1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu diễn biến lâm sàng và đáp ứng miễn dịch của lợn rừng nuôi được tiêm vacxin tai xanh vô hoạt nhũ kép chủng prrs hua 01

69 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 4,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ HƯƠNG NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN LÂM SÀNG VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA LỢN RỪNG NUÔI ĐƯỢC TIÊM VACXIN TAI XANH VÔ HOẠT NHŨ KÉP CHỦNG PRRS HUA 01 Chuyên n

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ HƯƠNG

NGHIÊN CỨU DIỄN BIẾN LÂM SÀNG VÀ ĐÁP ỨNG MIỄN DỊCH CỦA LỢN RỪNG NUÔI ĐƯỢC TIÊM VACXIN TAI XANH VÔ HOẠT NHŨ KÉP CHỦNG PRRS HUA 01

Chuyên ngành: Thú y

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Nam

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, do tôi nghiên cứu, có sự giúp đỡ của tập thể các đồng nghiệp và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu khoa học nào khác

Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương

Trang 3

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong bộ môn bệnh lý, Khoa Thú y, cám

ơn các cán bộ phòng Thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tôi dành sự biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè, những người đã luôn động viên, khích lệ, giúp đỡ tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Hương

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu về hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn 3

2.2.1 Tình hình nghiên cứu về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình nghiên cứu về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Việt Nam 5

2.2 Hiểu biết cơ bản về PRRS 10

2.2.1 Virus PRRS 10

2.3 Đặc điểm bệnh lý của PRRS 16

2.3.1 Loài vật mắc bệnh, lứa tuổi mắc bệnh 16

2.3.2 Chất chứa mầm bệnh và quá trình truyền lây 16

2.3.3 Cơ chế sinh bệnh 17

2.3.4 Triệu chứng và bệnh tích 18

2.3.5 Chẩn đoán và phòng trị bệnh 19

2.4 Vacxin và vacxin phòng PRRS 21

2.4.1 Khái niệm về vacxin 21

2.4.2 Đặc tính cơ bản của vacxin 21

2.4.3 Thành phần của vacxin 21

Trang 5

2.4.4 Phân loại vacxin 22

2.4.5 Yêu cầu đối với một vacxin 24

2.4.6 Vacxin phòng PRRS 24

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 26

3.1 Vật liệu nghiên cứu 26

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

3.3 Nội dung nghiên cứu 26

3.4 Nguyên liệu, dụng cụ, hóa chất 26

3.4.1 Vacxin 26

3.4.2 Động vật thí nghiệm: 26

3.4.3 Trang thiết bị, dụng cụ, hóa chất 26

3.5 Phương pháp nghiên cứu 27

3.5.1 Lựa chọn lợn thí nghiệm 27

3.5.2 Bố trí thí nghiệm 27

3.5.3 Phương pháp tách lấy huyết thanh 28

3.5.4 Phương pháp ELISA 28

3.5.5 Phương pháp quan sát, mô tả 29

3.5.6 Phương pháp đo chỉ tiêu huyết học 29

3.5.7 Phương pháp tiến hành phản ứng RT-PCR 29

3.5.8 Phương pháp điện di kiểm tra sản phẩm PCR 30

3.5.9 Phương pháp thu thập số liệu, xử lý số liệu 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 32

4.1 Kết quả theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng của lợn trước và sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nh ũ kép chủng HUA 01 32

4.1.1 Kết quả xét nghiệm kháng thể PRRSV của lợn trước khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép chủng HUA 01 32

4.1.2 Thân nhiệt của lợn trước và sau khi tiêm vacin PRRS vô hoạt 33

4.1.3 Tần số hô hấp của lợn trước và sau khi tiêm Vacxin 36

4.1.4 Tần số tim mạch của lợn trước và sau khi được tiêm vacxin vô hoạt PRRS 38

4.1.5 Triệu chứng lâm sàng của lợn trước và sau khi tiêm vacxin 41

4.2 Một số chỉ tiêu huyết học của lợn được tiêm vacxin tai xanh vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01 42

Trang 6

4.2.1 Kết quả khảo sát chỉ tiêu hồng cầu của lợn tiêm vacxin vô hoạt PRRS 43

4.2.2 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của tiêm vacxin vô hoạt PRRS 44

4.3 Kết quả xét nghiệm kháng thể của lợn sau khi tiêm Vacxin vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01 46

Phần 5 Kết luận và đề nghị 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 49

Tài liệu tham khảo 51

Phụ lục 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt

cs Cộng sự

DPI Day Post Inoculated

ELISA Enzyme Linked Immunosorbent Assay

H.E Hematoxylin & Eosin

IPMA Immuno – Peroxidase Monolayer Assay

NXB Nhà xuất bản

OIE Organisatio n of International Epidemiology

(Tổ chức Dịch tễ học Thế giới) PBS Phosphate Buffer Saline

PCR Polymerase Chain Reaction

PRRS Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome PRRSV Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome Virus RNA Ribonucleic Acid

RT – PCR Reverse Transcriptase – Polymerase Chain Reaction

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Một số vi khuẩn kế phát thường gặp trong cơ thể lợn mắc PRRS 11

Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRSV 14

Bảng 2.2 Sức đề kháng của PRRSV 15

Bảng 3.1 Đặc tính của lợn thí nghiệm 27

Bảng 3.3 Thành phần phản ứng PCR 30

Bảng 3.4 Nhiệt độ và thời gian trong từng giai đoạn của chu kỳ nhiệt 30

Bảng 4.1 Kết quả xét nghiệm kháng thể kháng PRRSV bằng phương pháp ELISA 32

Bảng 4.2 Kết quả xét nghiệm sự có mặt của virus PRRS và một số virus khác bằng phương pháp RT – PCR 33

Bảng 4.3 Thân nhiệt của lợn trước và sau khi tiêm vacxin 34

Bảng 4.4 Tần số hô hấp của lợn trước và sau khi tiêm vacxin (lần/phút) 37

Bảng 4.5 Biến động tần số nhịp tim của lợn trước và sau khi tiêm vacxin (lần/phút) 39

Bảng 4.6 Triệu chứng lâm sàng của lợn sau khi tiêm vacxin 41

Bảng 4.7 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu hệ hồng cầu ở lợn tiêm vacxin PRRS vô hoạt 43

Bảng 4.8 Kết quả khảo sát chỉ tiêu bạch cầu của lợn tiêm vacxin vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01 45

Bảng 4.9 Kết quả xét nghiệm kháng thể sau khi tiêm vacxin vô hoạt kháng PRRS bằng phương pháp ELISA 46

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: Bản đồ tình hình dịch bệnh PRRS độc lực cao ở châu Á từ năm 2006

đến năm 2010 5

Hình 2.2: Tình hình dịch bệnh PRRS ở Việt Nam năm 2007 7

Hình 2.3 Hình thái virus PRRS 13

Hình 2.4 Cấu trúc bộ gen của PRRSV 13

Hình 2.5 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào 17

Hình 4.1 Biến động nhiệt độ của lợn trước và sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép chủng HUA 01 thử nghiệm 35

