HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BÙNG PHÁT HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN PRRS TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI CÁC NÔNG HỘ, TRANG TRẠI HUY
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN TRỌNG CƯỜNG
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ GÂY BÙNG PHÁT HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) TRÊN ĐÀN LỢN NUÔI TẠI CÁC NÔNG HỘ, TRANG TRẠI HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA VÀ ĐẶC TÍNH SINH HỌC PHÂN TỬ CỦA CHỦNG VIRUS PRRS: KTY-PRRS-06
Chuyên ngành: Thú y
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Đình Thâu
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Cường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực cố gắng hết mình của bản thân, tôi luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy giáo, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp Nhân dịp này, trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ cuả các giảng viên khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập tại Học viện
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS Trịnh Đình Thâu - Trưởng khoa Thú y đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Lãnh đạo và cán bộ, nhân viên các Phòng, Trạm trực thuộc Chi cục thú y tỉnh Thanh Hóa và các bạn đồng nghiệp đã giúp
đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Tôi xin cảm ơn tới người thân trong đã luôn giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trọng Cường
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vi
Trích yếu luận văn viii
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) ở lợn 3
2.1.1 Tên bệnh, hình thái, cấu tạo, phân loại virus PRRS 3
2.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh 7
2.1.3 Cơ chế gây bệnh của virus 8
2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích 9
2.1.5 Dịch tễ học 12
2.1.6 Chẩn đoán 14
2.1.7 Phòng và điều trị bệnh 16
2.2 Yếu tố nguy cơ 18
2.2.1 Khái niệm 18
2.2.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ 18
2.2.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu 19
2.3 Tình hình dịch bệnh PRRS 19
2.3.1 Trên thế giới 19
2.3.2 Tại Việt Nam 20
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Nội dung nghiên cứu 24
3.2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24
3.2.1 Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của dịch PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013 24
Trang 53.2.2 Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử của virus KTY-PRRS-06
phân lập được tại huyện Đông Sơn năm 2013 24
3.2.3 Xác định yếu tố nguy cơ làm bùng phát hội chứng PRRS trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2013 31
3.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
Phần 4 Kết quả và thảo luận 34
4.1 Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của hội chứng PRRS tại huyện đông sơn năm 2013 34
4.1.1 Tình hình chăn nuôi và hội chứng PRRS ở lợn tại Đông Sơn năm 2013 34
4.1.2 Đặc điểm dịch tễ của hội chứng PRRS tại Đông Sơn năm 2013 37
4.2 Đặc tính sinh học và sinh học phân tử của virus KTY-PRRS-06 được phân lập tại đông sơn năm 2013 48
4.2.1 Đặc tính sinh học của virus KTY-PRRS-06 48
4.2.2 Đặc tính sinh học phân tử của virus KTY-PRRS-06 51
4.3 Yếu tố nguy cơ làm bùng phát hội chứng PRRS trên địa bàn huyện Đông Sơn năm 2013 57
4.3.1 Đường giao thông chính 57
4.3.2 Hộ chăn nuôi gần chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống 58
4.3.3 Không tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác 58
4.3.4 Con giống không rõ nguồn gốc 59
4.3.5 Không sử dụng thuốc sát trùng vệ sinh tiêu độc định kỳ 60
4.3.6 Sử dụng nước giếng để chăn nuôi lợn 61
4.3.7 Bán chạy lợn khi đang có dịch 63
4.3.8 Yếu tố con người 63
4.4 Một số giải pháp phòng, chống dịch PRRS thực tế của Đông Sơn 65
4.4.1 Các giải pháp hành chính 65
4.4.2 Các giải pháp chuyên môn 66
4.4.3 Các biện pháp kỹ thuật 66
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 68
5.1 Kết luận 68
5.2 Kiến nghị 69
Tài liệu tham khảo 70
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
ADN Axit Deoxyribo nucleic
ARN Axit ribonucleic
BHI Môi trường canh thang não tim Brain heart infusion
CI Confident interval
DMEM Dubecco's Modifiled Eagle Medium
DMSO Dimethyl sunfoxide
HLB Hạch lâm ba
OD Optical Density
OR Odd Ratio
P P-value
PCR Polymerase Chain Reaction
PRRS Porcine reproductive and respiratory syndrome
RT-PCR Reverse transcription Polymerase Chain Reaction
TAE Tris-acetate EDTA
TBE Tris-borateEDTA
TCID Tissue Culture Infective Dosage, 50 % (Liều gây
nhiễm 50 % tế bào)
TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND Ủy ban nhân dân
VSTĐ Vệ sinh tiêu độc
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRS 5
Bảng 2.2 Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS khi so sánh với chủng Bắc Mỹ VR2332 6
Bảng 2.3 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh 7
Bảng 2.4 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn con mắc PRRS 10
Bảng 2.5 Biến đổi đại thể của lợn con cai sữa mắc PRRS 11
Bảng 2.6 Bệnh tích vi thể của lợn con cai sữa mắc PRRS 11
Bảng 2.7 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp trong ca nhiễm PRRS 16
Bảng 4.1 Tình hình chăn nuôi lợn của huyện Đông Sơn năm 2013 34
Bảng 4.2 Tình hình dịch bệnh PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013 35
Bảng 4.3 Số lợn/hộ chăn nuôi tại các xã có lợn mắc PRRS năm 2013 36
Bảng 4.4 Tình hình dịch PRRS tại các xã có lợn mắc bệnh 43
Bảng 4.5 Tình hình lợn mắc hội chứng PRRS ở Đông Sơn năm 2013 45
Bảng 4.6 Tình hình bệnh PRRS theo các loại lợn tại Đông Sơn năm 2013 46
Bảng 4.7 Bệnh tích tế bào theo thời gian gây nhiễm virus KTY-PRRS-06 48
Bảng 4.8 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc hộ chăn nuôi gần đường
giao thông chính 57
Bảng 4.9 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc hộ chăn nuôi gần chợ buôn bán
gia súc, gia cầm sống 58
Bảng 4.10 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc không tiêm phòng các bệnh
truyền nhiễm nguy hiểm khác 59
Bảng 4.11 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc sử dụng con giống không rõ
nguồn gốc 60
Bảng 4.12 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc không sử dụng thuốc sát trùng để VSTĐ định kỳ 61
Bảng 4.13 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc sử dụng nước giếng để chăn nuôi 62 Bảng 4.14 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ việc bán chạy lợn khi đang có dịch 63
Bảng 4.15 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ từ con người 64
Bảng 4.16 Kết quả phân tích một số yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng PRRS
tại Đông Sơn năm 2013 65
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Cấu trúc hạt của PRRS virus 4
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen của PRRS virus 4
Hình 2.3 Bộ gen của virus PRRS 5
Hình 2.4 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào 8
Hình 4.1 Tình hình dịch PRRS theo thời gian tại huyện Đông Sơn năm 2013 38
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện số xã có lợn mắc hội chứng PRRS theo thời gian
tại huyện Đông Sơn năm 2013 40
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện số hộ có lợn mắc hội chứng PRRS theo thời gian tại
huyện Đông Sơn năm 2013 41
Hình 4.4 Bản đồ phân bố dịch PRRS tại Đông Sơn năm 2013 42
Hình 4.5 Tỷ lệ (%) hộ có lợn mắc hội chứng PRRS ở Đông Sơn năm 2013 44
Hình 4.6 Tỷ lệ (%) lợn mắc hội chứng PRRS ở Đông Sơn năm 2013 46
Hình 4.7 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ mắc hội chứng PRRS trên các loại lợn tại
Đông Sơn năm 2013 47
Hình 4.8 Bệnh tích tế bào theo thời gian khi gây nhiễm bởi virus
KTY – PRRS-06 49
Hình 4.9 Quy luật nhân lên của virus KTY – PRRS-06 51
Hình 4.10 Kết quả phản ứng RT – PCR 51
Hình 4.11 So sánh trình tự nucleotide từ đoạn gen ORF5 của chủng KTY – PRRS-06, ATCC VR-2332, và chủng vắc xin JXA1 53
Hình 4.12 So sánh trình tự amino acid mã hóa từ đoạn gen ORF5 của chủng
KTY – PRRS-06, ATCC VR-2332, và chủng vắc xin JXA1 54
Hình 4.13 Cây sinh học phân tử của các chủng virus PRRS 56
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Trọng Cường
Tên luận văn: “Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng rối
loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại các nông hộ, trang trại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa và đặc tính sinh học phân tử của chủng virus PRRS: KTY-PRRS-06”
Ngành: Thú y Mã số: 60 64 01 01 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu: Xác định yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng PRRS
và đặc tính sinh học, sinh học phân tử của chủng virus KTY-PRRS-06 phân lập được
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
a/ Đề tài gồm 3 nội dung chính
- Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của hội chứng PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013
- Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử chủng virus KTY-PRRS-06 của
phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp
Việt Nam phân lập
- Xác định các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến quá trình phát sinh và lây lan dịch PRRS trên địa bàn huyện Đông Sơn năm 2013
b/ Phương pháp nghiên cứu
Vật liệu:
- Toàn bộ lợn mắc hội chứng PRRS tại Đông Sơn năm 2013
- Chủng virus KTY-PRRS-06 phân lập được
Phương pháp nghiên cứu:
Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của hội chứng PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013
Dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra trực tiếp tại các hộ chăn nuôi; Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin
Xử lý bằng phầm mềm Microsoft Excel 2007 các số liệu trên để nắm được tình hình chăn nuôi lợn và tình hình dịch PRRS ở lợn tại Đông Sơn năm 2013
Trang 10Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử của chủng virus PRRS-06
KTY-Phương pháp gây nhiễm tế bào và thu dịch tế bào, xác định hiệu giá virus gây bệnh tích tế bào
Thực hiện phản ứng RT-PCR nhân đoạn gene ORF5 với mẫu ARN thu nhận ở trên cùng với cặp mồi đặc hiệu, bộ kit One step RT-PCR kit (invitrogen) trên máy PCR (PTC – 100)
Xác định yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng PRRS trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2013
