1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại huyện châu thành, tỉnh long an

85 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 898,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN Vũ Trọng Đạt NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Vũ Trọng Đạt

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Vũ Trọng Đạt

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Chuyên ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 60850103 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

PGS.TS NGUYỄN HIỆU

Hà Nội – 2014

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

CHỮ CÁI VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH VẼ vi

SƠ ĐỒ vii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 4

4 Cấu trúc luận văn 4

CHƯƠNG 1 5

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

1.1 Tổng quan về dữ liệu địa chính, dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai 5

1.1.1 Khái niệm về dữ liệu địa chính, dữ liệu đất đai và thành phần dữ liệu đất đai 5

1.1.2 Khái niệm về cơ sở dữ liệu, Cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và thành phần cơ sở dữ liệu đất đai: 6

1.2 Chuẩn hóa dữ liệu đất đai 8

1.2.1 Tổng quan về công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai 8

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của chuẩn hóa dữ liệu đất đai đối với công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 9

1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của chuẩn hóa dữ liệu đất đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội 10

1.2.4 Tổng quan nghiên cứu chuẩn hóa dữ liệu đất đai 10

1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 14

1.3.1 Quan điểm tiếp cận 14

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 15

Trang 4

1.4 Phạm vi nghiên cứu 15

1.4.1 Phạm vi khu vực nghiên cứu 15

1.4.2 Phạm vi khoa học 16

CHƯƠNG 2 17

THƯC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN 17

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 17

2.1.1 Vị trí địa lý 17

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội 18

2.2 Thực trạng dữ liệu về địa chính và công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai ở huyện Châu Thành, tỉnh Long An 23

2.2.1 Thực trạng dữ liệu về địa chính và công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 23

2.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực 25

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Long An 28

2.3.1 Quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 28

2.3.2 Yếu tố quy định kỹ thuật, đánh giá chất lượng sản phẩm liên quan đến công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 29

2.3.3 Yếu tố chính sách (sự thay đổi luật đất đai và các văn bản dưới luật qua các thời kỳ liên quan đến việc sử dụng đất) 29

2.3.4 Tiến bộ khoa học kỹ thuật ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai 33

CHƯƠNG 3 35

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH PHỤC VỤ XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐẤT ĐAI TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN35 3.1 Những căn cứ và nguyên tắc cho xây dựng CSDL địa chính huyện Châu Thành 35

Trang 5

3.1.1 Các căn cứ pháp lý 35

3.1.2 Nguyên tắc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 36

3.1.3 Yêu cầu cơ bản xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính 36

3.2 Đánh giá thực trạng dữ liệu đất đai cho xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai huyện Châu Thành 37

3.2.1 Dữ liệu quy phạm pháp luật về đất đai 37

3.2.2 Dữ liệu địa chính 39

3.2.3 Dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai 47

3.2.4 Dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai 48

3.2.5 Dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai 48

3.2.6 Khối lượng chuẩn hóa, chuyển đổi hồ sơ địa chính phần thuộc tính sang dạng số và xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của huyện Châu Thành 54

3.2.7 Khối lượng đào tạo, chuyển giao công nghệ 54

3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai 54

3.3.1 Nhóm giải pháp Tài chính - Đào tạo - Quản lý 55

3.3.2 Nhóm giải pháp kỹ thuật 56

3.3.3 Hạn chế và tồn tại 67

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 72

Trang 6

VLAP Vietnam Land Administration Project – Dự án hoàn thiện

và hiện đại hóa Hệ thống quản lý Đất đai Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC BẢNG Bảng 01: Tình trạng trang thiết bị và hệ thống mạng Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Châu Thành 25Bảng 02: Tình hình nguồn nhân lực Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Châu Thành 27Bảng 03: Khối lượng bản đồ địa chính đã đo vẽ giai đoạn 1995-2000 trên địa bàn huyện Châu Thành 40Bảng 04: Khối lượng bản đồ địa chính đang quản lý và sử dụng trên địa bàn huyện Châu Thành 43Bảng 05: Khối lượng thửa đất, hồ sơ đăng ký đất đai đang quản lý và sử dụng trên địa bàn huyện Châu Thành 45Bảng 06: Khối lượng sổ bộ địa chính đang quản lý và sử dụng trên địa bàn huyện Châu Thành 46Bảng 07: Bảng ký hiệu loại đất thể hiện trên bản đồ địa chính theo luật đất đai 2013 59

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1.1 Thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai 7

Hình 1.2 Nội dung của cơ sở dữ liệu địa chính 8

Hình 1.3 Một phần của mô hình Chuẩn thông tin địa chính của Hàn Quốc 12

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Châu Thành, tỉnh Long An 17

Trang 9

SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Quy trình chuẩn hóa dữ liệu không gian địa chính 64

Sơ đồ 3.2 Quy trình chuẩn hóa dữ liệu địa chính 67

Trang 10

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cám ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Hiệu, người đã định hướng cho tôi trong lựa chọn đề tài, đưa ra những nhận xét quý giá và trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Địa lý- Trường Đại học khoa học tự nhiên - Đại học quốc gia Hà Nội đã dạy bảo tận tình cho tôi trong thời gian học tập tại trường

Tôi xin cảm ơn tập thể lớp cao học niên khóa 2012 - 2014 – Quản lý Đất đai đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thiện luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Vũ Trọng Đạt

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết

Công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất, thống kê kiểm kê đất đai là một trong những nhiệm vụ chính trong công tác quản lý đất đai của các cấp đơn vị hành chính đã được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 Đến nay, trên cả nước ta đã cơ bản hoàn thành lập và quản lý hồ

sơ địa chính phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, tuy nhiên hệ thống tài liệu về đất đai này được lập, quản lý qua nhiều thời kỳ khác nhau, không thống nhất và đồng bộ cả về dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

Hiện nay, việc hoàn thiện hồ sơ địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

là yêu cầu cơ bản để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại Công tác này tạo ra khối lượng công việc nhiều, đòi hỏi kinh phí rất lớn từ công tác thu thập, xử lý tài liệu đất đai qua các thời kỳ khác nhau, kể cả các tài liệu về đất đai từ thời kỳ thuộc Pháp, thời kỳ chế độ Mỹ-Ngụy (sổ điền bạ, bản đồ giải thửa, bằng khoán), cho đến công đo đạc lập bản đồ địa chính chính qui, chỉnh lý bản đồ địa chính đã đo đạc trước đây, đăng ký cấp mới, cấp đổi GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất

Do đó, khi xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại, tất cả các tư liệu, tài liệu đất đai này đều phải được xem xét, xử lý và cập nhật vào trong cơ sở dữ liệu đất đai Cho đến nay, các quy trình, quy định, quy phạm kỹ thuật về xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai mới chỉ tập trung đề cập đến các tài liệu về đất đai đã và sẽ xây dựng chính quy: như bản đồ địa chính chính qui, hồ sơ địa chính được lập theo Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, ngày 19/5/2014, bản đồ hiện trạng

sử dụng đất trên nền bản đồ địa chính chính qui hoặc bản đồ địa chính cơ sở 1/10.000 do Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp v v Còn các hồ sơ tài liệu đất đai

đã lập từ các thời kỳ trước đây được đề cập đến chưa đầy đủ

Dữ liệu thuộc tính về đất đai được cung cấp từ các số liệu thống kê, kiểm kê theo định kỳ, hồ sơ địa chính, các số liệu điều tra thực tế Muốn xây dựng được cơ

sở dữ liệu thuộc tính thì hệ thống hồ sơ dạng giấy phải được thống nhất trước và cập nhật thường xuyên

Trang 12

Vì vậy, để công tác quản lý đất đai hiện nay được chặt chẽ, khoa học, xây dựng được cơ sở dữ liệu thuộc tính đầy đủ thì việc hoàn thiện hệ thống hồ sơ dạng giấy, chuẩn hóa dữ liệu phải được thống nhất trước và cập nhật thường xuyên là vô cùng cấp thiết