Hình 4.2 Biến động tần số hô hấp của lợn trước và sau khi tiêm vacxin PRRS Vô hoạt chủng HUA 01 thử nghiệm (lần/phút) 38

Hình 4.3 Biểu thị tần số nhịp tim của lợn trước và sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt 40

Hình 4.4 Biểu thị hàm lượng kháng thể của lợn sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt 47

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Họ và tên học viên: Nguyễn Thị Hương

Tên đề tài: “Nghiên cứu các chỉ tiêu lâm sàng và đáp ứng miễn dịch của lợn rừng nuôi được tiêm vacxin tai xanh vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01”

Chuyên ngành: Thú y Mã số: 60.64.01.01

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

NỘI DUNG

I Mục đích và đối tượng nghiên cứu

Đánh giá hiệu quả của vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép được chế từ chủng virus Hua 01 Lợn rừng 9 tuần tuổi không chứa kháng thể kháng PRRSV được tiêm vacxin vô hoạt nhũ kép chế từ chủng virus PRRS HUA 01

Theo dõi triệu chứng lâm sàng, chỉ tiêu huyết học, hàm lượng kháng thể của lợn trước và sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép chủng HUA 01

II Các phương pháp nghiên cứu đã sử dụng

- Phương pháp tách lấy huyết thanh ;

- Phương pháp ELISA ;

- Phương pháp quan sát, mô tả ;

- Phương pháp đo chỉ tiêu huyết học ;

- Phương pháp RT – PCR ;

- Phương pháp thu thập số liệu, xử lư số liệu

III Kết quả thu được và kết luận của đề tài

Hoàn thành đề tài này chúng tôi có một số kết luận sau:

1 Thân nhiệt của lợn tiêm vacxin có tăng nhẹ nhưng không đáng kể

2 Tần số hô hấp và tần số tim của lợn sau khi được tiêm vacxin cũng biến đổi theo chiều hướng tăng dần khi nhiêt độ cơ thể lợn tăng Đến khi thân nhiệt lợn giảm thì tần số hô hấp và tần số tim cũng dần trở lại bình thường Cụ thể, tần số hô hấp tăng từ

22 lần/phút – 32 lần/phút Tần số tim tăng từ 89 nhịp/phút – 113 nhịp/phút

3 Số lượng hồng cầu tăng từ 5,82 lên đến 6,78 triệu/µl

Hàm lượng Hb tăng103,80 (g/l) lên 125,12 (g/l)

4 Có sự tăng về số lượng bạch cầu, công thức bạch cầu: trong đó bạch cầu đa nhân trung tính và tế bào lympho tăng cao hơn so với lợn đối chứng trong khi bạch cầu

ái toan, ái kiềm và bạch cầu đơn nhân lớn có thay đổi nhưng không nhiều

Trang 11

5 Hàm lượng kháng thể của lợn thí nghiệm bắt đầu được đạt mức dương tính (S/P = 0,41) vào ngày thứ 3; sau đó lượng kháng tăng từ ngày 3 đến ngày 28 và hàm lượng đạt mức cao vào ngày thứ 21 (S/P=1,29) sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép chủng HUA 01 Điều đó, cho thấy rằng hàm lượng kháng thể đạt mức bảo hộ và tạo miễn dịch chống lại PRRSV cho lợn thí nghiệm sau khi tiêm vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép chủng HUA 01 ngay từ ngày thứ 3

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Author name: Nguyen Thi Huong

Thesis title: ”Research the clinical indicators and ability immune response of breeding wild boar which were vaccinated blue ear inactivated double emulsions PRRS HUA 01 vaccine”

Major: Veterinary Medicine Code: 60.64.01.01

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

I Aims and subjects of the research

1 Aims of the research

Assessment of the effectiveness of inactivated double emulsions PRRS vaccine which were made from HUA 01 strain

Follow the clinical symptoms, hematology indicators, antibody levels of breeding wild boar before and after being vaccinated inactivated double emulsions vaccine which were made from PRRS HUA 01 strain

2 Research of the subjects

9 weeks old breeding wild boar, which didn’t contain antibodies to PRRSV, were vaccinated inactivated double emulsions vaccine made from HUA 01 strain

II Materials and Methods

- Methods extract serum;

- Methods ELISA;

- Methods of observation, description;

- Method of measuring blood indicators;

- Methods RT – PCR;

- The methods of data collection, data processing

III Main findings and conclusions

Completion of this subject, we have some conclusions:

1 Body temperature of breeding wild boar, which had been vaccinated, increased slightly but not significantly

2 Respiratory frequency and cardiac frequency of breeding wild boar after being vaccinated, also changed in the direction of ascending when the body temperature

Trang 13

of breeding wild boar increased Until the body temperature of breeding wild boar reduced, respiratory frequency and cardiac frequency also gradually returning to normal Specific, respiratory frequency increased from 22 times/minute to 32 times/minute Cardiac frequency increased from 89 beats/minute to 113 beats/minute

3 The number of erythrocytes increased from 5,82 to 6,78 millions/µl

Content of Hb increased from 103,80 (g/l) to 125,12 (g/l)

4 The number of erythrocytes, formula of leukemias increased: Inside polymorphonuclear leukocytes and lymphocytes increased higher than the ones of control breeding wild boar While the number of eosinophils, eosinophil alkalines and large mononuclear changed but not much

5 Antibody levels of breeding wild boar started by reaching positive (S/P = 0,41)

on 3rd day; then the antibody levels increased from 3rd day to 28th day and reached high

on 21th day (S/P=1,29) after being vaccinated inactivated double emulsions HUA 01 strain PRRS vaccine It shows that antibody levels reached to the protection and immunogenicity against PRRSV to breeding wild boar after being vaccinated inactivated double emulsions HUA 01 strain PRRS vaccine from 3rd day

Trang 14

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Hệ thống nông nghiệp Việt Nam đang dần phát triển và đi lên đặc biệt là ngành chăn nuôi đang được chú trọng với mục tiêu là tăng nhanh cả về chất và lượng Những năm trở lại đây, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao kéo theo nhu cầu tiêu thu sản phẩm từ chăn nuôi động vật hoang dã ngày càng phát triển Trong đó lợn rừng là loại thực phẩm được nhiều người ưa chuộng Nắm bắt được xu thế đó, nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi ở nước ta đã nghiên cứu

và ứng dụng mô hình chăn nuôi lợn rừng có giá trị kinh tế cao, đã giúp nhiều hộ nông dân thoát nghèo nhờ nguồn thu nhập ổn định

Tuy nhiên gần đây tình hình dịch bệnh có nhiều diễn biến phức tạp, dịch bệnh liên tục xảy ra như: dịch tả, tai xanh, lở mồm long móng, cúm gia cầm,… gây

ra nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi Vì thế, công tác phòng chống dịch bệnh, đảm bảo sức khỏe cho đàn gia súc cũng như của con người trở nên cấp thiết

