TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Nguyễn Trung Uyên Tên đề tài: "Giám sát lưu hành virus lở mồm long móng trâu bò và đánh giá một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh trên
Trang 1NGUYỄN TRUNG UYÊN
GIÁM SÁT LƯU HÀNH VIRUS LỞ MỒM LONG MÓNG TRÂU BÒ VÀ ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ LÀM PHÁT SINH, LÂY LAN DỊCH BỆNH TRÊN ĐỊA BÀN BẮC HÀ TĨNH TỪ THÁNG 8/2015-8/2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Uyên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn
bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc PGS.TS Phạm Ngọc Thạch đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo,
Bộ môn Nội - Chẩn - Dược - Độc chất, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam
đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Cơ quan Thú y vùng III đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày 18 tháng 09 năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Uyên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 3
1.3 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 4
Phần 2 Tổng quan tài liệu 5
2.1 Khái quát về bệnh LMLM 5
2.2 Tình hình dịch bệnh LMLM ở Việt Nam và trên thế giới 5
2.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới 5
2.2.2 Tình hình bệnh LMLM ở Việt Nam 6
2.3 Đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM 9
2.3.1 Động vật cảm nhiễm 9
2.3.2 Nguy cơ gia súc mắc bệnh 10
2.3.3 Type virus gây bệnh và phân bố dịch bệnh 11
2.3.4 Phân bố các type virus LMLM tại Việt Nam 13
2.3.5 Thời gian và tần suất mắc bệnh 14
2.4 Đặc tính sinh học của VIRUS LMLM 14
2.4.1 Hình thái, kích thước và phân loại của vi rút LMLM 14
2.4.2 Cấu trúc gen của vi rút LMLM 14
2.4.3 Phân loại týp huyết thanh học (serotype) 15
2.4.4 Đặc tính nuôi cấy của virus LMLM 15
2.4.5 Độc lực của virus LMLM 16
Trang 52.4.6 Sức đề kháng của virus LMLM 16
2.4.7 Loài vật mắc bệnh 17
2.4.8 Chất chứa mầm bệnh 18
2.4.9 Đường lây truyền của virus 18
2.4.10 Cơ chế sinh bệnh 19
2.4.11 Sự mang trùng của động vật mẫn cảm 19
2.5 Triệu chứng và bệnh tích 20
2.5.1 Triệu chứng lâm sàng 20
2.5.2 Bệnh tích 20
2.6 Các phương pháp chẩn đoán bệnh LMLM 21
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng 21
2.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm 21
2.7 Vắc xin phòng bệnh LMLM 28
2.7.1 Vắc xin vô hoạt formon keo phèn 28
2.7.2 Vắc xin vô hoạt nuôi cấy trên môi trường tế bào 29
2.7.3 Vắc xin nhược độc 29
2.7.4 Vắc xin được sản xuất theo công nghệ gen 29
2.7.5 Những điều cần chú ý khi sử dụng vắc xin LMLM 29
Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 30
3.1 Địa điểm nghiên cứu 30
3.2 Thời gian nghiên cứu 30
3.3 Đối tượng nghiên cứu/vật liệu nghiên cứu 30
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu: 30
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu: 30
3.4 Nội dung nghiên cứu 31
3.5 Phương pháp nghiên cứu 31
3.5.1 Phương pháp thu thập thông tin 31
3.5.2 Phương pháp giám sát sự lưu hành của virus 31
3.5.3 Phương pháp xác định các yếu tố nguy cơ 35
3.5.4 Phương pháp xử lý số liệu 36
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 37
4.1 Tình hình chăn nuôi trâu bò trên địa bàn tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2013-2016 37
Trang 64.2 Tình hình dịch bệnh và một số đặc điểm dịch tễ bệnh lmlm trâu bò tại
Tỉnh hà tĩnh giai đoạn 2013-2016 39
4.2.1 Tỷ lệ trâu bò mắc bệnh LMLM 39
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh LMLM theo loài 41
4.2.3 Phân bố dịch bệnh LMLM theo không gian 42
4.2.4 Diễn biến dịch bệnh LMLM theo thời gian 47
4.2.5 Công tác tiêm phòng vacxin LMLM từ tháng 8/2015-8/2016 49
4.3 Kết quả xét nghiệm kháng thể 3ABC 51
4.3.1 Kết quả xét nghiệm kháng thể kháng virus LMLM 3ABC bằng phương pháp ELISA 52
4.3.2 Tỷ lệ mẫu dương tính kháng thể kháng virus LMLM 3ABC giữa các xã có dịch và xã lận cận 54
4.3.3 Tỷ lệ mẫu dương tính kháng thể kháng virus LMLM 3ABC giữa trâu và bò 55
4.4 Kết quả đánh giá các yếu tố nguy cơ lây lan, phát sinh dịch lmlm tại bắc Hà Tĩnh 56
4.4.1 Yếu tố nguy cơ nguồn gốc con giống 56
4.4.2 Yếu tố nguy cơ gần đường giao thông chính 57
4.4.3 Yếu tố nguy cơ liên quan đến tiêm phòng vacxin LMLM 57
4.4.4 Yếu tố nguy cơ liên quan đến hình thức nuôi và chăn thả trâu bò 58
4.4.5 Yếu tố nguy cơ liên quan đến vệ sinh tiêu độc, khử trùng chuồng trại 59
Phần 5 Kết luận 60
5.1 Kết luận 60
5.2 Kiến nghị 602
Tài liệu tham khảo 623
Phụ lục 656
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BHK-21 Baby Hamster Kidney-21
BHK Baby Hamster Kidney
CI Confident interval
Ct Cycle of threshold
DNA Desoxyribonucleic Axit
DOE Double Oil Emulsion
ELISA Enzyme linked immunosorbent assay
HBI Baker Hughes Incorporated
OIE Organization of International Epizootics
KHBT Kết hợp bổ thể
LMLM Lở mồm long móng
LPB - ELISA Liquid phase Block Enzyme linked immunosorbent assay MAB Monoclonal Antibodies
MEM Modified Eagles Medium
NSP - ELISA Non Structural Protein Enzyme linked immunosorbent
assay
OR Odd ratio
PCR Polymerase Chain Reaction
PI Percent Inhibition
RNA Ribonucleic Axít
RT - PCR Reverse Transcription- Polymerase Chain Reaction
SP Structural Protein
(+) Dương tính
(-) Âm tính
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Phân bố các type virus LMLM tại Việt Nam năm 2013 13
Bảng 3.1 Đánh giá yếu tố nguy cơ 35 Bảng 4.1 Tổng đàn trâu bò của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016 37 Bảng 4.2 Tỷ lệ trâu bò mắc bệnh LMLM của tỉnh Hà Tĩnh qua các năm 2013-
xã, liên huyện, tỉnh lộ, quốc lộ 57
Bảng 4.13 Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ liên quan đến tiêm phòng vacxin
Trang 9DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh 1
Hình 2.1 Tình hình lưu hành virus LMLM tại các nước Đông Nam Á thông qua vận chuyển trâu, bò 11
Sơ đồ 3.1 Mô phỏng phản ứng phát hiện kháng thể LMLM 3ABC bằng phương pháp ELISA, bộ kít PrioCHECK ® FMD NS 33
Sơ đồ 3.2 Đĩa phản ứng ELISA phát hiện kháng thể 3ABC 34
Biểu đồ 4.1.Tỷ lệ trâu bò mắc bệnh LMLM tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016 40
Biểu đồ 4.2 Tỷ lệ mắc bệnh LMLM theo loài của tỉnh Hà Tĩnh từ 2013-2016 42
Biểu đồ 4.3.Tỷ lệ số xã có dịch LMLM qua các năm 2013-2016 43
Hình 4.1 Bản đồ phân bố dịch bệnh LMLM trâu bò tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016 44
Biểu đồ 4.5.So sánh tỷ lệ xã mắc mới bệnh LMLM từ tháng 8/2015-8/2016 của các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ 45
Hình 4.2 Bản đồ phân bố dịch bệnh LMLM trâu bò tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016 47
Biểu đồ 4.5.Diễn biến số ca bệnh LMLM trâu bò theo thời gian tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013–2016 48
Biểu đồ 4.6.Diễn biến số ổ dịch LMLM trâu bò theo thời gian tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013–2016 48
Biểu đồ 4.7.Diễn biến số ca bệnh LMLM trâu bò theo thời gian tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016 49
Biểu đồ 4.8.Diễn biến số ổ dịch LMLM trâu bò theo thời gian tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016 49
Biểu đồ 4.9.Số mẫu và tỷ lệ mẫu dương tính với kháng thể 3ABC ở các xã giám sát 53
Hình 4.3 Bản đồ phân bố các mẫu dương tính kháng thể 3ABC tại các huyện phía Bắc Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016 54
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Trung Uyên
Tên đề tài: "Giám sát lưu hành virus lở mồm long móng trâu bò và đánh giá một số
yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016"
Chuyên ngành: Thú y Mã số: 60.64.01.01
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được tình hình dịch bệnh LMLM và mô tả được một số đặc điểm dịch
tễ bệnh LMLM trâu bò trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016
Giám sát sự lưu hành kháng thể bệnh LMLM trâu bò nhiễm tự nhiên bằng phương pháp 3ABC ELISA và đánh giá được một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh LMLM trâu bò trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016
Nội dung nghiên cứu
- Tình hình chăn nuôi trâu bò của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016
- Tình hình dịch bệnh và đặc điểm dịch tễ về bệnh LMLM của tỉnh Hà Tĩnh và các địa phương nghiên cứu giai đoạn 2013-2016