Điều tra 70 hộ chăn nuôi có lợn mắc và 80 hộ chăn nuôi không có lợn mắc hội chứng PRRS Thu thập các dữ liệu, số liệu qua các phiếu điều tra trực tiếp dựa trên các yếu tố đánh giá, phỏng vấn sâu của cán bộ kỹ thuật với người chăn nuôi về các thông tin bao gồm:
- Đường giao thông chính
- Gần chợ buôn bán giết mổ động vật và sản phẩm động vật
- Không tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm
- Nguồn gốc con giống không rõ ràng
- Không sử dụng thuốc sát trùng để vệ sinh tiêu độc định kỳ
- Sử dụng nước giếng để chăn nuôi lợn
- Bán chạy lợn
- Yếu tố con người
Xử lý bằng phầm mềm Microsoft Excel 2007 và Epicalc 2000 để xác định yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan dịch bệnh PRRS theo phương pháp nghiên cứu bệnh –
chứng hay hồi cứu (case-control studies)
KẾT QUẢ CHÍNH VÀ KẾT LUẬN
Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của hội chứng PRRS tại Đông Sơn năm 2013
Tổng đàn lợn của huyện Đông Sơn đạt 83000 con, trong đó lợn nái 2247 con, lợn
đực 36 con và lợn thịt, lợn con theo mẹ 80717 con
Dịch PRRS tại Đông Sơn kéo dài 44 ngày (từ ngày 28/2 đến ngày 12/4) trên địa bàn 07 xã (Đông Minh, Đông Hoàng, Đông Hòa, Đông Khê, Đông Thịnh, Đông Ninh
và Đông Yên) làm 1070 lợn mắc PRRS chiếm 1,29% tổng số lợn của toàn huyện, số lợn chết và xử lý 265 con chiếm 24,77% Ngày 02/5/2013, UBND huyện Đông Sơn có quyết định công bố hết dịch PRRS ở lợn trên địa bàn toàn huyện
Trang 11Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử của chủng virus PRRS-06 phân lập đƣợc
KTY-Sau gây nhiễm 96 giờ bởi virus KTY-PRRS-06 toàn bộ tế bào bị bong tróc khỏi
bề mặt nuôi cấy Hiệu giá virus KTY-PRRS-06 là 1,26x106 TCID50/ml
Trình tự nucleotide trong đoạn gene ORF5 của chủng KTY-PRRS-06 có kích thước 603bp mã hóa cho 200 amino acid Mức độ tương đồng về nucleotide và amino acid của chủng KTY-PRRS-06 và chủng virus vắc xin JXA1 của Trung Quốc là rất cao (99,5% đến 100%)
Chủng virus KTY-PRRS-06 có cùng nguồn gốc phát sinh với chủng JXA1 của Trung Quốc
Xác định đƣợc 07 yếu tố nguy cơ làm bùng phát hội chứng PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013
Xác định được 07 yếu tố nguy cơ gây bùng phát dịch PRRS tại Đông Sơn năm
2013 Sự ảnh hưởng của mỗi yếu tố là khác nhau theo mức độ tăng dần: Từ yếu tố con người (2,14 lần); Hộ chăn nuôi gần đường giao thông chính (2,22 lần); Hộ chăn nuôi gần khu vực chợ buôn bán gia súc, gia cầm sống (2,51 lần); Hộ chăn nuôi sử dụng con giống không rõ nguồn gốc (2,85 lần); Hộ chăn nuôi lợn không tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác (2,88 lần); Không sử dụng thuốc sát trùng để vệ sinh tiêu độc định kỳ (3,14 lần); Bán chạy lợn trong thời gian có dịch (4,19 lần)
Trang 12THESIS ABSTRACT
Student’s Name: Nguyen Trong Cuong
Thesis Title: "Study of factors causing outbreaks of PRRS syndrome in pigs
at the farms in Dong Son district, Thanh Hoa province and molecular biology characteristics of PRRS: KTY-PRRS-06 virus strain"
Major Field: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture
Purpose of the study: Identify factors causing outbreaks of PRRS syndrome and identify biological and molecular biology characteristics of isolated PRRS KTY-PRRS-
06 virus
METHODS OF STUDY
a / The thesis includes 3 main contents:
- The situation of animal husbandry and epidemiological characteristics of PRRS syndrome in Dong Son district in 2013
- Determining the biological and molecular biology characteristics of PRRS-06 virus
KTY Determining the risk factors affecting the generation and spread of PRRS syndrome in Dong Son district in 2013
Processing the data by Microsoft Excel 2007 software to understand the situation
of the pig raising and PRRS syndrome in pigs in Dong Son district in 2013
Determining the biological and molecular biology characteristics., of PRRS-06 virus
Trang 13KTY-Materials:
KTY-PRRS-06 virus
Method:
Method of infecting cells and collecting cell sap:
Method of determining the concentration of virus TCID50/ml
Performing RT-PCR technique
Performing RT-PCR reaction by multiplying ORF5 gene section with ARN form obtained above with specific primers and One Step RT-PCR kit (Invitrogen) on PCR machine (PTC - 100)
Determining the risk factors affecting the generation and spread of PRRS syndrome in Dong Son district in 2013
- Main traffic roads
- Near the places of trading, slaughtering animals and animal products
- Do not vaccinate for dangerous infectious diseases
- The origin of the breeding livestock is unclear
- Do not use antiseptic to regularly disinfect
- Use water in wells to raise pigs
- Selling out pigs
- Human factors
Processing data by Microsoft Excel 2007 software to know the number of households having pigs getting PRRS syndrome and households without infected pigs Using Epicalc 2000 software to identify whether risk factors is related or not related
to the occurrence and spread of PRRS syndrome according to case-control studies
Trang 14MAIN FINDINGS AND CONCLUSIONS
The situation of animal husbandry and epidemiological characteristics of PRRS syndrome in Dong Son district in 2013
The total number of pigs of Dong Son district is 83000, including 2247 sows, 36 boars and 80717 barrows, piglets
The outbreak PRRS in Dong Son district lasted 44 days (from February 28th to April 12th) in 07 communes (Dong Ninh, Dong Hoang, Dong Hoa, Dong Khe, Dong Thinh, Dong Minh and Dong Yen), making 1070 sick pigs due to PRRS disease, accounting for 1,29% the total number of pigs in the whole district, 265 dead and processed pigs, accounting for 24,77% In May 2nd 2013, Dong Son District People's Committee announced the end of PRRS syndrome in pigs in the whole district
Determining the biological and molecular biology characteristics of KTY-PRRS-06 virus
The typical symtom after infection by KTY-PRRS-06 virus in 96 hours is that the cells are completely sloughed out of the culture surface The number of KTY-PRRS-06 virus was 1,26x106 TCID50/ml
Nucleotide sequence of ORF5 gene segments of KTY-PRRS-06 virus was determined at the size of 603bp encoding for 200 amino acids The degree of similarity
of nucleotide and amino acid of isolated KTY-PRRS-06 virus and JXA1 virus vaccine strain in China is very high (99,5% to 100%)
KTY-PRRS-06 virus has the same origin with JXA1-R strain in China
Identifying 07 risk factors affecting the generation and spread of PRRS syndrome in Dong Son district in 2013
After the process of investigation, 07 risk factors were identified to affect the generation and spread of PRRS syndrome in Dong Son in 2013 The influence is varied
by ascending level: Human Factors (2,14 times); Farmer households are near main traffic roads (2,22 times); Households are near the places of trading and slaughtering cattles and poultry (2,51 times); Farmers use breeding livestock of unknown origin (2,85 times); Households do not vaccinate other dangerous infectious diseases (2,88 times); Do not use antiseptic to regularly disinfect (3,14 times); Selling out pigs during disease outbreak (4,19 times)
Trang 15
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) trên lợn đã và đang là mối lo ngại hàng đầu của các trang trại chăn nuôi Cho đến nay PRRS trở thành dịch bệnh lưu hành ở nhiều nước trên thế giới, và là một trong những bệnh gây tổn thất nặng
nề về kinh tế cho ngành chăn nuôi ở nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn hay còn gọi là bệnh Tai xanh -
là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và làm chết nhiều lợn nhiễm bệnh Nguyên nhân gây bệnh do virus PRRS (PRRS, Porcine reproductive and
respiratory syndrome) gây ra, đây là một loại virus thuộc họ Arteriviridae, thuộc giống Nidovirales (Benfield D et al., 1997) (Chang C et al., 1993) Virus PRRS
(PRRS) là loại virus có vỏ bọc bên ngoài, có cấu trúc hệ gen là ARN sợi đơn dương, có tính thích ứng nhân lên rất cao với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở phổi Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá hủy tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức đề kháng của lợn bệnh; tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn thứ phát gây bệnh viên phổi
như bệnh Dịch tả lợn, suyễn lợn, liên cầu khuẩn, Tụ huyết trùng (Pasteurella
multocida)… phát sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày càng trầm trọng hơn,
lợn bệnh chết chủ yếu do các vi khuẩn kế phát (Bierk M et al, 2001) Tại thực
địa, sự đa dạng cả về đặc tính di truyền và đặc tính kháng nguyên của các chủng virus PRRS là nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng vắc xin không hiệu quả và đôi khi xảy ra những ổ dịch PRRS lớn
Năm 2013, trên toàn tỉnh Thanh Hóa dịch bệnh Tai xanh ở lợn xảy ra trên địa bàn của 126 thôn trong 20 xã của 8 huyện: Triệu Sơn, Thiệu Hóa, Đông Sơn, Yên Định, Nông Cống, Quảng Xương, Như Thanh và Hậu Lộc, làm tổng
số lợn mắc bệnh PRRS là 4322 con; Số lợn tử vong và bị tiêu huỷ là 2689 con, chiếm 62,22 % số lợn ốm Trong 8 huyện có lợn mắc bệnh, Đông Sơn là huyện
có số lợn mắc PRRS cao nhất tỉnh (Báo cáo tổng kết, Chi Cục thú Y Thanh Hóa năm 2013)
Đông Sơn là huyện đồng bằng, nằm trong lưu vực sông Mã Tuyến quốc
lộ 45 và 47 chạy qua giúp cho mạng lưới giao thông thuận lợi, việc vận chuyển
và buôn bán được lưu thông Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi trang trại chiếm số ít,
Trang 16hầu hết là chăn nuôi nông hộ mang tính tự cung tự cấp, con giống không rõ nguồn gốc…, không đảm bảo an toàn sinh học trong công tác chăn nuôi thú y
đã dẫn đến những khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh Đây cũng chính là các yếu tố gây bất lợi, làm dịch bệnh phát sinh và lây lan mạnh, đặc biệt là dịch PRRS Do vậy, việc giám sát tình hình dịch PRRS và đánh giá các yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch tại huyện Đông Sơn có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng chống dịch bệnh không chỉ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng mà còn có ý nghĩa đối với ngành chăn nuôi và công tác thú y của nước ta nói chung
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (PRRS) trên đàn lợn nuôi tại các nông hộ, trang trại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa và đặc tính sinh học phân tử của chủng virus PRRS KTY-PRRS 06 phân lập đƣợc.”