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (Porcine reproductive and respiratory syndrome – PRRS) hay còn gọi là “Bệnh tai xanh ở lợn” đã gây ra thiệt hại vô cùng to lớn cho ngành chăn nuôi lợn trên toàn thế giới Lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm với các biểu hiện như sốt cao, da mẩn đỏ, tỷ lệ ốm và tỷ lệ chết cao và loài lợn rừng cũng mắc bệnh

Từ năm 2007 đến nay, tại Việt Nam, dịch PRRS xảy ra liên miên, có những diễn bến phức tạp và có nguy cơ bùng phát ở tất cả các địa phương trong

Trang 15

“Nghiên cứu các chỉ tiêu lâm sàng và đáp ứng miễn dịch của lợn rừng nuôi được tiêm vacxin tai xanh vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01”

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Bước đầu đánh giá hiệu quả của vacxin PRRS vô hoạt nhũ kép được chế từ chủng virus HUA 01 được thử nghiệm trên lợn rừng nuôi

Xác định được các chỉ tiêu lâm sàng của lợn rừng khi tiêm vacxin vô hoạt nhũ kép chủng PRRS HUA 01

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ HỘI CHỨNG RỐI LOẠN SINH SẢN

1987 Bệnh đã lây lan nhanh sang các nước như Canada năm 1988 và các nước Châu Âu cũng xuất hiện bệnh Ở Đức năm 1990, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Anh năm 1991 và năm 1992 ở Pháp (Nguyễn Bá Hiên và cs., 2011)

Năm 1998, bệnh được phát hiện ở châu Á như Hàn Quốc, Nhật Bản Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân nên có nhiều tên gọi: Bệnh bí hiểm

ở lợn (Mistery swine disease – MDs); bệnh tai xanh (Blue Ear disease – BED); hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (Porcine Endemic abortion and Respiratory syndrome – PEARS)…

Năm 1992, Hội nghị Quốc tế về hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn

hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory and reproductive syndrome - PRRS) và được Tổ chức Thú y thế giới công nhận

Từ năm 1992, bệnh đã gây ra các ổ dịch lớn ở nhiều nước khác thuộc Bắc

Mỹ, châu Âu và châu Á, gây tổn thất lớn về kinh tế cho nghề chăn nuôi lợn trên thế giới Ở Hoa Kỳ, người ta đã đánh giá thiệt hại kinh tế (trực tiếp và gián tiếp) của bệnh lợn tai xanh trong những năm gần đây là lớn nhất so với thiệt hại do các bệnh khác gây ra ở lợn

Tại Trung Quốc: theo báo cáo của đoàn chuyên gia quốc tế và chuyên gia của Trung Quốc bệnh tai xanh được phát hành vào tháng 12/2007, kể từ năm 2006, đàn lợn của Trung Quốc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi hội chứng sốt cao do nhiều nguyên nhân trong đó chủ yếu là virus PRRS và các loại mầm bệnh khác gồm virus Dịch tả lợn, PCV-2… Chủng virus đang lưu hành là chủng Bắc Mỹ, chúng được chia thành 2 dạng, gồm chủng cổ điển (gây thiệt hại ít) và chủng độc lực cao (gây thiệt hại nhiều) Trong vòng hơn 3 tháng của năm 2006, chủng virus PRRS độc lực

Trang 17

cao đã gây đại dịch ở hơn 10 tỉnh phía nam, làm hơn 2 triệu con lợn ốm trong đó hơn 400.000 lợn mắc bệnh đã chết Tính từ 1/1/2007 đến 22/8/2007, chính phủ Trung Quốc đã thống kê được 826 vụ bùng phát của dịch bệnh ở 26 tỉnh, với 257.000 lợn mắc bệnh, 68.000 lợn chết và 175.000 lợn bị tiêu hủy, ảnh hưởng nhiều nhất giữa 26 tỉnh này là dọc theo con sông Yangtze ở phía Nam Trung Quốc (Hebei, Shanghai, Jiangsu, Zhejiang, Anhui, Fujian, Jiangxi, Shandong, Henna, Hubei, Hunan, Guangdong, Guangxi, Hainan, Chongqing, Ningxia, Xinjiang, Tianjin, Liaoning, Gansu) Điều đáng chú ý là virus gây đại dịch PRRS vào năm 2006 ở Trung Quốc đã cho thấy những sự thay đổi, tăng độc tính hơn rất nhiều so với chủng PRRS cổ điển đã phân lập ở nhiều các quốc gia khác từ năm 1996 – 2006 Bên cạnh

đó một báo cáo khác cũng cho thấy tại nước này tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính với PRRS tại tỉnh Quảng Đông là trên 57%, đặc biệt là các trang trại chăn nuôi lớn,

có tỷ lệ dịch bệnh lưu hành cao hơn các trại chăn nuôi nhỏ lẻ

Tại Hồng Kông và Đài Loan: đã xác định được có cả 2 chủng virus dòng Bắc

Mỹ và dòng Châu Âu cùng lưu hành, đặc biệt trong cùng một con lơn ở Hồng Kông

đã xác định nhiễm cả hai chủng nêu trên

Tại Thái Lan: các nghiên cứu trước đó đã khẳng định PRRS lần đầu tiên xuất hiện tại nước này vào năm 1989 Nguồn gốc PRRS tại Thái Lan là do việc

sử dụng tinh lợn nhập nội đã bị nhiễm PRRS hoặc là do các đàn nhập nội mang trùng

Tại Lào, Cam-Pu-Chia và Myanmar: theo những báo cáo mới đây nhất của Lào, Cam-Pu-Chia thì trường hợp đầu tiên mắc PRRS độc lực cao đều vào năm

2010 nhưng với quy mô nhỏ Riêng Myanmar vẫn chưa tìm ra trường hợp dương tính nào, nhưng phải chịu các đợt dịch từ các nước láng giềng

Hiện nay, hội chứng này đã trở thành dịch địa phương ở nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước có ngành chăn nuôi lợn phát triển như Mỹ, Hà Lan, Anh, Đan Mạch, Pháp, Đức… đã gây ra nhiều tổn thất lớn về kinh tế cho người chăn nuôi lợn lên đến hành trăm triệu đôla Các nước trong khu vực có tỷ lệ PRRS lưu hành rất cao như: Trung Quốc 80%, Đài Loan 94,7 – 76,4%, Philippin 90%, Thái Lan 97%, Malaysia 94%, Hàn Quốc 67,4 – 73,1% Theo FAO xác định bệnh không lây truyền sang gia súc khác và con người

Trang 18

Hình 2.1 Bản đồ tình hình dịch bệnh PRRS độc lực cao ở châu Á

từ năm 2006 đến năm 2010 (2006: đỏ, 2007: hồng, 2009: xanh, 2010: xanh nhạt)

2.1.2 Tình hình nghiên cứu về Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn tại Việt Nam

Lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 1997, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh miền Nam Kết quả kiểm tra 51 con cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu có huyết thanh dương tính với PRRS.Toàn bộ số lợn này được xử lý trong thời gian ngay sau đó Những năm tiếp theo, các nghiên cứu

về bệnh trên những trại lợn giống tại các tỉnh phía nam cho thấy tỷ lệ lợn có huyết thanh dương tính bệnh rất khác nhau, từ 1,3% cho tới 68,29% (báo cáo của Cục Thú Y (Hoàng Văn Năm, 2001)