- Giám sát sự lưu hành kháng thể bệnh LMLM trâu bò nhiễm tự nhiên bằng phương pháp 3ABC ELISA trên địa bàn Bắc tỉnh Hà từ tháng 8/2015-8/2016
- Một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự lưu hành virus và khả năng phát sinh, lây lan dịch bệnh LMLM trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh
Vật liệu nghiên cứu:
Máy đọc ELISA, máy rửa đĩa ELISA, máy lắc ủ đĩa ELISA; máy li tâm lạnh; máy Vortex, máy Spin; tủ lạnh -80oC, -20oC và 4oC; đồng hồ đếm thời gian có chuông báo khi kết thúc; và các dụng cụ, nguyên liệu, hóa chất thí nghiệm khác
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được thực hiện bằng phương pháp nghiên
cứu cắt ngang
- Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập số liệu về tình hình chăn nuôi và đặc điểm dịch tễ của bệnh LMLM giai đoạn 2013 - 2016 từ Cơ quan Thú y vùng III và Chi cục Thú y Hà Tĩnh
- Phương pháp phát hiện kháng thể LMLM trên trâu bò nhiễm tự nhiên bằng
Trang 11phương pháp 3ABC ELISA:
Mẫu huyết thanh dùng để đánh giá tỷ lệ lưu hành kháng thể LMLM nhiễm tự nhiên được thu thập theo phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên từ vùng trọng điểm dịch LMLM của 3 huyện huyện Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, huyện Nghi Xuân
Số mẫu cần lấy được tính toán bằng phần mềm Win Episcope 2.0 với tỷ lệ lưu hành ước đoán 10%, độ tin cậy 95%, sai số 5% Số mẫu theo tính toán là 232 mẫu
- Phương pháp xác định các yếu tố nguy cơ: Các yếu tố nguy cơ được xem xét là: Nguồn gốc con giống; tiêm phòng vacxin; đường giao thông; hình thức chăn nuôi và
chăn thả; vệ sinh, tiêu độc, khử trùng chuồng trại
Kết quả và kết luận chủ yếu của luận văn
- Thực trạng tình hình chăn nuôi trâu bò trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016
- Đã đánh giá được tình hình dịch bệnh và một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016
- Kế quả giám sát sự lưu hành virus LMLM trâu bò nhiễm tự nhiên bằng phương pháp 3ABC ELISA trên địa bàn Bắc tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016
- Đánh giá được một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự lưu hành virus và khả năng phát sinh, lây lan dịch bệnh LMLM trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh
Trang 12THESIS ABSTRACT
Master candidate: Nguyen Trung Uyen
Thesis title: "Monitoring circulating FMD virus of cattle and evaluated a number of risk
factors rise, spread of epidemics in the province Bac Ha Tinh from may 8/2015-8/2016"
Major: Veterinary Medicine Code: 60.64.01.01
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Research Objectives:
- Review FMD disease situation and describe the epidemiological characteristics
of FMD cattle in the province of Ha Tinh period 2013-2016
- Monitoring the prevalence of FMD antibodies naturally infected cattle by ELISA method and evaluation 3abc some risk factors rise and the spread of FMD cattle
in the province of Ha Tinh North from may 8/2015-8/2016
Contents of the study
- The situation of cattle production in Ha Tinh Province period 2013-2016
- The situation of the disease and the characteristics of the epidemiology of FMD in Ha Tinh province and the local study period 2013-2016
- Monitoring the prevalence of FMD antibodies naturally infected cattle by ELISA method in the province of North 3abc Ha from may 8/2015-8/2016
- Some of the risk factors affecting the circulation of the virus and the ability to generate, spread of FMD in the Northern province of Ha Tinh
Materials and Methods
Materials research: ELISA reader, ELISA plate washer, ELISA plate shaker
incubation; cold centrifuge; Vortex machine, spin machine; -800C refrigerators, -200C and
40C; clock with alarm timer expiration; and tools, materials and other laboratory chemicals
Research Methodology: This study was carried out by means of
cross-sectional studies
- Method of information collection: Collect data on the status of livestock and the epidemiological characteristics of the FMD period 2013-2016 from the Animal Health Agency Region III and Animal Health Department of Ha Tinh
- Methods to detect antibodies in cattle infected with FMD natural 3abc
Trang 13ELISA method:
Serum samples used to evaluate the prevalence of natural infection of FMD antibody is collected by the method of random sampling from key areas of the three districts FMD Can Loc district, Hong Linh Town, Nghi Xuan district
Number of samples to be taken is calculated by Win Episcope 2.0 software with prevalence estimates of 10%, 95% confidence level, the error of 5% Number of samples 232 samples were calculated
- Methods for determination of risk factors: The risk factors considered were: Origins seed; vaccination; traffic road; forms and grazing livestock; hygiene, disinfection, disinfection of barns
Main findings and conclusions
- The actual situation of cattle breeding in the province of Ha Tinh period 2013-2016
- Already assess the disease situation and the epidemiological characteristics of FMD in the province of Ha Tinh period 2013-2016
- Design surveillance FMD virus circulation naturally infected cattle by ELISA method in the province of North 3abc Ha from may 8/2015-8/2016
- Review some of the risk factors affecting the circulation of the virus and the ability to generate, spread of FMD in the Northern province of Ha Tinh
Trang 14
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Hà Tĩnh là tỉnh miền trung, nằm ở tọa độ địa lý: 17054' - 18054' vĩ độ Bắc, 105048' - 108000' kinh độ Ðông; phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp nước bạn Lào, phía Ðông giáp biển Ðông Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 8.051,9 km2, chiếm gần 1,8% tổng diện tích tự nhiên của cả nước; là tỉnh được kế thừa và thụ hưởng các tuyến đường giao thông quan trọng như: Quốc lộ 1A dài 100 km, quốc lộ 8A dài 60km, đường Hồ Chí Minh dài 68 km, đường sắt thống nhất dài 50 km Hệ thống sông ngòi chính gồm Sông Lam, sông La, sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu, sông Rác, sông Nghèn
Hình 1.1 Bản đồ hành chính tỉnh Hà Tĩnh
Nguồn: Phòng Dịch tễ - Cơ quan Thú y vùng III (2016)
Trang 15Địa hình vùng núi chiếm tỷ lệ gần 70% diện tích tự nhiên, do vậy tập quán chăn nuôi trâu bò của người dân vùng núi chủ yếu chăn thả tự do trong rừng, rất khó kiểm soát và triển khai biện pháp tiêm phòng Mặt khác, do thời tiết khắc nghiệt, đặc biệt là lũ lụt, mạng lưới giao thông giao lưu hàng hoá Bắc Nam, vận tải xuất, nhập khẩu, quá cảnh và luân chuyển hàng hoá nội tỉnh thuận lợi nên việc buôn bán vận chuyển gia súc rất phát triển Đây cũng là điều kiện phát sinh và lây lan mạnh dịch bệnh cho gia súc, nhất là dịch bệnh lở mồm long móng (LMLM)
Bệnh lở mồm long móng (Foot and Mouth Disease, FMD) là một trong những bệnh gây thiệt hại nghiêm trọng cho chăn nuôi, vì đây là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho những động vật guốc chẵn như trâu, bò, lợn,
dê, cừu và những loài động vật hoang dã Bệnh có tính lây lan nhanh trên diện rộng cho nên tổ chức thú y thế giới đã xếp vào danh mục bảng A của bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất ở động vật Virus gây bệnh LMLM thuộc họ Picornaviridae được chia thành 7 type huyết thanh, giữa các type không có miễn dịch chéo cho nhau
Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy đối với các ổ dịch LMLM, trâu bò mắc bệnh sau khi hồi phục thường mang trùng Trâu, bò có thể mang mầm bệnh
ở thể mang trùng nhưng không có biểu hiện lâm sàng và đây là nguồn gây bùng phát các ổ dịch sau mỗi thời kỳ
Ở nước ta hiện nay, nguy cơ bùng phát dịch LMLM còn rất cao do việc quản lý và xử lý gia súc mắc bệnh, gia súc chết không kịp thời, không đúng quy định làm cho mầm bệnh lưu hành, phát tán khắp nơi Bên cạnh đó, việc mua bán, vận chuyển động vật và sản phẩm động vật mắc bệnh không được kiểm soát chặt chẽ; tỷ lệ tiêm phòng vắc xin không cao; mầm bệnh trong môi trường không được xử lý triệt để là những nguy cơ làm phát sinh dịch bệnh
Trong những năm gần đây, bệnh LMLM thường xuyên xảy ra trên địa bàn các tỉnh Hà Tĩnh Đáng chú ý, tháng 3/2013 lần đầu tiên phát hiện dịch LMLM týp A xuất hiện tại 5 xã, phường thuộc 3 huyện, thị xã (TX Hồng Lĩnh, huyện Can Lộc và Nghi Xuân) làm cho 356 con gia súc mắc bệnh (127 trâu và 229 bò),
