Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu nhằm nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng. Phân tích, đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk. Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2Phản biện 1: TS Lê Văn Từ
Phản biện 2: TS.Tuyết Hoa Niê KDăm
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Hành chính - Phân viện khu vực Tây Nguyên
Vào hồi 11 giờ 15 ngày 27 tháng 01 năm 2018
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia - Phân viện khu vực Tây Nguyên
Hoặc trên trang Web Khoa sau đại học, Học viện Hành chính Quốc Gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý bảo vệ rừng ở Việt Nam trong những năm qua có sự thay đổi lớn, đặc trưng nhất là chuyển hướng từ lâm nghiệp nhà nước sang thực hiện xã hội hóa nghề rừng, với chính sách phát triển lâm nghiệp hướng vào người dân, lấy người dân là đối tượng và lực lượng chính để bảo vệ và phát triển rừng (BV&PTR)
Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm thúc đẩy hỗ trợ cho công tác quản lý, điều hành, thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động BV&PTR Chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 đã đề ra nhiệm vụ của ngành Lâm nghiệp là phải xã hội hóa toàn diện về quản lý bảo vệ rừng, về đầu tư phát triển rừng; đa thành phần trong sở hữu, sử dụng tài nguyên rừng; đa hình thức tổ chức quản lý, BV&PTR và đa dạng hóa các nguồn lực cho phát triển lâm nghiệp, tiến tới thực hiện quản lý rừng bền vững nhằm đạt được 3 mục tiêu quan trọng là: Kinh tế - Kỹ thuật, môi trường và xã hội
Đắk Lắk là một trong 5 tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, có tổng diện tích tự nhiên 1.312.345 ha, là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh, địa bàn đầu nguồn quan trọng đối với môi trường sinh thái các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ Quan điểm này được thể hiện rõ trong Đề án bảo vệ, khôi phục
và phát triển rừng vùng Tây Nguyên giai đoạn 2017 - 2025 của Đảng và Nhà nước
Quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk trong nhiều năm qua
đã đạt được những thành tích nhất định Pháp luật đã từng bước đồng bộ nhưng việc triển khai văn bản quy phạm pháp luật, áp dụng pháp luật trong bảo vệ rừng chưa đúng mức, chưa thường xuyên, thậm chí ở một số nơi còn lúng túng Bên cạnh những người dân tích cực tham gia bảo vệ rừng thì vẫn còn một bộ phận coi thường pháp luật, thường xuyên vi phạm Luật bảo vệ và phát triển rừng
Việc đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về bảo vệ rừng tại địa phương là cần thiết và cấp bách Do đó, tôi chọn đề tài
“Quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk” làm nội dung
nghiên cứu góp phần giải quyết những vấn đề đã nêu
2 Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý của QLNN về bảo vệ rừng
- Phân tích, đánh giá được thực trạng QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk
Trang 43 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về lý luận, thực tiển QLNN về bảo vệ rừng ở tỉnh Đắk Lắk
- Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:
+ Các số liệu nghiên cứu thực trạng QLNN về bảo vệ rừng từ năm
2010 đến 2015 trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk, chủ yếu liên quan đến công tác
tổ chức, quản lý ngành lâm nghiệp; trách nhiệm của các bên tham gia bảo
vệ rừng ở địa phương Từ đó đề xuất các giải pháp QLNN về bảo vệ rừng bền vững
4 Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn lấy chủ nghĩa Mác Lênin, chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về Nhà nước và Pháp luật làm cơ sở phương pháp luận
- Các phương pháp chủ yếu:
+ Phương pháp phân tích tài liệu: trên cơ sở tìm hiểu thông tin, tài
liệu, các kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài phân tích, đánh giá, đề ra các luận điểm theo cách tiếp cận của tác giả
+ Phương pháp điều tra xã hội học: điều tra, khảo sát và phỏng vấn
trực tiếp, tham vấn ý kiến chuyên gia về hoạt động QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng
+ Phương pháp thực chứng: Dựa trên những tư liệu thực tiễn của
ngành, địa phương để phân tích, đánh giá thực trạng QLNN về bảo vệ rừng, làm cơ sở để đối chứng, phân tích, so sánh và đề xuất các giải pháp QLNN về bảo vệ rừng
5 Những kết quả đạt được và đóng góp mới của luận văn
Luận văn là cơ sở khoa học góp phần hoàn thiện hệ thống tổ chức quản
lý ngành, chính sách và pháp luật,… trong lĩnh vực QLNN về bảo vệ rừng Tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho nghiên cứu, giảng dạy trong các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và cơ quan có thẩm quyền trong quản lý công, lâm nghiệp, luật học
6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, nội dung chính có bố cục ba chương gồm: Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của QLNN về bảo vệ rừng Chương 2: Thực trạng QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk Chương 3: Hoàn thiện QLNN về bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk Cuối cùng là phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo
Trang 5Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ BẢO VỆ RỪNG 1.1 Những vấn đề chung về rừng và bảo vệ rừng
1.1.1 Tổng quan về rừng
1.1.1.1 Khái niệm
Rừng được phân tích theo quy định của pháp luật Việt Nam là
“Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,
vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trở lên Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng.”
Tài nguyên rừng là một loại tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng của môi trường sinh thái, có giá trị to lớn bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trên đất lâm nghiệp, gồm có thực vật rừng, động vật rừng và những yếu tố tự nhiên có liên quan đến rừng (gọi chung là quần xã sinh vật)
1.1.1.2 Đặc điểm rừng
Một đối tượng được xác định là rừng nếu đạt được cả 3 tiêu chí sau:
Là một hệ sinh thái; Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên; Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng phải có chiều rộng tối thiểu 20 mét và có từ 3 hàng cây trở lên Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20 mét được gọi là cây phân tán
vệ an ninh quốc gia, cải thiện đời sống cho người dân nông thôn và miền núi
- Về môi trường
Rừng là thành phần quan trọng của môi trường sinh thái, có vai trò
Trang 6rất lớn trong việc duy trì và bảo vệ môi trường sống cho con người, rừng
có tác dụng điều hòa khí hậu, duy trì và điều hòa lượng carbon trên trái đất Rừng là điều hòa nguồn nước, giảm dòng chảy bề mặt, tăng lượng nước ngầm, hạn chế hiện tượng lắng đọng, dòng sông, lòng hồ, khắc phục được xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất, hệ thống vi sinh vật còn có tác dụng cải tạo
độ phì của đất;
- Về an ninh
Tài nguyên rừng giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc “Rừng che bộ đội, rừng vây quân thù”, góp phần tạo nên những chiến thắng to lớn trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
1.1.2 Bảo vệ rừng
1.1.2.1 Khái niệm
“Bảo vệ rừng là t ng h p các hoạt động của các chủ thể có th m quy n nh m s p ếp, t chức để giữ g n và phát triển b n vững tài nguyên rừng”
- Nguyên tắc bảo vệ và phát triển rừng: Các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng phải đảm bảo phát triển bền vững về kinh tế, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chiến lược phát triển lâm nghiệp; đúng quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng của cả nước và địa phương và tuân theo quy chế quản lý rừng; Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Đất đai và các quy định khác của pháp luật có liên quan, bảo đảm ổn định lâu dài theo hướng xã hội hoá nghề rừng; Bảo đảm hài hoà lợi ích giữa Nhà nước với chủ rừng, giữa lợi ích kinh tế của chủ rừng với lợi ích phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn thiên nhiên, giữa lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài; Chủ rừng thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và các quy định khác của pháp luật
1.1.2.2 Sự cần thiết bảo vệ rừng:
Trước tình hình rừng ngày càng giảm cả về diện tích và chất lượng rừng, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách lớn và biện pháp mạnh nhằm ngăn chặn sự suy thoái của rừng, đổi mới công tác quản
lý để tạo ra động lực mới cho sự phát triển Nông - Lâm nghiệp, tạo ra sự phân công lao động lại trong nông thôn miền núi, khai thác các tiềm năng kinh tế tổng hợp về đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất và tài nguyên rừng Mục tiêu giữ được diện tích rừng hiện có, tăng cường xây dựng vốn rừng, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc nhằm nâng cao độ che phủ của rừng lên 45% vào năm 2020 Với mục tiêu của cả nước về công tác quản lý bảo vệ rừng và xây dựng vốn rừng thì quyền địa phương đã xây dựng chương trình về công tác quản lý bảo vệ rừng và xây dựng vốn rừng trên địa bàn là sự cần thiết và tất yếu phải thực hiện
Trang 71.1.2.3 Các hình thức bảo vệ rừng:
- Về mặt quản lý :
+ Quản lý, sử dụng, bảo vệ và phát triển rừng bền vững: Rừng phải được quản lý chặt chẽ và có chủ cụ thể khi đó tài nguyên rừng mới được bảo vệ và phát triển bền vững
+ Xã hội hóa nghề rừng, thu hút các nguồn lực đầu tư cho bảo vệ và phát triển rừng
+ Trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở về quản lý bảo vệ rừng, quản lý chặt chẽ cơ sở chế biến gỗ, góp phần ngăn chặn những hành vi hủy hoại tài nguyên rừng, đất lâm nghiệp, tạo điều kiện để mọi tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tích cực tham gia bảo vệ và phát triển rừng, xử lý nghiêm, đúng quy định pháp luật
+ Tổ chức tuyên truyền, giáo dục, vận động nhân dân tham gia bảo
vệ, phát triển rừng, đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ và phát triển rừng
- Các hình thức thực hiện bảo vệ rừng cụ thể: Bảo vệ hệ sinh thái rừng; Bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng; Phòng cháy, chữa cháy rừng; Phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; Tổ chức bảo vệ rừng chuyên trách; Kiểm tra, kiểm soát lâm sản:
1.2 Cơ sở pháp lý của quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về bảo vệ rừng
Quản lý nhà nước là một hoạt động do Nhà nước thực hiện bằng bộ máy nhà nước nhằm hoàn thành những nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước, là sự tác động có tổ chức và có mục đích của Nhà nước đối với các quan hệ xã hội
1.2.2 Công cụ QLNN về bảo vệ rừng:
- Công cụ pháp luật: Luật BV&PTR năm 2004, Luật xử lý vi phạm hành chính, Nghị định 157/2013/NĐ-CP ngày 11/11/2013 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý bảo vệ rừng, quản lý lâm sản
- Công cụ quy hoạch, kế hoạch: Quy hoạch, kế hoạch QLBVR cũng
là một trong những công cụ quan trọng đối với hoạt động QLNN về BVR
- Công cụ tài chính: Công cụ tài chính là tổng hợp các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính của các chủ thể kinh tế - xã hội
1.2.3 Nội dung QLNN về bảo vệ rừng: Gồm 11 nội dung theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng:
- Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy
Trang 8hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng trên phạm vi cả nước và ở từng địa phương
- Tổ chức điều tra, xác định, phân định ranh giới các loại rừng trên bản đồ và trên thực địa đến đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn là cơ sở
để tổ chức quy hoạch, lập kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng; tổ chức giao đất, giao rừng
- Thống kê rừng, kiểm kê rừng, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng
và đất để phát triển rừng
- Giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng, chuyển mục đích sử dụng rừng Việc triển khai thực hiện phải tuân thủ trình tự, thủ tục, thẩm quyền được quy định tại các văn bản pháp luật về đất đai
- Lập và quản lý hồ sơ giao, cho thuê rừng và đất để phát triển rừng;
tổ chức đăng ký, công nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng, quyền sử dụng rừng
- Cấp, thu hồi các loại giấy phép theo quy định của pháp luật về bảo
vệ và phát triển rừng
- Tổ chức việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ tiên tiến, quan hệ hợp tác quốc tế, đào tạo nguồn nhân lực cho việc bảo vệ và phát triển rừng
- Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng
- Giải quyết tranh chấp về rừng
1.2.4 Chủ thể QLNN về bảo vệ rừng
QLNN về bảo vệ rừng là cơ sở pháp lý quy định cơ cấu tổ chức của các cơ quan QLNN trong lĩnh vực bảo vệ rừng Hệ thống cơ quan làm nhiệm vụ bảo vệ rừng nằm trong hệ thống cơ quan QLNN nói chung và được quản lý thống nhất từ Trung ương đến địa phương, với hệ thống cơ quan QLNN có thẩm quyền chuyên môn
QLNN đối với lĩnh vực bảo vệ rừng có vai trò quan trọng trong việc quy định cơ cấu tổ chức của ngành Kiểm lâm; Cơ quan Kiểm lâm là một hình thức cơ quan quản lý nhà nước đặc thù, vừa có tính chất của cơ quan hành chính nhà nước vừa có những hoạt động tư pháp
1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý Nhà nước
về bảo vệ rừng
1.3.1 Kinh tế: Rừng mang lại những lợi ích kinh tế lớn như: gỗ, lâm
sản ngoài gỗ, động vật rừng, thực vật rừng đặc biệt là những loài gỗ quý và các đặc sản động vật, thực vật rừng có giá trị cao, mang lại siêu lợi nhuận cho những người tham gia kinh doanh mặt hàng này Điều đó cũng là nguyên nhân thúc đẩy tình trạng khai thác, săn bắn, mua bán trái phép lâm
Trang 9sản gay gắt, với những thủ đoạn tinh vi, khó kiểm soát đang gây áp lực cho hoạt động QLNN trong lĩnh vực BVR
1.3.2 Pháp luật:
Nhà nước không thể tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và quản
lý xã hội một cách có hiệu quả nếu không thực hiên quản lý bằng pháp luật, các quyền tự do dân chủ của công dân không thể thưc hiện nếu không có pháp luật ghi nhận và bảo vệ Đảng ta xác định nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân Chính vì thế cho nên pháp luật sẽ có tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý Một hệ thống pháp luật đồng bộ,
rõ ràng, cụ thể làm cho công tác quản lý được hiệu quả và thuận lợi
1.3.3 Xã hội
Yếu tố xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong tổ chức điều hành quản lý xã hội và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước về mọi lĩnh vực nói chung cũng như trong lĩnh vực BVR nói riêng Các yếu tố xã hội như việc làm, xoá đói giảm nghèo, phúc lợi xã hội cũng ảnh hưởng đến công tác quản lý nói chung và QLBVR nói riêng
1.3.4 Kỹ thuật
Xuất phát từ đặc trưng và mục đích quản lý, rừng quốc gia được phân chia thành 3 loại: rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Mỗi loại rừng cần áp dụng các biện pháp kỹ thuật tác động để bảo vệ riêng như: biện pháp khoanh nuôi, tái sinh rừng tự nhiên, cải tạo rừng, vệ sinh rừng…Mỗi loại rừng có quy chế quản lý và sử dụng khác nhau như mức
độ khai thác sử dụng tài nguyên, việc giao rừng, cho thuê rừng, chế độ khoán bảo vệ rừng, chính sách đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước về BVR, chính sách về hưởng các lợi ích từ rừng…
1.4 Tiêu chí đánh giá kết quả hoạt động quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng
- Tiêu chí đánh giá hoạt động ban hành và thực hiện các văn bản QLNN về quản lý bảo vệ rừng
- Tiêu chí đánh giá hoạt động ban hành và thực thi các chính sách bảo vệ rừng
- Tiêu chí đánh giá hoạt động thanh tra kiểm tra và xử lý các hành vi
1.5.1 Kinh nghiệm của tỉnh Lâm Đồng
Tỉnh Lâm Đồng có tiềm năng DLST rất lớn nhờ địa hình trải dài trên
Trang 103 cao nguyên Lâm Viên - Di Linh và Bảo Lộc, có khí hậu mát mẻ, ôn hòa quanh năm và có rất nhiều cảnh đẹp Do nhận thức đúng về vị trí, vai trò của rừng đối với việc phát triển kinh tế xã hội, tỉnh Lâm Đồng và xác định hoạt động du lịch sinh thái phải là công cụ để bảo tồn và giáo dục môi trường, nên phần lớn các khu du lịch trọng điểm của tỉnh Lâm Đồng đều gắn liền với rừng, chủ yếu là rừng đặc dụng; Tỉnh Lâm Đồng đã làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá, giáo dục cộng đồng và người dân tham gia tích cực vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Người dân trước đây là lực lượng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia phá rừng, khai thác rừng, săn bắn, bẫy bắt ĐVHD trái phép,…thì bây giờ họ được tham gia và hưởng lợi trực tiếp nhờ vào các hoạt động du lịch
1.5.2 Kinh nghiệm của tỉnh Kom Tum
Tổng diện tích rừng hiện có trên địa bàn Kon Tum là 617.680
ha, độ che phủ của rừng năm 2016 đạt 62,2% là một trong những địa phương có mật độ che phủ rừng cao nhất cả nước Công tác quản lý, bảo
vệ và phát triển rừng đạt được kết quả khả quan trên là do: công tác chỉ đạo thống nhất trong toàn bộ từ tỉnh chính quyền địa phương; có sự tham gia, phối hợp của các cơ quan, đoàn thể từ đó tạo ra sức mạnh tổng hợp về lực lượng, phương tiện và vị thế pháp lý trong quá trình kiểm tra, truy quét, trấn áp các đối tượng vi phạm, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng Tỉnh Kom Tum chú trọng tuyên truyền trực tiếp đến người dân những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng người dân tộc thiểu số sống gần rừng; tăng cường phối hợp có hiệu quả giữa cộng đồng dân cư thôn, làng với chủ rừng, chính quyền xã và Kiểm lâm trong công tác QLBVR Đồng thời đã tiến hành giao đất giao rừng cho các hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn với tổng diện tích rừng và đất rừng được giao
là 27.264,5 ha, trong đó: giao đất giao rừng cho hộ gia đình 24.413,4 ha/2.458 hộ; giao cho cộng đồng 2.985,7 ha/18 thôn, làng Việc kết hợp với triển khai chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng trên diện tích giao đất giao rừng cho các hộ gia đình và cộng đồng đã nhận được sự đồng thuận, ủng hộ cao của cộng đồng dân cư sống gần rừng; Trên địa bàn tỉnh Kon Tum có hơn 20 đơn vị chủ rừng là tổ chức, quản lý hơn 500.000 ha diện tích rừng và đất lâm nghiệp, phân bố chủ yếu trên địa bàn 09 huyện Trong thời gian qua, lực lượng Kiểm lâm thực hiện phối hợp với các đơn vị chủ rừng trong thực hiện các nhiệm vụ có liên quan đến công tác quản lý bảo
vệ, phát triển rừng và phòng cháy chữa cháy rừng Cử công chức tham gia các trạm, chốt liên ngành trên lâm phần của chủ rừng Bên cạnh một số địa phương, đơn vị để mất rừng một cách đáng tiếc, cũng có những đơn vị, chủ rừng, chính quyền địa phương đã làm tốt công tác trồng rừng thay thế, góp phần đáng kể trong việc phủ xanh đồi núi trọc, tăng độ che phủ của rừng
Trang 11trên địa bàn; trong 5 năm tỉnh Kon Tum đã trồng mới được trên 6.600 ha rừng các loại, đồng thời thử nghiệm trồng thành công 180 ha sâm Ngọc Linh - loại sâm quý nổi tiếng
1.5.3 Kinh nghiệm của tỉnh Đăk Nông
Tỉnh Đắk Nông nằm ở phía Nam Tây Nguyên, giáp với nước bạn Campuchia và là nơi đầu nguồn sông Đồng Nai và sông Sêrêpốk Với vị trí địa lý trọng yếu, vì vậy rừng ở Đắk Nông có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng hộ cho khu vực kinh tế trọng điểm Đông Nam bộ, bảo đảm an ninh môi trường và an ninh quốc phòng quốc gia
