Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm vận dụng lý luận về Ngân sách Nhà nước, quản lý thu, chi ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của huyện EaH’leo. Từ đó, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu của huyện EaH’leo trong thời gian tới.
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
HUỲNH THỊ ĐÀO
QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN EAH’LEO, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THANH NAM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Quản lý Ngân sách Nhà Nước tại huyện EaH’ Leo, tỉnh ĐắkLắk” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, chưa được công bố ở
bất kỳ công trình nào khác Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng các kiến thức
đã được học, nghiên cứu các tài liệu tham khảo, thực hiện điều tra khảo sát thực tiễn cùng với sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thanh Nam Số liệu và các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, hoàn toàn dựa theo số liệu đã được thu thập
và điều tra Các thông tin trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn từ nhiều tài liệu tham khảo đáng tin cậy
EaHleo, ngày tháng 8 năm 2018
Học viên
Huỳnh Thị Đào
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thanh Nam, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Đắk Lắk đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này Xin trân trọng cảm ơn các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt các chuyên đề trong khoá học và đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, công chức Ủy ban nhân dân các
xã, thị trấn trên địa bàn huyện EaH’leo, tỉnh Đaklak, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện EaH’leo, cùng các đồng chí lãnh đạo cơ quan Ủy ban nhân dân huyện EaH’leo
đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn thành khoá học này
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng với thời gian và điều kiện nghiên cứu còn nhiều hạn chế, chắc chắn Luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, thầy cô giáo và đồng nghiệp
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cơ quan đã động viên, góp ý trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Tác giả
Huỳnh Thị Đào
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 4
7 Kết cấu của luận văn 5
CHƯƠNG I : CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 6
1.1 Lý luận về quản lý ngân sách nhà nước: 6
1.1.1 Một số khái niệm ngân sách nhà nước 6
1.1.2 Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước 7
1.1.3 Đặc điểm của quản lý ngân sách nhà nước 9
1.2 Nguyên tắc, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến QLNN nhà nước cấp huyện 10
1.2.1 Nguyên tắc của quản lý ngân sách nhà nước: 10
1.2.2 Nội dung của quản lý ngân sách nhà nước: 12
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách Nhà nước cấp huyện: 15
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh ĐắkLăk 17
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 20
Trang 6HUYỆN EAH’ LEO, ĐẮKLẮK 20
2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Ea H’leo, tỉnh ĐăkLăk 20
2.2 Thực trạng quản lý ngân sách tại huyện Ea H’leo, tỉnh ĐăkLắk 23
2.3 Thực trạng quản lý, điều hành ngân sách huyện 27
2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Ea H’leo 27
2.3.2 Chu trình quản lý ngân sách nhà nước 31
CHƯƠNG 3 : PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC EAH’LEO, ĐẮKLẮK 59
3.1 Phương hướng 59
3.2 Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Ea H’leo, tỉnh ĐakLak 60
3.2.1 Nâng cao chất lượng xây dựng dự toán ngân sách huyện: 60
3.2.2 Tăng cường hiệu qủa quản lý thu, chi trong tổ chức thực hiện dự toán ngân sách huyện 61
3.3 Kiến nghị: 72
KẾT LUẬN 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) GTGT Giá trị gia tăng
NSĐP Ngân sách địa phương
NSTW Ngân sách Trung ương
TM-DV Thương mại – dịch vụ
TNCN Thu nhập cá nhân
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, PHỤ LỤC
Bảng 2.3.2.3 Tỉ lệ phần trăm % phân chia các khoản thu cho ngân
sách các xã, thị trấn giai đoạn 2013 - 2017 Bảng số:2.3.2.4 Bảng quyết toán ngân sách nhà nước từ năm 2013 -
2017
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngân sách Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động kinh tế
- xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước Vai trò của ngân sách Nhà nước luôn gắn liền với vai trò của Nhà nước theo từng giai đoạn nhất định Ngân sách Nhà nước là công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế xã hội, định hướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống xã hội Về mặt kinh tế, ngân sách Nhà nước có vai trò kích thích sự tăng trưởng kinh tế theo định hướng phát triển kinh tế xã hội thông qua các công cụ thuế và thuế xuất của Nhà nước.Về mặt xã hội, ngân sách Nhà nước có vai trò điều tiết thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong
xã hội Về mặt thị trường, ngân sách Nhà nước được sử dụng như một công cụ để góp phần bình ổn giá cả và kiềm chế lạm phát
Ngân sách Nhà nước là nguồn lực tài chính của quốc gia Để quản lý quá trình hình thành và phân bổ một cách có hiệu quả việc sử dụng ngân sách Nhà nước
là một vấn đề quan trọng và cấp thiết của các quốc gia trên thế giới Quản lý ngân sách Nhà nước là một bộ phận cấu thành của quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội và được thực hiện bởi hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước từ trung ương đến địa phương
Ngân sách Nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thuộc ngân sách địa phương và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh thuộc ngân sách Nhà nước do UBND huyện điều hành để thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của huyện Luật ngân sách Nhà nước là cơ sở pháp lý cơ bản để tổ chức quản lý ngân sách Nhà nước nói chung và ngân sách cấp huyện nói riêng nhằm phục vụ cho công cuộc đổi mới đất nước Song thực tế hiện nay những yếu tố, điều kiện tiền đề chưa được tạo lập đồng bộ, làm cho quá trình quản lý ngân sách các cấp đạt hiệu quả thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu mà luật ngân sách đặt ra Do vậy, để chính quyền huyện thực thi hiệu quả những nhiệm vụ kinh tế xã hội, kinh tế địa phương trên các lĩnh vực đặc biệt
là nông nghiệp nông thôn trên địa bàn thì cần có một ngân sách huyện đủ mạnh và phù hợp là một đòi hỏi thiết thực, là một mục tiêu phấn đấu đối với cấp huyện Vì thế hơn bao giờ hết hoàn thiện và đổi mới công tác quản lý ngân sách huyện là một nhiệm vụ luôn được quan tâm
Trang 10Qua thực tế nghiên cứu tình hình quản lý ngân sách Nhà nước ở huyện EaHleo, tỉnh Đăk Lăk, trong những năm qua, việc thực hiện quản lý ngân sách đã có nhiều chuyển biến tích cực, thu chi ngân sách cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế- xã hội Tuy nhiên, công tác quản lý ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều bất cập cần được khắc phục và hoàn thiện Hiện nay, công tác Nhà nước về quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn huyện vẫn còn nhiều khuyết điểm, hạn chế, chưa thể hiện hết vai trò của mình đối với sự phát triển kinh tế trên địa bàn, một trong những nguyên nhân đó là việc phân cấp quản lý hiện nay còn niều hạn chế, thẩm quyền quyết định ngân sách còn chồng chéo chưa thật sự tạo cho địa phương làm chủ ngân sách của mình, hơn nữa nhiều quy định về chế độ , định mức tiêu chuẩn chưa bao quát được tất cả lĩnh vực, không sát thực tế, địa phương khó thực hiện, trong khi nguồn thu ngân sách hạn chế nhu cầu chi cho phát triển kinh tế là rất lớn
Hoàn thiện công tác quản lý thu, chi ngân sách nhằm động viên đầy đủ và hợp
lý các nguồn thu vào NSNN, tạo nguồn lực tài chính mạnh mẽ, chính là yếu tố có tình quyết định để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của huyện trong giai đoạn 2016-2020 đã đề ra
Căn cứ vào những vấn đề trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài “Quản lý ngân sách tại huyện EaHleo, tỉnh Đắk Lắk” làm luận văn với mong muốn góp một phần nhỏ
vào quá trình giải quyết những tồn tại trong quá trình quản lý thu, chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện, góp phần phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo
an sinh xã hội và nâng cao đời sống của nhân dân ở địa phương
2 Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu quản lý Nhà nước đối với công tác thu, chi ngân sách ở nước
ta trong những năm qua có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan trung ương và địa phương như:
Đề tài “Quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước cho ngành giáo
dục quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ của tác giả Vũ Quang
Trung (năm 2012) Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước và thực trạng công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục trên địa bàn quận, nghiên cứu đưa ra những giải
Trang 11pháp thiết thực góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách Nhà nước cho ngành giáo dục trên địa bàn quận Tây Hồ
Đề tài “Quản lý ngân sách Nhà nước của thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh
Bình”, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thanh Hà (năm 2012) Luận văn
đã hệ thống hóa được sự hình thành, tồn tại và phát triển của ngân sách huyện qua các thời kỳ lịch sử, vai trò của nó đối với sự phát triển cũng như sự nâng cao hiệu lực quản lý của hệ thống chính trị địa phương trong phát triển kinh tếi- xã hội Phân tích thực trạng về quản lý ngân sách thị xã Tam Điệp và các hoạt động tài chính trên địa bàn để làm rõ những ưu điểm, tồn tại cơ bản và nguyên nhân của nó Trên cơ sở đó, luận văn đã đưa ra một số mục tiêu định hướng và các giải pháp
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý ngân sách Nhà nước và quản lý chi ngân sách Nhà nước nhưng những công trình này chủ yếu nghiên cứu ở tầm vĩ mô hoặc chuyên về từng mảng chuyên môn theo nội hàm của ngân sách Nhà nước như thu, chi, phân cấp phù hợp với từng địa phương cụ thể; Riêng đối với quản lý Nhà nước về thu , chi ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện EaH’leo, tỉnh Đắk Lắk đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề này Chỉ có một số bài báo của tỉnh, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu một cách
cụ thể nội dung nói trên.Điều đó cho thấy việc nghiên cứu đề tài này là vấn đề mới đặt ra, vừa khó khăn, đòi hỏi phải nghiên cứu những điều kiện đăch thù của huyện để quản lý thu, chi ngân sách có hiệu quả hơn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: Vận dụng lý luận về Ngân sách Nhà nước, quản lý thu, chi ngân
sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước của huyện EaH’leo Từ đó, đề xuất một số quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu của huyện EaH’leo trong thời gian tới
- Nhiệm vụ: Khái quát lại những lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước, quản
lý thu ngân sách nhà nước
+ Khảo sát, phân tích thực trạng quản lý thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017
Trang 12+ Đề xuất một số quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu của huyện EaH’leo trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng:là những vấn đề lý luận về quản lý ngân sách Nhà nước và tình
hình quản lý ngân sách Nhà nước của huyện EaH’leo, tỉnh Đăk Lăk trong giai đoạn
từ năm 2013 đến năm 2017
- Phạm vi: Luận văn chủ yếu nghiên cứu công tác quản lý thu ngân sách nhà
nước trên địa bàn huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk từ năm 2013 đến năm 2017
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong luận văn tác giả đã sử dụng những phương pháp cụ thể như:
- Phương pháp duy vật biện chứng: là phương pháp cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin được sử dụng đối với nhiều môn khoa học, khi xem xét các hiện tượng và quá trình kinh tế phải đặt trong mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, thường xuyên vận động, phát triển không ngừng, từ đó phát hiện ra những vấn đề mang tính quy luật phục vụ cho nghiên cứu
- Phương pháp duy vật lịch sử: là nghiên cứu các sự kiện về đối tượng nghiên
cứu trong những bối cảnh và điều kiện kinh tế - xã hội nhất định, giúp chúng ta xem xét và phân tích vấn đề trong mối quan hệ với thời gian, không gian một cách có hệ thống, từ đó tìm ra nguyên nhân và hướng giải quyết
- Phương pháp thống kê mô tả: là thu thập tài liệu, phân tích, tổng hợp, so
sánh số liệu giữa các năm trong công tác quản lý ngân sách để đánh giá các nhận định, từ đó rút ra kết luận về đối tượng được nghiên cứu thông qua việc xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê toán học trên Excel
- Phương pháp thu thập thông tin: là thu thập, tổng hợpthông tin thực tế trực
tiếp từ các đơn vị nhằm đánh giá thực trạng, phân tích những hạn chế và đưa ra giải pháp hợp lý cho vấn đề nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn vận dụng lý luận về quản lý ngân sách nhà nước để phân tích, đánh giá thực trạng công tác thu ngân sách nhà nước của huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk Từ
Trang 13đó đặt ra quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý thu ngân sách nhà nước huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới
Với kết quả nghiên cứu đó, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc lãnh đạo, điều hành thu, chi ngân sách nhà nước góp phần thúc đẩy phát triển KT-XH trên địa bàn huyện EaH’leo tỉnh Đắk Lắk
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở khoa học về quản lý ngân sách nhà nước
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách nhà nước huyện EaH’ Leo, tỉnh
ĐắkLắk
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách
nhà nước huyện EaH’ Leo, tỉnh ĐắkLắk
Trang 14CHƯƠNG I
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1 Lý luận về quản lý ngân sách nhà nước:
1.1.1 Một số khái niệm ngân sách nhà nước
- Khái niệm về ngân sách nhà nước:
Thuật ngữ "ngân sách nhà nước" được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh
tế - xã hội ở mọi quốc gia Song quan niệm về ngân sách nhà nước lại chưa thống nhất, người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa về ngân sách nhà nước tùy theo các
trường phái và các lĩnh vực nghiên cứu, như:
Ngân sách nhà nước là bản dự trù thu chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm Quan niệm này đúng về mă ̣t hình thức, đã mô tả mă ̣t thực thể vật chất của NSNN; tuy nhiên chưa thể hiện được vị trí của NSNN
Ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, là kế hoạch tài chính cơ bản của nhà nước Quan niệm này đã mô tả mă ̣t cụ thể, mă ̣t vật chất của NSNN đồng thời thể hiện vị trí NSNN so với các quỹ tiền tệ khác Tuy nhiên, quan điểm này cũng chưa thể hiện được nội dung kinh tế xã hội của NSNN
Ngân sách nhà nước là những quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính khác nhau Quan điểm này đã nêu bật được NSNN chứa đựng các quan hệ kinh tế, tuy nhiên lại không
nói lên được thực thể vật chất NSNN là gì?
Theo điều 1 của luật Ngân sách nhà nước được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ 2, năm 2002 đã đưa ra khái niệm NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Ngân sách nhà nước gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
- Khái niệm về quản lý ngân sách nhà nước: là việc xây dựng kế hoạch tạo
lập, sử dụng ngân sách Nhà nước tập trung các khoản thu, tổ chức và điều hòa vốn
Trang 15tiền mặt đầy đủ và tính phân cấp, tính thống nhất thể hiện trong các chế độ, chính sách, phương thức quản lý và sự thống nhất khi sử dụng đơn vị tiền tệ để hạch toán,luật Ngân sách nhà nước quy định mọi khoản thu, chi ngân sách Nhà nước đều phải được hạch toán bằng đồng Việt Nam
Tính toán đầy đủ yêu cầu tất cả các khoản thu chi của ngân sách phải được hạch toán đầy đủ vào ngân sách Nhà nước Các khoản thu do cơ quan thu trực tiếp thu phải nộp tiền vào kho bạc và phải báo cáo với cơ quan tài chính, kho bạc để hạch toán và làm các thủ tục cấp phát, thanh toán
Tính phân cấp đòi hỏi nguồn thu của ngân sách cấp nào phải tập trung vào ngân sách cấp đó, không được sử dụng quỹ của ngân sách cấp này để chi cho ngân sách cấp khác
1.1.2 Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước
Trong nền kinh tế thị trường vai trò của quản lýngân sách nhà nước được thay đổi và trở nên hết sức quan trọng Trong quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc gia quản
lýngân sách nhà nước có các vai trò như sau :
Vai trò huy động các nguồn Tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu của Nhà nước: Vai trò này xuất phát từ bản chất kinh tế của Ngân sách nhà nước, để đảm bảo
cho hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội đòi hỏi phải
có những nguồn tài chính nhất định Những nguồn tài chính này được hình thành từ các khoản thu thuế và các khoản thu ngoài thuế Đây là vai trò lịch sử của quản lýngân sách nhà nước mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào, cơ chế kinh tế nào ngân sách nhà nước đều phải thực hiện
Công cụ điều tiết thị trường, bình ổn giá cả và chống lạm phát: Đặc điểm nổi
bật của nền kinh tế thị trường là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi nhuận tối đa, các yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ làm cho giá cả tăng lên hoặc giảm đột biến và gây ra biến động trên thị trường, dẫn đến sự dịch chuyển vốn của các doanh nghiệp từ ngành này sang ngành khác, từ địa phương này sang địa phương khác Việc dịch chuyển vốn hàng loạt sẽ tác động tiêu cực đến cơ cấu kinh tế, nền kinh tế phát triển không cân đối
