1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính: Thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp - từ thực tiễn các trường Cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà

25 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 453,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở một số trường Cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

……… /…………

BỘ NỘI VỤ

………/…………

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ TIẾN MINH

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

TỪ THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG TRỰC THUỘC UBND

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

MÃ SỐ: 60 38 01 02

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Cường

Phản biện 1: TS Nguyễn Minh Sản

Phản biện 2: TS Nguyễn Quang Thái

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Địa điểm: Phòng họp , Nhà - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Số: 77 Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

Thời gian: vào hồi giờ tháng năm 2020

Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang

Web Ban QLĐT Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) có sứ mệnh đào tạo nhân lực có tay nghề cho đất nước Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và nhà nước, GDNN đã phát triển mạnh mẽ ở nước ta, tuy nhiên còn nhiều bất cập như: Chất lượng lao động qua đào tạo GDNN chưa cao, đào tạo chưa gắn với nhu cầu của thị trường lao động, với việc làm, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, dẫn đến tình trạng hàng năm có hàng vạn học sinh/sinh viên (HS/SV) tốt nghiệp không tìm được việc làm, trong khi các doanh nghiệp (DoN) cần nhân lực lại không tuyển dụng được lao động; Tổ chức quá trình đào tạo theo chương trình khung cứng nhắc, chưa liên thông giữa các trình độ và đang đào tạo theo niên chế nên chưa tạo thuận lợi cho người lao động có thể cần gì học nấy, học suốt đời

Những bất cập này đang gây lãng phí về nguồn lực đầu tư của nhà nước,

xã hội và gia đình người học; lãng phí thời gian của người học Do vậy, việc nghiên cứu đề tài thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp là rất cần thiết, có

ý nghĩa

Luật Giáo dục nghề nghiệp được Quốc hội thông qua, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã hoàn thành việc trình cấp có thẩm quyền ban hành và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn đào tạo trình độ sơ cấp theo quy định của Luật

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp tổ chức hoạt động đào tạo (tuyển sinh đào tạo; tiêu chuẩn, chế độ đối với nhà giáo; cơ sở vật chất, thiết bị; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ; kiểm định chất lượng ) Đến nay, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên phạm vi cả nước đang vận hành đồng bộ các quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp và chưa thấy có vướng mắc, khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện

Trong khuôn khổ một luận văn cao học, do hạn hẹp về thời gian và kinh phí, tác giả không có tham vọng nghiên cứu, đánh giá và đề xuất các giải pháp

Trang 4

rộng về diện tích, không quá đông về dân số và không quá nhiều cơ sở đào tạo giáo dục nghề nghiệp Việc lựa chọn như vậy chỉ giúp giảm thiểu thời gian và chi phí thu thập dữ liệu, tổ chức đánh giá mà không ảnh hưởng nhiều đến kết quả nghiên cứu của luận văn Các phát hiện, đề xuất của luận văn hoàn toàn có thể phát triển, mở rộng đối với các địa bàn khác cũng như đối với toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp của cả nước

Xuất phát từ các lý do đó, tác giả chọn đề tài “Thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp - từ thực tiễn các trường Cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội” làm luận văn thạc sĩ nhằm góp phần làm rõ hơn

về mặt lý thuyết và đáp ứng được yêu cầu thực tế về đổi mới, nâng cao chất lượng tổ chức và thực hiện luật giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.2 Câu hỏi nghiên cứu:

Thực trạng thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp từ thực tiễn các trường cao đẳng nghề trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội như thế nào? Các trường có những giải pháp gì để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp?

3 Mục đích và nhiệm vụ ngiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở một số trường Cao đẳng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội trong giai đoạn hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Một là, Hệ thống hóa, phân tích làm rõ thêm lý luận thực thi pháp luật về

giáo dục nghề nghiệp với mục tiêu đưa pháp luật về giáo dục nghề nghiệp vào cuộc sống, góp phần phòng ngừa, hạn chế các vi phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp trong phạm vi cả nước nói chung và ở trường cao đẳng nghề thành phố Hà Nội nói riêng trong giai đoạn hiện nay

Hai là, Phân tích, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về giáo dục nghề

nghiệp ở một số trường cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố

Trang 5

Hà Nội bao gồm ưu điểm, nhược điểm, xác định nguyên nhân của những kết quả đạt được và những hạn chế, thiếu sót, rút ra những bài học kinh nghiệm

Ba là, Trên cơ sở thực trạng thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở

thành phố Hà Nội, cùng với những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, luận văn bước đầu xây dưng các giải pháp nhằm góp phần bảo đảm thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp ở thành phố Hà Nội

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu về những vấn đề lý luận và thực tiễn của hoạt động thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: một số trường cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân

thành phố Hà Nội

Về thời gian: Nghiên cứu tình hình từ khi nhà nước ban hành Luật Giáo

dục nghề nghiệp (năm 2014) đến nay

Về nội dung: chủ yếu tập trung làm rõ việc thực thi pháp luật về giáo dục

nghề nghiệp, về tổ chức hoạt động và quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

4 Kết cấu luận văn:

Tên luận văn: Thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp - từ thực tiễn các trường cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội”

Kết cấu luận văn: Ngoài mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp

Chương 2: Thực trạng thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở các

trường cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố

Hà Nội

Chương 3: Phương hướng, giải pháp đảm bảo thực thi pháp luật về giáo

dục nghề nghiệp từ thực tiễn các trường cao đẳng nghề trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

Trang 6

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI PHÁP LUẬT

VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP

1.1 Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

1.1.1 Khái niệm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

Giáo dục nghề nghiệp: Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp định nghĩa là

một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình

độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên

Pháp luật:

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế - xã hội, điều chỉnh các quan hệ xã hội điển hình, phổ biến giữa các chủ thể với nhau, là yếu tố bảo đảm sự ổn định và trật

tự của xã hội

Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp là hệ thống các quy tắc xử sự chung về giáo dục nghề nghiệp, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp vì sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời vì lợi ích và mục đích của Nhà nước

1.1.2 Vai trò của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

1.1.2.1 Vai trò của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp đối với nhà nước

- Pháp luật về GDNN là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường sức mạnh quyền lực nhà nước; pháp luật là cơ sở pháp lý, là khung pháp lý cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước về lĩnh vực GDNN

- Pháp luật về GDNN là phương tiện, là cầu nối để cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước trong đời

Trang 7

sống xã hội Pháp luật là công cụ giúp nhà nước quản lý hiệu quả về lĩnh vực GDNN…

- Pháp luật về GDNN là công cụ để giúp nhà nước kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các cơ quan, các nhân viên nhà nước, các tổ chức, các doanh nghiệp và mọi công dân về lĩnh vực GDNN

- Pháp luật về GDNN là phương tiện giúp nhà nước thực hiện chức năng đối nội, đối ngoại, hội nhập, mở cửa hợp tác hữu nghị với các nước trên thế giới

về lĩnh vực GDNN phù hợp với xu hướng pháp triển trong từng giai đoạn, thời

kỳ

1.1.2.2 Vai trò của pháp luật về giáo dục nghề nghiệp đối với xã hội

Pháp luật về GDNN là một trong những nhân tố đảm bảo và bảo vệ sự ổn định của xã hội về lĩnh vực GDNN

Pháp luật về GDNN là cơ sở pháp lý bảo đảm cho nhân dân tham gia vào quản lý nhà nước, quản lý xã hội về lĩnh vực GDNN

Pháp luật là cơ sở pháp lý giúp nhân dân phát huy quyền làm chủ, quyền dân chủ (trực tiếp hoặc thông qua đại diện) để bảo vệ lợi ích chính đáng của mình

Pháp luật còn là căn cứ pháp lý để nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của bộ máy nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước

1.2 Thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp

1.2.1 Khái niệm thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

Như vậy, thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp là quá trình hoạt động có mục đích của chủ thể thi hành pháp luật làm cho các quy định của pháp luật đi vào những hoạt động thực tế, hợp pháp của các chủ thể quản lý và được thực hiện trong thực tế đời sống xã hội

1.2.2 Nội dung thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp

Trước hết, chủ thể thi hành pháp luật giáo dục nghề nghiệp (Chính phủ, các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp ) ban hành văn bản hướng dẫn thi hành, xây dựng chương trình và kế hoạch thi hành VBQPPL về giáo dục nghề nghiệp

Trang 8

Hai là, phổ biến chương trình, kế hoạch thi hành VBQPPL về giáo dục nghề nghiệp và tuyên truyền, phổ biến nội dung và tinh thần cơ bản của VBQPPL đến các đối tượng trực tiếp phải thi hành Việc phổ biến tinh thần và nội dung của VBQPPL về giáo dục nghề nghiệp bằng tài liệu được biên soạn, bằng các phương tiện thông tin đại chúng, bằng việc phổ biến trực tiếp…

Ba là, thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc tổ chức thi hành VBQPPL về giáo dục nghề nghiệp đang tổ chức thi hành để kịp thời nhắc nhở, uốn nắn

Bốn là, sau một thời gian thi hành VBQPPL về giáo dục nghề nghiệp, tiến hành công tác sơ kết, tổng kết việc tổ chức thi hành VBQPPL đó

Năm là, trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp, phải theo dõi việc thi hành pháp luật để kịp thời phát hiện những khó khăn, bất hợp lý của việc thi hành VBQPPL để kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, Vì thế, theo dõi tình hình thi hành là một nội dung của

tổ chức thi hành pháp luật

Sáu là, để tổ chức thi hành pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tốt phải xây dựng lực lượng và cơ sở vật chất vững mạnh để đảm bảo cho việc tổ chức thi hành pháp luật

1.3 Các điều kiện bảo đảm thực thi pháp luật về giáo dục nghề

nghiệp

1.3.1 Đảm bảo về chính trị

Trong xây dựng và thực thi pháp luật, yếu tố chính trị thể hiện ở sự ổn định bền vững của thể chế chính trị và môi trường chính trị đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; tạo niềm tin của các cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên và người dân đối với Đảng, Nhà nước, từ đó quán triệt, tin tưởng và nghiêm chỉnh thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước

1.3.2 Đảm bảo về mặt pháp lý

Trên phương diện lập pháp, nguyên tắc bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một nguyên tắc hiến định cơ bản, làm nền tảng cho việc kiến tạo một mô hình đảm bảo thực

Trang 9

thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân

1.3.3 Đảm bảo về mặt tổ chức, bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về Giáo dục nghề nghiệp

Tổ chức, bộ máy, nguồn nhân lực trong thực thi pháp luật giáo dục nghề nghiệp là các chủ thể tham gia vào quá trình thực thi pháp luật, gồm: các cán

bộ, công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan có thẩm quyền về giáo dục nghề nghiệp xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục nghề nghiệp theo quy định của Luật giáo dục nghề nghiệp

1.3.4 Đảm bảo về mặt vật chất, kỹ thuật, tài chính

Trong mọi hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước đều cần có kinh phí và cơ sở vật chất để tổ chức thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, các yếu tố này ảnh hưởng lớn tới hiệu lực, hiệu quả hoạt động của từng cơ quan

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP Ở CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRỰC THUỘC

ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 2.1 Thực trạng pháp luật về Giáo dục nghề nghiệp

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về Giáo dục nghề nghiệp

Ngày 27/11/2014, Quốc hội khóa XIII thông qua Luật giáo dục nghề nghiệp theo đó, hệ thống các trường cao đẳng, cao đẳng nghề thành cao đẳng; trung cấp, trung cấp nghề thành trung cấp để hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp gồm 3 trình độ đào tạo là Cao đẳng, Trung cấp và Sơ cấp

Nghị quyết 76/2016/NQ-CP ngày 03/9/2016 Chính phủ thống nhất giao

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp

Ngày 03/7/2017, Chính phủ ban hành Quyết định số 29/2017/QĐ-TTg quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội theo đó, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp được hình thành giúp Bộ trưởng Bộ Lao động -

Trang 10

Thương binh và Xã hội quản lý hoạt động giáo dục nghề nghiệp trong toàn quốc

Những quyết định quan trọng trên tạo bước phát triển mới cho dạy nghề trước ngưỡng cửa thế kỷ 21

Bước vào giai đoạn tới, ngành dạy nghề đang đứng trước những cơ hội phát triển mới với nhiệm vụ lớn lao nhưng cũng đầy thách thức để góp phần đưa nước ta chuyển dịch từ một nước nông nghiệp sang một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

2.1.2 Đánh giá hệ thống pháp luật về Giáo dục nghề nghiệp hiện nay

2.1.2.1 Ưu điểm

Hệ thống chính sách, pháp luật về giáo dục nghề nghiệp đã được triển khai sâu rộng Các văn bản đã tạo được khung pháp lý khá đồng bộ, tạo ra những tác động rất tích cực vào hệ thống dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của

xã hội

Luật giáo dục nghề nghiệp và hệ thống văn bản hướng dẫn đã thể chế hóa mạnh mẽ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nói chung, giáo dục nghề nghiệp nói riêng, tạo nên một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phát triển cả về quy mô cũng như chất lượng

2.1.2.2 Hạn chế

Việc việc rà soát, sắp xếp lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh của cơ

sở giáo dục nghề nghiệp còn chậm, tạo nên những hạn chế trong đổi mới

Cơ chế, chính sách tuyển dụng, đề bạt cán bộ, chính sách lương và các ưu đãi khác của doanh nghiệp và các cơ quan hiện nay còn coi trọng bằng cấp, chưa có tác dụng thiết thực khuyến khích và tôn vinh những người thợ giỏi…

Một số văn bản hướng dẫn triển khai mới ra đời trong khoảng 1 - 2 năm

đã bị thay thế làm cho công tác phổ biến và thực hiện cũng còn nhiều lúng túng, không duy trì trọn vẹn được cho một khóa học (cao đẳng là 3 năm, trung cấp là

2 năm) Hầu hết những vấn đề cơ bản của Luật Giáo dục nghề nghiệp đã có văn bản hướng dẫn thi hành nhưng trên thực tế một số điểm vẫn còn chung chung hoặc thiếu tính đồng bộ, thống nhất giữa một số văn bản nên trong quá trình

Trang 11

triển khai và thực hiện vẫn còn lúng túng Một số nội dung của Luật Giáo dục nghề nghiệp chưa được cụ thể hóa như liên kết trong đào tạo nghề, tổ chức quản

lý hệ thống tuyển sinh học nghề trên toàn quốc, hệ thống thang bảng lương theo các cấp trình độ đào tạo và tiêu chuẩn kỹ năng nghề

2.2 Thực trạng thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại các trường cao đẳng nghề trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

2.2.1 Đặc điểm tự nhiên, điều kiện kinh tế, xã hội, nhu cầu của người dân trên địa bàn thành phố Hà Nội

Thủ đô Hà Nội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, là trung tâm đầu não về chính trị, văn hoá và khoa học kĩ thuật, đồng thời là trung tâm lớn về giao dịch kinh tế và quốc tế của cả nước

Về vị trí địa lý: Hà Nội hiện nay có vị trí từ 20°53' đến 21°23' vĩ độ Bắc

và 105°44' đến 106°02' kinh độ Đông, tiếp giáp với các tỉnh Thái Nguyên - Vĩnh Phúc ở phía Bắc; Hà Nam - Hòa Bình ở phía Nam; Bắc Giang- Bắc Ninh- Hưng Yên ở phía Đông và Hòa Bình- Phú Thọ ở phía Tây