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Xác định các yếu tố nguy cơ gây bùng phát hội chứng PRRS tại huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2013
Xác định đặc tính sinh học phân tử chủng virus KTY-PRRS 06 phân lập
được của phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học khoa Thú y, Học
viện Nông nghiệp Việt Nam
1.3 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể cùng những luận chứng về tình hình mắc hội chứng PRRS và các yếu tố nguy cơ gây bệnh trên địa bàn huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa năm 2013 Từ kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể được
sử dụng để định hướng cho các nghiên cứu sau này và giúp cho việc xây dựng các chương trình khống chế dịch PRRS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Trang 17PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 HỘI CHỨNG RỐI LOẠN HÔ HẤP VÀ SINH SẢN (PRRS) Ở LỢN 2.1.1 Tên bệnh, hình thái, cấu tạo, phân loại virus PRRS
Tên bệnh
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Porcine respiratory
reproductive syndrome - PRRS) còn gọi là " bệnh Tai xanh", là một bệnh truyền
nhiễm nguy hiểm đối với lợn, gây ra do virus Bệnh lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp nặng như: Sốt, ho, thở khó,bỏ ăn và ở lợn nái
là các rối loạn sinh sản như: sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết yểu
Bệnh được ghi nhận lần đầu tiên ở Mỹ, tại vùng Bắc của bang California, bang Iowa và bang Minnesota vào khoảng năm 1987 Thời gian đầu do chưa xác định được nguyên nhân và chưa có những hiểu biết rõ ràng về bệnh nên các triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đã được sử dụng để đặt tên cho bệnh với những tên gọi khác nhau như sau:
Hội chứng hô hấp và vô sinh của lợn (SIRS)
Bệnh bí hiểm ở lợn (MDS) như ở châu Mỹ
Hội chứng hô hấp và sảy thai ở lợn (PEARS)
Hội chứng hô hấp và sinh sản ở lợn (PRRS)
Bệnh tai xanh như ở châu Âu
Năm 1992, tại Hội nghị Quốc tế về Hội chứng này được tổ chức tại Minesota (Mỹ), Tổ chức Thú y thế giới (OIE) đã thống nhất tên gọi là Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (tiếng Anh: Porcine respiratory and reproductive syndrome = PRRS)
Hình thái và cấu tạo
* Cấu trúc hạt: virus Tai xanh là một virus có hình cầu, đường kính 50
-70nm, phân tử virus có bề mặt ngoài trơn với chỉ một vài điểm lồi ra, cách biệt với vỏ bọc một khoảng 2-3nm bên trong phân tử virion là một vòng trống với đường kính trung bình khoảng 39nm Phân tử virion PRRS bao gồm một vỏ bọc lipid có chứa vài envelope protein, protein GP2, GP5, E và M bao quanh vòng nucleocapsid của PRRSV Protein 4 N bao bọc RNA genome của virus Protein
Trang 18vỏ chiếm nhiểu nhất là protein nhân hay là Protein N, protein màng GP5 và M, còn GP2, GP4, E và GP3 là thành phần phụ
http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-prrsv-structure.asp
Hình 2.1 Cấu trúc hạt của PRRS virus
Hạt virus bao gồm 1 protein (N-nucleocapsid) có khối lượng phân tử 1.200bp, 1 protein màng không có đường glucose hình cầu M với khối lượng phân tử 16.000bp, 2 protein peplomer N – glycosylate là GS có khối lượng phân
tử 25.000bp và GL có khối lượng phân tử 42.000
* Cấu trúc genome của PRRS:
Toàn bộ trình tự bộ gene của PRRS đã được giải mã thành công và được ghi nhận vào năm 1993, genome của virus dài khoảng 15kb và gồm tám khung đọc mở ORF ORF 1a và 1b nằm ở đầu 5’ của genome, chiếm hơn hai phần ba bộ gene và mã hóa cho RNA polymerase của virus được xem là protein chịu trách nhiệm trong quá trình nhân lên của virus Sáu ORF nhỏ hơn là ORF 2-7, nằm ở phía sau của ORF 1b, ở đầu 3’ của genome, mã hóa cho các protein cấu trúc liên quan đến việc hình thành virion
http://www.porcilis-prrs.com/microbiology-prrsv-structure.asp
Hình 2.2 Cấu trúc bộ gen của PRRS virus
Trang 19Sản phẩm của các ORF 5,6,7 bao gồm các protein chính của virus Cho đến nay người ta đã xác định được 3 protein cấu trúc chính của PRRS đó là: Protein nhân (N-nucleocapsid) trọng lượng phân tử khoảng 15 kDa quy định bởi ORF7, protein màng (M-membrane) trọng lượng khoảng 19 kDa quy định bởi ORF6 và protein vỏ glycoprotein (E-envelope, GP5) trọng lượng khoảng 24-25 kDa quy định bởi ORF5 Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng ORF 2,3 và 4 của Lelystad virus(LV), chủng Châu Âu của PRRS virus có lẽ mã hóa cho 3 membrane-associated glycoprotein khác là: 29-30 kD GP2, 45-50 kD GP3, 31-35kD GP4(Van Nieuwstadt et al., 1996)
Bảng 2.1 Protein cấu trúc của PRRS
GP 3 45 KD ORF 3 Quan trọng trong miễn dịch
GP 4 31 KD ORF 4
GP 2 29 KD ORF 2
GP 5 25 KD ORF 5 Bám dính tế bào đa dạng nhất
M 19 KD ORF 6 Có tính bảo tồn cao nhất
N 19 KD ORF 7 Tính kháng nguyên cao
(www.porcilis-prrs.com/pathogenesis-prrs.asp)
Hình 2.3 Bộ gen của virus PRRS
Trang 20Những nghiên cứu của Benfield và cộng sự (1992) cho thấy các chủng virus thuộc dòng Châu Âu tương tự nhau về cấu trúc kháng nguyên nhưng chúng có những sai khác nhất định so với chủng virus của Châu Mỹ Tương tự, dòng virus Châu Mỹ cũng có sự tương đồng nhau về cấu trúc kháng nguyên
Trong các tế bào bị nhiễm virus PRRS, virus sinh ra 6 ARNm Tất cả 6 ARNm có trình tự sắp xếp chung ở đầu 5' của hệ gen ARN và tất cả chúng đều
có đuôi 3' polyA Muelenberg kết luận rằng dựa trên chuỗi nucleotide, tổ chức hệ gen, cũng như cách nhân lên của virus thì có thể xếp chúng vào nhóm virus động
mạch (Arterivirus) mới (Meulenberg et al , 1993)
Phân loại virus PRRS:
Virus PRRS là một virus ARN chuỗi đơn, có màng bọc, thuộc giống
Arterivirus, họ Arteriviridae, bộ Nidovirales (Cavanaugh, D., 1997) Hiện nay có
2 kiểu gen PRRS chính được công nhận là:
Kiểu gen 1 (nhóm 1): các nhóm virus thuộc dòng Châu Âu với tên gọi phổ
thông là virus Lelystad (Meulenberg J.J et al , 1993)
Kiểu gen 2 (nhóm 2): các nhóm virus thuộc dòng Bắc Mỹ mà tiêu biểu cho
chủng này là chủng virus VR-2332 (Nelsen et al , 1999)
Khi so sánh về di truyền đã thấy sự khác nhau rõ rệt (khoảng 40%) giữa 2 kiểu gen này Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy có sự khác biệt về tính di truyền trong các virus phân lập được từ các vùng địa lý khác nhau Bản thân các virus trong cùng một nhóm cũng có sự thay đổi về nucleotide khá cao (đến 20%), đặc biệt là các chủng virus thuộc dòng Bắc Mỹ
Bảng 2.2 Sự tương đồng về nucleotide của các chủng PRRS khi so sánh với
Trang 212.1.2 Sức đề kháng và khả năng gây bệnh
Sức đề kháng:
Mặc dù virus PRRS có vỏ bọc nhưng sự sống sót của chúng bên ngoài vật chủ vẫn chịu tác động của nhiệt độ, pH và sự tiếp xúc với các chất tẩy uế Do đó, với các hoá chất sát trùng thông thường và môi trường có pH axit, virus dễ dàng
bị tiêu diệt; ánh sáng mặt trời, tia tử ngoại vô hoạt virus nhanh chóng
Virus PRRS có thể tồn tại 1 năm trong nhiệt độ lạnh từ -20ᴼC đến -70ᴼC; trong điều kiện 4ᴼC, virus có thể sống 1 tháng; với nhiệt độ cao, cũng như các vi rút khác, virus đề kháng kém: ở 37ᴼC chịu được 48 giờ, 56ᴼC bị giết sau 1 giờ)
Bảng 2.3 Sức đề kháng của virus với điều kiện ngoại cảnh
Virus trong bệnh phẩm:
- 700C đến -200
1 tuần ở 40C Giảm 90% hiệu giá
1 tháng ở 40C Vẫn phát hiện được virus
6 ngày ở 20-210C Đề kháng tốt
