban quản lý dự án đầu tư phải nắm vững để vận dụng; đồng thời trong đó cũng có những yêu cầu cụ thể về năng lực của những người thuộc ban quản lý dự án đầu tư Nhân tố này buộc mọi cán bộ, nhân viên quản lý dự án phải tòm mọi cách để nang cao năng lực quản lý dự án
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.1.2 Môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội
Tất cả các hoạt động của nền kinh tế đều diễn ra trong một môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và chịu tác động của nền kinh tế vĩ mô Hoạt động QLDA là hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực nên nó càng chịu tác động mạnh
mẽ của các yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội của quốc gia, của địa phương, khu vực nơi mà dự án diễn ra
Theo quốc gia, hệ thống các cơ sở đào tạo tác động mạnh đến năng lực
của cán bộ làm công tác quản lý dự án thông qua các chương trình đào tạo, các khóa bồi dưỡng, tập huấn… Nếu các cơ sở đào tạo như các học viện, các trường đại học, cao đẳng, các viện, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng quan tâm và
có chất lượng đào tạo cao thì đội ngũ những người được đào tạo qua trường lớp sẽ phát huy được năng lực quản lý dự án của mình
Theo khu vực, các khu vực phát triển, có cơ sở hạ tầng, các công trình
công nghiệp giao thông, nhà ở, phát triển thì hoạt động xây dựng công trình
ở đó càng phát triển, Ban QLDA ở khu vực này có điều kiện phát triển, được trang bị kiến thức, kỹ năng, chuyên môn đầy đủ hơn, nhiều kinh nghiệm hơn
so với những khu vực kém phát triển
1.2.1.3 Sự quan tâm của các cấp chính quyền đến công tác quản lý dự án
Sự quan tâm của các cấp chính quyền Trung ương và địa phương đến công tác quản lý dự án ảnh hưởng đến sự phát triển và hoạt động của Ban QLDA Sự quan tâm này thể hiện ở thái độ và sự nhận định về tầm quan trọng của công tác QLDA đối với dự án đầu tư, từ đó các cơ quan này ban hành văn bản pháp luật, các văn bản hướng dẫn đối với công tác QLDADT để hoạt động này được diễn ra trơn tru, phát huy năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý
dự án Sự quan tâm này còn thể hiện ở sự đầu tư các nguồn lực nhằm nâng cao năng lực quản lý của các Ban QLDA, nhờ đó, các Ban QLDA đủ mạnh,
có đủ năng lực thực hiện quản lý dự án
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
1.2.2 Các nhân tố chủ quan
Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến năng lực quản lý của Ban QLDA
là các nhân tố có nguồn gốc từ nguồn lực bên trong Ban tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động quản lý của Ban QLDA Nó bao gồm các nhân tố về nguồn nhân lực, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, về tài chính, điều kiện cơ
sở vật chất phục vụ hoạt động quản lý dự án
1.2.2.1 Việc kiện toàn ban QLDAXD
Việc kiện toàn Ban QLDAXD bao gồm công tác lựa chọn, tuyển dụng cán bộ, nhân viên Ban QLDA, tiêu chuẩn hóa, bổ nhiệm, quy chế hoạt động, phân định trách nhiệm, phối kết hợp trong lãnh đạo, điều hành… Thường xuyên củng cố bộ máy, nâng cao năng lực, trình độ nghiệp vụ chuyên môn của Ban QLDA theo đúng quy định tại các văn bản pháp luật
Vấn đề cán bộ và chất lượng cán bộ của Ban QLDA là vấn đề hết sức quan trọng, nó có ảnh hưởng trực tiếp đến tất cả các hoạt động của ban quản
lý bởi con người là chủ thể của tổ chức Vì vậy, việc kiện toàn Ban QLDA đóng vai trò quan trọng trong tuyển dụng, trong bố trí sử dụng cán bộ, quy chế làm việc, hoạt động, phân công nhiệm vụ, phối kết hợp hoạt động giữa các thành viên trong Ban QLDA
1.2.2.2 Công tác lãnh đạo và quản lý của lãnh đạo BQL dự án
Công tác lãnh đạo và quản lý của những người lãnh đạo BQL dự án ảnh hưởng lớn đến công tác quy hoạch cán bộ, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho cán bộ nhân viên thuộc ban giám đốc và cán bộ nhân viên của ban quản lý dự án, đến tạo môi trường để giữ chân người tài, tạo động lực cho cán bộ, nhân viên; đầu tư các trang thiết bị phục vụ công tác quản lý dự án
Thực tiễn chỉ ra rằng, ban lãnh đạo của BQL dự án nào quan tâm đến công tác quy hoạch cán bộ, đào tạo, bồi dưỡng và tạo môi trường, tạo động lực tốt, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật thì năng lực của đội ngũ cán
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
bộ, nhân viên ở đó được nâng cao và năng lực quản lý của ban quản lý dự án cũng được phát huy
1.2.2.3 Bản thân từng cán bộ nhân viên thuộc Ban quản lý dự án
Năng lực quản lý của ban quản lý dự án phụ thuộc vào năng lực của từng cán bộ nhân viên Năng lực của từng nhân viên lại phụ thuộc vào bản thân từng cá nhân, trước hết phụ thuộc vào tố chất với các yếu tố có nguồn gốc tự nhiên, sinh học như thể lực, trí lực với các chỉ số IQ, EQ, AQ, NQ,…, năng khiếu, sở trường Mặt khác, còn phụ thuộc vào các yếu tố xã hội như tri thức - kiến thức (nhờ học hỏi, được đào tạo cơ bản), kinh nghiệm (nhờ trải nghiệm trong thực tiễn) và môi trường, điều kiện làm việc của mỗi người
Từng cán bộ, nhân viên, với tố chất sẵn có, có lịch sử đào tạo tốt, trải nghiệm, nếu có ý thức vươn lên không ngừng, ham học hỏi, lại được sự động viên, hỗ trợ về nguồn lực, bố trí tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng, được giao việc mang tính thử thách… của lãnh đạo của đồng nghiệp trong môi trường công tác thuận lợi, mang tính khuyến khích thì chắc chắn năng lực quản lý sẽ được nâng cao