Cho đến nay Bộ Tài nguyên và Môi trường vẫn đang tiến hành chỉ đạo các Tỉnh, Thành phố tiếp tục thí điểm xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh một huyện để rút kinh nghiệm, do vậy trong quá trình xây dựng, vận hành và bảo trì cơ sở dữ liệu đất đai, cần rà soát lại qui trình, qui định, qui phạm kỹ thuật liên quan để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai

Với tính phức tạp của hồ sơ địa chính ở Việt Nam qua nhiều thời kỳ, giai đoạn khác nhau, không thống nhất và đồng bộ cả về dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính và với khối lượng hồ sơ địa chính rất lớn, nhiều địa phương chưa có đủ nhân lực, vật lực để quản lý tốt hệ thống hồ sơ địa chính, không cập nhật kịp thời biến động đất đai, dẫn tới nội dung của hồ sơ địa chính sai lệch nhiều so với thực tế, khả năng sử dụng hạn chế Năng lực quản lý và trình độ chuyên môn để cập nhật chỉnh lý biến động đất đai vào các tư liệu, tài liệu đất đai chưa đồng đều ở các địa phương Các loại dữ liệu nêu trên còn ở mức độ rất khác nhau, nhiều loại dữ liệu không được cập nhật thay đổi thường xuyên dẫn đến việc không đồng nhất giữa dữ liệu không gian và thuộc tính

Bản đồ địa chính được thành lập qua các thời kỳ khác nhau, trong đó mỗi loại bản đồ lại chứa đựng những nội dung có tính chất và mức độ đầy đủ khác nhau

do việc áp dụng các quy định về thể hiện các yếu tố trên bản đồ, hồ sơ địa chính không đồng nhất, việc lưu trữ dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính được thực hiện theo nhiều hình thức và phương pháp khác nhau….đã dẫn đến nhiều bất cập, gây khó khăn trong quá trình khai thác thông tin phục vụ công tác quản lý nhà nước đối với đất đai thống nhất trong cả nước Vấn đề đặt ra là phải xem xét biện pháp định chuẩn và chuẩn hoá dữ liệu như thế nào để thu được một CSDL thống nhất

Thực trạng CSDL đất đai của huyện Châu Thành, tỉnh Long An được thành lập sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng cũng trong tình trạng chung như của nhiều tỉnh thành cả nước: dữ liệu đất đai được lập và quản lý qua nhiều thời kì, bằng

Trang 13

nhiều phương pháp khác nhau, sự thiếu đồng bộ giữa các dữ liệu địa chính, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, kiểm kê đất đai, …

Huyện Châu Thành là huyện được chọn xây dựng CSDL địa chính điểm của tỉnh Long An để rút kinh nghiệm cho xây dựng CSDL địa chính các huyện còn lại Học viên đã thực hiện công tác đo đạc, thành lập bản đồ và hoàn thiện hồ sơ địa chính, chuẩn hóa dữ liệu địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nói chung và dữ liệu địa chính nói riêng ở khu vực nghiên cứu, nên đã có được sự hiểu biết tốt về vấn đề này của địa phương

Việc lựa chọn nghiên cứu này nhằm giúp trực tiếp cho địa phương nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hoá dữ liệu địa chính cho CSDL đất đai, hướng tới làm mô hình tham khảo cho các địa phương khác trên địa bàn của tỉnh Long An

Từ những đặc điểm nêu trên của hồ sơ địa chính, chúng ta thấy rằng để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai hiện đại theo chủ trương, chính sách về đất đai của Đảng và Nhà nước ta, việc thu thập, phân loại, đánh giá chất lượng của tất cả các hồ sơ, tài liệu hiện có ở các thời kỳ, các giai đoạn từ đó nghiên cứu đưa ra các cơ sở khoa học để chuẩn hóa các dữ liệu địa chính này để phục vụ cho công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính là nhiệm vụ trước mắt rất cần thiết và phù hợp với đặc thù của công tác quản lý đất đai của chúng ta hiện nay Vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An” là rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung: Xác lập được quy trình chuẩn hoá dữ liệu địa chính cho huyện Châu Thành, tỉnh Long An phục vụ cho công tác xây dựng CSDL địa chính của địa phương

Trang 14

- Xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An

- Đề xuất và hoàn thiện được các quy trình về chuẩn hóa và xây dựng cơ sở

dữ liệu địa chính, nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An

3 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết các nội dung sau:

- Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính, công tác chuẩn hóa, xây dựng cơ sở

dữ liệu địa chính và các phương pháp nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng công tác chuẩn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An

- Xác định yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An

- Đề xuất các giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác chuẩn hóa, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Long An

4 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương như sau:

Chương 1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 2: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính huyện Châu Thành, tỉnh Long An

Chương 3: Nghiên cứu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An

Trang 15

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN

CỨU 1.1 Tổng quan về dữ liệu địa chính, dữ liệu đất đai và cơ sở dữ liệu địa chính,

cơ sở dữ liệu đất đai

1.1.1 Khái niệm về dữ liệu địa chính, dữ liệu đất đai và thành phần dữ liệu đất đai

- Dữ liệu địa chính: là dữ liệu không gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa

chính và các dữ liệu khác có liên quan

- Dữ liệu không gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà

ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi;

hệ thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ giới hành lang an toàn bảo vệ công trình

- Dữ liệu thuộc tính địa chính: là dữ liệu về người quản lý đất, người sử dụng

đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổ chức và cá nhân có liên quan đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu thuộc tính về thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về tình trạng

sử dụng của thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong sử dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

- Dữ liệu đất đai: là thông tin liên quan đến đất đai dưới dạng ký hiệu, chữ

viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự

- Thành phần của dữ liệu đất đai: bao gồm dữ liệu quy phạm pháp luật về

đất đai; dữ liệu địa chính; dữ liệu điều tra cơ bản về đất đai; dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; dữ liệu giá đất; dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai; dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai; dữ liệu khác liên quan đến đất đai [12]

Trang 16

1.1.2 Khái niệm về cơ sở dữ liệu, Cơ sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và thành phần cơ sở dữ liệu đất đai:

- Cơ sở dữ liệu: là tập hợp các dữ liệu có cấu trúc và liên quan với nhau được

lưu trữ trên máy tính, được nhiều người sử dụng và được tổ chức theo một mô hình

- Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa

chính

- Cơ sở dữ liệu đất đai: là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức

để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử [12]

- Thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai: Cơ sở dữ liệu đất đai gồm các thành

phần [12] (hình 1.1):

(1)- Cơ sở dữ liệu quy phạm pháp luật về đất đai;

(2)- Cơ sở dữ liệu địa chính;

(3)- Cơ sở dữ liệu điều tra cơ bản về đất đai;

(4)- Cơ sở dữ liệu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;

(5)- Cơ sở dữ liệu giá đất;

(6)- Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai;

(7)- Cơ sở dữ liệu về thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai;

(8)- Cơ sở dữ liệu khác liên quan đến đất đai

Cơ sở dữ liệu đất đai được xây dựng thống nhất trong cả nước, được sắp xếp,

tổ chức để truy cập, khai thác, quản lý và cập nhật thường xuyên bằng phương tiện điện tử Cơ sở dữ liệu đất đai được xây dựng tập trung thống nhất từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh

Trang 17

Hình 1.1 Thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai

- Nội dung của dữ liệu địa chính gồm:

+ Nhóm dữ liệu về thửa đất

+ Nhóm dữ liệu về đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất

+ Nhóm dữ liệu về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người quản lý đất

+ Nhóm dữ liệu về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất

+ Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất

+ Nhóm dữ liệu tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

+ Nhóm dữ liệu về sự thay đổi trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất

CSDL quy hoạch, kế hoạch SDĐ

CSDL thống kê, kiểm kê đất

CSDL quy hoạch SDĐ

CSDL quy

phạm pháp

luật về đất

CSDL điều tra cơ bản

về đất đai

CSDL khác liên quan đến đất đai

Trang 18

Hình 1.2 Nội dung của cơ sở dữ liệu địa chính 1.2 Chuẩn hóa dữ liệu đất đai

1.2.1 Tổng quan về công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai

- Khái niệm về chuẩn hóa dữ liệu:

Theo từ điển bách khoa toàn thư wikipedia, chuẩn hóa dữ liệu là một phương pháp khoa học để phân tách một cấu trúc dữ liệu phức tạp thành những cấu trúc dữ liệu đơn giản theo những quy luật nhất định mà không làm mất thông tin dữ liệu Kết quả là sẽ làm giảm bớt sự dư thừa và loại bỏ những sự cố mâu thuẫn về dữ liệu, tiết kiệm được không gian lưu trữ dữ liệu [16]

Nhóm dữ liệu

về thửa đất

Nhóm dữ liệu

về đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất

Nhóm dữ liệu về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người quản lý đất

Nhóm dữ liệu

về tài sản gắn liền với đất

Nhóm dữ liệu tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất

Nhóm dữ liệu về sự thay đổi trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất

Trang 19

Do đặc thù của ngành quản lý đất đai, việc chuẩn hóa dữ liệu cần phải được thực hiện một cách thống nhất và phải tuân thủ chặt chẽ các quy định về chuẩn dữ liệu đất đai để phục vụ việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên toàn quốc

Từ việc tổng hợp các nguồn tài liệu cũng như dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm thực tế, học viên rút ra khái niệm về chuẩn hóa dữ liệu đất đai như sau:

Chuẩn hóa dữ liệu đất đai là quá trình xử lý các cấu trúc dữ liệu đất đai phức hợp thành các cấu trúc dữ liệu đơn giản, rõ ràng, tuân theo các quy định về chuẩn dữ liệu đất đai nhằm các mục đích:

Tối ưu hóa việc lưu trữ dữ liệu;

Tránh dư thừa dữ liệu;

Thông tin nhất quán;

và Đảm bảo các phụ thuộc dữ liệu theo đúng mô hình mà vẫn không làm tổn thất thông tin

1.2.2 Vai trò, ý nghĩa của chuẩn hóa dữ liệu đất đai đối với công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Nằm trong chiến lược phát triển của ngành Quản lý đất đai giai đoạn 2011 –

2020 định hướng đến năm 2030, việc xây dựng một hệ thống thông tin đất đai hiện đại để đưa vào vận hành, hỗ trợ cho quản lý, minh bạch hóa thông tin và cải cách thủ tục hành chính đang trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Trong đó, CSDL đất đai thống nhất trong cả nước là cốt lõi của hệ thống này Khi tiến hành xây dựng CSDL đất đai thì việc khảo sát, đánh giá và đưa ra các quy trình chuẩn hóa dữ liệu đất đai hiện có là việc làm vô cùng quan trọng Cụ thể là:

- Việc chuẩn hóa dữ liệu sẽ giúp tối ưu hóa việc lưu trữ dữ liệu, tránh dư thừa

dữ liệu, tạo được tính nhất quán của thông tin và đảm bảo được sự liên kết của các thông tin về đất đai

- Việc chuẩn hóa dữ liệu đất đai tuân theo các quy định của chẩn địa chính sẽ đảm bảo tính đầy đủ của thông tin của các thửa đất theo đúng với yêu cầu quản lý

- Công tác chuẩn hóa dữ liệu sẽ đưa ra được các phương pháp xử lý dữ liệu thô, đưa dữ liệu này về các dạng chuẩn thống nhất Từ đây, chúng ta có thể phát triển các công cụ tin học để hỗ trợ việc nhập các dữ liệu đã được chuẩn hóa này vào CSDL đất đai một cách tự động, chính xác và nhanh chóng

Trang 20

- Việc chuẩn hóa dữ liệu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của CSDL đất đai sau này vì đây là việc tiền xử lý của công tác xây dựng CSDL đất đai Nếu như các dữ liệu thô không được chuẩn hóa về các dạng chuẩn một cách thống nhất thì khi đưa các dữ liệu này vào CSDL đất đai sẽ gây ra các tình trạng dư thừa dữ liệu, sai, thiếu thông tin, thiếu sự liên kết cần thiết giữa các thông tin, thông tin chưa đúng với các chuẩn quy định của ngành Như vậy CSDL đất đai này sẽ không thể vận hành trên thực tế được

1.2.3 Vai trò, ý nghĩa của chuẩn hóa dữ liệu đất đai đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

- Việc chuẩn hóa dữ liệu đất đai sẽ tìm ra các phương pháp chuẩn hóa phù hợp làm cơ sở để xây dựng các quy trình chuẩn hóa dữ liệu đất đai, từ đó có thể áp dụng và triển khai rộng rãi các quy trình này trên cả nước Như vậy, công tác chuẩn hóa dữ liệu sẽ được thực hiện một cách bài bản và thống nhất, đảm bảo được chất lượng của dữ liệu khi đã được chuẩn hóa

- Công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai sẽ tận dụng được tối đa các nguồn dữ liệu đất đai đang được lưu trữ và sử dụng qua nhiều thời kỳ khác nhau

- Việc áp dụng các phương pháp chuẩn hóa dữ liệu đất đai hiện có sẽ đảm bảo tiết kiệm chi phí và thời gian, góp phần phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước

- Tăng cường tính hiệu quả trong việc chia sẻ dữ liệu, trao đổi thông tin giữa lĩnh vực đất đai và các lĩnh vực liên quan

1.2.4 Tổng quan nghiên cứu chuẩn hóa dữ liệu đất đai

* Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Nhiều quốc gia trên thế giới đã tập trung cho nghiên cứu phát triển công nghệ trong công tác quản lý đất đai trong một thời gian dài, trong đó có vấn đề về quản lý CSDL đất đai

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các nghiên cứu về địa chính đã phát triển trong một thời gian dài song song với sự phát triển của công nghệ trong lĩnh vực địa chính Hiện nay, bản đồ địa chính quốc gia đã được hoàn thành 100% ở khu vực đô thị và 85%

ở khu vực nông thôn Quá trình hoàn thành cơ sở hạ tầng địa chính quốc gia đã được tăng tốc nhờ sự tham gia của các đơn vị của Nhà nước và cả các đơn vị tư nhân Mục tiêu của quá trình này là tạo ra cơ sở hạ tầng địa chính cho toàn quốc,

Trang 21

trong đó Hệ thống thông tin địa chính phục vụ đăng ký đất đai là dự án quan trọng nhất Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện dự án này, các chuyên gia Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã gặp phải vấn đề tương tự như ở Việt Nam, đó là bản đồ địa chính cũng được thành lập qua các thời kỳ khác nhau, các bản đồ này cũng tuân theo các quy định của các văn bản pháp luật khác nhau được ban hành cho mỗi thời kỳ Để áp dụng thống nhất theo chuẩn bản đồ địa chính cơ sở của Liên minh Châu Âu, Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã ban hành các văn bản pháp lý nhằm đưa ra những quy định cho việc áp dụng trên

Các loại bản đồ đã được thành lập theo các phương pháp khác nhau và theo các tỷ lệ khác nhau, có độ chính xác khác nhau, có hoặc không có tọa độ đều được khảo sát, xem xét, đánh giá, chuyển đổi về dạng số và được chuẩn hóa theo mức độ chính xác cụ thể Tuy nhiên, cho đến nay thì dự án này, cũng chưa hoàn thành được tất cả do chưa giả quyết hết được một số vướng mắc về sự phức tạp của dữ liệu địa chính trong quá khứ [15]

Ở Hàn Quốc, ngay khi nguồn kinh phí được thông qua cho việc nghiên cứu

về chuẩn địa chính và chuẩn vùng địa chỉ vào năm 2009, chính phủ Hàn Quốc đã liên tục tham gia và mở rộng dự an nghiên cứu và phát triển của họ về các chuẩn dữ liệu trên tất cả các lĩnh vực liên quan đến thông tin không gian Trong năm 2010, chính phủ đã được báo cáo về các các nghiên cứu: “Nghiên cứu về mô hình dữ liệu thông tin địa chính không gian và phát triển chuẩn siêu dữ liệu”, “Nghiên cứu việc phát triển chuẩn thông tin địa chính và thành lập hệ quy chiếu quốc gia” Trong đó, hai hạng mục là TTAK.KO - 10,0503 (Mô hình dữ liệu thông tin địa chính) và TTAK.KO - 10,0504 (thiết kế kỹ thuật) đã được Hiệp hội công nghệ Viễn thông Hàn Quốc (TTA) thông qua vào năm 2011