Như vậy có thể thấy PRRSV đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta trong một thời gian dài Tuy nhiên, kể từ khi xác định được lợn có kháng thể kháng PRRSV

ở đàn lợn giống nhập từ Mỹ, tại Việt Nam chưa từng có vụ dịch PRRS nào xảy

Trang 19

ra Sự bùng phát thành dịch gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi bắt đầu từ tháng 3 năm 2007 (Chu Thị Thơm và cs., 2008) Dịch xuất hiện từng đợt tại cả 3 miền Bắc, Trung và Nam, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, đặc biệt là ảnh hưởng đến phát triển đàn giống Trong các ổ dịch, ngoài PRRSV đã được xác định là nguyên nhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh khác như: Dịch tả lợn, PCV2, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn, Suyễn lợn…

Năm 2007: Xảy ra 2 đợt dịch nghiêm trọng

+ Đợt dịch đầu tiên: Bắt đầu từ ngày 12/3/2007 khi hàng loạt đàn lợn tại Hải Dương có những biểu hiện ốm khác thường Ngày 23/3/2007, lần đầu tiên Chi cục Thú y tỉnh đã báo cáo Cục Thú y về tình hình dịch, ngay sau đó ngày 26/3/2007, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương - Cục Thú y đã tiến hành lấy mẫu xét nghiệm và kết quả dương tính với PRRSV (Tô Long Thành, 2008) Do lần đầu tiên dịch PRRS xuất hiện tại Việt Nam và do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm, vì vậy dịch PRRS đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại 146 xã thuộc 25 huyện, thị xã của 7 tỉnh thành khác nhau thuộc Đồng bằng Sông Hồng gồm: Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Giang và Hải Phòng làm hàng ngàn con lợn mắc bệnh (Nguyễn Lương Hiền và cs) Tổng số con ốm và mắc bệnh ở đợt dịch này là 31.750 con, số con chết và đem xử lý là 7.296 con

+ Đợt dịch thứ 2: Diễn ra từ ngày 25/6 đến 11/12/2007

Ngày 25/6/2007, dịch lại xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam Mặc dù đã có những bài học từ các tỉnh phía Bắc, cũng như những cảnh báo, hướng dẫn phòng chống bệnh cụ thể của Cục Thú y, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhưng do không được phát hiện kịp thời, Chi cục Thú y địa phương không nắm chắc được tình hình dịch, việc quản lý vận chuyển lợn ốm không triệt để đã làm dịch lây lan trên diện rộng ra 178 xã của 40 huyện, thị xã thuộc 14 tỉnh, thành trong cả nước: Cà Mau, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu, Khánh Hòa, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình và Hải Dương với tổng số con ốm là 38.827 con, số con chết và tiêu hủy là 20.366 con

Tương tự như đợt dịch tại các tỉnh phía Bắc, PRRS tại miền Trung có tốc

độ lây lan nhanh do yếu kém trong công tác kiểm dịch vận chuyển; dịch xảy ra nhiều ở lợn nái và lợn con với tỷ lệ chết rất cao (khoảng 20 - 30% số lợn nhiễm bệnh) So với đợt dịch ở các tỉnh phía Bắc, lợn nhiễm bệnh tại các tỉnh miền

Trang 20

Trung có tỷ lệ chết cao, tốc độ lây lan nhanh hơn Đặc biệt là tỉnh Quảng Nam dịch lây lan nhanh hơn rất nhiều do phát hiện chậm, không kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển lợn ốm ra khỏi vùng dịch

Hình 2.2 Tình hình dịch bệnh PRRS ở Việt Nam năm 2007

Nguồn: Cục Thú y (2008)

Tóm lại, trong cả hai đợt dịch bệnh PRRS đã có mặt khắp cả 3 miền Bắc, Trung, Nam với 324 xã, phường của 65 huyện, quận thuộc 18 tỉnh, thành phố có dịch Số lợn mắc bệnh là 70.577 con (chiếm 0,26% tổng đàn, toàn quốc

có 26.560.651 con), số lợn chết và tiêu hủy là 20.366 (chiếm gần 0,08%) Tình hình dịch PRRS vẫn đang diễn biến phức tạp và không có chiều hướng lắng xuống

Theo báo cáo của cục Thú y (2/2009), năm 2008, bệnh tai xanh đã xảy ra tại

956 xã, phường thuộc 103 huyện thuộc 26 tỉnh và thành phố trong cả nước với tổng số gia súc mắc bệnh phải tiêu hủy là 309.586 con và được chia thành 2 đợt dịch chính:

+ Đợt 1: Từ tháng 1 đến hết tháng 4 năm 2008 Dịch xảy ra đầu tiên ở Bạc Liêu rồi đến 10 tỉnh, thành khác gồm: Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam, Nghệ

An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định làm tổng số con mắc bệnh là 271.654 con, số con chết và tiêu hủy là 270.608

Trang 21

con Trong đó tỉnh có dịch nặng nhất đợt I là Thanh Hóa với gần 200.000 lợn bị tiêu huỷ

+ Đợt 2: Từ tháng 5/2008 đến tháng 9/2008 dịch đã xuất hiện tại 11 tỉnh, thành: Bạc Liêu, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Quảng Nam, Nghệ An, Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Thái Bình, Thái Nguyên, Ninh Bình và Nam Định với tổng số lợn mắc bệnh là 37.932 con, số con chết và tiêu hủy là 30.298 con

Năm 2009:

Trong năm 2009, dịch PRRS đã xảy ra lẻ tẻ ở nhiều nơi Từ ngày 14/2/2009 tại tỉnh Quảng Ninh Sau đó dịch tiếp tục xảy ra tại các tỉnh Hưng Yên, Bạc Liêu, Gia Lai, Bắc Giang Đắc Lắc, Bà Rịa-Vũng Tàu và đặc biệt là tỉnh Quảng Nam dịch xảy ra trầm trọng và kéo dài Theo thống kê của Cục Thú Y, dịch PRRS đã xảy ra tại 14 tỉnh, thành phố trong cả nước Mặc dù tình hình dịch bệnh có giảm

so với năm 2008 nhưng dịch vẫn xảy ra làm 7030 con lợn bị mắc bệnh và phải tiêu hủy 5847 con, gây nhiều thiệt hại về kinh tế, làm ảnh hưởng tới nền chăn nuôi lợn do cấm vận chuyển, buôn bán ra vào vùng có dịch Tình hình dịch đợt này có giảm so với năm 2008 cả về phạm vi, quy mô dịch và số lượng gia súc phải tiêu huỷ (Cục Thú y, 2009)