Do đó, để đảm bảo lợi ích cho nhà sản xuất cũng như người tiêu dùng nhà nước
Trang 16phải sử dụng ngân sách để can thiệp vào thị trường nhằm bình ổn giá cả thông qua công cụ thuế và các khoản chi từ ngân sách nhà nước dưới các hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ hàng hoá và dự trữ tài chính Đồng thời , trong quá trình điều tiết thị trường ngân sách nhà nước còn tác động đến thị trường tiền tệ
và thị trường vốn thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính như: phát hành trái phiếu chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia mua bán chứng khoán trên thị trường vốn… qua đó góp phần kiểm soát lạm phát
Công cụ định huớng phát triển sản xuất: Để định hướng và thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế nhà nước sử dụng công cụ thuế và chi ngân sách Bằng công cụ thuế một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách, mặt khác nhà nước sử dụng thuế với các loại thuế, các mức thuế suất khác nhau sẽ góp phần kích thích sản xuất phát triển và hướng dẫn các nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư vào những vùng những lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế theo hướng đã định Đồng thời, với các khoản chi phát triển kinh tế, đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vào các ngành kinh tế mũi nhọn… nhà nước có thể tạo điều kiện và hướng dẫn các nguồn vốn đầu tư của xã hội vào những vùng, lĩnh vực cần thiết để hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý
Công cụ điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư : Nền kinh tế thị
trường với những khuyết tật của nó sẽ dẫn đến sự phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, nhà nước phải có một chính sách phân phối lại thu nhập hợp lý nhằm giảm bớt khoảng cách chênh lệch về thu nhập trong dân cư Ngân sách nhà nước là công cụ tài chính hữu hiệu được nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập, với các sắc thuế như thuế thu nhập luỹ tiến, thuế tiêu thụ đặc biệt … một mặt tạo nguồn thu cho ngân sách mặt khác lại điều tiết một phần thu nhập của tầng lớp dân cư có thu nhập cao Bên cạnh công cụ thuế, với các khoản chi của ngân sách nhà nước như chi trợ cấp, chi phúc lợi cho các chương trình phát triển xã hội: phòng chống dịch bệnh, phổ cập giáo dục tiểu học, dân số và kế hoạch hoá gia đình… là nguồn bổ sung thu nhập cho tầng lớp dân cư có thu nhập thấp
Các vai trò trên của quản lýngân sách nhà nước cho thấy tính chất quan trọng của quản lýngân sách nhà nước, với các công cụ của nó có thể quản lý toàn diện và có hiệu quả đối với toàn bộ nền kinh tế
Trang 171.1.3 Đặc điểm của quản lý ngân sách nhà nước
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy Nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu
để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có năm đặc điểm chính sau:
- Việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn liền với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định NSNN là một bộ luật tài chính đặc biệt, bởi lẽ trong NSNN, các chủ thể của nó được thiết lập dựa vào hệ thống các pháp luật có liên quan như hiến pháp, các luật thuế,… nhưng mặt khác, bản thân NSNN cũng là một bộ luật do Quốc hội quyết định và thông qua hằng năm, mang tính chất áp đặt và bắt buộc các chủ thể kinh tế - xã hội có liên quan phải tuân thủ
- NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước và luôn chứa đựng lợi ích chung, lợi ích công cộng Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quyết định đến các khoản thu – chi của NSNN và hoạt động thu – chi này nhằm mục tiêu giúp Nhà nước giải quyết các quan hệ lợi ích trong xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư
- NSNN là một bản dự toán thu chi Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm lập NSNN và đề ra các thông số quan trọng có liên quan đến chính sách mà Chính phủ phải thực hiện trong năm tài khóa tiếp theo Thu, chi NSNN là cơ sở để thực hiện các chính sách của Chính phủ Chính sách nào mà không được dự kiến trong NSNN thì
sẽ không được thực hiện Chính vì như vậy mà, việc thông qua NSNN là một sự kiện chính trị quan trọng, nó biểu hiện sự nhất trí trong Quốc hội về chính sách của Nhà nước Quốc hội mà không thông qua NSNN thì điều đó thể hiện sự thất bại của Chính phủ trong việc đề xuất chính sách đó, và có thể gây ra mâu thuẫn về chính trị
- NSNN là một bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia Hệ thống tài chính quốc gia bao gồm: tài chính nhà nước, tài chính doanh nghiệp, trung gian tài chính và tài chính cá nhân hoặc hộ gia đình Trong đó tài chính nhà nước là khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia Tài chính nhà nước tác động đến sự hoạt động
và phát triển của toàn bộ nền kinh tế - xã hội Tài chính nhà nước thực hiện huy động
và tập trung một bộ phận nguồn lực tài chính từ các định chế tài chính khác chủ yếu qua thuế và các khoản thu mang tính chất thuế Trên cơ sở nguồn lực huy động được,
Trang 18Chính phủ sử dụng quỹ ngân sách để tiến hành cấp phát kinh phí, tài trợ vốn cho các
tổ chức kinh tế, các đơn vị thuộc khu vực công nhằm thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội
- Đặc điểm của NSNN luôn gắn liền với tính giai cấp Trong thời kỳ phong kiến, mô hình ngân sách sơ khai và tuỳ tiện, lẫn lộn giữa ngân khố của Nhà vua với ngân sách của Nhà nước phong kiến Hoạt động thu – chi lúc này mang tính cống nạp – ban phát giữa Nhà vua và các tầng lớp dân cư, quan lại, thương nhân, thợ thuyền và các nước chư hầu (nếu có) Quyền quyết định các khoản thu – chi của ngân sách chủ yếu là do người đứng đầu một nước (nhà vua) quyết định Trong thời kỳ hiện nay (Nhà nước TBCN hoặc Nhà nước XHCN), ngân sách được dự toán, được thảo luận và phê chuẩn bởi cơ quan pháp quyền, quyền quyết định là của toàn dân được thực hiện thông qua Quốc hội NSNN được giới hạn thời gian sử dụng, được quy định nội dung thu - chi, được kiểm soát bởi hệ thống thể chế, báo chí và nhân dân
1.2 Nguyên tắc, nội dung và những nhân tố ảnh hưởng đến QLNN nhà nước cấp huyện
1.2.1 Nguyên tắc của quản lý ngân sách nhà nước:
- Nguyên tắc thống nhất và tập trung, dân chủ Nước ta là một Quốc gia thống
nhất, quyền lực Nhà nước là thống nhất, do đó chỉ có một NSNN thống nhất do Quốc hội phê chuẩn dự toán và quyết toán ngân sách; Chính phủ thống nhất quản lý NSNN; Nguyên tắc tổ chức bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc tập trung dân chủ, NSNN là công cụ của Nhà nước, vì vậy hệ thống NSNN cũng được xây dựng theo nguyên tắc đó Ở mỗi cấp chính quyền, HĐND thảo luận ngân sách cấp mình, nhưng phải được UBND cấp trên và Chính phủ xét duyệt lại để thống nhất vào ngân sách cấp trên và NSTW Ngân sách các cấp đều phải chấp hành các Luật, các Nghị quyết của Quốc hội, các quyết định của Chính phủ về chế độ thu chi, các định mức, tiêu chuẩn
chi tiêu, mục lục NSNN và các quy định khác có liên quan
- Nguyên tắc bảo đảm tính phù hợp giữa cấp ngân sách với cấp chính quyền
Nhà nước Nguyên tắc này xuất phát từ yêu cầu bảo đảm nguồn tài chính cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp chính quyền Nhà nước Theo Hiến pháp
và Luật tổ chức HĐND và UBND 2003, mỗi cấp chính quyền có chức năng, nhiệm
vụ phải thực hiện đòi hỏi cần phải có nguồn ngân sách cung ứng Có thể lựa chọn
Trang 19cách cung ứng nguồn tài chính từ ngân sách cấp trên cho chính quyền cấp dưới bằng hình thức một đơn vị dự toán, nhưng điều đó dễ làm chính quyền cấp dưới ỷ lại chính quyền cấp trên, khôngkhai thác nguồn lực tại chỗ và tiết kiệm chi tiêu, đồng thời mất tính chủđộng và kịp thời khi có yêu cầu Do vậy, cách tốt hơn là xây dựng cho mỗi cấp chính quyền cóngân sách của cấp mình, có nguồnthu và các khoản chi, có quyền quyếtđịnhngân sách của cấp mình trên cơ sở chấp hành pháp luật của Nhà nước Cách lựa chọn này phát huy được quyền dân chủ, tính chủđộng và tích cực trong khai thác nguồn thu, quản lý chi tiêu nhưng cũng cần đề phòng nảy sinh tính cục bộ, địa phương và dễ phân tán nguồn tài chính có hạn
Hiện nay, theo Luật ngân sách nhà nước Việt Nam quy định ngân sách nhà nước gồm NSTW và NSĐP
NSTW bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này, mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là mộtđơn vị dự toán của NSTW