24 giờ ở 370C Đề kháng tốt
20 phút ở 560C Đề kháng tốt
pH = 6,5 -7,5 Đề kháng tốt pH<6,5 hoặc pH>7,5 Đề kháng kém
Virus trong huyết thanh:
72 giờ ở 250C Vẫn phát hiện được virus
72 giờ ở 40C hoặc – 200C
Khả năng gây bệnh:
Virus chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả Lợn rừng cũng mắc bệnh
Về mặt độc lực, người ta thấy virus tồn tại dưới 2 dạng:
- Dạng cổ điển: có độc lực thấp, ở dạng này khi lợn mắc bệnh thì có tỷ lệ chết thấp, chỉ từ 1 - 5% trong tổng đàn
- Dạng biến thể độc lực cao: gây nhiễm và chết nhiều lợn (Tô Long Thành
và Nguyễn Văn Long, 2008)
Trang 222.1.3 Cơ chế gây bệnh của virus
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, đích tấn công của virus là các đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào ở phế nang, phế quản (hình dưới đây) Đây là tế bào duy nhất có receptor phù hợp với cấu trúc hạt virus, vì thế virus hấp thụ và thực hiện quá trình nhân lên chỉ trong tế bào này và phá huỷ nó Một tỷ lệ lớn tế bào đại thực bào trong nang phổi bị virus xâm nhiễm rất sớm
(www.porcilis-prrs.com/pathogenesis-prrs.asp)
Hình 2.4 Virus PRRS xâm nhập và phá hủy tế bào đại thực bào
Lúc đầu, virus có thể kích thích các tế bào này, nhưng sau 2 hoặc 3 ngày virus sẽ giết chết chúng, các virion được giải phóng và ồ ạt xâm nhiễm sang các
tế bào khác Ở giai đoạn đầu của quá trình xâm nhiễm của virus, dường như hiệu giá kháng thể kháng lại các loại virus và vi khuẩn khác không liên quan trong cơ thể của lợn tăng cao do sự kích hoạt của đại thực bào trong hệ thống miễn dịch Điều này rất dễ gây ra sự nhầm lẫn trong việc đánh giá mức độ miễn dịch đối với các bệnh truyền nhiễm ở cơ thể lợn
Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy
ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát, điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm virus Tai xanh sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi kế phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp
Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao
vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào
Trang 23kỳ cuối Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác
2.1.4 Triệu chứng, bệnh tích
Triệu chứng lâm sàng:
Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc PRRS cho thấy, lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn
Lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai
gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs., 2007)
Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi
Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện
tượng tai xanh Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007) lượng tinh ít, chất lượng kém Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản (Nguyễn Như Thanh, 2007)
Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ Số con sống
sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai
sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa A et al., 2006) Lợn
có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc bệnh PRRS có biểu hiện: tai, mõm tím, rối loạn hô hấp, tiêu chảy phân màu nâu đỏ hoặc xám Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm
vi khuẩn kế phát
Quan sát lợn con cai sữa trong độ tuổi từ 3 - 6 tuần nghi mắc PRRS ở một
số gia trại tại Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh cho thấy lợn con cai sữa mắc PRRS có các triệu chứng lâm sàng chủ yếu là sốt, chán ăn, bỏ ăn, tím tai, khó thở, tiêu chảy, táo bón trong đó hiện tượng sốt, chán ăn, bỏ ăn có mức độ nặng ở tất cả các lợn theo dõi, đây là các dấu hiệu bệnh lý thường gặp trong các bệnh truyền nhiễm và không có tính đặc trưng (Bảng 1.4) Hiện tượng tím tai, thở khó,
Trang 24tiêu chảy, táo bón có biểu hiện ở mức độ từ trung bình đến nặng, đây có thể được coi là những dấu hiệu đầu tiên cho phép chúng ta nghĩ đến lợn mắc PRRS Các biểu hiện khác như chảy nước mũi, mí mắt sưng, phát ban, xuất hiện rải rác ở các lợn khác nhau và có mức độ nhẹ đến trung bình Đặc điểm điển hình về các triệu chứng lâm sàng của lợn sau cai sữa và lợn choai nghi mắc PRRS được tác giả Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Thị Hoa năm 2012 miêu tả rõ và được trình bày cụ thể dưới bảng 2.4:
Bảng 2.4 Triệu chứng lâm sàng chủ yếu của lợn con mắc PRRS
STT
Kí
hiệu
Triệu chứng lâm sàng Sốt
Chán
ăn, Bỏ
ăn
Phát ban
Mí mắt sưng
Chảy nước mũi
Khó thở
Tím
Tiêu chảy
Táo bón
Bệnh tích đặc trưng nhất là ở phổi Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi Thùy bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh
Một số bệnh tích khác có thể thấy như: thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc sung
huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết;
loét van hồi manh tràng (Nguyễn Như Thanh., 2001)
Trang 25Bảng 2.5 Biến đổi đại thể của lợn con cai sữa mắc PRRS
Xuất huyết điểm
Loét ở niêm mạc ruột già
Lách nhồi huyết, gan hơi sưng
L2 Viêm màu đỏ xám,
có điểm hoại tử
Sưng to, thâm tím Tụ máu
Xuất huyết trên bề mặt niêm mạc
Xoang bao tim tích nước, não xuất huyết
đỏ mọng
Xuất huyết điểm lan tràn
Thành ruột mỏng, niêm mạc bong tróc
Lách nhồi huyết, cơ tim nhão
L4
Phổi căng phồng, rìa
tù nhiều ổ viêm rải
rác trên bề mặt, xuất
huyết phổi
Thủy thũng, sưng to
Xuất huyết điểm
Xuất huyết Cơ tim nhão
L5 Viêm màu đỏ xám,
mặt cắt khô hơi lồi Sưng to
Không
có bệnh tích
Niêm mạc thủy thũng,
có vết loét
Không có bệnh tích
Bệnh tích vi thể của lợn con cai sữa mắc PRRS cũng được tác giả Nguyễn Thị Lan và Nguyễn Thị Hoa (2012) nghiên cứu và được trình bày cụ thể qua (bảng 2.6):
Bảng 2.6 Bệnh tích vi thể của lợn con cai sữa mắc PRRS
Xuất huyết
Viêm cầu thận
Thâm nhiễm tế bào viêm
Nhồi huyết
Trang 262.1.5 Dịch tễ học
Hội chứng PRRS có những đặc điểm dịch tễ không như những bệnh dịch khác ở gia súc Bệnh được ghi nhận là có tốc độ lây lan rất nhanh, mạnh (bão dịch) trên phạm vi rộng, nhiều địa phương trong cùng 1 thời điểm Thiệt hại do bệnh có thể tới từ 10-20% tổng đàn lợn của địa phương có bệnh
Loài vật mắc
Lợn ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus Các cơ sở chăn nuôi công nghiệp với quy mô lớn, bệnh thường lây lan rộng, tồn tại lâu dài trong đàn lợn nái, rất khó thanh toán
Lợn nái thường truyền mầm bệnh cho bào thai, gây sảy thai, thai chết lưu
và lợn chết yểu với tỷ lệ cao
Lợn rừng ở các lứa tuổi đều có thể cảm nhiễm virus, có thể phát bệnh, nhưng thường không có triệu chứng lâm sàng và trở thành nguồn tàng trữ mầm bệnh trong tự nhiên
Cho đến nay, kết quả nghiên cứu ở một số nước châu Âu đều cho thấy virus không cảm nhiễm và gây bệnh cho các loại thú khác và người Các loài thủy cầm chân màng, vịt trời lại mẫn cảm với virus, virus PRRS có thể nhân lên
ở các loài động vật này và chính đây là nguồn reo rắc mầm bệnh trên diện rộng khó khống chế
Động vật môi giới mang và truyền virus
Trong tự nhiên, lợn đực và lợn nái mang virus, đây là nguồn tàng trữ và truyền bá mầm bệnh cho lợn nhà Lợn rừng bị nhiễm virus không có biểu hiện lâm sàng cũng đóng vai trò làm lây truyền virus cho lợn nhà và ngược lại, lợn nhà cũng truyền mầm bệnh cho lợn rừng
Trong thực nghiệm, người ta cũng truyền được virus trực tiếp cho một số loài chuột và từ chuột nhiễm mầm bệnh sang chuột khoẻ (virus tai xanh dòng Châu Âu)
