- Kiểm tra tính mẫn cảm của các chủng Pseudomonas aeruginosa phân lập được với một số loại chất kháng sinh - Kiểm tra hoạt tính kháng sinh của các chủng xạ khuẩn đã phân lập được với vi
Trang 1Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
VIỆN HÀN LÂM KH&CN VIỆT NAM VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT
-*** -
LUẬN VĂN CAO HỌC
Mã số chuyên ngành: 60420103
Đề tài:
Tuyển chọn, cải biến và nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn có
khả năng kháng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa phân lập ở Việt Nam
Học viên: Nguyễn Huy Hùng
Lớp: CHST _ K16
Hướng dẫn: TS Nguyễn Xuân Cảnh
Hà Nội, 2014
Trang 2Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Lời cảm ơn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Xuân Cảnh Khoa Công nghệ sinh học - Học viện Nông nghiệp Hà Nội, là người thầy đã hướng cho tôi những ý tưởng khoa học, tận tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành bản luận án này
Tôi xin cảm ơn tất cả các thầy cô giáo Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam đã chia sẻ, động viên, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành tốt công việc nghiên cứu của mình
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình và bè bạn, những người luôn bên tôi, động viên,góp ý và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập
và nghiên cứu
Tác giả
Trang 3Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và một số kết quả cùng cộng tác với các đồng sự khác Các số liệu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả
Trang 4Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
Danh mục hình iv
Danh mục bảng v
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 GIỚI THIỆU VỀ XẠ KHUẨN 3
1.1.1 Sự phân bố và ý nghĩa của xạ khuẩn trong tự nhiên 3
1.1.2 Vị trí của xạ khuẩn trong sinh giới 4
1.1.3 Cấu tạo của xạ khuẩn 5
1.1.4 Đặc điểm hình thái của xạ khuẩn 8
1.1.5 Sự hình thành bào tử xạ khuẩn 9
1.1.6 Sinh tổng hợp chất kháng sinh 11
1.2 PHÂN LẬP CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN SINH TỔNG HỢP CHẤT KHÁNG SINH 13
1.2.1 Phân lập các chủng xạ khuẩn sinh chất kháng sinh 13
1.2.2 Phân loại và định tên xạ khuẩn 14
2.1 VẬT LIỆU 33
2.1.1 Chủng giống vi sinh vật 33
2.1.2 Hóa chất 33
2.1.3 Thiết bị 33
2.1.4 Môi trường 33
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.2.1 Bảo quản giống [3] .34
2.2.2 Xác định đặc điểm sinh học 35
2.2.3 Xác định sinh khối 36
2.2.4 Xác định hoạt tính kháng sinh [6,19] .36
2.2.5 Nghiên cứu điều kiện lên men [3, 6] 37
Trang 5Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn ii
2.2.6 Chạy sắc ký giấy chất kháng sinh 38
PHẦN 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 39
3.1 Phân lập vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa 39
3.2 Xây dựng kháng sinh đồ đối với các chủng P aeruginosa phân lập 41
3.3 Phân lập và tuyển chọn các chủng xạ khuẩn có khả năng kháng vi khuẩn P aeruginosa 42
3.3.1 Phân lập xạ khuẩn 42
3.3.2 Sàng lọc và tuyển chọn các chủng xạ khuẩn kháng vi khuẩn P aeruginosa 43 3.4 Nghiên cứu các đặc điểm phân loại và đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn 8.9 45
3.4.1 Đặc điểm nuôi cấy và đặc điểm hình thái 45
3.4.1 Đặc điểm hình thái 46
3.4.2 Một số đặc điểm sinh hóa của chủng 8.9 46