NSĐP bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có HĐND và UBND Ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã) vừa là một cấpngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành củangân sách huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh Ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) vừa là một cấpngân sách vừa là một bộ phận cấu thành củangân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh) Ngoàingân sách xã, phường, thị trấn chưa có cácđơn vị dự toán ra, các cấpngân sách khácđều bao gồm một sốđơn vị dự toán củangân sách cấp đó hợp thành
lý, ngoài ra còn thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ cho ngân sách cấp dưới
Trang 20- Ngân sách cấp huyện là ngân sách trung gian có nhiệm vụ thu, chi theo Luật ngân sách đồng thời thực hiện quản lý, cấp phát theo chức năng nhiệm vụ được phân cấp
- Ngân sách cấp xã vừa là cấp ngân sách cơ sở trong hệ thống NSNN vừa là đơn vị dự toán đặc biệt với tư cách hưởng thụ từ NSNN, nó đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của chính quyền Nhà nước ở cơ sở
1.2.2 Nội dung của quản lý ngân sách nhà nước:
Luật NSNN số 01/2002/QH11 ban hành ngày 16/12/2002, có hiệu lực thi hành
từ năm ngân sách 2004 Theo tinh thần của luật NSNN, hệ thống NSNN gồm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương
NSTW bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này Mỗi bộ, mỗi cơ quan trung ương là một đơn vị dự toán của NSTW NSTW cung ứng cung ứng nguồn tài chính cho các nhiệm vụ, mục tiêu chung cho cả nước trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hỗ trợ chuyển giao nguồn tài chính cho ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
NSĐP là tên chung để chỉ ngân sách của các cấp chính quyền địa phương phù hợp với địa giới hành chính các cấp Ngân sách xã, phường, thị trấn vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành ngân sách cấp huyện và quận Ngân sách huyện, quận vừa là một cấp ngân sách, vừa là một bộ phận cấu thành của ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương Nhờ vậy, ngân sách nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện Ngân sách huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa chính quyền Nhà nước cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách của huyện Trên cơ sở đó mà đáp ứng các nhu cầu chi nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp huyện Mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước XHCN Đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
Vậy ngân sách nhà nước cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn cấp huyện
Trang 21NSNN cấp huyện mang bản chất của NSNN, đó là mối quan hệ giữa ngân sách huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng các nguồn lực kinh tế của huyện, mối quan hệ đó được điều chỉnh, điều tiết sao cho phù hợp với bản chất Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Quản lý NSNN là quá trình tác động của chủ thể quản lý NSNN thông qua việc sử dụng có chủ đi ̣nh các phương pháp quản lý và các công cụ quản lý để tác động và điều khiển hoa ̣t động của NSNN nhằm đa ̣t được mục tiêu đã đi ̣nh
Vai trò của ngân sách Nhà nước cấp huyện:
Với vị trí là một cấp trong hệ thống NSNN, ngoài những vai trò chủ đạo của
hệ thống NSNN nói chung ra thì ngân sách cấp huyện còn đảm nhận vai trò sau: -Ngân sách cấp huyện bảo đảm thực hiện chức năng của bộ máy Nhà nước Là một cấp chính quyền địa phương, chính quyền cấp huyện thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước trên địa bàn, để thực hn chức năng quản lý Nhà nước thì chính quyền cấp huyện cũng cần có quỹ tài chính tập iệtrung để sử dụng Hoạt động quản lý việc thu chi tài chính trên địa bàn huyện, đó chính là ngân sách cấp huyện Mặc dù không lớn mạnh như NSTW, ngân sách tỉnh, nhưng ngân sách cấp huyện cũng tạo cho mình một vị thế nhất định nhằm chủ động trong việc thực hiện chức năng của Nhà nước ở trên địa bàn
- Là công cụ thúc đẩy phát triển ổn định kinh tế địa phương Để thực hiện tốt chiến lược kinh tế - tài chính của trung ương, của tỉnh, cấp huyện cần phải sử dụng các công cụ sẵn có của mình để điều tiết, định hướng cho sự phát triển kinh tế của huyện Một trong những công cụ đắc lực là ngân sách, sẽ không có một cơ cấu kinh
tế ổn định, phát triển nếu bỏ qua công cụ này Các huyện phải căn cứ vào thế mạnh của địa phương mình để định hướng, hình thành cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế phù hợp với địa phương Đồng thời các huyện phải cung cấp kinh phí, vốn đầu tư, hỗ trợ
về cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp đóng trên địa bàn hoạt động và phát triển
- Là phương tiện bù đắp khiếm khuyết thị trường, đảm bảo công bằng xã hội và các vấn đề môi trường Đây là vai trò không thể thiếu đối với Ngân sách mỗi quốc gia
ở tất cả các cấp Nó có tác dụng giảm thiểu những khuyết tật của nền kinh tế thị trường Như chúng ta đã biết, kinh tế thị trường là chạy theo lợi nhuận bất chấp hậu quả Do
Trang 22đó, một loạt các vấn đề xảy đến: Thất nghiệp, khoảng cách giàu nghèo gia tăng, vì chạy theo lợi nhuận, các doanh nghiệp không quan tâm đến an sinh xã hội, lừa đảo, chiếm đoạt, gây ô nhiễm môi trường Vậy nênvai trò của bộ máy QLNN là sử dụng các công cụ sẵn có của mình, trong đó có NSNN để kiểm soát các vấn đề nêu trên phù hợp với lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội và lợi ích công dân
Bên cạnh đó, sử dụng có hiệu quả NSNN trong việc giải quyết các vấn đề xã hội, sự tồn tại và hoạt động có hiệu quả của bộ máy nhà nước, lực lượng quân đội, công an, sự phát triển của các hoat động xã hội, y tế, văn hóa có ý nghĩa quyết định Việc thực hiện nhiệm vụ này về cơ bản thuộc về Nhà nước và không vì mục tiêu lợi nhuận Việc sử dụng những dịch vụ công kể trên được phân chia giữa những người tiêu dùng, những nguồn tài trợ để thực hiện các nhiệm vụ đó lại được cấp phát từ NSNN Như vậy, trong việc thực hiện cung ứng các dịch vụ công cho toàn xã hội, NSNN có vai trò quan trọng hàng đầu
Theo quy định của luật ngân sách nhà nước và Nghị quyết của HĐND tỉnh Đaklak quy định phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách huyện trong thời
kỳ ổn định ngân sách giai đoạn 2013 -2017 cụ thể như sau:
- Nguồn thu của ngân sách huyện gồm:
+ Các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100%
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh
và ngân sách huyện
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh
- Nhiệm vụ chi của ngân sách huyện:
+ Chi đầu tư phát triển
+ Chi thường xuyên
+ Chi bổ sung cho ngân sách xã
+ Chi chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang ngân sách huyện năm sau
Hoạt động quản lý ngân sách Nhà nước bao gồm các nội dung sau:
-Xây dựng kế hoạch tạo lập và sử dụng quỹ Ngân sách Nhà nước, lập và cụ thể hóa thu chi ngân sách Nhà nước cả năm và theo định kỳ kế hoạch
Trang 23-Tập trung các nguồn thu là việc sử dụng hệ thống pháp luật thu hiện hành, các nghiệp vụ và kế hoạch thu được phân bổ để tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước, kể cả việc thực hiện các nghiệp vụ vay
-Tổ chức điều tiết nguồn thu cho từng cấp ngân sách Nhà nước trên cơ sở kế hoạch đã được phân bổ, bảo đảm nguồn kinh phí kịp thời cho các cấp ngân sách Nhà nước
-Thực hiện chi trả, cấp phát cho các đối tượng, kiểm tra việc sử dụng kinh phí theo chế độ chi tiêu của Nhà nước
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý ngân sách Nhà nước cấp huyện:
Quản lý thu, chi ngân sách nhà nước là hoạt động quản lý nhà nước trên lĩnh vực tài chính ngân sách Quá trình quản lý thu, chi ngân sách thường bị
chi phối bởi các nhân tố sau:
+ Nhân tố chủ quan: Nhóm nhân tố chủ quan bao gồm: năng lực quản lý của
người lãnh đạo các cơ quan quản lý trong bộ máy quản lý NSNN, trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức, tổ chức bộ máy quản lý NSNN cũng như quy trình
nghiệp vụ, công nghệ quản lý NSNN ở cấp huyện
-Năng lực quản lý của người lãnh đạo bộ máy NSNN ở cấp huyện Năng lực quản lý của người lãnh đạo có tầm quan trọng đặc biệt đối với công tác quản lý NSNN nói chung và quản lý NSNN ở từng địa phương nói riêng Nếu năng lực của người lãnh đạo yếu, bộ máy tổ chức không hợp lý, các chiến lược không phù hợp với thực tế thì việc quản lý NSNN sẽ không hiệu quả, dễ gây tình trạng chi vượt quá thu, chi mất cân đối trong phát triển, phân bổ chi không hợp lý; có thể dẫn đến tình trạng thâm hụt ngân sách, không thúc đẩy được sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo các vấn đề xã hội…
-Năng lực chuyên môn của các bộ phận quản lý NSNN ở cấp huyện lại là yếu
tố quyết định hiệu quả NSNN Nếu công chức quản lý có năng lực chuyên môn cao
sẽ giảm thiểu được sai lệch trong cung cấp thông tin của đối tượng sử dụng vốn NSNN, kiểm soát được toàn bộ nội dung thu -chi, nguyên tắc thu-chi và tuân thủ theo các quy định về quản lý NSNN đảm bảo theo dự toán đã đề ra
-Tổ chức bộ máy quản lý NSNN ở cấp huyện và việc vận dụng quy trình nghiệp vụ quản lý vào thực tiễn địa phương: hoạt động quản lý NSNN được triển
Trang 24khai có thuận lợi và hiệu quả hay không phụ thuộc rất lớn vào tổ chức bộ máy quản
lý NSNN và quy trình nghiệp vụ, trong đó đặc biệt là quy trình nghiệp vụ quản lý
- Việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong cuộc sống ngày nay đã và đang thực sự chứng tỏ vai trò không thể thiếu được của nó Thực tế đã chứng minh với việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác quản lý NSNN nói chung và quản lý chi NSNN ở cấp huyện nói riêng sẽ giúp tiết kiệm được thời gian xử lý công việc, đảm bảo được tính chính xác, nhanh chóng và thống nhất về mặt dữ liệu, tạo tiền đề để cải cách nghiệp vụ một cách hiệu quả
+ Nhân tố khách quan: Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm: khả năng về nguồn lực NSNN, các cơ chế chính sách, các quy định về quản lý NSNN ở cấp huyện, môi trường tự nhiên, kinh tế xã hội
-Nhân tố về thể chế tài chính Thể chế tài chính quy định phạm vi, đối tượng thu, chi của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý thu,chi ngân sách, sử dụng quỹ ngân sách Thể chế tài chính quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu Do vậy, nói đến nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thu, chi ngân sách trước hết phải nói đến thể chế tài chính
Vì nó chính là những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản
lý thu, chi ngân sách Thực tế cho thấy nhân tố về thể chế tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý thu chi ngân sách trên một lãnh thổ địa bàn nhất định, do vậy đòi hỏi phải ban hành những thể chế tài chính đúng đắn phù hợp mới tạo điều kiện cho công tác nói trên đạt được hiệu quả
-Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập Việc quản lý thu, chi ngân sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn Khi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó còn đòi hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu
Trang 25ngân sách phải thay đổi phù hợp với sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân tố này, trong qúa trình quản lý hoạch định của chính sách thu chi NSNN
Thực tế cho thấy, khi trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn còn thấp cũng như ý thức về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức, còn có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN Khi chúng ta thực hiện tốt những vấn đề thu ngân sách trong đó có nhiều nhân tố tác động nhưng trình độ mức sống của người dân ngày càng nâng cao thì việc thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước có thể rất dễ dàng Trường hợp nếu trình độ và mức sống còn thấp thì việc thu thuế cũng còn gặp rất nhiều khó khăn
1.3 Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh ĐắkLăk
- Quản lý ngân sách Nhà nước tại Thị xã Buôn hồ
Tại Thị xã Buôn hồ, khi UBND huyện giao dự toán, các cơ quan tham mưu xác định và quản lý nguồn thu là nhiệm vụ quan trọng giúp cho địa phương đảm bảo nguồn chi Thành lập Hội đồng đấu giá đất ở, xây dựng lực lượng uỷ nhiệm thu thuế cho các phường, thực hiện công khai quy trình thu tại trụ sở UBND thị xã, các hội trường phường, công khai trên đài phát thanh
về số hộ kinh doanh, mức thuế để dân biết tham gia giám sát bảo đảm đóng góp công bằng, động viên, nhắc nhở các hộ nộp thuế, coi đó là tiêu chuẩn thi đua ghi nhận khen hưởng danh hiệu đơn vịvà gia đình văn hoá Nhờ đó nguồn thu hàng năm của thị xã Buôn hồ luôn đảm bảo
Trong điều hành chi ngân sách, cấp uỷ, chính quyền các cấp đã chỉ đạo sát sao, chặt chẽ và các cơ quan chuyên môn tăng cường hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chi bám sát dự toán, bảo đảm cân đối tích cực Chi đầu tư phát triển bảo đảm tiến độ thực hiện dự án, chi thường xuyên tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng chi đột xuất của thị xã Buôn hồ, cơ sở, tạo điều kiện cho các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao KBNBthị xã Buôn hồ tích cực kết hợp với các ngành thuộc khối tài chính quản lý chặt chẽ NSNN, thực hiện tốt chức năng,
Trang 26nhiệm vụ quản lý, điều hành ngân sách trên địa bàn Đưa công nghệ thông tin vào hạch toán kế toán quản lý thu, chi đáp ứng yêu cầu quản lý ngân sách
- Quản lý ngân sách Nhà nước tại huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk
Trong công tác điều hành thu ngân sách, huyện đã tích cực chỉ đạo và thực hiện các biện pháp thu ngân sách ngay từ đầu những năm ngân sách, đẩy mạnh tuyên truyền, hỗ trợ, tư vấn pháp luật về thuế để nâng cao sự hiểu biết và tự giác trong việc thực hiện tốt nghĩa vụ nộp thuế Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế và xử lý kịp thời các trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế phải nộp Đặt ra các biện pháp và lộ trình cụ thể, phấn đấu thu NSNNhằng năm vượt dự toánHĐND huyện giao.Chi cục thuế thực hiện việc phân cấp quản lý thu cho xã để chủ động chỉ đạo, đôn đốc thực hiện kịp thời, hiệu quả Bên cạnh đó, tăng cường biện pháp thu nợ thuế, hạn chế các khoản nợ thuế mới phát sinh.Đẩy mạnh thu biện pháp tài chính, nhất là thực hiện việc bán đấu giá quyền sử dụng đất, thu tiền chuyển mục đích sử dụng đất, tăng cường các khoản thu xử phạt, kịp thời bán đấu giá tài sản tịch thu sung công quỹ Nhà nước
Huyện chủ trương tạo môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, giải quyết kịp thời việc bồi thường giải phóng mặt bằng, các thủ tục về đầu tư để tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tham gia đầu tư vốn sản xuất kinh doanh nhằm tạo được nguồn thu ổn định, lâu dài và bền vững cho NSNN
Trong công tác điều hành chi ngân sách: chỉ đạo các cơ quan, đơn vị dự toán, các xã thực hiện việc lập, xét duyệt và phân bổ dự toán ngân sách phải sát với tình hình thực tế và khả năng ngân sách Các đơn vị sử dụng ngân sách đảm bảo chi trong dự toán, đúng mục tiêu đã được duyệt; thủ trưởng đơn vị
có trách nhiệm sử dụng kinh phí được giao theo đúng Luật NSNN Từng cơ quan đơn vị phải thực hiện tiết kiệm chi thường xuyên (trừ tiền lương và các khoản có tính chất lương), để thực hiện chế độ cải cách tiền lương UBND cấp xã phải chủ động điều hành ngân sách của mình theo đúng quy định của pháp luật để thực hiện hoàn thành các nhiệm vụ được giao Thực hiện nghiêm túc Chương trình hành động phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm,
Trang 27chống lãng phí Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát tài chính, đảm bảo sử dụng NSNN tiết kiệm, có hiệu quả Thực hiện công khai quyết toán ngân sách năm và dự toán ngân sách năm ở tất cả các cấp ngân sách, các
cơ quan, đơn vị dự toán theo quy định
Tăng cường thực hiện cơ chế tự chủ tài chính quy định tại Nghị định 130/2005/NĐ-CP ngày 17/10/2005 và Nghị định 43/2006/NĐ-CPngày 25/4/2006 của Chính phủ ở tất cả các cơ quan hành chính Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập.Đẩy mạnh việc thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia và một số nhiệm vụ mục tiêu Trung ương và tỉnh bố trí vốn đã được HĐND và UBND tỉnh quyết định Tránh tình trạng vốn đầu tư XDCB, các Chương trình mục tiêu nhiệm vụ Trung ương bổ sung vốn không được sử dụng hết bị Trung ương thu hồi trong khi nhu cầu vốn của huyện còn rất lớn
- Bài học rút ra cho huyện Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk
Từ kinh nghiệm quản lý NSNN của thị xã Buôn hồ, huyện Cư M’gar có
thể rút ra một số bài học cho huyện Ea H’leo như sau:
Cần tuyệt đối tuân thủ các quy định về quản lý NSNN của Luật NSNN năm
2002 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này Bởi đây là hành lang pháp lý quan trọng để đảm bảo các hoạt động quản lý NSNN được thực thi có hiệu lực và hiệu quả Với sự tuân thủ tuyệt đối các quy định của Nhà nước về quản lý NSNN sẽ giúp cho địa phương nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSNN trên địa bàn toàn huyện Trong quá trình quản NSNN cần kiểm soát chặt chẽ các khoản thu, chi ngân sách, kìm hãm sự gia tăng quá mức nhu cầu chi, coi trọng các khoản chi đầu tư phát triển giúp kích thích và tăng trưởng kinh tế trên địa bàn huyện và đảm bảo phân phối công bằng xã hội, tăng cường kiểm tra quyết toán thu, chi ngân sách, chú trọng đến hiệu quả công tác quản lý thu chi ngân sách Quá trình lập, phân bổ, quyết toán NSNN phải được quản lý, quan tâm chặt chẽ từ
khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng
Trang 28CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
HUYỆN EAH’ LEO, ĐẮKLẮK 2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Ea H’leo, tỉnh ĐăkLăk
- Đặc điểm tự nhiên Vị trí địa lí
Huyện EaH’Leo nằm ở phía bắc tỉnh Đăklăk, cách thành phố Buôn Mê Thuột