Chất chứa mầm bệnh
Khi đã nhiễm virus, lợn có thể thải virus trong dịch họng, nước bọt, nước tiểu, phân đến ít nhất 28 ngày sau khi nhiễm virus; virus có rất ít trong phân và chúng cũng bị bất hoạt nhanh chóng khi ở trong phân Lợn đực có thể thải virus trong tinh dịch đến 43 ngày Tinh dịch lợn có chứa virus cũng có thể lây nhiễm sang bào thai và lợn nái khi phối giống
Trang 27Lợn nái nhiễm virus có thể truyền sang cho bào thai từ giai đoạn giữa trở đi
và cũng thải qua nước bọt và sữa
Trong cơ thể lợn nhiễm virus:
+ Từ 2 - 4 ngày sau khi nhiễm đã có thể phân lập được virus ở phổi, hạch lympho, hạch amidan, tuyến Thymus, lách và máu Lượng virus nhiều nhất ở hạch amidan và phổi ở 14 ngày sau khi nhiễm, ở hạch lympho sau 3 ngày
+ Ở hạch amydan, hạch lympho và tuyến Thymus vẫn có thể phân lập được virus sau 21 ngày, ở phổi là sau 35 ngày
+ Virus thường cư trú ở phế nang, vùng trung tâm hạch lympho và lách Ở những con nái có chửa virus có thể qua được nhau thai, tuy nhiên khả năng qua nhau thai của virus này hiện còn nhiều tranh cãi Virus cũng có thể xâm nhập vào thận, não, gan, khí quản, tủy xương và đám rối màng treo ruột
Virus có thể xâm nhập vào đại thực bào vùng phổi, hạch amidan, hạch lympho, lách nhưng không xâm nhập được vào các đại thực bào ở gan, thận, tim
và các tế bào tiền thân của đại thực bào như bạch cầu đơn nhân trung tính, tế bào tủy xương Tế bào đích chủ yếu của virus là đại thực bào phế nang, tại đây virus nhân lên một cách mạnh mẽ nhất, tuy nhiên chỉ có 2% đại thực bào phế nang bị virus xâm nhập
Đường truyền lây
Truyền lây trực tiếp: các đường lây truyền trực tiếp của virus PRRS trong
và giữa các quần thể lợn bao gồm các lợn nhiễm bệnh và tinh dịch bị nhiễm virus Virus được phát hiện từ nhiều loại chất tiết và các chất thải từ lợn bao gồm máu, tinh dịch, nước bọt, dịch họng, phân, nước tiểu, hơi thở ra, sữa và sữa đầu
(Swenson S et al., 1994; Wills R et al., 1997b; Nelsen C.J et al., 1999)
Truyền lây gián tiếp:
+ Các dụng cụ, thiết bị: một số đường truyền lây gián tiếp qua các dụng cụ,
thiết bị đã được xác định trong những năm gần đây Ủng và quần áo bảo hộ đã được chứng minh là những nguồn lây nhiễm tiềm năng cho lợn mẫn cảm
+ Các phương tiện vận chuyển: các phương tiện vận chuyển là một đường
chính làm lây lan PRRSV
+ Côn trùng: các loài côn trùng (muỗi - Aedes vexans và ruồi nhà - Musca
domestica) được theo dõi thường xuyên trong phương tiện, thiết bị dùng cho lợn
Trang 28trong suốt các tháng mùa hè và đã cho thấy có lan truyền virus bằng cơ học từ lợn nhiễm bệnh sang lợn mẫn cảm trong điều kiện thực nghiệm
+ Lây lan qua không khí: các dữ liệu trước đây thu thập từ các ổ dịch diễn
ra ở Anh cho thấy virus có thể lan truyền theo các tiểu phần lơ lửng trong không khí xa tới 3 km Hay một vụ dịch nổ ra tại Tây Âu gần như ngay lập tức sau khi ổ dịch đầu tiên xảy ra tại Đức Nguyên nhân của vụ dịch này được giải thích là do virus có khả năng truyền qua không khí, theo gió tới vùng Tây Âu và gây bệnh cho những lợn trong các trang trại ở khu vực này cũng chứng minh rằng virus có thể truyền qua không khí với khoảng cách lên tới 3 km
Điều kiện lây lan
Ở các cơ sở có lưu hành bệnh, môi trường bị ô nhiễm, bệnh lây lan quanh năm nhưng tập trung vào thời kỳ có nhiều lợn nái phối giống và bệnh phát sinh thành dịch, với tỷ lệ cao, lợn nái có hội chứng rối loạn sinh sản, trong khi lợn con
bị viêm đường hô hấp phổ biến
Bệnh có thể lây từ nước này sang nước khác qua việc xuất lợn có mang mầm bệnh mà không được kiểm dịch chặt chẽ Một số nước đang phát triển nhập lợn giống có phẩm chất và năng suất cao từ các nước Bắc Mỹ và Tây Âu, do không thực hiện tốt công tác kiểm dịch nên đã mang bệnh vào nước mình Thực
tế cho thấy, trong khoảng gần hai thập kỷ qua, bệnh PRRS đã thâm nhập và trở thành dịch địa phương ở nhiều nơi trên thế giới Chỉ có Australia, New Zealand, Phần Lan, Na Uy, Thụy Điển và Thụy Sỹ tuyên bố là sạch bệnh
2.1.6 Chẩn đoán
PRRS mới xuất hiện ở Việt Nam từ vài năm trở lại đây nhưng đã gây ra những thiệt hại vô cùng to lớn cho ngành chăn nuôi lợn nói chung và khó khăn trong việc chẩn đoán phát hiện dịch bệnh PRRS nói riêng Lợn mắc PRRS thường kế phát cùng nhiều bệnh nguy hiểm khác từ vi khuẩn cũng như virus gây bệnh khác làm cho công tác chẩn đoán gặp nhiều khó khăn Thế kỷ XXI là thế kỷ của công nghệ sinh học cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kỹ thuật sinh học phân tử đã mở ra những triển vọng nghiên cứu vô cùng to lớn Áp dụng kỹ thuật sinh học phân tử đặc biệt là kỹ thuật RT- PCR cho phép chẩn đoán nhanh, chính xác các bệnh do virus gây ra một cách đặc hiệu trong đó có hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản đồng thời góp phần xây dựng chiến lược kiểm soát dịch bệnh trên
Trang 29đàn lợn ở Việt Nam Nghiên cứu này đã cho thấy các kết quả nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật RT-PCR để chẩn đoán PRRS ở lợn con cai sữa
Chẩn đoán lâm sàng:
Chẩn đoán lâm sàng dựa vào 2 nhóm triệu chứng:
+ Triệu chứng đường sinh sản: trong giai đoạn đầu của dịch, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở thời kỳ đầu, đẻ non, đẻ ra thai yếu, thai chết lưu đồng thời thai gỗ, lợn con yếu, chết trước khi cai sữa
+ Triệu chứng đường hô hấp: viêm phổi ở lợn con và lợn thịt Có thể dùng phương pháp chẩn đoán lâm sàng nghi vấn để chẩn đoán xác định bệnh trong các trường hợp như: sảy thai muộn > 20%; chết khi sinh > 5%; chết trước lúc cai sữa
> 25% Tuy nhiên, do tính đa dạng của các loại bệnh ở lợn nên việc chẩn đoán dựa vào lâm sàng thường rất khó, dễ nhầm lẫn (về các bệnh phổi, bệnh sinh sản khác) Ngoài ra việc phân lập virus PRRS cũng rất khó
Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:
Để đảm bảo độ chính xác cần phải lấy mẫu bệnh phẩm (máu lợn bệnh còn sống hoặc các tổ chức bệnh phẩm: phổi, hạch của lợn chết) để làm các xét nghiệm chẩn đoán trong phòng thí nghiệm
Kỹ thuật chẩn đoán trong phòng thí nghiệm đối với virus PRRS thường dựa vào 3 tiêu chí: Virus, kháng nguyên của virus, kháng thể đặc hiệu
+ Dựa vào phương pháp miễn dịch đánh dấu bằng enzym (ELISA) hoặc phương pháp gián tiếp huỳnh quang kháng thể (IFAT) theo quy trình của OIE để phát hiện kháng thể
+ Phương pháp PCR để phát hiện virus hoặc phương pháp phân lập virus gây bệnh trên các môi trường phôi gà hoặc các môi trường tế bào đặc biệt
Các phương pháp này cho độ chính xác cao (từ 92-95%) trong chẩn đoán xác định Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn (Bùi Quang Anh và cs., 2008)
Các vi khuẩn kế phát
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, vius PRRS thường tấn công phá huỷ và giết chết đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào vùng phổi Kết quả làm suy giảm hệ thống phòng vệ tự nhiên của cơ thể Hệ thống phòng vệ của cơ thể bị suy giảm là điều kiện lý tưởng cho các mầm bệnh khác kế phát
Trang 30Bảng 2.4 Một số mầm bệnh kế phát thường gặp trong ca nhiễm PRRS
1 Mycoplasma hyopneumoniae Suyễn
2 Actinobacilus pleuropneumoniae APP
3 Pasteurella multocida Tụ huyết trùng
4 Haemophilus parasuis Viêm đường hô hấp
