1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Luật Hiến Pháp và Luật Hành chính: Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng - từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang

92 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 759,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ môi trƣờng trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG ANH TUÂN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ

LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG - TỪ THỰC TIỄN

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

HOÀNG ANH TUÂN

PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ

LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG - TỪ THỰC TIỄN

TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Mã số: 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS TRẦN THỊ DIỆU OANH

HÀ NỘI - NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các thông tin,

số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn bảo đảm trung thực, khách quan, khoa học

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Anh Tuân

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐKTKS : Hoạt động khai thác khoáng sản

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG 9

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 9

1.1.1 Khái niệm 9

1.1.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 18

1.1.3 Vai trò của pháp luật đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 19

1.2 Các nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 23

1.2.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành 23

1.2.2 Nguyên tắc tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường 24

1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững 25

1.2.4 Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa 26

1.2.5 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền 27

1.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 29

1.3.1 Các quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 29

1.3.2 Các quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng của các tổ chức, cá nhân 31

Trang 6

1.3.3 Các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 36 1.4 Các yếu tố tác động đến pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 36 1.4.1 Cơ chế và chính sách pháp luật về môi trường 36 1.4.2 Nguồn lực trong quản lý và bảo vệ môi trường 37 1.4.3 Sự đồng thuận trong nhận thức và hành động của cộng đồng dân cư, chủ thể trong xã hội 38 TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 39

TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TUYÊN QUANG 40 2.1 Thực trạng thực hiện trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với bảo

vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 402.1.1 Trong công tác lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường, phương án cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 40

2.1.2 Trong công tác cấp phép khai thác đá làm vật liệu xây dựng 45 2.2 Thực trạng thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản của các tổ chức, cá nhân 48 2.2.1 Thực hiện quy định nghĩa vụ về ký quỹ phục hồi môi trường 48 2.2.2 Thực hiện quy định nghĩa vụ về quản lý chất thải trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 51 2.2.3 Thực hiện quy định nghĩa vụ về phòng ngừa ứng phó sự cố môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 53 2.2.4 Thực hiện quy định nghĩa vụ về đóng cửa mỏ; cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 56

Trang 7

2.3 Thực trạng thực hiện các quy định về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi

trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 59

2.3.1 Thực hiện quy định về trách nhiệm hành chính 59

2.3.2 Thực hiện quy định về trách nhiệm dân sự 60

2.3.3 Thực hiện quy định về trách nhiệm hình sự 62

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 63

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG TỪ THỰC TIỄN TỈNH TUYÊN QUANG 64

3.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 64

3.1.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 64

3.1.2 Hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng của các tổ chức, cá nhân 67

3.1.3 Hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng 69

3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây 70

3.2.1 Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường 70

3.2.2 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm về bảo vệ môi trường 72

3.2.3 Các giải pháp cụ thể tại tỉnh Tuyên Quang 74

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, hiện trạng môi trường ở Việt Nam nói chung

và tỉnh Tuyên Quang nói riêng vẫn tiếp tục suy thoái và có xu hướng gia tăng với những chỉ số ở mức báo động Nhiều chính sách cụ thể được đưa ra, nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhằm bảo vệ môi trường trên các lĩnh vực, tại các địa phương cụ thể Tỉnh Tuyên Quang trong những năm vừa qua phát triển nhanh, mạnh các hoạt động sản xuất công nghiệp, trong đó có hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng Hoạt động khai thác đá của các doanh nghiệp, tổ chức trên địa bàn tỉnh trong một thời gian dài đã gây ảnh hưởng xấu tới chất lượng môi trường cũng như sức khỏe của người dân xung quanh khu vực khai thác Tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động này đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ ở các mỏ khai thác đá đặt ra vấn đề phức tạp về bảo vệ môi trường

Tuyên Quang đã chủ động và có nhiều giải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh, xuất phát từ nhận thức: phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với bảo vệ môi trường, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức đặt ra cho tỉnh Tuyên Quang trong việc bảo vệ môi trường, cụ thể là trong hoạt động khai thác đá

Trong công tác bảo vệ môi trường, pháp luật rõ ràng đóng vai chủ đạo Hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ban hành và thực hiện, trên thực

tế đang thể hiện những tồn tại nhất định Hiện nay, chưa có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu vấn đề pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác đá Mặc dù đề tài này đã được đề cập trong một số bài viết nhưng chưa được tập trung nghiên cứu chuyên sâu, bao quát toàn bộ và hầu hết các bài viết đều không nghiên cứu vấn đề dưới góc độ pháp luật, không có sự cập nhật thông tin tương ứng với quá trình thay đổi từ thực tiễn và quy định của pháp luật

Trang 9

Với những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng - từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang” cho Luận văn thạc sĩ của mình Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu

về hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, vấn đề bảo vệ môi trường bằng pháp luật tại tỉnh Tuyên Quang; từ đó bước đầu

có những lý giải về thực trạng môi trường tỉnh Tuyên Quang những năm gần đây

và đưa ra một số giải pháp nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại tỉnh Tuyên Quang, hoàn thiện hệ thống pháp luật về môi trường trong tương lai

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Ô nhiễm môi trường từ lâu luôn là vấn đề được cả xã hội quan tâm Đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này dưới nhiều góc độ: chính trị, pháp luật, kinh tế, môi trường, xã hội học… với quy mô rộng, hẹp khác nhau Riêng xét dưới góc độ pháp luật, vấn đề bảo vệ môi trường đã được đề cập trong nhiều đề tài khoa học, tuy nhiên đối với vấn đề bảo vệ môi trường cụ thể trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng đến nay chưa có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này

Phát triển kinh tế - xã hội phải đi đôi với sự bền vững của môi trường, nếu không quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa một cách vội vàng sẽ dẫn đến những hậu quả lâu dài Nền kinh tế trước mắt có thể tiến nhanh vượt bậc nhưng qua giai đoạn đỉnh cao sẽ suy thoái khi mà sự phát triển đó vượt ngưỡng chịu đựng của môi trường Tác giả Trần Thị Thùy Dương (2008) có

nghiên cứu: “Bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hóa,

hiện đại hóa ở Việt Nam” [6] Đề tài khoa học trên tập trung nghiên cứu hệ

thống tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá tới môi trường sinh thái và bảo vệ môi trường sinh thái trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam dưới góc độ của Khoa học Kinh tế chính trị

Trang 10

Luận văn thạc sĩ “Trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi

trường ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Văn Việt (2010) [22] đã khái quát

rõ nét về trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam và một số nước trên thế giới, nêu thực trạng vi phạm hành chính và truy cứu trách nhiệm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay, đề xuất các giải pháp dựa trên yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay từ việc học tập kinh nghiệm từ các nước trên thế giới

Trước thực tế chất lượng môi trường đang xuống cấp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người và các loài sinh vật, vấn

đề ô nhiễm môi trường trở thành một chủ đề nóng mà bất kì tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực nào đều quan tâm, nghiên cứu trong các đề tài khoa học

Nguyễn Đình Đức (2011) đã có đề tài: “Những vấn đề pháp lý về bảo vệ môi

trường trong quy hoạch kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay” [7]

Luận án Tiến sĩ Luật học “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về

môi trường” của tác giả Dương Thanh An (2011) [1] đã tập trung phân tích

và tổng hợp một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về tội phạm môi trường, tác giả đã đưa ra những số liệu về tội phạm môi trường Luận án được đánh giá là có nhiều đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, đặc biệt đã đề xuất được các hướng để hoàn thiện các quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam đối với loại tội phạm về môi trường