Nguyên nhân giảm mức độ dịch: (1) chủ quan do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã chỉ đạo địa phương triển khai tốt công tác tiêm phòng, đặc biệt đối với các bệnh đỏ, tăng cường công tác giám sát dịch bệnh, phát hiện và báo cáo sớm về các ổ dịch, áp dụng có hiệu quả các biện pháp phòng chống; người dân cũng đã thấy rõ tính nguy hiểm của PRRS nên đã từng bước có những thay đổi về nhận thức trong chăn nuôi; (2) khách quan cho thấy PRRS đã xuất hiện ở hầu hết các địa phương trong cả nước, PRRSV đã lưu hành rộng rãi nhưng không gây ra các ổ dịch lớn do lợn mang trùng có thể có khả năng miễn dịch chống lại bệnh ở một mức độ nào đó Tuy nhiên, do mầm bệnh đã lưu hành ở nhiều nơi, chăn nuôi còn rất nhỏ lẻ, vệ sinh chăn nuôi chưa được chú trọng, tiêm phòng vacxin còn chưa đồng đều, tỷ lệ thấp, thời tiết thay đổi liên tục nên khả năng mầm bệnh lây lan và gây thành dịch là rất lớn

Năm 2010:

+ Đợt 1: Tại miền Bắc

Dịch PRRS xảy ra từ ngày 23/3/2010 tại tỉnh Hải Dương Tính đến hết tháng 6/2010, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch PRRS tai xanh tại 461 xã, phường, thị trấn

Trang 22

của 71 quận, huyện thuộc 16 tỉnh, thành phố Tổng số lợn mắc bệnh là 146.051 con, trong đó tiêu hủy là 65.911 con

+ Đợt 2: Dịch xảy ra tại miền Trung và miền Nam

Theo kết quả điều tra, đợt dịch bắt đầu từ ngày 01/6/2010 tại Sóc Trăng Sau

đó dịch xuất hiện tại Tiền Giang (19/6/2010), Bình Dương (27/6/2010), Long An (15/7/2010), Quảng Trị (01/7/2010), Lào Cai (ngày 11/7/2010)

Trong đợt dịch này, toàn quốc ghi nhận các ổ dịch lợn tai xanh tại 42.080

hộ chăn nuôi của 1.517 xã, phường, thị trấn thuộc 215 quận, huyện của 36 tỉnh, thành phố: Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đắk Lắc, Hậu Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, An Giang, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bến Tre, Kiên Giang, Kon Tum, Cà Mau, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Ninh Thuận, Phú Yên, Lào Cai, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh và Quảng Ninh

Tổng số lợn trong đàn mắc bệnh là 970.857con, số mắc bệnh là 717.830 con, trong đó số chết và tiêu hủy là 413.540 con

Năm 2011:

Dịch được bắt đầu ghi nhận nổ ra đầu tiên khi tỉnh Quảng Trị công bố dịch vào ngày 25/3/2011, sau đó Nghệ An công bố dịch vào ngày 16/4/2011 rồi đến các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, Hà Tĩnh, Bắc Ninh đồng loạt công bố dịch Tổng số lợn mắc bệnh là 14.704 con, số con chết và tiêu hủy là 13.831 con

Theo thống kê của Cục thú y riêng tỉnh Nghệ An có 11.858 con mắc bệnh chiếm tỷ lệ 80.64% so với cả nước Tổng số con chết và tiêu hủy là 11.816 con chiếm tỷ lệ 99.64% so với tổng số con mắc của tỉnh và chiếm tỷ lệ 85.43% tổng

số lợn tiêu hủy của cả nước tính đến cùng thời điểm Sáu tháng cuối năm không phát sinh thêm ổ dịch mới

Năm 2012:

Năm 2012, dịch tai xanh bắt đầu xảy ra từ 11/1 tại tỉnh Lào Cai, đến nay toàn quốc đã ghi nhận 14 tỉnh có dịch lợn tai xanh là Điện Biên, Yên Bái, Nam Định, Phú Thọ, Lào Cai, Lai Châu, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hòa Bình, Lạng Sơn, Bạc Liêu, Đồng Nai, Nghệ An, Bình Dương Cục Thú y cũng nhận định dịch tai xanh năm 2012 có diễn biến bất thường hơn so với năm 2011, tốc độ lây lan rất nhanh, số lượng heo mắc bệnh phải tiêu hủy cao gấp 2,5 lần so cùng kỳ năm

Trang 23

2011 Tính đến cuối năm 2012 còn 6 tỉnh: Đăk Lăk, Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hòa, Thái Bình và Long An có dịch tai xanh chưa qua 21 ngày với tổng

số lợn mắc bệnh gần 6000 con

Năm 2013: Từ đầu năm 2013 tình hình dich bệnh tai xanh diễn ra khá phức tạp, tỉ lệ lợn chết và tiêu hủy đã lên đến 6000 con, bùng phát mạnh thành dịch ở 6 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Bắc Ninh, Thái Bình

Năm 2014 đến đầu năm 2016: dịch bệnh tai xanh ở lợn đã được kiểm soát tốt

và không xảy ra dịch trên diện rộng trong phạm vị cả nước, tuy nhiên dịch vẫn xảy

ra lẻ tẻ tại một số trang trại, hộ chăn nuôi gây thiệt hại lớn cho chủ trang trại và người chăn nuôi

2.2 HIỂU BIẾT CƠ BẢN VỀ PRRS

2.2.1 Virus PRRS

Tác nhân gây bệnh được Collins và cộng sự xác định năm 1990 dựa trên kết quả gây bệnh đường hô hấp thực nghiệm đối với lợn bằng cách dùng bệnh phẩm của lợn bệnh ngoài thực địa đã qua lọc, gây nhiễm cho lợn thí nghiệm Năm

1991, Viện nghiên cứu Thú y Trung ương ở Lelystad (Hà Lan) đã phân lập được virut trên tế bào đại thực bào phế nang lợn Các tác giả đã đặt tên virut là virut Lelystad (Wensvoort, Terpstra và cs, 1991) Một năm sau các tác giả người Mỹ cũng phân lập được một virut và đặt tên là VR-2332

Kết quả nghiên cứu sau này của tác giả Benfield (1992); Dea (1992); Cavanagh (1997) cho thấy PRRSV có quan hệ gần gũi về mặt sinh học, cấu trúc

và di truyền với virut gây viêm động mạch truyền nhiễm ở ngựa - EAV (Equine arteritis virus), LDHV (virut gây cô đặc sữa ở chuột - Lactate dehydrogenase elevating virus) và SHFV (virut sốt xuất huyết khỉ - Simian hemorrhagic fever virus) Dựa vào đặc điểm đó người ta xếp 4 virut này vào một nhóm mới với danh mục phân loại như sau: giống Arterivirus, họ Arterviridae, bộ Nidovirales Phân tích cấu trúc gen của PRRSV cho thấy bộ gen của virut biến động trong khoảng 15 - 15,5 kb và gồm ít nhất 8 khung đọc mở (ORFs) có chức năng mã hoá cho khoảng 20 protein ở trạng thái thành thục PRRSV với các nguồn gốc địa

lý khác nhau được phân loại thành 2 kiểu: châu Âu (typ I, EU-type) và kiểu Bắc

Mỹ (typ II, NA-type) Protein không cấu trúc số 2 (Nsp2) và glycoprotein 5 (mã hoá bởi ORF5), được coi là 2 vùng đóng vai trò quyết định tính gây bệnh của các chủng PRRSV