5 Bordetella bronchiseptica Viêm teo mũi
6 Streptococcus suis Liên cầu khuẩn
7 Salmonella spp Phó thương hàn
9 Clostridium spp Viêm ruột hoại tử
10 Classical Swine Fever Dịch tả lợn
2.1.7 Phòng và điều trị bệnh
Phòng bệnh
Tiêm tất cả các loại vaccine bắt buộc hoặc theo khuyến cáo để phòng bệnh cho lợn theo đúng lịch trình là phương pháp tốt nhất để hạn chế lợn bị bệnh Đảm bảo lợn khỏe mạnh được nuôi dưỡng tốt, ăn uống đầy đủ, chuồng, trại hợp vệ sinh, không bị stress, sẽ chống lại tốt hơn với các mầm bệnh mà chúng mắc phải
Định kỳ tiêu độc môi trường, khử trùng chuồng trại chăn nuôi, dụng cụ quần áo bảo hộ…
Đảm bảo chế độ cách ly sinh học, tránh để lợn tiếp xúc trực tiếp với mầm bệnh
Nuôi với mật độ vừa phải để lợn nằm xuống được và xoay xở mà không đông quá mức Hệ thống thông gió tốt cũng giúp làm giảm nguy cơ ô nhiễm, tồn
dư mầm bệnh, nhất là ở nơi nóng ẩm Máng ăn và nước uống phải đặt ở vị trí cao vừa phải Không nên nuôi lợn nhiều lứa tuổi cùng với nhau mà phải phân đàn theo lứa tuổi phù hợp
Phát hiện lợn mắc bệnh, cần cách ly ngay rồi tiến hành tiêu độc, khử trùng chuồng trại, máng ăn, máng uống Xử lý dứt điểm lợn mang bệnh, để không còn
cơ hội cho bệnh khác kế phát
Trang 31Điều trị bệnh
Hiện nay bệnh PRRS không có thuốc điều trị, chỉ có thể sử dụng một số thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa
bệnh kế phát
Với những trại đang xảy ra dịch thực hiện đúng các bước sau:
● Loại bỏ những con bị quá nặng
● Tách những con bỏ ăn ra chuồng riêng
● Giãn mật độ nuôi tối đa
● Không tắm cho lợn có dấu hiệu bị bệnh, chỉ rửa chuồng, tích cực vệ sinh
● Sát trùng chuồng trại ngày 1 – 2 lần
● Pha thuốc hạ sốt vào nước cho uống khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
● Một tuần cho uống 2 ngày thuốc để giải độc gan, thận
● Sử dụng cám có thuốc kháng sinh cho đến khi hết bệnh (1 – 2 tháng)
● Với những con bỏ ăn: Phải tách ra để tiêm thuốc kháng sinh và thuốc điều trị triệu chứng
● Sử dụng kháng sinh kéo dài và phổ rộng: Amoxillin LA, Oxytetraxyllin
LA, Tiamutilin
● Thuốc hạ sốt, giảm đau, chống viêm sử dụng các loại: Funicin, Ketoprofen (Ketofen, ketovet) khi đàn lợn có triệu chứng sốt cao
* Lưu ý:
Không nên sử dụng thuốc kháng viêm dạng Corticoids
Thời gian điều trị phải kéo dài từ 10 – 15 ngày lợn mới có thể hết bệnh Đối với lợn nái phải lấy thân nhiệt ít nhất 2 lần/ngày và tiêm thuốc hạ sốt cho những con > 39,50C
Nên xem xét kỹ và chẩn đoán chính xác có phải bị PRRS (chết ít < 30%) hay là dịch tả lợn (chết 100% khi có triệu chứng bệnh)
* Cụ thể phác đồ điều trị như sau:
● Chống nhiễm bệnh kế phát: Dùng kháng sinh có tác dụng với đường
hô hấp
Trang 32Nếu lợn còn ăn thì trộn vào thức ăn hàng ngày một trong các loại kháng sinh: Flofenicol 40ppm (40gr/tấn thức ăn) hoặc 10 – 15 ngày, Lincomix S liều 2kg/tấn thức ăn, Tylansulfa – G 2kg/tấn thức ăn
Nếu con vật bỏ ăn dùng một trong các loại kháng sinh: Amoxicilin LA 15% liều 1ml/10kgP, Linco – spectin, Cafelosporin liều 1gr/30 – 50kgP
Liệu trình dùng từ 3 – 7 ngày
Với lợn nái hoặc lợn bột có thể tiêm chậm vào tĩnh mạch vành tai còn đối với lợn con có thể tiêm bắp ở vùng cổ
● Nâng cao sực đề kháng: Có thể sử dụng kết hợp một số loại sau:
VTMC 5% liều 5 – 10 ml/con/ngày (có thể tiêm bắp)
Đường glucoza 5% liều 10 – 20 – 30 ml/con/ngày
Urotropin 10% liều 5 – 10 – 20 ml/con/ngày
Thuốc trợ tim
2.2 YẾU TỐ NGUY CƠ
Trong nhiều ổ dịch, quần thể có nguy cơ là khó xác định, vì vậy nghiên cứu
so sánh không khả thi Tuy nhiên, vì ca bệnh đã được phát hiện giai đoạn sớm của quá trình điều tra nên nghiên cứu bệnh - chứng là phù hợp Vì lẽ đó mà nghiên cứu bệnh - chứng thường phổ biến hơn nghiên cứu so sánh nhóm trong điều tra ổ dịch
2.2.1 Khái niệm
Yếu tố nguy cơ là yếu tố làm cho vật chủ bị phơi nhiễm trước các vi sinh vật (virus, vi khuẩn ) hoặc các chất độc hại khác
Một nguy cơ bao gồm 3 thành phần: tác nhân có hại, yếu tố nguy cơ và mức
độ hậu quả Thông thường người ta ít khi phân biệt tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ và nhiều khi coi chúng đều là nguyên nhân Do vậy, nếu dùng từ nguyên nhân thì trong dịch tễ học cần phân biệt giữa tác nhân có hại với yếu tố nguy cơ
2.2.2 Phương pháp xác định yếu tố nguy cơ
Nguy cơ xảy ra dịch bệnh không chỉ nói chung chung là nguy cơ cao mà phải xác định và tính toán để chứng minh rằng yếu tố đó chính là yếu tố nguy cơ Muốn vậy, ta phải tính xác suất xảy ra bệnh khi không có yếu tố nguy cơ đó Sau
đó so sánh 2 xác suất với nhau Có 3 con số so sánh xác suất tùy theo phương
Trang 33pháp nghiên cứu dịch tễ Đó là tỷ số của hai xác suất OR (Odd Ratio), tỷ số tỷ lệ nhiễm PR (Prevalence Ratio) và nguy cơ tương quan RR (Relative Risk)
2.2.3 Tỷ số chênh OR (Odd Ratio) và nghiên cứu (điều tra) hồi cứu
Nghiên cứu (điều tra) hồi cứu là điều tra ngược thời gian để tìm ra yếu tố nguy cơ đã làm cho bệnh xảy ra Một cách làm nghiên cứu hồi cứu là nghiên cứu bệnh chứng (case control - Study) Người ta chọn một số gia súc có bệnh gọi là nhóm bệnh và một số gia súc không bệnh gọi là nhóm đối chứng và so sánh xem giữa 2 nhóm này có những điểm gì khác biệt Nhưng sự khác biệt này chủ yếu là
do các yếu tố tác động đến gia súc ở 2 nhóm Các yếu tố nói trên nếu có tác động vào gia súc thì gia súc đó được coi là đã phơi nhiễm và nếu không có tác động thì gia súc đó được coi là không phơi nhiễm với yếu tố đó
Phân tích hồi quy logic đa tầng, nhiều biến (multilevel analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo I.R, 2003)
Nếu OR = 1 không có ảnh hưởng, khác nhau giữa hai nhóm;
OR > 1 cho thấy gia súc phơi nhiễm với yếu tố nguy cơ có khả năng dương tính với PRRS tăng lên
Ngược lại, nếu OR < 1 cho thấy nguy cơ gia súc dương tính giảm đi
2.3 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH PRRS
2.3.1 Trên thế giới
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome - PRRS) là dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của loài lợn, gây thiệt hại kinh tế lớn cho ngành chăn nuôi lợn PRRS lần đầu tiên được phát hiện ở Mỹ năm 1987 (Keffaber, 1989) Virus PRRS lần đầu tiên được phân lập từ một ổ dịch ở Hà Lan, được xác định là nguyên nhân chính gây ra hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản ở lợn Virus thuộc nhóm Arterivirus, thuộc
họ Arteriviridae, bộ Nidovirales, có cấu trúc hệ gen là RNA sợi đơn dương, gồm 7 khung đọc mở khác nhau mã hóa cho các protein của virus (Cavanaugh, 1997) PRRS đặc biệt nguy hiểm ở lợn con sau cai sữa vì đây là một trong những nhóm lợn mẫn cảm nhất với virus PRRS Lợn con sau cai sữa thường có
biểu hiện sốt, da mẩn đỏ, mệt mỏi, bỏ ăn, có biểu hiện khó thở (Chung et al., 1997; Done et al., 1996)
Trang 34Albina và cộng sự khi nghiên cứu về kháng thể của lợn mắc PRRS và thấy rằng: nếu lợn con được bú sữa đầu thì sẽ có kháng thể PRRS trong huyết thanh từ ngày thứ tư sau khi sinh Jenny G.Cho và cộng sự thuộc khoa thú y, trường Đại học Minesota của Mỹ, khi nghiên cứu về những đặc điểm của virus PRRS và triệu chứng lâm sàng của lợn khi bị bệnh ở Mỹ và một số nước Châu Âu đã kết luận rằng: các chủng virus ở mỹ và Châu Âu có sự khác biệt nhau về bộ gen, tức