Nguyễn Thị Xuân Trang (2012) với đề tài nghiên cứu: “Trách nhiệm

bồi thường thiệt hại do xâm phạm môi trường theo quy định của bộ luật dân

sự năm 2005” [13] đã có những đóng góp nhất định vào lý luận trách nhiệm

bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng các khái niệm môi trường theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp, khái niệm trách nhiệm dân sự do xâm phạm môi trường…

Tác giả Nguyễn Thị Tố Uyên (2013) đã có đề tài nghiên cứu với tựa

đề: “Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi

Trang 11

trường” [20] Đề tài đã nêu khái niệm “trách nhiệm pháp lý” trong lĩnh vực

bảo vệ môi trường ở hai khía cạnh “tích cực” và “tiêu cực” Tác giả đưa ra những tiêu chí cần thiết khi hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực bảo vệ môi trường

Công trình khoa học của tác giả Bùi Ngọc Hà (2013): “Nghiên cứu

những tác động chính của dự án khai thác đá núi Ông Voi và đề xuất các giải pháp cải tạo, phục hồi môi trường” [8] đã tập trung khảo sát, nghiên cứu hiện

trạng môi trường khu vực mỏ và nghiên cứu các tác động của việc khai thác

đá núi Ông Voi cùng một số mỏ đá đang khai thác và đã khai thác xong trong khu vực Đồng thời, cũng nghiên cứu các phương pháp cải tạo phục hồi môi trường của một số mỏ ở Việt Nam và trên thế giới Từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm đưa khu vực đã khai thác thành khu vực có mục đích sử dụng mới phù hợp với điều kiện sau khai thác; các điều kiện môi trường, tự nhiên được tái tạo lại gần giống như điều kiện trước khi khai thác

Bài viết của Thạc sĩ Nguyễn Thị Nga trên tạp chí Cộng sản (2015): “Bảo

vệ môi trường tự nhiên ở Việt Nam - Yêu cầu cấp thiết” [9] đã đưa ra hai mâu

thuẫn đó là: Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nhận thức, ý thức trách nhiệm của các chủ thể và người dân; Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải bảo vệ môi trường tự nhiên trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với cơ sở vật chất - kỹ thuật, tiềm lực khoa học - công nghệ và nhân lực cho bảo vệ môi trường Cả hai vấn đề trên

đã thể hiện nhiều hạn chế chưa được khắc phục trên thực tế Bên cạnh đó là những bất cập trong cơ chế, chính sách, pháp luật và công tác quản lý nhà nước

về bảo vệ môi trường tự nhiên chưa được khắc phục

Các bài viết và đề tài nghiên cứu trên đây đã nghiên cứu vấn đề bảo vệ môi trường dưới nhiều góc độ, vấn đề trách nhiệm pháp lý trong lĩnh vực môi trường, đã chỉ ra những hạn chế trong công tác bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay, trên cơ sở những nghiên cứu khoa học kết hợp bài học từ thực tiễn

Trang 12

các nước trên thế giới đã đề xuất những giải pháp hiệu quả nhằm hoàn thiện pháp luật về môi trường cũng như hoạt động bảo vệ môi trường của nước ta trong giai đoạn tới

Hoạt động khai thác khoáng sản luôn có những tác động rất lớn tới môi trường, tuy nhiên hiện nay các đề tài khoa học đa số nghiên cứu vấn đề này ở tầm vĩ mô, có rất ít các nghiên cứu trên địa bàn cụ thể dưới góc độ pháp luật Đặc biệt, trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang, chưa có công trình nghiên cứu nào

đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường đối với hoạt động này Vì vậy khi lựa chọn

đề tài “Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật

liệu xây dựng - từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang” tác giả mong muốn sẽ góp phần

hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường, có sự tổng hợp, chuyên sâu về vấn đề khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh, đưa ra những đề xuất nhằm từng bước nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng, đồng thời nâng cao ý thức pháp luật, ý thức bảo

vệ môi trường trong nhân nhân, các cơ sở khai thác đá làm vật liệu xây dựng, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước về lĩnh vực môi trường

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm sáng tỏ những vấn đề lý luận

về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

3.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

Trang 13

- Nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng;

- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;

- Đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường

và bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác đá làm vật liệu xây dựng từ thực tiễn tỉnh Tuyên quang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu, đánh giá các quy định hiện hành của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng và thực tiễn thực hiện pháp luật về vấn đề này trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Thời gian nghiên cứu từ năm 2017 đến năm 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để giải quyết các yêu cầu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu, tổng hợp

và hoàn thiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương pháp luận của triết học Mác - Lênin để đánh giá các sự vật, hiện tượng và đề xuất các phương hướng giải pháp theo quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử, để làm rõ các khái niệm phạm trù trong luận văn và đánh giá thực tiễn một cách khách quan nhất, toàn diện nhất vấn đề cần nghiên cứu Đồng thời sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, thu thập kế thừa tri thức từ các nghiên cứu, các tài liệu đã có Cụ thể:

- Chương 1, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Trang 14

- Chương 2, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp đánh giá, thống kê khi nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

- Chương 3, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phương pháp diễn giải khi nghiên cứu và đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác

đá làm vật liệu xây dựng

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Thứ nhất, từ những nội dung được trình bày trong luận văn có thể nhận

thấy những tác động rõ ràng, mạnh mẽ và lâu dài của hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng tới môi trường Trong quá trình khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại tỉnh Tuyên Quang có nhiều nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường Vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng và diễn biến phức tạp càng cho thấy vai trò của pháp luật trong việc bảo vệ môi trường, bảo vệ sự phát triển bền vững của môi trường

Thứ hai, Ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật

liệu xây dựng là không thể tránh khỏi nhưng mức độ tác động tới môi trường hoàn toàn có thể giảm thiểu với sự kết hợp hiệu quả, kịp thời của nhiều biện pháp, trong đó pháp luật đóng vai trò đặc biệt quan trọng Bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác đá làm vật liệu xây dựng trong phạm vi tỉnh Tuyên Quang nói riêng hướng đến mục tiêu cuối cùng là bảo vệ môi trường, đảm bảo cho con người được sống trong một môi trường trong lành, giúp con người có thể tồn tại và phát triển Kết quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại tỉnh Tuyên Quang trong những năm qua đã góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường toàn tỉnh,

Trang 15

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể liên quan, bảo vệ quyền con người, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương

Thứ ba, tạo nhận thức bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường

trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng tại tỉnh Tuyên Quang nói riêng là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội

Thứ tư, giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong hoạt động khai thác đá

làm vật liệu xây dựng là công việc hết sức khó khăn, phức tạp tuy nhiên với việc thực hiện triệt để những nội dung kiến nghị trong luận văn, chúng ta có thể tin tưởng vào sự thay đổi tích cực của hoạt động bảo vệ môi trường trong

hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

7 Kết cấu của luận văn

Luận văn được bố cục gồm 03 chương bao gồm:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về pháp luật bảo vệ môi trường trong

hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong

hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang

Chương 3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo đảm thực hiện pháp

luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

từ thực tiễn tỉnh Tuyên Quang

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG

TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC ĐÁ LÀM VẬT LIỆU XÂY DỰNG

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

1.1.1 Khái niệm

1.1.1.1 Môi trường

Dưới góc độ pháp lý, môi trường được định nghĩa như sau: Môi trường

là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật Thành phần môi trường là yếu

tố vật chất tạo thành môi trường gồm đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật và các hình thái vật chất khác [11, Điều 3, Khoản 1, 2]

Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng mặt trời, núi, sông, biển cả, không khí, động vật, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cây, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần thiết cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, thiên nhiên tạo ra cảnh quan tự nhiên đẹp phục

vụ cho mục đích tham quan, giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo ra trên cơ sở quy luật của tự nhiên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, phục vụ cuộc sống của chính mình như ôtô, máy bay, điện thoại, công trình thủy lợi, công trình nghệ thuật, công trình xây dựng

Môi trường xã hội: là tổng hợp tất cả các yếu tố về xã hội có liên quan

và tác động tới đời sống con người Đó là những luật lệ, thể chế, cam kết, quy

Trang 17

định, ước định ở các cấp khác nhau như: Liên hợp quốc, Hiệp hội các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho

sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Tóm lại, môi trường là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội

1.1.1.2 Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Khai thác đá là một hình thức khai thác khoáng sản, “Khai thác khoáng

sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan” [12, Điều

2, Khoản 7]

Hoạt động bảo vệ môi trường được giải thích là “hoạt động giữ gìn,

phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành; phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm” [11, Điều 3, Khoản 3] Như vậy, có

thể hiểu bảo vệ môi trường là tổng hợp các hoạt động của nhà nước, của các

tổ chức cá nhân với mục đích chủ động ngăn chặn các tác động xấu đến môi trường từ các hoạt động kinh tế - xã hội; là hoạt động xử lý, khắc phục hậu quả, phục hồi lại tình trạng môi trường như trước khi bị ô nhiễm [15, tr.69]

Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được thực hiện với mục đích kiểm tra, xem xét mọi hoạt động của các chủ thể khi họ tiến hành hoạt động khai thác đá nhằm ngăn ngừa, hạn chế những hậu quả xảy ra đối với môi trường; xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo môi trường sau quá trình khai thác đá Việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được tiến

Trang 18

hành ở diện rộng, với quy mô lớn và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, bởi nhiều chủ thể khác nhau

Bảo vệ môi trường trong hoạt động hoạt động khai thác đá do nhiều chủ thể thực hiện gồm: Nhà nước; các tổ chức, đoàn thể, quần chúng, cộng đồng dân cư; các cá nhân trong xã hội:

- Nhà nước thực hiện việc bảo vệ môi trường thông qua hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường Nhà nước thực hiện bằng cách: ban hành các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường và đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước, thiết lập hệ thống các cơ quan quản lý Đây là

hệ thống cơ quan được tổ chức từ trung ương đến địa phương, từ các cơ quan

có thẩm quyền chung cho đến các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn Hệ thống các cơ quan này chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức thực hiện và giám sát thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác đá

- Cùng với Nhà nước, bảo vệ môi trong hoạt động khai thác đá còn được thực hiện bởi chính các tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động này Đó là các chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá Nhóm chủ thể này thực hiện việc bảo vệ môi trường thông qua việc áp dụng các biện pháp để giảm thiểu đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác đá đến môi trường… Trường hợp này được hiểu là chủ thể hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá tự kiểm soát hành động của chính mình để không gây

ô nhiễm môi trường

- Chủ thể của hoạt động bảo vệ môi trường trong khai thác đá còn có thể bao gồm các tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể quần chúng hoặc nhân dân, cộng đồng dân cư Nhóm chủ thể này thực hiện nghĩa vụ giám sát việc tuân thủ pháp luật, giám sát mức độ xả thải, khả năng thực hiện an toàn lao động hay mức độ phòng chống cháy nổ và phòng ngừa ô nhiễm môi trường

Trang 19

của các chủ thể tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ liên quan đến hoạt động khai thác đá Trên thực tế, tinh thần đấu tranh, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật từ nhóm chủ thể này có ý nghĩa rất lớn đối với hoạt động bảo vệ môi trường trong khai thác đá

Việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được tiến hành ở các giai đoạn như sau:

Thứ nhất, phải bắt đầu từ khi dự án khai thác đá chưa được tiến hành

khai thác trên thực tế Việc kiểm soát ngay từ trong giai đoạn rất sớm nhằm đảm bảo cho dự án khai thác đá được thực hiện với lộ trình khai thác hợp lý, những trang thiết bị tốt, cách thức khai thác đá khoa học… giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực của hoạt động khai thác đá tới môi trường Một dự án khai thác đá được kiểm soát nghiêm ngặt từ tất cả các giai đoạn, bao gồm: Kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác đá; Cấp giấy phép thăm dò các mỏ đá; Phê duyệt kết quả thăm dò mỏ đá; Kiểm tra và thẩm định thiết kế cơ sở của các dự án khai thác đá; Phê duyệt Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), Phương án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi hoàn thành việc khai thác đá Việc kiểm soát

từ những giai đoạn đầu của hoạt động khai thác đá là một trong những biện pháp phòng ngừa những hậu quả xấu đối với môi trường, các tai nạn, sự cố có thể xảy ra trong quá trình khai thác đá

Thứ hai, khi dự án khai thác đá đi vào hoạt động, thực hiện theo kế

hoạch của dự án, hoạt động bảo vệ môi trường cần được tiến hành trong mỗi hoạt động, mỗi giai đoạn của quá trình khai thác đá Việc kiểm soát ở mọi giai đoạn hoạt động của dự án nhằm loại trừ các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường như việc xả chất thải, xử lý nước mưa chảy tràn, phòng tránh các sự cố trong quá trình nổ mìn phá đá, các tai nạn lao động, các sự cố môi trường khác phát sinh trong hoạt động khai đá… Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá cần được tiến hành trong suốt quá trình thực hiện dự án để phát

Trang 20

hiện kịp thời những thay đổi về chất lượng môi trường tại khu mỏ, từ đó có những biện pháp xử lý hiệu quả

Thứ ba, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được tiến hành

sau khi dự án đã kết thúc quá trình khai thác Trước khi dự án khai thác mỏ đá

đi vào hoạt động, các chủ dự án đầu tư phải lập Báo cáo ĐTM, Phương án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc dự án, trong đó đánh giá, dự báo các tác động của từng dự án cụ thể đến chất lượng môi trường khu vực và đồng thời đưa ra các kế hoạch, biện pháp, phương án cải tạo, phục hồi môi trường

Để đảm bảo cải thiện môi trường sinh thái, cảnh quan khu vực khai thác; khắc phục phần lớn các ảnh hưởng và tác động tiêu cực của quá trình khai thác gây

ra đối với môi trường cần có cơ chế kiểm soát việc thực hiện các Phương án cải tạo, phục hồi môi trường sau khi kết thúc khai thác

Các biện pháp bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau, cụ thể là:

Thứ nhất, biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi

trường nói chung và ý thức bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá nói riêng Như trên đã phân tích, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác

đá được thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau Nếu các chủ thể không nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này thì sẽ không mang lại hiệu quả Tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá có thể bao gồm nhiều hình thức phong phú, đa dạng mục tiêu là

để các chủ thể có liên quan có sự thay đổi về nhận thức, đây là cơ sở của sự thay đổi về hành động, từ đó các chủ thể sẽ tự giác tiến hành các hoạt động bảo vệ môi trường trong khai thác đá

Thứ hai, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật trong bảo vệ môi

trường Bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá cần áp dụng các phương tiện khoa học kỹ thuật như: các loại máy móc để xác định nồng độ các chất có nguy cơ gây ô nhiễm, các trang thiết bị, phương tiện để làm giảm

Trang 21

mức độ ô nhiễm, các phương tiện giao thông vận tải tiên tiến, đạt tiêu chuẩn

kỹ thuật, sử dụng thuốc nổ, phương pháp nổ hiện đại nhằm sử dụng tài nguyên hiệu quả và giảm thiểu ô nhiễm môi trường

Thứ ba, áp dụng các biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường Đó là

việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế đối với bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Biện pháp kinh tế là một biện pháp được sử dụng rất phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới trong hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá nói riêng Các công

cụ kinh tế được sử dụng nhằm mục đích làm cho các biện pháp kiểm soát trở nên mềm dẻo hơn, hiệu quả hơn và với mức chi phí thấp hơn

Thứ tư, áp dụng các biện pháp hành chính trong bảo vệ môi trường

Biện pháp này cần sử dụng kết hợp với các biện pháp khác để việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá đạt hiệu quả cao Biện pháp hành chính được hiểu là hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để tổ chức việc thi hành pháp luật thông qua việc ban hành hoặc ra các quyết định hành chính, thực hiện các hành vi hành chính có liên quan tới bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Sự can thiệp trực tiếp của các cơ quan hành chính nhà nước có thể ngăn chặn ngay lập tức tình trạng ô nhiễm môi trường khiến cho hoạt động bảo vệ môi trường mang lại hiệu quả cao

Thứ năm, bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá bằng biện

pháp pháp luật Biện pháp này được thể hiện qua việc nhà nước ban hành những văn bản pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan trong hoạt động bảo vệ môi trường trong lĩnh vực khai thác đá Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác đá Biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp hiệu quả

nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

Trang 22

1.1.1.3 Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

So với các lĩnh vực pháp luật khác, pháp luật về môi trường là một lĩnh vực pháp luật còn tương đối mới mẻ Hệ thống pháp luật môi trường được chia thành hai mảng lớn:

Mảng thứ nhất, bao gồm tất cả các quy định pháp luật về bảo tồn và sử

dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên Điều chỉnh vấn đề này, Nhà nước ban hành pháp luật về quyền và trách nhiệm của các chủ thể trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo tồn và phát triển các nguồn tài nguyên, bảo tồn

đa dạng sinh học như: bảo vệ nguồn nước, nguồn thuỷ sinh, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ và phát triển rừng, tài nguyên khoáng sản…

Mảng thứ hai, gồm tất cả các quy định pháp luật về kiểm soát, ngăn

ngừa ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Về mảng này, pháp luật được xây dựng và thực hiện theo hướng ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể có liên quan để giảm thiểu các chất gây ô nhiễm môi trường, phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môi trường Các quy định pháp luật về mảng này bao gồm các nội dung: đánh giá môi trường; quản lý chất thải; hệ thống quy chuẩn kỹ thuật môi trường; giải quyết các tranh chấp môi trường; bảo vệ môi trường trong các hoạt động cụ thể…[16, tr.31] Và pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá thuộc mảng thứ hai trong hệ thống pháp luật môi trường

Theo đó, khái niệm pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá có một số nội dung chính như sau:

Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành hoạt động khai thác đá hoặc các hoạt động có liên quan đến hoạt động khai

thác đá Các mối quan hệ phát sinh trong quá trình các chủ thể tiến hành hoạt

động khai thác đá được chia thành hai nhóm sau đây:

Trang 23

- Nhóm thứ nhất, gồm các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá

trình họ tiến hành hoạt động khai thác đá hoặc các hoạt động có liên quan đến hoạt động khai thác đá Các chủ thể này có thể là chủ đầu tư dự án khai thác

đá, công nhân làm việc trong khu mỏ, nhân dân địa phương… Ngoài việc thực hiện nghĩa vụ pháp lý theo quy định của pháp luật, các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp để cùng nhau giải quyết khi có các vấn đề phát sinh trong quá trình khai thác đá theo quy định của pháp luật

- Nhóm thứ hai, gồm các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý nhà

nước về bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác đá Đặc trưng của nhóm quan hệ này là một hoặc các bên trong quan hệ là các cơ quan nhà nước

có thẩm quyền Nhóm quan hệ này có thể phát sinh trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành các hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá theo quy định của pháp luật như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật môi trường Đồng thời, quan hệ này cũng có thể phát sinh giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền với nhau trong việc phối hợp giải quyết các sự cố phát sinh trong quá trình khai thác tại các mỏ

Thứ hai, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

được ban hành nhằm mục đích phòng ngừa và hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực cho môi trường, khắc phục và xử lý các hậu quả xảy

ra đối với môi trường xuất phát từ hoạt động khai thác đá Trong hoạt động bảo vệ môi trường nói chung và bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác

đá nói riêng, việc phòng ngừa luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Phòng ngừa tức là tiến hành các hoạt động kiểm soát ngay từ khi chưa xảy ra ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay sự cố môi trường Nếu để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường hay sự cố môi trường thì việc giải quyết hậu quả sẽ vô cùng phức tạp, vừa tốn kém về tiền bạc, tốn kém

Trang 24

về thời gian vừa tốn kém về công sức của cả các cơ quan nhà nước và tất cả các chủ thể có liên quan

Việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá không chỉ nhằm phòng ngừa và hạn chế các tác động tiêu cực gây ô nhiễm môi trường mà nó còn nhằm khắc phục những hậu quả xảy ra đối với môi trường xuất phát từ hoạt động khai thác đá Trên thực tế, ngay cả trong trường hợp các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được ban hành hoàn thiện nhất, các chủ thể tiến hành hoạt động khai thác đá cũng thực hiện tất cả các biện pháp tốt nhất để bảo vệ môi trường thì tình trạng ô nhiễm, suy thoái hay sự cố vẫn có thể xảy ra Lý do có thể từ những nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của con người (trong môi trường còn có hiện tượng tích

tụ, cộng dồn, phát tán) Với mục đích xử lý và khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường khi nó đã và đang xảy ra, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá phân định cụ thể trách nhiệm của các chủ thể có liên quan (các cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương, các doanh nghiệp, người gây hậu quả, nhân dân ) khi xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường từ hoạt động khai thác đá; mặt khác là việc thực hiện các giải pháp nhằm giảm đến mức thấp nhất hậu quả xảy ra cho môi trường

Thứ ba, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan

Pháp luật xác lập ranh giới giữa những hành vi được làm, không được làm và phải làm của các chủ thể nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Nội dung các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm quyền và nghĩa vụ của các cơ quan nhà nước, của các tổ chức và cá nhân có liên quan Các cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện các hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, tổ chức thực hiện hoặc giám sát việc thi hành pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn luật định của mình Tương tự, đối với các tổ

Trang 25

chức và cá nhân, pháp luật cũng xác định khung pháp lý buộc các chủ thể điều chỉnh hành vi xử sự của mình nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

Từ những phân tích trên đây, có thể xây dựng định nghĩa về pháp luật

bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá với cách hiểu như sau: Pháp

luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực khai thác đá giữa các chủ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của môi trường, góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế

Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá đóng góp rất lớn

cho hoạt động bảo vệ môi trường nói chung, và trong phạm vi khu vực mỏ khai thác đá nói riêng

1.1.2 Đặc điểm pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng nói riêng là một lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan trực tiếp đến hoạt động khai thác, quản lí, bảo vệ môi trường Qua

đó, ta thấy pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng có những đặc điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

làm vật liệu xây dựng ở Việt Nam ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực pháp luật khác Có thể nói trong hệ thống pháp luật Việt nam thì pháp luật bảo vệ môi trường là lĩnh vực mới nhất Nguyên nhân là do vấn đề môi trường mới thực sự đặt ra những thách thức khi chúng ta thực hiện công cuộc đổi mới tới nay Trong thời gian sau đó thì vấn đề môi trường ngày càng trở nên trầm trọng: sự ô nhiễm không khí, ô nhiễm môi trường nước, môi trường đất Vì vậy mà vấn đề bảo vệ môi trường đã được đưa ra và thực hiện phổ biến

Trang 26

Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm

vật liệu xây dựng có sự phát triển nhanh chóng và ngày càng hoàn thiện hơn Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã mang lại những thành tựu to lớn cho đất nước tuy nhiên nó cũng đặt ra cho nước ta những vấn đề to lớn về môi trường và sự pháp triển bền vững

Thứ ba, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm

vật liệu xây dựng có liên quan trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về môi trường và nhiều lĩnh vực pháp luật khác của Việt Nam Hoạt động môi trường là hướng tới bảo vệ những lợi ích của nhà nước, cộng đồng và xã hội Nhà nước là chủ thể thay mặt nhân dân quản lí bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng

Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm

vật liệu xây dựng chịu sự điều chỉnh của công ước quốc tế về môi trường Đây là một đặc điểm của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay của nước ta

Do tính thống nhất của môi trường, các yếu tố, thành phần môi trường của Việt Nam vừa là đối tượng tác động của pháp luật trong nước vừa là đối tượng tác động của các điều ước quốc tế về môi trường mà Việt Nam đã là thành viên Vì vậy pháp luật bảo vệ môi trường ở Việt Nam cũng được xây dựng hài hòa với các điều ước quốc tế về môi trường và chịu sự tác động của các điều ước đó

Có thể thấy qua quá trình xây dựng hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng nhằm có một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, có tính khả thi hơn

1.1.3 Vai trò của pháp luật đối với việc bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Như trên đã phân tích, biện pháp pháp luật là một trong những biện pháp thực hiện có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Biện pháp pháp luật xác định một hành lang pháp lý và tạo ra

Trang 27

các bảo đảm nhằm hỗ trợ cho tất cả các biện pháp khác đạt hiệu quả nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Bằng những quy định cụ thể

về quyền và nghĩa vụ đối với các chủ thể, pháp luật đã tác động trực tiếp đến các tổ chức và cá nhân, buộc các chủ thể này khi tiến hành hoạt động khai thác đá cần hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại xảy ra cho môi trường

Với tất cả những ý nghĩa đó, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá có những vai trò cụ thể sau đây:

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá

góp phần thực thi nguyên tắc của pháp luật môi trường và nguyên tắc của pháp luật về khoáng sản

Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá là một bộ phận của pháp luật môi trường Vì vậy, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá tuân thủ theo các nguyên tắc của pháp luật môi trường Pháp luật môi trường Việt Nam có bốn nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật môi trường [15, tr.43], đó là: nguyên tắc đảm bảo quyền con người được sống trong một môi trường trong lành; nguyên tắc tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường; nguyên tắc đảm bảo sự phát triển bền vững; nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được xây dựng cũng góp phần thực thi bốn nguyên tắc nêu trên của hệ thống pháp luật môi trường Điều 38, Luật bảo vệ môi trường năm 2014 về Bảo vệ môi trường trong hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản quy định như sau:

Tổ chức, cá nhân khi tiến hành thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản phải có biện pháp phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường và thực hiện các yêu cầu về bảo vệ, cải tạo và phục hồi môi trường như sau:

- Thu gom và xử lý nước thải theo quy định của pháp luật;

- Thu gom, xử lý chất thải rắn theo quy định về quản lý chất thải rắn;

Trang 28

- Có biện pháp ngăn ngừa, hạn chế việc phát tán bụi, khí thải độc hại và tác động xấu khác đến môi trường xung quanh;

- Phải có kế hoạch cải tạo, phục hồi môi trường cho toàn bộ quá trình thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản và tiến hành cải tạo, phục hồi môi trường trong quá trình thăm dò, khai thác và chế biến khoáng sản;

- Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật [11, Điều 38]

Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá ở

Việt Nam là công cụ để phòng ngừa ô nhiễm, góp phần hạn chế và khắc phục

ô nhiễm môi trường [11, Điều 38]

Bằng các quy phạm pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá có vai trò rất lớn trong việc phòng ngừa ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và sinh vật Với mục tiêu phòng ngừa ô nhiễm môi trường, pháp luật

về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm các quy định pháp luật về quy chuẩn kỹ thuật môi trường như quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

về chất lượng nước, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quản lý chất thải rắn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh Theo đó, các chủ thể khi tiến hành hoạt động khai thác đá cần kiểm soát hoạt động của mình trong phạm vi mà pháp luật cho phép, không vượt quá ngưỡng mà các quy chuẩn kỹ thuật về môi trường đã đề ra

Không chỉ có vai trò trong việc phòng ngừa ô nhiễm, pháp luật về bảo

vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá còn nhằm phục hồi môi trường khi có sự cố và khắc phục những hậu quả xảy ra Trong quá trình tiến hành hoạt động khai thác đá, những tác động tiêu cực đến môi trường là không thể tránh khỏi Có những hậu quả diễn ra ngay lập tức như việc ô nhiễm môi trường do nổ mìn phá đá, nhưng cũng có những hậu quả diễn ra từ từ, dần dần

và có nguy cơ gây hại trong thời gian kéo dài, ảnh hưởng tới môi trường, huỷ hoại hệ sinh thái và sức khoẻ con người (chôn, đốt chất thải rắn trong khu vực

Trang 29

mỏ đá) Lúc này, quy phạm pháp luật được sử dụng để quy trách nhiệm đối với các chủ thể có liên quan, kể cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các

tổ chức hay cá nhân

Thứ ba, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá góp

phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế, mang lại giá trị kinh tế cho đất nước

Pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá được ban hành để quy định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan nhằm tạo sự an toàn về môi trường và con người, làm cho các hoạt động khai thác đá phát huy lợi ích và hiệu quả Khi hoạt động khai thác đá diễn ra an toàn, đảm bảo

an ninh môi trường, các chủ thể tiến hành hoạt động sẽ không tốn thời gian, công sức và tài chính để khắc phục hậu quả, phục hồi môi trường, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế

Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá ở

Việt Nam giúp nâng cao ý thức, góp phần làm thay đổi nhận thức về bảo vệ môi trường của người dân

Ý thức bảo vệ môi trường của người dân Việt Nam có thể đánh giá là thấp Từ nhận thức sai lệch về khả năng tái tạo của tài nguyên khoáng sản dẫn đến việc khai thác tài nguyên đá theo kiểu tận diệt đã tồn tại trong một thời gian dài Về lý thuyết, tính bắt buộc thực hiện của pháp luật được đảm bảo thực hiện, một phần là thông qua tính cưỡng chế Trách nhiệm pháp lý sẽ được đặt ra đối với các chủ thể khi họ thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Các loại trách nhiệm pháp lý có tác dụng ngay lập tức, buộc các chủ thể phải tuân thủ các quy định pháp luật mà nhà nước đặt ra Vì vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá sẽ góp phần tích cực vào quá trình thay đổi nhận thức và tư duy của người dân, góp phần tăng cường ý thức của họ trong việc bảo vệ môi trường

Trang 30

Đồng thời, cũng thông qua các quy định của pháp luật, người dân có thể chủ động tham gia vào quá trình giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo

vệ môi trường của các chủ thể có liên quan tới hoạt động khai thác đá Sự giám sát và phát hiện của người dân có thể thực hiện đối với các chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động khai thác đá, đối với người dân nói chung hay đối với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá Sự tham gia của người dân giúp chính bản thân họ tự nhận thức về tầm quan trọng của vấn đề, góp phần nâng cao ý thức của cộng đồng trong việc bảo vệ môi trường nói chung

1.2 Các nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt

động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

1.2.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành

Môi trường trong lành có thể hiểu là môi trường sạch đẹp, thuần khiết, chất lượng với hệ sinh thái cân bằng, không có ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh mạng và hoạt động bình thường của con người Quyền được sống trong môi trường trong lành thực chất là quyền được sống trong một môi trường không bị ô nhiễm, bảo đảm cuộc sống được hài hòa với tự nhiên Quyền được sống trong môi trường trong lành là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên vốn có và khách quan của con người, là một trong những quyền cơ bản của con người đã được pháp luật quốc tế sớm ghi nhận, bảo vệ và trở thành một nguyên tắc trọng tâm trong mối quan hệ giữa các quốc gia Nguyên tắc số 1 của Tuyên bố Stockholm về môi trường con người năm 1972 lần đầu tiên chính thức nêu rõ “Con người có quyền cơ bản được sống trong một môi trường chất lượng, cho phép cuộc sống có phẩm giá và phúc lợi mà con người có trách nhiệm long trọng bảo vệ, cải thiện cho thế hệ hôm nay và mai sau” [14, tr.44], Tuyên bố Rio de Janeiro về môi trường và

Trang 31

phát triển năm 1992 tiếp tục khẳng định “Con người là trung tâm của các mối quan tâm về sự phát triển lâu dài Con người có quyền được hưởng một cuộc sống hữu ích, lành mạnh và hài hòa với thiên nhiên” [14, tr.45] Nguyên tắc này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, chi phối hoạt động xây dựng pháp luật và chính sách của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Đòi hỏi cơ bản của nguyên tắc này là mọi quy phạm pháp luật môi trường, mọi chính sách liên quan đến môi trường đều phải xem xét đến tiêu chí bảo đảm điều kiện sống của con người, trong đó có điều kiện môi trường là ưu tiên hàng đầu

Cùng với việc tham gia các cam kết quốc tế về môi trường, Việt Nam

đã thừa nhận quyền con người được sống trong môi trường trong lành là một nội dung pháp lý trong hệ thống pháp luật về quản lý môi trường Điều này đã được khẳng định cụ thể tại Hiến pháp năm 2013 “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” [10, Điều 43] và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế, an sinh xã hội, bảo đảm quyền trẻ em, thúc đẩy giới và phát triển, bảo tồn đa dạng sinh học, ứng phó với biến đổi khí hậu để bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành” [11, Điều

4, Khoản 2] Việc thừa nhận quyền này trong các quy định của pháp luật đồng nghĩa với việc Nhà nước sẽ có trách nhiệm thực hiện những biện pháp cần thiết để bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường nhằm bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường trong lành, đồng thời đây cũng chính

là cơ sở pháp lý để mọi người tự bảo vệ quyền được sống trong môi trường trong lành của chính mình

1.2.2 Nguyên tắc tính thống nhất trong quản lý và bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường là một lĩnh vực phức tạp và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người được sống trong môi trường trong lành gắn với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, phát triển kinh tế - xã hội và phát triển bền vững đất nước Do đó, việc quản lý và bảo vệ môi trường phải có sự

Trang 32

thống nhất và đây chính là một trong các nguyên tắc của pháp luật về bảo vệ môi trường đã được ghi nhận tại Điều 8 Hiến pháp năm 2013 và Điều 140 Luật Bảo

vệ môi trường năm 2014 Để thực hiện nguyên tắc này, đòi hỏi các yêu cầu sau đây: Việc xây dựng và ban hành các chính sách, quy định của pháp luật về bảo

vệ môi trường phải có sự cân nhắc toàn diện đến các yếu tố khác nhau của môi trường để việc điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực này không bị phân tán và thiếu tính đồng bộ; việc bảo vệ môi trường được thực hiện dưới sự điều hành thống nhất của một cơ quan; các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về môi trường, quy trình thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường với vai trò là những công cụ kỹ thuật quan trọng trong quản lý môi trường, phải được xây dựng và áp dụng một cách thống nhất trong phạm vi cả nước; việc bảo

vệ môi trường phải luôn được coi là nghĩa vụ và trách nhiệm của toàn xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân đều phải tham gia bảo vệ môi trường thông qua việc tuân thủ nghiêm túc và đầy đủ các quy định của pháp luật về môi trường, thực hiện các hoạt động chung của cộng đồng nhằm bảo vệ môi trường

1.2.3 Nguyên tắc bảo đảm sự phát triển bền vững

“Phát triển bền vững” là một khái niệm xuất hiện từ phong trào bảo vệ môi trường trong thời điểm những năm đầu thập niên 70 của thế kỷ 20 Trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng thế giới về môi trường

và phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, phát triển bền vững được định

nghĩa “Là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” [17] Hội nghị thượng đỉnh Trái đất về môi trường và phát triển được tổ chức ở Rio

de Janeiro (Braxin) năm 1992 và Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hòa Nam Phi) năm 2002 đã xác định

“Phát triển bền vững” là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Theo

Trang 33

quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” [11, Điều 3, Khoản 4] Phát triển bền vững là một trong những nguyên tắc quan trọng trong hệ thống pháp luật quốc tế về môi trường và hầu hết các quốc gia trên thế giới đã ghi nhận nguyên tắc này trong hệ thống pháp luật của mình Để bảo đảm thực hiện nguyên tắc phát triển bền vững, đòi hỏi các yêu cầu sau đây: Các biện pháp quản lý, bảo vệ môi trường phải luôn được xác định là yếu tố cấu thành trong các chiến lược hoặc các chính sách phát triển kinh tế của quốc gia, địa phương, vùng miền và của từng ngành, từng tổ chức; phải xây dựng được bộ máy và cơ chế quản lý có hiệu lực, hiệu quả trong việc ngăn chặn, phòng, chống tham nhũng và lãng phí các nguồn lực, nhất là nguồn tài nguyên thiên nhiên; phải hoàn thiện quy trình quyết định chính sách và tăng cường tính công khai, minh bạch của các quy trình đó, bảo đảm để các quyết định, chính sách ban hành hướng đến sự phát triển bền vững; đánh giá tác động môi trường phải luôn là một bộ phận cấu thành của mọi dự án đầu tư

1.2.4 Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa

Môi trường khác với các hiện tượng xã hội khác thể hiện ở khả năng khôi phục hiện trạng, đó là không thể thực hiện được hoặc nếu thực hiện được thì sẽ rất khó khăn và tốn kém cả về thời gian, công sức lẫn tiền bạc Thực tế đã chứng minh, một số hậu quả do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra là không thể khắc phục được, còn đối với những trường hợp có thể khắc phục thì nguồn lực bỏ ra

để khắc phục các hậu quả về môi trường bao giờ cũng lớn hơn rất nhiều so với nguồn lực bỏ ra để thực hiện việc phòng ngừa Chính vì vậy, ngăn ngừa những hành vi gây hại cho môi trường luôn được chú trọng hơn so với việc áp dụng các hình phạt hoặc chế tài khác Nguyên tắc coi trọng tính phòng ngừa là một trong

Trang 34

những nguyên tắc của hoạt động quản lý, bảo vệ môi trường và được quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 “Hoạt động bảo vệ môi trường phải được tiến hành thường xuyên và ưu tiên phòng ngừa ô nhiễm, sự cố, suy thoái môi trường” [11, Điều 4, Khoản 6] Nguyên tắc này chính là cơ sở pháp lý cho việc ban hành và áp dụng các quy định pháp luật nhằm ngăn chặn các hoạt động có khả năng gây nguy hại cho môi trường

Biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn áp dụng trong quản lý môi trường rất

đa dạng cả về nội dung lẫn hình thức Tuy nhiên, bản chất chính của các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là nhằm mục đích kích thích lợi ích hoặc triệt tiêu các lợi ích vốn là động lực của việc vi phạm pháp luật môi trường, nâng cao ý thức tự giác chấp hành của con người trong việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường Để phòng ngừa có hiệu quả, nguyên tắc này đòi hỏi các yêu cầu sau đây: Phải dự báo được những rủi ro mà con người và thiên nhiên có thể gây ra cho môi trường Đây chính là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định đến hiệu quả của việc phòng ngừa, là cơ sở để xây dựng các biện pháp ngăn chặn, chuẩn bị đối phó; phải có những biện pháp ngăn chặn, loại trừ, giảm thiểu những rủi ro có thể xảy ra một cách khả thi, hiệu quả, đặc biệt là có sự chuẩn bị đầy đủ về lực lượng, phương tiện và phương án sẵn sàng ứng phó với những rủi ro, sự cố xảy ra

1.2.5 Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền

Nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” lần đầu tiên được ghi nhận trong văn kiện của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế Nguyên tắc này xuất

phát từ quan điểm cho rằng môi trường là một loại “hàng hóa” đặc biệt (vì nó

mang tính cộng đồng, ai cũng đều sử dụng) Chính vì vậy, mà khi khai thác, sử

dụng môi trường hoặc gây ra ô nhiễm, sự cố môi trường thì các chủ thể phải trả

tiền (được hiểu là để mua quyền tác động đến môi trường) cho Nhà nước (được

hiểu là người đại diện cho toàn thể cộng đồng) và Nhà nước sẽ sử dụng số tiền

này để phục vụ cho các vấn đề liên quan đến môi trường Đây chính là một

Trang 35

nguyên tắc đặc thù trong pháp luật về bảo vệ môi trường, thể hiện rõ nét nhất việc thực hiện biện pháp kinh tế trong bảo vệ môi trường, dùng lợi ích kinh tế tác động vào chính hành vi của chủ thể theo hướng có lợi cho môi trường Pháp luật môi trường của nhiều quốc gia đã sử dụng nguyên tắc này như là một biện pháp chính nhằm buộc các chủ thể phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi của mình về các vấn đề liên quan đến môi trường

Ở Việt Nam, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền đã được luật hóa trong Hiến pháp năm 2013 “Tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm môi trường, làm suy kiệt tài nguyên thiên nhiên và suy giảm đa dạng sinh học phải bị xử

lý nghiêm và có trách nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại” [10, Điều 63, Khoản 3] và Luật Bảo vệ môi trường năm 2014: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng thành phần môi trường, được hưởng lợi từ môi trường có nghĩa

vụ đóng góp tài chính cho bảo vệ môi trường; tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, sự cố và suy thoái môi trường phải khắc phục, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật [11, Điều 4, Khoản 8]

Như vậy, chủ thể phải trả tiền theo nguyên tắc này là những chủ thể gây ô nhiễm theo nghĩa rộng, bao gồm những chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và những chủ thể thực hiện những hành vi gây tác động xấu đến môi trường Tuy nhiên, cần lưu ý là không phải mọi trường hợp gây ô nhiễm đều phải trả tiền Những trường hợp không phải trả tiền phụ thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia, mà thông thường là những chủ thể khai thác, sử dụng môi trường, tác động vào môi trường để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu mang tính chất tự nhiên thì không phải trả tiền

Mục tiêu của nguyên tắc này trước hết là nhằm mục đích bảo đảm sự công bằng trong việc khai thác, sử dụng và bảo vệ môi trường Bởi vì, môi trường là của chung, khi môi trường bị ô nhiễm thì tất cả các thành viên trong phạm vi ảnh hưởng đều phải gánh chịu hậu quả, trong khi sự đóng góp vào việc làm xấu đi của môi trường là không giống nhau; góp phần tác động vào lợi ích

Trang 36

kinh tế của chủ thể thông qua đó tác động đến hành vi xử sự của các chủ thể với môi trường theo hướng có lợi cho môi trường; tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, phục vụ cho công tác bảo vệ môi trường Để thực hiện nguyên tắc này thì phải bảo đảm những yêu cầu sau đây: Số tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải tương xứng với tính chất và mức độ gây tác động xấu đến môi trường, tiền phải trả cho hành vi gây ô nhiễm phải đủ sức tác động đến lợi ích, đến hành vi của các chủ thể có liên quan Tiền ở đây phải mang tính ngang giá, không phải thu mang tính tượng trưng

1.3 Nội dung pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Như đã đề cập trong các phần trên, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ phát sinh và tồn tại trong lĩnh vực khai thác đá giữa các chủ thể nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác hại xảy ra cho môi trường, khắc phục và xử lý hậu quả nhằm đảm bảo phát triển bền vững, góp phần duy trì và phát triển nền kinh tế Theo đó, pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá bao gồm những nội dung cơ bản sau đây:

1.3.1 Các quy định về trách nhiệm của các cơ quan nhà nước đối với bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng

Để phòng ngừa ô nhiễm môi trường trong HĐKTĐ có thể gây ra cho con người và môi trường, pháp luật BVMT trong HĐKTĐ đã quy định cụ thể các quy định pháp luật về BVMT trước khi tiến hành HĐKTĐ

- Quy định pháp luật về lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, xác nhận hoàn thành công trình BVMT, phương án cải tạo, phục hồi môi trường đối với HĐKTĐ

Pháp luật về BVMT trong HĐKTĐ đã phân định chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn rõ ràng, cụ thể cho các cơ quan QLNN từ Trung ương đến địa phương, UBND cấp tỉnh là cơ quan chịu trách nhiệm ở cấp tỉnh Theo Luật BVMT, Nghị

Trang 37

định số 18/2015/NĐ-CP, các thông tư hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thẩm định và phê duyệt đối với các dự án thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư của UBND cấp tỉnh thẩm định và phê duyệt đối với các dự án thuộc địa bàn của mình Theo đó các quy định về thẩm định, phê duyệt, chứng nhận về BVMT theo thẩm quyền được quy định cụ thể, rõ ràng và đầy đủ hơn Việc thẩm định, phê duyệt, xác nhận hoàn thành các đề án, báo cáo, thiết kế trên giúp nhà nước nắm bắt một cách đầy đủ và toàn diện về HĐKTĐ, xác định loại khoáng sản được khai thác, ranh giới, diện tích khai thác và các loại thiết bị, công nghệ cũng như các biện pháp mà chủ thể HĐKTĐ áp dụng để BVMT

Thông qua công tác thẩm định cơ quan QLNN đảm bảo trách nhiệm của mình nhằm nâng cao hiệu quả các công cụ quản lý môi trường có tính chất phòng ngừa; chọn phương án tốt để khi thực hiện dự án phát triển ít gây tác động tiêu cực đến môi trường; nâng cao chất lượng của việc đưa ra quyết định; cơ sở để đối chiếu khi có thanh tra môi trường; góp phần cho phát triển bền vững [21, tr 26-27]

- Quy định pháp luật về cấp phép khai thác khoáng sản

Để quản lý nguồn tài nguyên khoáng sản được tốt, tránh thất thoát và lãng phí thì cần có công cụ để quản lý đó là bằng các văn bản hành chính được cơ quan nhà nước chứng nhận Giấy phép khai thác khoáng sản như là một chứng thư xác lập quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong một thời gian nhất định được nêu trong giấy phép

Hoạt động cấp, gia hạn, thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản là những biện pháp mang tính pháp lý để nhà nước theo dõi, quản lý, kiểm soát chặt chẽ toàn bộ quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản Hoạt động này một mặt sẽ góp phần hạn chế việc khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên khoáng sản một cách bừa bãi, lãng phí đồng thời kiểm soát được những tác động xấu đến môi trường từ các HĐKTĐ Thông qua công tác cấp giấy phép khai thác khoáng sản khẳng định pháp luật về khoáng sản quy định

Trang 38

chính sách khuyến khích BVMT và khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản Nhà nước đã có chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư đối với các dự án khai thác gắn liền với chế biến tại chỗ, khoáng sản ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Dự án có áp dụng kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, bảo đảm môi trường, thu hồi tối đa các thành phần có ích, làm ra các sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội cao; Dự án chế biến khoáng sản nhập khẩu đáp ứng nhu cầu sử dụng trong nước và xuất khẩu

1.3.2 Các quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng của các tổ chức, cá nhân

Khai thác khoáng sản nói chung và khai thác đá nói riêng tuy mang lại lợi ích kinh tế lớn cho doanh nghiệp, cho quốc gia nhưng đã phải đánh đổi với

sự hủy hoại môi trường, các hệ sinh thái, đánh đổi với tiềm năng các nguồn tài nguyên khác như du lịch, nuôi trồng thủy sản, sản xuất nông, lâm nghiệp

và đối mặt với nhiều thách thức vế kinh tế - xã hội của cộng đồng dân cư vùng khai khoáng Bên cạnh đó, tài nguyên đất, nước bị sử dụng lãng phí, cộng đồng dân cư địa phương phải gánh chịu hậu quả và chính quyền địa phương luôn phải tìm cách khắc phục Chính vì vậy khoáng sản phải được quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển bền vững kinh

tế - xã hội trước mắt và lâu dài, bảo đảm quốc phòng, an ninh Để khuyến khích tổ chức, cá nhân bảo vệ, sử dụng có hiệu quả tài nguyên khoáng sản của đất nước trong HĐKTĐ, đồng thời BVMT

Hệ thống pháp luật về tài nguyên khoáng sản đã xác lập các yêu cầu về BVMT trong HĐKTĐ Bên cạnh những cơ chế quản lý nhằm đảm bảo sự kiểm soát của Nhà nước đối với nguồn tài nguyên khoáng sản và giám sát đối với quá trình khai thác, chế biến khoáng sản, pháp luật về khoáng sản nói

Trang 39

riêng và pháp luật về môi trường nói chung đều có riêng những quy định về vấn đề BVMT trong HĐKTĐ, như:

- Quy định pháp luật về ký quỹ phục hồi môi trường

Khai thác đá là một trong những hoạt động kinh tế góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tăng trưởng GDP Tuy nhiên hoạt động này cũng gây nhiều tác động tới môi trường Các tác động chính có thể

kể tới đó là: Chấn động do nổ mìn, bụi, tiếng ồn tại hầu hết các công đoạn sản xuất, ảnh hưởng tới môi trường nước, đất… Do vậy, bên cạnh các loại thuế, phí về môi trường, Điều 38 Luật BVMT năm 2014 đã quy định: Tổ chức, cá nhân khi tiến hành khai thác khoáng sản phải "Ký quỹ phục hồi môi trường theo quy định của pháp luật"

Ký quỹ phục hồi môi trường là việc các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản ký gửi một khoản tiền nhất định, theo một thời hạn nhất định, vào Quỹ BVMT Việt Nam hoặc Quỹ BVMT địa phương (sau đây gọi chung là Quỹ BVMT) nhằm mục đích bảo đảm tài chính cho việc cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác

Ký quỹ phục hồi môi trường là một công cụ kinh tế cần thiết trong quản lý quản lý tài nguyên môi trường, đóng vai trò tác động trực tiếp đến việc thực hiện trách nhiệm BVMT ngay sau khi thác khoáng sản của tổ chức,

cá nhân Việc thực hiện ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường được thực hiện theo Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, Thông tư

số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong HĐKTKS; đã hướng dẫn thực hiện quy định về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với HĐKTKS Theo quy định, các tổ chức, cá nhân khi HĐKTKS phải lập dự án cải tạo, phục môi trường sau khai thác (trong đó số tiền ký quỹ

đã được cụ thể hóa và dự toán chi tiết theo phương án phục hồi môi trường)

và tiến hành ký quỹ tại Quỹ BVMT

Trang 40

Quyết định số 02/2014/QĐ-TTg ngày 13/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của quỹ BVMT Việt Nam, thì quỹ có nhiệm vụ: Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, các nguồn tài trợ, đóng góp, ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước nhằm hỗ trợ tài chính cho các hoạt động BVMT; nhận ký quỹ phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản với các tổ chức, cá nhân được phép khai thác khoáng sản; tài trợ, đồng tài trợ cho các hoạt động BVMT: xử lý khắc phục ô nhiễm môi trường, ứng phó, khắc phục hậu quả do

sự cố môi trường

- Quy định pháp luật về quản lý chất thải trong HĐKTĐ

Trong quá trình HĐKTĐ các tổ chức, cá nhân làm phát sinh nhiều yếu

tố gây tác động tiêu cực đến môi trường như: nước thải, chất thải rắn, khí thải độc, bụi, tiếng ồn, dầu mỡ, các phụ tùng, vật tư hư hỏng của các phương tiện

cơ giới trong quá trình khai thác Chính vì vậy, việc quản lý chất thải được đặt

ra là một yêu cầu bức thiết nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực gây ra cho con người và môi trường trong quá trình tiến hành HĐKTĐ

Hoạt động khai thác đá, nước được sử dụng với khối lượng nhất định cho hầu hết các công đoạn sản xuất, đồng thời lượng nước thải ra môi trường làm ảnh hưởng đến nguồn nước xung quanh khu vực khai thác cũng đáng kể

Do đó chủ thể tiến hành hành khai thác đá phải tuân thủ các quy định về quản

lý nước thải, thu gom và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường

Khối lượng chất thải rắn (đất, đá) xuất hiện trong khai thác đá là rất lớn, loại chất thải này sau một thời gian không được xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng đến đời sống cư dân cũng như động, thực vật trong khu vực

Để nhằm hạn chế ảnh hưởng đến môi trường từ các chất thải nói chung

và chất thải trong khai thác khoáng sản nói riêng, ngày 24/4/2015 Chính phủ

đã ban hành Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu

Ngày đăng: 26/03/2021, 03:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w