Trang 24

Ngoài sự khác biệt giữa các typ phân lập, người ta đã chứng minh rằng có sự biến dị di truyền mạnh trong cả 2 type phân lập được khẳng định qua phân tích trình

tự nuclotide và amino acid của các khung đọc mở (ORFs) của LV và VR-2332 Trình tự amino acid của VR - 2332 so với LV là 76% (ORF 2) và 72% (ORF 3), 80% (ORF 4 và 5), 91% (ORF 6) và 74% (ORF 7), phân tích trình tự cho thấy các virut đang tiến hoá đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen (Murtaugh et al., 1995; Nelsen et al., 1999; Meng et al., 1995; Kapur et al., 1996 )

Những nghiên cứu gần đây ở Trung Quốc cho thấy PRRSV tồn tại dưới hai dạng: cổ điển độc lực thấp và biến thể độc lực cao gây nhiễm và chết nhiều lợn Tại Việt Nam, Trung tâm Chẩn đoán Thú y TW - Cục Thú y đã tiến hành các nghiên cứu độc lập và hợp tác, phối hợp với Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) và Bộ Nông nghiệp Trung Quốc để xác chẩn và nghiên cứu độc lực của PRRSV Các virut phân lập từ các ổ dịch lợn mắc PRRS có mức độ tương đồng cao so với PRRSV chủng độc lực cao của Trung Quốc, lợn ốm với triệu chứng sốt cao; virut, vi khuẩn kế phát hoặc đồng nhiễm đóng vai trò quan trọng làm cho tỷ lệ lợn chết không nhỏ ngoài thực địa

Bảng 2.1 Một số vi khuẩn kế phát thường gặp trong cơ thể lợn mắc PRRS

1 Mycoplasma hyopneumoniae Suyễn

2 Actinobacilus pleuropneumoniae APP (Viêm phổi màng phổi)

3 Pasteurella multocida Tụ huyết trùng

4 Haemophilus parasuis Viêm đường hô hấp

5 Bordetella bronchiseptica Viêm teo mũi

6 Streptococcus suis Liên cầu khuẩn

7 Salmonella spp Phó thương hàn

8 E coli E Coli

9 Clostridium spp Viêm ruột hoại tử

Virut có đặc điểm là rất thích hợp với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Virut nhân lên ngay bên trong đại thực bào, sau đó phá huỷ và giết chết đại thực bào (tới 40%) Đại thực bào bị giết chết nên sức đề kháng của lợn mắc bệnh

bị suy giảm nghiêm trọng, do vậy lợn bị bệnh thường dễ dàng bị nhiễm khuẩn thứ phát Điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo hoặc chuẩn bị giết thịt nhiễm PRRSV có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do vi khuẩn có sẵn trong

Trang 25

đường hô hấp của lợn như: liên cầu khuẩn (Streptococcus suis), tụ cầu khuẩn (Staphylococcus aureus), suyễn (Mycoplasma hyopneumoniae), vi khuẩn tụ huyết trùng (Pasteurella multocida, Pasteurella haemolytica)

Khi dịch xảy ra, lúc đầu người ta cho rằng 1 số virus như: Parvo virus, virus giả dại (Pseudorabies), virus cúm lợn (Procine entero virus), đặc biệt là virus gây viêm cơ tim (Encephalomyo carditis) gây nên Tuy nhiên, mọi sự nhầm lẫn xung quanh vấn đề bệnh nguyên học của PRRS đã được giải quyết vào tháng

6 năm 1991, Wensvoort và cộng sự ở viện thú y Trung ương Hà Lan đã phân lập được 1 virus trước đây chưa từng được công nhận từ những con bệnh mắc PRRS

ở thành phố nơi đặt Viện Thú Y Họ đặt tên virus mới là “Lelystad” Virus được phân lập ở 16 trong 20 lợn con bị bệnh, 41 trong 63 lợn nái bị bệnh, phát hiện thấy 75% trong số 165 lợn nái mắc bệnh có huyết thanh dương tính, có biểu hiện triệu chứng lâm sàng, ngoài ra còn phát hiện trong bào thai của lợn nái đang có chửa và ở lợn đang phát triển (Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2007); Đàm Văn Phải (2008))

Năm 1992 tại Mỹ các nhà khoa học cũng phân lập được 1 loại virus gây bệnh PRRS và đặt tên là virus VR2332 (Benfield et al., 1992)

Nguyên nhân gây hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản của lợn là một virus thuộc họ Arteriviridae, giống Arterivirus, lớp Nidovirales

Hình thái và cấu trúc của virus PRRS

Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn dương, virus được xếp vào bộ Nidovirales, họ Arteriviridae, chi Arterivirus (Collins JE, 1992) Virus có cấu trúc gần giống với virus gây viêm khớp ở Ngựa (EAV), Lactic dehydrogennase virus của chuột (LDHV) và virus gây xuất huyết trên khỉ (SHFV) (Rossow KD et al., 1998)

Quan sát virus dưới kính hiển vi điện tử thấy virus có dạng hình cầu, có vỏ bọc, trên bề mặt có nhiều gai nhô ra, kích thước 45nm – 80nm và chứa nhân nucleocapxit kích thước 25nm – 35nm (William T.Christianson, 2000)

Trang 26

Hình 2.3 Hình thái virus PRRS

Nguồn:

http://www.pigprogress.net/Home/General/2008/3/Modified-PRRS-virus-cause-of-outbreak-in-China-PP001408W/

Đây là ARN virus với

bộ gen là một phân tử ARN

sợi đơn dương Sợi ARN

này có kích thước khoảng

Tuy nhiên trong cấu trúc của virus PRRS, có 6 phân tử protein chính

có khả năng trung hoà kháng thể bao gồm 4 phân tử glycoprotein, 1 phân tử protein màng (M) và 1 protein vỏ nhân virus (N) Nhưng hoạt động trung hoà xảy ra mạnh với các protein có khối lượng phân tử 45, 31 và 25 KD (bảng 2.1)

Trang 27

Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRSV

KL phân tử Gen mã hoá Vai trò

GP 3 45 kDa ORF 3 Quan trọng trong miễn dịch

Phân loại Virus PRRS

Virus PRRS có hai chủng nguyên mẫu (prototype), chủng Châu Âu (Virus LeLysad-LV) và chủng Bắc Mỹ (VR-2332) Ngoài sự khác biệt giữa các lần phân lập người ta đã chứng minh được có sự biến dị di truyền mạnh trong cả hai typ phân lập, được khẳng định qua phân tích trình tự nucleotide và axit amin của các khung đọc mở (ORFs) của LV và VR-2332 Trình tự axit amin của VR-2332 so với LV là 76% (ORF2), 72% (ORF3), 80% (ORF4&5), 91% (ORF6) và 74% (ORF7) Phân tích trình tự cho thấy các virus đang tiến hóa do đột biến ngẫu nhiên và tái tổ hợp trong gen Các chủng virus này gây bệnh trên động vật cảm thụ với bệnh cảnh giống nhau

Khả năng gây bệnh và sức đề kháng của virus PRRS

* Khả năng gây bệnh:

PRRSV chỉ gây bệnh cho lợn Lợn tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh, đây có thể coi là nguồn dịch bệnh thiên nhiên

Về mặt độc lực người ta thấy PRRS tồn tại dưới 2 dạng:

+ Dạng cổ điển: Có độc lực thấp, ở dạng này khi mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1-5% trong tổng đàn

+ Dạng biến thể độc lực cao: Gây nhiễm và chết nhiều lợn

Thông thường virus chỉ gây bệnh cho lợn, không gây bệnh cho người và động vật khác Tuy nhiên, một số loài thủy cầm chân màng, vịt trời đã được chứng minh là rất mẫn cảm với virus PRRS, và virus có thể nhân lên ở loài vịt

Trang 28

này, do đó vấn đề phát tán virus ra diện rộng là khó tránh khỏi (Zimmerman et al., 1997)

1 tuần ở 40C Giảm 90% hiệu quả

1 tháng ở 40C Vẫn phát hiện được virus

Virus trong huyết thanh

72h ở 250C Vẫn phát hiện được virus

72h ở 40C hoặc – 200 C Vẫn phát hiện được virus

Các chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit dễ dàng tiêu diệt virus Ánh sáng mặt trời và tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng

Đặc tính nuôi cấy virus PRRS

PRRSV có thể nhân lên trên hai môi trường tế bào là đại thực bào phế nang (PAM - Pulmnary alveolar macrophage) và tế bào dòng của thận khỉ Châu Phi (MA - Monkey kidney cell)

PAM là môi trường tốt nhất cho phân lập virus vì nó có độ nhạy cao nhất, virus có thể nhân lên với số lượng lớn và có thể nuôi cấy tất cả các chủng virus PRRS trên thế giới Nhưng nhược điểm của nó là phải chuẩn bị môi trường từ những con lợn khỏe mạnh và PAM không phải là tế bào dòng nên sự nhân lên của tế bào là có giới hạn do đó không thể lưu giữ virus trong thời gian lâu dài (Kim et al., 1993)

Với môi trường là các tế bào dòng như: MA-104, Marc-145, CL-2621 hiện đang được sử dụng nhiều hơn và khắc phục được nhược điểm của tế bào PAM MA-104 chỉ có thể phân lập được các chủng virus của Bắc Mỹ CL-2621

Trang 29

có thể phân lập virus PRRS chủng châu Âu nhưng hiệu quả phân lập của chúng thấp hơn so với PAM (Elida và cs, 1993) Marc-145 có thể phân lập được 11 dòng virus của cả 2 chủng châu Âu và Bắc Mỹ hơn nữa thời gian và mức độ gây bệnh tích tế bào, số lượng virus thu được sau khi phân lập đều đảm bảo yêu cầu nên dòng tế bào này đang được ứng dụng nhiều cho chẩn đoán và nghiên cứu (Kim et al., 1993)

2.3 Đặc điểm bệnh lý của PRRS

2.3.1 Loài vật mắc bệnh, lứa tuổi mắc bệnh

PRRSV chỉ gây bệnh cho loài lợn Lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Loài lợn rừng cũng mắc bệnh

Một số loài thủy cầm chân màng, vịt trời (mallard duck) đã được chứng minh

là cũng mẫn cảm với PRRSV, và virus có thể nhân lên ở loài vịt này, do đó vấn đề phát tán virus ra diện rộng là khó trách khỏi (Zimmerman et al., 1997)

2.3.2 Chất chứa mầm bệnh và quá trình truyền lây

* Chất chứa mầm bệnh:

Virus có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn mắc bệnh hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường, tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh

* Phương thức truyền lây:

Bệnh có thể lây trực tiếp thông qua sự tiếp xúc giữa lợn mắc bệnh, lợn mang trùng với lợn khoẻ và có thể lây gián tiếp qua các nhân tố trung gian bị ô nhiễm virus như phân, thức ăn, nước uống, dụng cụ chăn nuôi

Bệnh lây chủ yếu qua đường hô hấp, qua thụ tinh nhân tạo, tiếp xúc trực tiếp

Thông thường trong đàn lợn đang nuôi ở vùng đã từng có dịch PRRS đi qua tồn tại những cá thể lợn mang trùng là điều đương nhiên Song, không phải lúc nào mầm bệnh đó cũng phát tán và lây lan thành dịch Thực tế cho thấy ở các nước, các vùng khác nhau, PRRS xẩy ra theo chu kỳ khác nhau, mùa vụ khác nhau và mức độ khác nhau Bởi vì virus muốn lây lan được cần phải có những điều kiện nhất định như: Môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm, khí hậu không thuận lợi, vận chuyển lợn ốm bừa bãi, kiểm dịch thiếu chặt chẽ Khi nghiên cứu 150 đàn lợn bị bệnh ở Đức thấy có 95% hoặc là đã mua giống dưới 4 tuần sau ổ dịch, hoặc

Trang 30

là cách đàn bị bệnh trong vòng 5 km Qua nhiều nghiên cứu, người ta kết luận rằng còn có những tác nhân sau đây có ý nghĩa trong việc lây lan virus PRRS:

Hình 2.5 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào

Nguồn:

http://voer.edu.vn/m/hoi-chung-roi-loan-sinh-san-va-ho-hap-o-lon-prrs/a463745b)

Các nhà khoa học đã phân lập virus từ phổi, gan, lách, huyết thanh hoặc dịch cơ thể lợn con ốm và chết, nhưng không phân lập được virus từ thai chết khô Tuy nhiên khi kiểm tra dịch xoang ngực và sữa đầu đã phát hiện ra kháng thể đặc hiệu chống virus PRRS Dấu hiệu này chứng tỏ rằng bệnh truyền qua nhau thai là phổ biến trong giai đoạn giữa và cuối thai kỳ Mặt khác do rối loạn

hô hấp cho nên cơ thể lợn bệnh luôn trong trạng thái thiếu ôxy, gây ra rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng rồi chết thai Lợn chửa ở kỳ cuối là lúc bào thai phát triển mạnh nhất, cũng là lúc nhu cầu ôxy tăng cao hơn do đó sự

Trang 31

thiếu hụt ôxy càng trầm trọng dẫn đến sẩy thai hoặc chết thai Trong thực tế các

vụ dịch, lợn nái chửa kỳ cuối thường chết với tỷ lệ khá cao, khi mổ khám thấy hầu hết các bào thai đã hoại tử rất nặng, đây chính là nguyên nhân gây chết cho lợn mẹ

Nguyễn Hữu Nam và Nguyễn Thị Lan (2007) trong nghiên cứu về PRRS cho rằng, phổi chắc đặc chính là nguyên nhân gây khó thở dẫn đến thiếu oxy tại máu và các mô bào Do suy giảm sự trao đổi khí tại phổi làm máu của gia súc bệnh có màu sẫm, màu này có thể nhìn được từ bên ngoài tại các vùng da mỏng, các vùng da có nhiều mạch quản như vùng tai, bẹn, bụng Vì vậy mà có triệu chứng tai xanh