trong đó số con chết, tiêu hủy là 3 con (Theo nguồn dữ liệu của phòng Dịch tễ -
Cơ quan Thú y vùng III)
Hiện nay tỉnh Hà Tĩnh đã xác định sự lưu hành virus LMLM gồm 2 type
Trang 16O và A Đây là vấn đề khó khăn cho chiến lược của tỉnh Hà Tĩnh trong phòng chống bệnh LMLM, sự lưu hành virus LMLM diễn biến rất phức tạp ở gia súc và nếu những gia súc này được bán đi nhiều nơi, dẫn đến virus LMLM phát tán tràn lan, dễ dàng gây ra các đợt dịch trầm trọng; ở nhiều địa phương, nhiều ổ dịch cũ mặc dù đã được tiêm phòng nhưng vẫn mắc đi, mắc lại, làm cho người dân không tin tưởng vào việc tiêm phòng
Tỷ lệ lưu hành virus LMLM cao ở gia súc nuôi trên địa bàn và nếu những gia súc này được bán đi nhiều nơi, dẫn đến virus LMLM phát tán tràn lan, dễ dàng gây ra các đợt dịch trầm trọng ở nhiều địa phương Do đó, công tác xử lý và quản lý gia súc mắc bệnh, gia súc mang trùng, công tác kiểm dịch vận chuyển cần được chú trọng và khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay để góp phần đảm bảo hiệu quả phòng chống bệnh LMLM, ngăn chặn virus LMLM lây lan
Xuất phát từ tình hình thực tế của bệnh LMLM trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh, việc khảo sát một số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM, xác định chính xác sự lưu hành virus LMLM trên đàn trâu bò và đánh giá một số yếu tố nguy cơ làm lây lan dịch bệnh ở một số địa phương của tỉnh Hà Tĩnh là hết sức cần thiết, từ đó góp phần vào việc khống chế và thanh toán bệnh LMLM ở gia súc, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: "Giám sát sự lưu hành virus lở mồm long móng trâu bò
và đánh giá một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016"
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá thực trạng chăn nuôi trâu bò của tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2013-2016
- Tình hình dịch bệnh và mô tả một số đặc điểm dịch tễ của bệnh LMLM tại tỉnh Hà Tĩnh và các địa phương nghiên cứu giai đoạn 2013-2016
- Giám sát sự lưu virus LMLM trên trâu bò nhiễm tự nhiên bằng phương pháp 3ABC ELISA trên địa bàn Bắc tỉnh Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016
- Đánh giá được một số yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sự lưu hành virus
và khả năng phát sinh, lây lan dịch bệnh LMLM trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đánh giá tình hình chăn nuôi và thực trạng tình hình dịch bệnh, mô tả mọt số đặc điểm dịch tễ bệnh LMLM trâu bò trên toàn tỉnh Hà Tĩnh từ năm 2013-2016
Trang 17- Giám sát sự lưu hành virus LMLM và đánh giá một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh, lây lan dịch bệnh trên đàn trâu bò nuôi tại 03 huyện phía Bắc tỉnh
Hà Tĩnh từ tháng 8/2015-8/2016
1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
- Cung cấp thông tin và số liệu cụ thể, cùng những luận chứng khoa học về
sự lưu hành của virus LMLM ở trâu, bò trên địa bàn Bắc Hà Tĩnh
- Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng tình hình dịch bệnh, sự lưu hành virus LMLM trên địa bàn nghiên cứu
- Làm cơ sở cho các nhà chăn nuôi, cơ quan quản lý nhà nước về thú y
đưa ra giải pháp, xây dựng kế hoạch phòng chống dịch hiệu quả
Trang 18PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH LMLM
Bệnh LMLM là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của động vật móng guốc
chẵn như trâu, bò, lợn, dê, hươu, nai, Bệnh do vi rút thuộc họ Picornaviridae
gây ra, có khả năng lây lan nhanh, ở phạm vi rộng, không chỉ do tiếp xúc giữa động vật khỏe với động vật mắc bệnh mà còn qua nhiều đường khác nhau, kể cả qua không khí Vì vậy, bệnh thường phát thành dịch và gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi, ảnh hưởng đến kinh tế xã hội, môi trường của nhiều nước trên thế giới
2.2 TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH LMLM Ở VIỆT NAM VÀ TRÊN THẾ GIỚI 2.2.1 Tình hình dịch bệnh trên thế giới
Bệnh LMLM ở bò lần được tiên được Fracastorius mô tả vào năm 1514 tại Italy, nhưng sau đó gần 400 (vào năm 1897) các tác giả Loeffler và Frosch mới chứng minh được tác nhân gây bệnh LMLM Sau đó, vào các năm 1920, 3 serotype điển hình (O, A và C) của virus LMLM được các tác giả Vallee và Carre phát hiện tại Pháp và Waldmann phát hiện tại Đức Vào những năm 1940-
1950, các serotype khác gồm SAT1-3 và Asia1 được Pirbright, Vương Quốc Anh công nhận (Nguyễn Vĩnh Phước,1978)
Bệnh LMLM đã xuất hiện ở nhiều nước thuộc châu Á, châu Phi, châu Mỹ
La tinh và Châu Âu Điển hình là trong những năm 1981-1985, dịch xuất hiện ở
80 nước, gây nên tổn thất lớn cho nền kinh tế của những nước này Năm 1997, dịch xảy ra ở lợn trên toàn lãnh thổ Đài Loan, gây thiệt hại nặng nề về kinh tế và
để lại hậu quả xấu cho ngành chăn nuôi lợn trong nhiều năm Các nước Nhật Bản
và Hàn Quốc là những nước từ lâu không có bệnh LMLM nhưng đến năm 2000
đã xuất hiện bệnh này Tại châu Âu năm 2001, dịch đầu tiên xảy ra ở Anh, sau đó lan ra Pháp, Hà Lan, Ai Len qua con đường vận chuyển gia súc (EUFMD, 2013)
Ở khu vực Đông Nam Á, một số nước có dịch như Lào, Cam-pu-chia, Thái Lan, Myanmar, Philippines, Malaysia đã chịu những thiệt hại rất lớn do dịch gây ra Ở Thái Lan, khi bị dịch này, Chính phủ đã chi mỗi năm hàng triệu USD để khống chế dịch Ngoài ra, liên hợp quốc còn hỗ trợ thêm 36 triệu USD
để thành lập Trung tâm chẩn đoán LMLM để định chủng virus, nghiên cứu dịch
Trang 19tễ và sản xuất vắc xin Thái Lan đã có 7/9 vùng kinh tế đã sạch bệnh và ở 7 vùng này vẫn xuất khẩu động vật, sản phẩm động vật và nông sản đi nhiều nước với số lượng lớn Indonesia đã thanh toán được bệnh này từ năm 1983, Philippines đã được tổ chức Thú y thế giới (OIE) công nhận an toàn ở vùng Mindanao, Visay và Luzon (EUFMD, 2013)
Nhiều nước trên thế giới đã thanh toán được bệnh dịch LMLM như Australia, New Zealand, Philippines, các nước thuộc quần đảo Thái Bình Dương, các nước thuôc EU, các nước thuộc vùng Bắc Trung Mỹ Các nước trên đã xây dựng và triển khai thực hiện một chương trình quốc gia về tiêm phòng nhiều năm, kiểm dịch và các biện pháp khác theo quy định của Tổ chức Thú y thế giới (EUFMD, 2013)
và Khu tả ngạn Việt Bắc (Phan Đình Đỗ và Trịnh Văn Thịnh, 1958)
Năm 1960-1970, ở miền Nam dịch xảy ra lại nghiêm trọng hơn trên đàn trâu khu vực Sài Gòn-Chợ Lớn, từ đó lây ra các tỉnh lân cận và tấn công 5 trại lợn công nghiệp ở Nam bộ (Hồ Đình Chúc và cộng sự, 1978)
Từ năm 1980-1988, dịch phát ra chủ yếu ở vùng Đông Nam bộ và các tỉnh miền Trung Năm 1989, dịch phát ra mạnh ở Đồng Nai và Bình Thuận, sau đó giảm dần trong những năm 1990, 1991 Năm 1992, dịch LMLM nổ ra ở Quảng Bình, Hà Tĩnh sau đó lây lan rộng ra cả Quảng Trị và Thừa Thiên Huế Năm
1993, dịch LMLM xảy ra ở 122 xã của 18 huyện thuộc các tỉnh gồm Quảng Ninh, Hải Phòng, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Thừa Thiên Huế làm 32.260 trâu, bò
và 1.612 lợn bị bệnh (Trần Hữu Cổn, 1996)
Trong những năm cuối thập kỷ 80, một số tỉnh phía Nam như An Giang, Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Tháp thường xuyên bị dịch LMLM do lây lan từ Campuchia sang Năm 1989, riêng tỉnh Đồng Nai có 3 huyện là Long Đất, Long Thành và Xuyên Mộc bị dịch kéo dài từ đầu tháng 5 đến giữa tháng 10, làm
Trang 203.514 con trâu, bò và lợn bị bệnh (Trần Hữu Cổn, 1996)
Năm 1990, dịch cũng xuất hiện ở 4 huyện thuộc tỉnh Thuận Hải, làm hơn 7.500 con trâu, bò bị bệnh Dịch cũng xảy ra ở huyện Lộc Ninh, tỉnh Sông Bé làm 100 con trâu, bò bị ốm, không cày kéo được (Bộ NN & PTNT, 2011)
Năm 1995 dịch LMLM xảy ra ở 107 huyện của 26 tỉnh làm 236.000 trâu,
bò và 11.000 lợn mắc bệnh (Lê Minh Chí, 1996)
Theo Trần Hữu Cổn (1996), trong suốt các năm từ 1975-1995 dịch liên tục phát ra trên đàn trâu, bò Có thể nói năm 1995 là giai đoạn đỉnh điểm: trên 26 tỉnh thành có dịch và số lượng gia súc mắc bệnh khá lớn Năm 1995, tại khu vực phía Nam đã có 10.293 lợn mắc bệnh Nguồn bệnh năm 1995, theo tác giả trên,
là do sự mua bán và vận chuyển gia súc bệnh từ Campuchia vào các tỉnh Kiên Giang, Đồng Tháp và lan rộng bệnh ra khắp các tỉnh thành phía Nam