là virus ở 2 nơi này có sự biến đổi về cấu trúc Điều đó chứng tỏ vi rút PRRS có
khả năng biến chủng (Otake S et al., 200b) (Nelsen C.J et al., 1999)
Nghiên cứu về trình tự gen của chủng virus cường độc ở Trung Quốc, Tian Kegong (2007) thu được kết quả như sau: ở một số ổ dịch, bộ gen của virus PRRS tương đồng 93,2 – 94,2% với bộ gen của chủng VR2332 (Bắc Mỹ) Một
số ổ dịch khác lại thấy bộ gen của virus PRRS tương đồng 63,4 – 64,5% với bộ gen của chủng gây bệnh Lelystad (chủng Châu Âu) Từ đó, Tian kegong cũng thấy các virus đã có sự đột biến ở một số axit amin
Sergi Bruguera sau khi nghiên cứu về tác hại của bệnh PRRS và hiệu quả của vắc xin Amervac - PRRS đã cho biết: ở đa số trại để giảm thiệt hại do bệnh gây ra thì lựa chọn tốt nhất là “sống chung với kẻ thù” tức tiêm vắc xin phòng bệnh và quản lý chăm sóc nuôi dưỡng Vắc xin Amervac - PRRS là vắc xin an toàn và hiệu quả cao với cả virus chủng Châu Âu và Bắc Mỹ, giúp kiểm soát bệnh PRRS rất tốt “Quyết định xử lý bệnh PRRS an toàn và hiệu quả với chương
trình chủng ngừa bằng vắc xin Amervac - PRRS”, (Tài liệu hội thảo Hội chứng
rối loạn hô hấp và sinh sản và bệnh liên cầu khuẩn ở lợn, Trường Đại học Nông
nghiệp I – Hà Nội)
2.3.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam: Virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta năm 1997,
trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam, 10 trong số 51 con có huyết thanh dương tính với vi rút PRRS và cả đàn được tiêu hủy ngay Tuy nhiên, theo điều tra ở một số địa bàn thuộc thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể virus PRRS (596/2.308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm virus PRRS (Nguyễn Lương Hiền và cs., 2001) Năm 2003, tỷ lệ nhiễm bệnh PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86% (La Tấn Cường, 2005)
Trang 35Năm 2007: Dịch bệnh PRRS xuất hiện tại 405 xã, thuộc 75 huyện của 21
tỉnh, thành phố Tổng số gia súc mắc bệnh là 88.945 con, số chết và phải tiêu hủy
là 19.217 con (Cục Thú y., 2008), cụ thể:
Đợt dịch thứ nhất: ngày 12/3/2007, lần đầu tiên dịch bệnh PRRS xuất hiện
tại nước ta trên đàn lợn tại Hải Dương Do việc buôn bán, vận chuyển lợn không được kiểm soát triệt để nên dịch đã lây lan nhanh Sau đó dịch đã lây lan nhanh
và phát triển mạnh tại 146 xã, phường thuộc 25 huyện, thị xã của 9 tỉnh là: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Bắc Kạn, Nam Định và Hải Phòng Số lợn mắc bệnh là 31.928 con, số lợn chết và xử lý là
7.464 con
Đợt dịch thứ 2: ngày 25/6/2007, dịch bắt đầu xuất hiện tại tỉnh Quảng Nam
và đã lây lan ra diện rộng Trong đợt dịch này, dịch đã lây lan ra 178 xã, phường của 40 huyện, thị xã thuộc 14 tỉnh, thành phố là: Cà Mau, Long An, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Đà Nẵng, Thừa Thiên Huế, Quảng Trị, Lạng Sơn, Hà Nội, Thái Bình, Hải Dương Tổng số lợn
ốm là 57.0177 con, số chết và xử lý là 11.753 con
Năm 2008: ngày 20/3/2008, dịch xuất hiện ở nhiều xã thuộc tỉnh Hà Tĩnh
và Thanh Hóa Sau đó dịch đã xuất hiện ở 949 xã, phường của 99 huyện, thị xã thuộc 28 tỉnh là: Bạc Liêu, Lâm Đồng, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Thái Nguyên, … Tổng
số lợn mắc bệnh là 298.095 con, số chết và phải tiêu huỷ là 286.351 con (Cục Thú y, 2009)
Năm 2009: năm 2009, dịch xảy ra ở 49 xã thuộc 14 huyện của 8 tỉnh, thành
phố: Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Quảng Nam, Gia Lai, Bạc Liêu, Bà Rịa
- Vũng Tầu và Đắk Lắk với 5.044 lợn mắc bệnh và 4.363 lợn buộc phải tiêu huỷ (Cục Thú y, 2010)
Năm 2010: xảy ra 02 đợt dịch, đợt thứ nhất tại miền Bắc (Hải Dương,
Hưng Yên, Hải Phòng, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hà Nội, Nam Định, Hà Nam, Nghệ An, Quảng Ninh, Hòa Bình, Cao Bằng, Sơn La); Đợt thứ hai xảy ra tại một số tỉnh miền Nam (Sóc Trăng, Quảng Trị, Tiền Giang, Lào Cai, Long An, Bình Dương, Bạc Liêu, Quảng Nam, Đồng Nai, Bình Phước, Đà Nẵng, Vĩnh Long, Khánh Hòa, Đắk Lắk, Hậu Giang, Bà Rịa-Vùng Tàu, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Bến Tre, Cà Mau, KomTum, Đắc Nông, Gia Lai, Trà Vinh, Bình Thuận, Quảng
Trang 36Ninh, Ninh Thuận, Phú Yên, Sơn La, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Tĩnh) với 1.978
xã thuộc 286 huyện của 52 tỉnh, thành phố có dịch làm 1.114.166 con mắc bệnh
và trong đàn có lợn bệnh; số chết, tiêu hủy là 438.699 con (Cục Thú y, 2011) Theo Nguyễn Bá Hiên và cộng sự cho biết virus PRRS gây bệnh cho lợn ở tất cả các lứa tuổi Người và các động vật khác không mắc bệnh nhưng loài vịt trời lại mẫn cảm với vi rút này Vius PRRS có khả năng nhân lên trong cơ thể vịt trời làm cho mầm bệnh bị reo rắc trên diện rộng
Bùi Quang Anh và cộng sự 2008 nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh PRRS đã kết luận: Lợn nái và lợn con theo mẹ bị mắc với tỷ lệ lớn tỷ lệ chết của các loại lợn mắc PRRS khoảng 15 - 20%, cao hơn so với các nghiên cứu khác (Bùi Quang Anh và cs., 2008a)
Nghiên cứu về chỉ tiêu lâm sàng, chỉ tiêu máu ở lợn mắc PRRS tại Hải Dương và Hưng Yên, Phạm ngọc Thạch, Đàm Văn Phải đã kết luận: Thời gian nung bệnh là 3 - 7 ngày, tần số hô hấp, tim mạch, thân nhiệt đều tăng cao so với sinh lý bình thường; Chỉ tiêu sinh lý, sinh hoá máu đều thay đổi, đặc biệt là số lượng bạch cầu; Độ dự trữ kiềm trong máu tăng rất cao, trong khi đó hàm lượng đường huyết, protein tổng số của lợn bệnh lại giảm nhiều so với sinh lý bình thường Đối với lợn nái, số lượng thai chết tỷ lệ thuận với tuổi thai lợn chửa dưới 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết là 20%, lợn chửa trên 2,5 tháng có tỷ lệ thai chết
93,75% (Benfield et al., 1992)
Lê Văn Năm (2007) bước đầu khảo sát các biểu hiện lâm sàng về bệnh tích đại thể bệnh PRRS tại một số địa phương thuộc Đồng Bằng Bắc Bộ đã thấy: các biểu hiện lâm sàng, bệnh tích đại thể của bệnh PRRS trong đợt dịch năm 2007 trùng hợp với các tài liệu đã công bố Tuy nhiên, tỷ lệ tiêu chảy chiếm 83,25%, khản tiếng 60,50% ở lợn con theo mẹ, táo bón ở lợn lớn chiếm 50,50%, cao hơn
so với tài liệu đã công bố (Lê Văn Năm, 2007)
Nghiên cứu sự biến động kháng thể mẹ truyền cho con của nái nhiễm virus PRRS, Trần Thị Bích Liên và cộng sự năm 2007 cho thấy: Hiệu giá kháng thể ở lợn con của nái dương tính với PRRS cao hơn của nái âm tính với PRRS Tuy nhiên, lượng kháng thể giảm dần theo tuổi của lợn con và đến 60 ngày tuổi thì lợn con không còn kháng thể (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dân, 2003)
Hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản trên lợn (PRRS) đang gây thiệt hai
vô cùng to lớn về kinh tế cho người chăn nuôi trong thời gian qua, do tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp và khó lường Trước tình hình đó, khoa Thú y
