1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại vườn quốc gia phia oắc phia đén, huyện nguyên bình, tỉnh cao bằng

75 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẠM THỊ CẨM TÚNGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ LÀM DƯỢC LIỆU VÀ THỰC PHẨM TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHIA OẮC – PHIA ĐÉN, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO

Trang 1

PHẠM THỊ CẨM TÚ

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP

SỬ DỤNG BỀN VỮNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ LÀM DƯỢC LIỆU VÀ THỰC PHẨM TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHIA OẮC – PHIA ĐÉN, HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

PHẠM THỊ CẨM TÚ

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP SỬ DỤNG BỀN VỮNG LÂM SẢN NGOÀI GỖ LÀM DƯỢC LIỆU VÀ THỰC PHẨM TẠI VƯỜN QUỐC GIA PHIA OẮC – PHIA ĐÉN, HUYỆN

NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG

NGÀNH: LÂM HỌC

MÃ SỐ : 8.62.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC

NGƯỜI HD KHOA HỌC: PGS.TS TRẦN QUỐC HƯNG

Thái Nguyên - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này làtrung thực, đầy đủ, rõ nguồn gốc và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào,Các thông tin, tài liệu tham khảo sử dụng trong luận văn này đều đã được ghi rõnguồn gốc, Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện cho luận văn này đã được cảm ơn,

Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng bảo vệ luận văn, trước phòng quản

lý sau đại học và nhà trường về các thông tin, số liệu trong đề tài

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2020

Người viết cam đoan

Phạm Thị Cẩm Tú

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự nhất trí của Ban chủnhiệm khoa Lâm nghiệp, Phòng Đào tạo - Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên

tác giả tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử

dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng”

Sau một thời gian làm việc đến nay bản luận văn của tác giả đã hoàn thành.Nhân dịp này tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn PGS

TS Trần Quốc Hưng là người tận tâm hướng dẫn tác giả trong thời gian thực hiện đềtài

Tác giả xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo phòng Đào tạo, khoa Lâmnghiệp những người đã truyền thụ cho tác giả những kiến thức và phương phápnghiên cứu quý báu trong thời gian tác giả theo học tại trường

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban quản lý Vương Quốc gia Phia Oắc - PhiaĐén, tỉnh Cao Băng đã nhiệt tình tạo mọi điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trìnhnghiên cứu

Và cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn sâu sắc nhất tới cơ quan, giađình, bạn bè và những người luôn quan tâm chia sẻ và tạo mọi điều kiện giúp đỡtrong thời gian tác giả học tập và nghiên cứu vừa qua

Do lần đầu làm quen với nghiên cứu khoa học, nên luận văn không tránhđược những thiếu sót Vì vậy, tác giả kính mong được sự đóng góp ý kiến quý báucủa các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản luận văn của tác giả thêm phongphú và hoàn thiện hơn

Tác giả xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng năm 2020

Tác giả luận văn

Phạm Thị Cẩm Tú

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

i LỜI CẢM ƠN ii MỤC LỤC .iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG

vi MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết

1 2 Mục tiêu nghiên cứu

2 2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Ý nghĩa cuả đề tài 2

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

2 3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Cơ sở khoa học 4

1.1.1 Một số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ

4 1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ

6 1.2 Tình hình nghiên cứu LSNG 8

1.2.1 Tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới

8 1.2.2 Tình hình nghiên cứu LSNG ở Việt Nam 11

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu 18

1.3.1 Điều kiện tự nhiên 18

1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

23 1.3.3 Đánh giá nhận xét chung 26

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

28 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28

Trang 6

2.3 Nội dung nghiên cứu 282.4 Phương pháp nghiên cứu .28

2.4.1 Phương pháp thu thập và phân tích số liệu thứ cấp 28

Trang 7

2.4.2 Công tác ngoại nghiệp 29

2.4.3 Công tác nội nghiệp 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33

3.1 Những loài lâm sản ngoài gỗ được người dân trong vùng sử dụng làm dược liệu và thực phẩm 33

3.2 Thực trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm dược liệu và thực phẩm của người dân 35

3.2.1 Nguồn gốc của những loài LSNG được khai thác làm dược liệu, thực phẩm tại khu vực nghiên cứu 35

3.2.2 Thực trạng khai thác thực vật rừng làm dược liệu, thực phẩm tại khu vực nghiên cứu36 3.2.3 Tình hình sử dụng và tiêu thụ nguồn tài nguyên cây dược liệu, thực phẩm 45

3.3 Các nguyên nhân làm suy giảm nguồn tài nguyên cây dược liệu, thực phẩm tại khu vực nghiên cứu 47

3.4 Giải pháp bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững những loài LSNG làm dược liệu, thực phẩm 50

3.4.1 Lựa chọn loài LSNG ưu tiên trong bảo tồn và phát triển 50

3.4.2 Giải pháp để bảo tồn và phát triển các sản phẩm này 51

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53

1 Kết luận 53

2 Kiến nghị 55

TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

cung

cấp

tin

Úy

ban

nhân

dân

Vườn

Quốc

gia

Tổ chức y tế thế giới

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Phân nhóm giá trị sử dụng của thực vật LSNG tại VQG Phia Oắc Phia

Đén 33Bảng 3.2 Nguồn gốc các loài LSNG được khai thác tại

VQG 36Bảng 3.3 Thực trạng các loài LSNG khai thác cả cây, thân và dây làm dược

liệu 37Bảng 3.4 Thực trạng các loài LSNG khai thác lá làm dược

liệu 40Bảng 3.5 Thực trạng các loài LSNG khai thác rễ, củ làm dược liệu

41Bảng 3.6 Thực trạng các loài LSNG khai thác vỏ làm dược liệu

42Bảng 3.7 Thực trạng các loài LSNG khai thác quả, hạt làm dược liệu

42Bảng 3.8 Thực trạng các loài LSNG khai thác thân, lá làm thực phẩm

43Bảng 3.9 Thực trạng các loài LSNG khai thác củ làm thực

phẩm 44Bảng 3.10 Thực trạng các loài LSNG khai thác quả làm thực phẩm

44Bảng 3.11 Các tiêu chí ảnh hưởng tới nguồn tài nguyên LSNG sử dụng

47Bảng 3.12 Các nguyên nhân chủ quan dẫn đến suy giảm các loài LSNG

48Bảng 3.13 Đánh giá nhóm LSNG chủ yếu để phát triển dược liệu, thực

phẩm 50

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ tỷ lệ phân nhóm LSNG theo giá trị sử dụng

tại khu vực nghiên cứu 34

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ khai thác các bộ phận của các loài cây làm dược

liệu 34Hình 3.3 Biểu đồ tỷ lệ khai thác các bộ phận của các loài cây làm thực

phẩm 35

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) là một bộ phận quan trọng của hệ sinh thái rừng

Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một đơn vị của tự nhiên, một thể thống nhất, biệnchứng của các loài cây gỗ lớn, cây bụi thảm tươi, thực vật ký sinh, phụ sinh, dây leo,các động vật, vi sinh vật, các chất hữu cơ, vô cơ… Tập hợp các cây cho LSNG làmột bộ phận hợp thành của đơn vị tự nhiên đó, rất phong phú cả về số loài, tuổi,dạng sống, ứng dụng và giá trị của nó.Lâm sản ngoài gỗ hình thành bởi hai nguồn:nguồn phát triển tự nhiên và nguồn do con người nuôi trồng

Lâm sản ngoài gỗ phần lớn có giá trị kinh tế cao, cung cấp những sản phẩm

có tác dụng nhiều mặt đối với đời sống con người, như: nguyên liệu cho công nghiệpchế biến, sản xuất đồ gia dụng, thuốc chữa bệnh Đặc biệt, phát triển lâm sản ngoài

gỗ sẽ góp phần tăng cường đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn gen, đảm bảo khả năngphòng hộ của rừng, giải quyết việc làm cho nông dân

Tuy nhiên, tiềm năng kinh tế của LSNG chưa được phát huy, chưa đóng gópxứng đáng cho nền kinh tế quốc dân, mặt khác trong một thời gian dài, việc sử dụngrừng chủ yếu là khai thác gỗ, ít quan tâm đến việc bảo tồn và phát triển LSNG nênnguồn tài nguyên này có xu hướng bị suy giảm, ảnh hưởng đến cuộc sống của cáccộng đồng dân cư sống dựa vào rừng

Vườn quốc gia Phia Oắc - Phia Đén nơi lưu giữ đa dạng sinh học cao và lànơi phục hồi, lưu giữ các nguồn gen động thực vật phục vụ nghiên cứu khoa học,phát triển dịch vụ, du lịch sinh thái, điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất đai chống xóimòn, rửa trôi, xạt lở đất, góp phần bảo tồn và phát triển bền vững trong khu vực Tuynhiên, trong suốt thời gian dài chưa được quy hoạch nên chưa điều tra, đánh giá tổnghợp tài nguyên thiên nhiên, kinh tế - xã hội của vùng, các chương trình, dự án về bảotồn và phát triển bền vững chưa được thực hiện, những tác động bất lợi tới rừng, chặtphá rừng diễn ra ngày một mạnh hơn, đa dạng sinh học đã và đang bị suy giảm đáng

kể cả về số và chất lượng, nhiều loài động, thực vật quý hiếm, đặc hữu đang đứngtrước nguy cơ tuyệt chủng Rừng trở nên nghèo về trữ lượng và tổ thành thực vật,

Trang 13

khu hệ động vật đã bị xâm hại một cách nghiêm trọng trong thời gian dài từ năm

1986 đến nay Các loài thú lớn, các loài động vật đặc hữu không còn thấy xuất hiện.Trước thực trạng đó, nhằm góp phần sử dụng hợp lý lâm sản ngoài gỗ và nângcao hiệu quả bảo tồn đa dạng sinh học tại Khu Bảo tồn thiên nhiên, việc thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng bền vững lâm sản ngoài

gỗ làm dược liệu và thực phẩm tại Vườn quốc gia Phia Oắc – Phia Đén, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý nghĩa cả khoa học và thực tiễn sản

xuất, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu như hiện nay

2 Mục tiêu nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Đề tài góp phần đánh giá được thực trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài

Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng làm cơ sở đề xuất những giải pháp giúp chính quyềnđịa phương, người dân xác định được hướng bảo tồn, phát triển những loài LSNGquý giá

3 Ý nghĩa cuả đề tài

3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

Nhằm giúp cho học viên vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, học hỏi kiến thức

và tích lũy những kinh nghiệm ngoài thực tiễn, giúp cho học viên có một phươngpháp làm việc khoa học gắn liền với thực tiễn

3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương trìnhphát triển kinh tế xã hội

Trang 14

Đánh giá được hiện trạng khai thác, sử dụng các loài thực vật rừng làm dượcliệu, làm thực phẩm, nắm bắt được các loài dược liệu quý, những bài thuốc từ ngườidân và những giải pháp đề xuất là cơ sở giúp chính quyền địa phương, người dân xácđịnh được hướng bảo tồn, phát triển nhân rộng các loài dược liệu quý, các bài thuốc

mà cộng đồng các dân tộc đã và đang lưu truyền phát triển

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở khoa học

1.1.1 Một số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ.

Tử xưa đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ được sử dụngrộng rãi như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm không phải là gỗ

Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, ở Việt nam lâm sản được phânchia thành hai loại:

- Lâm sản chính (principale richesse forestière) là những sản phẩm gỗ;

- Sản phẩm phụ của rừng hay lâm sản phụ (produit secondaire de la forêt),

bao gồm động vật và thực vật cho những sản phẩm ngoài gỗ Từ 1961, lâm sản phụđược coi trọng và được mang tên đặc sản rừng “Đặc sản rừng bao gồm cả thực vật

và động vật rừng là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước Nó có vị trí quan trọngtrong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốcphòng và xuất khẩu…” (Bộ Lâm nghiệp - Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990)

Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưngchỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loàithực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc hữu hoặc được coi là đặchữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sảncũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưabiết giá trị Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung

sự chú ý vào một số sản phẩm nhất định

Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng phổbiến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondaryforest product) Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấnlâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ(Non-wood forest product) bao gồm những sản phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi vàthan gỗ Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ”

Do đó, không được coi là LSNG những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lịchsinh thái

Trang 16

- Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả các sản phảm sinh vật (trừ gỗ tròn công

nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừngtrồng được dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xãhội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí, bảo tồn thiên nhiên, quản lý

vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng” (Wichens, 1991).

- Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, TháiBình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định

nghĩa về LSNG như sau: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm

tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ các cây thân gỗ”

- Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ dây leo bậc cao và bậc thấp

phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sảnphẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây là thực vật đặc

sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Dũng, 1992).

- LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ cũng

như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như lànhững hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động

liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này (FAO, 1995).

- LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ,

được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm , thuốc, gai

vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (cònsống hay sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre, nứa, song, mây,

gỗ nhỏ và sợi (J.H.De Beer, 1996).

- LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất

rừng và các cây bên ngoài rừng (FAO, 1999).

- Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu

sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy, sợi…

Trang 17

- Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm

tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó.

Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng.Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho LSNG là không thể Định nghĩa này có thểthay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triểntài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên

do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con người, chúnggồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến

1.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ

- Phân loại LSNG theo hệ thống sinh giới: Theo phân loại kinh điển, sinh giới

được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuyrất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệthống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Chi\Loài Ưu điểmcủa cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhómloài cùng sự tiến hóa của chúng Phương pháp phân loại này chú ý nhiều đến đặc điểmsinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất

định về phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000).

- Phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân loại mà các LSNG

khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh giới, nơi phân bố… có cùng giá trị

sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNGthực vật theo nhóm công dụng như sau:

- Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm;

- Nhóm cây cho sợi

- Nhóm cây cho ta-nanh

- Nhóm cây cho màu nhuộm

- Nhóm cây làm dược liệu

- Nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn

- Nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ

- Nhóm cây làm cảnh, cho bóng mát.

Trang 18

Ưu điểm của phương pháp phân loại này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụngnhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời khuyến khíchđược họ tham gia trong quá trình quản lý tài nguyên Ngoài ra phương pháp này cũngđược các nhà kinh doanh, nhà nghiên cứu LSNG quan tâm.

Nhược điểm của phương pháp phân loại này là chỉ mới nhấn mạnh tới giá trị

sử dụng, mà chưa đề cập đến đặc điểm sinh vật học (đặc điểm hình thái, sinh thái,phân bố…) của các loài, nên khả năng nhận biết các loài gặp nhiều khó khăn hơn nữamột số loài có nhiều công dụng khi phân loại dễ bị trùng vào nhiều nhóm khác nhau

Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống phân

loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng Lâm sản

ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này lâm sản ngoài gỗ được

chia làm 6 nhóm:

- Nhóm 1: Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi và các loại cỏ

- Nhóm 2: Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân,chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩm nguồngốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côntrùng

- Nhóm 3: Thuốc và mỹ phẩm có nguồn gốc thực vật

- Nhóm 4: Các sản phẩm chiết xuất: gôm, nhựa dầu, nhựa mủ, ta-nanh vàthuốc nhuộm, dầu béo và tinh dầu

- Nhóm 5:: Động vật và các sản phẩm từ động vật không làm thực phẩm: tơ,động vật sống, chim, côn trùng, lông mao, lông vũ, da, sừng, ngà, xương và nhựacánh kiến đỏ

- Nhóm 6: Các sản phẩm khác: như lá Bidi (lá thị rừng dùng gói thuốc lá ở Ấn Độ)

Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO,

Trang 19

Ở Việt Nam, khung phân loại lâm sản ngoài gỗ đầu tiên được chính thức thừanhận bằng văn bản đó là: “Danh mục các loài đặc sản rừng được quản lý thống nhấttheo ngành” Đây là văn bản kèm theo Nghị định 160 - HĐBT ngày 10/12/1984 củaHội đồng bộ trưởng về việc thống nhất quản lý các đặc sản rừng (nay gọi là lâm sảnngoài gỗ).

Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và

Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:

Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại lâm sảnngoài gỗ trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự hiểu biết

về lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam

1.2 Tình hình nghiên cứu LSNG

1.2.1 Tình hình nghiên cứu LSNG trên thế giới

Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc củaLiên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tácgiả A.l Ermakov, V.V Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình

“Phương pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ sở choviệc sử dụng và

Trang 20

chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối đa công dụng của các loàicây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đãđưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế)trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công bố rộngrãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừakhông gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng câythuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng

bệnh với liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005).

Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dượcdụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụngtừng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công dụng, cách phối hợpcác loài cây thuốc treo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh thực vật dược tài chí”,

“Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo”, “Quảng Tây trung dược trí” (Trần

tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã

làm cho lâm sản ngoài gỗ trước đây bị lu mờ và ít được chú ý đến (Phan Văn Thắng,

sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm năng phát triển của thảo quả (Phan Văn

Thắng, 2002).

Trang 21

Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận lâm sản ngoài gỗ nhưmột yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, lâm sản ngoài

gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật liệu xây dựng, đồng thời

cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ gia đình (Phan Văn Thắng, 2002).

Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc tạiViện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản thảo bứctranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở TrungQuốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặcđiểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hoá học của thảo

quả (Phan Văn Thắng, 2002).

Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S dePadua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên cứu vềcác cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểmphân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinhthái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc

bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới (Phan

Văn Thắng, 2002).

- Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan,Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản phẩm lâmsản ngoài gỗ, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằmnâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh học của các hệ sinh

thái rừng địa phương (Everlyn Mathias, 2001).

Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekhanran (1995) - mộtchuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chínhnhư sau:

A Cây sống và các bộ phận của cây

B Động vật và các sản phẩm của động vật

C Các sản phẩm được chế biến (các gia vị, dầu, nhựa thực vật )

D Các dịch vụ từ rừng

Trang 22

Các nghiên cứu chỉ ra rằng rừng nhiệt đới không chỉ phong phú về tàinguyên gỗ mà còn đa dạng về các loại thực vật cho sản phẩm ngoài gỗ Khi nghiêncứu đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Làongười ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong đó có 223 loài làm thức

ăn ( Phan Văn Thắng, 2002).

Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trêntoàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của cácdân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữgìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sứckhoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ dược

35.000-liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006).

1.2.2 Tình hình nghiên cứu LSNG ở Việt Nam

Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiêncứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây “truyền thống”,

có đặc thù riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có phạm vi phân bố hẹp,chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía Bắc như Lào Cai, Yên Bái,

Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu liên quan còn

tản mạn ( Phan Văn Thắng, 2002).

Sau năm 1975, Vàng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu cho

berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chục nămkhai thác loài Vàng Đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng sẽ nguy cấp (V) trong

sách đỏ Việt Nam Ba Kích (Morinda offcinalis) là một cây thốc có tác dụng tăng

cường khả năng sinh dục ở nam giới, chữa thấp khớp và một số bệnh khác đã bị khai

thác mỗi năm vài chục tấn liên tục nên đã cạn kiệt (Viện Dược Liệu, 2002).

Nghiên cứu của Giáo sư Đỗ Tất Lợi (1975) đã cho rằng: thảo quả là loài câythuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm 1990 Trong thảo quả có khoảng 1-1,5%tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu có tác dụng chữa cácbệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu khẳng định công dụng của thảo

Trang 23

quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó

đã phần nào mở ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học

ở nước ta

Năm 1982, Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về “Bảo vệ,khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trênrừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: thảo quả là cây dược liệu quý và thíchnghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu

nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán rừng (Phan Văn Thắng, 2002).

Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta có

1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật Theo giáo sư Võ Văn Chi trong cuốn “Từđiển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài Trên 3/4 cây trong sốnày là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở rừng Kết quả điều tra sơ bộban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ lệ cây làm thuốc thường chiếm tỷ lệ

rất cao (Viện Dược Liệu, 2002).

Nguyễn Tiến Bân và cs (1994) Các nhà nghiên cứu đã thống kê được 113loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam và tìm hiểu giá trị dinhdưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi sống, cách thu hái, chế biến,thành phần dinh dưỡng Đây là một đề tài khoa học của nhiều thế hệ các nhà nghiêncứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên

nhiều vùng sinh thái khác nhau.(Nguyễn Tiến Bân, 1994).

Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền

phương đông, thuộc chi Sa Nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae) Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới núi

cao ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước ta, Sanhân phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ có khoảng 30 loài trong

đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài đã được xác định chắc chắn ỞViện dược liệu và trường Đại Học Dược hiện có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tênloài đều mang tên Sa Nhân (theo Nguyễn Tập) Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biếtđến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc Bước đầu đã thống kêđược trên 60 đơn thuốc có vị Sa Nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiết

Trang 24

lỵ, đau dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, phù thũng,…Ngoài ra Sa nhân còndùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đãnghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật,

thời gian gây trồng, thu hoạch của sa nhân (Lê Trần Đức, 1997).

Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì, Nguyễn Văn Sản và cs,đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống của người dânnông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất rừng, làm suy thoái

đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, lâm sản ngoài gỗ

bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong những giải pháp có hiệu quả để giảiquyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền

vững ở nước ta là phát triển tài nguyên LSNG (Phan Văn Thắng, 2002).

Nguyễn Ngọc Bình và cs (2000), với cuốn sách “Trồng cây nông nghiệp,

dược liệu và đặc sản dưới tán rừng” Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh tế, đặc điểm

hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba

kích, sa nhân, thảo quả, trám trắng, mây nếp,…( Nguyễn Ngọc Bình, 2001).

Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm 1994đến 2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng,tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba kích Trong đó có

mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang trại, mô hình trồng Ba kích

ở đồi và đất nương rấy cũ Bước đầu các mô hình này đã đem lại những hiệu quả

đáng kể (Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập, 2006).

Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tácgiả, lâm sản ngoài gỗ được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi, sảnphẩm dùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm chiết xuất,động vật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩmkhác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều

có những tồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự đa

dạng, phong phú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam (Phan

Trang 25

những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượngsống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trong khu

vực (Phan Văn Thắng, 2002)

Trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở 2 tỉnhCao Bằng, Bắc Kạn” của Phan Văn Thắng và cs (2001) cho thấy giá trị sử dụng củalâm sản ngoài gỗ đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng Sảnphẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và lâm sản ngoài gỗ như măng, tre, trúc, hồi,giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ

2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu

nhập kinh tế (Phan Văn Thắng, 2002).

Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xómBản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La Quang Độ (2001).Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi phân bố của 15loài thực vật rừng làm rau ăn và kinh nghiệm của người dân tộc trong khai thác, sửdụng, chế biến các loài này Đề tài là một sự đóng góp quan trọng cho tỉnh Bắc Kạn

trong việc đánh giá hiện trạng nguồn tài nguyên lâm sản ngoài gỗ ( La Quang Độ).

Trồng và chế biến Thạch đen - một nghề cổ truyền của dân tộc Tày Nùng,Phùng Tửu Bôi (2005) Cây Thạch đen có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng đượcnhập vào ta từ rất lâu đời Ở Việt Nam cây đã được trồng ở một số nơi, hiện đangtrồng nhiều ở Lạng Sơn và Cao Bằng, nhiều nhất là ở ba xã Chi Lăng, Kim Đồng vàTân Tiến thuộc huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Theo tác giả Thạch đen là một loàilâm sản ngoài gỗ có nhiều giá trị và triển vọng, cần có chính sách và kỹ thuật hỗ trợ

để người dân có thể phát triển lâu dài loại hàng hoá này (Phùng Tửu Bôi, 2005).

Kiến thức bản địa về kinh doanh tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam,

Nguyễn Danh Minh và cs (2005) Để khai thác tiềm năng sẵn có về tre, kết hợp kinh

nghiệm địa phương về kinh doanh tre lấy măng với khoa học hiện địa, góp phần thúcđẩy kinh doanh măng tre ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu kiến thức bản địa kinh doanhtre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam được thực hiện từ năm 2004 Mục tiêu của

đề tài nhằm xác định những loài tre có thể kinh doanh lấy măng; tổng kết kinhnghiệm địa phương và đề xuất mô hình kỹ thuật để kinh doanh tre lấy măng hiệu quả

và bền vững (Nguyễn Thị Thoa).

Trang 26

Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên thực vậtphi gỗ tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản (2003) đã thống kê được 29loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác giả đã lựa chọn được một

số loài cây triển vọng để đưa vào phát triển: Thảo quả, Thiên niên kiện, Xuyên

khung, (Ninh Khắc Bản, 2003).

Theo Ninh Khắc Bản (2003), khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tạiHương Sơn - Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể sửdụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài câyđược sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện, Thạch xương bồ,

Ngũ gia bì, Sa nhân (Ninh Khắc Bản, 2003).

Nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộcthiểu số tại buôn Đrăng Phốk - Vùng lõi VQG Yok Đôn - Huyện Buôn Đôn –Tỉnh

Dak Lak, Nguyễn Văn Thành và cs, 2004 Nghiên cứu đã chỉ ra từ cộng đồng các bài

thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đólựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo tồn và phát triển nhân rộngdựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc mà người dân tại cộng đồng đã sửdụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp

xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh (Nguyễn Văn Thành, 2004).

Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại Vườn quốc gia TamĐảo, Ngô Quý Công và cs trong 2 năm 2004-2005 nhóm nghiên cứu đã tiến hành điềutra việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia, nghiêncứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo tồn và phát

triển cho mục đích gây trồng thương mại (Ngô Quý Công, 2005).

Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cs (2005) đã điều tra đánhgiá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân tộc tỉnh BắcKạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thầy lang trong cộngđồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những trí thức bản địa nàycủa địa phương Những vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy trì, bảo tồn và khai thác

được vốn kinh nghiệm quý báu này (Nguyễn Tập, 2005).

Trang 27

Nguyễn Hoàng Nghĩa và cs (2006) đã nghiên cứu 6 loài tre quả thịt (tre Quảthịt Lộc Bắc, Trường Sơn, Pà Cồ, Cúc Phương, Dẹ Yên Bái, Kon Hà Nừng) Tác giả

đã tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu đặc điểm sinh thái, cấu tạo, giải phẫu hoa,quả Kết quả của nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho giám định loài và ghép chi để tạo racác giống tre cho măng có năng suất, chất lượng cao

Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các loàilâm sản ngoài gỗ làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa -Võ Nhai, Nguyễn ThịThoa và cs (2006) Tác giả đã xác định được 16 loài lâm sản ngoài gỗ thườngxuyên được sử dụng làm rau ăn, gia vị, tìm hiểu kinh nghiệm của người dân xãtrong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia vị và đề xuất giải pháp bảo vệ,phát triển các loài này (Nguyễn Thị Thoa, 2006)

Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản - ViệnKhoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ chức điều tranguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoàng Bồ, tỉnh Quảng Ninh và

đã ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật Tất cả đều lànhững cây thuốc mọc hoang dại trong các quần xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi.Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam)

(Nguyễn Văn Tập, 2006).