82 km có tổng diện tích tự nhiên là 133.607 ha, bao gồm 1 thị trấn EaĐ’Răng và 11 đơn vị hành chính xã : EaKhăl, EaNam, EaH’Leo, CưMốt, EaWy, ĐliêYang, EaSol, EaHiao, EaRăl , Cư Amung và EaTia mới thành lập Là một huyện miền núi thuộc cao nguyên trung bộ, ở độ cao từ 650m đến 850m so với mực nước biển, với địa hình lắm dốc, nhiều đồi đường sá lại khó khăn Tuy nhiên trung tâm huyện có quốc lộ 14
đi qua do vậy huyện EaH'leo có rất nhiều thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội
và an ninh quốc phòng
Huyện EaH’Leo nằm ở vùng cao nguyên trung phần, có độ cao từ 650- 850 m
so với mặt nước biển , chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mang tính chất khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình từ 20-30 , có xen kẽ khí hậu thung lũng, thời tiết mỗi năm được chia làm hai mùa rõ rệt : mùa mưa và mùa khô, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 Điều kiện khí hậu
ở huyện EaH’Leo rất thuận lợi cho việc phát triển đa dạng hoá sản phẩm nông nghiệp Nhưng cũng gặp không ít khó khăn về mùa mưa và tinh trạng thiếu nước về mùa khô
Hiện nay huyện EaH’Leo có diện tích rừng tự nhiên là 66.683 ha có nhiều loại
gỗ và lâm sản quý hiếm và hàm lượng đất đỏ bazan màu mỡ Đây là nguồn tài nguyên phong phú để huyện phát triển kinh tế nông ,lâm nghiệp
Dân số huyện EaH'Leo tính hết năm 2006 là 112.185 người từ năm 1997 đến nay dân số tăng bình quân hàng năm là hơn 5% , chủ yếu là dân di cư tự do từ các tỉnh phía Bắc và miền trung đến cư trú và lập nghiệp Đại bộ phân dân cư sống bằng nghề nông nghiêp lâm nghiệp chiếm 75% còn lại 25% dân cư sống bằng nghề thương nghiệp , dịch vụ và nghề khác EaH'Leo là huyện với mạng lưới y tế luôn được cũng cố đội ngũ y bác sĩ được tăng cường và trình độ chuyên môn được nâng cao đáp ứng một phần nhu cầu khám và chữa bệnh cho nhân dân
Trang 29Công tác chăm sóc giáo dục và bảo vệ trẻ em được quan tâm đúng mức, hàng năm tổ chức nhiều hội nghị hội diễn hội thao với quy mô và hình thức phong phú từ
đó góp phần xây dựng nếp sống văn hoá mới, nông thôn mới
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2013- 2017)
Huyện EaH'Leo có diện tích tự nhiên 133.607 ha, đất lâm nghiệp chiếm 68.913 ha; đất nông nghiệp chiếm 41.687 ha Trong đó: diện tích trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm ưu thế trong nền nông nghiệp 23.316 ha ( diện tích cà phê : 17.000 ha, diện tích cao su 5.567 ha, hồ tiêu 488 ha, điều 217ha và các cây công nghiệp lâu năm khác 44ha), diện tích trồng cây lương thực là 17.500 ha, còn lại là diện tích trồng cây thực phẩm, đất trồng cỏ chăn nuôi và mặt nước nuôi trồng thủy sản 871 ha
Hiện nay huyện EaH'Leo có diện tích rừng tự nhiên là 66.683 ha, có nhiều loại gỗ và lâm sản quý hiếm, đây cũng là một nguồn tài nguyên quý để phát triển kinh tế vùng; rừng trồng của huyện là 2.230,5 ha , độ che phủ 60%; đất chuyên dùng chiếm 3.916,79 ha; đất chưa sử dụng 15.498,81 ha đất đỏ BaZan màu mỡ Đây là nguồn tài nguyên phong phú để huyện phát triển kinh tế nông ,lâm nghiệp Chính nhờ có sự tương đối thuận lợi về địa lý, dân số tài nguyên lao động như vậy nên huyện EaH'Leo có tiềm năng và thế mạnh cho sự phát triển kinh tế xã hội Những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của kinh tế Huyện EaH'Leo, kinh tế thị trường đang có sự phát triển mạnh, hàng hóa ngày càng nhiều và đa dạng các mặt hàng.Với sự nhạy bén của người dân thị trấn cho nên mấy năm gần đây số hộ giàu của huyện tăng nhanh (theo kết quả điều tra cho thấy huyện có tỷ lệ hộ nghèo khá thấp 6,9%) Với tốc độ phát triển hàng năm khá cao và ổn định nên nguồn thu, nguồn ngân sách huyện cũng ngày một tăng Nhờ có chủ trương chính sách và đầu tư đồng
bộ nên việc phát triển kinh tế nhanh và toàn diện, hoạt động kinh tế chủ yếu với qui
mô vừa và nhỏ nhưng đã đóng góp cho nguồn thu ngân sách huyện ổn định
Tiềm năng phát triển kinh tế của huyện EaH’Leo khá lớn, trước hết kể đến một vùng đất đỏ bazan màu mở, thị trấn luôn ổn định diện tích cây công nghiệp mà trọng tâm là cây cà phê, cao su, tiêu, điều Trong 3 năm tới có thể tăng diện tích cây bông, cây ăn quả có giá trị kinh tế cao Với diện tích rừng phù hợp với phát triển chăn nuôi tạo công ăn việc làm cho đồng bào tại chỗ Đó là việc làm mà các ngành, các cấp thị
Trang 30trấn luôn quan tâm, bên cạnh những thuận lợi nêu trên huyện EaH’Leo còn tồn tại không ít khó khăn cần phải nổ lực phấn đấu khắc phục trong những năm tới…
Trong những năm qua Huyện đã có những bước phát triển tương đối toàn diện về nhiều lĩnh vực KT-XH, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm tương đối cao và
ổn định 10,2% GDP bình quân đầu người tăng bình quân 9%/năm GTSX CN- TTCN tăng 11,3%/năm GTSX nông nghiệp tăng 3%/năm GTSX ngành thuỷ sản tăng 7%/năm
Hệ thống chính trị từ xã, thị trấn được kiện toàn, củng cố Các tổ chức Đảng, chính quyền và đoàn thể đã tạo được sự phối hợp ngày càng chặt chẽ, đồng bộ trong việc tổ chức điều hành, thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao của huyện Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh và đã phát huy hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy QLNN các cấp
Trong những năm qua, huyện đã luôn quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị tạo cơ sở nền tảng cho việc phát triển KT-XH theo đúng định hướng, chiến lược đã đề
ra Thu NSNN trên địa bàn liên tiếp đạt và vượt dự toán tỉnh giao, năm sau cao hơn năm trước.Nguồn chi ngân sách đảm bảo đáp ứng cho các chương trình trọng điểm.Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch rõ nét theo hướng dịch vụ,du lịch,thương mại - công nghiệp Theo số liệu thống kê, tính đến cuối năm 2017, dịch vụ - du lịch, thương mại chiếm đến 25,47%, CN- TTCN, XDCB chiếm 25,53%, nông -lâm- thủy sản chiếm 49% GDP trên địa bàn huyện
Cơ cấu kinh tế của huyện đã chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp xây dựng, dịch vụ thương mại; nông lâm nghiệp cũng có bước phát triển khá, ổn định về diện tích và năng suất cây trồng Tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân (2013 – 2017) đạt 8,90% (giá so sánh 2013), trong đó: nông lâm nghiệp tăng 8,6%; công nghiệp - xây dựng tăng 12,45%; các ngành thương mại - dịch vụ tăng 8,05%
Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển một cách toàn diện của huyện EaH’leo hiện nay thì vẫn chưa đáp ứng, nhất là về cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường sinh thái Công tác quản lý thu, chi NSNN trên địa bàn hiệu quả còn hạn chế, khả năng tích luỹ từ nội bộ huyện vẫn chưa cao, còn phụ thuộc nhiều vào sự phân cấp của Tỉnh, trình độ dân trí vẫn còn thấp so với yêu cầu Đội ngũ cán bộ còn thiếu, yếu năng lực quản lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp đổi mới
Trang 312.2 Thực trạng quản lý ngân sách tại huyện Ea H’leo, tỉnh ĐăkLắk
Trong thành phần ngân sách huyện Ea H’leo bao gồm ngân sách cấp huyện và ngân sách xã Việc phân cấp quản lý ngân sách được thực hiện theo nguyên tắc phù hợp và đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, tổ chức
bộ máy và năng lực quản lý của mỗi cấp Việc phân cấp nguồn thu gắn với chức năng, nhiệm vụ và khả năng quản lý nguồn thu của mỗi cấp
Cơ sở phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phân chia các khoản thu ngân sách ở huyện Ea H’leo thực hiện theo Nghị quyết số 21/2010/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2010 của HĐND tỉnh Đăk Lăk về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi từ năm 2011 cho ngân sách các cấp chính quyền thuộc tỉnh Đăk Lăk và Nghị quyết số 23/2010/NQ-HĐND ngày 10 tháng 12 năm 2010 của HĐND tỉnh Đăk Lăk về tỷ lệ phần trăm phân chia nguồn thu giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương tỉnh Đăk Lăk từ năm 2011 Việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách ở huyện Ea H’leo được phân bổ như sau:
+ Nguồn thu của ngân sách cấp huyện:
Các khoản thu ngân sách cấp huyện hưởng 100%:
- Thu tiền cho thuê và bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước do huyện quản lý;
- Các khoản phí và lệ phí do các đơn vị thuộc huyện quản lý (không kể lệ phí
xăng, dầu; lệ phí trước bạ);
- Thu sự nghiệp từ các đơn vị do huyện quản lý;
- Thu huy động đóng góp từ các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công
trình kết cấu hạ tầng của huyện theo quy định của pháp luật;
- Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước trực tiếp
cho ngân sách huyện;
- Thu các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật do huyện quản lý;
- Thu kết dư ngân sách cấp huyện;
- Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật do huyện quản lý;
- Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên;
- Thu chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang ngân sách huyện năm sau;