Năm 1996, 1997 dịch xảy ra nặng một số tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên Năm 1998 và đầu năm 1999 tại Bình Thuận dịch LMLM làm 2.449 trâu bò mắc bệnh ở 20 xã của 3 huyện thị Sáu tháng đầu năm 1999, thành phố
Hồ Chí Minh, Kiên Giang, Tiền Giang, Đồng Nai đều có bệnh LMLM
Giữa tháng 6 năm 1999, dịch phát ra ở huyện Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng, sau
đó lây lan nhanh sang các địa phương khác Nguồn bệnh từ Trung Quốc đưa sang theo con đường trao đổi, buôn bán gia súc Sau đó, dịch phát ra ở các tỉnh Bắc Ninh, Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bắc Giang, Vĩnh Phúc,
Hà Tây… Tính đến ngày 31/12/1999, 55 tỉnh thành phố có gia súc bệnh, số trâu
Năm 2001, dịch LMLM còn xảy ra và tái phát trên đàn trâu bò của 11 tỉnh với 23 huyện, 35 xã, làm 2.072 con mắc bệnh (trong đó 7 tỉnh miền núi phía Bắc) Trên lợn, dịch LMLM xảy ra ở 11 tỉnh với 31 huyện, 52 xã chủ yếu thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm 3.311 con mắc bệnh (Cục Thú y, 2004)
Năm 2004, dịch LMLM đã xuất hiện ở 932 xã, phường thuộc 232 quận,
Trang 21huyện ở 48 tỉnh, thành phố làm 71.736 trâu bò, 125 dê và 1.858 lợn mắc bệnh Trước thời điểm 2001, các kết quả xét nghiệm đối với các mẫu bệnh phẩm tại Việt Nam chỉ phát hiện thấy có vi rút LMLM type O Sau đó, đã phát hiện vi rút LMLM type A trên các mẫu bệnh phẩm được lấy từ các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hoà, Long An, Đồng Nai, Lâm Đồng Nguyên nhân của sự xuất hiện vi rút LMLM type A có thể là do việc nhập lậu bò
2006, 2007, 2008, 2009)
Năm 2006, dịch LMLM trâu bò đã xảy ra tại 1.410 xã phường của 283 huyện, thị thuộc 47 tỉnh, thành phố, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi Số gia súc mắc bệnh là 114.015 con trâu bò Dịch LMLM trên lợn cũng xảy ra tại 516 xã, phường của 191 huyện, thị thuộc 54 tỉnh, thành phố làm 44.450 con lợn mắc bệnh Năm 2006 toàn quốc đã xử lý tiêu hủy 4906 con trâu bò và 31.087 con lợn Trong năm 2006 dịch LMLM xảy ra chủ yếu là type O Vi rút LMLM type Asia1 xuất hiện thêm ở Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng và Thái Bình (Cục thú y, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009)
Năm 2007, cả nước có 37 tỉnh xuất hiện dịch LMLM trong đó: 25 tỉnh (294 xã, phường của 225 huyện, quận) có bệnh LMLM ở trâu bò và 26 tỉnh (172
xã, phường của 71 huyện, quận) có LMLM ở lợn, 18 tỉnh có bệnh LMLM trâu
bò và lợn Tổng số gia súc mắc bệnh là 11.355 trâu, bò và 12.386 lợn; số gia súc chết và tiêu huỷ là 3.765 trâu bò và 11.122 lợn Dịch LMLM xảy ra cả 3 miền, ở các tỉnh Duyên hải miền Trung và Tây nguyên dịch chủ yếu trên đàn trâu bò; ở các tỉnh Nam bộ dịch chủ yếu trên đàn lợn Hầu hết các ổ dịch LMLM xảy ra là type O; type A chỉ xảy ra ở tỉnh Phú Yên, type Asia1 xảy ra ở Quảng Trị và Thanh Hoá (Cục thú y, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009)
Năm 2008, dịch LMLM xảy ra ở 122 xã của 43 huyện thuộc 14 tỉnh, làm 2.408 con trâu bò và 67 con lợn mắc bệnh Tổng số trâu bò buộc phải giết hủy là
218 con trâu bò và 39 con lợn Dịch chủ yếu trên đàn trâu bò Hầu hết các ổ dịch
Trang 22LMLM xảy ra là do type O Tuy nhiên, tháng 12/2008 đã xuất hiện vi rút type A gây dịch tại Nghệ An (Cục thú y, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009)
Năm 2009, dịch đã xảy ra ở 229 xã thuộc 87 huyện của 27 tỉnh, thành phố với tổng số 7.861 con trâu, bò mắc bệnh, 432 con phải tiêu hủy, trong đó có 35
xã thuộc 23 huyện của 16 tỉnh, thành phố có lợn bị mắc bệnh LMLM, với tổng số
499 con lợn mắc bệnh, 429 con phải tiêu hủy Dịch LMLM xảy ra trên địa bàn các tỉnh Bắc Trung bộ, Duyên hải miền Trung và Tây Nguyên và các tỉnh miền núi phía Bắc Dịch xảy ra trên quy mô rộng vào tháng 9/2009, cao điểm nhất có tới trên 91 ổ dịch xuất hiện trong tháng, các tháng khác dịch xảy ra ít hơn và rải rác tại nhiều địa phương Dịch LMLM type A xuất hiện tại vùng miền núi phía Bắc (Sơn La, Bắc Giang và Hà Giang), Tây Nguyên (Kon Tum), đồng bằng sông Cửu Long (Long An) - là những vùng đã lâu không có type vi rút này (Cục thú y,
Năm 2012 - 2015: Dịch có xu hưởng giảm dần về phạm vi không gian (Bộ NN & PTNT, 2016)
Năm 2013, dịch xảy ra trên địa bàn 145 xã, thuộc 44 huyện của 9 tỉnh, tổng số gia súc mắc bệnh là 5.648 con, tiêu hủy 1.193 con, đặc biệt type A xuất hiện tại miền Trung và dịch xảy ra nặng nề, dịch LMLM đã xảy ra tại 122 xã, 25 huyện, 04 tỉnh: Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An và Thanh Hoá làm 2.880 con gia súc mắc bệnh, tiêu huỷ 524 con (Nguồn từ phòng Dịch tễ - Cục thú y và Cơ quan thú y vùng III)
2.3 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH LMLM
2.3.1 Động vật cảm nhiễm
Có sự khác biệt rõ ràng về số lượng và tỷ lệ các loại gia súc mắc bệnh và chết vì bệnh LMLM trong giai đoạn 2006 – 2012 Tỷ lệ trâu mắc bệnh cao nhất, sau đó đến bò, lợn và các loài gia súc khác Lý do trâu, bò là đối tượng chủ yếu được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam, những gia súc này chưa được
Trang 23tiêm phòng hoặc đã được tiêm phòng nhưng không có khả năng bảo hộ trước các chủng vi rút LMLM hiện đang lưu hành tại Việt Nam Trong khi đó, hầu như không có lợn được vận chuyển từ nước ngoài vào nước ta Mặt khác, mật độ chăn nuôi lợn tại các tỉnh biên giới giáp Trung Quốc và Lào cũng thấp, dẫn đến
vi rút LMLM lây lan giữa các đàn lợn thấp hơn Một đặc điểm nữa là trâu, bò thường được chăn thả ngoài tự nhiên ở các tỉnh miền núi làm tăng nguy cơ phơi nhiễm với mầm bệnh và dễ nhiễm bệnh hơn Ngoài ra, cũng có thể do đặc tính của các chủng vi rút LMLM ở khu vực thích ứng dễ phát triển và gây bệnh ở trâu, bò hơn ở lợn, trong khi tỷ lệ tiêm phòng đạt mức độ thấp (Ngô Thanh Long, 2013)
2.3.2 Nguy cơ gia súc mắc bệnh
Có sự khác biệt rõ ràng về nguy cơ có dịch LMLM của một số tỉnh như
Hà Giang, Cao Bằng, Thái Nguyên, Lai Châu, Kon Tum, Lạng Sơn, Điện Biên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Tiền Giang Đây cũng chính là các tỉnh thường xuyên có dịch xảy ra hàng năm và mức độ dịch cũng thường trầm trọng
Lý do có thể giải thích như sau: Các tỉnh này có chung đường biên giới với các nước như Trung Quốc và Lào, trong khi đó tình trạng vận chuyển gia súc qua biên giới là tương đối phổ biến Do đó, rất có thể yếu tố vận chuyển qua biên giới
là một trong nguyên nhân dẫn đến dịch thường xuyên xuất hiện Tương tự, các tỉnh nằm trên đường quốc lộ Bắc Nam cũng có nguy cơ xuất hiện dịch LMLM cao hơn Phân tích không gian cho thấy, dịch LMLM có tính chất lây lan cục bộ tại các địa phương này Vì vậy, nghiên cứu về vận chuyển gia súc qua biên giới
và vận chuyển dọc theo đường quốc lộ là rất cần thiết, để từ đó đề xuất các biện pháp kiểm dịch vận chuyển có hiệu quả hơn, nhằm khống chế dịch bệnh tốt hơn Mặt khác, cũng có thể do công tác tiêm phòng chưa đạt được tỷ lệ tiêm như mong muốn (Ngô Thanh Long, 2013)
Báo cáo của Ngô Thanh Long (2013) cũng cho thấy, các tuyến đường vận chuyển trâu bò vào Việt Nam đa dạng, phức tạp (hình 2.1) Trâu bò từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu từ Mianma, Thái Lan, Lào và Campuchia vào Việt Nam; một số trâu bò nhập từ Trung Quốc Các nước này đều có dịch LMLM, có
cả type O và A (Trung Quốc và Thái Lan), lượng gia súc nhập lậu qua biên giới không qua kiểm soát rất lớn, vì vậy nguy cơ nhập khẩu trâu bò mang mầm bệnh LMLM vào Việt Nam là rất cao; nguy hại hơn là có cả trâu bò nhập về nuôi tại
Trang 24Việt Nam nhưng cũng không thể kiểm soát Vùng biên giới phía tây chủ yếu là địa hình đồi núi, đồng bào dân tộc sinh sống, trâu bò nuôi thả rông, không thể quản lý và tiêm phòng vắc xin phòng bệnh
Hình 2.1 Tình hình lưu hành virus LMLM tại các nước Đông Nam Á thông
qua vận chuyển trâu, bò
Nguồn: Báo cáo của Ngô Thanh Long trong Hội nghị phòng chống dịch LMLM ở gia
súc tại Nghệ An (2013)
2.3.3 Type virus gây bệnh và phân bố dịch bệnh