Lê Thị Diên và cs (2006) đã thử nghiệm gây trồng một số loài cây thuốcnam dưới tán rừng tự nhiên tại thôn Hà An Các cây thuốc nam được gây trồng có tỷ

lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập

cho các hộ gia đình tham gia gây trồng (Lê Thị Diên, 2006).

Trần Ngọc Hải và cs (2002), đã đánh giá vai trò kinh tế của LSNG ở 2 thônngười Dao tại xã Ba Vì Tác giả cho rằng LSNG, đặc biệt là nhóm tre bương và câydược liệu đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình

Thực trạng khai thác sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườnquốc gia Tam Đảo và vùng đệm, 2008, Đỗ Hoàng Sơn và cs Qua điều tra họ thống

kê được tại Vườn quốc Gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta

và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là người Dao và SánDìu sử dụng cây thuốc để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài

Trang 28

được sử dụng thu hái trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốctươi từ Vườn quốc gia Tam đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên câythuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở cácnghiên cứu tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và đưa vào bảo tồn

(Đỗ Hoàng Sơn, 2008).

Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem

về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ởTrạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng câythuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên cứu trồng và chế biến thuốc

Hà Nội (Thanh Trì), Vườn trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (ThanhHóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang) Cácvườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lýlịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại

để đánh giá khả năng bảo tồn (Lê Văn Giỏi, 2006).

Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược HàNội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm chất trong cây Chèđắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhómchất: Saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, carotenoid và các a-xít hữu cơ.Đây là những nhóm chất có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu đã thu hút sự

chú ý của các nhà nghiên cứu ( Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006).

Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới, Phạm Minh Toại và cs, 2005, tác giảchỉ ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu có ở vùngnhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc đang ở dạng tiềm năng sẽ bịhuỷ diệt và các kiến thức bản địa liên quan cũng ít có cơ hội tồn tại Việc mất rừngnhiệt đới rõ ràng đang đe doạ sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùngtăng lẫn nhau như: trượt lở đất, lũ lụt và hoang mạc hoá, xói mòn đất và sự lây nhiễmmột số bệnh tật Tuy nhiên, sự tuyệt chủng của những loài dược thảo và sự mất đicủa những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơnnhiều đối với sức khoẻ con người ở cả các nước đang phát triển và các nước phát

triển (Phạm Minh Toại, 2005).

Trang 29

Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, Nguyễn Văn Tập,

2005 Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một vị trí quantrọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo kết quả điều tra

cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể cả rêu và nấm) có công dụng làmthuốc Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trongcác quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng

và kinh tế cao (Nguyễn Văn Tập, 2005).

Nhận x ét : Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm

sản ngoài gỗ với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểmsinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của lâm sản ngoài gỗ

có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó không phải là sản phẩm “phụ” mà làmột trong những sản phẩm chính của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh

tế xã hội miền núi và góp phần bảo tồn và phát triển rừng Gần đây, những phát hiệnmới về tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ như khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạchsớm với năng suất kinh tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợpvới quy mô hộ gia đình và đặc biệt là việc khai thác chúng gần như không tổn hạiđến rừng đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâmsản ngoài gỗ

1.3 Tổng quan khu vực nghiên cứu

1.3.1 Điều kiện tự nhiên

1.3.1.2 Địa hình

- Địa hình VQG Phia Oắc - Phia Đén có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc

Trang 30

- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao >700m, chiếm khoảng 90% tổng diệntích tự nhiên của Khu bảo tồn, cao nhất là đỉnh núi Phia Oắc 1.931 m;

- Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao <700m, chiếm khoảng 7% tổng diệntích tự nhiên của Khu bảo tồn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster,

600m;

- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 3% tổng diện tích

tự nhiên của Khu bảo tồn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớndiện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp

Theo tài liệu thổ nhưỡng của huyện, trên địa bàn có những loại đất chính sau:

- Đất Feralit mầu đỏ nâu trên núi đá vôi: Phân bố tập trung ở độ cao từ

700m - 1700m so với mặt nước biển

- Đất Feralít mầu vàng nhạt núi cao: Loại đất này có quá trình Feralít yếu,

quá trình mùn hoá tương đối mạnh, thích hợp với một số loài cây trồng: Thông, Samộc, Tông dù, Lát hoa, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở và một số loài cây đặc sản, cây thuốc, cây ănquả khác

- Đất Feralít mầu đỏ vàng núi thấp: Phân bố ở độ cao từ 300 - 700m, hình

thành trên các loại đá mẹ mácma a xít, trung tính kiềm, đá sạn kết, đá vôi Đất chứa ítkhoáng nguyên sinh, phản ứng chua, loại đất này thích hợp với một số loài cây trồng:Thông, Sa mộc, Tông dù, Kháo vàng, Cáng lò, Lát hoa, Keo, Dẻ đỏ, Trẩu, Sở, Hồi,Quế, Chè đắng và một số loài cây thuốc, cây ăn quả khác

- Đất bồn địa và thung lũng: Bao gồm đất phù sa mới, cũ, sản phẩm đất dốc

tụ, sản phẩm hỗn hợp; loại đất này được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp

1.3.1.3 Khí hậu, thủy văn

* Khí hậu:

Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn huyện Nguyên Bình; khí hậu cóđặc điểm đặc trưng của khí hậu lục địa miền núi cao, chia thành 2 tiểu vùng khí hậukhác nhau Vùng cao có khí hậu cận nhiệt đới, vùng thấp chịu ảnh hưởng của khí hậunhiệt đới gió mùa; một năm có 2 mùa rõ rệt, đó là:

- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 85,4% tổng lượng mưa cảnăm, tập trung vào các tháng 7, 8 Lượng mưa bình quân năm 1.592 mm; năm caonhất 1.736 mm; năm thấp nhất 1466 mm

Trang 31

- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh hưởngcủa gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít, có nhiều sương mù.

- Nhiệt độ trung bình cả năm 180C; nhiệt độ cao nhất tuyệt đối xảy ra vào

độ thấp nhất tuyệt đối xảy ra vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới

* Thuỷ văn:

VQG Phia Oắc - Phia Đén là nơi đầu nguồn của các con sông như: SôngHiến, sông Năng, sông Thể Dục Ngoài ra còn có hệ thống các suối; mật độ suối

nước nhiều nhất vào mùa mưa Tuy nhiên, do địa hình độ chia cắt mạnh, độ dốc lớn

và có núi đá vôi xen kẽ với các trầm tích lục nguyên nên tài nguyên nước phân bốkhông đều cho từng khu vực Do vậy, việc khai thác nguồn nước mặt phục vụ nhucầu sinh hoạt và sản xuất của người dân tại những khu vực thiếu nước gặp nhiều khókhăn, điển hình như xóm Phia Đén và trong các thung lũng Karts, tại các khu vực núi

1.3.1.4 Tài nguyên rừng

- Thảm thực vật và sử dụng đất

Thảm thực vật

Trang 32

Theo hệ thống phân loại Thảm thực vật Việt Nam của Thái Văn Trừng, rừng ởđây thuộc kiểu “Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới” với các kiểu chính sau:

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp, phân bố ở độ caodưới 700 m Kiểu này, diện tích còn lại ít, tập trung chủ yếu ở phía Đông Nam VQG,với nhiều họ thực vật điển hình cho khu hệ thực vật nhiệt đới núi thấp miền Bắc ViệtNam có nguồn gốc tại chỗ

+ Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình và cao, thường phân bố ở độ cao > 700 m bao phủ phần phía trên của dãy núi Phia Oắc với nhiều họ thực vật điển hình có nguồn gốc từ hệ thực vật á nhiệt đới (yếu tố di cư) từHymalaya-Vân Nam-Quý Châu, Ân Độ-Miến Điện đi xuống định cư ở Việt Nam

Hiện trạng rừng và sử dụng đất

* Diện tích các loại đất, loại rừng

Theo kết quả tổng hợp hiện trạng rừng và đất rừng năm 2019 của Chi cụcKiểm lâm tỉnh Cao Bằng, tổng diện tích vùng Phia Oắc - Phia Đén là 29.290,3 ha;trong đó đất sản xuất nông nghiệp 1.846,2 ha; đất lâm nghiệp 25.760,4 ha; đất phinông nghiệp 441,3 ha; đất chưa sử dụng 1.242,4 ha

- Đất có rừng đặc dụng có 10.593,4 ha, trong đó:

+ Rừng tự nhiên có 8.222,66 ha

+ Rừng trồng có 730,61 ha, loài cây trồng chủ yếu là Thông

+ Đất chưa có rừng có 1.640,13 ha phân bố rải rác trong Khu bảo tồn Loạiđất này có tỷ lệ độ che phủ cao của lớp thảm cỏ, dây leo, bụi rậm và cây gỗ tái sinh,đất còn hoàn cảnh của đất rừng, nếu được khoanh nuôi bảo vệ tốt, hệ thực vật rừng

Trang 33

hiểm trở Rừng chủ yếu là các loài thực vật ưa sáng như Khảo cài, Hoắc quang, Thẩutấu, Màng tang, Chè đuôi lươn, Dẻ, Re, Kháo, Xoan nhừ, Thôi chanh, Chẹo, Muồng,Phân mã đa phần cây còn lại là các loài tre nứa và thực vật thân thảo như: Cỏ tranh,

Cỏ chít, Cỏ Lào, Cỏ lá, Cỏ lông, Đơn buốt tăng lên về số lượng cá thể trong loài

Cấu trúc rừng bị phá vỡ: Tầng cây gỗ chỉ còn 2 tầng, độ tàn che thấp, độ chephủ vẫn cao vì nhiều loài dây leo, bụi rậm, cỏ quyết phát triển đã làm giảm khả năngtái sinh của các loài cây gỗ

Việc khai thác khoáng sản trong nhiều năm qua đã tàn phá rừng, làm suygiảm chất lượng rừng; công dụng của hệ sinh thái rừng bị giảm, đặc biệt là giá trị về

gỗ và giá trị đa dạng sinh học của rừng, khả năng giữ đất, nước của rừng bị giảm

b) Hệ sinh thái Hồ, Ao, Suối

Phân bố tập trung ở các vùng lân cận suối đổ về sông Nhiên, sông Năng, sôngThể Dục và những suối nhỏ toả rộng trong vùng Những loài thực vật rừng ven suối,

có nhiều loài cây gỗ như Rành rành, Kháo suối, Rù rì nước, Ang nước, Vối, Trâmsuối, Nhội, Vàng anh, Lộc vừng, Mai hương Hệ sinh thái hồ, ao, suối hiện tại đang

bị ô nhiễm do phân gia súc, rác thải và khai thác khoáng sản; các sinh vật thủy sinhvắng bóng ở nhiều đoạn sông suối vì bị săn bắt quá mức và có nguy cơ bị cạn kiệt

c) Hệ sinh thái làng xóm

Nằm rải rác trong khu Khu bảo tồn, ở dọc các khe suối, chân các dải núi đấthoặc gần với các thung lũng rộng có dòng nước, có đất để canh tác Trong hệ sinhthái làng xóm, người dân thường chăn nuôi Trâu, Bò, Dê, Lợn nhưng phần lớn cònthả dong và đây cũng là tác nhân gây ra dịch bệnh, phá hoại nhiều cây tái sinh củacác dải rừng quanh làng xóm Trong hệ sinh thái này, người dân trồng một cách tựphát nhiều loài cây nông nghiệp, cây ăn quả, cây làm thuốc, cây cảnh, cây rau ăn, Quanh các miếu thờ của các gia đình, dòng họ, làng xóm còn giữ được một số câyrừng như Trường sâng, Trường kẹn, Chò chỉ, Đa, Sanh, Đề, Giổi, Chò đãi, Dẻ, Xoannhừ; Một số gia đình cư dân lấn chiếm rừng để mở rộng nơi ở và làm nương rẫy, đây

là trở ngại lớn cho công tác bảo tồn và phát triển VQG Phia Oắc - Phia Đén sau này

d) Hệ sinh thái đồng ruộng - nương rẫy

Phân bố tập trung quanh làng bản và dọc theo các con suối có nước Ruộngbậc thang, ở dọc các dòng nước, dọc các suối gần dân cư nhưng thường chỉ đủ nước

Trang 34

cấy một vụ; nương Lúa, nương Sắn, nương Ngô ở xa và thường bám vào chân núiđất nơi có rừng Sự phát triển ruộng đồng kéo theo sự mất mát của nhiều loài câythân gỗ trong VQG Cây trồng chủ yếu ở đây là cây lương thực ngắn ngày như: Lúanước, Lúa nương, Sắn, Ngô, Lạc và cây công nghiệp thân gỗ như Chè xanh, Sở sốlượng ít.

e) Hệ sinh thái đồng cỏ

Phân bố trên một số dông núi, đỉnh núi, những nơi trước đây đã đốt nươnglàm rẫy để lại hoặc ở sát khu dân cư Các loài cỏ phổ biến trong hệ sinh thái đồng cỏlà: Cỏ tranh, Cỏ rác, Cỏ lá tre, Cỏ lông lợn, Cỏ lau, Cỏ chít Trong hệ sinh thái này

có nhiều cây bụi thân gỗ như Sim, Mua, Găng, Lấu, Bồ cu vẽ

Khu hệ thực vật đã được xác định có 1.108 loài thực vật bậc cao có mạch,thuộc 861 chi của 199 họ, trong 6 ngành thực vật

1.3.2 Điều kiện dân sinh, kinh tế - xã hội

1.3.2.1 Dân số, dân tộc và phân bố dân cư

Nằm trong VQG và khu vực vùng đệm có 39 thôn/xóm (28 xóm và 11 tổ)thuộc địa giới hành chính của các xã Thành Công, Phan Thanh, Quang Thành, HưngĐạo và thị trấn Tĩnh Túc

- Dân số: Theo kết quả điều tra thống kê tại các xã năm 2019, nằm trongVQG Phia Oắc - Phia Đén và khu vực vùng đệm có 8.289 người với 1.850 hộ; trong

đó nằm trong VQG có 1.910 người với 382 hộ

- Dân tộc: Trong VQG Phia Oắc - Phia Đén và khu vực vùng đệm có 5 dântộc đang sinh sống; trong đó: Dân tộc Dao có 3.912 người, chiếm 47,2%; dân tộcNùng có

1.682 người, chiếm 20,3%; dân tộc Kinh có 1.475 người, chiếm 17,8%; dân tộc Tàycó

1.143 người, chiếm 13,8%; còn lại là dân tộc H’Mông có 77 người, chiếm

0,9%

không đồng đều giữa thị trấn và các xã trong vùng, xã có mật độ dân số thấp nhất xã

1.3.2.2 Kinh tế - xã hội

Sản xuất nông nghiệp

Nông nghiệp là ngành chiếm vị trí chủ đạo trong hoạt động kinh tế của địaphương đã được phát triển theo tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp

Trang 35

và nông thôn Phương thức sản xuất được chuyển dịch từ sản xuất tự cấp - tự túcsang sản xuất hàng hóa theo cơ chế thị trường Trên cơ sở thế mạnh tiềm năng đấtđai, một số chương trình, dự án được đưa vào thực hiện Sản xuất nông nghiệp đượcchú trọng tăng vụ và đa dạng hóa sản phẩm; chăn nuôi, phát triển mạnh với quy môlớn, tập trung Cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp từng bước được chuyển đổi theohướng đẩy mạnh giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao

Tỷ trọng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt năm 2019 tăng 11,8% so vớinăm 2017; tỷ trọng ngành chăn nuôi năm 2019 giảm 18,4% so với năm 2017 Kếtquả trên đã phản ánh cơ cấu ngành trồng trọt hàng năm đều tăng; cơ cấu ngành chănnuôi giảm Ngành chăn nuôi bị giảm mạnh là do những năm qua có nhiều dịch bệnhxuất hiện, giá thức ăn tăng cao, thị trường thiếu ổn định, nên những hộ chăn nuôi nhỏ

lẻ bỏ không chăn nuôi, những hộ chăn nuôi lớn đã giảm quy mô

Sản xuất lâm nghiệp

Việc quản lý, bảo vệ rừng được thực hiện đến cấp cơ sở và cộng đồng ngườidân nên bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan, diện tích rừng tự nhiên đạt8.222,66 ha (năm 2019), tăng 104,70 ha so với năm 2015; diện tích rừng trồng đạt730,61 ha (năm 2019), tăng 108,24 ha ha so với năm 2015 Từ kết quả trên cho thấycông tác phát triển rừng còn rất chậm, trong khi diện tích đất chưa có rừng trongvùng còn lớn Tuy nhiên, số liệu trên chỉ phản ánh được phần diện tích thực hiệnthông qua các chương trình dự án, còn diện tích rừng tự phục hồi, diện tích do ngườidân tự trồng chưa phản ánh hết trong biểu số liệu trên

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân cư vềbảo vệ rừng, bảo vệ môi trường, bảo tồn các loài động vật hoang dã được thực hiệntốt Lực lượng kiểm lâm thường xuyên phối hợp với chính quyền địa phương trongcông tác kiểm tra, kiểm soát các hành vi vi phạm lâm luật và công tác phòng cháy,chữa cháy rừng

Ngành công nghiệp - xây dựng

Giá trị sản xuất công nghiệp tính theo giá thực tế trên địa bàn các xã VQG cóchiều hướng tăng nhanh từ 646 triệu đồng năm 2011 lên 1.694,7 triệu đồng năm2015; tốc độ tăng bình quân 5 năm (2011 - 2015) là 7,6 %/năm

Trang 36

* Công nghiệp chế biến khoáng sản

Quá trình hình thành và kiến tạo lịch sử lâu dài, sự biến động về địa chất nênkhu vực VQG Phia Oắc - Phia Đén có nhiều khoáng sản quý hiếm như kim loại màu(chì, kẽm ) ở xã Phan Thanh và Thành Công; kim loại quý hiếm (Atimon, Thiếc,Vonfram, Uran, Vàng ) ở thị trấn Tĩnh Túc và xã Thành Công; Nguồn tài nguyênkhoáng sản được khai thác tập trung chủ yếu ở mỏ Thiếc Tĩnh Túc, ngoài ra còn cócác nguyên liệu, vật liệu xây dựng như: nguyên liệu sét, đá, cát, sỏi, Đất đá trênkhai trường bị đào xới làm giảm độ liên kết, rất dễ bị rửa trôi, sạt lở đất xảy ra

* Công nghiệp khai thác và cấp nước sạch

Do địa hình núi đá vôi xen kẽ với các trầm tích lục nguyên nên nhiều khu vựcthừa nước, nhưng lại có rất nhiều khu vực thiếu nước đặc biệt là các khu vực có núi

đá vôi, mực nước phụ thuộc theo mùa Ngay cạnh những nguồn nước dồi dào ở cácthung lũng, vùng thấp, người dân trong các thung lũng karts vẫn thiếu nước sinhhoạt Hiện nay, hệ thống cấp nước sạch sinh hoạt cho các hộ dân chưa được đầu tư,người dân tự bỏ kinh phí làm hệ thống ống dẫn nước về để sử dụng, bước đầu đã giảiquyết được một phần khó khăn về nhu cầu nước sinh hoạt cho các hộ dân tại nhữngnơi thiếu nước

* Công nghiệp chế biến nông, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

Tính đến năm 2019 ở khu vực Phia Oắc - Phia Đén có 2 cơ sở chế biến nông,lâm sản và một số nghề thủ công truyền thống như: chế biến miến dong, sản xuấtgiấy bản, sợi lanh tự nhiên và nấu rượu Nhìn chung các ngành nghề phát triểnchậm, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, tự phát và thiếu ổn định

Các chủ hộ tham gia sản xuất chủ yếu theo mùa vụ và sử dụng nguyên liệu tạichỗ, một phần nhỏ nguyên liệu làm sợi lanh, giấy bản được thu mua tại các vùng lâncận Sản phẩm chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ, hiệu quả kinh tế thấp nhưng việc pháttriển các làng nghề đã giúp cộng đồng dân cư Phia Oắc - Phia Đén có thêm việc làm

và thu nhập, đồng thời tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời kỳ mới

Xây dựng

Các công trình cơ sở hạ tầng: giao thông, thủy lợi và các công trình phục vụđời sống cộng đồng dân cư chủ yếu được quản lý và triển khai bởi cấp huyện, cấptỉnh, nguồn vốn đầu tư chủ yếu từ ngân sách nhà nước và từ các chương trình dự áncủa các tổ chức phi chính phủ

Trang 37

Các công trình như thủy lợi, trường học, y tế, khu thương mại, khu sản xuấttiều thủ công nghiệp cũng được tiếp tục đầu tư xây mới và nâng cấp Tuy nhiên, vềtổng thể, việc phát triển cơ sở hạ tầng ở Phia Oắc - Phia Đén còn thấp hơn so với yêucầu Tình trạng phát triển kết cấu hạ tầng còn chênh lệch giữa các thôn bản Cáctuyến giao thông nông thôn chất lượng còn thấp, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại vàđời sống của nhân dân trong vùng.

Y tế

Trong khu vực có 1 bệnh viện đa khoa với 50 giường bệnh tại thị trấn TĩnhTúc, 1 phòng khám đa khoa khu vực với 6 giường bệnh tại xóm Pù Vài xã ThànhCông và các trạm y tế tại các xã Nhìn chung, công tác y tế đã có những chuyển biếntích cực, đã được đầu tư trang thiết bị và đội ngũ cán bộ; mỗi trạm được bố trí 2 y sỹ,

2 y tá và nữ hộ sinh với nhiệm vụ khám, chữa bệnh và cấp phát thuốc cho nhân dân

Giáo dục

Giáo dục trong khu vực Khu bảo tồn thiên nhiên đã được chú trọng, một số xã

có trường tiểu học và trường trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh đi học ngày càng tăng.Các xóm đều có lớp cắm bản từ lớp 1 đến lớp 5, giáo viên hầu hết là người trên địabàn huyện Số học sinh trong độ tuổi tiểu học được đến trường đạt 100% Tuy nhiên,

số học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở và trung học phổ thông đi học khoảng 70%

do đa số học sinh là dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, đi lại khó khăn, dân

cư sống rải rác phân tán nên đã hạn chế và là thách thức lớn đến công tác giáo dụcđào tạo ở địa phương

1.3.3 Đánh giá nhận xét chung

1.3.3.1 Thuận lợi:

- VQG Phia Oắc - Phia Đén có diện tích đất đai rộng lớn và tính chất đất còn tốt

do vậy đây là một trong những điều kiện thuận lợi cho sự đa dạng về thành phần loài

và hệ sinh thái của địa phương

- VQG có hệ thống ban quản lý với số lượng lớn và chất lượng cao do vậy việcbảo tồn được duy trì và phát triển tốt, đóng góp lớn vào công tác bảo tồn đa dạngsinh học cho VQG

- Địa hình phức tạp hiểm trở do vậy việc khai thác trái phép và các hoạt độnglàm suy giảm giá trị sinh học ít

Ngày đăng: 25/03/2021, 23:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
21. Nguyễn Văn Tập (2005), “Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (4), trang 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ởrừng
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2005
22. Nguyễn Văn Tập (2006), “Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam”, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, ( 10/2006), trang 20-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện về tài nguyên cây thuốc tại xã ĐồngLâm, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Tập
Năm: 2006
23. Phạm Minh Toại, Phạm Văn Điển (2005), “Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới”, Chuyên san Lâm sản ngoài gỗ, trang 23-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới
Tác giả: Phạm Minh Toại, Phạm Văn Điển
Năm: 2005
43. Joost Foppes and Sounthone Ketphanh, (2004): NTFP use and household food security in Lao PDR. Symposium on “Biodiversity for Food Security”, Vientiane, 14-09-2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biodiversity for Food Security
Tác giả: Joost Foppes and Sounthone Ketphanh
Năm: 2004
13. Lê Thị Diên, Trần Nam Thắng, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên, Trường Đại học Nông Lâm Huế Khác
14. Lê Thị Diên, Trần Minh Đức, Lê Thái Hùng (2006), Kỹ thuật trồng và sơ chế Sâm Bố chính, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 4-5 Khác
15. La Quang Độ (2001), Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau ăn của nhân dân các xóm Bản Cán, Nà Năm thuộc vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác
16. Lê Văn Giỏi (2006), Mô hình trồng cây thuốc nhập nội ở Sa Pa, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (6/2006), trang 18-19 Khác
17. Trần Hồng Hạnh (1996), Nghề thuốc nam cổ truyền ở làng Nghĩa Trai, Luận án tốt nghiệp khoa học lịch sử chuyên ngành dân tộc học Khác
18. Phạm Thanh Huyền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Thuý Bình (2000), Tìm hiểu việc khai thác, sử dụng và bảo vệ nguồn cây thuốc của người Dao xã Địch Quả - huyện Thanh Sơn-tỉnh Phú Thọ. Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường Đại học Quốc Gia Hà Nội Khác
19. Lã Đình Mỡi (2003), Hiện trạng khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thực vật ở Việt Nam Khác
20. Đỗ Hoàng Sơn, Đỗ Văn Tuân, Thực trạng khai thác, sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên Khác
25. Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Hoàng Thanh, Đinh Hoa Lĩnh (2004), Nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn ĐRăng Phôk vùng lõi VQG Yokđôn,Buôn Đôn, Đaklak Khác
26. Nguyễn Thị Thoa (2006), Hiện trạng bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Quân Chu huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Khác
27. Nguyễn Hùng Thiện (2005), Tập quán của người H’Mông tỉnh Sơn La trong thu hoạch và chế biến quả Sơn Tra, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (1), trang 8 Khác
28. Lưu Hồng Trường (2005), Trồng Sương Sâm từ hạt, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, Bản tin Lâm sản ngoài gỗ, (1), trang 10-11 Khác
29. Lê Sỹ Trung và cs (2007), Kiến thức bản địa trong bảo tồn và phát triển tài nguyên cây thuốc tại xã San Thành - thị xã Lai Châu Khác
30. Viện Dược liệu (2002), Số liệu và khai thác, thu mua dược liệu ở Việt Nam từ năm 1961 đến nay, Hà Nội Khác
31. Everlyn Mathias (2001), Phương pháp thu thập và sử dụng kiến thức bản địa, (tập II).II. Tài liệu tiếng nước ngoài Khác
32. Adepoju, Adenike Adebusola and Salau, Adekunle Sheu, (2007), Economic Valuation Of Non-Timber Forest Products (NTFPs). Ladoke Akintola University Of Technology &amp; Univeristy of Ibadan Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w