Đến năm 2012, mô hình trên đã được thiết kế thành hệ thống thông tin không gian địa chính dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế thông qua việc nghiên cứu cấu trúc

hạ tầng thông tin không gian và phát triển chính sách sử dụng thông tin không gian Bên cạnh đó là việc nghiên cứu phương thức trao đổi thông tin địa chính không gian

và việc đưa ra các tiêu chuẩn trong phân phối thông tin về dữ liệu địa chính không gian đã bắt đầu được thực hiện từ đầu năm 2013 Đặc biệt, chuẩn mô hình dữ liệu được hoàn thành vào năm 2012 chính là chuẩn địa chính đầu tiên dựa trên

Trang 22

ISO19152 (LADM), đây được coi là một thành quả lớn vì nó đã kết hợp được với các tiêu chẩu quốc tế Các nguồn dữ liệu địa chính của Hàn Quốc cũng tương tự như

ở Việt Nam, khi tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, họ cũng khảo sát, sàng lọc và chuẩn hóa các nguồn dữ liệu sử dụng được theo các quy định kỹ thuật của

mô hình chuẩn dữ liệu địa chính

Mô hình dữ liệu khái niệm của chuẩn địa chính liên kết với các chuẩn quốc tế này bao gồm 09 lớp: thửa đất, bản đồ, điểm tọa độ, thông tin chủ sở hữu, giá đất, thông tin địa chính, loại thông tin khép kín, loại thông tin đo đạc, loại số thửa đất Hầu hết thông tin cần thiết là về thửa đất Các thuộc tính của thửa đất bao gồm số hiệu thửa, loại đất, loại thửa đất, địa chỉ thửa đất, tỷ lệ thửa đất, kích thước thửa đất, mục đích sử dụng đất.v.v [16]

Hình 1.3 Một phần của mô hình Chuẩn thông tin địa chính của Hàn

Quốc

Trang 23

* Tình hình nghiên cứu trong nước

Thực hiện Chỉ thị 1474/CT-TTg ngày 24/08/2011 của Thủ tướng Chính phủ

về thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp cấp bách để chấn chỉnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất

và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành các văn bản nhằm tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trong

đó có các quy định kỹ thuật về tiêu chuẩn dữ liệu, bao gồm: Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT quy định chuẩn dữ liệu địa chính, công văn số 1159/TCQLĐĐ-CĐKTK ngày 21/09/2011 của Tổng cục Quản lý đất đai hướng dẫn xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT Quy định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, Thông tư số 18/2013/TT-BTNMT Ban hành Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về hồ sơ địa chính, Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về bản đồ địa chính, Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/6/2014 quy định về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất Các quy định này là những quy chuẩn quan trọng trong việc xây dựng, xác định nội dung cơ sở dữ liệu đất đai và bộ hồ sơ địa chính số

Như vậy, một số quy định kỹ thuật về nội dung của cơ sở dữ liệu đất đai và các sản phẩm dạng số của cơ sở dữ liệu đất đai đã được ban hành đầy đủ, là cơ sở thực hiện Hiện nay, một số tỉnh đã bước đầu xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính cụ thể như:

Thành phố Hồ Chí Minh: quý I năm 2013 hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính toàn thành phố

Tỉnh Đồng Nai: cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính toàn tỉnh, đang thực hiện bổ xung, chuẩn hóa lại cơ sở dữ liệu đã có theo các quy định hiện hành

Tỉnh Bình Dương: đang tiế hành Xây dựng hệ thống thông tin phục vụ quản

lý Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, đến nay cơ bản hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính toàn tỉnh

Dự án VLAP triển khai trên 9 tỉnh (Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Quảng Ngãi, Khánh Hòa, Bình Định, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long)

Trang 24

Các dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã triển khai nêu trên cũng đã đưa

ra được một số dữ liệu đất đai cần chuẩn hóa và phương pháp chuẩn hóa các loại tư liệu này

Bộ Tài nguyên và Môi trường trong những năm qua cũng đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về công tác xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, lưu trữ tư liệu đất đai (đề tài “Xây dựng các cơ sở dữ liệu địa chính để thành lập hệ thống thông tin lưu trữ, xử lý cấp phát thông tin địa chính trên máy tính điện tử”, chủ nhiệm đề tài KS Nguyễn Sỹ Thanh; đề tài “Nghiên cứu và thử nghiệm một số phương pháp ứng dụng tin học trong thông tin lưu trữ địa chính”, chủ nhiệm đề tài PGS.PTS Lê Tiến Vương) Tuy nhiên các công trình đang tập trung vào nghiên cứu

về giải pháp kỹ thuật nhằm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai, vận hành và khai thác thông tin đất đai có hiệu quả

Công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai thực sự mới được đề cập trong các dự án thử nghiệm xây dựng cơ sở dữ liệu (Quyết định số 394/QĐ-TCQLĐĐ ngày 04 tháng 9 năm 2009 của Tổng cục trưởng Tổng cục Quản lý đất đai về việc phê duyệt

dự án “Thử nghiệm chuẩn dữ liệu địa chính Việt Nam), dự án sản xuất xây dựng cơ

sở dữ liệu ở một số tỉnh trong cả nước

1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

1.3.1 Quan điểm tiếp cận

Đề tài sử dụng cách tiếp cận hệ thống, từ tổng quát tới chi tiết, từ lý luận kết hợp với thực tiễn, từ qui trình, qui định kỹ thuật tới thực tế thực hiện, từ kinh nghiệm quốc tế tới thực tiễn trong nước Trên cơ sở cách tiếp cận này tiến hành nghiên cứu, khảo sát như sau: Nghiên cứu tổng quan về nội dung và yêu cầu kỹ thuật của công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, nghiên cứu thực tiễn việc chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai Trên cơ sở đó đi sâu

về công tác thu thập dữ liệu đầu vào; nghiên cứu cụ thể về mặt cơ sở lý luận và cơ

sở thực tiễn đối với các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa tư liệu, đồng thời tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các kết quả của những nghiên cứu đã có về việc xử lý các dữ liệu Từ đó đưa ra nội dung các dữ liệu cần chuẩn hóa, phương pháp và qui trình chuẩn hóa, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa

Trang 25

chính Từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính, tiến tới hoàn thiện nội dung cơ sở dữ liệu đất đai

1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp khảo sát, điều tra thực tế: Thực hiện điều tra thực tế thu thập

các tư liệu, tài liệu số liệu có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu làm cơ sở đánh giá thực trạng nguồn tư liệu, dữ liệu đất đai của một số địa phương Sử dụng phương pháp này để nghiên cứu đầy đủ các loại tư liệu, dữ liệu đặc trưng, giá trị sử dụng và hiện trạng sử dụng, lưu trữ của các tư liệu, dữ liệu; nghiên cứu, xác định cơ sở khoa học và thực tiễn của việc hình thành các nguồn tư liệu

- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu: Thu thập và nghiên cứu tài

liệu trong và ngoài nước liên quan tới vấn đề nghiên cứu Kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các chương trình, dự án, đề tài khoa học có liên quan Sử dụng phương pháp này để xác định cơ sở khoa học và thực tiễn của việc chuẩn hóa

tư liệu, dữ liệu đất đai

- Phương pháp so sánh: Trên cơ sở các tài liệu, số liệu đất đai thu thập được

gồm cả của Trung ương và địa phương so sánh, đối chiếu với những phát hiện thu được trong quá trình khảo sát thực tế làm cơ sở, căn cứ để đưa ra những kết luận về vấn đề cần nghiên cứu Sử dụng phương pháp này để thí điểm xây dựng qui trình chuẩn hóa tư liệu, dữ liệu đất đai phục vụ vụ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

- Phương pháp chuyên gia: Tham vấn, trưng cầu ý kiến các nhà khoa học,

các chuyên gia có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực nghiên cứu Trên cơ sở

đó hoàn thiện nội dung, phương pháp chuẩn hóa tư liệu, dữ liệu đất đai phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai; đồng thời thí điểm chuẩn hóa tư liệu, dữ liệu đất đai tại huyện Châu Thành, tỉnh Long An

1.4 Phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Phạm vi khu vực nghiên cứu

Khu vực nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi đơn vị hành chính 06 xã: Bình Quới, Dương Xuân Hội, Hòa Phú, Long Trì, Phú Ngãi Trị và Vĩnh Công thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Long An

Trang 26

1.4.2 Phạm vi khoa học

Trong tám thành phần của cơ sở dữ liệu đất đai thì cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản, là cơ sở để xây dựng và định vị không gian các cơ sở dữ liệu thành phần khác nên trong đề tài tác giả tập trung vào nghiên cứu về thực trạng của một phần dữ liệu đất đai đó là dữ liệu địa chính, về thực trạng công tác chuẩn hóa

dữ liệu đất đai hiện nay và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn nghiên cứu

Trang 27

CHƯƠNG 2 THƯC TRẠNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC CHUẨN HÓA DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH LONG AN

2.1 Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Châu Thành có tổng diện tích tự nhiên 15.492,49 ha cách thị xã Tân

An 12 km về phía Nam theo tỉnh lộ 827A, có ranh giới như sau:

+ Phía Tây - Bắc giáp với thị xã Tân An

+ Phía Bắc giáp với huyện Tân Trụ (ranh giới với sông Vàm Cỏ Tây)

+ Phía Đông giáp huyện Cần Đước (ranh giới với sông Vàm Cỏ)

+ Phía Tây và phía Nam giáp với tỉnh Tiền Giang

Theo phân vùng kinh tế, Châu Thành là một trong tám huyện phía Nam của tỉnh Long An (gồm thị xã Tân An, Châu Thành, Tân Trụ, Nam Bến Lức, Nam Thủ Thừa, Cần Đước, Cần Giuộc và Đức Hoà) Đây là vùng đông dân, gần các khu đô thị lớn như Tân An, thành phố Hồ Chí Minh

Châu Thành nằm giáp sông Vàm Cỏ gần biển Đông, đất đai chủ yếu là đất phù sa nhiễm mặn đã được khai thác từ lâu đời

Hình 2.1 Sơ đồ vị trí huyện Châu Thành, tỉnh Long An

Trang 28

2.1.2 Đặc điểm tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội

* Về địa hình, địa mạo:

Nhìn chung địa hình huyện Châu Thành tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 0,8 - 1,2m; dốc thoải nhẹ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, cao ở phía Hoà Phú, Vĩnh Công từ 1,0 - 1,4m (tuy nhiên vẫn có những nơi trũng cục bộ như ven hai rạch Kỳ Sơn và Tầm Vu) Thấp nhất là vùng thuộc các xã Thuận Mỹ và xã Thanh Vĩnh Đông, có độ cao trung bình từ 0,5 - 0,8m, riêng xã Thuận Mỹ có gò khá cao nằm ở bến đò Thuận Mỹ - Cần Đước, đỉnh gò cao tới 2,2m, do đó thường xuyên bị nhiễm mặn, hạn rất khó khăn cho canh tác nông nghiệp, nhiều nông dân gọi đó là

“vùng đất chết ”

* Về khí hậu, thời tiết

Châu Thành nằm trong chế độ nhiệt đới gió mùa nên chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô

Qua theo dõi nhiều năm, các yếu tố khí hậu trung bình như sau:

- Nhiệt độ trung bình tháng: Nền nhiệt độ cao, tổng nhiệt độ lớn, không có sự phân hoá mùa đáng kể về nhiệt độ

Theo con số thống kê nhiệt độ trung bình qua các năm của huyện là 26,42 0C (số liệu ở trạm Tân An), nhiệt độ thay đổi theo các tháng không cao (trung bình tháng thấp nhất so với tháng cao nhất là 50C)

- Lượng mưa:

Chế độ mưa ở Châu Thành phụ thuộc vào chế độ gió mùa, chế độ gió mùa đã đem lại cho các vùng thuộc đồng bằng sông Cửu Long nói chung và huyện Châu Thành nói riêng hàng năm một mùa mưa và một mùa khô, mùa khô dường như trùng với gió mùa Đông Bắc và mùa mưa trùng với gió mùa Tây Nam

Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào tháng 11, với lượng mưa chiếm khoảng 96% lượng mưa cả năm

Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kết thúc vào tháng 4 năm sau với tổng lượng mưa chiếm khoảng 4% lượng mưa cả năm

- Độ ẩm: Theo thời gian độ ẩm liên quan chặt chẽ với chế độ mưa, có sự phân hoá rõ rệt Số liệu thống kê độ ẩm không khí trung bình bình quân các năm

của Huyện khoảng 88% (số liệu trạm Tân An) Tháng có độ ẩm trung bình thấp nhất

Trang 29

84-85 % vào các tháng 4 và tháng 5 Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất 92 % vào tháng 7 và tháng 10

- Số giờ nắng: Châu Thành là vùng nắng nhiều, tổng số giờ nắng bình quân

trong năm là 2.337 giờ/năm (số liệu trạm Tân An) Bình quân 6 -7 giờ nắng trong

ngày Từ tháng 8 đến tháng 12 có số bình quân giờ nắng dưới 200 giờ/tháng, các tháng còn lại đều có số giờ nắng trên 200 giờ/tháng, đặc biệt tháng 3 số giờ nắng đạt trên 300 giờ/tháng

- Gió: Chế độ gió của Huyện thuộc chế độ nhiệt đới gió mùa, phân làm hai mùa rõ rệt:

Mùa khô gió hướng Đông Bắc, chiếm 60 - 70% từ tháng 2 đến tháng 4 Mùa mưa hướng gió chính là hướng Tây Nam, chiếm 60 - 70% từ tháng 5 đến tháng 11, gió từ biển Thái Lan thổi vào mang nhiều hơi nước

Tốc độ gió trung bình: 2,8 m/s

Tốc độ gió lớn nhất : 3,8 m/s

Châu Thành cũng như các vùng khác ở đồng bằng sông Cửu Long, bão xảy

ra rất ít, tuy nhiên vẫn chịu ảnh hưởng của bão từ xa, mưa lớn, nước từ Đồng Tháp Mười đổ về có thể gây ngập úng có hại cho sản xuất và cơ sở hạ tầng Mức ngập lụt

ở huyện từ 0,3 - 0,5 m

* Về dân số

Theo điều tra dân số năm 2009, toàn huyện có khoảng 97.419 người với mật

độ dân số khoảng 696 người/km2 Những năm qua dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền huyện, phong trào thực hiện kế hoạch hoá gia đình được tuyên truyền sâu rộng tới từng hộ gia đình, được kết hợp giữa giáo dục, tuyên truyền với các biện pháp hành chính, bước đầu đã thu được kết quả khả quan: tỷ lệ sinh giảm, hạn chế việc sinh dày, sinh sớm và sinh con thứ 3

2.1.3 Nguồn tài nguyên thiên nhiên

* Nguồn nước và thủy văn:

- Nguồn nước mặt:

+ Các sông rạch tự nhiên như sông Vàm Cỏ là hợp lưu của hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây nằm trong ranh giới của huyện dài 8 km

Trang 30

Sông Vàm Cỏ Tây chảy từ huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, vào huyện Châu Thành làm ranh giới cho huyện Châu Thành chiều dài đoạn này là 10 km

Một số rạch nhỏ như sông Tra, rạch Tràm, rạch Kỳ Son, rạch Tầm Vu nối từ sông Vàm Cỏ Tây vào sâu trong nội đồng

+ Hệ thống kênh thuỷ lợi cung cấp nước ngọt: Bao gồm các kênh Hoà Phú, rạch Bà Lý, kênh Chiến Lược, kênh 30/4 Hệ thống kênh tưới tiêu kể trên chủ yếu khai thác nước của hệ thống Bảo Định và kênh Chợ Gạo, về chất lượng khá tốt song

về số lượng còn hạn chế, cần phải hết sức tiết kiệm

- Nguồn nước ngầm:

Theo tài liệu nước ngầm của Liên đoàn Địa chất - Thuỷ văn (bản đồ tỷ lệ 1/250.000) và kết quả khoan khai thác của chương trình nước sạch nông thôn, trong huyện Châu Thành tầng nước ngầm xuất hiện ở trên độ xâu 200 m Do lớp trầm

tích sông biển và biển (ở độ sâu hơn 200 m) trong các đứt gãy chứa nhiều von kiềm

làm nước cứng, chất lượng kém

- Ngập lũ: Khác với các huyện ở phía Bắc tỉnh Long An (nằm trong vùng Đồng Tháp Mười, hàng năm chịu ảnh hưởng lớn của lũ), Châu Thành cũng như các huyện phía Nam dường như ít chịu ảnh hưởng của lũ, chỉ có các tháng mưa tập

trung (tháng 10 và tháng 11), và gặp thời điểm triều cường thì lũ lụt mới xảy ra

- Xâm nhập mặn: Nguồn xâm nhập mặn vào địa phận Châu Thành từ cửa Soài Rạp, qua sông Vàm Cỏ lớn dẫn xâu vào nội đồng theo hai hướng chính là sông Vàm Cỏ Tây ở phía Bắc và sông Tra ở phía Nam So với các năm trước thời gian

1995 đến nay xâm nhập mặn có xu thế ngày càng tăng nhanh về cả hàm lượng và thời gian nhiễm mặn Các yếu tố dẫn đến xâm nhập mặn gia tăng là do hoạt động mạnh của thuỷ triều biển Đông, gió chướng, nắng hạn đặc biệt là lưu lượng nước nguồn của các sông ngày càng giảm

Mặn đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp Trong các năm gần đây, khí hậu thời tiết có nhiều biến động khác thường, hạn hán kéo dài, mặn xâm nhập sâu đã ảnh hưởng trực tiếp đến năng xuất và diện tích thu hoạch lúa cũng

bị ảnh hưởng theo

Nghiên cứu xâm nhập mặn trên một số dòng chảy như sau:

Trang 31

+ Sông Vàm Cỏ Tây: Tại Tân An thời gian xuất hiện mặn S > 2g/l thường bắt đầu từ giữa tháng 1, kết thúc vào giữa tháng 5, thời gian xuất hiện mặn 4g/l từ

tháng 3 đến đầu tháng 5 Hàng năm mặn thường lên đến Tuyên Nhơn (cách biển

144 km) Do đó việc sử dụng nước ở phía trên (Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, Tân Thạnh và

Thạnh Hoá) ngày càng có xu hướng gia tăng trong phạm vi từ Tân An đến sông Vàm Cỏ lớn mặn và có xu hướng ngày càng gia tăng

+ Sông Vàm Cỏ và sông Tra: Do gần biển nên diễn biến mặn phức tạp hơn, mặn 4g/l có khi kéo dài 6 - 7 tháng/năm Đặc biệt hai xã ven sông là Thuận Mỹ và Thanh Vĩnh Đông do hệ thống đê, cống chưa đảm bảo an toàn nên vào các tháng 12

và tháng 1 có gió chướng và triều cường mặn đã xâm nhập vào sâu trong nội đồng + Thuỷ triều: Châu Thành cũng như các huyện phía Nam của tỉnh, chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông qua sông Vàm Cỏ lớn và sông Vàm Cỏ Tây Một ngày triều có thời gian là 24 giờ 50 phút, một chu kỳ triều

từ 13 - 14 ngày và một ngày nước triều lên xuống có hai đỉnh triều và chân triều Thuỷ triều được xem là tác động chủ yếu đưa mặn xâm nhập sâu vào nội đồng trong mùa kiệt và gia tăng ngập úng vào mùa lũ

Do gần với sông lớn thông ra biển, biên độ triều lớn 3,5 - 3,9 m nên cường

độ truyền triều mạnh, đặc biệt vào mùa khô

Dạng triều ở hai sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây gần như nhau, nhưng lệch pha từ 0,5 - 1,5 giờ So sánh với cao trình mặt ruộng trung bình 0,7 - 1 m, nếu không có bờ bao có thể gây ngập từ 0,5 - 0,75 m Vì vậy để bảo vệ cây trồng, đồng thời khi nước sông bị nhiễm mặn sẽ làm tái nhiễm mặn cho đất, cần phải đắp bờ bao ngăn mặn Khi chân triều xuống trong mùa khô hoàn toàn có thể tiêu tự chảy rãi thuận lợi

- Chua phèn: chủ yếu bị ảnh hưởng của phèn ngoại lai từ sông Vàm Cỏ Tây vào tháng 7, tháng 8

* Tài nguyên đất

Kết quả điều tra được tổng hợp từ nguồn tư liệu: bản đồ tỷ lệ 1/25.0000 của

sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường tỉnh Long An xây dựng năm 1996 được trình bày trong trong Quy hoạch nông - lâm - ngư nghiệp và thuỷ lợi tỉnh Long An

* Về phân loại đất:

Trang 32

Tổng hợp trên bản đồ tỷ lệ 1/25.000, toàn bộ huyện Châu Thành có 4 nhóm đất chính

- Nhóm đất phù sa: Đây là nhóm đất có diện tich lớn nhất 7.977,37 ha (chiếm

52,98% diện tích tự nhiên), bao gồm 2 đơn vị chú giải bản đồ: đất phù sa sông Vàm

Cỏ có tầng loang lổ đỏ vàng: 1.638,57 ha (chiếm 20,5% diện tích đất phù sa) và đất phù sa sông Cửu Long có tầng loang lổ đỏ vàng: 6.338,8 ha (chiếm 79,5% diện tích

đất phù sa)

Đất phù sa có diện tích lớn lại phân bố khá tập trung ở các xã: Hoà Phú, Vĩnh Công, Hiệp Thạnh, Dương Xuân Hội, Long Trì, An Lục Long và thị trấn Tầm Vu Nếu xem nhóm đất líp cũng là đất phù sa nhưng bị xáo trộn thì toàn bộ diện tích đất

ở các xã này đều là đất phù sa Đây là nhóm đất có chất lượng tốt nhất, đặc biệt là đất phù sa sông Cửu Long

- Nhóm đất mặn: Diện tích 1.218 ha (chiếm 8,09% diện tích tự nhiên), có hai

đơn vị chú giải bản đồ là: đất mặn ít 276 ha chiếm 23% và đất mặn trung bình 942

+ Đất phèn tiêm tàng: tầng Pyrit 50 - 80 cm, mặn trung bình: 468,7 ha

+ Đất phèn tiêm tàng: tầng Pyrit 80 - 100 cm, mặn trung bình: 770 ha

+ Đất phèn thuỷ phân trên nền phèn tiềm tàng, tầng Jarosite 50 - 80 cm, mặn trung bình: 139,8 ha

Nhóm đất này cũng phân bố ở các xã ven sông Vàm Cỏ và Vàm Cỏ Tây, xa nguồn nước nên điều kiện canh tác gặp không ít khó khăn

- Nhóm đất xáo trộn (đã lên líp): đây là nhóm đất có diện tích lớn thứ hai sau nhóm đất phù sa: 3.747,8 ha (chiếm 24,89% tổng diện tích tự nhiên), phân bổ hầu

như đều khắp các xã Đất líp hiện đang dùng làm đất ở, xây dựng cơ bản, còn lại phần lớn trồng cây lâu năm, cây ăn quả mà chủ yếu là cây thanh long, dừa và mãng cầu

Trang 33

2.2 Thực trạng dữ liệu về địa chính và công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai ở huyện Châu Thành, tỉnh Long An

2.2.1 Thực trạng dữ liệu về địa chính và công tác chuẩn hóa dữ liệu địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

- Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1996: Chủ yếu sử dụng bản đồ giải thửa

đo vẽ theo Chỉ thị 299/TTg Bản đồ này thể hiện đến từng ranh giới thửa đất qua việc điều tra dã ngoại điều vẽ ảnh và được biên tập theo từng đơn vị xã Hệ thống bản đồ này đã tham gia cấp GCNQSDĐ tại địa phương Dữ liệu địa chính thời kỳ này chỉ được lưu trữ trên giấy, không có dạng số, hiện nay tài liệu này chỉ còn tính chất tham khảo khi cần thiết

- Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2008: Trong các năm từ 1997 đến 1999 được sự quan tâm của các cấp, các ngành, huyện Châu Thành đã được đầu tư đo vẽ thành lập bản đồ địa chính chính quy ở hệ tọa độ HN-72 trên toàn bộ diện tích của huyện Trong đó khu trung tâm thị trấn Tầm Vu, các tuyến dân cư các xã Bình Quới được đo vẽ ở tỷ lệ 1/500, 1/1000 bằng phương pháp toàn đạc, phần diện tích còn lại được đo vẽ bằng phương pháp ảnh hàng không ở tỷ lệ 1/5000, năm 2000 xã Hiệp Thạnh được đo vẽ nâng cấp lên bản đồ tỷ lệ 1/2000 bằng phương pháp đo vẽ ảnh hàng không Tất cả các dữ liệu bản đồ này đều được vẽ và lưu trữ dạng số trên AutoCAD, hồ sơ địa chính được lưu trữ ở trên giấy Ngoài ra, trong một số năm gần đây ở các xã Bình Quới, Thuận Mỹ, Thanh Vĩnh Đông, thị trấn Tầm Vu có tiến hành đo đạc thành lập bản đồ các khu công nghiệp, khu tái định cư, các chợ xã, tuyến dân cư ở các tỷ lệ 1/500, 1/1000, 1/2000 nhằm phục vụ cho công tác kê biên, bồi thường, giải tỏa, cấp GCN, dữ liệu bản đồ được lưu trên MicroStation

Năm 2002, thực hiện chủ trương chuẩn hóa lại dữ liệu bản đồ và hồ sơ địa chính theo chuẩn quy định của Tổng Cục Địa chính, dữ liệu bản đồ địa chính của toàn huyện (bản đồ đo đạc chính quy các năm 1997-1999) đã được chuyển về dạng

số trên nền MicroStation tích hợp trong Famis và dữ liệu hồ sơ địa chính đã được nhập và kết nối với dữ liệu bản đồ địa chính thông qua phần mềm Famis-Caddb Qua các năm từ khi thành lập bộ bản đồ địa chính chính quy, đến năm 2003 tình hình biến động đất đai diễn biến hết sức phức tạp, do vậy huyện Châu Thành đã tiến hành chỉnh lý biến động bản đồ và hồ sơ địa chính trên diện tích toàn bộ huyện

Trang 34

Bộ bản đồ và hồ sơ địa chính này đã khắc phục được cơ bản các sai sót, các biến động về đất đai của khu vực huyện từ khi hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính được thiết lập trong các năm từ 1997 đến 2001

Nhằm đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tài nguyên và môi trường và trong việc hoạch định các chiến lược, chính sách nhằm phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Long An, năm 2006 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Long An đã thông qua Viện Nghiên cứu Địa chính tư vấn, lập Dự

án xây dựng Hệ thống thông tin địa lý tỉnh Long An (LONGANGIS) Dữ liệu địa chính đã được chuẩn hóa và lưu trữ trên Mapinfo Tuy nhiên, do dữ liệu địa chính này không được bảo trì thường xuyên nên đã lạc hậu

- Giai đoạn từ năm 2008 đến nay: Từ năm 2008 đến năm 2012, huyện Châu Thành được UBND tỉnh Long An đầu tư đo đạc nâng tỷ lệ bản đồ địa chính từ 1/5000 lên 1/500, 1/1000, 1/2000 và lập lại toàn bộ hồ sơ địa chính của cả 13 xã, thị trấn Sản phẩm địa chính cơ bản đáp ứng yêu cầu công tác quản lý đất đai tại địa phương

Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính là yêu cầu cơ bản

để xây dựng hệ thống thông tin đất đai theo hướng công nghệ hiện đại Do việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của 13 xã, thị trấn chỉ mới dừng lại ở việc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính dạng số (*Dgn và Famis - Caddb) cho riêng từng xã trên địa bàn huyện mà chưa kết nối dữ liệu không gian địa chính và thuộc tính địa chính trên cùng một hệ thống tạo thành cơ sở dữ liệu địa chính được tổ chức, quản

lý ở cấp huyện, chưa cập nhật biến động thường xuyên kịp thời, chưa trao đổi phân phối, quản lý, tổng hợp và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu địa chính giữa cấp huyện và cấp tỉnh; khai thác sử dụng hiệu quả một cách hiệu quả, chính xác, …

Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính là yêu cầu cơ bản

để xây dựng hệ thống thông tin đất đai theo hướng công nghệ hiện đại Do việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính của 06 xã của huyện Châu Thành chỉ mới dừng lại ở việc lập bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính dạng số (*Dgn và Famis - Caddb) cho riêng từng xã trên địa bàn huyện mà chưa kết nối dữ liệu không gian địa chính và thuộc tính địa chính trên cùng một hệ thống tạo thành cơ sở dữ liệu địa chính được

tổ chức, quản lý ở cấp huyện, chưa cập nhật biến động thường xuyên kịp thời, chưa

Trang 35

trao đổi phân phối, quản lý, tổng hợp và đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu địa chính giữa cấp huyện và cấp tỉnh; khai thác sử dụng hiệu quả một cách hiệu quả, chính xác, … Theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 1474/CT-TTg ngày

24/8/2011 là: “Việc đầu tư kinh phí tập trung để thực hiện đo đạc lập bản đồ địa

chính gắn với GCN và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, hoàn thành dứt điểm cho từng đơn vị hành chính cấp huyện; thường xuyên chỉ đạo theo dõi, cập nhật, chỉnh

lý biến động đất đai ở các cấp, phát huy hiệu quả của hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu địa chính và thực hiện tốt việc thống kê đất đai định kỳ hàng năm”,

Để khắc phục tình hình trên, có bước đi phù hợp, đầu tư đồng bộ và chỉ đạo thực hiện đầy đủ nhằm đạt được mục tiêu chung là: “xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo mô hình tập trung, thống nhất từ Trung ương đến cấp tỉnh, cấp huyện nhằm xây dựng mô hình quản lý đất đai hiện đại, đáp ứng yêu cầu thông tin đất đai của các ngành, các lĩnh vực và các giao dịch của người sử dụng đất; xây dựng xong cho mỗi tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương một mô hình cơ sở dữ liệu đất đai hoàn chỉnh trên phạm vi cấp huyện làm cơ sở triển khai trên diện rộng trong những năm tới”, năm 2012 Sở Tài nguyên và Môi trường Long An đã xây dựng và triển khai thực hiện Phương án “Chuyển đổi hồ sơ địa chính vào phần mềm quản lý đất đai (ViLIS) huyện Châu Thành và huyện Tân Trụ, tỉnh Long An” nhằm đáp ứng nhu cầu công tác quản lý nhà nước về đất đai theo hướng công nghệ hiện đại, đồng thời làm thay đổi nhận thức, tư duy mới trong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và công nghệ thông tin cho nguồn nhân lực tại địa phương trong giai đoạn hiện nay

2.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực

Hãng sản xuất hoặc chủng loại

I Hệ thống trang thiết bị

1 Máy toàn đạc điện tử Cái 01 Tốt Suoth 350

2 Máy tính để bàn Cái 01 Tốt Celeron(R) CPU430@1.8

Trang 36

STT Nội dung ĐVT Số

lượng

Tình trạng

Hãng sản xuất hoặc chủng loại GHz

02 Tốt

Pentium(R)Dual CPU2180@2GHz (2 CPUs)

02 Tốt Cleron(R) CPU2.53 GHz

01 Tốt Pentium(R) CPU2.4 GHz

01 Tốt

Pentium(R) Dual-core CPUE5300@2.6GHz (2CPUs)

3 Máy tính xách tay Cái 01 Tốt

Dell Intel(R) core(TM) i3CPU M370 2.4GHz (4CPUs)

(Nguồn: Phòng Tài nguyên và Môi trường hai huyện Châu Thành

Hiện trạng hệ thống trang thiết bị tại Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Châu Thành cơ bản đáp ứng được nhu cầu xây dựng, quản lý và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính cấp huyện Để đảm bảo việc quản lý, vận hành, cập nhật và trao đổi dữ liệu địa chính giữa cấp huyện và cấp

Trang 37

tỉnh trong thời gian tới được tốt hơn Do đó, huyện cần phải đầu tư có ít nhất 01 máy chủ Server hoặc 01 máy chủ backup dữ liệu, thiết bị lưu trữ và nâng cấp tốc độ đường truyền mạng Máy chủ Server hoặc 01 máy chủ backup dữ liệu có cấu hình cao hơn

b Nguồn nhân lực

Bảng 02: Tình hình nguồn nhân lực Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Châu Thành

TT Chuyên ngành đào tạo

Chuyên môn đào tạo Thạc sĩ Đại học Cao đẳng Trung cấp

lý đất đai trong giai đoạn hiện nay theo hướng công nghệ hiện đại

Trang 38

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác chuẩn hóa dữ liệu đất đai huyện Châu Thành, tỉnh Long An

2.3.1 Quan điểm chủ trương của Đảng và Nhà nước về công tác xây dựng

cơ sở dữ liệu đất đai

Năm 2011 Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gấp rút chấn chỉnh việc cấp Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất Bố trí đủ kinh phí từ ngân sách địa phương, bảo đảm dành tối thiểu 10% tổng số thu từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất để đầu tư cho công tác đo đạc, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận QSD đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và đăng ký biến động, chỉnh lý hồ sơ địa chính thường xuyên [9]

Từ đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo Tổng cục Quản lý đất đai hướng dẫn, đôn đốc thực hiện các dự án xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nhằm sớm đưa vào vận hành và cập nhật thường xuyên CSDL này Đồng thời, Bộ Tài nguyên

và Môi trường cũng đã ban hành một số văn bản tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng CSDL đất đai tại các địa phương trong thời gian này:

- Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ban hành ngày 02/8/2007 về ”Hướng dẫn việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính”;

- Thông tư số 17/2010/TT-BTNMT, ban hành ngày 04/10/2010 qui định kỹ thuật về chuẩn dữ liệu địa chính;

- Thông tư số 04/2013/TT-BTNMT, ban hành ngày 24/4/2013 qui định về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai;

- Thông tư 18/2013/TT-BTNMT, ban hành ngày 18/7/2013 qui định Định mức kinh tế - kỹ thuật về xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Hiện nay, Luật số 45/2013/QH13 ngày 29 tháng 11 năm 2013 Luật đất đai, được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2014, lần đầu tiên Luật đất đai đã dành một chương gồm 5 điều (từ Điều 120-124) qui định cụ thể về nội dung, thành phần Hệ thống thông tin đất đai và cơ sở dữ liệu đất đai Đồng thời, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định về hồ sơ địa chính đã qui định

cụ thể theo từng nhóm dữ liệu (về thửa đất, về người, về quyền, về tài sản, về tình

Trang 39

Các qui định này là những tiêu chuẩn trong việc xác định nội dung các nhóm

dữ liệu thuộc tính, các lớp đối tượng không gian trong xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính Để đáp ứng được các tiêu chuẩn này thì hiện tại các địa phương sẽ phải tiến hành phân loại, tách, lọc các đối tượng trên hồ sơ địa chính, chuyển sang dạng số và chuẩn hóa tất cả các dữ liệu thuộc tính, dữ liệu không gian của mỗi thửa đất để chuyển vào cơ sở dữ liệu địa chính theo đơn vị hành chính cấp xã

2.3.2 Yếu tố quy định kỹ thuật, đánh giá chất lượng sản phẩm liên quan đến công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai

Các sản phẩm liên quan đến công tác xây dựng CSDL đất đai phải đảm bảo các yêu cầu sau:

- Tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về nội dung thông tin quy định trong danh mục đối tượng địa chính theo chuẩn dữ liệu địa chính; (việc đánh giá chất lượng dữ liệu địa chính được thực hiện theo quy định tại thông tư số 24/2014/TT-BTNMT, ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường qui định về hồ sơ địa chính và thông tư số 05/2009/TT-BTNMT ngày 01/6/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công trình, sản phẩm địa chính)

- Hạng mục và mức độ kiểm tra chất lượng sản phẩm cơ sở dữ liệu địa chính phải đáp ứng được yêu cầu theo quy định tại Phụ lục IV ban hành kèm theo Thông

tư số 17/2010/TT-BTNMT quy định về chuẩn dữ liệu địa chính

2.3.3 Yếu tố chính sách (sự thay đổi luật đất đai và các văn bản dưới luật qua các thời kỳ liên quan đến việc sử dụng đất)

Chính sách là yếu tố vô cùng quan trọng đối với tất cả các lĩnh vực đang hoạt động Nó đóng vai trò trong việc quản lý và định hướng cho sự phát triển của các lĩnh vực đó

Đối với lĩnh vực quản lý đất đai, đã có rất nhiều các văn bản pháp luật đã được ban hành để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước cũng như của ngành quản lý đất đai Hiện tại, có những văn bản còn hiệu lực nhưng cũng có những văn bản đã hết hiệu lực Cũng chính điều này đã làm phát sinh rất nhiều các

dữ liệu đất đai qua các thời kỳ khác nhau Cùng một loại dữ liệu thì thông tin cũng khác nhau do các quy định đưa ra khác nhau ở mỗi thời kỳ Tuy nhiên, đối với công tác chuẩn hóa đất đai thì các nguồn dữ liệu trên đều sẽ được xem xét đến khi tiến

Trang 40

hành chuẩn hóa vì các nguồn dữ liệu đất đai trong quá khứ một mặt sẽ được sử dụng để quản lý, mặt khác sẽ phục vụ việc tra cứu, kiểm tra

Có thể chia nội dung cơ bản của công tác quản lý đất đai theo sự thay đổi luật đất đai và các văn bản dưới luật từ năm 1945 đến nay thành 5 giai đoạn như sau: Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1987: Chưa có Luật đất đai;

Giai đoạn từ năm 1988 đến năm 1993: Thực hiện theo Luật Đất đai 1987; Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2003: Thực hiện theo Luật Đất đai 1993; Giai đoạn từ năm 2004 đến tháng 6/2014: Thực hiện theo Luật Đất đai 2003; Giai đoạn từ năm tháng 7/2014 đến nay: Thực hiện theo Luật Đất đai 2013

* Giai đoạn chưa có Luật đất đai (từ năm 1945 đến ngày 07-01-1988)

Giai đoạn này bao gồm toàn bộ thời kỳ Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1945-1975) và thời kỳ đầu của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam

từ khi thống nhất đất nước cho đến khi bắt đầu đổi mới (1976- 1987) Đặc trưng cơ bản của chính sách ruộng đất trong thời kỳ này là: khai hoang, vỡ hoá, tận dụng diện tích đất đai để sản xuất nông nghiệp; tịch thu ruộng đất của thực dân, việt gian, địa chủ, phong kiến chia cho dân nghèo; chia ruộng đất vắng chủ cho nông dân Giai đoạn này tuy chưa có Luật đất đai nhưng đã có nhiều văn bản pháp quy để điều chỉnh các quan hệ về ruộng đất với nội dung cơ bản là ngày càng tăng cường công tác quản lý đất đai Đồng thời cũng đã sơ khai quy định các nội dung quản lý nhà nước về đất đai

* Giai đoạn thực hiện Luật Đất đai 1987 (từ 08-01-1988 đến 14-10-1993)

Luật Đất đai 1987 khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và vẫn giữ 7 nội dung quản lý nhà nước về đất đai nhưng có hoàn thiện hơn

Luật Đất đai 1987 quy định phân chia toàn bộ quỹ đất đai của Việt Nam thành 5 loại là: đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất khu dân cư, đất chuyên dùng, đất chưa sử dụng Đây là văn bản luật đầu tiên điều chỉnh quan hệ đất đai, bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước, giao đất ổn định lâu dài

Luật Đất đai 1987 được soạn thảo trong bối cảnh nước ta bắt đầu đổi mới, vừa tuyên bố xóa bỏ chế độ quan liêu bao cấp nên còn mang nặng tính chất của cơ chế đó khi soạn luật; do đó đã bộc lộ một số tồn tại sau: Việc tính thuế trong giao

Ngày đăng: 25/03/2021, 15:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w