Trang 32- Thu viện trợ không hoàn lại của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho ngân sách huyện theo quy định của pháp luật
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa các cấp ngân sách:
- Thuế giá trị gia tăng (không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng thu từ hoạt động xổ số kiến thiết);
- Thuế thu nhập doanh nghiệp (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động
- Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước (không
kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết);
- Phí xăng, dầu;
- Thuế tài nguyên;
- Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước;
- Tiền sử dụng đất
Ngân sách cấp huyện là một cấp ngân sách hoàn chỉnh với nguồn thu và nhiệm vụ chi được quy định cụ thể để đảm bảo hoàn thành chức năng nhiệm vụ của cấp huyện Tuy nhiên do luật ngân sách cũng đã quy định đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách thì Quốc hội quyết định tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa Trung ương và địa phương, còn HĐND tỉnh thì quyết định tỷlệ điều tiết giữa ngân sách tỉnh, ngân sách huyện Do đó có thể thấy rằng quy mô ngân sách, khả năng tự cân đối của ngân sách cấp huyện hoàn toàn phụ thuộc vào việc phân cấp nguồn thu, phân cấp nhiệm vụ chi của tỉnh đối với cấp huyện cũng như tỷ lệ điều tiết ngân sách giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyện Hay có thể nói ngân sách huyện có tự cân đối chủ động trong điều hành được hay không phần lớn phụ thuộc vào ý chí của HĐND, UBND tỉnh
Trang 33+ Nội dung quản lý thu phí, lệ phí
Phí thuộc NSNN là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải trả cho một cơ quan nhà nước khi nhận được dịch vụ do cơ quan này cung cấp Trong hoạt động xã hội, nhiều tổ chức thuộc bộ máy công quyền cung cấp ra bên ngoài nhiều dịch vụ Chúng cần thiết phải thu tiền của đối tượng thụ hưởng để bù đắp chi phí hoạt động Phí chính là số tiền đó
Lệ phí là khoản tiền mà các tổ chức và cá nhân phải nộp cho cơ quan nhà nước khi thụ hưởng dịch vụ liên quan đến quản lý hành chính do cơ quan này cung cấp
Phí, lệ phí không phải là giá cả của dịch vụ công mà chỉ là động viên một phần thu nhập của người thụ hưởng nhằm thực hiện công bằng trong tiêu thụ dịch vụ công
Mọi khoản phí, lệ phí đều phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Theo quy định hiện hành tại Pháp lệnh phí, lệ phí và Nghị định 57/2002/NĐ-CP của Chính phủ thì chính phủ quy định chi tiết danh mục phí, lệ phí đồng thời với việc quy định nguyên tắc xác định mức thu phí và lệ phí Đối với một số khoản thu phí, lệ phí quan trọng, chính phủ trực tiếp quy định mức thu, chế độ thu,nộp và chế độ quản lý Đối với những khoản còn lại, chính phủ giao hoặc phân quyền quy định mức thu, chế
độ thu,nộp và chế độ quản lý cho cấp Bộ và tương đương Căn cứ vào quy định chi tiết của Chính phủ, Bộ Tài chính quy định mức thu cụ thể đối với từng loại phí, lệ phí, hướng dẫn mức thu cho các cơ quan được phân cấp quy định mức thu HĐND Tỉnh quyết định thu phí, lệ phí được phân cấp Nghiêm cấm mọi tổ chức, cá nhân tự đặt ra các loại phí, sửa đổi mức thu phí đã được cơ quan có thẩm quyền quy định, thu phí trái với quy định của pháp luật
Đơn vị thu phí, lệ phí là cơ quan thuế và các cơ quan được pháp luật quy định Các cơ quan này phải niêm yết công khai tại địa điểm thu về tên gọi, mức thu, phương thức thu và cơ quan quy định thu Khi thu phải cấp chứng từ thu theo quy định của Bộ Tài chính
+ Nội dung quản lý các khoản thu khác của ngân sách Nhà nước
Nhà nước tham gia trực tiếp vào các hoạt động kinh tế của Nhà nước như thu từ lợi tức góp vốn cổ phần của Nhà nước, thu hồi vốn của Nhà nước đầu tư vào các cơ sở kinh tế và tiền bán hoặc cho thuê tài nguyên công sản nhất định cho các chủ thể ở trong
Trang 34nước hoặc ngoài nước Tiền bán hoặc cho thuê tài nguyên công sản quốc gia như tiền bán nhà thuộc sởhữu Nhà nước, tiền bán tài nguyên,… là khoản thu của NSNN
Ngoài các khoản thu trên, thu NSNN còn bao gồm các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, hiện vật của chính phủ các nước, các tổchức và cá nhân ở nước ngoài; các khoản đóng góp tự nguyện khác theo quy định của pháp luật Các khoản thu này phát sinh không thường xuyên và không lớn, nhưng có tính chất không hoàn trả, nên chúng có tác dụng quan trọng bổsung tăng cường thêm nguồn lực tài chính cho NSNN
Các khoản thu khác của NSNN nói trên được thu nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước hoặc thu nộp qua cơ quan thu theo các quy định hiện hành đối với từng khoản thu
+ Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện:
Theo quy định của Luật NSNN năm 2002 thì nhiệm vụ chi không được quy định cụ thể mà giao cho chính quyền cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyền chủ động lớn hơn: HĐND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được phân cấp nhiệm vụ chi cho các huyện, thị xã và các xã, thị trấn trực thuộc, theo đó nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện gồm những nội dung sau:
- Chi đầu tư phát triển
- Chi thường xuyên
- Chi bổ sung cho ngân sách xã
- Chi chuyển nguồn từ ngân sách huyện năm trước sang ngân sách huyện năm sau
Để quản lý được tốt các nội dung chi này thì cần phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
- Cấp phát vốn đầu tư XDCB phải đảm bảo đúng mục đích và đúng kế hoạch Đây là nguyên tắc quan trọng do nguồn vốn và phương hướng sử dụng vốn đầu tư đã được trong dự toán ngân sách hàng năm Nguyên tắc này đòi hỏi việc cấp phát chỉ được tiến hành cho những công trình đã được ghi kế hoạch và phải có đầy đủ thủ tục XDCB theo quy định, vốn đầu tư XDCB phải được cấp phát trực tiếp cho từng công trình, từng chủ đầu tư
- Chi thường xuyên phản ảnh quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN để thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên về quản lý KT – XH của Nhà nước Chi thường
Trang 35xuyên của NSNN bao gồm các khoản chi cho các lĩnh vực: SNKT; SNGD,y tế,văn hóa, xã hội;chi bộ máy QLNN; chi ANQP, chi chuyển giao Cùng với quá trình phát triển KT-XH các nhiệm vụ thường xuyên của nhà nước ngày càng tăng lên làm phong phú thêm nội dung chi thường xuyên của ngân sách Chi thường xuyên có các đặc điểm cơ bản đó là: đây là những khoản chi có tính chất liên tục; là những khoản chi mang tính chất tiêu dùng; phạm vi, mức độ chi thường xuyên phụ thuộc vào cơ cấu to chức của bộ máy nhà nước và quy mô cung ứng các hàng hóa công của Nhà nước lập
dự toán là khâu đầu tiên và cũng là khâu quan trọng nhất của toàn bộ chu trình ngân sách, nó quyết định chất lượng phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính
2.3 Thực trạng quản lý, điều hành ngân sách huyện
2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý ngân sách nhà nước huyện Ea H’leo
HĐND huyện
UBND huyện
HĐND huyện: là cơ quan quyền lực nhà nước địa phương, có nhiệm vụ
quyết định dự toán thu NSNN trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phân bổ ngân sách cấp mình, phê chuẩn quyết định quyết toán ngân sách địa phương, quyết định các chủ trương, biện pháp triển khai, điều chỉnh dự toán ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết, giám sát việc thực hiện ngân sách HĐND quyết định
UBND huyện: là cơ quan HCNN ở địa phương, chịu trách nhiệm trước
HĐND cùng cấp và các cơ quan nhà nước cấp trên, UBND huyện có trách nhiệm lập
dự toán thu NSNN trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách địa phương, phương án phân bổ dự toán cấp mình, quyết toán ngân sách địa phương, lập điều chỉnh ngân sách địa phương trong trường hợp cần thiết trình HĐND huyện quyết định và báo cáo UBND tỉnh và Sở tài chính Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương, hướng dẫn
Trang 36kiểm tra UBND xã xây dựng thực hiện ngân sách và kiểm tra Nghị quyết của Hộ đồng nhân dân xã về thực hiện ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật
Phòng Tài chính – Kế hoạch: là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân
cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật
Việc thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề vềPhòng Tài chính - Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về lĩnh vực tài chính và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về lĩnh vực tài chính; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực tài chính thuộc trách nhiệm quản lý của Phòng
Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tham mưu, giúp UBND cấp huyện theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực tài chính, đầu tư trên địa bàn
Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc huyện, Ủy ban nhân dân
xã, phường, thị trấn xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng trình Ủy ban nhân dân cấp huyện dự toán ngân sách huyện theo hướng dẫn của Sở Tài chính
Tổng hợp, lập dự toán thu ngân sách nhà nước đối với những khoản thu được phân cấp quản lý, dự toán chi ngân sách cấp huyện và tổng hợp dự toán ngân sách cấp xã, phương án phân bổ ngân sách huyện trình Ủy ban nhân dân cấp huyện; lập dự toán ngân sách điều chỉnh trong trường hợp cần thiết để trình Ủy ban nhân dân cấp huyện; tổ chức thực hiện dự toán ngân sách đã được quyết định
Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý tài chính, ngân sách, giá, thực hiện chế độ kế toán của chính quyền cấp xã, tài chính hợp tác xã, tài chính kinh tế tập thể và các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước thuộc cấp huyện
Trang 37Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do huyện quản lý; thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết toán thu, chi ngân sách huyện; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện
và quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) báo cáo Ủy ban nhân dân huyện để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn
Tổ chức thẩm tra, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách huyện quản lý
Quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc cấp huyện quản lý theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính Thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo thẩm quyền việc mua sắm, thuê, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán, tiêu hủy tài sản nhà nước
Quản lý nguồn kinh phí được ủy quyền của cấp trên; quản lý các dịch
vụ tài chính theo quy định của pháp luật
Quản lý giá theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra việc chấp hành niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động trên địa bàn; tổ chức thực hiện đăng ký giá, kê khai giá theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật; chủ trì thực hiện thẩm định giá đối với tài sản nhà nước tại địa phương theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý tài chính và chuyên môn nghiệp
vụ được giao
Thực hiện chế độ thông tin báo cáo định kỳ và đột xuất về tài chính, ngân sách, đầu tư, giá thị trường với Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài chính
Trang 38Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật
Kho bạc Nhà nước ở huyện: là tổ chức trực thuộc Kho bạc Nhà nước ở
tỉnh có chức năng thực hiện nhiệm vụ của Kho bạc Nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật
Tổ chức thực hiện thống nhất các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án, đề án thuộc phạm vi quản lý của Kho bạc Nhà nước cấp huyện sau khi được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt
Quản lý quỹ ngân sách nhà nước và các khoản tạm thu, tạm giữ, tịch thu, ký cược, ký quỹ, thế chấp theo quy định của pháp luật:
Tập trung và phản ánh đầy đủ, kịp thời các khoản thu ngân sách nhà nước; tổ chức thực hiện việc thu nộp vào quỹ ngân sách nhà nước các khoản tiền do các tổ chức và cá nhân nộp tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện; thực hiện điều tiết các khoản thu cho các cấp ngân sách theo quy định;
Thực hiện kiểm soát, thanh toán, chi trả các khoản chi ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
Thực hiện giao dịch thu, chi tiền mặt và các biện pháp bảo đảm an toàn kho, quỹ tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện
Thực hiện công tác kế toán ngân sách nhà nước, hạch toán kế toán về thu, chi ngân sách nhà nước, các khoản vay nợ, trả nợ của Chính phủ, chính quyền địa phương và các hoạt động nghiệp vụ kho bạc tại Kho bạc Nhà nước cấp huyện theo quy định của pháp luật;
Báo cáo tình hình thực hiện thu, chi ngân sách nhà nước cho cơ quan tài chính cùng cấp và cơ quan nhà nước có liên quan theo quy định của pháp luật
Chi cục Thuế huyện: là tổ chức trực thuộc Cục Thuế, có chức năng tổ chức
thực hiện công tác quản lý thuế, phí, lệ phí, các khoản thu khác của ngân sách nhà nước thuộc phạm vi nhiệm vụ Chi cục Thuế thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm theo qui định của Luật Quản lý thuế, các luật thuế, các qui định pháp luật khác có liên quan và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
Trang 39Tổ chức thực hiện dự toán thu thuế hàng năm được giao; tổng hợp, phân tích, đánh giá công tác quản lý thuế; tham mưu với cấp uỷ, chính quyền địa phương về công tác lập và chấp hành dự toán thu ngân sách Nhà nước, về công tác quản lý thuế trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ với các ngành, cơ quan, đơn vị liên quan để thực hiện nhiệm vụ được giao;
Tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý thuế đối với người nộp thuế thuộc phạm vi quản lý của Chi cục Thuế: đăng ký thuế, cấp mã số thuế, xử lý hồ sơ khai thuế, tính thuế, nộp thuế, miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, xoá nợ thuế, tiền phạt, lập sổ thuế, thông báo thuế, phát hành các lệnh thu thuế và thu khác theo qui định của pháp luật thuế và các quy định, quy trình, biện pháp nghiệp
vụ của ngành; đôn đốc người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước, và một số nhiệm vụ quyền hạn khác
2.3.2 Chu trình quản lý ngân sách nhà nước
2.3.2.1 Lập dự toán
Lập dự toán là khâu đầu tiên của chu trình ngân sách,được xác định là khâu hết sức quan trọng, bởi nó quyết định chất lượng phân bổ về sử dụng nguồn lực chấp hành thời gian lập và phân bổ dự toán thời gian qua của huyện
Ea H’leo đã có nhiều tiến bộ và đảm bảo theo quy định của Luật Ngân sách Tất cả các nguồn thu đều được quản lý và tính toán trong cân đối ngân sách, nhiệm vụ chi ngân sách có sắp xếp theo thứ tự ưu tiên, trong đó đảm bảo vốn cho các công trình trọng điểm phục vụ cho sản xuất kinh doanh và phát triển kinh tế - xã hội các xã khó khăn
Dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được lập căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh
Các khoản thu trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở tăng trưởng kinh tế, các chỉ tiêu có liên quan và các quy định của pháp luật về thu ngân sách
Các khoản chi trong dự toán ngân sách phải được xác định trên cơ sở mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào quy hoạch, chương trình, dự án đầu tư đã có quyết định của cấp có thẩm quyền, ưu tiên bố trí đủ vốn phù hợp với tiến độ triển khai thực hiện các chương trình, dự án Đối với chi thường xuyên, việc lập dự toán
Trang 40phải căn cứ vào nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và tuân theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định Đối với chi trả nợ, phải căn cứ vào các nghĩa vụ trả nợ của năm dự toán
Việc quyết định chính sách, chế độ, nhiệm vụ quan trọng, phê duyệt chương trìnhdự án do ngân sách nhà nước bảo đảm phải phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm và kế hoạch tài chính 5 năm
Dự toán ngân sách nhà nước được tổ chức xây dựng, tổng hợp từ cơ quan thu, đơn vị sử dụng ngân sách, bảo đảm đúng thời gian và biểu mẫu quy định
Hàng năm, Thủ tướng Chính phủ quyết định việc lập kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm sau
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính hướng dẫn về yêu cầu, nội dung, thời hạn lập dự toán ngân sách nhà nước, thông báo số kiểm tra
dự toán về tổng mức và từng lĩnh vực thu, chi ngân sách đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở trung ương và tổng số thu, chi, một số lĩnh vực chi quan trọng đối với từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Căn cứ vào quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính,
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hướng dẫn việc lập dự toán ngân sách các cấp ở địa phương
Các cơ quan, đơn vị có trách nhiệm trong việc thu, chi ngân sách phải tổ chức lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên, cơ quan quản lý cấp trên xem xét, tổng hợp báo cáo cơ quan tài chính cùng cấp
Cơ quan tài chính ở địa phương có trách nhiệm xem xét dự toán ngân sách của các cơ quan, đơn vị cùng cấp, dự toán ngân sách địa phương cấp dưới; chủ động phối hợp với cơ quan liên quan trong việc tổng hợp, lập dự toán ngân sách địa phương, phương án phân bổ ngân sách cấp mình theo các chỉ tiêu quy định để báo cáo Uỷ ban nhân dân trình Hội đồng nhân dân cùng cấp
Quá trình tổng hợp, lập dự toán ngân sách, cơ quan tài chính có trách nhiệm: + Làm việc với cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách cùng cấp để điều chỉnh các điểm xét thấy cần thiết trong dự toán ngân sách
+ Làm việc với Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp để điều chỉnh các điểm xét thấy cần thiết trong dự toán ngân sách địa phương đối với năm đầu của thời kỳ