1.3 Cơ sở thực tiễn nâng cao năng lực ban quản lý dự án
lý dự án trong nước
1.3.1.1 Ban Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT tỉnh Phú Thọ
Ban Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT là đơn vị
sự nghiệp thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT Phú Thọ, có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện các dự án đầu tư XDCB do ngành làm chủ đầu tư Với rất nhiều nhiệm vụ liên quan đến quản lý dự án xây dựng, hiện tại Ban có 106 cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lao động; trong đó 86% có trình độ đại học, cao đẳng; 5,7 % trung cấp; 8,3% lao động phổ thông Đây là một tập thể những người lao động trẻ, tuổi đời bình quân của cán bộ, nhân viên là 34;
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
trong đó 70% tuổi đời dưới 30 Chi đoàn thanh niên của Ban quản lý dự án có
65 đoàn viên Đại đa số họ là những trí thức trẻ, dồi dào khát khao sáng tạo, cống hiến, góp phần tăng cường hạ tầng kỹ thuật nông nghiệp, nông thôn để thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở các địa phương trong toàn tỉnh
Từ nhiều năm nay, các thế hệ lãnh đạo Ban Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT Phú Thọ luôn quan tâm công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sử dụng cán bộ; tạo cơ hội để cán bộ, nhân viên được rèn luyện, thử thách để trưởng thành Trên cơ sở tổ chức bộ máy hiện tại gồm Ban lãnh đạo (Trưởng ban và 3 Phó trưởng ban) và 5 phòng chuyên môn; Ban quản lý đã xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý của ban giai đoạn 2011- 2015 và 2015- 2020 Với phương châm xây dựng quy hoạch cán bộ “động” và “mở”, nhiều cán bộ có triển vọng đã và sẽ được đưa vào quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tham gia bộ máy lãnh đạo, quản lý Ban hoặc các phòng chuyên môn trong những năm tới Khi Đảng bộ Khối các cơ quan
tỉnh Phú Thọ có Nghị quyết chuyên đề về Nâng cao trình độ lý luận chính trị đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức giai đoạn 2011- 2015, Ban
Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT Phú Thọ đã nhanh chóng triển khai tổ chức thực hiện đồng bộ với các nhiệm vụ chính trị của đơn
vị Chú trọng, tạo điều kiện để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người lao động nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan; đảng bộ đồng thời quan tâm công tác giáo dục chính trị tư tưởng; nghiêm túc nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; lãnh đạo các đoàn thể tích cực tạo nguồn phát triển Đảng… Vì vậy, công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ của Ban Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT đã có nhiều chuyển biến, tiến bộ
Từ năm 2011 đến nay đã có 26 cán bộ được nâng cao trình độ lý luận
từ sơ cấp lên trung cấp và từ trung cấp lên cao cấp; 3 người nâng trình độ
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.lrc-tnu.edu.vn/
chuyên môn nghiệp vụ từ trung cấp lên đại học; 7 người được bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương trình chuyên viên; 92 lượt người được bồi dưỡng, tập huấn các nghiệp vụ quản lý dự án, đấu thầu, quản trị tài chính, đánh giá đầu tư…
Theo quy hoạch cán bộ và phẩm chất, năng lực thực tế so với tiêu chuẩn, từ năm 2011 đến nay đã có 12 cán bộ được bổ nhiệm, đề bạt; trong đó
có 1 Trưởng ban, 2 Phó trưởng ban, 4 Trưởng phòng, 5 Phó trưởng phòng Đáng chú ý là đa số cán bộ mới được bổ nhiệm, đề bạt có tuổi đời dưới 35, được đào tạo một cách hệ thống, có tín nhiệm cao trước quần chúng, đã chứng
tỏ được năng lực lãnh đạo, chỉ đạo đơn vị luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hàng năm
Kết quả công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ đã giúp Ban Quản lý dự án công trình xây dựng nông nghiệp và PTNT bố trí “đúng người, đúng việc” để triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ Trong 6 tháng đầu năm 2014, Ban đã huy động được nguồn vốn 401,2 tỷ đồng và thực hiện khối lượng thi công: Đào đắp hơn 1 triệu m3 đất đá, xây lát 82 nghìn m3 với tổng giá trị khối lượng 365,6 tỷ đồng Ban đã nghiệm thu, bàn giao, đưa vào sử dụng nhiều công trình giao thông, thủy lợi ở các huyện, thành, thị trong tỉnh; tiếp tục thi công
và tổ chức khởi công một số công trình; đồng thời tiến hành công tác chuẩn bị đầu tư các dự án mới được phê duyệt Các quy trình nghiệp vụ quản lý đầu tư, quản lý kỹ thuật thi công, giám sát, thanh toán… được thực hiện nghiêm túc, góp phần đảm bảo chất lượng công trình, an toàn nguồn vốn… Đây chính là kết quả của việc gắn công tác quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán
bộ của đơn vị; vừa nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, nhân viên, vừa tạo môi trường, động lực để họ phấn đấu, rèn luyện và trưởng thành
1.3.1.2 Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT
Ban quản lý các dự án Lâm nghiệp trực thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, được giao nhiệm vụ làm chủ các chương trình, dự án ODA