Trang 37trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã nhanh chóng tham gia vào các hoạt động giám sát, chẩn đoán, nghiên cứu sự biến đổi của virus gây hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn, góp phần vào việc phòng chống dịch bệnh nguy hiểm này.Năm 2013 tình hình bệnh diễn ra tương đối phức tạp, bùng phát mạnh thành dịch ở 6 tỉnh thành: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Nam Định, Bắc Ninh và Thái Bình Cục Thú y cũng nhận định dịch tai xanh năm 2013 có diễn biến bất thường hơn so với năm 2012, tốc độ lây lan rất nhanh, số lượng lợn mắc bệnh phải tiêu hủy cao, tỷ lệ lợn chết và lợn tiêu hủy đã lên đến 18.452 con Ở nước ta, chủng virus tai xanh thuộc nhóm Bắc Mỹ (nhóm II) có tên gọi là VR2332 xuất hiện từ năm 2007 Tới năm 2012, nước ta đã có mặt đầy đủ cả 2 chủng virus PRRS, bao gồm cả nhóm Châu Âu (nhóm I) có tên gọi là Lelystad Đây là 1 loại virus dễ biến chủng Năm 2013, từ các mầm bệnh thu được tại các ổ dịch, qua xét nghiệm là virus PRRS nhóm II, có tính tương đồng cao với các chủng gây bệnh tại Trung Quốc, là 1 chủng mới đột biến gần đây Sự xuất hiện của chủng virus PRRS mới làm cho virus có độc lực mạnh hơn đồng thời làm mất tính bảo
hộ của các vaccine đang được sử dụng
Trong thời gian gần 2 năm trở lại đây (từ tháng 7/2013 đến nay), dịch bệnh tai xanh ở lợn đã được kiểm soát tốt và không xảy ra trong phạm vi cả nước, đã góp phần tích cực vào việc phát triển chăn nuôi lợn một cách bền vững và tăng cao giá trị sản xuất cho người chăn nuôi Tuy nhiên, quy mô chăn nuôi trang trại chiếm số ít, hầu hết là chăn nuôi nông hộ mang tính tự cung tự cấp, con giống không rõ nguồn gốc…, không đảm bảo an toàn sinh học trong công tác chăn nuôi thú y đã dẫn đến những khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh Đây cũng chính là các yếu tố gây bất lợi, làm dịch bệnh phát sinh và lây lan mạnh, đặc biệt
là dịch PRRS
Trước tình hình trên, bằng kỹ thuật giải trình tự gene, Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ sinh học khoa thú y do PGS.TS Nguyễn Thị Lan phụ trách cùng với nhóm nghiên cứu vắc xin tai xanh của khoa Thú y lần đầu tiên đã giải trình tự thành công full gene của chủng Virus tai xanh phân lập tại Việt Nam với
độ dài 15.350 bp góp phần hữu ích cho việc nghiên cứu lựa chọn chủng virus phù hợp để sản xuất vắc xin tai xanh phòng bệnh cho lợn Kết quả này đã được đăng
ký trên ngân hàng gene thế giới, là cơ sở tham khảo cho những nghiên cứu liên quan tới PRRSV (Giải mã trình tự full gene của chủng virus PRRS tại Việt Nam, Ban khoa học và công nghệ - Học viện Nông nghiệp Việt Nam)
Trang 38PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Đề tài gồm 3 nội dung nghiên cứu:
- Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của dịch PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013
- Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử của virus KTY-PRRS phân lập được tại huyện Đông Sơn năm 2013
- Xác định các yếu tố nguy cơ làm bùng phát hội chứng PRRS trên địa bàn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa năm 2013
3.2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2.1 Tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của dịch PRRS tại huyện Đông Sơn năm 2013
Vật liệu:
- Thu thập và phân tích số liệu: Số liệu điều tra về tình hình chăn nuôi lợn
và tình hình dịch PRRS ở lợn được thu thập thông qua các tài liệu lưu trữ của Cục thống kê, Chi cục thú y, Trạm thú y (số liệu thứ cấp) về các chỉ tiêu:
Tổng số lợn (con)
Số lợn mắc hội chứng PRRS (con)
Số lợn tử vong (con)
Số lợn bị tiêu hủy (con)
Phương pháp nghiên cứu:
Tiến hành dùng bảng hỏi (phiếu điều tra) để điều tra trực tiếp tại các hộ chăn nuôi; Kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ thú y cơ sở để thu thập thêm thông tin
Xử lý bằng phầm mềm Microsoft Excel 2007 các số liệu trên để nắm được tình hình chăn nuôi lợn và tình hình dịch PRRS ở lợn tại huyện Đông Sơn năm 2013
3.2.2 Xác định đặc tính sinh học và sinh học phân tử của virus
KTY-PRRS-06 phân lập được
Vật liệu:
Virus KTY-PRRS-06 phân lập được của Phòng thí nghiệm Trọng điểm Công nghệ Sinh học, Khoa Thú Y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Trang 39Vật tư, hóa chất:
Bộ kit tách chiết ARN của QIAamp Cặp mồi được sử dụng cho phản ứng
RT –PCR với đoạn gene ORF5 với mồi xuôi và mồi ngược:
Hóa chất cần thiết: các hóa chất tinh khiết của Merck như NaOH, HCl,
H2SO4 , Na2HPO4, KH2PO4, nước đề ion, agarose, ethidium promide
Dụng cụ, vật tư tiêu hao: Đầu tips, cối chày sứ, ống effpendorp, … được vô trùng trước khi sử dụng phục vụ cho quá trình làm thí nghiệm
Thiết bị: Hệ thống thiết bị, máy móc, dùng trong phân tích, xét nghiệm và chẩn đoán bệnh của phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học khoa Thú
y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nuôi cấy tế bào
Để chuẩn bị cho các bước nghiên cứu tiếp theo, cần phải chuẩn bị lượng tế bào Marc-145 cần thiết
a “Gọi” tế bào từ dạng tế bào bảo quản
Chuẩn bị môi trường nuôi cấy: môi trường DMEM bổ sung 5% FBS làm
ấm trong tủ 37ᴼC trong 30 phút, trước khi lấy tế bào ra nuôi cấy
Bước 1: Giải đông tế bào ở nhiệt độ phòng
Bước 2: Ly tâm 1000 vòng/phút trong 5 phút, loại bỏ dung dịch bảo quản
và giữ lại cặn tế bào
Bước 3: Hòa tan cặn tế bào trong dung dịch DMEM + 5% FBS, chuyển tế bào và bình nuôi cấy chứa 5 ml môi trường DMEM + 5% FBS
Bước 4: Giữ tế bào ở tủ ấm 37ᴼC với 5% CO2, hàng ngày theo dõi sự phát triển của tế bào Khi thấy tế bào mọc dày, kín bề mặt đáy bình là có thể thu tế bào để bảo quản hoặc cấy chuyển tế bào sang bình nuôi cấy mới
b Cấy chuyển tế bào
Cấy chuyển tế bào nhằm nhân số lượng tế bào lên một lượng nhất định để phục vụ nghiên cứu
Bước 1: Loại bỏ môi trường đang nuôi, rửa tế bào bằng PBS
Trang 40Bước 2: Trypsin hóa tách tế bào, sử dụng Trypsin − EDTA Thêm 7 ml môi trường không đầy đủ, trộn đều chuyển sang ống ly tâm
Bước 3: Loại bỏ trypsin, ly tâm loại bỏ phần dung dịch và giữ lại cặn màu trắng
Bước 4: Cân bằng môi trường và đếm số tế bào, hòa tan tế bào trong 6 ml môi trường đầy đủ Đếm tế bào, pha loãng tế bào 100 lần (10 µl tế bào trong 990
µl môi trường không đầy đủ) dùng buồng đếm đếm số tế bào trên kính hiển vi, tính số tế bào trong 1 ml
Bước 5: Cấy chuyển tế bào, pha loãng tế bào đến 2x105 tế bào/ml trong môi trường đầy đủ, chia huyễn dịch tế bào vào bình nuôi (6 ml/bình T25, 15 ml/bình T75)
Bước 6: Nuôi tế bào và kiểm tra sự phát triển, giữ tế bào ở 37ᴼC, 5% CO2hàng ngày theo dõi sự phát triển của tế bào
c Thu tế bào
Sau khi có đủ lượng tế bào cần thiết, tế bào được thu và bảo quản để tiếp tục sử dụng những lần khác Mỗi tế bào thường có một giới hạn nhất định về số lần nuôi cấy, thực chất là số lần phân chia tế bào, trừ tế bào ung thư có khả năng phân chia vô hạn Vì thế, trong các lần cấy chuyển và thu hoạch cần ghi hồ sơ theo dõi tế bào để đảm bảo chất lượng tế bào cho nghiên cứu
Các bước thu tế bào giống với các bước cấy chuyển tế bào, chỉ khác ở bước
5 và bước 6
Bước 5: Chia ống tế bào, pha loãng tế bào ở 5x106
tế bào/ml trong môi trường đầy đủ có bổ sung 10% DMSO, chia huyễn dịch tế bào vào các ống bảo quản 1 ml/ống
Bước 6: Bảo quản tế bào, giữ ống tế bào trong hộp lạnh ở -20ᴼC trong 2 − 3 giờ, chuyển sang -80ᴼC qua đêm, chuyển tế bào vào giữ trong nitơ lỏng
Phương pháp đếm tế bào
Việc đếm tế bào được thực hiện trước khi nuôi cấy tế bào và xác định đường cong sinh trưởng của virus Mật độ tế bào trước khi nuôi cấy tế bào có liên quan đến hiệu quả của quá trình nuôi cấy, nhất là nuôi cấy tế bào một lớp Khi xây dựng đường cong sinh trưởng của virus, đếm tế bào là việc làm cần thiết