Chính do cơ chế tác động là tấn công vào hệ thống miễn dịch, gây suy giảm miễn dịch đã mở cửa cho các loại vi sinh vật gây bệnh khác xâm nhập và gây bệnh

Tác nhân chủ yếu liên quan đến nhiễm trùng kế phát là vi khuẩn: Haemophilus parasuis, Streptococcus suis, Salmonella cholerasuis, Pasteurella multocida và Actinobacillus, Pneuropneumoniae

2.3.4 Triệu chứng và bệnh tích

2.3.4.1 Triệu chứng của bệnh PRRS

Biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh phụ thuộc vào nhiều yếu tố: chủng virus, tuổi, giới tính, điều kiện môi trường và sự kế phát của một số vi sinh vật khác

 Ở lợn nái

Trong tháng đầu tiên khi bị nhiễm bệnh lợn biếng ăn, sốt 40-410C, một số con tai chuyển màu tím trong thời gian ngắn, tím đuôi, tím âm hộ, sảy thai ở giai đoạn đầu

 Lợn đực giống

Khi bị nhiễm bệnh lợn thường bỏ ăn, sốt cao, đờ đẫn hoặc hôn mê, một

số con có hiện tượng tai chuyển thành màu tím Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, giảm hưng phấn hoặc mất tính dục, lượng tinh dịch ít, chất lượng tinh kém Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản

 Lợn con theo mẹ

Thể trạng gầy yếu, lợn nhanh chóng rơi vào tình trạng tụt đường huyết do không bú được, mắt có dử màu nâu, sưng mí mắt và các màng quanh mắt, trên da

Trang 32

xuất hiện những đám phồng rộp, tiêu chảy, chân choãi ra, đi run rẩy, lợn con rất

dễ mắc các bệnh kế phát và tỷ lệ tử vong cao

 Lợn con cai sữa và lợn choai

Lợn sốt cao, bỏ ăn, lông xơ xác, có biểu hiện ho nhẹ Đối với lợn con cai sữa có triệu chứng táo bón, mẩn đỏ da, chảy nước mũi, tím tái

2.3.4.2 Bệnh tích của bệnh PRRS

 Lợn nái chửa

Trường hợp đẻ non thì thấy có nhiều thai đã chết, trên cơ thể chúng có nhiều đám thối rữa (thai chết lưu) Trường hợp đẻ muộn thì số thai chết lưu ít hơn nhiều so với đẻ non song số lợn con sinh ra rất yếu, nhiều con chết trong lúc

đẻ do thời gian đẻ kéo dài

Mổ khám thấy bệnh tích tập trung ở phổi, phổi bị phù nề, viêm hoại tử và tích nước, cắt miếng phổi bỏ vào bát nước thấy phổi chìm

 Lợn nái nuôi con, lợn choai và lợn vỗ béo

Bệnh tích tập trung ở phổi Các ổ viêm thường gặp ở thuỳ đỉnh, song cũng thấy ở các thuỳ khác nhưng hầu như không xuất hiện đối xứng Tim, gan, lách có màu thẫm hơn so với bình thường, bệnh tích không đặc trưng tuỳ thuộc vào sự kế phát các bệnh khác

Những lợn bị táo bón thì ruột chứa nhiều phân cục rắn chắc, niêm mạc ruột bị viêm nhưng ở những lợn bị tiêu chảy thì thành ruột mỏng trên bề mặt có phủ một lớp nhầy màu nâu

Trang 33

+ Triệu chứng đường sinh sản: Trong giai đoạn đầu của dịch PRRS, có thể thấy có hiện tượng sảy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai và đẻ non có các thai yếu, thai chết lưu, đồng thời có thai gỗ, lợn con yếu, chết trước khi cai sữa

+ Triệu chứng đường hô hấp: Viêm phổi ở lợn con và lợn vỗ béo

Ta có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp sau:

Sảy thai muộn > 20%

Chết khi sinh > 5%

Chết trước lúc cai sữa > 25%

Tuy nhiên, do tính đa dạng của bệnh nên việc chẩn đoán rất khó, dễ nhầm với một số bệnh khác (bệnh phổi, bệnh sinh sản khác) Ngoài ra việc phân lập virus cũng rất khó

* Chẩn đoán huyết thanh học

- IPMA (Immussnoperoxidase monolayer assay): Phương pháp miễn dịch

có gắn enzym trên thảm tế bào một lớp Phân lập virus trên một số loại tế bào như tế bào đại thực bào phế nang lợn (PAM), tế bào MA-104, tế bào Marc-145,

tế bào CL-2621 và tế bào CRL-11171

- Phản ứng kháng thể huỳnh quang gián tiếp (IFA)

- Phản ứng trung hòa huyết thanh (SN − Serum Neutralization)

- Phản ứng ELISA (Enzyme Linked Immuno sorbent Assay): Phát hiện kháng thể 3 tuần sau khi tiếp xúc với PRRSV

Trang 34

loại vacxin phù hợp, nhập lợn từ cơ sở chăn nuôi sạch bệnh, lợn mới mua thì nuôi cách ly 3 − 4 tuần lễ, kiểm dịch chặt chẽ

Khi có dịch thì phải công bố dịch Cơ sở chăn nuôi phải thống kê số lợn ốm, lợn chết, báo cáo cho chính quyền và thú y địa phương để xử lý theo hướng dẫn phòng chống bệnh tai xanh của Cục thú y

- Phòng bệnh bằng vacxin PRRS

* Trị bệnh

Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, điều trị chủ yếu theo hướng nâng cao sức đề kháng cho vật nuôi, chữa các triệu chứng lâm sàng và tập trung vào điều trị các bệnh kế phát Vì thế nên khi phát hiện bệnh người ta có thể diệt ngay, tiêu độc cơ sở có lợn bệnh, hạn chế lây lan trong đàn lợn

2.4 VACXIN VÀ VACXIN PHÒNG PRRS

2.4.1 Khái niệm về vacxin

Vacxin là một chế phẩm sinh học được dùng để tạo miễn dịch chủ động kháng lại bệnh, nhằm ngăn cản khả năng gây bệnh của mầm bệnh

2.4.2 Đặc tính cơ bản của vacxin

Vacxin phải đảm bảo 4 đặc tính cơ bản:

Tính sinh miễn dịch hay tính mẫn cảm: Là khả năng gây ra đáp ứng miễn dịch dịch thể hoặc miễn dịch tế bào hay cả hai

- Tính kháng nguyên hay tính sinh kháng nguyên: Là khả năng kích thích

.Vì vậy, kháng nguyên được hiểu là chất khi đưa vào cơ thể sẽ kích thích

cơ thể sản sinh kháng thể và tế bào mẫn cảm đặc hiệu chống lại sự xâm nhập và

Ngày đăng: 26/03/2021, 09:30

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm