Phạm vi về nội dung nghiên cứu Trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ tập trung nghiên cứu 03 mặt biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH trong 02 nội dung: Thái độ với đối tượng của ho
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THOA
THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ
MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THOA
THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ
MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ
Ngành: Tâm lý học
Mã số: 9.31.04.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lã Thị Thu Thủy
HÀ NỘI - 2021
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án là khách quan, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 21 tháng 2 năm 2021
Tác giả
Nguyễn Thị Thoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám đốc, Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo khoa Tâm lý học, Phòng đào tạo của Học viện Khoa học Xã hội đã giúp
đỡ và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian tôi học và hoàn thành luận án
Tôi đặc biệt gửi lời cảm ơn với tấm lòng tri ân sâu sắc nhất tới PGS.TS Lã Thị Thu Thủy người hướng dẫn khoa học đã rất tâm huyết tận tình chỉ bảo, giúp đỡ
tôi và Cô luôn sát cánh động viên tôi vượt qua khó khăn hoàn thành luận án này
Cảm ơn Ban Giám đốc, các nhân viên Công tác xã hội tại một số trung tâm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh như một số cơ sở Công lập: Trường Tương lai, Quận 1; Trường Chuyên Biệt Thảo Điền, Quận 2; Trường chuyên biệt Bình Minh, Quận Tân Phú; Trung tâm bảo trợ trẻ em Thị Nghè, Quận Bình Thạnh; Trung tâm bảo trợ trẻ em Gò Vấp, Q Gò Vấp; Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập Bình Chánh, Huyện Bình Chánh; Trường Nuôi dạy trẻ khuyết tật Củ Chi, Thị trấn Củ Chi
và một số trường ngoài Công lập như: Trường tư thục Ước mơ, Quận 1; Trường tư thục chuyên biệt Từng Bước Nhỏ, Quận 4; Trường chuyên biệt Bim Bim- Tường Minh, Quận Tân Bình; Trung tâm Rồng Việt, Quận Tân Phú đã tạo điều kiện và nhiệt tình hỗ trợ tôi trong quá trình khảo sát thu thập thông tin luận án
Chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các nhân viên công tác xã hội Trường Giáo dục chuyên biệt Khai Trí, Quận BìnhThạnh, thành phố Hồ Chí Minh đã cung cấp các thông tin chi tiết về hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ, nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi tham gia quan sát và làm thực nghiệm của luận án
Cảm ơn Ban Giám đốc Trường Đại học Lao động Xã hội (cơ sở 2), thành phố
Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và các anh chị em đồng nghiệp đã chia sẻ đóng góp ý kiến
Lời cuối, xin gửi lời cảm ơn trân trọng đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn bên cạnh tôi, cùng tôi chia sẻ những khó khăn, giúp đỡ và khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận án
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 6
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án 7
7 Cấu trúc của luận án 8
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ 9
1.1 Nghiên cứu về thái độ và thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp 9
1.2 Hướng nghiên cứu về thái độ đối với một số đối tượng có vấn đề cần trợ giúp trong xã hội và trẻ mắc hội chứng tự kỷ 19
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 23
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ 24
2.1 Lý luận về thái độ 24
2.2 Lý luận về hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ của nhân viên công tác xã hội 31
2.3 Thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ 42
2.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ 48
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 56
Chương 3: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 57
3.1 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu lý luận 57
3.2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực tiễn 58
Trang 6TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 78 Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ 79
4.1 Thực trạng thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ 79 4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ 119 4.3 Tổng hợp mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ 130 4.4 Kết quả thực nghiệm tác động 131
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 141 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 149 TÀI LIỆU THAM KHẢO 150 PHỤ LỤC 159
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Mô tả các nhiệm vụ hoạt động trợ giúp của nhân viên công tác xã hội
với trẻ mắc hội chứng tự kỷ 41 Bảng 3.1 Phân bố các cơ sở nghiên cứu theo địa bàn quận/huyện 60 Bảng 3.2 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 60 Bảng 3.3 Độ hiệu lực (EFA) của thang đo thái độ nhân viên CTXH đối với hoạt
động trợ giúp TTK 68 Bảng 4.1 Đánh giá chung các mặt biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với
hoạt động trợ giúp TTK qua ba mặt nhận thức, xúc cảm và xu hướng hành vi 81 Bảng 4.2 So sánh thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
trên các tiêu chí 83 Bảng 4.3 Thái độ đối với hoạt động trợ giúp TTK biểu hiện qua mặt nhận thức 85 Bảng 4.4 So sánh thái độ thể hiện qua nhận thức của nhân viên CTXH về hoạt
động trợ giúp TTK trên các tiêu chí 96 Bảng 4.5 Thực trạng thái độ của nhân viên CTXH biểu hiện ở mặt cảm xúc với
hoạt động trợ giúp TTK 98 Bảng 4.6 So sánh thái độ thể hiện ở mặt cảm xúc của nhân viên CTXH theo các
tiêu chí khác nhau 104 Bảng 4.7 Thái độ thể hiện qua xu hướng hành vi 107 Bảng 4.8 So sánh thái độ biểu hiện qua xu hướng hành vi trợ giúp TTK của nhân
viên CTXH theo các tiêu chí khác nhau 116 Bảng 4.9 Đánh giá của nhân viên CTXH về chế độ an sinh, thu nhập 120 Bảng 4.10 Đánh giá của nhân viên công tác xã hội về tính chất đặc thù của công việc 124 Bảng 4.11 Đánh giá của nhân viên công tác xã hội về kiến thức, năng lực chuyên môn 126 Bảng 4.12 Đánh giá của nhân viên công tác xã hội về động cơ nghề nghiệp 128 Bảng 4.14 Thực trạng biểu hiện thái độ đối với hoạt động trợ giúp TTK của
nhóm nhân viên CTXH trường chuyên biệt Khai Trí trước khi thực nghiệm 132 Bảng 4.15 So sánh thay đổi về mặt nhận thức của thái độ trợ giúp TTK của nhân
viên CTXH trước và sau khi thực nghiệm 136 Bảng 4.16 Sự thay đổi thái độ đối với hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH ở
mặt xúc cảm trước và sau thực nghiệm 137 Bảng 4.17 So sánh thái độ biểu hiện ở mặt xu hướng hành vi trước và sau thực
nghiệm 138
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
Hình 2.1 Mô hình ba thành phần của thái độ 43 Hình 2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt
động trợ giúp TTK 51 Hình 2.3 Mô hình khung lý thuyết nghiên cứu thái độ của nhân viên CTXH đối
với hoạt động trợ giúp TTK 55 Hình 3.1 Đồ thị phân bố điểm số biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với
hoạt động trợ giúp TTK 76 Hình 4.1 Tương quan giữa 3 mặt biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH: Nhận
thức - Cảm xúc - Xu hướng hành vi 81
Biểu đồ 4.1: Mức độ biểu hiện thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt
động trợ giúp trẻ mặc hội chứng tự kỷ 79 Biểu đồ 4.2 Biểu đồ P – P plot của hồi quy phần dư chuẩn hóa 131 Biểu đồ 4.3 Thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ
mắc hội chứng tự kỷ trước và sau khi thực nghiệm 135
Trang 10MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Các thống kê cho thấy thực trạng tỷ lệ trẻ mắc hội chứng tự kỷ (TTK) trong những năm gần đây gia tăng một cách đáng kể trên thế giới trong đó có Việt Nam
Tự kỷ còn được gọi là rối loạn phổ tự kỷ hoặc “hội chứng rối loạn phát triển lan toả” Những trẻ em mắc hội chứng này thường gặp một số khó khăn về giao tiếp, tương tác xã hội, điều chỉnh cảm xúc, rối nhiễu hành vi và khó khăn hòa nhập cộng đồng Theo số liệu thống kê của của tổ chức Autism Speaks trong khoảng 15 năm trở lại đây, số lượng trẻ mắc hội chứng tự kỷ trên thế giới và Việt nam tăng đáng kể Theo
số liệu của Bộ Lao động Thương binh Xã hội năm 2019 có trên 200.000 trẻ em mắc hội chứng này [124] Vì TTK có những rối nhiễu đặc trưng và hậu quả để lại là hết sức nghiêm trọng không chỉ đối với trẻ mà còn cho gia đình và xã hội nếu như trẻ không được sàng lọc, phát hiện và điều trị can thiệp kịp thời Tại Việt Nam đã có nhiều phương cách can thiệp, trợ giúp TTK phần lớn đều bắt nguồn từ tiếp cận hành vi, nhận thức Tuy nhiên, việc hỗ trợ chưa có nhiều hiệu quả do sự chưa xác định được các nguyên nhân gây ra hội chứng tự kỷ ở trẻ [17] Tham gia vào hoạt động trợ giúp phần lớn có các chuyên gia ở nhiều lĩnh vực như giáo dục đặc biệt, tâm lý lâm sàng, công tác
xã hội và bác sĩ chuyên khoa Mỗi một chuyên gia đều có một vai trò, vị trí và chức năng nhất định trong can thiệp trợ giúp nhóm trẻ này Chính sự gia tăng số lượng TTK
và tính hiệu quả chưa cao của các phương pháp can thiệp đã tạo thêm gánh nặng cho gia đình trẻ và bản thân TTK nên thúc đẩy việc cần thiết phải nghiên cứu thường xuyên các hoạt động trợ giúp và hiệu quả của chúng và nhân viên CTXH là một trong những lực lượng tham gia vào việc trợ giúp can thiệp cho nhóm trẻ này
Nhân viên CTXH có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung và TTK, gia đình TTK nói riêng
Công tác xã hội là hoạt động trợ giúp các nhóm xã hội yếu thế nhằm nâng cao năng lực của các cá nhân và cộng đồng giải quyết các khó khăn trong cuộc sống Đây là một hoạt động nghề có tính đặc trưng vì luôn liên quan đến việc trợ giúp các nhóm yếu thế về sức khỏe, thể chất, tâm lý và đời sống kinh tế nên gặp nhiều khó khăn và có tính nhân đạo cao Đặc biệt công tác xã hội với TTK lại càng mang tính đặc thù vì theo Michael Olive và Bob Sapey (2006) đây là nhóm trẻ có nhiều rối nhiễu tâm lý, khó khăn trong cuộc sống và học tập, TTK không có cách nghĩ, cách
Trang 11thể hiện cảm xúc, hành vi, ngôn ngữ như những trẻ bình thường khác gây khó khăn cho người trợ giúp [112] Nhân viên CTXH cần giúp đỡ TTK để các em hòa nhập tốt hơn Điều này không chỉ đòi hỏi các nhân viên CTXH không chỉ cần được đào tạo về trình độ chuyên môn nghề nghiệp; vận dụng nhiều kỹ năng nghề nghiệp lẫn khả năng điều hòa cảm xúc mới có thể hoàn thành nhiệm vụ Do đó họ không những cần thiết phải có những phẩm chất đạo đức phù hợp mà cần có thái độ tích cực đối với công việc của mình Thái độ tích cực đúng đắn sẽ giúp nhân viên CTXH có ý thức trách nhiệm cao khi hỗ trợ, giúp đỡ các nhóm xã hội yếu thế nói chung và trợ giúp TTK nói riêng
Thái độ của nhân viên CTXH là yếu tố quan trọng đối với hiệu quả hoạt động
hỗ trợ TTK Theo G.V Onparate and Lapiere (1984) [94] thái độ như một khuynh
hướng cá nhân nhằm đánh giá một yếu tố xã hội nào đó là tích cực hay tiêu cực, cho nên thái độ là trạng thái tâm lý có tác dụng định hướng và thúc đẩy hoạt động mạnh
mẽ của nhân viên CTXH Để trợ giúp TTK hiệu quả, ngoài nghiệp vụ chuyên môn của nhân viên CTXH thì thái độ của họ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần quyết định chất lượng và hiệu quả hoạt động trợ giúp TTK Khi nhân viên CTXH có thái độ tích cực luôn có ý thức vượt qua khó khăn, họ sẽ có trách nhiệm cao hơn và thực hiện những hành động tích cực để tác động vào quá trình can thiệp TTK đem lại hiệu quả công việc cao hơn giúp TTK sớm hòa nhập cộng đồng Trong thực tế, không phải không có những nhân viên CTXH thiếu đi thái độ tích cực với hoạt động này, khiến cho họ có thể thiếu đi tinh thần trách nhiệm, học hỏi
và ảnh hưởng không nhỏ đến sự tiến bộ, hòa nhập của TTK Chính vì vậy, thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK không chỉ mang tính nhân đạo trong việc trợ giúp một nhóm trẻ yếu thế mà còn là để nâng cao tinh thần trách nhiệm của họ trong việc hỗ trợ nhóm trẻ đặc thù này
Gần đây đã có một số công trình nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH
và TTK ở thế giới và Việt Nam tuy nhiên nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK còn khá ít ỏi Chính vì vậy, luận án nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK sẽ có ý nghĩa
lý luận và thực tiễn Về lý luận, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về thái độ nghề nghiệp và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động nghề Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận
Trang 12án sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả hơn chính sách của Đảng và nhà nước về chính sách liên quan đến hoạt động trợ giúp TTK, đồng thời đóng góp ý kiến cho các cơ sở đào tạo, tổ chức CTXH một vài giải pháp nhằm nâng cao thái độ tích cực cho nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp này
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ” làm chủ đề
nghiên cứu của luận án
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu lý luận
- Tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
- Xây dựng cơ sở lý luận về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
2.2.2 Nghiên cứu thực tiễn
- Phân tích thực trạng mức độ biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
2.2.3 Đề xuất biện pháp
Đề xuất một số biện pháp giúp nhân viên CTXH nâng cao thái độ tích cực đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Mức độ, biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
và các yếu tố ảnh hưởng
Trang 133.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi về nội dung nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu này, luận án chỉ tập trung nghiên cứu 03 mặt biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH trong 02 nội dung: Thái độ với đối tượng của hoạt động trợ giúp và thái độ đối với công việc trợ giúp TTK
Về các yếu tố ảnh hưởng: Thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Luận án này chỉ tập trung làm rõ ảnh hưởng của 05 yếu tố, bao gồm: Chế độ an sinh thu nhập; môi trường làm
việc; kiến thức năng lực chuyên môn; tính chất công việc và động cơ làm việc
3.2.2 Phạm vi về khách thể và địa bàn nghiên cứu
- Phạm vi khách thể nghiên cứu: Khách thể luận án gồm 402 nhân viên CTXH
đang thực hiện hoạt động trợ giúp TTK
3.2.3 Phạm vị địa bàn nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu tại 12
trường chuyên biệt và trung tâm can thiệp TTK công lập và ngoài công lập tại các quận nội và ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh (trong đó gồm 07 tổ chức công lập và 05 tổ chức ngoài công lập)
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 7 năm 2017 đến tháng 12 năm 2020
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
4.1 Phương pháp luận
Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu khác nhau, luận án này được thực hiện trên
cơ sở cách tiếp cận liên ngành của khoa học Tâm lý, khoa học Công tác xã hội và dựa trên cơ sở một số nguyên tắc cụ thể sau:
- Nguyên tắc tiếp cận tâm lý học nhận thức: Thuyết nhận thức của Jean Piaget
cho rằng con người luôn cố tìm hiểu thế giới của mình một cách tự nhiên Trong suốt tuổi ẳm ngữa, thơ ấu và thanh niên, họ đều muốn tìm hiểu hoạt động của cả thế giới tự nhiên và xã hội [38] Thái độ của nhân viên CTXH biểu hiện ở mặt nhận thức được hình thành trong quá trình họ tham gia và tìm hiểu vào hoạt động nghề Điều này có nghĩa phải nghiên cứu thái độ thông qua quá trình nhận thức của họ đối với hoạt động nghề nghiệp
- Nguyên tắc tiếp cận tâm lý học vai trò: Vai trò là khái niệm nhấn mạnh
những kỳ vọng xã hội gắn với những vị thế hay vị trí nhất định trong xã hội và nó phân tích những kỳ vọng trong xã hội ấy Mỗi một vai trò lại gắn với một nhóm đối
Trang 14tác khác nhau và nhóm đối tác đó có một kỳ vọng riêng của họ [dẫn theo 34] Vận dụng lý thuyết vai trò vào luận án nhằm xác định vai trò của NVXH trong việc thực
hiện hoạt động trợ giúp cho trẻ mắc hội chứng tự kỷ Các vai trò này được thể hiện qua những việc làm, hành vi cụ thể phù hợp với hoạt động can thiệp trợ giúp cho
trẻ mắc hội chứng tự kỷ
- Nguyên tắc tiếp cận tâm lý học hoạt động: Thái độ của nhân viên CTXH được
hình thành qua hoạt động học tập, thực hành nghề Theo Barratt.P có 4 quá trình tham dự vào học tập quan sát là chú ý; ghi nhớ; các quá trình tái tạo vận động và các quá trình động cơ [81] Theo lý thuyết này, để giúp nhân viên CTXH học hỏi được các hành vi nghề nghiệp tích cực trong hoạt động trợ giúp TTK, cần cung cấp cho
họ các mẫu hình để họ quan sát Mẫu hình này có thể cung cấp qua các lớp tập huấn
kỹ năng, qua các tài liệu bằng hình ảnh (video) hoặc bằng chính hoạt động của những nhân viên CTXH khác có kinh nghiệm và chuyên môn tốt Mặt khác, để nâng cao khả năng xử lý công việc của nhân viên CTXH, cũng cần giúp họ nhận thức về năng lực hoạt động trợ giúp TTK của mình một cách tích cực hơn vì theo Barratt.P, những người có hiệu quả cá nhân cao thường cho rằng họ có thể xử lý được những sự kiện và hoàn cảnh bất lợi Họ chờ đợi ở bản thân năng lực khắc phục những trở ngại, họ tìm kiếm những thử thách, họ duy trì mức độ tự tin cao vào sức mạnh bản thân
- Nguyên tắc tiếp cận hệ thống: Nhân viên CTXH thực hiện hoạt động trợ giúp
TTK luôn có sự tác động với những người xung quanh Hoạt động của họ chịu sự ảnh hưởng và là kết quả tác động của nhiều yếu tố tâm lý khách quan và chủ quan [38] Do đó, khi nghiên cứu thái độ trợ giúp TTK của nhân viên CTXH cần đặt hiện tượng tâm lý này trong mối quan hệ tương hỗ cuả nhiều yếu tố như: Chế độ an sinh thu nhập; môi trường làm việc; tính chất công việc; năng lực kiến thức chuyên môn
và động cơ làm việc
4.2 Các phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích và giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu Đề tài sử dụng phối hợp một số phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản; Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi; Phương pháp chuyên gia; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp quan sát; Phương pháp thực nghiệm; Phương pháp thống kê toán học
Trang 155 Đóng góp mới về khoa học của luận án
5.1 Đóng góp về mặt lý luận
Mảng đề tài nghiên cứu về thái độ đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau đề cập đến Tuy nhiên, thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK là một khía cạnh còn ít được các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Đây là một lĩnh vực nghiên cứu mới, còn nhiều khoảng trống trong nghiên cứu tâm lý học nghề nghiệp
Qua nghiên cứu lý luận, luận án đã tổng quan được một số công trình trong và ngoài nước có liên quan đến thái độ, thái độ nghề nghiệp, khái quát được một số vấn đề lý luận cơ bản như khái niệm niệm nhân viên CTXH; khái niệm hoạt động trợ giúp; khái niệm thái độ hoạt động trợ giúp TTK Đồng thời, Luận án đã chỉ ra các mặt biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK Chỉ
ra được tiêu chí đánh giá, mức độ biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
5.2 Đóng góp về mặt thực tiễn
Dựa trên kết quả khảo sát thực tiễn, luận án đã phân tích được thực trạng thái
độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK qua ba mặt biểu hiện nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi Thái độ được xem xét theo trên phương diện nhân viên CTXH có tích cực đối với đối tượng trợ giúp (TTK, gia đình và người chăm sóc TTK) và tích cực trong công việc trợ giúp (như rèn luyện bản thân đáp ứng yêu cầu của hoạt động, ý nghĩa xã hội của nghề, xu hướng gắn bó với nghề…) Luận án cũng chỉ ra được những khó khăn nhân viên CTXH đang gặp phải trong hoạt động trợ giúp TTK và một số những yếu tố tác động đến thái độ của họ đối với hoạt động này
Kết quả luận án chỉ ra mức độ biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK là chưa thực sự tích cực, tính tích cực đạt ở mức trung bình
và không có sự đồng nhất trên các mặt biểu hiện Trong ba mặt biểu hiện của thái
độ thì mặt nhận thức có mức độ thể hiện cao hơn so với hai mặt còn lại Mặt cảm xúc là mặt có biểu hiện thấp nhất Luận án cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH trong đó hai yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ
là yếu tố an sinh thu nhập và yếu tố kiến thức năng lực chuyên môn
Trang 16Kết quả thực nghiệm cho thấy, tác động của việc tập huấn, bồi dưỡng kiến thức liên quan hoạt động trợ giúp có thể giúp cải thiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động nghề của mình một cách tích cực hơn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1 Ý nghĩa về mặt lý luận
Luận án đã góp phần bổ sung thêm cơ sở lý luận về thái độ của nhân viên CTXH thông qua việc hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về thái độ nghề nghiệp và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK Trên cơ sở phân tích và kế thừa các công trình nghiên cứu về vấn đề này, luận án cũng đã bổ sung một số vấn đề về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK hiện nay như: Khái niệm thái độ, khái niệm nhân viên CTXH; Khái niệm hoạt động trợ giúp TTK và khái niệm thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK Những kết quả nghiên cứu này đã góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về thái độ trong Tâm lý học
6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả nghiên cứu đã cung cấp một số dữ liệu mang tính khoa học về thực trạng thái đối với hoạt động trợ giúp TTK của nhân viên CTXH và các yếu tố ảnh hưởng đến nó Đây có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn Tâm lý học và Công tác xã hội trong giảng dạy lĩnh vực can thiệp TTK và các liên ngành như giáo dục đặc biệt về thái độ của nhân viên, những khó khăn và những yếu tố tác động đến thái độ của họ với nghề Đồng thời, cung cấp cho các tổ chức đào tạo một số kiến thức cần thiết xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nhân viên CTXH Giúp điều chỉnh, bổ sung các học phần trong việc xây dựng chương trình đào tạo ngành Công tác xã hội với TTK Tư liệu này giúp các gia đình, cha mẹ có con là TTK hiểu thêm về hoạt động can thiệp này tại các trung tâm và trường chuyên biệt Mặt khác, kết quả nghiên cứu giúp các nhà lãnh đạo hiểu hơn về thái
độ của nhân viên để tuyên truyền, giáo dục nhằm hình thành thái độ của họ tích cực hơn đối với hoạt động nghề Đây cũng là tư liệu bổ ích cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ngành CTXH trong lĩnh vực trợ giúp các đối tượng yếu thế Kết quả nghiên cứu sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các nhân viên CTXH
để điều chỉnh thái độ của mình trong quá trình trợ giúp TTK
Trang 177 Cấu trúc của luận án
Ngoài một số phần như mở đầu, danh mục các công trình đã công bố, tài liệu tham khảo, kết luận, kiến nghị thì luận án gồm các chương sau:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
Trang 18Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
TRỢ GIÚP TRẺ MẮC HỘI CHỨNG TỰ KỶ
1.1 Nghiên cứu về thái độ và thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp
1.1.1 Hướng nghiên cứu về thái độ
1.1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thái độ dưới các góc độ khác nhau Người đầu tiên nghiên cứu về thái độ là A.Ph Lagiurxki (1874 - 1917) Ông chủ yếu nghiên cứu các khái niệm thái độ chủ quan của con người đối với môi trường Các khái niệm đó được ông tổng kết trong các tác phẩm của mình như: Chương trình nghiên cứu nhân cách trong mối quan hệ với môi trường (1912), Tâm lý học đại cương và thực nghiệm (1912), Bút ký khoa học về tính cách (1916), Phân loại nhân cách (1917,1924) Theo ông, đời sống tâm lý thực của con người được chia làm hai lĩnh vực [dẫn theo 31]
- Thứ nhất là cái tâm lý bên trong: Là cái cơ sở bẩm sinh của nhân cách, bao gồm khí chất, tính cách và một loạt đặc điểm tâm lý khác
- Thứ hai là cái tâm lý bên ngoài: Là hệ thống thái độ của nhân cách với môi
trường xung quanh
Như vậy, theo ông thì thái độ là sự biểu hiện ra bên ngoài của cái tâm lý, phản ứng với các tác động của môi trường xung quanh Ông đặc biệt quan tâm đến thái
độ của con người đối với lao động, với nghề nghiệp, với sở hữu người khác và với
là các nhóm dân tộc mà còn mở rộng ra nhiều lựa chọn khác [dẫn theo 53] Năm
1928, Thurstone đề xuất phương pháp đo lường thái độ trái ngược với thang đo của Bogardus Năm 1932, Likert đã xây dựng thang đo thái độ, có thể yêu cầu khách
Trang 19phục được điểm yếu của thang đo Thurston, đó là tiết kiệm thời gian xây dựng thang đo nhưng vẫn đảm bảo được độ hiệu lực và độ tin cậy của thang đo [108] Hiện nay, thang đo Likert vẫn được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu tâm lý học và xã hội học Miaxisev, V.N lại đưa ra các thông số (hay còn gọi là chiều đo) của thái độ với các cấp độ khác nhau như tính tình thái, cường độ, tính cảm xúc,…[dẫn theo 58]
Nhìn chung, những nghiên cứu về thái độ từ cuối những năm 1950 đến nay tập trung ở các tác giả của các nước Phương Tây Các tác giả chủ yếu tập trung vào nghiên cứu định nghĩa thái độ, cấu trúc và chức năng của nó Tuy nhiên các nhà khoa học đã
có những bước tiến mới hơn và tiến bộ hơn khi nghiên cứu chúng Nhiều học thuyết mới được hình thành trong thời kỳ này nhằm phục vụ cho việc lý giải các mối quan hệ như học thuyết "tự thể hiện mình (Parye Beny)", học thuyết bất đồng nhận thức giữa thái độ và hành vi (Leon Festinger),các phương pháp nghiên cứu sự hình thành và thay đổi như thang đo thái độ (The F scale- thang đo F)
1.1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Ở nước ta, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề thái độ Hầu hết các quan điểm của các nhà tâm lý học Việt Nam đều xuất phát trên quan điểm tâm lý học hoạt động Có thể kể đến một số nhà tâm lý học có tên tuổi tại Việt Nam như như Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ… Đồng thời, thời gian gần đây, một
số các tác giả khác cũng đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ, công trình nghiên cứu khoa học về thái độ theo các khía cạnh khác nhau Dưới đây xin tổng quan một số công trình nghiên cứu về thái độ theo 3 hướng nghiên cứu chính sau đây:
* Hướng nghiên cứu về các mặt biểu hiện nhận thức- cảm xúc- hành vi của thái độ
Thái độ nói chung và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp
TTK nói riêng được cấu trúc bởi các thành phần khác nhau Nghiên cứu hướng này
có tác giả Phạm Minh Hạc và Phạm Thành Nghị (2007) nghiên cứu “Thái độ của
người dân đối với nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” đã tìm hiểu sự ủng hộ, quan
tâm của người dân đối với nền kinh tế thị trường Nghiên cứu đã dùng phương pháp điều tra WVS chỉ ra được sự tương quan về giới, vị trí xã hội, lứa tuổi, trình độ, thu nhập và vùng miền đối với thái độ ủng hộ như dân cư ở phía Bắc có thái độ tích cực hơn đối với nền kinh tế ở phía Nam [41]
Nghiên cứu về thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên đại học, Nguyễn Văn Long (2015) đã đề cập đến cấu trúc 3 mặt: Nhận thức, xúc cảm và hành vi Kết quả nghiên cứu cho thấy, thái độ học tập các môn lý luận chính trị của
Trang 20sinh viên đại học hiện nay được biểu hiện qua nhận thức, xúc cảm và hành động với mức độ không đồng đều, trong đó biểu hiện ở mặt nhận thức là tích cực nhất và biểu hiện ở mặt hành động là ít tích cực nhất Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ ra thái độ học tập các môn lý luận chính trị của sinh viên tại thời điểm nghiên cứu là chưa thực sự tích cực và không đồng nhất trên các mặt biểu hiện Mặt nhận thức trong thái độ học tập của sinh viên biểu hiện ở mức tích cực khá Mặt xúc cảm thể hiện ở mức độ trung bình Mặt hành động thể hiện ở mức tích cực thấp [32]
Cũng tương tự tác giả Nguyễn Văn Long, tác giả Nguyễn Thị Kim Anh (2015) cũng đề cập đến cấu trúc 3 mặt của thái độ: nhận thức xúc cảm và hành vi khi nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với phương pháp tổ chức giảng dạy môn giáo dục giới tính hiện nay Luận điểm chính của đề tài cho rằng học sinh có thái độ chưa tích cực đối với phương pháp tổ chức dạy môn giáo dục giới tính hiện nay và có sự khác nhau giữa các em học sinh nam và nữ [1] Bùi Thị Hồng Minh (2017) khi nghiên cứu về thái độ của cộng đồng đối với TTK đã chỉ ra rằng, thái độ tích cực được biểu hiện rõ rệt hơn ở mặt cảm xúc, mặt hành động có biểu hiện thấp nhất Điểm mạnh của nghiên cứu này là đã phân tích
ba mặt nhận thức, xúc cảm và hành vi ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực Ví dụ phân tích cảm xúc ở hai trạng thái tích cực và tiêu cực trên các mặt: khả năng tự phục vụ bản thân, khả năng nhận thức và học tập của TTK; khả năng giao tiếp Tuy nhiên, đề tài mới chỉ nghiên cứu đơn lẻ các trạng thái tích cực và chưa xây dựng thang đo về tính tích cực, tiêu cực cho cả 3 mặt nhận thức - thái độ - hành vi với các mức độ khác nhau [36]
Từ sự phân tích trên, luận án đánh giá, các công trình nghiên cứu về các mặt biểu hiện của thái độ đã có những đóng góp đáng kể về thái độ, cấu trúc thái độ, biểu hiện của thái độ đa dạng trong các lĩnh vực khác Tuy nhiên, hầu hết các công trình còn khoảng trống là chưa đề cập đến việc xây dựng mô hình các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến thái độ nói chung và đồng thời chưa khai thác nghiên cứu thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
* Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Liên (2009) nghiên cứu “Thái độ của cha mẹ đối
với con có hội chứng tự kỷ” Điểm mạnh của đề tài nghiên cứu chỉ ra được yếu tố
ảnh hưởng nhất đến thái độ của cha mẹ TTK là sự nhận thức không đúng và thiếu chính xác về bản chất tự kỷ của phần đông khách thể là cha mẹ TTK Tuy nhiên, đề
Trang 21động như thế nào đến thái độ của cha mẹ TTK [30]
Đỗ Thanh Hà (2013) thực hiện luận án “Thái độ kỳ thị của cộng đồng dân cư
đối với người nhiễm HIV/AIDS” Nghiên cứu chỉ ra rằng thực trạng thái độ kỳ thị của
những người nhiễm HIV ở Việt Nam trong xã hội rất đáng lưu tâm Tuy nhiên, nghiên cứu chưa chỉ ra được các biện pháp nâng cao kỹ năng hòa nhập của người nhiễm HIV và các giải pháp mang tính cộng đồng về phòng chống kỳ thị cụ thể [13, tr 15]
Tác giả Đỗ Thị Nga (2015) đã nghiên cứu về thái độ của học sinh trung học phổ
thông đối với hành vi bạo lực học đường Kết quả nghiên cứu cho thấy, về mặt nhận
thức học sinh đã có nhận thức tương đối đúng đắn trong đó nhận thức về mặt thể chất được học sinh nhận thức rõ nhất và có thái độ đúng đắn nhất Về mặt thái độ: học sinh tỏ thái độ cảm xúc tích cực với bạo lực thể chất và kinh tế và về mặt hành động của học sinh đa số thực hiện là thông báo với bạn bè Một bộ phận nhỏ học sinh kết thành phe phái Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ rõ yếu tố nhận thức của học sinh về bản chất của hành vi bạo lực học đường là yếu tố ảnh hưởng mạnh nhất Tuy nhiên, đề tài chưa làm rõ sự tương quan của các yếu tố này ảnh hưởng như thế nào đến thái độ của học sinh trung học phổ thông đối với vấn đề bạo lực học đường [39]
Như vậy, mặc dù các tác giả nghiên cứu thái độ trên các đối tượng khác nhau, cách tiếp cận vấn đề khác nhau nhưng đã đề cập đến các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến thái độ Tuy nhiên, còn một số công trình chưa làm rõ yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ của khách thể nghiên cứu Do đó, trong luận
án này sẽ tập trung tìm hiểu nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK và đo lường yếu tố chi phối mạnh nhất đến thái độ này
* Hướng nghiên cứu về các biện pháp nâng cao thái độ tích cực
Trong luận án “Thái độ đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên
cao đẳng sư phạm” của tác giả Nguyễn Thị Thúy Hường (2007) đã đưa ra được các
luận điểm chính như đa số sinh viên sư phạm chưa có những biểu hiện tích cực đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Điểm mạnh của nghiên cứu là đã đề xuất được hệ thống các biện pháp sư phạm cụ thể tác động đến từng mặt của thái độ sinh viên với hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm như các biện pháp về đổi mới kế hoạch, chương trình, nội dung, hình thức, cách đánh giá và xây dựng được quy trình rèn luyện các kỹ năng sư phạm chủ yếu cho người giáo viên để hình thành thái độ tích cực và đã chứng minh được tính hiệu quả và khả thi của biện pháp Tuy nhiên, luận án còn chưa chặt chẽ trong việc tính tương quan giữa yếu tố là nguyên nhân
Trang 22ảnh hưởng quyết định đến thái độ rèn luyện như ý thức của sinh viên về mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc rèn luyện và động cơ nghề nghiệp, lòng yêu nghề của sinh viên [21]
Tác giả Nguyễn Phương Lan (2014) với luận án “Trở ngại tâm lý trong thái độ
của học sinh trung học cơ sở đối với môn học giáo dục giới tính” Theo tác giả biện
pháp nâng cao thái độ của học sinh đối với giáo dục giới tính thì “đổi mới quan trọng nhất trong việc giáo dục cho trẻ là cha mẹ, và người thân Với công trình nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đã chỉ ra được những mặt mạnh, mặt yếu của việc các em học sinh tiếp cận khoa học về giáo dục giới tính, những hạn chế tâm lý
và cũng đưa ra được những khuyến nghị góp phần làm tăng hiệu quả nhận thức cho các em Khoảng trống của công trình nghiên cứu này mới chỉ ra được những rào cản tâm lý về phía gia đình chứ chưa nêu ra được những rào cản tâm lý đến từ nhà trường, đặc biệt là các thầy cô giáo Chẳng hạn như thái độ của các giáo viên khi giảng dạy môn này như thế nào, cách thức truyền đạt ra sao… đó cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng tiếp thu kiến thức của các em [28]
Đánh giá: Phân tích các công trình nghiên cứu ở trên cho thấy, những nghiên
cứu này bước đầu đã chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ, phân tích được các mặt biểu hiện của thái độ cơ bản trên ba thành phần nhận thức- tình cảm- hành
vi Đồng thời, các công trình cũng đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ dựa vào các khía cạnh Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu thái độ ở các đối tượng khác nhau mà chưa nghiên cứu thái độ làm việc của nhân viên CTXH có phù hợp với công việc và vai trò hỗ trợ TTK hay không Mặt khác các nghiên cứu chưa đi sâu nghiên cứu giải pháp nâng cao thái độ dựa vào xây dựng quy trình tập huấn kỹ năng
hỗ trợ TTK Luận án này sẽ tìm hiểu thái độ của nhân viên CTXH có phù hợp với hoạt động hỗ trợ TTK hay chưa trên ba yếu tố: Nhận thức- tình cảm- hành vi Từ đó
đề xuất biện pháp xây dựng quy trình tập huấn kỹ năng can thiệp TTK cho nhân viên CTXH nhằm nâng cao thái độ tích cực cho nhân viên
1.1.2 Hướng nghiên cứu về thái độ của nhân viên công tác xã hội đối với hoạt động nghề nghiệp
1.1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Thái độ đối với hoạt động nghề trong các lĩnh vực khác nhau đã được các nhà Tâm lý học quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về thái độ đối với một số hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH còn khá hiếm Trên cơ sở
Trang 23tìm hiểu các tư liệu, luận án tổng hợp một số công trình nghiên cứu về thái độ đối với hoạt động nghề nghiệp theo một số hướng dưới đây:
* Hướng nghiên cứu cảm xúc và sự hài lòng với công việc
Hướng nghiên cứu về thái độ hài lòng với nghề nghiệp tiêu biểu có một số tác giả như: Victor Vroom; Rean A.A; Lise M Saari, Timothy A Judge Tác giả Rean A.A (1988) đã phân tích tâm lý vấn đề thỏa mãn nghề được chọn của thanh niên Liên Xô và Tiệp Kết quả cho thấy, thanh niên ở hai nơi có sự thỏa mãn với nghề khác nhau như Liên Xô có 34.8% thanh biên vẫn lựa chọn nghề cũ, còn ở Tiệp chiếm 64.8% Sự thỏa mãn này được các nhà nghiên cứu lý giải do các yếu tố khác nhau tác động Tiêu biểu là nhà nghiên cứu Victor Vroom (1966) cho rằng yếu tố khuyến khích, động viên người lao động là một yếu tố ảnh hưởng lớn đến thái độ thỏa mãn Yếu tố này tỷ lệ nghịch với tỷ lệ bỏ việc của người lao động mặc dù nó không phải là yếu tố duy nhất [122] Bổ sung cho quan điểm này, tác giả Turner và Lawrence (1965), đã cho rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động trong công việc Trong đó tác giả chỉ ra yếu tố nhận thức của người quản lý tác động không nhỏ tới thái độ tích cực hoặc tiêu cực của người lao động Bên cạnh đó còn
có các yếu tố môi trường, văn hóa tổ chức, tính chất công việc là các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng nói riêng và thái độ làm việc nói chung của người lao động Tác giả chỉ
ra mối quan hệ giữa cảm xúc và hiệu quả công việc bằng một nhận định: “Một người lao động vui vẻ là một người làm việc hiệu quả” [107, tr 62]
Theo hướng này có một số nhà Tâm lý học Xô Viết đã đề cập đến vấn đề Tâm lý học trong lao động như về định hướng cuộc sống trong lao động của các nhóm khách thể ở các lứa tuổi khác nhau đặc biệt là lao động ở lứa tuổi thanh niên Theo hướng này tiêu biểu có tác giả Buriak V.K (1991) Ông nghiên cứu các yêu cầu đối với lao động của độ tuổi thanh niên trong các trường nghề Kết quả có khoảng 14 yêu cầu đối với công việc như phù hợp với năng lực sở trường, có điều kiện phát triển năng lực, đảm bảo khả năng sáng tạo, tính hấp dẫn của công việc… [84]
Nghiên cứu về thái độ hài lòng của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp các đối tượng, nghiên cứu của tác giả Lise M Saari, Timothy A Judge (2004) tại Mỹ chỉ ra rằng, cảm xúc hài lòng của nhân viên CTXH trong công việc có mối liên quan với cảm xúc hài lòng trong cuộc sống Nghiên cứu cũng chỉ ra có khoảng 68% nhân viên CTXH có mối liên quan cảm xúc công việc họ đang làm với cuộc sống hàng ngày của họ; 20% cho rằng công việc và cuộc sống không liên quan và 12% còn lại không hài lòng về công việc và họ bù đắp bằng cách tìm kiếm các niềm vui khác trong đời sống hàng ngày của họ [106, tr 46]
Trang 24Khi xem xét về cảm xúc của nhân viên CTXH với hoạt động CTXH, tác giả Morales S.A & Shaefor W (1987), cho rằng: "CTXH về bản chất là khó khăn Vì họ phải đối phó với các tình huống khó khăn trong công việc và liên quan đến việc ra quyết định về cuộc sống của các thân chủ Áp lực của họ trong công việc tăng vì sự thay đổi liên tục trong chính sách và truyền thông đại chúng tiêu cực" [113, tr74] Tuy nhiên, họ lại thường che giấu cảm xúc, ít khi thể hiện những trạng thái tiêu cực như mệt mỏi, than phiền ra với mọi người vì họ sợ bị đánh giá như thế là yếu đuối
Họ tự mặc định nhân viên CTXH phải là người có cảm xúc luôn phải lạc quan mới
có thể trợ giúp cho đối tượng và đó là lý do bản thân họ khó khăn để thể hiện yêu cầu được người khác trợ giúp Chính vì thế, những cảm xúc tiêu cực liên quan đến những áp lực nghề nghiệp càng khó được giải tỏa và sẽ có xu hướng tác động tiêu cực lên sức khỏe và năng lực thực hành của nhân viên CTXH
Cùng với hướng nghiên cứu này, chuyên gia Adrea Warman & Andres Pena
(2016) cũng cho rằng: "Nhân viên CTXH được đào tạo để đương đầu với những
thách thức trong công việc, tuy nhiên nó chả là gì cả khi họ có được sự kiểm huấn từ nhà quản lý." Bà cho rằng biện pháp để giúp nhân viên CTXH đối diện được với
những thách thức là kiểm huấn Một mô hình mà bà khám phá là tiến hành các buổi
thảo luận nhóm đều đặn được hướng dẫn bởi một nhà tâm lý học "Nó cho thấy đã
khuyến khích sự tự tin về chuyên môn và cải thiện việc ra quyết định" Một số ca
kiểm huấn cho nhân viên CTXH bị quá tải cảm xúc đã được phân tích để cho thấy tính hiệu quả của mô hình này [80, tr 26]
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về thái độ hài lòng của nhân viên CTXH đối với hoạt động này, kết quả của những nghiên cứu về thái độ và sự hài lòng trong công việc trước đây đã chỉ ra rằng một người nhân viên CTXH nếu hài lòng với công việc sẽ có thái độ tích cực hơn Họ tuân thủ nội quy, tích cực học hỏi và trợ giúp đối tượng Ngược lại, nếu không hài lòng với công việc sẽ thường hay bỏ việc hoặc vắng mặt hơn so với những người hài lòng Những người không hài lòng với công việc cũng thường liên quan đến các hành vi sa sút như bất bình, không tuân thủ nội quy cơ quan, đi trễ, đôi khi
sử dụng chất kích thích như rượu bia và hay nghỉ việc, bỏ việc
Tuy nhiên, nguồn tài liệu luận án này tiếp cận được về thái độ của nhân viên CTXH với hoạt động trợ giúp còn nhiều hạn chế Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào khía cạnh cảm xúc và mức độ thỏa mãn, hài lòng trong công việc của nhân viên CTXH Luận án chưa tiếp cận được nhiều công trình nghiên cứu ngoài nước về thái
độ của nhân viên đối với hoạt động nghề CTXH và thái độ của nhân viên CTXH
Trang 25đối với hoạt động hỗ trợ TTK tiếp cận phân tích ở trên cả 03 bình diện: Nhận thức, tình cảm và hành vi
* Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ nghề nghiệp
Thái độ của người lao động đối với nghề bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác nhau Đại diện cho hướng nghiên cứu này bao gồm các nhà khoa học như: Barnard (1983); Simon (1947); Tunner và Lawren (1965); Victor Vroom (1966); Rohan; Zanna (1996); Gerber (2010) Các tác giả nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ hoạt động nghề hoặc chất lượng công việc
Các nhà nghiên cứu tâm lý học đặt ra câu hỏi: Tại sao người làm việc tỏ ra bất bình? Họ có thỏa mãn trong công việc hay không? Liệu rằng thái độ của họ có ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc hay không? Những yếu tố nào đã tác động đến thái độ của họ? Đã có nhiều nhà tâm lý học nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến thái độ nghề nghiệp sau đó Một số tác giả đã lý giải về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ với nghề như:
Turner và Lawrence (1965) nghiên cứu những nhân tố cá nhân ảnh hưởng đến chất lượng công việc như tinh thần trách nhiệm, tính tự chủ, nghiên cứu về khả năng đáp ứng nhu cầu nghề và đưa ra các chỉ số về những yêu cầu nghề nghiệp RIA (Requi Task Attubute) chỉ số này rất thấp với các nghề đơn giản Tuy nhiên, với những nghề phức tạp, yêu cầu người lao động cần có kiến thức thức, kỹ năng cao hơn thì chỉ số RTA cao hơn Hai ông cho rằng, RTA tỉ lệ thuận với sự thoả mãn nghề nghiệp và tỉ lệ nghịch với sự vắng mặt trong công việc Nghiên cứu này được thực hiện trên hai nhóm công nhân ở thành phố và nông thôn theo đạo hồi cho thấy:
Số công nhân ở thành phố tỏ ra thỏa mãn với công việc cao hơn và ít vắng mặt hơn
so với công nhân ở nông thôn [107]
Barnard (1983); Simon (1947) trong công trình nghiên cứu của mình đã tìm
ra những yếu tố góp phần tạo ra thái độ nghề nghiệp tích cực và tạo ra thái độ hài lòng thỏa mãn nghề Ông đã nghiên cứu những yếu tố tạo ra sự hấp dẫn thu hút người lao động trong công việc và đưa ra thuyết hấp dẫn Theo thuyết này, các yếu
tố hấp dẫn với sự làm việc tạo cho con người thái độ nghề nghiệp tích cực, yên tâm, thỏa mãn với công việc làm như: Mức lương, sự đánh giá đúng về cá nhân, thừa nhận uy tín và những giá trị cá nhân của họ [117]
Marlies Maes, Janne Vanhalst, Annette W M Spithoven (2016) đã đưa ra kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới thái độ nghề gồm 04 biến số cơ bản là: 1/ Những yếu tố trực tiếp do công việc đem lại như thu nhập; tiền lương; tiền
Trang 26thưởng, trợ cấp; tập thể nơi làm việc; vị trí của họ trong tổ chức; đóng góp uy tín của họ với tổ chức làm việc 2/ Cảm xúc thích thú, hài lòng hoặc chán ghét ở mức nào đối với công việc 3/Sự đánh giá của người lao động đối với tổ chức 4/ Sự đánh giá của tổ chức với người lao động
Đối với người có thái độ tích cực thì 4 biến số trên sẽ tỉ lệ thuận với thái độ nghề nghiệp; còn những người có thái độ thờ ơ thì quy luật trên không đúng Và những người chán nghề có thái độ tiêu cực thì quy luật trên bị đảo ngược [110 , tr 70]
Nhìn chung, các tác giả cho rằng thái độ ảnh hưởng nhiều từ động cơ Các công trình nghiên cứu đã chỉ ra được hệ thống động cơ tích cực như nhận thức về ý nghĩa của nghề, giá trị nghề nghiệp,…ảnh hưởng tới tính tích cực học tập cao, độc lập chủ động trong hoạt động, tích cực hoạt động xã hội Bên cạnh đó có các động
cơ tiêu cực như các động cơ kích thích bên ngoài gắn với những khó khăn trong hoạt động, bên cạnh đó còn có những động cơ pha tạp đặc biệt cho những người hoạt động tích cực trung bình Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ra mối liên hệ giữa sự thỏa mãn nghề và kết quả công việc hoặc gắn bó với công việc trong tương lai Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa chỉ ra được các biểu hiện của thái độ trong các hoạt động nghề nghiệp này như thế nào
1.1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nhân viên CTXH có vai trò quan trọng trong việc trợ giúp những đối tượng yếu thế trong xã hội nói chung và trẻ mắc hội chứng tự kỷ nói riêng Vì công tác xã hội
là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực, đáp ứng nhu cầu và tăng chức năng xã hội Đồng thời thúc đẩy về môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình cộng đồng phòng ngừa các vấn đề xã hội, đảm bảo an sinh xã hội Có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến vai trò của nhân viên CTXH trong các hoạt động trợ giúp các đối tượng khác nhau như trẻ em, trẻ em thiệt thòi, phụ nữ, người nghèo, người cao tuổi, người nhiễm HIV, người khuyết tật, người nghiện ma túy…trong đó phải kể đến một số các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
Tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển Radda Barnen và Ủy ban bảo vệ trẻ em Việt Nam (2000) trong giáo trình Công tác xã hội với trẻ em làm trái pháp luật đề cập đến nhiệm vụ trợ giúp của nhân viên CTXH với đối tượng này như vai trò, trách nhiệm của cán bộ làm công tác xã hội với trẻ em; các phương pháp tiếp cận và kỹ năng công tác xã hội với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em làm trái pháp luật; các phương pháp phòng ngừa và tái hòa nhập cộng đồng; các dịch vụ xã
Trang 27hội cho trẻ trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và kế hoạch hành động trong công tác
xã hội với trẻ em [66, tr 24]
Tác giả Trần Thị Minh Đức (2010) cho rằng để thực hiện công việc tham vấn cho các đối tượng, nhân viên CTXH cần có 06 kỹ năng tham vấn cơ bản như: Kỹ năng lắng nghe; đặt câu hỏi, khai thác cảm xúc hành vi của đối tượng, kỹ năng thấu cảm với hình thức phiếu trưng cầu ý kiến, dàn ý phỏng vấn sâu dành cho cán bộ xã hội Đây cũng là một nghiên cứu và thực hành công tác xã hội [9]
Đề án 32 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội (2012) đã phân định rõ các vai trò trợ giúp của nhân viên CTXH với người cao tuổi như nhân viên CXTH phải
là người điều phối và kết nối nguồn lực, người tạo môi trường thuận lợi cho người cao tuổi, người đánh giá giám sát, trợ giúp biện hộ, giáo dục và là người tạo khả năng cho người cao tuổi Đồng thời hướng dẫn tiến trình trợ giúp người cao tuổi từ khâu tiếp cận, xác định vấn đề đến lượng giá Đây là tài liệu tập huấn nghề rất thiết thực cho nhân viên CTXH trong lĩnh vực trợ giúp người cao tuổi [68]
Tác giả Bùi Thị Xuân Mai (2012) đánh giá vai trò trợ giúp của nhân viên CTXH trong việc giảm kỳ thị của xã hội và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV; kết nối y tế và pháp luật; truyền thông cộng đồng về phòng tránh lây nhiễm HIV;…[35]
Với nghiên cứu “Thái độ xã hội với người đồng tính” của Viện nghiên cứu Xã hội, kinh tế, môi trường (iSEE, 2012) đã đưa ra kết quả nhận thức của cộng đồng về vấn đề này còn rất thấp, họ chưa hiểu đúng về nguyên nhân đồng tính Tương ứng với sự hiểu biết này thì có một số khách thể kỳ thị người đồng tính ở mọi khía cạnh Nghiên cứu cũng chỉ ra giải pháp làm giảm thái độ kỳ thị xã hội thông qua việc đẩy mạnh vai trò của nhân viên xã hội tại các địa phương, tăng cường truyền thông tại cộng đồng
Nghiên cứu về vai trò của nhân viên CTXH trong hoạt động trợ giúp đối tượng
là người khuyết tật, Nguyễn Thị Kim Hoa (2014) đã đề cập đến vai trò của nhân viên CTXH trợ giúp người khuyết tật phục hồi chức năng để hòa nhập cộng đồng nhân viên CTXH có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch can thiệp và trị liệu hỗ trợ cá nhân, làm việc với gia đình người khuyết tật, làm việc nhóm, đánh giá, huy động nguồn lực, biện hộ và xây dựng mạng lưới cộng đồng Đồng thời nhân viên CTXH tiến hành quản lý các trường hợp người khuyết tật tại địa phương Tài liệu bổ ích cho những nhân viên CTXH đang làm công việc trợ giúp người khuyết tật và những nhà nghiên cứu [18]
Trang 28Nhìn chung, các tài liệu trên đề cập đến vai trò trợ giúp cuả nhân viên CTXH với các đối tượng yếu thế khác nhau Tùy vào mỗi đối tượng, nhân viên CTXH có các vai trò trợ giúp riêng và thực hành các kỹ năng CTXH riêng biệt Các tài liệu rất hữu ích giúp những nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng quát về vai trò trợ giúp của nhân viên CTXH với các đối tượng yếu thế trong xã hội
1.2 Hướng nghiên cứu về thái độ đối với một số đối tượng có vấn đề cần trợ giúp trong xã hội và trẻ mắc hội chứng tự kỷ
1.2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Những công trình nghiên cứu hướng này tập trung vào nghiên cứu thái độ nghề nghiệp đối với các đối tượng có vấn đề cần sự trợ giúp xã hội như thái độ trong trợ giúp người nhiễm hội chứng virut suy giảm miễn dịch ở người (HIV), thái độ trong hoạt động trợ giúp người khuyết tật; hoặc trợ giúp các đối tượng xã hội yếu thế khác như người tâm thần, người đồng tính, trẻ em lang thang,…
Tác giả Kolvin, I (1971) đã nghiên cứu thái độ trợ giúp các đối tượng có vấn đề
về sức khỏe tâm thần Dựa trên phân loại của cách tiếp cận y sinh, ông xem xét các vấn đề tâm lý như tập hợp các hành vi, cảm xúc và suy nghĩ kém thích nghi và gây đau khổ, khác biệt mang tính định tính với hành vi đặc trưng Bên cạnh đó, với cách tiếp cận thực chứng tác giả theo quan điểm tâm lý học xã hội nhìn nhận sức khỏe tâm thần như một phổ liên tục Việc nhận diện các vấn đề sức khỏe tâm thần dựa trên những vấn đề đang tồn tại của cộng đồng đó Có một phương pháp để phục hồi chức năng cho người có vấn đề về sức khỏe tâm thần là dựa vào cộng đồng Sự phối hợp của các nhân viên y tế và cộng đồng tại địa phương trong đó thái độ hợp tác và
có thiện chí là yếu tố quyết định cho sự tiến triển chăm sóc sức khỏe người bệnh tâm thần [104]
Nhóm tác giả K.Peltezer, E Nzewi, E.K Mohan (2004) đã phân tích sự ảnh hưởng của thái độ nhân viên xét nghiệm đến việc phát hiện và điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV Thái độ kỳ thị của nhân viên sẽ làm giảm sự tự nguyện đi làm xét nghiệm HIV Kết quả phân tích hồi quy của công trình cho thấy, thái độ tích cực trợ giúp xét nghiệm có liên quan đến thái độ tích cực khi được yêu cầu tiếp xúc với bệnh nhân HIV [114, tr108]
Nghiên cứu của hai tác giả Addin Enreflist abbott và S Mocconkey (2006) đã chỉ ra rào cản thái độ của những người làm công tác giáo dục và những chính sách tại địa phương là một trong những yếu tố khiến người khuyết tật trí tuệ khó hòa nhập cộng đồng Công trình đưa ra nhận định, nếu thái độ trợ giúp của các nhân
Trang 29viên giáo dục cởi mở, tận tâm sẽ hỗ trợ cho người khuyết tật trí tuệ có thể lĩnh hội được nền văn hóa một cách từ từ và họ có khả năng tham gia vào các hoạt động xã hội ở mức độ khuyết tật nhẹ và vừa [77, tr32]
Hall, SA (2010) khi tìm hiểu về sự hòa nhập xã hội của những trẻ em mắc những hội chứng thiểu năng trí tuệ thông qua những kinh nghiệm của họ cũng đã chỉ ra yếu tố thái độ trợ giúp của những người làm công tác xã hội tại địa phương sẽ giúp cho trẻ em sớm hòa nhập Thông qua việc nhân viên CTXH thực hiện vai trò kết nối nguồn lực giữa gia đình - nhà trường và các tổ chức y tế, chính sách [96]
* Hướng nghiên cứu về thái độ đối với hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ
Trên thế giới, các nghiên cứu về trợ giúp TTK tập trung vào việc nghiên cứu thái độ của cộng đồng, giáo viên can thiệp, hiệu trưởng trường tiểu học hòa nhập và người chăm sóc TTK đối với việc trợ giúp TTK hòa nhập cộng đồng Phải kể đến một vài công trình tiêu biểu như:
Nhóm tác giả Simon (1947) đã tiến hành nghiên cứu tìm hiểu thái độ của người lớn và trẻ em với các trẻ em khuyết tật nói chung trong đó có TTK Nghiên cứu cũng chỉ ra trẻ em thường có thái độ xa lánh TTK hơn người lớn do trẻ em chưa nhận thức về hội chứng này Kết quả cũng chỉ ra trẻ em và người lớn đều cho rằng TTK là những trẻ không giống họ, không bình thường do TTK có những biểu hiện hành vi, cách thức giao tiếp, nhận thức và rối nhiễu khác biệt hơn so với những trẻ bình thường [117, tr 103]
Tác giả Campbell, Jonathan M (2005) đã thực hiện một nghiên cứu xã hội về vị trí xã hội nhằm xác định thái độ kỳ thị hay xa lánh có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động học tập hoà nhập cùng TTK Ông chỉ ra rằng, trong trường học, những nhóm trẻ nhận được thái độ khác nhau sẽ có sự tác động không như nhau đến TTK Những đứa trẻ trong nhóm hay quậy phá, bị bạn bè có xa lánh thường sẽ có thái độ tiêu cực hơn với TTK Còn nhóm trẻ chăm ngoan, có thành tích học tập tốt và có kiến thức hiểu biết về TTK sẽ có thái độ cư xử với TTK không khác biệt với trẻ bình thường khác [86]
Nghiên cứu về hoạt động trợ giúp TTK hòa nhập cộng đồng thông qua việc hòa nhập giáo dục Nhóm tác giả Horrocks, J.L, White, G, Roberts, L.(2008) đã nghiên cứu thái độ của hiệu trưởng với việc hòa nhập của TTK Một trong những xu hướng tiêu cực làm rào cản cho việc trợ giúp TTK hòa nhập giáo dục khi hiệu trưởng có thái độ không tin tưởng vào khả năng nhận thức của TTK Họ cho rằng, TTK không thể tham gia học tập với những trẻ em bình thường vì khả năng tiếp thu của TTK có
Trang 30nhiều hạn chế Ngược lại, một số ít hiệu trưởng có thái độ tích cực, có niềm tin vào khả năng và sự tiến bộ của TTK [100, tr108]
Cùng xu hướng nghiên cứu này, tác giả Gregor, E.M & Campbell, E (2011) đã nghiên cứu thái độ của giáo viên trong các trường tiểu học đối với việc trợ giúp TTK hòa nhập giáo dục Nghiên cứu đã cho thấy đại đa số giáo viên có thái độ âm tính đối với hoạt động giáo dục hòa nhập cho TTK Do họ không tin tưởng vào khả năng tự giải quyết vấn đề của TTK như họ cho rằng TTK không thể lĩnh hội các kiến thức các môn khoa học hoặc xử lý tình huống cá nhân Chỉ có một số giáo viên
có kinh nghiệm và giáo viên giáo dục đặc biệt thì có thái độ tích cực và chấp nhận TTK hơn trong hoạt động giáo dục hòa nhập [95, 102]
Nhìn chung, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu của các tác giả khác nhau nghiên cứu về thái độ đối với TTK và hoạt động trợ giúp TTK Các nghiên cứu này tập trung vào các hướng nghiên cứu như thái độ kỳ thị của cộng đồng, thái độ trợ giúp của các tổ chức khác nhau dành cho đối tượng TTK đặc biệt là các tổ chức giáo dục với hoạt động trợ giúp TTK hòa nhập cộng đồng Các nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, nếu các đối tượng có thái độ thiếu tích cực đối với TTK sẽ tạo ra hậu quả như sự kỳ thị, xa lánh và TTK sẽ không nhận được sự trợ giúp tích cực, khó tiến bộ để hòa nhập và ngược lại Các nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ của các nhân và cộng đồng đối với TTK Từ kết quả này đã mở ra hướng nghiên mới về thái độ trợ giúp của các cá nhân và tổ chức cho TTK tại Việt Nam
1.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu về hoạt động trợ giúp TTK của nhân viên CTXH tại Việt Nam đã
có một vài công trình nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Văn Thủy, Nguyễn Thị Kim Quý (2011), Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013), Nguyễn Thị Thanh (2014), Phạm Toàn và Lâm Hiểu Minh (2015)… các công trình này xem xét hoạt động trợ giúp TTK của nhân viên CTXH ở các khía cạnh khác nhau Tổng hợp các công trình nghiên cứu theo hướng này có một số các công trình tiêu biểu như:
Nhóm tác giả Nguyễn Văn Thủy, Nguyễn Thị Kim Quý (2011) với cuốn sách
“Hỗ trợ kiến thức về chăm sóc và giáo dục trẻ mắc hội chứng tự kỷ” đã cung cấp
cho người đọc kiến thức khái quát về hội chứng tự kỷ, cách hiện sớm, can thiệp hành vi cho TTK Bên cạnh đó, tác giả hướng dẫn nhân viên can thiệp các kỹ năng phát triển ngôn ngữ và giao tiếp, tăng cường kỹ năng xã hội và cách hỗ trợ TTK kỹ năng tự chăm sóc Tài liệu cung cấp kiến thức rất hữu ích cho nhân viên CTXH trong việc trợ giúp can thiệp TTK [56]
Trang 31Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến (2013) đã đề cập nhiều phương pháp phát
hiện sàng lọc, chẩn đoán và đánh giá mức độ TTK Với cuốn sách: “Tự kỷ - những
vấn đề lí luận và thực tiễn” tác giả đã cung cấp cho độc giả các kiến thức cơ bản về
dấu hiệu nhận biết và các phương pháp can thiệp TTK Trên cơ sở đó đưa ra các chương trình can thiệp của nhân viên CTXH, giáo dục và trị liệu có hiệu quả cho TTK [75, tr 42]
Tác giả Đào Thị Thu Thủy (2014), với nghiên cứu điều chỉnh hành vi ngôn ngữ cho TTK 3-6 tuổi dựa vào bài tập chức năng đã đưa ra các quy trình điều chỉnh hành vi ngôn ngữ cho TTK, xây dựng và thiết kế các nhóm bài tập cá nhân điều chỉnh hành vi ngôn ngữ, xây dựng nhóm biện pháp hỗ trợ nhân viên CTXH và phụ huynh điều chỉnh hành vi ngôn ngữ cho TTK [54, tr 18]
Nguyễn Thị Thanh (2014) nghiên cứu phương pháp trợ giúp TTK theo hướng tiếp cận phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Tác giả nhấn mạnh đến biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp cho TTK từ 3-4 tuổi bằng việc sử dụng phương pháp TEACCH can thiệp TTK tại nhà Nhân viên CTXH sẽ hỗ trợ gia đình TTK thực hiện các bài tập can thiệp hành vi, ngôn ngữ,… Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện hành vi, kỹ năng giao tiếp của TTK [49]
Tác giả Phạm Toàn và Lâm Hiểu Minh (2015) với cuốn sách “Thấu hiểu và
hỗ trợ TTK- cẩm nang bạn đồng hành với TTK” Tác giả cung cấp những kiến thức
để giải mã để thấu hiểu trẻ tự kỷ và đưa ra các quan niệm và kỹ thuật điều trị bệnh
tự kỷ Đặc biệt, nhóm tác giả cũng đưa ra cách thực hành điều trị bệnh tự kỷ Trong phần này, không chỉ có các kỹ thuật điều trị, kỹ thuật huấn luyện TTK về khả năng chú ý, về ngôn ngữ, về động cơ phát triển… mà nhóm tác giả còn đưa ra những thông tin và hướng dẫn về người điều trị trực tiếp cho trẻ là cha mẹ hay người chăm sóc, bác sĩ chuyên khoa tâm thần, nhà tư vấn tâm lý, các thầy cô giáo… tinh thần xuyên suốt của nhóm tác giả cho rằng, việc có một thái độ đúng đắn với TTK bao giờ cũng là điều vô cùng quan trọng để giúp TTK hòa nhập [48]
Tác giả Nguyễn Hiệp Thương (2016) cho rằng nhân viên CTXH muốn trợ giúp TTK cần có các kỹ năng tham vấn cơ bản như: Kỹ năng Thiết lập mối quan hệ, lắng nghe, thấu hiểu, kỹ năng hỏi và phản hồi Nghiên cứu cũng đề cập đến các yêu cầu phẩm chất đạo đức, kiến thức và kỹ năng của nhân viên CTXH như yêu nghề,
có tính cảm thông, có tính kiên nhẫn, lòng vị tha hoặc có những kiến thức về chính sách, về hành vi ứng xử, có các kỹ năng tư vấn, lắng nghe tích cực, giải quyết vấn
đề, kỹ năng giao tiếp, kiểm soát cảm xúc,…[59]
Trang 32Tác giả Hứa Tịnh (2019), với cuốn sách “Sống vui cùng con tự kỷ” tác giả đã
cung cấp cái nhìn về những tâm tình của những bậc cha mẹ có con bị mắc hội chứng tự
kỷ, những khó khăn vất vả cha mẹ phải trải qua Bên cạnh đó, công trình đã phân tích
về những vai trò của người giáo viên trong can thiệp cho TTK, đưa ra 26 bài hướng dẫn về cách sử dụng những phương pháp can thiệp cho TTK khác nhau Cuốn sách cung cấp các thông tin bổ ích cho phụ huynh và nhân viên can thiệp TTK [61]
Nhìn chung, các tác giả các tài liệu cũng như các nghiên cứu đã khái quát được về hoạt động trợ giúp của nhân viên CTXH với TTK ở nhiều khía cạnh khác nhau Các công trình đã chỉ ra một vài yêu cầu cần có về kiến thức, kỹ năng, một số phương pháp can thiệp trong trợ giúp TTK Tuy nhiên, khoảng trống của các công trình là chưa cung cấp một cái nhìn khái quát về hoạt động trợ giúp TTK, chưa tìm hiểu chi tiết về đặc điểm tính chất đặc thù của công việc này, đồng thời các công trình nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH với hoạt động trợ giúp TTK còn chưa nhiều Luận án mong muốn sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và phân tích thêm một vài yếu tố để bổ sung thêm lý luận và thực trạng về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Qua việc tổng quan các công trình trong, ngoài nước về thái độ nghề nghiệp
và thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK có thể rút ra một
số luận điểm chính sau:
Từ góc độ tâm lý học, trên thế giới vấn đề thái độ và thái độ nghề nghiệp đã có nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến Nhìn chung, các nghiên cứu đi trước đã tiếp cận vấn đề từ các góc độ khác nhau như: Mức độ biểu hiện, cấu trúc, bản chất, các mối quan hệ của các yếu tố tác động đến thái độ Kết quả của các công trình này đã cung cấp hệ thống lý luận khái quát về thái độ nghề nghiệp ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau
Tuy nhiên chưa có nhiều công trình tìm hiểu về thái độ nghề nghiệp trong lĩnh vực trợ giúp TTK của nhân viên CTXH Điều này khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu sâu hơn về thái độ đối với hoạt động này nhằm giúp TTK được can thiệp, hòa nhập xã hội
Trang 332.1.1 Khái niệm thái độ
Thái độ là khái niệm được nhiều nhà khoa học tâm lý trên thế giới và Việt nam quan tâm nghiên cứu Mỗi tác giả đưa ra các khái niệm, xem xét bản chất của thái độ ở các góc độ khác nhau Do đó, muốn hiểu rõ bản chất của khái niệm này,cần xem xét nó ở nhiều khía cạnh khác nhau như:,
Một số nhà nghiên cứu xem xét thái độ như một trạng thái tâm lý thể hiện sự phản ứng tích cực hay không tích cực Quan điểm này có các tác giả tiêu biểu như Craighead, W.E & Nemeroff, C.B (2004), G.V.Onparete, Lê Văn Hảo và KnudLarsen, H Fillmore, Vũ Dũng
Nhóm tác giả Craighead, W.E & Nemeroff, C.B (2004) cho rằng: “Thái độ là
khuynh hướng phản ứng một cách tích cực hay không tích cực với một sự vật, người,
tổ chức hay sự kiện Vì không thể quan sát được thái độ nên chỉ có thể đoán được thái
độ từ những phản ứng (có thể đo được) tích cực hay không tích cực đối với đối tượng nào đó Có thể hỏi trực tiếp thái độ của một người bằng cách yêu cầu người đó đánh giá đối tượng là tốt hay xấu hoặc đánh giá mức độ yêu thích của họ với nó Hoặc cũng có thể suy luận ra thái độ một cách gián tiếp từ phản hồi nhận thức hoặc niềm tin (thể hiện nhận thức, hiểu biết của cá nhân và đối tượng của thái độ), phản hồi cảm xúc (cảm xúc đối với sự vật) và phản hồi hành động (xu hướng hành vi và hành vi đối với sự vật)” Qua khái niệm này cho thấy tác giả Craighead, W.E & Nemeroff, C.B
cho rằng thái độ của một cá nhân thể hiện khuynh hướng tích cực hoặc không tích cực của chủ thể đối với một đối tượng nhất định.[89]
Theo G.V.Onparete nhà tâm lý học Mỹ:“ Thái độ là trạng thái tâm lý và thần
kinh của sự sẵn sàng được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm và nó có ảnh hưởng, điều khiển hay năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó”
[94] Quan điểm này tác giả đã xem xét thái độ như là một trạng thái tâm lý và có ảnh hưởng đến những hành vi trong những tình huống nhất định
Trong cuốn Từ điển thuật ngữ Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng chủ biên
Trang 34thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có tác dụng điều chỉnh hoặc có ảnh hưởng một cách linh hoạt đến phản ứng của một cá nhân với tất cả các khách thể
và tình huống nó có mối liên hệ" Thái độ có ba thành tố là nhận thức, cảm xúc và
hành vi Chúng kết hợp lại để truyền tải một phản ứng tích cực, không tích cực hay trung lập Thái độ là một sản phẩm phức tạp của quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm, cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa học và tôn giáo cũng như chính trị [6, tr 528]
Tác giả Lê Văn Hảo và KnudLarsen (2010) coi: “Thái độ là một phản ứng
mang tính chất đánh giá tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng nào đó thể hiện qua suy nghĩ, xúc cảm hay hành vi dự định” [27, tr 137]
Cùng quan điểm này, H Fillmore cho rằng: “Thái độ là sự sẵn sàng phản ứng
tích cực hay tiêu cực đối với một đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường”
và ông nhấn mạnh “Thái độ là sự định hướng của cá nhân tới các khía cạnh khác nhau của môi trường và thái độ là một cấu trúc mang tính cơ động” [92]
Hướng định nghĩa thái độ này được nhiều người thừa nhận vì ngoài việc nó phản ánh được tính tích cực và không tích cực của thái độ mà còn cung cấp nguồn gốc của thái độ, thái độ có vai trò gì với hành động hiện tại và những hành vi dự định của con người
Bên cạnh đó, một số tác giả khác khi xem xét thái độ đã lý giải về cấu trúc của nó Trong hệ thống lý thuyết tâm lý học hiện nay đang tồn tại nhiều mô hình về thái độ với cấu trúc khác nhau Nhìn chung, có thể thấy ở đây các quan điểm về cấu trúc 1 thành phần, cấu trúc 2 thành phần và cấu trúc 3 thành phần của thái độ
Có thể giới thiệu ở đây một số quan điểm về cấu trúc của thái độ của một số tác giả tiêu biểu như David G Mayer; Calder & Lutz (1972), Pennington; Fishbein & Ajzen (1975), Rokeach (1986), M Smith (1942), Thurstone (1931), Rogenberg M.J và Hovland (1960)
Thurstone (1931) đã xác định thái độ có một thành phần là cảm xúc Cảm xúc thể hiện ở thái độ ủng hộ hay chống lại một đối tượng Do đó, các kỹ thuật đo lường thái độ của nhiều tác giả theo hướng này đều có chung đặc điểm là chỉ có một miền đo là cảm xúc Cảm xúc về sự thỏa mãn hay thất vọng, hài lòng hay không hài lòng hoặc sự ủng hộ hay chống lại một đối tượng được lý giải dựa vào sự khác biệt niềm tin của con người về các đối tượng [120]
Tác giả Fishbein, M., & Ajzen, I (1975) Hai ông cho rằng thái độ gồm ba
thành phần cảm xúc, nhận thức và hành vi cổ điển Theo đó, ba thành phần này
Trang 35thống nhất với nhau tạo nên thái độ Các thành tố trên tùy theo từng đối tượng và tình huống sẽ có vai trò chủ đạo và chi phối thái độ của cá nhân một cách khác nhau
và các thành tố này mang tính thống nhất cao, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện sự nhất quán giữa nhận thức, xúc cảm và hành vi [93]
Tác giả M Smith (1942) chỉ ra ba thành phần cấu trúc của thái độ: Nhận thức, xúc cảm và hành động Trong đó, theo ông thành phần nhận thức được thể hiện sự nhìn nhận, quan điểm, đánh giá của chủ thể với đối tượng của thái độ Thành phần xúc cảm thể hiện sự rung động, hài lòng, hứng thú của chủ thể với đối tượng Thành phần hành động thể hiện sự phản ứng của chủ thể với đối tượng theo hướng tích cực hoặc không tích cực Các thành tố này tùy theo đối tượng, tình huống cụ thể sẽ giữ một vai trò khác nhau [dẫn theo 2]
Mặt khác, một số tác giả bàn về thái độ và hành vi dự định như Ajzen (1991)
và Nguyễn Quang Uẩn Theo tác giả Ajzen (1991) quan niệm rằng thái độ tích cực hay tiêu cực của một cá nhân sẽ liên quan đến xu hướng hành vi của họ trong tương lai Từ đó ông cho ra đời thuyết dự định hành vi TPB (Theory of Planned Behaviour) Thuyết này cho rằng, nếu một người có thái độ tích cực với một việc
gì đó thì rất có khả năng cá nhân đó sẽ thực hiện các hành vi cụ thể trong tương lai Theo ông, những xu hướng hành vi của một cá nhân chịu sự chi phối của ba yếu tố Thứ nhất là thái độ của cá nhân đó đối với đối tượng; Thứ hai là chuẩn chủ quan có nghĩa là các quy tắc, chuẩn mực của xã hội để chủ thể có thể quyết định thực hiện hành vi hay không Ông đưa ví dụ như một người có thái độ tốt với một việc, nhưng xã hội chưa đồng thuận đề cao với việc này thì chưa chắc người đó sẽ thực hiện hành vi; Thứ ba là việc nhận thức kiểm soát hành vi có nghĩa là khi cá nhân thực hiện hành vi gặp những khó khăn hay thuận lợi gì, có đủ điều kiện và cơ hội
để hành vi được thực hiện hay không Chẳng hạn như một người rất thích làm phi công, xã hội cũng đang rất cần và đề cao nghề này nhưng cá nhân đó lại thiếu chiều cao và ngoại ngữ thì hành vi làm phi công không thể được thực hiện [dẫn theo 23] Xem xét thêm về khái niệm xu hướng hành vi, theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn (2010) cho rằng, xu hướng là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống động cơ quy định tính tích cực hoạt động của cá nhân và quy định sự lựa chọn của cá nhân đó Xu hướng thường biểu hiện ở một số mặt chủ yếu như nhu cầu, niềm tin, thế giới quan, hứng thú,…[74, tr 154] Một vài tác giả khác lại nhìn nhận xu hướng hành vi như một thành phần của tâm thế Như theo tác giả
Vũ Dũng (2010) khi bàn về tâm thế xã hội cho rằng tâm thế xã hội là sự chuẩn bị
Trang 36về tinh thần, ý chí, xu hướng tâm lý của cá nhân hay nhóm người để sẵn sàng hành động theo một cách thức nhất định [6, tr 525]
Như vậy, từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng khái niệm thái độ được rất nhiều nhà khoa học quan tâm và nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác nhau Nhìn chung vẫn có những điểm chung giữa những khái niệm này đó là tất cả các tác giả
ít nhiều đều nhận ra rằng, thái độ là một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, mang tính chất đánh giá tích cực hay không tích cực của con người đối với đối tượng theo một tình huống nhất định và thể hiện trong những hành vi hoặc những hành vi dự định Điểm mạnh của những quan điểm trên là các tác giả đã cho rằng thái độ là trạng thái bên trong của chủ thể (giá trị, niềm tin, xúc cảm, nhận thức, đánh giá…)
và được bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người
đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể Bên cạnh đó, các quan điểm cũng có điểm chung khi xem xét cấu trúc của thái độ Họ cho rằng, thái độ có thể bao gồm một, hai hoặc ba thành phần là nhận thức, cảm xúc và hành động hoặc hành vi dự định Bên cạnh đó, qua sự phân tích về thái độ của các quan điểm khác nhau đã thể hiện được tính đa dạng các đặc điểm của thái độ như thái độ thể hiện tính sẵn sàng, tính chủ động, tính hệ thống, tính tích cực thông qua các phản ứng của chủ thể với đối tượng Tuy nhiên, luận án đồng thuận với quan điểm của nhóm tác giả Craighead, W.E và nhóm tác giả Lê Văn Hảo & KnudLarsen coi cấu trúc của thái độ gồm ba thành phần nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi vì cấu trúc này mang tính phổ biến, được đại đa số tác giả nghiên cứu và luận án kế thừa sử dụng cách tiếp cận khái niệm này sẽ thể hiện được những khái quát biểu hiện thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK Đồng thời, mặc dù thái độ có nhiều đặc điểm khác nhau, tuy nhiên để đo mức độ của thái độ và để phản ánh được đầy đủ, khái quát nhất cả ba mặt biểu hiện của thái độ đối với hoạt động trợ giúp TTK, Nghiên cứu này đã chọn tính tích cực làm tiêu chí đánh giá thái độ nhân viên CTXH
Từ những phân tích ở trên, luận án rút ra khái niệm thái độ làm cơ sở cho
việc nghiên cứu luận án như sau:“Thái độ là trạng thái tâm lý thể hiện sự phản
ứng tích cực hay không tích cực của chủ thể đối với đối tượng nhất định thể hiện qua nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi”
2.1.2 Đặc điểm của thái độ
Với định nghĩa thái độ trên, nghiên cứu nhận thấy thái độ có những đặc điểm sau:
Thái độ là một trạng thái tâm lý: Có nghĩa thái độ bao gồm những hiện tượng
tâm lý diễn ra trong thời gian tương đối dài, việc mở đầu và kết thúc không rõ ràng như xúc cảm, tâm trạng trong công việc
Trang 37Thái độ thể hiện sự phản ứng tích cực hay không tích cực đối với một đối tượng nào đó: Theo từ điển thuật ngữ Tâm lý học của GS TS Vũ Dũng, tính tích
cực là khả năng thực hiện chuyển động có chủ định và thay đổi của cơ thể sống dưới tác động của những tác nhân kích thích bên trong và bên ngoài, đặc điểm chung của tất cả cơ thể sống, động thái riêng của chúng là nguồn biến đổi hoặc hỗ trợ một cách sống động cho những mối liên hệ với môi trường [6, tr 560] Tính tích cực của thái độ được thể hiện ở sự ảnh hưởng của thái độ đối với hành động Đó là
sự chủ động, làm chủ trong suy nghĩ và hành động của mình Khi chủ thể có thái độ với một đối tượng nhất định, họ sẽ nhận thức và đánh giá tích cực về đối tượng, có cảm xúc tích cực bên cạnh đó họ sẽ có hành động tích cực tác động vào đối tượng
Thái độ có tính ý thức: Thái độ là một hiện tương tâm lý có ý thức của con
người Tính ý thức thể hiện ở việc cá nhân hiểu rõ về cảm xúc, hành vi của mình
Có thể điều khiển, điều chỉnh các hành động của họ theo mục đích nhất định Tuy nhiên, mức độ ý thức của mỗi người cao hay thấp khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan, chủ quan như học vấn, văn hóa, kinh nghiệm và những môi trường xung quanh
Thái độ có tính mức độ: thể hiện mức độ bộc lộ thái độ nhiều hay ít, cao hay
thấp Tính mức độ phản ánh tính chủ thể trong thái độ của cá nhân, như cùng bộc lộ một thái độ như nhau với một đối tượng nhưng mức độ biểu lộ thái độ ở mỗi cá nhân lại cao thấp khác nhau, cường độ biểu hiện mạnh yếu khác nhau trong hành vi
và cảm xúc Dựa vào mức độ biểu hiện của thái độ có thể đưa ra những dự đoán về
xu hướng hành vi theo chiều thuận, nếu như chủ thể có mức độ thể hiện thái độ càng tích cực với đối tượng thì xu hướng thực hiện những hành vi tích cực càng lớn Tuy nhiên, cũng cần xem xét thái độ và hành vi đôi khi có xu hướng nghịch, có nghĩa mức độ tích cực của thái độ cao nhưng hành vi chưa chắc đã tích cực
Thái độ có tính chi phối: Đặc điểm này là thuộc tính cốt lõi của nhân cách
Thái độ quy định đặc điểm của nhận thức, cảm xúc của cá nhân đối với hiện thực khách quan cũng như xu hướng hành vi của họ Có thể nói, hầu hết các hiện tượng tâm
lý và hành động cá nhân ít nhiều đều chịu sự chi phối bởi thái độ chủ quan của họ
Thái độ có tính bền vững tương đối: Thái độ của cá nhân được hình thành
trong quá trình sống, lao động, trong các mối quan hệ xã hội Một số nghiên cứu chỉ
ra có mối liên hệ khá chắc giữa các thành tố nhận thức, cảm xúc và hành vi dự định Mức độ ổn định này tùy thuộc vào mức độ tính tích cực và thường xuyên, lâu dài của cá nhân khi tham gia vào các hoạt động xã hội Tính bền vững của thái độ còn
Trang 38biểu hiện ở thái độ kiên định giữ vững lập trường của cá nhân trước một vấn đề, một hoạt động của họ trong cuộc sống.[4]
Như vậy, trong những tình huống, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể thì thái độ tồn tại như một trạng thái tâm thế chủ quan, chi phối sự quyết định hành động của cá nhân đối với đối tượng được biểu hiện ở nhận thức, xúc cảm và hành vi của cá nhân hoặc nhóm Do đó, chúng ta vừa cần phải có cái nhìn khách quan, khoa học vừa cần linh hoạt khi xem xét thái độ của nhân viên CTXH với hoạt động trợ giúp TTK
2.1.3 Cấu trúc, biểu hiện thái độ
Cùng với những cách hiểu nội hàm khái niệm thái độ khác nhau đã phân tích ở trên thì trong hệ thống lý thuyết tâm lý học hiện nay đang tồn tại nhiều mô hình về thái độ với cấu trúc khác nhau Nhìn chung, có thể thấy ở đây các quan điểm về cấu trúc 1 thành phần, cấu trúc 2 thành phần và cấu trúc 3 thành phần của thái độ Có thể giới thiệu ở đây một số quan điểm về cấu trúc của thái độ như sau
Cấu trúc một thành phần của thái độ: Cấu trúc một thành phần nhấn mạnh
thái độ chỉ có cấu trúc một thành phần là cảm xúc của tác giả Thurstone (1931)
Thành phần này thể hiện ở thái độ ủng hộ, đồng tình hay chống đối đối tượng [dẫn theo 20]
Cấu trúc hai thành phần của thái độ: Quan điểm tiêu biểu theo hướng này là
tác giả (Calder & Ross 1972) Hai ông cho rằng thành phần của thái độ là “Mong
đợi và Giá trị” (Expectancy-Value Model) “Mong đợi" thể hiện ở niềm tin của chủ thể và các "giá trị” đi kèm với xúc cảm đánh giá thái độ của niềm tin đó Bản chất của mô hình này coi thái độ là một đánh giá toàn diện về niềm tin và cảm xúc của thái độ [dẫn theo 20]
Cấu trúc ba thành phần của thái độ: Mô hình này được nhiều tác giả đề cập
nhiều nhất và nhiều công trình tiếp cận nghiên cứu Các tác giả đại diện cho xu
hướng này là M Smith (1942), Krech, Crutchfield và Ballachye (1962), Spooncer
(1992), Schiffman & Kanuk (2004), Lê Văn Hảo và Knud Larsen (2010) Điểm chung của các tác giả này quan niệm cấu trúc của thái độ bao gồm ba mặt biểu hiện:
Nhận thức, cảm xúc và hành động hoặc hành vi dự định
Schiffman & Kanuk (2004) cho rằng thái độ được cấu trúc bởi ba thành phần: Nhận thức (niềm tin), Cảm xúc (các cảm nhận) và Hành vi hay còn gọi là mô hình
ABC Đây là mô hình tương đối phổ biến trong tâm lý học xã hội [dẫn theo 19, tr23]
Spooncer, F (1992) đề xuất mô hình ba thành phần của thái độ đó là: Cảm xúc biểu hiện ở sự phát biểu thành lời về cảm xúc của mình; Niềm tin phản ứng về mặt
Trang 39nhận thức, phát biểu thành lời về niềm tin của mình và hành vi biểu hiện công khai, phát biểu thành lời về những dự định hành động, những xu hướng hành vi của mình trong tương lai trước các kích thích từ môi trường bên ngoài tác động [118]
Tác giả Lê Văn Hảo và KnudLarsen (2010) quan niệm cấu trúc thái độ gồm
ba thành phần Thái độ thể hiện qua ba mặt nhận thức, cảm xúc hay hành vi dự định [27, tr 137] Trong đó, nhận thức là những quan điểm, hiểu biết những kiến thức, đánh giá của cá nhân về đối tượng của thái độ, cho dù những hiểu biết đó là đúng, đầy đủ và sâu sắc hay không Mặt cảm xúc là các cảm xúc tích cực hay không tích cực Nó thế hiện sự rung cảm, hào hứng thích hay không thích, chán ghét, hài lòng hay không hài lòng, vui hay buồn, bình tĩnh hay giận dữ…của cá nhân trước đối tượng Và mặt hành vi dự định là những xu hướng hành động trong tương lai của chủ thể với đối tượng trước sự tác động của các yếu tố Nó biểu hiện
ở cách ứng xử của cá nhân với đối tượng đó
Dựa trên việc tổng hợp các quan điểm của một số tác giả có thể thấy tính đa dạng trong các quan điểm về cấu trúc của thái độ Mỗi tác giả có quan điểm khác nhau về thành phần, cấu trúc của thái độ Tuy nhiên, cấu trúc ba thành phần của thái độ là mô hình tương đối phổ biến trong Tâm lý học Đồng thời dựa trên quan điểm của Lê Văn Hảo và KnudLarsen (2010), cấu trúc thái độ của luận án được xây dựng thể hiện ba thành phần Nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi
Mặt nhận thức: Là trạng thái chủ thể chủ động nhận thức về đối tượng, có kiến
thức, sự hiểu biết, ý thức rõ về đối tượng hoặc có quan điểm, cách nhìn tích cực, có niềm tin về đối tượng Chủ thể dự trù được những thay đổi có thể xảy ra nhằm thực hiện một hành động theo mục đích và kế hoạch đã có Động cơ thúc đẩy tính tích cực là do chủ thể đã hiểu rõ được mục đích, vai trò và tầm quan trọng của hành động
Mặt cảm xúc: Là thái độ rung cảm của chủ thể đối với sự vật, hiện tượng có
liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu, cuộc sống, công việc của cá nhân Cảm xúc thể hiện ở những biểu hiện cảm xúc tích cực như: vui vẻ, dễ chịu, đồng cảm, thích thú, phấn chấn, có cảm tình hay không cảm tình với đối tượng hoặc biểu hiện ở những cảm xúc không tích cực Cảm xúc tích cực có tác dụng thúc đẩy cá nhân hoạt động, vượt qua những trở ngại khó khăn và chủ động nhận thức về đối tượng hoặc ngược lại Cảm xúc có sự ảnh hưởng đến những xu hướng hành vi và tình cảm của họ dành cho đối tượng Khi nghiên cứu về thái độ, yếu tố cảm xúc là một chỉ báo quan trọng tuy nhiên cảm xúc thường mang sắc thái chủ quan của cá nhân trong một thời điểm
Trang 40Mặt xu hướng hành vi: Là một thành phần trong cấu trúc của thái độ Là trạng
thái tâm lý của cá nhân thể hiện ra bên ngoài thông qua hành động hoặc những dự định hành vi trong tương lai Xu hướng hành vi thể hiện ở tâm thế sẵn sàng thực hiện hành vi trong tương lai Dưới tác động của các yếu tố, chủ thể có thể có những
xu hướng hành vi tích cực hoặc không tích cực dựa vào nhận thức và cảm xúc của
cá nhân với đối tượng đó
Cả ba thành phần của thái độ có mối liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên cấu trúc của thái độ Khi chủ thể nhận thức về đối tượng theo hướng tích cực hay không tích cực sẽ là cơ sở để hình thành những cảm xúc, tình cảm của cá nhân với đối tượng đó Và đồng thời, cá nhân sẽ có những xu hướng hành vi (dự định hành động) với đối tượng Trong luận án này, khi nghiên cứu về thái độ của nhân viên CTXH đối với hoạt động trợ giúp TTK, nghiên cứu này sẽ sử dụng cấu trúc ba thành phần dựa trên quan điểm của tác giả Lê Văn Hảo và KnudLarsen (2010) gồm Nhận thức, cảm xúc và xu hướng hành vi Đồng thời ba thành phần này được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng các thang đo thái độ của nhân viên CTXH
2.2 Lý luận về hoạt động trợ giúp trẻ mắc hội chứng tự kỷ của nhân viên công tác xã hội
2.2.1 Nhân viên công tác xã hội
2.2.1.1 Khái niệm công tác xã hội
CTXH có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp
cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường về chính sách, nguồn lực và dịch vụ cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [35, tr 8]
Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo nghề CTXH quốc tế (2011) thống nhất định nghĩa về CTXH cho rằng: “CTXH là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết các vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi
xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng sống của con người trong xã hội” [35, tr 17]
Như vậy, công tác xã hội là một nghề nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm hoặc cộng đồng tăng cường hoặc khôi phục khả năng thực hiện các chức năng xã hội của mình và tạo những điều kiện thích hợp về mặt xã hội giúp cho họ đạt được các mục tiêu đó Người làm nghề công tác xã hội bằng kiến thức của mình, thực hiện các hoạt động vì quyền lợi và điều tốt đẹp nhất cho cá nhân, nhóm, cộng đồng theo quy