1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp hoàn thiện công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh thái nguyên đến năm 2015

144 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 144
Dung lượng 3,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nước khác nhau như: “Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên trong xã hội,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác Các kết quả nghiên cứu của luận văn có tính độc lập, số liệu và dữ liệu sử dụng trong luận văn được trích dẫn đúng quy định

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp

đỡ của Quý thầy, cô, bạn bè

Trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn Thầy giáo TS Nguyễn Tiến Long,

người đã định hướng cho chủ đề nghiên cứu; nghiêm túc về mặt khoa học và tận tình giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu; các Thầy giáo, Cô giáo Khoa Kinh tế; cán bộ và chuyên viên Phòng QLĐT Sau Đại học - Trường ĐH Kinh tế và QTKD đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ, công chức Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, các Phòng chuyên môn của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn

Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý thầy, cô trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh thuộc Đại học Thái Nguyên trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức quý báu Trân trọng cảm ơn sự quan tâm của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Thái Nguyên, tháng 8 năm 2013

Tác giả luận văn

Đỗ Văn Cường

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Đóng góp của luận văn 3

5 Bố cục của luận văn 4

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 5

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của thuế thu nhập cá nhân 5

1.1.2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân 6

1.1.3 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân 7

1.1.4 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của thuế thu nhập cá nhân 8

1.1.5 Một số nét khái quát về Luật thuế Thu nhập Cá nhân của Việt Nam 12

1.2 Lý luận chung về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 17

1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân 17

1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân 17

1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý thuế TNCN 33

1.2.4 Tổ chức ngành thuế 37

1.3 Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN 39

1.3.1 Khái quát lại công tác quản lý thuế TNCN 39

1.3.2 Đặc điểm quản lý thuế TNCN 42

1.3.3 Nguyên tắc quản lý thuế TNCN 42

1.3.4 Hoàn thiện công tác quản lý thuế TNCN 43

Trang 6

1.4 Bài học kinh nghiệm về công tác quản lý thuế TNCN của một số nước

trên thế giới 44

1.4.1 Công tác quản lý thuế TNCN tại Trung Quốc 45

1.4.2 Công tác quản lý thuế TNCN tại Nhật Bản 46

1.4.3 Công tác quản lý thuế TNCN ở Thái Lan 47

1.4.4 Công tác quản lý thuế TNCN ở Pháp 47

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 49

Chương 2: NHÂN 50

2.1 Các câu hỏi nghiên cứu 50

2.2 Cách tiếp cận 50

2.3 Phương pháp nghiên cứu 51

2.3.1 Cơ sở phương pháp luận 51

51

53

Chương 3: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở TỈNH THÁI NGUYÊN GIAI ĐOẠN 2009 - 2012 54

- nh T Nguyên 54

3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 54

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 55

3.2 TNCN T Nguyên, giai đoạn 2009 - 2012 56

56

3.2.2 Thực trạng công tác quản lý thuế TNCN ở tỉnh Thái Nguyên (2009-2012) 60

3.2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý thuế TNCN ở tỉnh Thái Nguyên 86

Chương 4: HIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ THU NGUYÊN ĐẾN NĂM 2015 104

TNCN T Nguyên 104

4.1.1 Quản lý thu thuế TNCN là nhiệm vụ chung của cơ quan thuế, chính quyền địa phương và cơ quan liên quan 104

4.1.2 Bảo đảm bình đẳng về nghĩa vụ nộp thuế TNCN 105

Trang 7

4.1.3 Nuôi dưỡng, phát triển nguồn thu bền vững trên cơ sở hoàn thiện

chức năng của thuế TNCN và cả hệ thống thuế 106

4.1.4 Quản lý thuế TNCN cần phải bám sát quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước và chính quyền tỉnh Thái Nguyên 108

2015 108

109

4.2.2 Tăng cường công tác Thanh tra, kiểm tra thuế TNCN 117

4.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức thuế TNCN 117

4.2.4 Tăng cường công tác quản lý thu nhập dân cư 119

4.2.5 Đẩy mạnh quản lý thu nhập của cá nhân kinh doanh 120

4.2.6 Ngăn chặn hiện tượng gian lận trong kê khai thuế TNCN 121

4.2.7 Thu thuế thu nhập cá nhân thông qua hệ thống ngân hàng 123

4.2.8 Thực hiện quyết toán thuế cho từng đối tượng nộp thuế 124

4.2.9 Đào tạo năng lực và phẩm chất cho đội ngũ cán bộ thuế 124

4.2.10 Thiết lập hệ thống tính thuế thu nhập cá nhân tự động 126

4.2.11 Xây dựng hành lang pháp lý cho dịch vụ tư vấn thuế TNCN 126

4.2.12 Tăng kiểm tra thuế thu nhập với người nước ngoài ở tỉnh Thái Nguyên 127

4.2.13 Tăng cường kiểm tra thuế TNCN đối với giới ca sĩ và họa sĩ 127

4.2 128

4.2.1 129

KẾT LUẬN 130

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 132

Trang 8

UBND Uỷ Ban Nhân dân

VAT Thuế giá trị gia tăng

XHCN Xã hội Chủ nghĩa

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần 16

Bảng 1.2: Biểu thuế lũy tiến toàn phần 16

Bảng 3.1: Kết quả thu NSNN từ thuế ở tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 - 2012 60

Bảng 3.2: Thu NSNN từ thuế (gồm thuế TNCN) ở tỉnh Thái Nguyên 2010 - 2012 62

Bảng 3.3: Số thuế thu nhập cao của Việt Nam trong tổng thu NSNN (1991-2008) 64

Bảng 3.4: Số thuế TNCN trong tổng thu NSNN ở Việt Nam (2010-2012) 65

Bảng 3.5: Số liệu thu thuế TNCN ở Việt Nam năm 2011 và 6 tháng đầu năm 2012 67

Bảng 3.6: Kết quả thu thuế TNCN ở tỉnh Thái Nguyên (2009- 2012) 68

Bảng 3.7: Kết quả thu thuế TNCN tại Cục thuế tỉnh Thái Nguyên (2009-2012) 68

Bảng 3.8 : Tình hình cấp mã số thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên 69

Bảng 3.9: Kết quả truy thu thuế qua hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế,trong đó có thuế TNCN (giai đoạn 2010 - 2012) 83

Bảng 3.10: Số thuế truy thu bình quân trên 01 đơn vị qua thanh tra thuế 84

Bảng 3.11: Cơ cấu lực lượng thanh tra, kiểm tra thuếcủa Cục thuế tỉnh Thái Nguyên 85

Bảng 4.1: Số thuế TNCN phải 113

Bảng 4.2: Số người nộp thuế từ tiền lương, tiền công và kinh doanh 113

Bảng 4.3: Mức giảm trừ gia cảnh của một số nước trong khu vực 114

Bảng 4.4: Biểu thuế luỹ tiến từng phần theo Luật quy định 115

Bảng 4.5: Mức thuế suất cao nhất của một số nước trong khu vực 115

Bảng 4.6: Biểu thuế luỹ tiến từng phần thay đổi 116

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

1 Hình:

Hình 1.1: Quy trình đăng kí thuế TNCN qua website tncnonline.com.vn 19 Hình 1.2: Giảm trừ gia cảnh 32

2 Sơ đồ:

Sơ đồ 1.1: Thủ tục đăng ký mã số thuế 21

Sơ đồ 1.2: Mô hình tổ chức quản lý của hệ thống thuế Việt Nam 37

Sơ đồ 3.1: Cơ cấu Bộ máy tổ chức của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên 59

3 Biểu đồ:

Biểu đồ 3.1: Thu NSNN t thuế ở tỉnh Thái Nguyên (2010 - 2012) 61 Biểu đồ 3.2: Thu NSNN trên địa bàn Thành phố Thái Nguyên (2010 - 2012) 62 Biểu đồ 3.3: Kết quả thu thuế TNCN ở Việt Nam (1992 - 2012) 66 Biểu đồ 3.4: Kết quả thu thuế TNC và thuế TNCN của Cục thuế tỉnh Thái

Nguyên (giai đoạn 2003 - 2012) 71 Biểu đồ 3.5: Số lƣợng đối tƣợng chịu thuế đã đƣợc thanh tra, kiểm tra so với

tổng số đối tƣợng chịu thuế tại tỉnh Thái Nguyên (2010 - 2012) 83

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Qua hai cuộc cải cách thuế, ngành thuế đã hình thành được một hệ thống chính sách thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu của đất nước và luôn được sửa đổi bổ sung hoàn thiện kịp thời phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đã trở thành công cụ của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Hệ thống quản lý thuế đã xây dựng và không ngừng được kiện toàn, đảm bảo thực thi tốt và thống nhất các luật thuế trong cả nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý thuế ngày càng được nâng cao Nhờ vậy, công tác thuế của Đảng và Nhà nước ta đã góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế, xã hội Đất nước ta đã thoát khỏi thời

kỳ khủng hoảng kinh tế kéo dài, lấy đà tăng trưởng cao trong hơn một thập kỷ qua

Số thu từ thuế và phí đã trở thành nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước năm sau cao hơn năm trước, nhất là các năm gần đây và đã góp phần đảm bảo công bằng

xã hội, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong cơ

chế thị trường

Thực hiện Luật Quản lý thuế, các Luật thuế và các văn bản hướng dẫn thi hành của Nhà nước, công tác thu ngân sách ở tỉnh Thái Nguyên đã có nhiều tiến bộ, năm 2008 số thu ngành thuế bao gồm cả thuế và phí mới đạt 1.000 tỷ đồng nhưng đến năm 2012 số thu vượt 3.000 tỷ đồng

Tuy nhiên, trước yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH đất nước và hội nhập kinh

tế quốc tế, công tác thuế của nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại chủ yếu như: chính sách thuế chưa thực sự đồng bộ, còn phức tạp, một số sắc thuế còn nhiều mức thuế suất, lồng ghép nhiều chính sách xã hội, nhiều mức miễn giảm; bộ máy thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm về thuế, quản lý nợ và cưỡng chế thuế thì còn quá nhỏ so với yêu cầu quản lý thuế Hơn nữa quy mô của doanh nghiệp ngày một lớn, không còn bó hẹp trong một địa phương mà ngày càng quốc gia hoá, toàn cầu hoá; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng đa dạng và phong phú Việc quản trị kinh doanh và các hoạt động thương mại của doanh nghiệp ngày càng tiên tiến, điện

tử hoá và tin học hoá Vì vậy nếu không cải cách và hoàn thiện công tác quản lý thuế thì không theo kịp và đáp ứng được sự phát triển nhanh chóng và hiện đại hoá của doanh nghiệp Quá trình cải cách thuế nhằm tạo hành lang pháp luật trong chính sách thuế, quản lý thuế, nâng cao trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, đồng thời từng bước điều chỉnh các sắc thuế phù hợp với lộ trình hội nhập quốc tế

Trang 12

Mặt khác, khi Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO và để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tất cả các chính sách thuế hiện hành đều đã được thay đổi theo hướng giảm nghĩa vụ thuế phù hợp với các cam kết của WTO và các định chế quốc tế Từ năm 2000 đến nay, thuế chuyển quyền sử dụng đất được giảm tới 25 lần, thuế trước bạ giảm 50% Hiện nay, ngành thuế cũng đã xóa bỏ trên 300 loại phí không cần thiết, một số loại như phí đường bộ, hàng hải giảm tới 30% - 40% Theo tính toán ban đầu, khi cắt giảm các loại thuế và chi phí này, Nhà nước bị thất thu trên 1.000 tỷ đồng Hiện ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào 3 khoản thu chủ yếu gồm xuất nhập khẩu chiếm 25% ngân sách, tương đương khoảng 60 nghìn tỷ đồng mỗi năm Số thu từ xuất khẩu dầu thô khoảng 25% Như vậy còn khoảng 50% ngân sách Nhà nước là các khoản thu nội địa, nhưng khoản thu nội địa này cũng đang một ngày giảm do chính sách thuế liên tục được thay đổi để thực hiện theo cam kết Tính đến thời điểm này đã có tới trên 1.000 dòng thuế được cắt giảm Chính vì thế để bù đắp cho sự giảm sút này Chính phủ cần quan tâm hơn đến thuế trực thu Tuy nhiên, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cũng nên giảm dần tới mức tương ứng với các nước trong khu vực nhằm khuyến khích hoạt động sản xuất kinh doanh Vì vậy, Chính phủ đã có những biện pháp đối với thuế TNCN nhằm tạo thêm nguồn thu cho ngân sách từ loại thuế này

Cả nước nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng, quản lý thuế nói chung và quản lý thuế TNCN nói riêng còn nhiều hạn chế và bất cập, kể từ việc ban hành pháp luật thuế đến tổ chức thực hiện cũng như thanh tra thuế Nếu như không sớm khắc phục những hạn chế này thì mục tiêu đặt ra khi ban hành luật sẽ gặp phải rất nhiều bất lợi Chính vì thế, công tác quản lý TNCN ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thái nguyên nói riêng cần phải được hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu trong xu thế hội nhập và phát triển nhanh chóng hiện nay

Xuất phát từ thực tế của tỉnh Thái Nguyên, trên giác độ quản lý để góp phần đẩy mạnh công tác quản lý thuế TNCN, nhằm khắc phục thất thu thuế TNCN và

tăng NSNN ở địa phương và Trung ương Do vậy, đề tài: “Giải pháp hoàn thiện

công tác quản lí thuế thu nhập cá nhân ở tỉnh Thái Nguyên đến năm 2015” được

tôi lựa chọn để làm luận văn thạc sỹ của mình

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế TNCN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, đề xuất các giải pháp cải cách nhằm hoàn thiện công tác

, hiện đại và

Trang 13

chuyên nghiệp, đảm bảo thực thi tốt pháp luật thuế; đảm bảo quản lý thuế công bằng, minh bạch, hiệu lực và hiệu quả theo các chuẩn mực quốc tế; phục vụ tốt đối tượng nộp thuế, tăng tính tự giác tuân thủ pháp luật thuế của đối tượng nộp thuế; đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách nhà nước cho địa phương và Trung ương, phục

vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và tỉnh Thái Nguyên

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Với chủ đề nghiên cứu của luận văn, đối tượng nghiên cứu của đề tài đó là thuế TNCN, c TNCN 2009 - 2012

4 Đóng góp của luận văn

Nghiên cứu thành công đề tài luận văn sẽ đóng góp cả về phương diện lý luận và thực tiễn của chủ đề nghiên cứu Đó là, h

hoàn thiện TNCNcông tác quản lý thuế TNCN ở địa phương

hoàn thiện , tăng thu cho NSNN

Trang 14

5 Bố cục của luận văn

Trang 15

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÍ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1.1 Khái quát về thuế thu nhập cá nhân

1.1.1 Hoàn cảnh ra đời của thuế thu nhập cá nhân

Thuế TNCN phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sự phân chia giai cấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ

để tạo ra nguồn thu chủ yếu cho mọi nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước nói chung hay của giai cấp thống trị nói riêng Vì thế, Thuế được xem như một phạm trù vừa có tính lịch sử vừa là một tất yếu khách quan đáp ứng nhu cầu của Nhà nước trong quá trình tồn tại và phát triển của mình Giai cấp thống trị- vua chúa sử dụng thuế như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, qua tiến trình tiến triển của lịch sử, hiện nay thuế vẫn được sử dụng với đúng mụch đích của nó nhưng bản chất của Thuế ở các nước lại không giống nhau,

nó tùy thộc vào bản chất Nhà nước và cách thức sử dụng nguồn thu từ thuế [1]

Ở miền Nam Việt Nam, năm 1962 chính quyền Sài Gòn đã áp dụng thuế TNCN nhưng với tên gọi là thuế lợi tức lương bổng và sau đó được cải cách vào năm 1972

Ngày 27/12/1990, Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Ðể phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có nhiều lần lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999, lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001 và lần thứ 6 là Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung số 14/2004/PL-UBTVQH11 ban hành năm 2004 có hiệu lực từ ngày 01/07/2004… đến năm 2007, Quốc Hội đã ban hành Luật thuế thu nhập

cá nhân số 04/2007/QH12 Đến năm 2012, Luật Thuế TNCN đã được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực thi hành từ 1/7/2013, trong đó có nhiều thay đổi theo chiều hướng tạo thông thoáng, thuận lợi hơn cho đối tượng nộp thuế với các quy định mới về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế, các khoản giảm trừ [16]

Với mục tiêu đáp ứng yêu cầu của thực tiễn phát sinh và từng bước triển khai Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020, tại kỳ họp thứ tư, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN

Trang 16

Luật thuế TNCN sẽ được chính thức áp dụng từ ngày 01/7/2013 Theo đó, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế TNCN đã sửa 6 điều trong tổng số 35 điều của Luật thuế TNCN số 04/2007

1.1.2 Khái niệm thuế thu nhập cá nhân

Thu nhập luôn gắn với một chủ thể nhất định trong nền kinh tế, xã hội thể hiện tính sở hữu của thu nhập Việc xác định thu nhập của các chủ thể khác nhau trong một thời gian nhất định được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ - là hình thức thông qua đó biết được tổng thu nhập các nguồn khác nhau của một cá nhân hay một pháp nhân Thu nhập được hình thành thông qua quá trình phân phối

và phân phối lại thu nhập quốc dân, do thị trường và Nhà nước thực hiện Từ

các đặc điểm trên, khái niệm về thu nhập được tổng hợp như sau “Thu nhập là tổng

các giá trị tài sản và của cải được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ do một chủ thể trong nền kinh tế - xã hội tạo ra và nhận được từ các nguồn lao động, tài sản hay đầu tư thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân trong một khoảng thời gian nhất định - thường là một năm” [16]

Thuế TNCN là một trong các sắc thuế xuất hiện khá sớm trong lịch sử phát triển thuế khoá của hầu hết các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển Thuế TNCN đầu tiên được áp dụng tại Hà Lan vào năm 1797, sau đó là Anh Quốc vào năm 1799 Lúc đầu Anh Quốc đưa vào thực hiện như một hình thức thu tạm thời nhằm mục đích trang trải cho cuộc chiến tranh chống Pháp và được chính thức áp dụng vào năm 1942, một số nước tư bản phát triển khác cũng áp dụng thuế này như Ðức (1899), Hoa Kỳ (1903), Pháp (1916) Các nước Châu Á như: Thái Lan áp dụng năm 1939, Philipin năm 1945, Hàn Quốc năm 1948, In-đô-nê-xia năm 1949, Trung quốc năm 1984; Những nước Đông Âu thuộc các nền kinh tế chuyển đổi như Rumani năm 1990, Nga năm 1991, Ba Lan năm 1992

Hiện nay trên thế giới đã có khoảng 180 nước áp dụng thuế TNCN Ưu điểm của cách này là đơn giản, dễ thực hiện, đảm bảo thu kịp thời vào ngân sách Nhà nước Nhưng có nhược điểm là chưa đảm bảo yêu cầu phân phối lại thu nhập quốc dân qua thuế sao cho có hiệu quả, đáp ứng được sự công bằng xã hội và nhất là đối

với những cá nhân có nhiều người phụ thuộc

Về nguyên tắc, bất kỳ một thể nhân hay pháp nhân nào khi nhận được thu nhập dưới bất cứ hình thái nào (hiện vật hay giá trị) và bất kể từ nguồn nào (do lao động, hay đầu tư…) đều phải trích một phần từ thu nhập đó để nộp cho Nhà nước dưới dạng thuế thu nhập

Trang 17

Cho đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về thuế do quan điểm về Thuế ở các nước khác nhau như:

“Thuế là một khoản thu của nhà nước đối với các tổ chức và mọi thành viên

trong xã hội, Thuế là khoản thu có tính bắt buộc và không hoàn trả trực tiếp theo luật định” [18]

“Thuế TNCN là thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế có được của cá nhân trong kỳ tính thuế (thường là một năm)” [24]

Theo Marx “Thuế là cở sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn đơn

giản để kho bạc thu được tiền hay tài sản của người dân để dùng vào việc chi tiêu của nhà nước" [18; tr 267-305]

Các nhà nghiên cứu kinh tế khác cho rằng “Thuế là hình thức phân phối thu

nhập tài chính của Nhà nước để thực hiện chức năng của mình, dựa vào quyền lực chính trị, tiến hành phân phối sản phẩm thặng dư của xã hội một cách cưỡng chế và không hoàn lại”

Mặc dù có nhiều cách định nghĩa về Thuế khác nhau nhưng có thể thấy những điểm tương đồng sau: Thuế là khoản thu mang tính bắt buộc mà các tổ chức,

cá nhân phải nộp cho Nhà nước khi có những điều kiện nhất định Thuế mang tính bắt buộc và không mang tính hoàn trả trực tiếp, ngang giá Một phần thuế nộp vào ngân sách Nhà nước được trả về với người dân một cách gián tiếp dưới nhiều hình thức khác nhau như trợ cấp xã hội, phúc lợi xã hội và quỹ tiêu dùng khác

Trên cơ sở nhưng khái niệm về Thuế, có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN

theo pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào

thu nhập của cá nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ

mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh doanh, đầu tư,… Thuế TNCN được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc biệt” [32]

1.1.3 Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân

Một là, thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng

cá nhân Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCN không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế

Trang 18

Hai là, thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:

- Đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài

- Đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN

Ba là, thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên

nguyên tắc theo luật định Phân phối khoản thu nhập qua thuế TNCN gắn với quyền lực, sức mạnh của Nhà nước

Bốn là, thuế thu nhập cá nhân là khoản đóng góp không hoàn trả trực tiếp

cho người nộp Nó vận động một chiều, không phải là khoản thù lao mà người nộp thuế phải trả cho Nhà nước do được hưởng các dịch vụ Nhà nước cung cấp

Năm là, thuế TNCN luôn gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia Hầu

hết các quốc gia đều gắn chính sách thuế TNCN với một số chính sách xã hội khác (như phúc lợi công cộng, chăm sóc sức khỏe…)

Sáu là, thuế TNCN có diện thu thuế rất rộng, tất cả các cá nhân có thu nhập

bao gồm: công dân nước sở tại và người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên tại nước đó và hầu như tất cả số thu nhập có được của các cá nhân đều phải tính thuế không kể nguồn thu nhập phát sinh trong nước hay ngoài nước Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế TNCN rất cao

Bẩy là, việc đánh thuế TNCN thường áp dụng theo nguyên tắc thuế suất lũy

tiến từng phần Đặc điểm này xuất phát từ vai trò chủ yếu của thuế TNCN là điều tiết mạnh người có thu nhập cao, góp phần thực hiện công bằng xã hội Do vậy, việc

sử dụng thuế suất lũy tiến từng phần sẽ đáp ứng được nhu cầu đó vì phần thu nhập tăng thêm càng cao thì sẽ phải tính thuế suất càng cao

Tám là, xét về góc độ kinh tế, thuế TNCN có tính trung lập cao hơn so với

các loại thuế khác vì việc tăng hay giảm thuế TNCN hầu như không kéo theo những biến đổi về cơ cấu kinh tế

1.1.4 Mục đích, ý nghĩa và vai trò của thuế thu nhập cá nhân

1.1.4.1 Mục đích, ý nghĩa của thuế TNCN

(i) Mục đích của thuế TNCN

- Phân phối lại thu nhập, góp phần hạn chế khoảng cách về thu nhập tạo công

bằng, thu hẹp chênh lệch giàu nghèo; tạo sự công bằng giữa các công dân

Trang 19

- Tăng nguồn thu cho ngân sách quốc gia

- Hạn chế những hoạt động mà nhà nước không muốn phát triển, chẳng hạn như đầu cơ vào thị trường bất động sản

- Bảo đảm tăng trưởng kinh tế, khuyến khích tiết kiệm, đầu tư và tiêu dùng trong nước, bảo đảm khuyến khích động lực sản xuất, lao động, bảo đảm sự cạnh tranh của Việt Nam đối với các nước trong khu vực

- Thúc đẩy sự phát triển của một số hoạt động có đóng góp dài lâu cho sự tăng trưởng về giá trị kinh tế của quốc gia Ví dụ, đầu tư vào chứng khoán lâu dài nên được ưu tiên vì nó thu hút vốn của người dân vào thị trường vốn và góp phần phát triển kinh tế Hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế

(ii) Ý nghĩa của thuế TNCN

- T

- Thuế TNCN còn có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở nước ta, vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy

mô lớn) Việc áp dụng thuế suất như với các doanh nghiệp là quá cao đối với hộ cá nhân kinh doanh Hơn nữa, quy định này cũng đảm bảo tính thông lệ quốc tế, vì hầu hết các nước đều đưa cá nhận kinh doanh vào diện nộp thuế TNCN

- Thuế TNCN cụ thể hoá thành một sắc thuế với Luật thuế riêng biệt có nhiều điểm phù hợp với tiến trình đổi mới quản lý kinh tế của nhà nước, với quá trình hội nhập kinh tế của đất nước và phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay Với việc ban hành Luật thuế quan trọng này, hệ thống thuế của Việt Nam đang hướng đến phù hợp hơn với hệ thống thuế các nước, hướng

tới một hệ thống thuế công bằng và hiện đại hơn

1.1.4.2 Vai trò của thuế TNCN

Trước bối cảnh đẩy mạnh hội nhập KTQT và những sự biến đổi lớn của điều kiện KT - XH ở nước ta hiện nay, thuế TNCN và việc ban hành Luật thuế TNCN ở Việt Nam là hết sức cần thiết và có vai trò quan trọng về nhiều mặt Là một bộ phận của hệ thống thuế nên thuế TNCN vừa có vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa

có các vai trò đặc thù mà các sắc thuế khác không có được

Một là, thuế TNCN có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế- xã hội:

(i) Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước: Thuế TNCN là một

trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp một phần

Trang 20

quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước Thuế TNCN được tính với diện rộng, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần Thuế TNCN luôn có sự gia tăng nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người - Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với

xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào Thực tế tỷ trọng thu thuế TNCN trong tổng thu ngân sách của nhiều quốc gia đã phản ánh tiến trình đó, tại các nước khối ASEAN: 5-10%, các nước phát triển có tỷ trọng 15-16%

có nước đạt tới tỷ trọng 30- 40% như Anh, Mỹ Tại Việt Nam, mới tiếp cận chính sách thu và còn phân tán ở nhiều sắc thuế nhưng cũng đã có kết quả tăng trưởng thu khá lớn trong những năm gần đây: năm 1991 thu theo chính sách thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là 62 tỷ đồng, đến năm 2000 thu được 1.831 tỷ đồng, năm 2005 số thu đã đạt 4.400 tỷ đồng và tính đến năm 2011 con số này đạt 36.940

tỷ đồng Tuy vậy, tỷ trọng thu cũng mới chỉ đạt khoảng 5% tổng thu ngân sách

(ii) Góp phần thực hiện công bằng xã hội: Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó Tuy nhiên, các yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập của mỗi người Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo,

là sự bất bình đẳng trong xã hội Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội

(iii) Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm: Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng lớp dân cư, thực hiện

công bằng xã hội và quản lý, điều tiết vĩ mô nền kinh tế Để kiểm soát thu nhập dân

cư, nhà nước phải sử dụng đồng thời cả hai cơ chế quản lý quỹ tiền lương, tiền công, chế độ báo cáo quyết toán kinh doanh…và cơ chế kê khai nộp thuế TNCN, tuy ban đầu có thể chưa chính xác, nhưng sẽ là căn cứ để thống kê thu nhập dân cư phục vụ chương trình mục tiêu nghiên cứu quốc gia, hoạch định chính sách phát

Trang 21

triển phù hợp khi tính tuân thủ pháp luật, pháp chế xã hội được nâng lên Thông qua các cơ chế và công cụ quản lý đó mà nhà nước sẽ có giải pháp tăng cường hoặc giảm bớt điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư làm cho tổng cầu xã hội giảm hoặc tăng, từ đó có tác dụng co hẹp hay kích thích kinh tế phát triển Đó chính là vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế mà chính sách thuế thu nhập cá nhân góp phần tác dụng đáng kể

(iv) Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp: Thực tế đã chứng minh nhiều khoản thu nhập của một số cá nhân nhận được từ việc thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc bằng cách lợi dụng những kẽ hở của pháp luật mà nhà nước không kiểm soát được như tham ô, nhận hối lộ, buôn bán hàng quốc cấm, trốn tránh thuế, lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế TNCN

Hai là, thuế TNCN có vai trò đối với hệ thống thuế:

(i) Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác: Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau Nếu tính thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp luỹ tiến từng phần

sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này

(ii) Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp: Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa hai loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau Thuế TNCN còn góp phần khắc phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay giữa doanh nghiệp với cá nhân Trong trường hợp doanh nghiệp

kê khai cao hơn thực tế những chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế thu nhập cá nhân đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó Thu nhập của doanh nghiệp tăng thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp

(iii) Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế: Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới Việc ban hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài

Trang 22

chính tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã hoạch định Nhận thức đúng vai trò vị trí hiện tại cũng như hướng phát triển hoàn chỉnh của chính sách thuế TNCN, quán triệt đầy đủ nội dung yêu cầu của Luật thuế thu nhập cá nhân mới ban hành để tuyên truyền, giáo dục pháp luật thuế, vận động toàn dân hiểu biết, chấp hành là nghĩa vụ và trách nhiệm của các tổ chức, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, công dân theo quy định của Luật Quản lý thuế, ban hành ngày 29/11/2006

Tóm lại, thuế TNCN đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của mỗi

quốc gia, ngày càng trở thành nguồn thu quan trọng của NSNN nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng Dù không phải là mục tiêu chủ yếu, song thực hiện quản lý

và phát triển chính sách thuế trực thu nói chung, thuế TNCN nói riêng chính là là việc tạo lập và phát triển nguồn thu vững chắc cho ngân sách nhà nước Cùng với

xu hướng tăng trưởng kinh tế ngày càng cao, hội nhập và phát triển, thu nhập quốc dân đầu người ngày càng lớn thì khả năng huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước thông qua thuế TNCN sẽ ngày càng tăng và sẽ ngày một dồi dào Tuy nhiên,

vì công tác quản lý thuế TNCN còn nhiều hạn chế nên những vai trò này vẫn chưa thực sự được phát huy ở những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam và tỉnh Thái Nguyên

1.1.5 Một số nét khái quát về Luật thuế Thu nhập Cá nhân của Việt Nam

Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua Ðể cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, từ đó đến nay đã có 05 lần sửa đổi, bổ sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001) [2]

Sau hơn ba năm chuẩn bị kỹ lưỡng với hàng trăm cuộc hội thảo và sau gần một năm công bố rộng rãi để lấy ý kiến đóng góp của nhân dân, ngày 20/11/2007, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Cộng hoà XHCH Việt nam khoá XII đã thông qua Luật thuế TNCN Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ 1/1/2009, gồm 35 điều 4 chương, là một văn bản luật được soạn thảo “công phu” nhất từ trước đến nay, phản ánh khá đầy đủ ý chí, nguyện vọng của nhân dân với nhiều điểm mới so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (gồm 34 điều 8 chương) và phù

hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội nước ta hiện nay như:

Trang 23

- Quy định cụ thể về đối tượng nộp thuế là cá nhân kinh doanh đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, cá nhân có thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, cá nhân

có thu nhập từ tiền lương, tiền công và một số thu nhập theo Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao hiện hành sẽ được điều chỉnh theo Luật thuế thu nhập cá nhân Ngoài ra, có bổ sung thêm với đối tượng nộp thuế là cá nhân có thu nhập chịu thuế từ đầu tư vốn, chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng tài sản, thu nhập

từ thừa kế, quà tặng Sự thay đổi này, trước hết đảm bảo tính công bằng trong điều tiết thu nhập bởi đã là cá nhân có thu nhập chịu thuế thì dù thu nhập từ bất kì nguồn nào cũng đều được đối xử như nhau, tức là đều chịu thuế TNCN Thêm vào đó, việc điều tiết thu nhập của cá nhân kinh doanh theo Luật thuế TNCN thực hiện theo phương pháp luỹ tiến sẽ đảm bảo điều tiết hợp lý thu nhập dân cư Điều này rất có ý nghĩa đối với các hộ kinh doanh nhỏ ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Thái Nguyên vì theo quy định trước đây họ phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với thuế suất chung bằng với các doanh nghiệp (thông thường là những đơn vị kinh doanh có quy

mô lớn)

- Về đối tượng nộp thuế, còn một điểm mới nữa là việc định nghĩa rõ hơn đối tượng cư trú (đối tượng phải nộp thuế TNCN cho Việt Nam đối với toàn bộ thu nhập, kể cả thu nhập phát sinh ở Việt Nam và nước ngoài) Nếu như trước đây, đối tượng cư trú chỉ là cá nhân có mặt ở Việt Nam từ 183 ngày trở lên trong năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ khi đến Việt Nam thì Luật thuế TNCN đã

bổ sung thêm một điều kiện nữa được coi là cư trú ở Việt Nam, đó là “cá nhân có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở lại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn” [23] Quy định như vậy làm cho việc xác định đối tượng nộp thuế được thuận lợi hơn, bao quát hết các đối tượng nộp thuế và mở rộng đối tượng nộp thuế một cách hợp lý

- Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, thu nhập được phân chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Tuy nhiên, Pháp lệnh không định nghĩa rõ thế nào là thu nhập thường xuyên, thế nào là thu nhập không thường xuyên Do vậy, trong thực tế, việc tính thuế gặp khá nhiều khó khăn Đồng thời, việc tính thuế đối với từng loại thu nhập không hợp lý, không phù hợp với thông lệ quốc tế Luật thuế thu nhập cá nhân đã khắc phục được hạn chế này với việc phân loại thu nhập chịu thuế theo nguồn phát sinh thu nhập Theo

đó, thu nhập chịu thuế bao gồm thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ đầu tư vốn; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập khác (bao gồm: thu nhập từ trúng thưởng, thu nhập từ bản

Trang 24

quyền, thu nhập từ thừa kế, quà tặng, thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại) Đây là cơ sở để tính thuế phù hợp với từng loại thu nhập Từ cách phân loại này, việc áp dụng thuế suất được quy định theo hai hướng: đối với thu nhập từ kinh doanh và tiền lương, tiền công thì áp dụng biểu thuế suất luỹ tiến từng phần; đối với các khoản thu nhập còn lại thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến toàn phần

- Một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập từ chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc sử dụng , thu nhập từ casino, thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng

và các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng thưởng xổ số

và khuyến mại) Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thuế khi thu nhập phát sinh lớn (từ trên 10 triệu đồng cho một hợp đồng hoặc một lần phát sinh) Liên quan đến thu nhập chịu thuế từ chuyển nhượng, kế thừa, quà tặng, có một quy định đáng chú ý là Luật thuế thu nhập cá nhân quy định miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng, thừa kế, quà tặng giữa vợ với chồng; cha mẹ đẻ; cha mẹ nuôi; mẹ nuôi với con đẻ, con nuôi; cha chồng mẹ chồng với con dâu; cha vợ mẹ vợ với con rể; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại với cháu nội, cháu ngoại; anh chị em ruột với nhau Một số khoản thu nhập trước đây tạm thời chưa thu thuế như thu nhập từ đầu tư vốn (gồm lãi cho vay, lợi tức cổ phần và thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác); thu nhập từ chuyển nhượng vốn bao gồm cả chuyển nhượng chứng khoán Tuy nhiên, phần thu nhập từ lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng (ngân hàng, các quỹ tín dụng và các tổ chức tín dụng khác) và lãi từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được miễn thuế thu nhập cá nhân Việc miễn thuế này nhằm mục đích thu hút khoản tiền nhàn rỗi nhỏ lẻ trong dân cư vào các kênh tín dụng, để từ đó sử dụng vốn của nền kinh tế vào hoạt động sản xuất kinh doanh, khuyến khích sử dụng có hiệu quả mọi đồn vốn của xã hội

- Trên cơ sở kế thừa các khoản thu nhập không thuộc diện chịu thuế của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, Luật thuế TNCN đã bổ sung các khoản thu nhập sau vào diện miễn thuế từ thu nhập như thu nhập từ tiền lương làm việc ban đêm, làm thêm giờ được trả cao hơn lương làm việc ban ngày, làm việc trong giờ; lương hưu; tiền thưởng cho cá nhân về việc phát hiện, khai báo cơ quan nhà nước có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật; học bổng nhận từ ngân sách Nhà nước và từ các tổ chức trong và ngoài nước theo quy định của Chính phủ; thu nhập từ viện trợ, từ thiện với điều kiện các quỹ từ thiện này phải được Nhà nước cho phép thành lập hoặc công nhận hoạt động vì mục đích nhân đạo không nhằm

Trang 25

mục đích thu lợi nhuận; thu nhập từ lãi trái phiếu chính phủ Đối với khoản đóng góp từ thiện nhân đạo được trừ vào thu nhập trước khi tính thuế nhưng chỉ áp dụng đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh; không áp dụng đối với cá khoản thu nhập khác Với quy định này, Luật đã khuyến khích mọi công dân trong xã hội tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo Đồng thời, đây cũng chính là một khoản "chi tiêu qua thuế" của nhà nước, thể hiện ở chỗ một khoản thu

lẽ ra được nộp về ngân sách Nhà nước bây giờ được chuyển sang cho đối tượng thụ hưởng khoản đóng góp từ thiện Chẳng hạn như, một người có thu nhập từ kinh doanh trước thuế của một năm 360 triệu đồng (thu nhập bình quân tháng 30 triệu đồng) thực hiện góp quỹ ủng hộ đồng bào lụt 10 triệu đồng Khi đó, 10 triệu đồng này được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế Với biểu thuế như sẽ được trình bày dưới đây, số thuế nhà nước giảm thu khi cho cá nhân này giảm trừ vào thu nhập tính thuế

là 2 triệu đồng Có thể hiểu trong trường hợp này, coi như Nhà nước đã sử dụng ngân sách góp vào quỹ ủng hộ đồng bào bão lụt 2 triệu đồng, còn cá nhân này thực

ra chỉ ủng hộ 8 triệu đồng Việc bổ sung một số khoản thu nhập miễn thuế nêu trên thể hiện sự ưu đãi của nhà nước đối với một số đối tượng được hưởng thu nhập trong những trường hợp gặp khó khăn và thể hiện chính sách khuyến khích của nhà nước đối với một số hoạt động có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội nhằm tăng cường lao động sản xuất…

- Áp dụng giảm trừ gia cảnh cho bản thân đối tượng nộp thuế là 4 triệu đồng/ tháng, cho mỗi người phụ thuộc mà đối tượng nộp thuế có nghĩa vụ nuôi dưỡng là 1.6 triệu đồng/tháng và mở rộng áp dụng đối với cá nhân có thu nhập từ kinh doanh trước khi xác định nghĩa vụ thuế Việc giảm trừ cho người phụ thuộc được thực hiện theo nguyên tắc mỗi người phụ thuộc được tính giảm trừ một lần vào một đối tượng nộp thuế Những người phụ thuộc được giảm trừ khá rộng, bao gồm: con chưa thành niên, con đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, con tàn tật không có khả năng lao động; các cá nhân khác không có thu nhập hoặc có thu nhập nhưng thấp hơn mức quy định của Chính phủ hoặc không có nơi nương tựa

mà người nộp thuế phải trực tiếp nuôi dưỡng (gồm cha, mẹ, vợ chồng, cô, dì, chú, bác, cháu…) Đây chính là vấn đề được ủng hộ của đông đảo nhân dân nhiều nhất, xuất phát từ cơ sở là, thay vì áp dụng mức khởi điểm chịu thuế chung cho mọi đối tượng nộp thuế (có tính riêng đối với người Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam) thì chuyển sang áp dụng giảm trừ gia cảnh, tức là có tính đến hoàn cảnh cá nhân của đối tượng nộp thuế Điều này làm cho việc xác định nghĩa vụ thuế của mỗi đối tượng nộp thuế được công bằng hơn

Trang 26

- Theo Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao, áp dụng chịu thuế theo thu nhập thường xuyên, tính thuế theo biểu thuế luỹ tiến từng phần với bốn mức thuế suất, thấp nhất là 10% và cao nhất là 40% Đối với Luật thuế TNCN thì áp dụng biểu thuế luỹ tiến từng phần áp dụng cho thu nhập từ kinh doanh và từ tiền lương, tiền công, mức thuế suất thấp nhất còn 5% và mức thuế suất cao nhất là 35%, với số lượng bậc thuế nâng lên thành bảy bậc áp dụng chung cho cả người Việt Nam và người nước ngoài (xem bảng 1.1)

Bảng 1.1: Biểu thuế lũy tiến từng phần Bậc

đi, huy động sự đóng góp của nhiều người nhưng với mức độ vừa phải Mặc khác, việc giảm mức thuế suất cao nhất sẽ góp phần khuyến khích người lao động tích cực lao động và sản xuất, kinh doanh; khuyến khích người dân làm giầu chính đáng

- Đối với các khoản thu nhập còn lại Luật thuế TNCN quy định biểu thuế luỹ tiến toàn phần (xem bảng 1.2):

Bảng 1.2: Biểu thuế lũy tiến toàn phần

1 Thu nhập từ đầu tư vốn 5

2 Thu nhập từ bản quyền, nhượng quyền thương mại 5

3 Thu nhập từ trúng thưởng 10

4 Thu nhập từ thừa kế, quà tặng 10

5 Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản (Trường hợp không xác

định được thu nhập tính thuế thì áp dụng thuế suất tính trên giá bán) 25

6 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn (Đối với chuyển nhượng chứng

khoán áp dụng thu thuế theo từng phần)

20 0.1

: [25]; Tổng Cục Thuế

Trang 27

Ngoài ra, Luật còn quy định thuế suất cụ thể cho từng loại thu nhập áp dụng đối với cá nhân không cư trú với các mức thuế suất từ 0.1% đến 20% tính trên toàn

bộ thu nhập phát sinh ở Việt Nam (không được trừ chi phí)

Có thể nói, Luật thuế TNCN có rất nhiều điểm đổi mới phù hợp với thực tiễn

và khoa học so với Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

1.2 Lý luận chung về công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân

1.2.1 Khái niệm về quản lý thuế thu nhập cá nhân

Công tác quản lý thuế TNCN là hoạt động quản lý hành chính của Nhà nước đối với các đối tượng nộp thuế nhằm đạt được các mục tiêu nhất định trong khoảng thời gian nhất định trong khung khổ quy định của pháp luật Nói một cách khác, quản lý thuế TNCN là quá trình tác động của chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý nhà nước về thuế TNCN) tới đối tượng và khách thể (đối tượng thu và nộp thuế TNCN) thông qua các công cụ quản lý (cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật về thuế TNCN, các công cụ quản lý khác,…) nhằm đạt được mục tiêu trong từng giai đoạn nhất định [31]

Như vậy, để tìm hiều về quản lý thuế TNCN thì cần nắm rõ bản chất của quản lý nói chung “quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý một cách có tổ chức, có hướng đích nhằm đạt mục tiêu đã đề ra”

- Về phương thức tác động và hiệu lực: Quản lý thuế TNCN dựa vào pháp luật và các thể chế, quy chế, nguyên tắc, mô hình đã định trước

- Về nội dung chức năng, quản lý thuế TNCN bao gồm: các việc như xây dụng kế hoạch xắp xếp tổ chức, chỉ đạo điều hành và kiểm soát tiến trình hoạt động

- Về phạm vi tác động và hình thức thể hiện: quản lý thuế TNCN là một phạm trù rộng, để tiến hành quản lý, chủ thể quản lý phải tiến hành đồng bộ rất nhiều chức năng, trong đó có chức năng lãnh đạo

Như vậy quản lý thuế TNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước đối với quá trình tính và thu thuế thu nhập cá nhân, để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra

1.2.2 Nội dung công tác quản lý thuế thu nhập cá nhân

Công tác quản lý thuế TNCN là một phần quan trọng của công tác thu ngân sách nhà nước, Công tác này cần được nhìn nhận ở tầm vĩ mô và phải bao gồm toàn

bộ các công việc thuộc các lĩnh vực lập pháp và hành pháp, tư pháp về thuế TNCN

Trang 28

1.2.2.1 Ban hành chính sách thuế TNCN

Đây là công việc thuộc lĩnh vực lập pháp Việc ban hành chính sách thuế TNCN sẽ tạo ra những quy định pháp luật làm cơ sở để tính và thu thuế TNCN Đồng thời, ban hành chính sách cũng đưa ra những căn cứ để kiểm tra, thanh tra, và

áp dụng các chế tài đối với quá trình tính và thu này Để mỗi công dân sống và làm việc theo pháp luật thì chính sách thuế TNCN cần được xây dựng dựa trên các

nguyên tắc cơ bản như sau:

Thứ nhất, việc xây dựng các văn bản pháp luật và chính sách thuế cần đảm

bảo tính đơn giản, minh bạch rõ ràng và chặt chẽ Vì loại thuế TNCN khá phức tạp nên nguyên tắc này cần được đảm bảo để hạn chế hành vi trốn thuế của các đối

tượng nộp thuế

Thứ hai, quy định trong chính sách thuế TNCN phải đảm bảo được yêu cầu đặt

ra trong việc huy động nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đồng thời phù hợp với điều

kiện kinh tế - xã hội và đảm bảo tính công bằng đối với cả người nộp thuế và xã hội

Thứ ba, quy định trong chính sách thuế TNCN cũng cần đảm bảo tính công

bằng đối với người nộp thuế và xã hội Thuế TNCN đóng vai trò phân phối lại thu nhập trong xã hội, giảm bớt sự cách biệt quá lớn về mức sống giữa các cá nhân trong xã hội nhưng cũng cần động viên sự phấn đấu làm việc của người lao động Các quy định phải đảm bảo cho thu nhập thực tế sau khi nộp thuế của các đối tượng

nộp thuế tương xứng với công sức lao động và sự đóng góp của họ

Ngoài yêu cầu cơ bản trên, để đảm bảo chính sách thuế TNCN phát huy hiệu quả cần chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho quá trình triển khai thực hiện như: cải tiến

và hoàn thiện chế độ kế toán, thống kê, thông tin, báo cáo để tạo điều kiện thuận lợi

cho công tác quản lý thuế TNCN, đặc biệt đối với cá nhân, hộ gia đình kinh doanh

1.2.2.2 Tổ chức thực hiện chính sách thuế TNCN

Luật thuế TNCN đã được áp dụng hàng trăm năm nay ở các nước phát triển trên thế giới Ở Việt Nam cũng như ở tỉnh Thái Nguyên, thuế TNCN lần đầu tiên được ban hành vào năm 1990 dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao Hiện nay theo quy định hiện hành, Luật thuế thu nhập cá nhân có hiệu lực ngày 01/01/2009, được chính thức áp dụng vào đời sống nhân dân ban hành kèm theo Nghị định 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính phủ và Thông tư 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN Với quy định này, việc kê khai nộp thuế thu nhập được thực hiện theo nguyên tắc khấu trừ tại nguồn, đối với trường hợp xác định được cơ quan chi trả thu nhập, người hành nghề tự do và có thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, cơ quan thuế có thể áp dụng phương pháp tự kê khai Đây là khâu đóng vai trò quan trọng nhất,

Trang 29

quyết định hiệu quả của việc sử dụng công cụ thuế Nhờ việc tổ chức thực hiện chính sách thuế và quá trình tính, thu thuế mới diễn ra trong thực tế, đồng thời các quy định về quá trình này mới đến được với mọi người dân thông qua tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế Đó chính là nội dung mà các cơ quan quản lý thuế tiến hành thực hiện theo quy trình sau đây

1.2.2.3 Đăng ký thuế, quản lý kê khai và nộp thuế TNCN

a Đăng ký thuế và cấp mã số thuế

Trong quá trình thực hiện Luật thuế TNCN, với số lượng cá nhân đăng ký thuế để được cấp mã số thuế ngày càng rất lớn Do đó, khối lượng công việc và dữ liệu cơ quan Thuế phải xử lý sẽ phức tạp hơn và tăng gấp nhiều lần Với tình hình khẩn trương đó Bộ Tài chính đã phê duyệt dự án ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu quản lý thuế TNCN Hệ thống được xây dựng dựa trên cơ sở sử dụng giải pháp phần mềm chuẩn có sẵn theo mô hình xử lý tập trung, đã được triển khai

ứng dụng từ năm 2009

Ứng dụng đăng ký Thuế chỉ đáp ứng được việc nhập, xử lý tờ khai đăng ký thuế và cấp mã số thuế cho những đối tượng nộp thuế theo quy định tại Thông tư

84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính hướng dẫn thi hành Luật thuế TNCN như sau:

- Đăng ký thuế cho đơn vị chi trả thu nhập;

- Đăng ký thuế cho cá nhân nộp thuế thu nhập;

- Thủ tục đăng ký: Các tổ chức, cá nhân truy cập vào website tncnonline.com.vn

(xem hình 1.1) và tải về phần mềm (gồm các tài liệu, phần mềm và hướng dẫn quy

trình kê khai thuế) đăng ký mã số thuế cá nhân, cập nhật các thông tin đăng ký thuế vào phần mềm theo hướng dẫn sử dụng của chương trình rồi gửi lại cho cơ quan thuế cũng tại website này Sau đó, cơ quan thuế sẽ gửi phản hồi cho doanh nghiệp trong thời gian sớm nhất

Hình 1.1: Quy trình đăng kí thuế TNCN qua website tncnonline.com.vn

(Nguồn: Tổng Cục thuế)

Trang 30

Với trang web này, những người làm công ăn lương qua tổ chức chi trả thu nhập không phải trực tiếp đến cơ quan thuế để đăng ký thuế mà sẽ được hướng dẫn, cung cấp ứng dụng nhập tờ khai Tổ chức chi trả thu nhập thực hiện nhập tờ khai đăng ký thuế vào ứng dụng và kết xuất ra file dữ liệu tải lên web hoặc qua đĩa mềm, đĩa CD, thẻ nhớ USB gửi cho cơ quan thuế, sau đó in bảng kê đăng ký thuế từ dữ liệu đã được nhập vào ứng dụng, đóng dấu và ký xác nhận gửi cho cơ quan thuế qua đường bưu điện Tiếp đó, cục thuế các địa phương tập trung toàn bộ file dữ liệu của các cơ quan thuế trên địa bàn rồi gửi về Tổng cục Thuế Sau khi nhận, xử lý và cấp

mã số thuế tập trung, Tổng cục Thuế sẽ gửi trả lại dữ liệu mã số thuế cho cục thuế, trên cơ sở đó, mỗi chi cục thuế trực thuộc sẽ nhận lại dữ liệu mã số thuế để truyền

về cho các tổ chức chi trả thu nhập trên địa bàn, kịp thời thông báo cho các cá nhân đăng ký

Thủ tục cấp mã số Thuế: Mã số thuế là một dãy số, chữ cái hoặc ký tự khác

do cơ quan quản lý thuế cấp cho người nộp thuế dùng để quản lý thuế [26]. Việc cấp

mã số thuế cho người nộp thuế có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực hiện thành công Luật thuế TNCN Cũng chính vì hiểu rõ tầm quan trọng của mã số thuế đối với công tác quản lý thuế TNCN mà ngay sau khi Luật thuế TNCN được thông qua, Tổng cục Thuế đã ban hành Công văn số 2188/TCT-CNTT ngày 03/6/2009, gửi Cục Thuế các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hướng dẫn cụ thể việc triển khai đăng ký thuế cho cá nhân làm công ăn lương qua tổ chức trả thu nhập trong năm 2009 Công văn nêu rõ: đối tượng được cấp mã số thuế cá nhân là người lao

động có thu nhập từ tiền lương, tiền công kê khai đăng ký Thuế thu nhập cá nhân

thông qua tổ chức trả thu nhập Căn cứ công văn Tổng cục Thuế chỉ đạo Cục Thuế các tỉnh, thành phố cấp mã số thuế cho các đơn vị, cơ quan chi trả thu nhập và các

cá nhân hiện nay đang thuộc diện nộp thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Đối với các tổ chức, cá nhân khác sẽ thực hiện kê khai, cấp dần mã số thuế trong năm tiếp theo (xem sơ đồ 1.1)

Trang 31

Sơ đồ 1.1: Thủ tục đăng ký mã số thuế

(Nguồn: Tổng Cục thuế )

b Quản lý kê khai, nộp thuế

Quy trình quản lý nghĩa vụ kê khai thuế thu nhập cá nhân được thiết kế xây dựng, nhằm hỗ trợ cơ quan thuế theo dõi, giám sát người nộp thuế, thực hiện các thủ tục hành chính về khai thuế thu nhập cá nhân đầy đủ, đúng thời hạn Nghĩa vụ

kê khai thuế được xác định (hệ thống có hỗ trợ tự động) sau khi người nộp thuế đăng ký và được cấp mã số thuế Quy trình này cũng cung cấp danh sách người nộp thuế phải nộp hồ sơ khai thuế để theo dõi đôn đốc tình trạng kê khai của người nộp

thuế Quy trình quản lý nghĩa vụ kê khai bao gồm 4 chức năng chính: (i) Xác định

và cập nhật các nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế sau khi đăng ký thuế, đồng thời hỗ trợ xác định tự động nghĩa vụ khai quyết toán thuế của cá nhân; (ii) Cập nhật, điều chỉnh, gia hạn nghĩa vụ khai thuế khi có các thông tin thay đổi đăng ký thuế hoặc đề nghị gia hạn, yêu cầu thay đổi kỳ kê khai của người nộp thuế; (iii) Định kỳ hàng tháng, tự động lên danh sách người nộp thuế có nghĩa vụ phải khai thuế; (iv) Cung cấp các thông tin báo cáo phục vụ công tác quản lý, theo dõi tình

trạng chấp hành nghĩa vụ thuế

Thủ tục đăng ký mã số thuế

Cơ quan chi trả thu nhập Cá nhân làm việc tại cơ

quan chi trả thu nhập Mẫu 01/ĐK-TCT

Bảng liệt kê hồ sơ

Trang 32

Quy trình này áp dụng cho cơ quan thuế các cấp để hỗ trợ cập nhật, xử lý thông tin về nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế Các nghĩa vụ kê khai thuế TNCN được xác định và quản lý trên các tiêu chí Các loại tờ khai thuế TNCN theo lần phát sinh không được quản lý như nghĩa vụ khai thuế của người nộp thuế Các

tờ khai này không được đưa vào danh sách phải đôn đốc nộp Khi nào người nộp

thuế phát sinh thu nhập sẽ tự khai và tự nộp thuế cho cơ quan thuế Một người nộp

thuế có thể có quyết toán nhiều hơn một lần trong năm tính thuế Trường hợp nhóm

cá nhân kinh doanh chia tách hoặc ngừng hoạt động giữa năm và người đại diện của nhóm này trở thành người đại diện cho một nhóm khác hoặc cho các cá nhân có số ngày cư trú 183 ngày trong 12 tháng liên tục qua 2 năm Các tờ khai quyết toán phát

sinh nộp giữa năm là tờ khai phát sinh không quản lý được như là nghĩa vụ kê khai

Trình tự quản lý kê khai: Cơ quan thuế quản lý thuế thu nhập cá nhân thông

qua cơ quan chi trả thu nhập, n cơ quan này sẽ quản lý trực tiếp đến từng người nộp

thuế Điều này sẽ giải quyết hai vấn đề: Thứ nhất, người nộp thuế sẽ chứng minh gia

cảnh trực tiếp với cơ quan thuế, chịu trách nhiệm về thông tin kê khai và khắc phục nhược điểm một người có nhiều khoản thu nhập từ các địa bàn khác nhau nhưng chỉ

nộp thuế tại một nơi Thứ hai, Việc quản lý thu nhập của mỗi cá nhân, sẽ dựa trên dữ liệu của nhiều cơ quan trả thu nhập tập trung vào dữ liệu của cơ quan thuế Theo

Thông tư 84/2008/TT-BTC của Bộ tài chính, hệ thống tờ khai thuế thu nhập cá nhân

có hai dạng: Hệ thống tờ khai dùng cho các cơ quan chi trả thu nhập và hệ thống tờ

khai dành cho cá nhân nộp thuế (áp dụng cho thu nhập thường xuyên)

Địa điểm kê khai nộp thuế: Đối với các doanh nghiệp được thành lập và hoạt

động theo Luật Doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh bao gồm cả cá nhân hành nghề độc lập: địa điểm nộp hồ sơ đăng ký thuế thực hiện theo quy định tại Thông tư số 85/2007/TT-BTC Cá nhân đến cơ quan thuế Thành Phố, Quận, Huyện, Thị xã nơi người đó làm việc hoặc sinh sống, mang theo bản sao chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu và điền vào tờ khai đăng ký thuế

- Cá nhân có thu nhập từ nhiều nguồn: từ kinh doanh, tiền lương được chọn nơi nộp hồ sơ đăng ký thuế tại cơ quan, đơn vị chi trả thu nhập hoặc tại chi cục thuế nơi kinh doanh Hồ sơ khai thuế sẽ khác nhau tùy theo cá nhân có thực hiện đầy đủ chế độ sổ sách kế toán hay không sẽ có hồ sơ khai thuế hay không

- Cá nhân làm việc cố định tại các cơ quan, doanh nghiệp, tổ chức: sẽ nhận tờ khai từ đơn vị chi trả thu nhập để khai và cơ quan này có trách nhiệm tập hợp xử lý Tuy nhiên về cơ bản, trách nhiệm khai thuế thuộc về đơn vị chi trả thu nhập Đối với cơ quan chi trả thu nhập có hoạt động sản xuất kinh doanh thuộc cơ quan thuế

Trang 33

cấp nào quản lý thì kê khai nộp thuế TNCN tại cơ quan thuế đó Cơ quan chi trả thu nhập không có hoạt động sản xuất kinh doanh thì thực hiện kê khai, nộp thuế tại Cục thuế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Trường hợp cơ quan chi trả thu nhập đóng tại địa bàn cấp huyện, thị xã thì kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế nơi đóng trụ sở

Thời hạn nộp tờ khai và nộp tiền vào ngân sách nhà nước: Chậm nhất là ngày

20 hàng tháng phải nộp tờ khai và nộp thuế vào ngân sách nhà nước theo tháng phát sinh thu nhập

- Đối với trường hợp nộp thuế bằng chuyển khoản qua ngân hàng thì ngày nộp thuế là ngày Ngân hàng, tổ chức tín dụng ký xác nhận trên giấy nộp tiền

- Trường hợp nộp thuế bằng tiền mặt thì ngày nộp thuế là ngày kho bạc Nhà nước nhận tiền thuế hoặc ngày cơ quan thuế cấp biên lai

Xử lý tờ khai thu nhập cá nhân do người nộp thuế tự khai: Các bộ phận tại các cơ quan thuế gồm bộ phận hỗ trợ người nộp thuế và bộ phận xử lý tờ khai

Như vậy, với sự hỗ trợ của các tính năng tự động trong hệ thống, nghiệp vụ

xử lý tờ khai thu nhập cá nhân do người nộp thuế tự kê khai có chức năng giúp cơ quan thuế cập nhật và xử lý tờ khai kịp thời, đáp ứng công tác quản lý thuế và theo dõi số thu nộp của các tổ chức, cá nhân

1.2.2.4 Quản lý đối tượng nộp thuế, tính thuế và các khoản được khấu trừ thuế TNCN

a Xác định đối tượng nộp thuế

Thuế TNCN thuộc loại thuế trực thu nên đối tượng chịu thuế cũng đồng thời

là đối tượng nộp thuế Xác định đối tượng nộp thuế là một trong những nội dung quan trọng của thuế TNCN, từ đó mới có thể vận dụng cách tính thuế cho phù hợp Khi tiến hành xác định đối tượng nộp thuế, người ta thường dựa vào hai tiêu thức là

“nơi cư trú” và “nguồn phát sinh thu nhập”

Theo tiêu thức “nơi cư trú", một cá nhân được xác định là cư trú ở một nước phải nộp thuế tại đó đối với mọi khoản thu nhập phát sinh từ khắp nơi trên thế giới, còn một cá nhân được xác định là không cư trú ở một nước chỉ phải nộp thuế cho

phần thu nhập phát sinh tại nước đó

Theo tiêu thức “nguồn phát sinh thu nhập” lại quy định: một cá nhân phải nộp thuế thu nhập cá nhân ở một nước đối với mọi khoản thu nhập của cá nhân phát sinh tại nước đó

Hiện nay, đa số các nước tính thuế TNCN theo tiêu thức “nơi cư trú” Tuy nhiên, khái niệm thế nào là một cá nhân cư trú tại một nước lại được định nghĩa khác nhau trong luật thuế TNCN của các nước Rất có nhiều nước quy định cá nhân

Trang 34

cư trú là người định cư tại nước đó hoặc những người đến nước đó không thường xuyên nhưng tổng số ngày ở tại nước đó vượt quá 183 ngày trong một năm (năm dương lịch hay năm tài chính) Tuy nhiên, một số nước lại đưa ra những định nghĩa

về cá nhân cư trú cụ thể hơn và có điểm khác với định nghĩa nêu trên

Chẳng hạn như Nhật Bản đưa ra một định nghĩa tương đối phức tạp, trong đó

có 3 khái niệm khác nhau là cá nhân cư trú thường xuyên, cá nhân cư trú không thường xuyên và cá nhân không cư trú Cụ thể là :

+ Cá nhân cư trú thường xuyên là cá nhân định cư thường xuyên ở Nhật Bản liên tục từ 1 đến 5 năm trở lên

+ Cá nhân cư trú không thường xuyên là cá nhân không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có nơi thường trú ở Nhật từ 1 năm trở lên và không được quá 5 năm

+ Cá nhân không cư trú là cá nhân không có nơi định cư tại Nhật Bản và sống tại Nhật Bản ít hơn 1 năm

Các cá nhân nước ngoài đến Nhật Bản sẽ được coi là có nơi cư trú tại Nhật Bản trừ khi các hợp đồng lao động hoặc các giấy tờ khác chỉ rõ rằng họ sẽ ở lại Nhật Bản ít hơn một năm Các cá nhân cư trú thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập từ mọi nguồn; các cá nhân cư trú không thường xuyên bị tính thuế trên thu nhập có nguồn gốc từ nước ngoài nhưng được trả tại Nhât Bản hoặc chuyển đến Nhật Bản Các cá nhân không cư trú chỉ phải nộp thuế đối với thu nhập có nguồn gốc từ Nhật Bản [46]

Ở Trung Quốc quy định, một cá nhân đang cư trú trong biên giới của Trung Quốc hoặc những người không cư trú, nhưng cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc cho không ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên bấc kỳ thu nhập thu được từ bên trong hay bên ngoài biên giới Trung Quốc Một cá nhân không phải là người cư trú cũng như cuộc sống bên trong biên giới của Trung Quốc hoặc những người không cư trú và sống bên trong biên giới ít hơn một năm phải nộp thuế thu nhập cá nhân trên bất kỳ thu nhập thu được từ bên trong biên giới Trung Quốc [47]

Luật thuế TNCN ở Việt Nam quy định, cá nhân bao gồm cá nhân cư trú và không cư trú Đối với cá nhân cư trú thì phải có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam hoặc có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng

ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn, có thu nhập chịu thuế phát sinh bấc cứ trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam điều phải nộp

Trang 35

thuế còn cá nhân không cư trú thì không đáp ứng về điều kiện nêu trên nhưng có thu nhập chịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam cũng phải nộp thuế

Sự phân biệt cư trú hay không cư trú của một đối tượng nộp thuế là rất quan trọng, để xác định đối tượng nộp thuế đó phải nộp thuế ở mức độ nào Như vậy, có thể thấy tùy vào chính sách và trình độ quản lý của từng nước mà mỗi nước sẽ đưa

ra các định nghĩa đối tượng nộp thuế sao cho phù hợp với tình hình của mình

b Xác định đối tượng tính thuế

Việc xác định đối tượng tính thuế là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu được đề cập đến trong chính sách thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam cũng như các nước trên thế giới Căn cứ vào đó, người ta có thể thấy rằng loại thuế thu nhập cá nhân áp dụng có công bằng không, thuế này tạo được nguồn thu như thế nào cho ngân sách nước đó Để tính được thuế TNCN phải nộp, trước tiên phải xác định được những khoản thu nhập nào là đối tượng chịu thuế, khoản thu nhập nào là đối tượng không chịu thuế và tính toán thu nhập đó như thế nào Sau đó, căn cứ vào một số quy định khác trong chính sách thuế như các khoản miễn giảm, khấu trừ…

cơ quan thuế xác định được thu nhập tính thuế Từ thu nhập tính thuế và thuế suất

sẽ xác định được thuế phải nộp, sao cho người nộp thuế chấp nhận và để luật thuế

có tính khả thi cao Có như vậy mới đảm bảo được mục tiêu kinh tế, xã hội trong

việc quản lý và thu thuế TNCN

Theo luật thuế TNCN, để xác định đối tượng tính thuế đối với người có thu nhập trước hết, chúng ta cần xác định một khái niệm cho thuật ngữ “thu nhập” Cho đến nay, hầu hết các đạo luật về thuế TNCN ở các nước thường chỉ quy định những khoản thu nhập nào phải tính thuế Tuy nhiên, trên thực tế cũng tồn tại một số quan niệm về thu nhập như sau: “Thu nhập là giá trị nhận được của một pháp nhân hay thể nhân nào đó trong một khoảng thời gian nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh Giá trị đó có thể được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hay các giá trị vật chất, phi vật chất nhưng có thước đo chung là tiền tệ”

Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó Mặc dù luật thuế TNCN quy định 10 nhóm thu nhập chịu thuế ta có thể chia thành hai nhóm: Thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên

 Thu nhập thường xuyên: Được hiểu là các khoản thu nhập phát sinh

thường xuyên, có tính chất đều đặn và ổn định trong tháng, trong năm và có thể dự tính được, bao gồm:

Trang 36

- Thu nhập từ kinh doanh: Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; Thu nhập từ hoạt động hành nghề độc lập của cá nhân có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề theo quy định của pháp luật

- Thu nhập từ tiền lương, tiền công: Tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công; Các khoản phụ cấp, trợ cấp, trừ các khoản phụ cấp, trợ cấp theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công, phụ cấp quốc phòng, an ninh, phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với những ngành, nghề hoặc công việc ở nơi làm việc

có yếu tố độc hại, nguy hiểm, phụ cấp thu hút, phụ cấp khu vực theo quy định của pháp luật, trợ cấp khó khăn đột xuất, trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trợ cấp một lần khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi, trợ cấp do suy giảm khả năng lao động, trợ cấp hưu trí một lần, tiền tuất hàng tháng, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm theo quy định của Bộ luật lao động, các khoản trợ cấp khác do Bảo hiểm xã hội chi trả, trợ cấp giải quyết tệ nạn xã hội; Tiền thù lao dưới các hình thức; Tiền nhận được từ tham gia hiệp hội kinh doanh, hội đồng quản trị, ban kiểm soát, hội đồng quản lý và các tổ chức; Các khoản lợi ích khác mà đối tượng nộp thuế nhận được bằng tiền hoặc không bằng tiền; Tiền thưởng, trừ các khoản tiền thưởng kèm theo các danh hiệu được Nhà nước phong tặng, tiền thưởng kèm theo giải thưởng quốc gia, giải thưởng quốc tế, tiền thưởng về cải tiến kỹ thuật, sáng chế, phát minh được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận, tiền thưởng về việc phát hiện, khai báo hành vi vi phạm pháp luật với cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trong đó thu nhập thường xuyên chịu thuế là tổng thu nhập của từng cá nhân, bình quân tháng trong năm nằm trong giới hạn phải nộp thuế do biểu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định

 Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập phát sinh theo từng

lần, từng đợt riêng lẻ, không có tính chất đều đặn, nằm trong mức giới hạn phải nộp thuế thu nhập, được tính theo biểu thuế toàn phần bao gồm: Thu nhập từ đầu tư vốn, bao gồm: Tiền lãi cho vay( trừ các tổ chức tín dụng); Lợi tức cổ phần; Thu nhập từ đầu tư vốn dưới các hình thức khác, trừ thu nhập từ lãi trái phiếu Chính phủ

- Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn trong các tổ chức kinh tế; Thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán; Thu nhập từ chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác

- Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản, bao gồm: Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở; Thu nhập từ chuyển nhượng quyền thuê đất, thuê mặt nước; Các khoản thu nhập khác nhận được từ chuyển nhượng bất động sản

Trang 37

- Thu nhập từ trúng thưởng, bao gồm: Trúng thưởng xổ số; Trúng thưởng trong các hình thức khuyến mại; Trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino; Trúng thưởng trong các trò chơi, cuộc thi có thưởng và các hình thức trúng thưởng khác

- Thu nhập từ bản quyền, bao gồm: Thu nhập từ chuyển giao, chuyển quyền

sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ; Thu nhập từ chuyển giao công nghệ;

- Thu nhập từ nhượng quyền thương mại;

- Thu nhập từ nhận thừa kế là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh

tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký

sử dụng;

- Thu nhập từ nhận quà tặng là chứng khoán, phần vốn trong các tổ chức kinh tế, cơ sở kinh doanh, bất động sản và tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc đăng ký sử dụng

Từ những quan niệm trên, có thể nói rằng TNCN là giá trị một cá nhân kiếm được trong một khoảng thời gian (thường là một năm) sau khi đã khấu trừ đi các chi phí để tạo ra thu nhập đó Tuy nhiên không phải nước nào cũng đưa tất cả các nguồn thu nhập ở trên vào diện thu nhậo tính thuế

c Xác định các khoản khấu trừ để tính thuế

Một trong những nguyên tắc cơ bản khi tính thuế TNCN là đối tượng tính thuế phải là thu nhập do người đóng thuế toàn quyền sử dụng theo quy định của pháp luật Điều đó cũng có nghĩa là đối tượng tính thuế là thu nhập đã khấu trừ đi các khoản chi phí cần thiết để tạo ra thu nhập đó với một số giới hạn nhất định Tùy theo đặc điểm kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia mà người ta quy định những khoản khấu trừ phù hợp Tuy nhiên, về cơ bản có một nguyên tắc chung: Tất cả các chi phí trực tiếp liên quan đến việc tạo ra thu nhập cá nhân đều được khấu trừ để xác định thu nhập thực nhận được, sau đó trừ tiếp một số khoản mang tính chất xã - hội trước khi tính thuế Chẳn hạn như:

Thu nhập từ các hoạt động thương mại, công nghiệp, dịch vụ của các hộ kinh doanh cá thể không thuộc diện tính thuế thu nhập doanh nghiệp (các chi phí cần thiết và liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ để tạo ra thu nhập mà người nộp thuế đã thực hiện);

Thu nhập từ tiền lương, tiền công, hưu trí, trợ cấp xã hội và các khoản tương

tự (cho phép trừ ra khỏi thu nhập một mức nào đó gọi là chi phí nghề nghiệp như:

ca sĩ, nhà báo, nhạc công…);

Thu nhập từ lãi cổ phần, lãi cho vay, lãi tiền gửi (chi phí mua các chứng khoán có giá);

Trang 38

Thu nhập từ thừa kế (theo quan hệ thừa kế là trực hệ, quan hệ vợ chồng hay quan hệ khác);

Các khoản trả có tính chất lương như trợ cấp ốm đau, lương hưu, trợ cấp tai nạn lao động, trợ cấp thất nghiệp… được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội do chúng là đối tượng của chính sách xã hội nên nhiêu nước không thu thuế đối với các khoản thu nhập này

Các khoản phúc lợi xã hội như sử chữa nhà cửa, thiên tai,chữa bệnh, dịch họa hoặc chi phí của người tàn tật…Thu nhập được sử dụng cho các khoản chi phí này thường được miễn thuế thu nhập Sở dĩ như vậy là để bảo đảm bảo có sự bình đẳng với những người không phải chi những khoản chi phí này

Các khoản chi phí nuôi người phụ thuộc mang tính chất gánh nặng gia đình cũng được quy định thành một khoản khấu trừ tùy theo quy định của Nhà nước Tất

cả các khoản chi phí trên thường được các nước quy định một giới hạn khấu trừ cụ thể gọi là suất miễn thu

Các khoản chi phí cá nhân khác nhằm tái tạo sức lao động, chi phí đảm bảo điều kiện sống tối thiểu của cá nhân

Đây là một trong những đặc điểm của thuế TNCN là có quan tâm đến sinh hoạt của đối tượng nộp thuế và tính thuế theo khả năng Điều này cũng cho thấy thu nhập cá nhân luôn gắn với các chính sách xã hội

1.2.2.5 Tuyên truyền, phổ biến chính sách thuế TNCN

Ngoài những quy định trong văn bản pháp quy có được hoàn hảo hay không thì sự thành công trong việc thực hiện các chính sách thuế, còn phụ thuộc rất lớn vào

sự hiểu biết sâu sắc và ý thức chấp hành nghiêm túc của cán bộ thuế, cũng như người nộp thuế Để nội dung của chính sách thuế đến với mọi người dân trong xã hội, cơ

quan thuế cần phải tiến hành công tác tuyên truyền, phổ biến về chính sách thuế…

Công tác tập huấn về tuyên truyền thuế TNCN sẽ được tổ chức theo từng cấp Công tác này cần phải được thực hiện trước hết từ cán bộ thuế, theo đó mỗi chi cục sẽ cử một đại diện lãnh đạo chi cục thuế, một lãnh đạo phòng thuế thu nhập cá nhân hoặc một lãnh đạo phòng có kiến thức am hiểu sâu về thuế thu nhập cá nhân,

có kỹ năng thuyết trình tốt Sau tập huấn sẽ là các giáo viên để phổ biến, hướng dẫn lại cho cán bộ thuế, các cơ quan hành chính sự nghiệp; các hiệp hội; đoàn thể; các doanh nghiệp và nhân dân …, đảm bảo cho mọi người điều nắm bắt được những nội dung cơ bản nhất của luật

Nội dung của đợt tập huấn chia làm hai phần: đầu tiên sẽ hệ thống, đánh giá lại tình hình thực hiện chính sách điều tiết về thuế TNCN Tiếp theo là phổ biến nội dung Luật thuế TNCN với những giải thích rõ ràng, chi tiết về một số điểm cần lưu ý

Trang 39

Để thành công trong công tác tuyên truyền, phổ biến thuế, Cục Thuế cần phải phối hợp với nhau như: Cục thuế chủ trì, phối hợp với đài phát thanh truyền hình tỉnh và báo Thái Nguyên để Truyền thông tổ chức tốt việc tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa, các nội dung cơ bản của Luật, các văn bản hướng dẫn và thủ tục hành chính về thuế thu nhập cá nhân đến tất cả các cơ quan, doanh nghiệp và mọi người dân hiểu, thực hiện và giám sát việc thực hiện Chủ động triển khai hệ thống hỗ trợ, hướng dẫn về thuế; Cục thuế tỉnh thái Nguyên có trách nhiệm chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến về Luật Thuế thu nhập cá nhân trong phạm vi địa phương mình; Đài Truyền hình Thái Nguyên dành thời lượng thoả đáng để tuyên truyền, phổ biến về Luật Thuế thu nhập cá nhân Báo Thái Nguyên dành chuyên mục để phổ biến, đăng tải các ấn phẩm tuyên truyền về thuế thu nhập cá nhân, phát hành các ấn phẩm, tờ rơi, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu về thuế TNCN [5]… để nhân dân nắm bắt các quy định về đối tượng thuộc diện nộp thuế, quyền và nghĩa vụ của các đối tượng đồng thời tạo trong cán bộ và các tầng lớp nhân dân, tổ chức ý thức tự giác chấp hành quy định của Luật, ủng hộ, tự giác và đồng tình trong việc chi trả thu nhập… qua đó kịp thời biểu dương các cá nhân tự giác thực hiện và chấp hành nghiêm túc các quy định về nộp thuế; phát hiện, phê phán kịp thời những hiện tượng, hành vi vi phạm quy định của Luật thuế thu nhập cá nhân cũng như bảo đảm

sự công bằng, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ thực hiện Luật thuế thu nhập cá nhân trong cộng đồng xã hội

1.2.2.6 Quản lý công tác đào tạo cán bộ công chức trong quản lý thuế TNCN [24]

Từ khi mới thành lập ngành thuế Thái Nguyên đã xác định công tác đào, tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức thuế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu đã đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhiều hình thức: vừa đào tạo chính quy vừa tăng cường tập huấn bồi dưỡng

nghiệp vụ quản lý thuế và học hỏi các nước trên thế giới và tiến hành như sau:

Thực hiện được mục tiêu trên, đội ngũ cán bộ công chức ngành thuế sẽ được đào tạo, bồi dưỡng tập trung theo ba nội dung cơ bản: Một là giáo dục đạo đức, tác phong nghề nghiệp, trách nhiệm pháp luật và phương pháp giao tiếp, ứng xử Hai là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức kinh tế, pháp luật liên quan nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ quản lý Ba là đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức và kỹ năng quản lý thuế theo cấp độ từ cơ bản đến chuyên sâu và nâng cao từng loại công chức thực hiện các chức năng và lĩnh vực quản lý thuế khác nhau, trước mắt tập trung vào các kỹ năng tuyên truyền pháp luật thuế và hỗ trợ người nộp thuế; thanh tra kiểm tra, kiểm tra; quản lý kê khai và kế toán thuế; quản lý nợ thuế và cưỡng chế thu nợ thuế;

dự báo thu ngân sách nhà nước về thuế, quản lý thuế thu nhập cá nhân…

Trang 40

1.2.2.7 Quản lý quá trình quyết toán thuế TNCN

Khai quyết toán thuế là việc xác định số thuế phải nộp của năm tính thuế hoặc thời gian từ đầu năm tính thuế đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế hoặc thời gian tính từ khi phát sinh đến khi chấm dứt hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế theo quy định của pháp luật [26]

Theo nguyên tắc quyết toán thuế đối với thu nhập cá nhân được thực hiện theo năm dương lịch Cuối năm hoặc sau khi hết hạn hợp đồng, cơ quan chi trả thu nhập Cá nhân tổng hợp tất cả các nguồn thu nhập, thu nhập chịu thuế trong năm thực hiện kê khai thuế thu nhập và nộp tờ khai quyết toán Trong đó, thu nhập tính thuế của cá nhân là thu nhập bình quân tháng trong năm hoặc tổng thu nhập trong

cả năm, bất kể tháng có hay không có thu nhập sau đó chia đều cho 12 tháng

Ngành thuế luôn dựa vào các Nghị Định của Chính Phủ, Thông tư của Bộ Tài Chính về giãn, giảm thuế TNCN,để lên phương án tập huấn cho các đơn vị trên địa bàn sớm sẽ giúp doanh nghiệp và cá nhân chủ động tính toán được các khoản thuế và thu nhập còn lại của mình Tránh rơi vào tình trạng như đã xảy ra với

chủ trương giãn, sau đó là miễn thuế thu nhập cá nhân trong những tháng đầu năm

Đối tượng thực hiện khai quyết toán [10]: Theo hướng dẫn tại Thông tư số

84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 của Bộ Tài chính thì các đối tượng phải quyết toán thuế TNCN bao gồm: Tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập; Cá nhân cư trú có thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinh doanh có số thuế phải nộp lớn hơn

số thuế đã khấu trừ, tạm nộp; hoặc cá nhân có yêu cầu hoàn thuế hoặc bù trừ số thuế nộp thừa vào kỳ sau; Cơ quan thuế trực tiếp quản lý các đơn vị chi trả thu nhập, cá nhân nộp thuế phải chủ động thông báo sớm nghĩa vụ quyết toán thuế để các đối tượng phải quyết toán thuế được biết; đồng thời phổ biến, hướng dẫn cho các đơn vị chi trả thu nhập và cá nhân thực hiện kê khai, nộp hồ sơ quyết toán thuế theo đúng

quy định

Kê khai quyết toán thuế của tổ chức chi trả thu nhập: Theo hướng dẫn tại

Thông tư số 160/2009/TT-BTC ,Thông tư 183/2011 của Bộ Tài chính thì đơn vị chi trả thu nhập chỉ phải kê khai quyết toán thuế đối với các khoản thu nhập chi trả không thuộc diện được miễn thuế TNCN, các khoản thu nhập thuộc diện được miễn

thuế không phải kê khai

Đối với các đơn vị chi trả thu nhập là doanh nghiệp, mức khoản chi được thực hiện theo quy định của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Trường hợp Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp không

Ngày đăng: 26/03/2021, 10:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w