Về điều kiện tự nhiên: Thủ đô Hà Nội sau khi được mở rộng có diện tích

tự nhiên 334.470,02 ha, lớn gấp hơn 3 lần trước đây và đứng vào tốp 17 Thủ đô trên thế giới có diện tích rộng nhất; dân số tăng hơn gấp rưỡi, hơn 6,2 triệu người, hiện nay là hơn 7 triệu người; gồm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã, 577 xã, phường, thị trấn

Trong những năm gần đây, tốc độ phát triển của Thành phố Hà Nội ngày càng tăng nhanh, sự gia tăng dân số tập trung vào khu vực đô thị trung tâm đã tạo ra nhiều khó khăn về kiểm soát phát triển dân cư, các điều kiện hạ tầng xã hội và kỹ thuật, kiểm soát đất đai và môi trường đô thị

Về kinh tế - xã hội: Vị thế trung tâm kinh tế của Hà Nội đã được thiết lập

từ rất lâu trong lịch sử

Các chỉ số kinh tế ngành cũng duy trì mức tăng khá: Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 6,86% (cùng kỳ tăng 8,5%) Thị trường hàng hóa phong phú, dồi dào, chất lượng bảo đảm, giá cả ổn định trước, trong và sau Tết; tổng mức bán

ra và doanh thu dịch vụ tăng 10,2%

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị của Thủ đô tiếp tục được duy trì, bảo

Trang 12

cây xanh, chiếu sáng Trong đó, tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch khu vực nông thôn đạt trên 52%

Công tác nội chính, đối ngoại, quốc phòng - an ninh cũng được duy trì và đẩy mạnh Đặc biệt, thành phố đã chủ động cùng với các cơ quan trung ương chuẩn bị tốt Hội nghị Thượng đỉnh Hoa Kỳ - Triều Tiên lần thứ hai tại Hà Nội; bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất và phối hợp đảm bảo an ninh, an toàn tuyệt đối cho các sự kiện, quảng bá có hiệu quả gắn với hình ảnh Thủ đô - Thành phố

Vì hòa bình

2.2.2 Thực trạng thực thi pháp luật về giáo dục nghề nghiệp của các trường cao đẳng nghề trực thuộc ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội

2.2.2.1 Xây dựng, ban hành văn bản thực thi pháp luật

Từ năm 2016 đến nay, Thành phố đã ban hành 232 văn bản QPPL nói chung, Sở Tư pháp đã phối hợp với các Sở, ban, ngành tham gia góp ý, thẩm định trên 600 văn bản do các Bộ, ngành Trung ương, đoàn đại biểu Quốc hội, các Sở, ngành, quận, huyện và các cơ quan đơn vị trên địa bàn thành phố lấy ý kiến Đến nay, các VBQPPL do thành phố ban hành đều đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất của hệ thống pháp luật 100% các văn bản QPPL của thành phố cũng được Sở Tư pháp thẩm định trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét ban hành

Nhìn chung, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được ban hành kịp thời đã tạo hành lang pháp lý đồng bộ để các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp tổ chức hoạt động đào tạo (tuyển sinh đào tạo; tiêu chuẩn, chế độ đối với nhà giáo; cơ sở vật chất, thiết bị; xây dựng chương trình, giáo trình đào tạo; thi, kiểm tra, cấp văn bằng, chứng chỉ; kiểm định chất lượng )

Hệ thống chính sách, pháp luật về giáo dục nghề nghiệp đã được triển khai sâu rộng trên địa bàn Hà Nội Đây là cơ sở pháp lý để các ngành, địa phương xây dựng kế hoạch, đưa ra định hướng phát triển phù hợp

Hiện nay, mô hình nhà trường cũng là nhà máy, xí nghiệp, xưởng sản xuất ngày càng phổ biến trên địa bàn Hà Nội Tại những cơ sở được đầu tư để trở thành trường chất lượng cao, đào tạo các nghề trọng điểm theo tiêu chuẩn khu vực và quốc tế như Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội, Trường

Ngày đăng: 26/03/2021, 05:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm