Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa vinamilk tây ninh Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa vinamilk tây ninh Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa vinamilk tây ninh Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa vinamilk tây ninh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN TẤN PHÁT
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI
VÀ BỆNH VIÊM VÚ TRÊN BÒ TẠI RESORT BÒ SỮAVINAMILK
TÂY NINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGÀNH THÚ Y
2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP
BỘ MÔN THÚ Y
NGUYỄN TẤN PHÁT
KHẢO SÁT TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI
VÀ BỆNH VIÊM VÚ TRÊN BÒ TẠI RESORT BÒ SỮAVINAMILK
Trang 3Đề tài “Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort
bò sữa Vinamilk Tây Ninh” do sinh viên Nguyễn Tấn Phát thực hiện tại tại
trang trại bò sữa Vinamilk Tây Ninh từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2021
TS Nguyễn Thanh Lãm
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2021
Duyệt Khoa Nông nghiệp
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Kính gửi: Ban Chủ nhiệm Khoa Nông nghiệp
Ban Chủ nhiệm Bộ môn Thú y, Trường Đại học Cần Thơ
Tôi tên: Nguyễn Tấn Phát, MSSV: B1604022, Lớp: NN1667A1
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả,
số liệu trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình luận văn nào trước đây
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tấn Phát
Trang 5iii
LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, con xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến cha mẹ, người có công sinh thành nuôi dưỡng và chỉ dạy Con xin cảm ơn cha mẹ đã làm việc vất vã để tạo điều kiện thuận lợi về mặt vật chất lẫn tinh thần để cho con hoàn thành tốt trong quá trình học tập
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý Thầy, Cô trường Đại học Cần Thơ, đặc biệt là Thầy, Cô ở Bộ môn Thú y và Bộ môn Chăn nuôi, Khoa Nông nghiệp đã tận tình chỉ bảo và truyền đạt những kiến thức quý báo trong suốt quá trình học tập tại trường
Xin ghi nhớ và biết ơn sâu sắc Thầy Nguyễn Thanh Lãm, Thầy Huỳnh Minh Trí và Cô Nguyễn Thu Tâm đã hết lòng dạy bảo, truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi học tập và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến Ban giám đốc trang trại bò sữa Vinamilk Tây Ninh cùng tất cả các anh chị em trong trại đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài cũng như giúp đỡ tôi suốt quá trình thực tập
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Cô Lý Thị Liên Khai, cố vấn học tập
và toàn thể các bạn trong lớp Thú y khóa 42A1 Trường Đại học Cần Thơ đã cùng tôi chia sẻ kiến thức, vui buồn, khó khăn trong suốt thời gian học tập Cuối cùng, tôi xin cảm ơn quý Thầy, Cô trong Hội đồng đã giành thời gian quý báu của mình để đọc luận văn tốt nghiệp, nghe tôi báo cáo và đưa ra những lời nhận xét để tôi hoàn thiện luận văn của mình
Kính chúc quý thầy cô, gia đình và bạn bè dồi dào sức khỏe và đạt nhiều thành công trong công việc và cuộc sống
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2021
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tấn Phát
Trang 6iv
TÓM TẮT
Đề tài nghiên cứu “Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa Vinamilk Tây Ninh” được thực hiện từ tháng 10/2020 đến tháng 12/2020 Kết quả cho thấy, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh, phòng bệnh được thực hiện nghiêm ngặt Tổng số 8.158 bò giống Holstein Friesian (HF) được nuôi trong chuồng kín Nhóm bò vắt sữa chiếm số lượng cao nhất trong tổng đàn (4.067/8.158) và được cho ăn theo khẩu phần Total mixed ration (TMR) Bệnh viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn được chẩn đoán bằng phương pháp lâm sàng và cận lâm sàng CMT (California Mastitis Test) Trong 2 tháng khảo sát, tỷ lệ bệnh viêm vú lâm sàng là 13,2%, tỷ lệ viêm vú tiềm
ẩn là 18,88% Các yếu tố như lứa đẻ, tháng cho sữa, tỷ lệ máu có ảnh hưởng tới tỷ lệ bệnh viêm vú trên bò Bò đẻ càng nhiều lứa, thời gian cho sữa càng dài
và tỷ lệ máu HF càng cao thì càng dễ mắc bệnh viêm vú Kết quả điều trị bệnh viêm vú tại trang trại đem lại hiệu quả cao do sự kết hợp giữa điều trị cục bộ
và điều trị toàn thân Tỷ lệ điều trị khỏi bệnh tại trang trại lên đến 95.71% Có
4 phác đồ được sử dụng để điều trị bệnh viêm vú trên bò Mỗi phác đồ sử dụng thành phần kháng sinh khác nhau và hiệu quả điều trị của mỗi phác đồ cũng khác nhau Phác đồ 1 sử dụng Amoxicillin và Ceptiofur, Phác đồ 2 sử dụng Spectinomycin, Lincomycin và Ceptiofur, Phác đồ 3 sử dụng Enrofloxacin và Ceptiofur và Phác đồ 4 sử dụng Marbofloxacin và Ceftiofur Phác đồ 4 đem lại hiệu quả điều trị cao hơn so với các phác đồ còn lại
Từ khóa: Bò sữa, bệnh viêm vú, Vinamilk, viêm vú lâm sàng, viêm vú tiềm
ẩn, trang trại, điều trị
Trang 7v
MỤC LỤC
XÁC NHẬN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI i
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
TÓM TẮT iv
MỤC LỤC v
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú trên bò sữa trong và ngoài nước 2
2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 2
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
2.2 Tổng quan về phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam 4
2.3 Sơ lược về thành phần của sữa 5
2.4 Sơ lược về tuyến vú 7
2.4.1 Cấu tạo của tuyến vú 7
2.4.2 Bầu vú bò sữa 9
2.4.3 Quá trình tạo sữa ở bầu vú 9
2.4.4 Chu kỳ tiết sữa 10
2.4.5 Phản xạ tiết sữa 11
2.5 Sơ lược về bệnh viêm vú 12
2.5.1 Định nghĩa và phân loại viêm vú 12
2.5.2 Các thể bệnh viêm vú 13
2.5.3 Biến chứng của bệnh viêm vú 15
2.5.4 Các yếu tố nguy cơ bệnh viêm vú 16
2.5.5 Chẩn đoán bệnh viêm vú 22
2.5.6 Một số phương pháp chẩn đoán bệnh viêm vú 24
2.6 Các biện pháp điều trị bệnh viêm vú 27
CHƯƠNG 3: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Nội dung nghiên cứu 28
3.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
3.2.1 Thời gian nghiên cứu 28
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 28
Trang 8vi
3.3 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 28
3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 28
3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 28
3.4 Phương pháp nghiên cứu 29
3.4.1 Nội dung 1 29
3.4.2 Nội dung 2 29
3.4.3 Nội dung 3 32
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Kết quả khảo sát tình hình chăn nuôi 35
4.1.1 Tổng quan về trang trại 35
4.1.2 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên 35
4.1.3 Sơ đồ trang trại bò sữa Vinamilk Tây Ninh 36
4.1.4 Cơ cấu đàn và giống 37
4.1.5 Thức ăn và thời điểm cho ăn 38
4.1.6 Quy trình vắt sữa 39
4.1.7 Quy trình vệ sinh phòng bệnh 40
4.2 Kết quả khảo sát bệnh viêm vú lâm sàng, tiềm ẩn và các yếu tố nguy cơ đến bệnh viêm vú trên bò 43
4.2.1 Tỷ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn, lâm sàng theo các mức độ CMT 43
4.2.2 Tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn trên bò 44
4.2.2 Các yếu tố nguy cơ đến tỷ lệ viêm vú trên bò 45
4.3 Kết quả theo dõi điều trị bệnh viêm vú trên bò 47
4.3.1 Kết quả theo dõi điều trị bệnh viêm vú trong 2 tháng khảo sát 47
4.3.2 Kết quả điều trị bệnh viêm vú theo các phác đồ 48
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 52
5.1 Kết luận 52
5.2 Đề nghị 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 9vii
DANH MỤC HÌNH
2.5 Quá trình phát triển của bệnh viêm vú từ tiềm ẩn sang lâm sàng 15 2.6 Mối quan hệ giữa các nguyên nhân gây bệnh viêm vú 16
2.9 Nang tuyến bị các vi khuẩn tấn công và hủy hoại 21 3.1 Một số loại thuốc được sử dụng điều trị viêm vú 33
Trang 10viii
DANH MỤC BẢNG
2.1 Ảnh hưởng của thời gian cho uống sữa đầu đến khả năng hấp
thu globulin miễn dịch ở bê
5
2.3 Sự gia tăng số vi khuẩn trong sữa theo thời gian 21 3.1 Các phát hiện bệnh lý khi kiểm tra sờ nắn bầu vú 30
4.1 Quy trình tiêm phòng vắc xin tại trang trại 41 4.2 Tỷ lệ thùy vú viêm tiềm ẩn, lâm sàng theo mức độ CMT 43 4.3 Tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn trong 2 tháng khảo
sát
44
4.4 Tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn theo nhóm giống 45 4.5 Yếu tố nguy cơ đến tỷ lệ viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn 46 4.6 Kết quả điều trị viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn trong 2
tháng khảo sát
48
4.7 Kết quả điều trị bệnh viêm vú theo các phác đồ 49
Trang 11ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CMT California Mastitis Test
Trang 121
CHƯƠNG 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về tổng đàn, năng suất, chất lượng, an toàn thực phẩm, năng lực đầu tư công nghệ cao, năng lực chế biến sữa và đa dạng hóa sản phẩm Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi (2018) trong giai đoạn từ 2001-2017, tổng đàn bò sữa tăng trưởng 13,24%/năm, sản lượng sữa tăng 17,73%/năm, cao nhất trong tất cả các lĩnh vực chăn nuôi Điều này góp phần quan trọng vào tăng trưởng tổng doanh thu của ngành sữa đạt tốc độ 17,6%/năm, đạt 95.000 tỷ đồng Trong năm 2017, toàn ngành sữa Việt Nam đạt doanh thu 100.000 tỷ đồng (tương đương 4,4 tỷ USD), tăng trưởng 10% so với năm 2016
Vinamilk là một trong những công ty lớn nhất ở Việt Nam hoạt động trong ngành sữa Theo báo cáo tổng kết và định hướng phát triển của Công ty Vinamilk (2019), số lượng bò sữa của Công ty từ 3.000 con năm 2003 đã tăng lên 130.000 con năm 2019, dự kiến số lượng bò sữa sẽ đạt 200.000 con trong năm 2020 và hiện tại, sản lượng sữa của Vinamilk đã đạt khoảng 950-1.000 tấn/ngày
Cùng với những thành tựu trên, ngành chăn nuôi bò sữa nói chung và trang trại bò sữa Vinamilk Tây Ninh nói riêng cũng còn gặp không ít khó khăn, trở ngại Ngoài các yếu tố về thời tiết, dinh dưỡng, quản lý thì các bệnh trên bò sữa cũng có ảnh hưởng rất lớn trong chăn nuôi bò sữa Đặc điểm của giống bò sữa cao sản được nhập vào nuôi thuần chủng hay lai tạo có sức đề kháng bệnh không cao so với các giống bò địa phương Trong các bệnh thường gặp trên bò sữa thì bệnh viêm vú là một trong những bệnh quan trọng nhất, dễ lây lan và gây thiệt hại về kinh tế rất lớn
vì nó làm giảm sản lượng và chất lượng sữa Hơn nữa bệnh viêm vú còn có nguy
cơ gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng do vi khuẩn và độc tố của chúng
hoặc do sự tồn dư kháng sinh trong sữa Trước thực tế trên, đề tài “Khảo sát tình hình chăn nuôi và bệnh viêm vú trên bò tại resort bò sữa Vinamilk Tây Ninh”
được thực hiện
Mục tiêu đề tài:
Khảo sát tình hình chăn nuôi bò tại resort bò sữa Vinamilk Tây Ninh;
Khảo sát tình trạng viêm vú lâm sàng, viêm vú tiềm ẩn và một số yếu tố nguy
cơ đến tỷ lệ viêm vú trên bò;
Theo dõi kết quả điều trị bệnh viêm vú tại resort bò sữa Vinamilk Tây Ninh
Trang 132
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm vú trên bò sữa trong và ngoài nước 2.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, bệnh viêm vú còn ít được quan tâm nghiên cứu Nguyễn Ngọc
Nhiên và ctv (1999), kiểm tra bằng phương pháp CMT (California Mastitis Test)
1.679 mẫu sữa của 518 đàn bò nuôi tại Ba Vì (Hà Tây) và ngoại thành Hà Nội đã phát hiện thấy 771 mẫu dương tính, tỷ lệ bò mắc bệnh viêm vú tiềm ẩn là 45,92% Tác giả cũng khảo sát ở khu vực chăn nuôi bò sữa phía Bắc từ năm 1996-1999, thông báo rằng đàn bò bị viêm vú lâm sàng hàng năm từ 24,8-31,43%, như vậy bình quân hàng tháng khoảng 2-3%
Tại huyện Bình Chánh thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn Phát (1999), điều tra bệnh viêm vú trên đàn bò sữa, tác giả nhận thấy tỷ lệ bò viêm vú là 26,02%
và tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn là 10,12% Qua nuôi cấy, phân lập mẫu sữa viêm cho thấy
sự hiện diện của vi khuẩn Staphylococcus aureus (31,23%), Streptococcus agalactiae (9,12%), Streptococcus spp (26,05%), E coli (25,8%)
Phạm Bảo Ngọc (2002), tại trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba Vì từ 1997-1999 cũng bằng phương pháp CMT với 1.141 mẫu sữa được lấy trên từng thùy vú bò cho biết tỷ lệ thùy vú bị viêm tiềm ẩn là 43, 47% Tác giả này cũng ghi nhận từ năm 1994-1997 thử sữa bằng phương pháp CMT từ 660 thùy vú thì tỷ lệ viêm chỉ có 23,33% Tương tự, tác giả cũng khảo sát trên đàn bò sữa ở Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội bằng phương pháp CMT qua các giai đoạn khác nhau như sau: 1994-1997 có 26,67% thùy vú viêm tiềm ẩn trên tổng số 525 thùy vú khảo sát, 1997-1998 có 44,67% thùy vú viêm trên 891 thùy vú khảo sát và từ năm 1999-
2002 thì tỷ lệ này là 42,36% trên 838 thùy vú kiểm tra
Tại thành phố Cần Thơ, Nguyễn Ngọc Thanh Hà (2004), kiểm tra 638 mẫu sữa trên đàn bò sữa tại thành phố Cần Thơ, trong đó có 142 mẫu dương tính với
Staphylococcus aureus chiếm 22,26%, 55 mẫu dương tính với E coli chiếm 8,62%,
37 mẫu dương tính với Streptococcus agalactiae chiếm 5,8%
Trần Thanh Xuân (2005), khảo sát 352 con bò đang cho sữa có 217 bò viêm
vú là 61,65%, tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn là 36,69% Kết quả phân lập các loài vi khuẩn
chính như sau: Streptococcus spp (23,23%), Staphylococcus spp (29,29%), Staphylococcus aureus (18,18%), Streptococcus agalactiae (20,2%)
Trang 143
2.1.2 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Leslieh et al (1983), các tác nhân gây viêm vú được phân chia như sau: gây viêm vú truyền nhiễm bao gồm các vi khuẩn: Staphylococcus aureus, Streptococcus agalactiae Gây viêm vú do vi khuẩn môi trường là Streptococcus môi trường (khác với Streptococcus agalactiae), nhóm Coliform (E coli, Klepsiella spp và Enterobacter spp.), các Streptococcus không làm đông huyết tương, vi khuẩn tấn công vào hạch vú như Pseudomonas spp
Larry Smith et al (1984) khảo sát tình hình viêm vú trên đàn bò sữa ở Ohio
(Mỹ) cho biết trong 30 ngày đầu của chu kỳ tiết sữa tình hình nhiễm vi khuẩn
khoảng 59% đối với nhóm vi khuẩn Streptococcus spp và 69% đối với Coliform
từ những loài vi khuẩn được phân lập
Gonzalez et al (1989), kiểm tra trên hai đàn bò sữa ở Califormia (Mỹ) Trong
tổng số 1.654 trường hợp viêm vú lâm sàng được phát hiện qua phân lập vi khuẩn
cho thấy nhóm Coliform chiếm 49%, nhóm Streptococcus môi trường chiếm 60%
Sự tác động cao nhất của viêm vú lâm sàng bởi nhóm Coliform và Streptococcus
môi trường tại mỗi đàn xuất hiện trong thời gian lúc giao mùa
Bretagne (1996) ghi nhận bò viêm vú tiềm ẩn có liên quan đến hai loài vi
khuẩn chủ yếu là Staphylococcus aureus và Streptococci (Str uberis, Str agalactiae và Str dysgalactiae), còn tỷ lệ nhiễm do E coli rất thấp
Tại Uruguay, Gianneechini et al (2002) tiến hành kiểm tra 1077 bò đang vắt
sữa thì có 52,4% bò bị viêm vú tiềm ẩn Ahlner (2003) tiến hành kiểm tra viêm vú tiềm ẩn ở 7 hộ chăn nuôi bò sữa cho biết hộ có tỷ lệ bò viêm vú tiềm ẩn thấp nhất
là 10,5% và hộ cao nhất là 92,3% và trung bình là 42,2% tương ứng với 21,8% số thùy vú bị viêm
Byarugaba et al (2004) khảo sát trên 60 hộ chăn nuôi bò sữa ở Uganda, tổng
số bò khảo sát là 172 con bò đang cho sữa tương ứng với 688 thùy vú được lấy mẫu
để kiểm tra Tỷ lệ bò thử CMT dương tính (61,3%), thùy vú viêm tiềm ẩn (60,7%)
Qua phân lập mẫu sữa cho thấy Pseudomonas aeruginosa (1,2%), Staphylococcus aureus (11,19%), Staphylococci không đông huyết tương (30,5%), Streptococci (2%) và E coli (14,4%)
Trang 154
2.2 Tổng quan về phát triển chăn nuôi bò sữa ở Việt Nam
Lai tạo là phương pháp cải tiến giống đã và đang được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới Thông qua lai tạo giữa các giống sẽ xuất hiện hiện tượng ưu thế lai ở đời con lai Năng suất sản phẩm của con lai thường cao hơn so với năng suất trung bình của bố mẹ chúng Những giống bò cao sản như Holstein Friesian (HF), Nâu Thụy Sĩ và Jersey đã được nhiều nước trong khu vực nhiệt đới nhập nội và cho lai nhằm cải tiến giống bò địa phương Những con lai đã thể hiện
rõ ưu thế lai và phát huy tốt trong điều kiện khí hậu Việt Nam
Chăn nuôi bò sữa chủ yếu sử dụng phương pháp lai cải tiến để tạo ra con lai
có tỷ lệ máu khác nhau, nhằm cho năng suất cao hơn so với bò nền (bò lai Zebu) Người ta sử dụng giống có năng suất cao cho giao phối với giống nội địa, mỗi thế
hệ lai sẽ tăng dần tỷ lệ máu giống cao sản Ở Việt Nam, sử dụng tinh bò đực HF thuần lai tạo với bò lai Zebu để tạo đàn bò lai hướng sữa có khả năng sinh trưởng, phát triển và sản xuất phù hợp với điều kiện trong nước đã được thực hiện từ những năm 1990 (Võ Lâm, 2011) Theo Gautier (2008), đàn bò lai hướng sữa chiếm khoảng 80% tổng đàn bò sữa ở nước ta và chủ yếu là bò F2 (75% máu HF) và F3
(87,5% HF) Tỷ lệ máu bò HF trong bò lai hướng sữa quyết định sản lượng sữa của đàn bò lai hướng sữa từ 1.200 kg/con/chu kỳ lên 3.400 kg/con/chu kỳ (Gautier, 2008) Theo báo cáo của Nguyễn Xuân Trạch và Phạm Phi Long (2008), sản lượng sữa 305 ngày của đàn bò lai tăng dần theo tỷ lệ máu HF lần lượt là bò F1 (3.707,76 kg/con/chu kỳ), bò F2 (3.846,05 kg/con/chu kỳ) và bò F3 là 4.961,32 kg/con/chu
kỳ Có thể thấy rằng khi so sánh các loại bò lai, sản lượng sữa tăng dần lên khi tăng
tỷ lệ máu HF (Lê Xuân Cương, 2002; Nguyễn Xuân Trạch và Phạm Phi Long,
2008; Vương Ngọc Long, 2008; Nguyễn Văn Tuế và ctv., 2010) Lê Bá Quế (2013),
cho rằng sản lượng sữa phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố giống trong đó có sự ảnh hưởng của bò đực giống
Số lượng bò lai hướng sữa có tỷ lệ máu từ 87,5% máu HF sẽ tăng dần, nhóm
bò này được lại tạo, sinh ra và được nuôi dưỡng ở điều kiện nước ta nên có khả năng thích nghi tốt so với bò nhập nội Một số nhà khoa học và quản lý nông nghiệp gần đây đều cho rằng nhóm bò này có thể gọi là bò Holstein Việt Nam
Cuối năm 2006, tổng đàn bò sữa cả nước trên 113,2 nghìn con, bò thuần HF chiếm 15% tổng đàn, số còn lại là bò lai HF với tỷ lệ máu khác nhau Tổng sản lượng sữa hàng hóa đạt gần 216 nghìn tấn Năm 2008, tổng đàn bò sữa giảm còn 107,98 nghìn con do quá trình chuyển đổi từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi quy
Trang 165
mô lớn hơn và tập trung hơn, đồng thời việc tăng cường chọn lọc, loại thải những
bò có năng suất kém nhưng tổng sản lượng sữa hàng hóa đạt 262,16 nghìn tấn (Tổng cục thống kê, 2008) Trong những năm gần đây ngành chăn nuôi bò sữa của nước ta đã có những tiến bộ vượt bậc
2.3 Sơ lược về thành phần của sữa
Sữa được tiết ra ngay sau khi đẻ được gọi là sữa đầu (colostrum, sữa non, sữa máu) và sữa tiết về sau được gọi là sữa thường Thành phần quan trọng nhất của sữa đầu là các globulin miễn dịch (immunoglobulin) Đây là chất quan trọng trong việc bảo vệ bê sơ sinh chống lại các tác nhân gây bệnh Thêm vào đó, sữa đầu còn chứa các chất “transferrin” và “lactoferrin” Các chất này được hấp thu qua hệ thống ruột non ở bê và một phần ở lại ruột non để trung hoà các vi khuẩn gây bệnh
và giúp ngăn ngừa tiêu chảy Các globulin miễn dịch có khả năng kháng được các enzym tiêu hoá của ruột non và một phần nhờ khả năng bảo vệ của chất ức chế trypsin nên có khả năng tồn tại trong thời gian đầu Sau đó thì hệ thống ruột non sẽ hình thành các cơ chế để ngăn ngừa việc hấp thu các chất globulin miễn dịch Chính
vì lý do này, người chăn nuôi cần phải cho bê uống sữa đầu càng sớm càng tốt, vì theo thời gian sự hấp thu globulin miễn dịch sẽ giảm dần
Bảng 2.1 Ảnh hưởng của thời gian cho uống sữa đầu đến khả năng hấp thu globulin miễn dịch ở bê (Vương Ngọc Long, 2007)
Thời gian cho uống sữa
đầu sau khi sinh
(giờ)
Hàm lượng Globulin miễn dịch trong huyết tương 24h sau khi cho uống (mg/ml)
Tỷ lệ hấp thu (%)
Trang 176
Thành phần sữa có thể thay đổi tùy theo giống bò, chế độ dinh dưỡng, điều kiện nuôi dưỡng, môi trường, chuồng trại, và tình trạng bệnh tật, sức khỏe bò cái như:
Sự khác nhau do tỷ lệ tăng trưởng giai đoạn còn nhỏ
Khả năng và năng suất cho sữa, giai đoạn và chu kỳ cho sữa
Do hệ thống tiêu hóa (sự hấp thu thức ăn)
Do chế độ vắt sữa: bú sữa, vắt tay, máy vắt
Môi trường xung quanh (lạnh tỷ lệ béo cao)
Lứa đẻ, kết cấu bầu vú
Thức ăn ảnh hưởng đến thành phần và sản lượng sữa Bò ăn nhiều thức ăn thô xanh, bánh dầu thì tỷ lệ béo trong sữa gia tăng Bò ăn thức ăn tinh (cám hỗn hợp nhiều) thì sản lượng cũng gia tăng nhưng tỷ lệ béo giảm
Sữa thường chứa nhiều chất béo, đạm và chất khoáng (chủ yếu là canxi) Bảng 2.2 Thành phần chính của sữa đầu và sữa thường (Vương Ngọc Long, 2007)
Trang 187
2.4 Sơ lược về tuyến vú
2.4.1 Cấu tạo của tuyến vú
Bầu vú của trâu bò gồm 4 tuyến sữa tương đối độc lập với nhau Tuyến sữa
là cơ quan sản xuất sữa Tham gia cấu tạo bầu vú và tuyến sữa có các tổ chức liên kết, tổ chức tuyến,mạch máu, lâm ba và thần kinh
Hình 2.1 Cấu tạo tuyến vú và nang tuyến
(http://dairyvietnam.dairyvietnam.vn/vn/Cau-tao-cua-tuyen-vu-va-tiet-sua-Bo-sua.html)
2.4.1.1 Tổ chức liên kết
Tổ chức liên kết của tuyến sữa thực hiện chức năng định hình, bảo vệ cơ giới
và sinh học Bao gồm các tổ chức sau:
Da bao bọc bên ngoài bầu vú, nó là phần bảo vệ và hỗ trợ sự định hình của tuyến
Mô liên kết mỏng là lớp mô mỏng nằm nông khắp bề mặt da
Mô liên kết dày nằm sâu bên trong lớp mô liên kết mỏng, gắn phần da và tuyến thể bằng một lớp liên kết đàn hồi
Màng treo bầu vú gồm các màng treo bên và màng treo giữa
Tổ chức liên kết đệm là mô mỡ (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2006)
Trang 198
2.4.1.2 Tổ chức tuyến
Tổ chức tuyến gồm 2 phần chính: hệ thống tuyến bào và hệ thống ống dẫn
Đó là cơ quan tạo sữa duy nhất ở trâu bò Sự phát triển của tuyến có thể có quan hệ trực tiếp đến năng suất sữa
Hệ tuyến bào: Tuyến bào là đơn vị tiết sữa chủ yếu của tuyến sữa Nó là tập hợp một tầng tế bào thượng bì đơn Hình dạng tế bào thay đổi theo chu kỳ phân tiết sữa Khi phân tiết mạnh, trong tế bào tích trữ nhiều dịch phân tiết Tế bào có hướng hình trụ cao, đầu nhỏ hướng vào xoang tuyến bào Tế bào chứa nhiều hạt mỡ, protein kích thước khác nhau Khi không phân tiết tế bào thu hẹp lại Trong bầu
bú, tuyến bào hợp lại với nhau thành từng chùm người ta gọi là chùm tuyến bào hay tiểu thùy Mỗi 1/4 bầu vú được tập hợp bởi nhiều chùm tuyến bào và biệt lập với nhau bởi lớp ngăn màng treo giữa và các mô liên kết khác (Nguyễn Xuân Trạch
và Mai Thị Thơm, 2006)
Hệ thống ống dẫn và bể sữa: bao gồm hệ thống ống, phân nhánh theo kiểu cành cây, bắt đầu là các ống dẫn sữa nhỏ xuất phát từ các tuyến bào Sữa được tạo thành ở tuyến bào, di chuyển qua các ống dẫn sữa nhỏ, rồi tập hợp vào ống dẫn trung bình và ống dẫn lớn Các ống dẫn lớn này đổ về bể sữa Ống dẫn sữa và bể sữa có những sợi cơ trơn bao quanh, những sợi cơ này co bóp giúp cho quá trình thải sữa (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2006)
2.4.1.3 Hệ cơ
Xung quanh đầu núm vú có hệ cơ vòng gọi là cơ thắt đầu núm vú Khi cơ biểu
mô co bóp thì cơ trơn giãn và cơ thắt đầu núm vú co lại Khi cơ trơn co thì cơ thắt đầu núm vú giãn và sữa được đẩy ra ngoài (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm, 2006)
Trang 209
2.4.2 Bầu vú bò sữa
Bầu vú bò gồm có 4 vú phân biệt, 2 vú trước và 2 vú sau Nửa vú sau thường lớn hơn nửa trước và chứa đến 60% tổng lượng sữa Giữa các vú có các vách ngăn bằng mô liên kết chạy theo chiều ngang và dọc chia bầu vú thành các phần độc lập với nhau Núm vú dạng hình trụ tròn hoặc hình nón cụt, ngắn dài tuỳ giống, cá thể Một bầu vú của bò sữa cao sản thường có những đặc điểm như: bầu vú phát triển rộng và sâu, các vú tương đối đồng đều, các núm vú to vừa phải, có chiều dài vừa phải (7-10cm), thẳng đứng và khoảng cách tương đối rộng và tương đồng, các dây chằng bầu vú chắc chắn, vú không quá xệ (núm vú không quá khuỷu chân sau của bò, hệ thống tĩnh mạch phát triển, khoằn khoèo và nổi rõ; bầu vú lớn vừa phải, nếu quá lớn thường làm yếu sự gắn kết với cơ thể, vú thịt ít tế bào mô tuyến nên không cho nhiều sữa, vú da thì nhiều tế bào mô tuyến nên cho nhiều sữa, vú da sau khi vắt thì teo lại, nhiều nếp nhăn và kích thước bầu vú trước và sau khi vắt sữa thay đổi rõ rệt, khối lượng và thể tích bầu vú tăng dần qua các lứa đẻ cho đến khi trưởng thành (Vương Ngọc Long, 2007)
Hình 2.2 Nang tuyến tiết sữa
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf)
2.4.3 Quá trình tạo sữa ở bầu vú
Sữa được tạo ra từ các nang tuyến Từ nang tuyến sữa chảy vào các ống dẫn sữa nhỏ, từ ống sữa nhỏ tập hợp vào ống dẫn sữa, các ống sữa lớn chảy vào bể sữa
Bể sữa là nơi dự trữ sữa Bầu vú có 4 bể sữa tách biệt, không thông nhau Cơ vòng
Trang 21nó tạo ra lượng sữa với một lượng vật chất khô hằng năm lớn hơn trọng lượng bò
Ví dụ một bò sữa 600 kg, với sản lượng sữa 6.000 lít/chu kỳ thì sản xuất lượng vật chất khô là 720 kg Mỗi ngày một con bò sữa cao sản sản xuất ra 30 lít có nghĩa là
nó tạo ra hơn 1,4 kg đường lactose, 1 kg chất đạm (0,96-1,14 kg), 1 kg chất béo và hơn 3 kg chất canxi (3-3,3 kg) Vì vậy, cần phải cung ứng đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu sản xuất sữa của bò (Vương Ngọc Long, 2007)
2.4.4 Chu kỳ tiết sữa
Sau khi đẻ, tuyến sữa bắt đầu tiết sữa liên tục cho đến khi cạn sữa chuẩn bị cho kỳ đẻ kế tiếp Một giai đoạn như vậy gọi là chu kỳ tiết sữa Một chu kỳ tiết sữa của bò sữa thường kéo dài 10 tháng (305 ngày) Sau thời gian tiết sữa, các tuyến sữa ngừng hoạt động một thời gian ngắn để chuẩn bị cho chu kỳ tiếp theo Thời kỳ này gọi là giai đoạn cạn sữa, thường kéo dài từ 45-60 ngày
Trong một chu kỳ tiết sữa, lượng sữa thường đạt đến đỉnh cao (vào tháng thứ 2-3) rồi giảm dần trở lại Khi bò có thai, lượng sữa cũng giảm nhanh chóng, nhất
là từ tháng có thai thứ 5 trở đi Lượng sữa sáng chiều của một ngày cũng khác nhau tuỳ theo giống và cá thể Thông thường sữa buổi sáng thường chiếm 60% lượng sữa trong ngày Trong một đời bò sữa, bò thường đạt năng suất cao nhất vào chu
kỳ thứ 3 Ở chu kỳ 1, năng suất của bò chỉ chiếm 75% so với thời điểm đạt cao nhất Ở chu kỳ 2 là khoảng 85% (Vương Ngọc Long, 2007)
Trang 2211
Hình 2.3 Chu kỳ tiết sữa ở bò
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf)
2.4.5 Phản xạ tiết sữa
Sữa được tiết theo cơ chế phản xạ Phản xạ tiết sữa liên quan đến thần kinh
và thể dịch (các kích thích tố, hormone) Khi bò nhận được các tác nhân kích thích
sẽ dẫn truyền vào vỏ đại não thông qua hệ thần kinh Từ đây sẽ phát các xung lệnh đến các cơ quan và hệ thống thể dịch để thực hiện việc tiết sữa như kích thích hệ thống cơ trơn của ống dẫn, bể sữa và tiết xuất oxytocin gây co bóp các cơ biểu mô của tuyến bào Dưới tác dụng của oxytocin sữa được đẩy vào hệ thống ống dẫn và xuống bể sữa rồi ra ngoài (Vương Ngọc Long, 2007)
Trong suốt thời gian thải sữa 40% sữa còn nằm trong bể sữa và trong các hệ thống ống lớn, còn lại 40% được sản xuất và dự trữ trong các hệ thống ống dẫn nhỏ
và những kênh nhỏ Sức ép và co thắt đẩy sữa dưới tác động bởi oxytocin, nếu vắt không kịp và lượng oxytocin giảm hoặc hết thì những hệ thống ống chứa sữa nhỏ
và những kênh nhỏ này sẽ đóng lại và sữa sẽ tồn lại trong các hệ thống ống dẫn nhỏ (Vương Ngọc Long, 2007)
Ngay trước khi vắt sữa áp suất trong bể sữa khoảng 25 mmHg, sau khi vắt sữa, áp suất của tuyến sữa khoảng 8 mmHg Trong toàn bộ thời gian vắt sữa áp suất trong bể sữa giữ ở mức tương đối cao (35-40 mmHg) và tăng giảm có quy luật (trong phạm vi 6-12 mmHg) Sự tăng giảm này đảm bảo cho sữa ở bao tuyến không
ngừng chảy vào ống dẫn sữa, xuống bể sữa (Nguyễn Xuân Trạch và Mai Thị Thơm,
2006)
Trang 2312
Các tác nhân kích thích (tín hiệu kích thích) bao gồm:
Thị giác như nhìn thấy bê, người vắt sữa, máy vắt sữa, chỗ vắt sữa
Thính giác như nghe tiếng bê kêu, tiếng máy vắt sữa hoạt động, tiếng xô vắt sữa, tiếng người vắt sữa
Khứu giác như mùi người vắt sữa, mùi thuốc sát trùng bầu vú
Xúc giác như xoa bóp, massage bầu vú
Hình 2.4 Phản xạ tiết sữa ở bò
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf)
2.5 Sơ lược về bệnh viêm vú
2.5.1 Định nghĩa và phân loại viêm vú
Viêm vú là sự viêm của một hay nhiều thuỳ vú với sự hiện diện của một hay nhiều (2 hoặc tối đa 3) loại vi khuẩn trong mô vú, dẫn đến sự gia tăng tế bào soma trong sữa đặc biệt là tế bào bạch cầu, đồng thời làm thay đổi tính chất vật lý và hóa học của sữa Nó dẫn đến hậu quả làm giảm sản lượng sữa, đặc biệt có trường hợp gây chết thú (Nguyễn Văn Phát, 1999)
Viêm vú bò sữa có 2 dạng là viêm vú lâm sàng và viêm vú tiềm ẩn
Viêm vú lâm sàng là sự nhiễm trùng lộ rõ của một hay nhiều thùy vú, có thể quan sát được bằng mắt thường Thể quá cấp bầu vú sưng, nóng, đau, sữa có biểu hiện không bình thường như vón cục, lợn cợn, kèm theo các triệu chứng sốt, suy nhược, biếng ăn, suy yếu và mạch yếu Thể cấp tính là các thay đổi trong tuyến vú
và tính chất sữa cũng tương tự như thể quá cấp nhưng dấu hiệu toàn thân ít nghiêm trọng hơn như sốt nhẹ Thể bán cấp tính chủ yếu thay đổi thành phần sữa, có các
Trang 2413
cục sữa vón, bầu vú sưng to, nhưng bò thường không có các phản ứng toàn thân Ở thể mãn tính, thùy vú có các khối to hoặc nhỏ, triệu chứng toàn thân không rõ ràng, thể bệnh này là do hậu quả của việc điều trị không đúng cách hoặc không có biện pháp can thiệp kịp thời khi bò bị viêm vú thể cấp tính hoặc quá cấp (Nguyễn Văn Phát, 1999)
Viêm vú tiềm ẩn rất phổ biến và gây những thiệt hại kinh tế rất lớn vì nó làm giảm sản lượng và chất lượng sữa Bệnh này nguy hiểm ở chổ là nó duy trì mầm bệnh, dễ lây lan mà người chăn nuôi khó phát hiện Bệnh là sự nhiễm trùng không
lộ rõ của bầu vú, không có triệu chứng đặc trưng Viêm vú tiềm ẩn được phát hiện bởi sự gia tăng tế bào soma trong sữa hoặc nuôi cấy vi sinh vật, hoặc thay đổi tính dẫn điện của sữa, nồng độ các enzyme Thường tỷ lệ viêm vú tiềm ẩn nhiều hơn viêm vú lâm sàng và luôn luôn xảy ra trước dạng viêm vú lâm sàng Viêm vú tiềm
ẩn làm giảm sản lượng sữa cũng như ảnh hưởng đến chất lượng sữa, có thể chuyển
thành dạng viêm vú lâm sàng (Quinn et al., 2004)
2.5.2 Các thể bệnh viêm vú
2.5.2.1 Viêm vú thể tương mạc
Vú bị sưng ở một thùy hay toàn bộ do vi khuẩn phát triển thành các ổ viêm Lúc đầu sữa biến đổi không rõ về sau khi bệnh lan rộng trong tuyến sữa và bộ phận tiết sữa thì sữa sẽ loãng và lợn cợn Con vật có triệu chứng toàn thân như sốt cao (39,5-40oC), giảm hoạt động và kém ăn Vú bò sưng ở một thùy hay toàn bộ bầu
vú (hiếm khi viêm toàn bộ bầu vú) Khi ấn mạnh tay vào bầu vú, bò bị đau, lượng sữa giảm rõ rệt, sữa loãng và có hạt lợn cợn (Vương Ngọc Long, 2007)
2.5.2.2 Viêm vú thể cata
Các tế bào thượng bì biến dạng và bị tróc ra Ổ viêm có dịch thẩm xuất, dịch này cùng với bạch cầu tạo ra một mảng mỏng phủ trên niêm mạc đường tiết sữa khi vắt sữa màng này tróc ra lẫn vào trong sữa lợn cợn hoặc cục sữa vón có khi làm tắc tia sữa Ở thể này thường vú không sưng, nhưng núm vú căng, sờ thấy có cục
Trang 2514
Viêm cata có mủ
Đặc trưng của bệnh là bể sữa, ống tiết sữa, tuyến vú bị viêm, làm cho nước thẩm xuất và mủ chảy vào bể sữa và các ống dẫn sữa Bệnh có hai thể cấp tính và mạn tính Thể cấp tính thì thùy vú sưng đỏ, nóng, đau Lượng sữa giảm nhiều hoặc mất hẳn Sữa loãng như nước, màu hồng nhạt, vị hơi đắng, trong sữa có những lợn cợn của cục sữa vón Hạch lâm ba ở thùy vú mắc bệnh sưng to, con vật ủ rũ, kém
ăn, sốt cao tới 41oC, mạch thì nhanh Sau ba bốn ngày, hiện tượng viêm giảm dần rồi khỏi hẳn hoặc bệnh trở thành mạn tính với các triệu chứng giảm dần, con vật hết sốt, thùy vú viêm hết đau nhưng sữa vẫn loãng, nhớt, màu vàng nhạt hoặc vàng
(Trần Ngọc Bích và ctv 2014)
Viêm có mủ
Đặc trưng của bệnh là trong thùy vú có nhiều bọc mủ to nhỏ khác nhau, có khi nhiều bọc mủ nhỏ hợp lại thành bọc mủ lớn Khi bọc mủ còn nhỏ nằm sâu trong bầu vú thì khó phát hiện Nếu có triệu chứng lâm sàng thì thấy một phần của thùy
vú viêm bị sưng đỏ, da căng, nóng, đau có khi sờ thấy bên trong lùng nhùng Nếu bọc mủ ở nông thì hiện tương viêm rất rõ Nếu có nhiều bọc mủ thì trên mặt của thuỳ vú viêm có nhiều chỗ phồng lên, lượng sữa giảm Chất lượng sữa biến đổi Nếu tuyến vú đã bị nhiễm mủ thì sữa tiết ra có lẫn mủ Có khi bầu vú bị vỡ mủ Nếu bọc mủ to thì con vật có triệu chứng toàn thân Hạch lâm ba của thùy vú bệnh
sưng to Con vật đi lại khó khăn (Trần Ngọc Bích và ctv 2014)
Trang 26thể tích nhiều hơn (Trần Ngọc Bích và ctv 2014)
2.5.3.2 Xơ cứng bầu vú
Các chức năng sinh lý bị ảnh hưởng và bầu vú bị cứng lại, còn tổ chức tuyến
vú bị teo đi Sờ vào thấy cứng hoặc ấn mạnh tuyến vú thấy những cục cứng hoặc cứng toàn bộ Sau khi vắt sữa thể tích thùy vú không giảm Lượng sữa giảm, nếu
xơ cứng một phần tuyến vú thì sữa loãng màu xám và có cục vón lợn cợn (Trần
Ngọc Bích và ctv 2014)
2.5.3.3 Bầu vú hoại tử
Bầu vú thối loét và phân hủy do vi khuẩn gây hoại tử xâm nhập vào tuyến vú qua đường tiết sữa, vết thương hoặc mạch máu Lúc đầu bề mặt bầu vú có những đám màu hồng tím, cứng, đau, về sau loét và hoại tử có mủ Toàn bộ thùy vú sưng
to, ấn vào thấy nước hồng chảy ra Hạch lâm ba vú sưng to, đau, có triệu chứng bại
huyết (Trần Ngọc Bích và ctv 2014)
Trang 2716
2.5.4 Các yếu tố nguy cơ bệnh viêm vú
2.5.4.1 Yếu tố ngoại cảnh
Thời tiết khí hậu
Các tác nhân như nhiệt độ, độ ẩm trong và ngoài chuồng nuôi bò sữa đều có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên tỷ lệ mắc bệnh viêm vú Mặt khác nhiệt độ cao, ẩm độ cao cũng là điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây bệnh, các côn trùng mang tác nhân gây bệnh phát triển và từ đó gián tiếp gây bệnh Tại một số nước có khí hậu theo 4 mùa, thường có một dạng viêm vú gọi là “viêm vú mùa hè”
gây ra bởi các côn trùng chích cắn truyền vi khuẩn Corynebacterium pyogenes và
một số vi khuẩn kỵ khí khác Bệnh này thường xuất hiện ở vùng khí hậu có độ ẩm cao (thường ở các vùng thấp, các thung lũng)
Các loại stress tác động trên bò sữa (tiếng ồn, thái độ chăm sóc bò, mật độ nuôi quá cao) ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch của bò sữa (làm suy yếu) từ đó cũng làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh viêm vú Đặc biệt nhiệt độ, ẩm độ cao gây ra stress nhiệt trên bò sữa là cần được quan tâm nhiều nhất
Hình 2.6 Mối quan hệ giữa các nguyên nhân gây bệnh viêm vú
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf)
Trang 2817
Chuồng trại
Bò nếu được nuôi trong chuồng thì cũng dễ mắc bệnh viêm vú Tại Úc, người
ta nhận thấy bò sữa nếu được chăn thả ngoài đồng cỏ thường xuyên, chỉ ở trong chuồng ở thời điểm vắt sữa, thì tỷ lệ mắc bệnh viêm vú do môi trường (do nhóm
Coliform giảm) Tuy nhiên, khi chăn thả ngoài đồng cỏ, không kiểm soát được hoàn
toàn, thì cần phải chú ý đến các tổn thương trên bầu vú từ đó cũng dễ mắc bệnh
(Vương Ngọc Long, 2007)
Người ta cũng nhận thấy là tỷ lệ bệnh viêm vú trên bò nuôi nhốt ở kiểu chuồng cầm cột thường cao hơn ở kiểu chuồng tự do không cầm cột Một nghiên cứu tại Nam Tư (cũ) cho thấy tỷ lệ bệnh viêm vú lâm sàng ở bò nuôi trong kiểu chuồng cầm cột cao hơn 42% so với bò kiểu chuồng không cầm cột Tóm lại, chuồng trại
vệ sinh kém, không thông thoáng và ánh sáng thiếu, mật độ nuôi cao là nguyên nhân gây tỷ lệ bệnh viêm vú tăng cao, chăm sóc quản lý không đúng kỹ thuật, dinh dưỡng không phù hợp (Vương Ngọc Long, 2007)
Ô bò nằm được xem như vị trí quan trọng liên quan đến bệnh viêm vú chỉ sau nơi vắt sữa Khi bò nằm nghỉ, bầu vú bò sẽ tiếp xúc với nền và chất lót nên nguy
cơ vi khuẩn xâm nhập vào bầu vú là rất cao và một ngày bò có thể dành đến 14 giờ
để nằm nghỉ tại ô này (trong khi tại nơi vắt sữa chỉ có 5-10 phút) Người ta nhận thấy nếu số ô bò nằm không đầy đủ cũng làm gia tăng tỷ lệ viêm vú (vì tần suất bò nằm chung một ô sẽ cao) Các vật liệu lót ô bò nằm có ảnh hưởng đến sự phát triển của các vi sinh vật và từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Vật liệu lót ô nằm là cát cũng khá tốt nhưng phải chú ý không để cho bị ẩm do rửa chuồng, tắm bò (Vương Ngọc Long, 2007)
Bãi chăn thả không vệ sinh sát trùng và không kiểm soát được nhiều bò từ nơi khác đến, đem theo mầm bệnh Nền đất, sân vận động cũng là những nơi mà các vi sinh vật gây bệnh phát triển (Vương Ngọc Long, 2007)
Trang 2918
Hình 2.7 Ô bò nằm sử dụng đệm chuyên dụng
Nguồn thức ăn nước uống
Người ta nhận thấy cũng có mối liên hệ giữa khẩu phần ăn và bệnh viêm vú, trong đó chú ý đến mức cân bằng dưỡng chất trong khẩu phần và việc thay đổi khẩu phần ăn quá nhanh
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy khẩu phần ăn quá dư thừa nitơ, đặc biệt là nitơ phi protein, là một trong những yếu tố gây ra bệnh viêm vú Việc sử dụng quá nhiều nitơ phi protein trong khẩu phần sẽ tác động đến hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa Tại Đức, nghiên cứu cho thấy nếu sử dụng urê bổ sung vào khẩu phần
ăn của bò sữa quá cao thì tỷ lệ viêm vú tăng 16% Nếu cho lượng urê trong khẩu phần vượt quá 180g/con/ngày sẽ làm suy yếu hệ thống miễn dịch của bò một cách
rõ rệt (Vương Ngọc Long, 2007)
Tỷ lệ thức ăn tinh trong khẩu phần quá cao cũng là nguyên nhân gây nên bệnh Cũng một thí nghiệm tại Đức so sánh giữa bò sữa lứa thứ nhất cho ăn khẩu phần 25% và 40% thức ăn tinh tăng thì tỷ lệ bệnh viêm vú nhóm bò cho ăn thức ăn tinh 40% là 36% so với 7% ở nhóm bò cho ăn khẩu phần 25% Khẩu phần có năng lượng cao cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú (Vương Ngọc Long, 2007)
Việc bổ sung quá nhiều thức ăn thô xanh họ đậu, đặc biệt là cỏ Alfalfa, có chứa nhiều chất estrogen, cũng làm ảnh hưởng đến tỷ lệ viêm vú Đối với bò tơ, khi cho ăn khẩu phần nhiều cỏ họ đậu, các chất estrogen ngoại lai này (không phải
do cơ thể bò sản xuất) sẽ làm cho bầu vú bò tơ trưởng thành sớm từ đó làm tăng nguy cơ nhiễm các vi khuẩn cơ hội từ môi trường, bò dễ mắc bệnh viêm vú (Vương Ngọc Long, 2007)
Trang 3019
Hàm lượng Vitamin E và Selenium cao trong khẩu phần thức ăn sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của cơ thể bò sữa từ đó cũng làm giảm tỷ lệ viêm vú Đặc biệt, trong trường hợp bệnh viêm vú tiềm ẩn, việc bổ sung Selenium đã làm giảm
rõ rệt tỷ lệ bò mắc bệnh Việc bổ sung Selenium cũng giúp cho bò đề kháng với
các bệnh viêm vú gây ra do nhóm Coliform (như E coli) Tuy nhiên cũng luôn ghi
nhớ là không bổ sung Selenium riêng lẻ mà phải bổ sung chung với Vitamin E
(Vương Ngọc Long, 2007)
Thức ăn nhiều vi trùng, nấm mốc sẽ theo hệ thống tiêu hóa gây bệnh nhất là thú bệnh đường tiêu hóa gây tiêu chảy, từ đó vi khuẩn và độc tố xâm nhập vào máu đến bầu vú Vi khuẩn, nấm mốc cũng tiết ra các độc tố làm ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch (Vương Ngọc Long, 2007)
Khẩu phần ăn quá dư nitơ đặc biệt là nitơ phi protein cũng là một yếu tố gây viêm vú Hàm lượng vitamin E và Selenium cao trong khẩu phần thức ăn sẽ giúp cải thiện hệ thống miễn dịch của bò sữa từ đó cũng làm giảm tỷ lệ viêm vú (Vương Ngọc Long, 2007)
Hình 2.8 Các tác nhân truyền lây bệnh viêm vú
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf) Chăm sóc vắt sữa
Phương pháp vắt sữa, kỹ thuật vắt sữa không đúng, thời gian và số lần vắt, áp lực vắt không đảm bảo nhất định dễ gây ảnh hưởng đến bầu vú Người vắt sữa có trách nhiệm, lau gia súc, dọn nơi vắt sữa, rửa dụng cụ vắt sữa và tay trước khi bắt đầu vắt sữa Người vắt sữa phải khỏe mạnh không mang vi trùng hay bệnh tật có khả năng truyền vi trùng hoặc lây lan sang gia súc Nên có quy định người vắt sữa phải có giấy phép hành nghề, và kiểm tra sức khoẻ định kỳ Chú ý có ngăn sát trùng
Trang 312.5.4.2 Yếu tố vật chủ
Bệnh viêm vú gặp ở mọi lứa tuổi của bò cho sữa nhưng ở bò đẻ lần đầu thì khả năng chống nhiễm khuẩn rất cao Ngược lại, bò sữa lứa thứ 4 trở đi thì khả năng chống nhiễm khuẩn kém, nên nguy cơ mắc viêm vú lớn hơn (Nguyễn Văn Phát, 2010)
Viêm vú lâm sàng hay xảy ra ở giai đoạn đầu của chu kỳ cho sữa, do lúc này sức đề kháng của bò giảm Qua khảo sát ghi nhận 30% viêm vú lâm sàng xảy ra trong những tháng đầu tiên của chu kỳ cho sữa (Nguyễn Văn Phát, 2010)
Hình dáng bầu vú cũng ảnh hưởng tỷ lệ viêm vú Bò có bầu vú xệ, núm vú dài dễ bị tổn thương do sự cọ sát hai chân sau và do khoảng cách từ núm vú đến mặt đất quá gần cũng ảnh hưởng đến sự xâm nhập của vi khuẩn Hơn nữa ống dẫn sữa là một ống rỗng rất dễ bị nhiễm bởi các vi sinh vật (Vương Ngọc Long, 2007) Trần Tiến Dũng (2003), cho rằng những thùy vú sau nhạy cảm với sự nhiễm trùng hơn những thùy vú trước do diện tích da bề mặt quá lớn nên dễ bị lạnh, chấn thương hoặc bị vấy nhiễm vi khuẩn từ phân và sản dịch
2.5.4.3 Yếu tố vi sinh vật gây nhiễm
Vi sinh vật là một vật thể rất nhỏ chỉ nhìn qua kính hiển vi, chúng sống trong các tổ chức, tế bào, cơ thể của động vật, một số ở dạng thực vật như nấm, mốc
Vi sinh vật có ảnh hưởng rất lớn trên sức khoẻ con người và động vật qua khả năng lây nhiễm chúng có nhiều loại (type) phát triển gây bệnh Chúng hiện diện trong không khí, thức ăn, chuồng trại, người vắt sữa, đất, phân, nước tiểu Chúng
có thể xâm nhập vào cơ thể động vật qua thở, uống, ăn, vết thương, kênh núm vú
Trang 321 0 1 Sau 11h số lượng tế bào vi khuẩn
và từ đó làm ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của tuyến sữa
Hình 2.9 Nang tuyến bị các vi khuẩn tấn công và hủy hoại
(https://dairyvietnam.com.vn/upload_images/kiemsoatbenhviemvuhc_2.pdf)
Trang 3322
Có nhiều loại vi khuẩn gây bệnh viêm vú:
Liên cầu khuẩn và tụ cầu khuẩn Đây là các vi khuẩn thường thấy nhất trong các bệnh viêm vú Bệnh do các vi khuẩn này gây ra lây truyền trong đàn chậm nhưng một khi bị nhiễm thì rất khó loại bỏ Các liên cầu khuẩn gồm có 3 loài:
Streptococcus agalactiae, Streptococcus dysgalactiae và Streptococcus uberis Ba
loài liên cầu khuẩn này chủ yếu phát triển trong sữa và chỉ tấn công các lớp tế bào
bề mặt của các ống dẫn sữa Chúng gây ra thể viêm cata (Nguyễn Xuân Trạch, 2010)
Tụ cầu khuẩn Staphylococcus aureus là vi khuẩn Gram dương gây bệnh mạnh
nhất đối với tuyến vú Việc viêm nhiễm thường có nguồn gốc từ môi trường bên ngoài và người vắt sữa là tác nhân truyền bệnh chủ yếu Vi khuẩn này gây ra chứng viêm vú, thay đổi từ thể không có triệu chứng đến thể trên cấp tính (Nguyễn Xuân Trạch, 2010)
Vi khuẩn nhóm Coliform Đây là những vi khuẩn Gram âm như E coli, Enterobacter, Klepsiella pneuminiae Những vi khuẩn này tuy ít gặp nhưng sức tàn
phá mô tuyến vú của chúng rất mạnh Các vi khuẩn này sống trong phân, đất, nước
bị ô nhiễm, các chất độn chuồng và đây chính là nguồn lây bệnh cho bò sữa Viêm
vú do các vi khuẩn này thường là kết quả của biện pháp điều trị không cẩn thận khi cạn sữa Khoảng 50% viêm vú do các vi khuẩn này tồn tại thời gian ngắn (dưới 10 ngày) và có khuynh hướng tự khỏi, rất ít khi xảy ra trường hợp hoại tử (Nguyễn Xuân Trạch, 2010)
Vi khuẩn Actinomyces pyogenes thường gây viêm vú áp xe, thường gặp ở bò
cái tơ và bò cái cạn sữa vào thời kì gần đẻ Mầm bệnh lây truyền qua côn trùng Việc viêm nhiễm lan truyền từ các ống dẫn sữa tới các nang tuyến và tạo ra ở đây các ổ áp xe lớn, làm cho tế bào bị hủy hoại trầm trọng (Nguyễn Xuân Trạch, 2010)
2.5.5 Chẩn đoán bệnh viêm vú
Chẩn đoán bệnh viêm vú là giai đoạn quyết định để khống chế nhiễm trùng bầu vú Chẩn đoán sớm giúp điều trị nhanh chóng, bò mau khỏi và ngăn cản chuyển sang thể bệnh khác Có nhiều phương pháp để chẩn đoán và xác định viêm vú
2.5.5.1 Kiểm tra bầu vú
Kiểm tra trên lâm sàng bầu vú và tính chất sữa là một trong các yếu tố để chẩn đoán viêm vú Đây là biện pháp đơn giản và ít tốn kém mà người chăn nuôi có thể thực hiện Bằng biện pháp kiểm tra đơn giản, người chăn nuôi có thể phát hiện ra