Ở Việt Nam, từ năm 1995 đến cuối năm 2001, Cục Thú y đã xác định virus gây bệnh LMLM chỉ có chủng O, hàng năm đều lấy mẫu gửi đến Phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới (Pirbright - Anh) để xác định lại chủng virus Do vậy, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã quyết định chỉ sử dụng vắc xin LMLM đơn giá chủng O trong thời gian này Tháng 8 năm 2004, kết quả xét nghiệm của Cơ quan Thú y vùng VI đã phát hiện virus LMLM chủng A trên các mẫu bệnh phẩm được lấy từ các tỉnh Bình Định, Bình Thuận, Ninh Thuận và Long An Nguyên nhân của sự xuất hiện virus LMLM type A có thể là do việc nhập lậu bò từ Campuchia Từ tháng 10 năm 2005, Cơ quan Thú y vùng VI đã phát hiện virus LMLM type Asia1 tại tỉnh Khánh Hòa, Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương phát hiện virus type Asia1 tại tỉnh Lào Cai từ năm 2006 do vận chuyển trâu bò trái phép từ Trung Quốc Do vậy, trâu bò được tiêm vắc xin
Trang 25LMLM chủng O, A ở các tỉnh Trung Bộ, Tây Nguyên và các tỉnh miền núi biên giới phía Bắc không được bảo vệ phòng bệnh với virus LMLM type Asia1 nên vẫn bị bệnh Năm 2008, hầu hết các ổ dịch LMLM xảy ra là do type O Riêng tháng 12/2008, virus type A đã xuất hiện tại Nghệ An Năm 2009, hầu hết các ổ dịch LMLM xảy ra là do type O, type A xuất hiện ở các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Bắc Giang, Kon Tum và Long An Năm 2010, dịch LMLM tập trung ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung - Tây Nguyên và một số tỉnh miền núi phía Bắc; dịch xảy ra chủ yếu ở những nơi gia súc không tiêm phòng vắc xin,
kể cả những tỉnh trong chương trình quốc gia phòng chống LMLM Dịch có tính chất lây lan cục bộ là chủ yếu, tập trung ở các tỉnh phía Bắc, Nam Trung
bộ, Tây Nguyên và Đông Nam bộ, nhất là các địa phương nằm giáp biên giới Trung Quốc và Lào Năm 2012, dịch có xu hướng giảm về phạm vi không gian
(Cục thú y, 2013)
Phân bố dịch bệnh LMLM tại Việt Nam trong những năm gần đây có thể tóm tắt như sau: Năm 2006 dịch LMLM phân bố rải khắp các miền trong cả nước, có tập trung tại các tỉnh phía Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ Giai đoạn 2007-2009 phân bố không gian của các ổ dịch hẹp hơn,
nhưng vẫn tập trung ở các tỉnh Nam Trung Bộ Năm 2009 phân tích rà soát thống
kê không gian cho thấy chùm không gian ổ dịch LMLM là rất rõ nét tại các tỉnh Lạng Sơn và Lai Châu Năm 2010, dịch xuất hiện rõ nét tại các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Điện Biên và Lai Châu, đồng thời dịch vẫn khu trú tại các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên Năm 2011, dịch xuất hiện rõ nét chùm không gian tại
các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và kéo dài lên tận Hà Giang Năm 2012, dịch có xu
hướng giảm dần về phạm vi không gian (Nguyễn Thu Thủy và cộng sự, 2013)
Nhìn chung, trong giai đoạn 2006-2015 dịch LMLM tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, nhất là các địa phương giáp Trung Quốc và Lào Trong khoảng thời gian từ năm 2006 – 2015, tổng số có 5.700 ổ dịch LMLM đã xuất hiện tại 3.004 xã, phường, thị trấn của
487 huyện, thị xã, thành phố thuộc 62/63 tỉnh thành (trừ tỉnh Bình Thuận) Dịch
đã xuất hiện ở 3.004/11.098 (26%) xã, phường trong phạm vi cả nước Điều này cho thấy mức độ lưu hành bệnh tại các địa phương là khá cao Tỉnh Bình Thuận không có báo cáo về bệnh LMLM không có nghĩa là chưa có virus LMLM lưu hành và gây bệnh ở đây Rất có thể do các ổ dịch nhỏ lẻ không được báo cáo
hoặc do chưa quan sát được các ca bệnh lâm sàng tại tỉnh này (Cục thú y, 2013)
Trang 262.3.4 Phân bố các type virus LMLM tại Việt Nam
Theo Công văn số: 1816/TY-DT, ngày 21/10/2013, của Cục Thú y về việc lưu hành virus cúm gia cầm và LMLM năm 2013 Sự lưu hành virus LMLM như sau:
Virus LMLM type O: lưu hành tại các tỉnh Bắc Kạn, Bắc Ninh, Cà Mau, Cao Bằng, Đăk Lăk, Hà Tĩnh, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Long An, Nghệ An, Phú Yên, Quảng Nam, Quảng Trị, Sơn La, Tiền Giang, Thanh Hóa và Vĩnh Long Virus LMLM phân lập tại Việt Nam trong năm 2013 vẫn là type OpanAsia(tương tự năm 2012) Kết quả đánh giá của Phòng thí nghiệm tham chiếu thế giới (WRLFMD, Pirbright, Anh) về sự tương đồng giữa chủng virus lưu hành thực địa của Việt Nam và chủng vắc xin O3039 cho chỉ số tương đồng r1>1 và
OManisa cho r1>0,43 (theo khuyến cáo, vắc xin tốt chỉ số r1≥0,3)
Bảng 2.1: Phân bố các type virus LMLM tại Việt Nam năm 2013
Trang 27Virus LMLM type A: lưu hành chủ yếu tại các tỉnh Hà Tĩnh (mẫu được
lấy tại thị xã Hồng Lĩnh và huyện Can Lộc), Thanh Hóa (huyện Quảng Xương), Quảng Nam (huyện Tây Giang) và Quảng Trị (huyện Triệu Phong) Virus phân lập tại Việt Nam năm 2013 thuộc type ASea-97 Kết quả đánh giá về sự tương đồng cho thấy vắc xin có chứa thành phần kháng nguyên là A22 Irq có tính tương đồng cao (r1 > 0,3) so với virus LMLM type A phân lập tại Việt Nam
2.3.5 Thời gian và tần suất mắc bệnh
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thủy và cộng sự (2013), dịch LMLM chủ yếu tập trung vào các tháng 3-7 (năm 2006) và từ tháng 9 đến 3 năm sau (năm 2009-2011) Khoảng 2-3 năm lại xuất hiện một đợt dịch trầm trọng, mặc dù dịch vẫn xảy ra rải rác trong các năm Lý do là sau một năm xuất hiện dịch bệnh trầm trọng, các biện pháp phòng chống dịch được triển khai: vệ sinh, khử trùng tiêu độc, hạn chế vận chuyển, tiêm phòng vắc xin phòng bệnh, do
đó năm liền kề tiếp theo dịch xảy ra ít trầm trọng hơn Sau đó, quá trình lưu thông, tiếp xúc làm cho virus LMLM lưu hành rộng rãi, các biện pháp phòng chống dịch bị lơ là, miễn dịch của gia súc giảm nên dịch bệnh lại xuất hiện trầm trọng Các đợt dịch thường kéo dài khoảng 2,5 tháng
2.4 ĐẶC TÍNH SINH HỌC CỦA VIRUS LMLM
2.4.1 Hình thái, kích thước và phân loại của vi rút LMLM
Vi rút bệnh LMLM thuộc giống Aphthovirus, họ Picornaviridae, có cấu
trúc hình đa diện gồm 30 mặt đều, thuộc loại vi rút nhỏ nhất, kích thước từ 20-30
nm và có thể qua được các màng lọc Berkefeld, Chamberland và màng lọc Seiz Trọng lượng phân tử của một vi rút hoàn chỉnh khoảng 6,9 Kda, 69% là protein
và 31% là ARN (Nguyễn Như Thanh, 2001)
2.4.2 Cấu trúc gen của vi rút LMLM
Vi rút LMLM thuộc loại không có vỏ bọc, nhân của vi rút LMLM có cấu trúc gen là ARN chuỗi đơn, bao gồm 8450 ba-zơ và có hệ số sa lắng là 35s, không có tính sinh kháng thể và đặc tính kháng nguyên nhưng có vai trò trong quá trình gây nhiễm Vỏ cap-xit của vi rút có hơn 60 đơn vị (cap-xôm) Mỗi cap-xôm có 4 loại protein cấu trúc giống nhau là VP1, VP2, VP3 và VP4 VP1, VP2
và VP3 tạo nên một bề mặt của khối 20 mặt đối xứng với đường kính khoảng 23nm còn VP4 là protein ở bên trong cap-xit, kết dính ARN vi rút với mặt trong của capxit VP1 ở ngoài cùng tham gia vào việc cố định vi rút trên những tế bào,
Trang 28đóng vai trò quan trọng nhất trong việc gây bệnh, đồng thời là loại kháng nguyên
chính tạo ra kháng thể chống lại bệnh LMLM (Dnalson.A., 1999)
2.4.3 Phân loại týp huyết thanh học (serotype)
Cho đến nay vi rút LMLM được phát hiện gồm 7 týp khác nhau đó là: O,
A, C, SAT-1, SAT-2, SAT-3 và Asia1 Các týp này có tính kháng nguyên không giống nhau và giữa các týp không gây miễn dịch chéo nhưng chúng gây các triệu chứng, bệnh tích ở động vật rất giống nhau Trong mỗi týp lại có các sub-týp Đến nay đã phát hiện được trên 70 sub-týp vi rút Các sub-týp được ký hiệu gồm tên của týp chính và đánh dấu theo thứ tự ngày tháng phát hiện ra chúng, ví dụ: A22, O11 Gần đây nhất, xuất hiện sub-týp O từ Trung Quốc và được gọi là sub-týp O thích nghi trên lợn Sub-týp này có đặc điểm là gây bệnh nặng cho lợn, đối với bò chúng thường không gây bệnh hoặc gây bệnh nhẹ hơn Hiện nay, sub-týp này vẫn đang lưu hành tại Đài Loan, Hồng Kông (Trung Quốc) và Việt Nam
(Tô Long Thành và ctv, 2005)
2.4.4 Đặc tính nuôi cấy của virus LMLM
Virus LMLM có tính hướng thượng bì, nên nhiều tác giả đã nuôi cấy chúng trên da của thai lợn, thai bò còn sống (giữ thai sống bằng phương pháp nhân tạo)
Nếu nuôi cấy virus trên động vật thí nghiệm như thỏ, chuột lang, chuột nhắt trưởng thành thì virus hay bị biến đổi và thường mất đặc tính gây bệnh
Nuôi cấy trên màng niệu nang của trứng thì kết quả không chắc chắn, có khi được có khi không
Tổ chức để nuôi cấy thích hợp nhất cho virus LMLM là thượng bì lưỡi bò trưởng thành Lưỡi phải lấy ngay khi mổ bò, giữ lạnh ở 2-3oC và chỉ sử dụng được trong vòng 8 ngày Phương pháp này cho kết quả tốt, ưu điểm là độc lực của virus sau nhiều lần tiếp đời vẫn cao đối với bò và động vật thí nghiệm Do
đó, người ta thường dùng phương pháp này để chế vắc xin vô hoạt
Ngoài ra, có thể nuôi cấy virus LMLM trên môi trường tế bào Tốt nhất là
tế bào lấy từ tuyến yên của bò hoặc của lợn, thận bê hoặc cừu non hoặc các dòng
tế bào mẫn cảm như tế bào BHK (Baby Hamster Kidney) Sau khi cấy virus vào các môi trường tế bào này, để tủ ấm 37oC trong 24-72 giờ, virus sẽ làm hủy hoại
tế bào nuôi (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Trang 292.4.5 Độc lực của virus LMLM
Độc lực của virus có thể hiểu là khả năng gây bệnh lâm sàng của virus, nói cách khác độc lực là mức độ gây bệnh của virus Đối với virus LMLM, mọi chủng virus đều được coi là cường độc, không có chủng nhược độc (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Về mặt lâm sàng, động vật nhiễm virus có thể biểu hiện triệu chứng lâm sàng dưới nhiều mức độ khác nhau, từ nặng đến nhẹ hay thậm chí là ở thể ẩn Ngay trong cùng một ổ dịch (do cùng một loại virus gây ra) cũng vậy, ta có thể thấy nhiều dạng bệnh khác nhau
Ở virus LMLM, tính kháng nguyên và độc lực là hai phạm trù hoàn toàn độc lập với nhau Đối với một số virus khác, khi bị nhược độc thì tính kháng nguyên có khả năng giảm đi hoặc khả năng gây bệnh cho một loài động vật này
có thể gắn liền với một tính kháng nguyên riêng biệt nào đó Virus LMLM không
có các đặc điểm trên Do vậy, ta có thể thấy các hiện tượng sau: Một chủng virus
có cùng một tính kháng nguyên lần này hoặc nơi này thì chỉ gây bệnh cho lợn những lần khác hoặc nơi khác thì lại chỉ gây bệnh cho bò hay cho cả hai loài Điều này đúng cho cả 7 type kháng nguyên
2.4.6 Sức đề kháng của virus LMLM
Virus LMLM không có vỏ bọc, do đó chúng có sức đề kháng cao với dung môi hữu cơ (cồn, ete ) nhưng lại mẫn cảm với ánh sáng mặt trời, acid,
formon (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Vius LMLM khá bền vững trong điều kiện tự nhiên Virus thích nghi nhất với pH trong khoảng 7,2-7,6 và có thể tồn tại ở pH 6,7-9,5 nếu nhiệt độ giảm xuống ở mức 4oC hoặc thấp hơn Ở pH < 5 hoặc >11 virus bị vô hoạt nhanh Vì vậy, trên thực tế không nên dùng cồn để làm chất khử trùng Khi virus ở trong các dịch tự nhiên đang khô đi trong phân, nước tiểu hay rơm rạ, chất độn chuồng thì tính gây bệnh của virus tương đối bền vững với tác động vô hoạt (Donaldson A.I, 1988)
Ở nhiệt độ 60-700C virus chết sau 5-15 phút, đun sôi 1000C chết ngay lập tức Ngược lại, ở nhiệt độ lạnh có thể bảo tồn virus: Trong tủ lạnh, virus sống được 425 ngày
Đối với ánh sáng tác động yếu: Trên mặt đồng cỏ, virus sống ít nhất 2 tháng về mùa đông, 3 ngày về mùa thu, virus còn hoạt lực 4 tuần lễ trên lông bò
Trang 30Trong đất ẩm ướt virus có thể sống hàng năm
Sức đề kháng của virus phụ thuộc phần lớn vào chất chứa nó Virus có sức
đề kháng tương đối mạnh khi nó dính vào những chất khô hay những chất protein, ví dụ trong cỏ khô virus sống được 8-15 tuần, trong tủy xương dài, phủ tạng virus có thể sống 40 ngày Ở trong tổ chức và mô bào virus có sức đề kháng mạnh với những chất hoá học sát trùng có thể giết được vi khuẩn khác
Virus có thể tồn tại được khoảng 5-10 tuần ở những nơi thời tiết mát, đặc biệt là ở các mô bào hoặc ở các tổ chức ngoài cơ thể với điều kiện pH không thấp hơn 6,5 Tại chuồng của trâu bò, virus có thể duy trì khoảng 14 ngày, ở trong chất thải của động vật được khoảng 39 ngày, trên bề mặt của phân ở mùa thu được 28 ngày và ở mùa đông được 67 ngày Virus có thể sống lâu hơn ở trong thức ăn, ở lông trâu bò được 4 tuần, trong nước thải được trên 130 ngày Trong các sản phẩm của động vật, virus bị bất hoạt khi có sự acid hoá của sữa và thịt
Đối với hoá chất, virus có sức đề kháng mạnh với những chất sát trùng thông thường: Crezon 3% sau 6 giờ, Clorofoc 1% 20 ngày virus vẫn còn độc lực
Vì thế, phải dùng chất sát trùng mạnh NaOH 1% diệt virus trong 1- 10 phút Tốt nhất dùng nước vôi 5-10%, formon 2% diệt trong 6 giờ (Nguyễn Như Thanh và
cộng sự, 2001)
2.4.7 Loài vật mắc bệnh
Trong tự nhiên: Trâu, bò, dê, lợn, lạc đà, hươu, bò rừng Bò là động vật cảm nhiễm nhất Bò là một thành phần đóng vai trò quan trọng trong dịch tễ bệnh LMLM bởi sự cảm nhiễm cao và khả năng bài thải virus LMLM ít nhất 4 ngày trước khi xuất hiện những triệu chứng lâm sàng đầu tiên Mặc dù vậy, cừu và dê cũng nhiễm bệnh LMLM thường không biểu hiện triệu chứng hoặc có biểu hiện không rõ dưới dạng tiền lâm sàng Lợn là nguồn phát tán mầm bệnh LMLM quan trọng, bài thải và phát tán lượng lớn virus LMLM trong không khí Do vậy, lợn được coi là vật chủ cho virus LMLM nhân lên và bò là sự chỉ điểm cho sự có mặt của virus LMLM Cừu có thể là vật dự trữ bởi vì chúng thường mắc ở thể nhẹ hoặc không xuất hiện triệu chứng lâm sàng, không những thế virus LMLM còn có khả năng gây nhiễm ở một số loại động vật khác trong cùng một vùng nhiễm bệnh (Reid SM, Hutchings, 2002)
- Động vật hoang dã: Voi, lạc đà, lợn rừng, bò rừng, sơn dương, nhiều loại gặm nhấm và loài nhai lại hoang dã mẫn cảm với bệnh và chúng là nguồn bệnh
Trang 31trong thiên nhiên
- Trong phòng thí nghiệm: Có thể gây bệnh cho bê, chuột nhắt trắng, chuột xám, thỏ, chuột lang Khía da bàn chân chuột rồi xát bệnh phẩm có chứa virus lên, sau 12-24 giờ chỗ chà xát có nổi mụn nhỏ màu đỏ, thủy thũng, đau, sau 2-3 ngày có thể nhiễm trùng toàn thân và có nhiều mụn ở niêm mạc mồm, lưỡi, lợi
2.4.8 Chất chứa mầm bệnh
Ở cơ thể bệnh súc, virus có nhiều trong các bệnh tích đặc hiệu, các mụn nước, dịch của mụn và màng bọc mụn Virus có nhiều nhất trong dịch lâm ba của những mụn sơ phát Virus có ở trong máu, nội tạng Virus tồn tại ở trong nước dãi, nước tiểu, phân, sữa, nước mắt, nước mũi, nhiều nhất khi mụn ở miệng vỡ và
có thể kéo dài đến 11 - 13 ngày Trước khi có triệu chứng, các chất bài tiết đã truyền được bệnh nhất là khi cơn sốt cao nhất với vai trò chính là nước bọt Tường, nền, máng ăn, độn lót chuồng, rơm cỏ, các đồ vật dụng cụ chăn nuôi và chuồng nuôi súc vật bệnh đều có thể chứa virus
Từ những chất chứa trên, bệnh có thể lây lan trực tiếp do tiếp xúc giữa động vật bệnh và động vật cảm nhiễm Bệnh có thể lây gián tiếp qua thức ăn, nước uống, đồ vật dụng cụ chăn nuôi bị nhiễm trùng, quần áo tay chân người chăn nuôi
2.4.9 Đường lây truyền của virus
Vi rút gây bệnh LMLM có thể lây truyền trực tiếp giữa con mắc bệnh và con khoẻ khi nhốt chung hoặc chăn thả chung trên đồng cỏ Vi rút từ nước bọt, dịch mụn nước, các chất bài xuất, bài tiết của con vật mắc bệnh xâm nhập vào con khoẻ Bệnh cũng có thể truyền lây gián tiếp thông qua thức ăn, nước uống, máng ăn, máng uống, nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, tay chân, quần áo người chăn nuôi bị nhiễm vi rút
Chó, mèo, gà, chim muông, hoang thú, côn trùng không mắc bệnh nhưng
có thể truyền bệnh theo con đường cơ học từ nơi này đến nơi khác Những con vật đã khỏi bệnh nhưng vẫn mang vi rút trong móng chân, máu, nước tiểu là nguồn gốc gây ra các ổ dịch mới Gió cũng là một yếu tố quan trọng trong việc làm lây lan bệnh qua không khí
Loài nhiễm bệnh có thể có những ảnh hưởng đáng kể đến sự lây lan Ví
dụ, một con lợn có khả năng bài thải ra môi trường 400 triệu đơn vị lây nhiễm
vi rút trong một ngày Loài nhai lại bài thải 120.000 đơn vị lây nhiễm trong
Trang 32một ngà
Một đặc điểm quan trọng là vi rút LMLM thường được bài xuất ra ngoài trước khi con vật có biểu hiện bệnh Phòng thí nghiệm tham chiếu quốc tế Pirbright đã chứng minh với týp O, lợn bài xuất vi rút trước khi có dấu hiệu lâm sàng đầu tiên là 10 ngày, bò và cừu là 5 ngày, trung bình là 2,5 ngày
Sau khi mụn vỡ, những vết tích trên thượng bì được lấp bằng nhanh chóng, không để lại sẹo do tế bào của lớp Manpighi vẫn nguyên vẹn Mụn nước chỉ loét khi nhiễm khuẩn kế phát, vi khuẩn sinh mủ, gây hoại tử xâm nhập gây bệnh lý cục bộ ăn sâu vào trong, có khi gây bại huyết, con vật có thể chết
Thời kì nung bệnh thường từ 1-3 ngày khi gây bệnh thực nghiệm, 2-7 ngày hoặc 11 ngày khi gây bệnh trong tự nhiên (Tô Long Thành và cộng sự 2005)
2.4.11 Sự mang trùng của động vật mẫn cảm
Số lượng động vật mang trùng trong một quần thể phụ thuộc vào loài động vật đó, khả năng chống chịu với sự nhiễm bệnh (sự mẫm cảm), trạng thái miễn dịch của đàn (tiêm hoặc chưa tiêm vắc xin), trâu bò mang trùng có thể kéo dài 3-5 năm, điều này cũng thấy ở cừu và dê nhưng không thấy ở lợn Trâu châu Phi mang trùng tới 5 năm, bò châu Phi có thể mang virus LMLM hơn 3 năm Một điều đặc biệt ở bệnh LMLM là lợn không mang trùng (Hoàng Thị Xuân Mai, 2004; Dnalson A., 1999)
Cơ chế của sự hình thành và duy trì trạng thái mang trùng vẫn chưa được biết rõ, theo Alexandersen và cộng sự đã giả thuyết hai cơ chế cho sự phát triển của virus LMLM trong hầu họng Một giả thuyết cho rằng, virus LMLM có thể
Trang 33nhiễm vào tế bào của hệ thống miễn dịch, ví dụ như đại thực bào hoặc các tế bào ở các cơ quan có thẩm quyền miễn dịch, làm cho chúng có thể tránh được sự đáp ứng miễn dịch Theo Baxt và Mason đã xem xét sự nhân lên của virus LMLM trong bạch cầu đơn nhân lớn ngoại vi trên bò và đã chỉ ra rằng virus LMLM có thể nhiễm … (Dnalson A., 1999)
Nếu có sự xâm nhập của vi khuẩn kế phát vào bệnh tích sẽ làm cho vết thương nặng hơn và gây trở ngại cho việc điều trị Sẩy thai và vô sinh là hậu quả phổ biến, sản lượng sữa giảm và thậm chí gây viêm vú Gia súc non mẫn cảm hơn gia súc trưởng thành; bê, nghé có tỷ lệ chết cao, có thể chết mà không có triệu chứng điển hình
- Ở lợn: Thời gian nung bệnh từ 2-12 ngày, nhiều triệu chứng lâm sàng giống như loài nhai lại Đầu tiên lợn có biểu hiện đi lại khó khăn, khập khiễng hoặc không muốn di chuyển, hay nằm hoặc ngồi bằng khớp chân trước Con vật kém ăn hoặc bỏ ăn, có hoặc không chảy nước dãi Mụn nước nổi lên quanh mũi, sống mũi, niêm mạc miệng (thường không phổ biến), đầu vú hay quanh bầu vú
Ở lợn, các triệu chứng lâm sàng của LMLM không thể phân biệt được với các bệnh có mụn nước khác như viêm miệng mụn nước, ngoại ban có mụn nước,
và các bệnh mụn nước ở lợn (Callis J.J và Kercher P.D., 1986)
2.5.2 Bệnh tích
Bệnh tích chủ yếu của bệnh LMLM là các mụn nước nằm ở xong miệng,
gờ vành móng, đầu vú và móng chân Nói cách khác, bệnh tích chủ yếu nằm ngoài cơ thể Bệnh tích bên trong chủ yếu là hoại tử các cơ bắp, trong đó chủ yếu
là thoái hóa cơ tim Khi khám thấy mặt ngoài của tim có các vết xuất huyết, có
Trang 34vệt như da hổ nên gọi là "tim hổ" Đây là bệnh tích có ý nghĩa quan trọng trong kiểm soát giết mổ Các bệnh tích khác (loét niêm mạc, xuất huyết thoái hóa tụy)
không có nhiều ý nghĩa (Nguyễn Tiến Dũng, 2000)
Nếu bệnh nặng, gia súc có thể bị chết Tỷ lệ chết cao thường thấy ở gia súc non Khi con vật chết do biến chứng thì thấy các bệnh tích mưng mủ, hoại tử, nhất là ở các ngón chân, thối xương, thối gân Nếu không bị bội nhiễm hoặc biến chứng thì dần dần gia súc hồi phục nhưng còn để lại các di chứng là các vết sẹo ở miệng, vú, vành móng
2.6 CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẨN ĐOÁN BỆNH LMLM
2.6.1 Chẩn đoán lâm sàng
Chẩn đoán lâm sàng bệnh LMLM có thể thực hiện khi bệnh xẩy ra tại khu vực đã được xác định là có dịch LMLM (Nguyễn Tiến Dũng, 2000) Hoặc căn cứ các đặc điểm dịch tễ như: tốc độ lây lan nhanh, tỷ lệ mắc cao, tỷ lệ chết thấp, động vật móng guốc chẵn đều mắc bệnh
Triệu chứng chủ yếu là con vật sốt cao, chảy nước bọt nhiều, có biểu hiện què, có các mụn nước ở niêm mạc miệng, lợi, chân răng, lưỡi, kẽ móng, gờ móng, ở vú Những gia súc mới khỏi bệnh thì trên niêm mạc miệng, lợi, chân răng, lưỡi, kẽ móng có các vết sẹo
2.6.2 Chẩn đoán phòng thí nghiệm
Tại những nơi chưa bao giờ xảy ra dịch LMLM, triệu chứng lâm sàng chỉ
có tính chất định hướng trong chẩn đoán và nhất thiết phải dùng biện pháp chẩn đoán bằng xét nghiệm trong phòng thí nghiệm để khẳng định bệnh
Bệnh phẩm thích hợp để phân lập virus LMLM là biểu mô và dịch tiết ở các mụn nước chưa vỡ hoặc mới vỡ Lượng tối thiểu phải từ 3-5g tổ chức tươi
Để phát hiện kháng thể thì bệnh phẩm là máu những con nghi mắc bệnh với lượng 3-5 ml, để máu đông chắt lấy huyết thanh Bệnh phẩm phải được bảo quản ở nhiệt độ lạnh
Mẫu giám sát lưu hành virus là mẫu dịch hầu họng (Probang) bảo quản trong dung dịch BHI, MEM
2.6.2.1 Chẩn đoán virus học
Dùng huyễn dịch bệnh phẩm (mụn nước, biểu mô ) nuôi cấy trên tế bào mẫn cảm (tế bào thận bê, BHK-21 ), tiêm cho động vật thí nghiệm (chuột lang,
Trang 35bê, ), tiêm nội bì lưỡi bò trưởng thành, rồi theo dõi sự biến đổi của tế bào hoặc triệu chứng, bệnh tích của động vật thí nghiệm để xác định bệnh phẩm có chứa virus LMLM không
2.6.2.2 Chẩn đoán bằng phản ứng kết hợp bổ thể (KHBT)
Phản ứng KHBT được thực hiện nhờ hệ thống dung huyết và hệ thống dung khuẩn với sự tham gia của bổ thể Bởi vì, sự dung khuẩn mắt thường không nhìn thấy được, do vậy phải dùng hệ thống dung huyết để đánh giá kết quả qua quan sát bằng mắt thường
- Huyết thanh miễn dịch của từng type được chế trên chuột lang bằng phương pháp gây tối miễn dịch Tiêm vacxin LMLM của từng type virus LMLM khác nhau vào trong da dưới gan bàn chân chuột lang (mỗi type một chuột) hai lần mỗi lần cách nhau một tháng, sau đó lấy máu, chắt huyết thanh có chứa kháng thể
- Kháng nguyên là máu gia súc nghi mắc bệnh LMLM hoặc bệnh phẩm cấy vào trong môi trường tổ chức lấy từ tuyến yên của bò hoặc của lợn, tế bào thận bê hoặc thận cừu non hoặc các dòng tế bào có độ nhạy tương đương, khi tế bào xuất hiện nhưng dấu hiệu bệnh tích tế bào thì lấy dịch làm phản ứng kết hợp
bổ thể (Nguyễn Như Thanh và cộng sự, 2001)
2.6.2.3 Chẩn đoán bằng các phản ứng trung hoà virus
Trong cơ thể động vật mắc bệnh, virus gây bệnh kích thích sản sinh ra kháng thể tương ứng, kháng thể này có khả năng trung hoà chính virus kích thích sinh ra nó, làm virus không còn khả năng gây bệnh thí nghiệm và phá hủy tế bào mẫn cảm
Căn cứ vào việc có hay không có sự biến đổi tế bào sau khi cấy hỗn hợp kháng nguyên-kháng thể để xác định con vật không hay có bị bệnh và bị bệnh do type virus LMLM nào
Phản ứng trung hoà virus thường rất nhạy và đặc hiệu, chỉ cần 2- 3 ngày là
có kết quả nhưng nếu lượng huyết thanh ít, hiệu giá thấp, dương tính giả có thể xảy ra
2.6.2.4 Chẩn đoán bằng phản ứng ELISA
Đây là một phương pháp có độ nhạy và độ chính xác cao (Crowther J.R
và Abu Elzein E.M.E., 1979; Hamblin C Và cộng sự, 1987; Have P và Jensen
M.H., 1983; Roeder P và Le Blanc Smith P.M., 1987)
Trang 36* Phân loại phản ứng ELISA
Phản ứng ELISA được phân thành ba loại chính như sau:
- Phản ứng ELISA trực tiếp (direct ELISA): Dùng kháng thể gắn enzym
để xác định kháng nguyên nghi cố định trên đĩa chuyên dụng
- Phản ứng ELISA gián tiếp (indirect ELISA): Dùng kháng nguyên chuẩn
và kháng kháng thể gắn enzym để phát hiện kháng thể nghi
- Phản ứng sandwich ELISA gồm 2 loại:
+ Phản ứng Sandwich ELISA trực tiếp (direct Sandwich ELISA): Kháng nguyên chuẩn được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể gắn emzym
+ Phản ứng Sandwich ELISA gián tiếp (indirect Sandwich ELISA): Kháng nguyên chuẩn được kẹp giữa kháng thể chuẩn và kháng thể nghi, sau đó kháng thể nghi được nhận diện bằng kháng kháng thể loài gắn enzym
* Ứng dụng phản ứng ELISA trong chẩn đoán bệnh LMLM
- Phản ứng ELISA phát hiện kháng nguyên virus LMLM
Phương pháp ELISA thường được sử dụng để xác định sự có mặt của kháng nguyên virus LMLM trong mẫu bệnh phẩm lấy từ gia súc bị nghi ngờ
- Phản ứng ELISA phát hiện kháng thể kháng virus LMLM
Phương pháp ELISA cũng được sử dụng để phát hiện và giám định các
Trang 37serotype của virus LMLM trong huyết thanh gia súc Trong phản ứng, mỗi đĩa ELISA chỉ làm với một type virus LMLM chuẩn, để phát hiện kháng thể nghi trong huyết thanh của gia súc cần chẩn đoán
Có thể sử dụng cả ba phương pháp ELISA để phát hiện kháng thể kháng virus LMLM Nhưng hiện nay, phương pháp Sandwich ELISA gián tiếp thường được sử dụng phổ biến hơn cả Bởi vì, kĩ thuật ELISA này có thuận lợi hơn hẳn các phản ứng thông thường khác do có tính đặc hiệu rất cao, rất nhạy lại kinh tế
vì nhiều ứng dụng:
+ Trong chẩn đoán phát hiện bệnh, với phương pháp Sandwich ELISA gián tiếp chúng ta có thể phát hiện và định type kháng nguyên virus LMLM từ mẫu bệnh phẩm biểu mô, dịch tiết hay có thể phát hiện kháng thể và giám định serotype virus LMLM từ mẫu bệnh phẩm huyết thanh
+ Đối với gia súc đã tiêm phòng vắc xin, để đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch của gia súc sau tiêm phòng cũng như hiệu quả sử dụng vắc xin người
ta cũng sử dụng phương pháp Sandwich ELISA gián tiếp để định lượng kháng thể kháng virus LMLM
- Phương pháp LPB - ELISA (Liquid Phase Blocking ELISA)
Trong chẩn đoán huyết thanh học, phương pháp Sandwich ELISA gián tiếp được sử dụng nhiều nhất hiện nay trên thế giới là phương pháp LPB - ELISA Phương pháp này được nghiên cứu và đưa ra lần đầu tiên bởi Hamblin và cộng sự vào năm 1986 Độ nhạy của phản ứng LPB - ELISA tương đương với phản ứng trung hòa virus nhưng lại không phải nuôi cấy tế bào trong xét nghiệm
Do đó, đây là một phương pháp xét nghiệm hiệu quả, an toàn và ít tốn kém hơn
so với phương pháp trung hòa virus rất nhiều
Kỹ thuật chẩn đoán này cho kết quả nhanh trong vòng 3-4 giờ, không phụ thuộc môi trường mô, tỷ lệ phần trăm dương tính giả thấp Do có thể sử dụng kháng nguyên vô hoạt nên xét nghiệm được với số lượng chủng virus nhiều hơn
Hiện nay, để thuận lợi cho việc chẩn đoán tại các phòng thí nghiệm, người
ta đã sản xuất các bộ kít chẩn đoán dựa trên kỹ thuật LPB - ELISA Các thành phần và nguyên liệu cho phản ứng vẫn có thể thực hiện được xét nghiệm dễ dàng Có hai loại bộ kít đã được sản xuất là bộ kít LPB - ELISA bao gồm bộ kháng thể chuẩn để phát hiện 7 serotype virus và bộ kít LPB - ELISA phát hiện 3 hoặc 4 serotype virus LMLM
Hiện bộ kít LPB - ELISA chẩn đoán đang được sử dụng tại Việt Nam gồm
Trang 38bộ kháng thể chuẩn để phát hiện 4 serotype virus O, A, C và Asia1
* Phương pháp NSP - ELISA (Non Structural Protein ELISA)
Những năm trước đây Tổ chức Thú y thế giới (OIE) vẫn còn chưa có hướng dẫn quy trình chính thức để phân biệt gia súc bị nhiễm virus (sau khi đã lành bệnh) với gia súc đã tiêm phòng vắc xin LMLM Các phương pháp huyết thanh học chính thức được hướng dẫn chỉ để định lượng kháng thể kháng protein cấu trúc (Structural proteins – SP) của virus LMLM, nhưng không thể phân biệt kháng thể tạo ra do gia súc nhiễm bệnh LMLM hay do tiêm phòng vắc xin
Tìm các phương pháp huyết thanh học có thể phân biệt kháng thể có trong huyết thanh của gia súc bị nhiễm virus LMLM với kháng thể có trong huyết thanh của gia súc được tiêm phòng vắc xin là trọng tâm nghiên cứu trong nhiều thập niên qua
Trong những năm gần đây, người ta đã nghiên cứu và tìm ra được một phương pháp phát hiện được kháng thể có trong huyết thanh của gia súc bị nhiễm virus LMLM, kể cả những con vật đã được tiêm phòng vắc xin Đây là phương pháp ELISA định lượng kháng thể kháng kháng nguyên không cấu trúc (Non-structural Proteins-NSP) của virus LMLM trong huyết thanh gia súc Phương pháp này được gọi là phương pháp NSP - ELISA
Phương pháp NSP-ELISA được dùng trong chẩn đoán phân biệt kháng thể trong huyết thanh của gia súc do bị nhiễm virus LMLM tự nhiên với kháng thể trong huyết thanh của gia súc do tiêm phòng vắc xin
Phương pháp NSP-ELISA dựa trên nguyên lý sau: Sau khi virus LMLM nhiễm vào cơ thể gia súc, quá trình nhân lên của virus sẽ diễn ra Trong quá trình này, virus vừa tạo ra các thành phần để tái tạo thành các hạt virus mới, vừa tạo ra các thành phần không tham gia kết hợp thành các hạt virus mới mà chỉ đóng vai trò các enzym giúp cho quá trình nhân lên Các thành phần kết hợp thành bản thân các hạt virus có tính kháng nguyên gọi là kháng nguyên cấu trúc (SP) Các thành phần không tham gia kết hợp thành các hạt virus mới có tính kháng nguyên gọi là kháng nguyên không cấu trúc (NSP)
Trong đó, một số kháng nguyên không cấu trúc có khả năng kích thích gia súc tạo ra kháng thể với số lượng lớn và tồn tại nhiều tháng trong huyết thanh (nhất là trâu bò) đã nhiễm bệnh Còn gia súc được tiêm phòng vắc xin, đặc biệt những loại vắc xin vô hoạt có độ tinh khiết cao (đã được loại bỏ những kháng
Trang 39nguyên không cấu trúc) sẽ chỉ sản sinh kháng thể đặc hiệu chống virus LMLM chứ không có kháng thể kháng lại kháng nguyên không cấu trúc Vì vậy, việc phát hiện kháng thể đặc hiệu kháng kháng nguyên không cấu trúc cho phép kết luận gia súc đang bị nhiễm virus LMLM
Phương pháp NSP – ELISA được sử dụng chẩn đoán cho nhiều loại gia súc như trâu bò, dê, cừu Kháng nguyên không cấu trúc xuất hiện sớm nhất sau 8 ngày nhiễm virus ở trâu bò và 10 ngày ở dê cừu Với việc phát hiện kháng thể đặc hiệu kháng kháng nguyên không cấu trúc của virus LMLM, chúng ta có thể xác định được động vật nhiễm virus LMLM với bất kỳ serotype nào, cả những con chưa tiêm hay đã tiêm phòng vắc xin, những con không có triệu trứng lâm sàng, thậm chí cả ngay khi ổ dịch nổ ra 1 năm
Phương pháp NSP-ELISA hoàn toàn nhạy khi sử dụng chẩn đoán cho một đàn gia súc với số lượng lớn Nhiều bộ kít chẩn đoán dựa trên kĩ thuật NSP-ELISA của các hãng khác nhau trên thế giới đã được sản xuất và sử dụng Nhưng đến 10/2001 sau nhiều nghiên cứu và thử nghiệm, Tổ chức Thú y thế giới (OIE)
đã chính thức công nhận bốn bộ kít chẩn đoán có độ chính xác và đặc hiệu cao trong chẩn đoán xác định gia súc nhiễm virus LMLM tự nhiên với kháng thể trong huyết thanh của gia súc do tiêm phòng vắc xin là: Chekit- FMD-3ABC của Bommeli Diagnostics, FMDV NSP ELISA của UBI, Ceditest FMDV - NS của Cedi Diagnostics, Priocheck®FMDV NS của Prionics
- Phương pháp 3ABC - ELISA
Một trong những phương pháp chẩn đoán dựa vào việc xác định kháng nguyên không cấu trúc được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đem lại hiệu quả cao là phương pháp 3ABC-ELISA Phương pháp chẩn đoán này nhằm xác định kháng nguyên không cấu trúc 3ABC của virus LMLM 3ABC được xác định là một trong những kháng nguyên có khả năng kích thích gia súc sinh đáp ứng miễn dịch cao nhất Phương pháp 3ABC - ELISA được Bergmann cùng các cộng sự nghiên cứu, đưa ra lần đầu tiên vào năm 1993 đã thu được nhiều thành công khi ứng dụng rộng rãi ở Nam Mỹ
Bộ kít thương mại được xây dựng dựa trên kĩ thuật 3ABC-ELISA được
sử dụng phổ biến trong các phòng thí nghiệm này là bộ Chekit–FMD-3ABC của Bommeli Diagnostics – Thụy Sỹ Bộ kít này có những ưu điểm:
+ Cho phép phát hiện kháng thể 3ABC ở bò và cừu bị nhiễm virus LMLM với bất kỳ serotype nào sau 10-14 ngày và kéo dài 1 năm với độ chính
Trang 40xác tới 99,95% Vì vậy, khi kết quả dương tính ta có thể kết luận trâu, bò bị nhiễm virus LMLM
+ Dễ sử dụng do các thành phần phản ứng đã có sẵn, đồng thời phương pháp tiến hành đơn giản
+ Kiểm tra khối lượng mẫu lớn trong thời gian ngắn
+ Mỗi lần làm xét nghiệm có thể kiểm tra các mẫu của nhiều loài (trâu,
bò, cừu)
2.6.2.5 Chẩn đoán bằng kỹ thuật RT- PCR
Kỹ thuật PCR (Polymerase Chain Reaction) được Kary Mullis và cộng sự phát minh ra vào năm 1985 Kỹ thuật PCR là một phương pháp tạo dòng invitro, cho phép khuếch đại một đoạn DNA đặc hiệu từ một hệ gen phức tạp và tương đối dài, mà không cần đến việc tách và nhân dòng (cloning) Với những virus thuộc loại virus RNA thì phải tiến hành thêm phản ứng sao chép ngược nhờ vào men sao chép ngược RT (Reverse Transcriptase) để chuyển RNA thành DNA Sau đó, tiến hành phương pháp PCR như các quy trình thông thường (OIE SEAFMD RCU, 2000) Do đó kỹ thuật này được gọi là RT- PCR
2.6.2.6 Phương pháp Realtime PCR (TCVN 8400-1:2010, 2010)
Nguyên lý phản ứng Realtime PCR
Phản ứng Realtime PCR là một kỹ thuật PCR sử dụng các đặc điểm của quá trình sao chép DNA Trong phản ứng PCR truyền thống, sản phẩm khuếch đại được phát hiện qua phân tích điểm kết thúc bằng cách điện di DNA trên gel agarose khi phản ứng kết thúc Ngược lại, RT-PCR cho phép phát hiện và định lượng sự tích lũy DNA khuếch đại ngay khi phản ứng đang xảy ra Khả năng này được phát hiện nhờ bổ sung vào phản ứng những phân tử phát huỳnh quang Những hóa chất phát huỳnh quang bao gồm thuốc nhuộm liên kết DNA và những trình tự gắn huỳnh quang liên kết đặc hiệu với primer gọi là probe Khi DNA tương hợp với primer thì quá trình sao chép sẽ xẩy ra và sự gia tăng lượng tín hiệu huỳnh quang tỷ lệ với sự gia tăng lượng DNA Khi sử dụng máy Realtime PCR, hệ thống ghi được tín hiệu huỳnh quang khi quá trình khuyếch đại xảy ra Ban đầu, tín hiệu huỳnh quang còn ở tín hiệu nền ta không thể phát hiện sự gia tăng tín hiệu cho dù có quá trình khuyếch đại và sản phẩm đã tăng theo hàm mũ Đến một thời điểm xác định, sản phẩm khuếch đại sẽ tạo ra đủ tín hiệu huỳnh quang có thể phát hiện được Chu kỳ này được gọi là chu kỳ ngưỡng CT (Cycle
of threshold) Đây cũng là giá trị để đánh giá kết quả phản ứng