Mặc dù ngành Lâm nghiệp của tỉnh Đắk Nông có vai trò vô cùng quan trọng, nhưng thực tế các giá trị của nó đang bị suy giảm nghiêm trọng Độ che phủ rừng giảm từ 56,7% năm 2004 xuống còn 38,8% vào năm 2016 Từ đó kéo theo sự suy giảm nghiêm trọng về tính đa dạng sinh học, chức năng phòng hộ và cung cấp lâm sản của rừng Ngoài việc diện tích rừng tự nhiên suy giảm thì công tác phát triển rừng đạt kết quả rất thấp Đến hết năm 2016 toàn tỉnh chỉ trồng được 42.825 ha rừng Diện tích rừng suy giảm đã kéo theo những biến động lớn của các đơn vị quản lý Năm 2004 toàn tỉnh có 18 lâm trường quốc doanh và 3 ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ thì đến năm 2017 chỉ còn 5 Công ty TNHH MTV LN;
8 ban quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ; 43 doanh nghiệp thuê đất, thuê rừng và một số chủ rừng khác Quy hoạch 3 loại rừng chất lượng thấp, thường xuyên bị phá vỡ, điều chỉnh; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật chưa nghiêm là những thực trạng đáng báo động của ngành lâm nghiệp
Để dẫn đến thực trạng như trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân Trước hết là sự bất cập, thiếu đồng bộ, chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn giữa các văn bản quy phạm pháp luật Đặc biệt là những quy định liên quan đến quyền và nghĩa vụ của một số chủ thể quản lý rừng Các quy định của pháp luật chưa làm rõ cơ chế thực hiện các quyền định đoạt của Nhà nước khi được Nhà nước giao, cho thuê rừng tự nhiên Cơ chế chính sách hưởng lợi từ rừng còn nhiều bất cập, nên chưa khuyến khích được xã hội chung tay phát triển vốn rừng C tác tổ chức quản lý ngành của lực lượng Kiểm lâm, cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp còn nhiều bất cập nên chưa phát huy hết vai trò, trách nhiệm được giao Việc chuyển các lâm trường sang công ty Lâm nghiệp chỉ là “bình mới, rượu cũ”, chưa có sự thay đổi căn bản về cơ chế quản lý, quản trị doanh nghiệp Qua thời gian hoạt động, nhiều công ty Lâm nghiệp bị giải thể hoặc phải chuyển đổi mô hình hoạt động
Trong khi rừng đứng trước áp lực của dân di cư tự do, giá cả nông sản tăng cao nên người dân phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp thì
Trang 12ngược lại công tác quản lý nhà nước về Lâm nghiệp, đất đai và dân cư bộc
lộ nhiều yếu kém, bất cập Nhiều chính sách như khoán theo Nghị định 135/2005/NĐ-CP; giao đất, giao rừng; chuyển đổi rừng tự nhiên sang trồng cây công nghiệp, liên doanh liên kết; cho thuê đất, thuê rừng bị thực hiện một cách “méo mó“, không hiệu quả Đáng chú ý, nhiều người (trong đó có những người có trách nhiệm bảo vệ rừng) lợi dụng sự buông lỏng quản lý
và thiếu nghiêm minh của pháp luật để trục lợi, bảo kê, thậm chí là tham gia phá rừng Cùng với đó, sự yếu kém trong quản lý nhà nước, nhất là cấp chính quyền cơ sở, sự hoạt động thiếu hiệu quả của lực lượng Kiểm lâm và
sự buông lỏng, tiếp tay của một số chủ rừng đã dẫn đến thực trạng rừng bị mất trên quy mô diện tích lớn, trong thời gian dài
1.6 Bài học kinh nghiệm đúc kết
Một là, phải có sự nhận thức đúng của các cấp lãnh đạo, chính quyền địa phương về vị trí, vai trò của rừng, nghề rừng đối với sự phát triển kinh
tế xã hội Từ đó có sự chỉ đạo thống nhất trong việc thực hiện các chủ trương, định hướng phát triển lâm nghiệp tại địa phương
Hai là, tổ chức triển khai đồng bộ các chính sách, quy hoạch, kế hoạch trong lĩnh vực quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
Ba là, chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng và người dân tích cực tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng Bốn là, phải chăm lo đời sống của người dân sống trên địa bàn lâm nghiệp
Kết luận Chương 1
Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ rừng, tôi rút ra một số kết luận sau:
Thứ nhất, rừng là một hệ sinh thái có vai trò vô cùng to lớn đối với
sự phát triển của con người, có thể xem rừng như là cái nôi nuôi dưỡng sự sống vai trò của rừng không chỉ quan trọng đối với cộng đồng, từng địa phương hay từng quốc gia mà nó phải được quan tâm bảo vệ trên phạm vi toàn cầu Do đó bảo vệ rừng là trách nhiệm của tất cả chúng ta Chính vì vậy, chúng ta phải có cách thức phù hợp để bảo vệ rừng mà trong đó QLNN đóng vai trò quan trọng, là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ rừng Thứ hai, QLNN về bảo vệ rừng phải được điều chỉnh dựa vào sự phù hợp và xác định rõ nội dung điều chỉnh làm cơ sở để phân tích cơ cấu tổ chức QLNN hiện nay ở Trung ương, địa phương để đưa ra các đánh giá phù hợp trong chương 2 và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện trong chương 3
Trang 13Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ RỪNG TẠI
TỈNH ĐẮK LẮK 2.1 Tổng quan về phát triển, quản lý và bảo vệ rừng tại tỉnh Đắk Lắk
2.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng
2.1.1.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp
Tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp: 721.786,1 ha (gồm cả diện tích rừng trồng dưới 3 năm tuổi); trong đó: Diện tích có rừng: 526.534,4
ha, bao gồm: Rừng tự nhiên: 472.179,7 ha (Rừng gỗ: 457.503,6 ha; Rừng tre nứa:4.918,9 ha) và rừng trồng: 54.354,7 ha (Rừng trồng từ 3 năm tuổi trở lên: 42.764,7 ha; Rừng trồng dưới 3 năm tuổi:11.590,0 ha (diện tích này không tính vào độ che phủ rừng)); Đất chưa có rừng: 206.841,7 ha
2.1.1.2 Tài nguyên rừng
Đắk Lắk là tỉnh cao nguyên trung bộ có độ che phủ rừng cao và chứa đựng nhiều khu rừng có gía trị bảo tồn đa dạng sinh học Với đặc điểm địa hình, khí hậu đặc thù của vùng cao Tây Nguyên, cùng với sự đa dạng của thổ nhưỡng đã hình thành nên nhiều hệ sinh thái rừng, kiểu thảm thực vật, sinh cảnh và cảnh quan, xã hợp thực vật phong phú và tồn tại nhiều loài động thực vật đặc hữu không chỉ ở Tây Nguyên mà còn cấp quốc gia và toàn cầu Đắk Lắk có 9/14 kiểu thảm rừng với có 618 loài thuộc 104 họ, 32
bộ, thuộc các lớp Thú, Chim, Bò sát, Ếch nhái Thực vật có 1825 loài thuộc
187 họ, 61 bộ, ở 11 lớp thuộc 7 ngành là Dây gấm, Dương xỉ, Ngọc lan, Thông, Thông đất, Cỏ Tháp bút và Tuế; trong đó có nhiều loài hiếm, có nguy cơ bị đe dọa và đặc hữu của vùng Tây Nguyên
2.1.1.3 Quy hoạch 3 loại rừng
Năm 2007, tỉnh Đắk Lắk thực hiện rà soát 03 loại rừng theo chỉ thị 38/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ Cụ thể: Tổng diện tích đất tự nhiên: 1.312.532 ha; trong đó: Diện tích đất có rừng: 580.402,9 ha, bao gồm: Rừng tự nhiên: 562.148,0 ha và rừng trồng: 18.254,9 ha
Kết quả kiểm kê rừng năm 2014 đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 255/QĐ-UBND ngày 27/01/2015: Tổng diện tích đất tự nhiên: 1.312.537 ha; trong đó: Diện tích đất có rừng: 528.147 ha, bao gồm: Rừng tự nhiên: 475.909 ha và rừng trồng: 52.238 ha
2.1.1.4 Diễn biến tài nguyên rừng
Mục tiêu của công tác theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp là xác định rõ những nguyên nhân thay đổi để làm cơ sở hoạch định các chính sách quản lý lâm nghiệp, đề ra các giải pháp bảo vệ và phát triển rừng nhằm phục vụ định hướng quy hoạch lâm nghiệp, lập kế hoạch chỉ đạo điều hành trong lĩnh vực lâm nghiệp từ trung ương đến địa phương để phục