3.4.3 Mô tả đặc điểm phân loại 48
3.4.4 Phân loại bằng phương pháp sinh học phân tử 50
3.5 Nghiên cứu động thái lên men của chủng xạ khuẩn 8.9 52
3.6 Nghiên cứu một số tính chất của dịch kháng sinh thô 54
3.6.1 Tách chiết chất kháng sinh 54
3.6.2 Độ bền nhiệt của dịch kháng thô 54
3.6.3 Ảnh hưởng của pH đến độ khuếch tán của dich kháng sinh thô 55
3.6.4 Đặc điểm sắc kí của dịch kháng sinh thô của chủng xạ khuẩn 8.9 trong một số hệ dung môi 55
3.7 Nghiên cứu cải biến chủng xạ khuẩn 8.9 56
PHẦN 4 KẾT LUẬN 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Tài liệu tiếng Việt 60
Tài liệu tiếng anh 60
Trang 6Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
HSCC Hệ sợi cơ chất
HSKS Hệ sợi khí sinh
RNA Ribonucleic acide
DNA Deoxyribonucleic acide
RA Cuống bào tử xoắn đơn hình móc câu
RF Cuống bào tử thẳng hay lƣợn song
CSBT Cuống sinh bào tử
Trang 7Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn iv
Danh mục hình
Hình 1.1 Khuẩn lạc xạ khuẩn
Hình 1.2 Bào tử xạ khuẩn
Hình 1.3 Trực khuẩn mủ xanh Pseudomonas aeruginosa
Hình 3.1 Hình thái khuẩn lạc (A) và tế bào ở độ phóng đại 11000 lần trên kính
hiển vi điện tử quết của chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa phân lập tại tại
bệnh viện huyết học truyền máu TW sau 02 ngày nuôi cấy ở 370C
Hình 3.2 Thử hoạt tính kháng sinh chủng vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa của
các chủng xạ khuẩn bằng phương pháp khối thạch
Hình 3.3 Kết quả thử hoạt tính các chủng xạ khuẩn phân lập bằng phương pháp
giếng thạch với vi sinh vật kiểm định là vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa
Hình 3.4 Khả năng sinh trưởng và màu sắc khuẩn lạc chủng 8.9 khi nuôi cấy trên môi trường ISP-1 (A) và ISP-2 (B)
Hình 3.5 Hình thái cuống sinh bào tử và bề mặt bào tử của chủng xạ khuẩn NĐ 8.9 khi quan sát trên kính hiển vi quang học ở độ phóng đại 1000 lần (A) và kính hiển vi điện tử quết ở độ phóng đại 7500 lần
Hình 3.6 Sự sinh trưởng của chủng xạ khuẩn 8.9 trên môi trường có các nguồn cacbon khác nhau
Hình 3.7 Sinh trưởng và phát triển của chủng 8.9 trên môi trường ISP-6
Hình 3.8 Điện di sản phẩm PCR gene 16S rRNA của chủng 8.9
Hình 3.9 Cây phát sinh chủng loại của chủng 8.9
Hình 3.10 Động thái của quá trình lên men sinh tổng hợp chất kháng sinh của chủng xạ khuẩn 8.9 trên môi trường Gauze-1
Hình 3.11 Biểu đồ giá trị Rf của chất kháng sinh thô 8.9
Trang 8Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn v
Bảng 3.3 Phân loại xạ khuẩn theo nhóm màu
Bảng 3.4 Hoạt tính kháng sinh của các chửng xạ khuẩn tuyển chọn đối với vi
khuẩn Pseudomonas aeruginosa
Bảng 3.5 Đặc điểm hình thái nuôi cấy chủng 8.9
Bảng 3.6 Khả năng sử dụng nguồn cacbon của chủng xạ khuẩn 8.9
Bảng 3.7 So sánh đặc điểm hình thái của chủng 8.9 với chủng S parvulus
Bảng 3.8 Khả năng sử dụng nguồn cacbon của 2 chủng 8.9 và S parvulus
Bảng 3.9 So sánh trình tự gen 16S RNA trên ngân hàng gen quốc tế
Bảng 3.10 Hoạt tính kháng sinh của chủng xạ khuẩn 8.9 trên các môi trường nghiên cứu
Bảng 3.11 Sự biến đổi pH, hoạt tính kháng sinh, sinh khối chủng 8.9
Bảng 3.12 Hoạt tính của dịch kháng sinh thô của chủng xạ khuẩn 8.9 đối với vi
sinh vật kiểm định Pseudomonas aruginosa ở các nhiệt độ khác nhau
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của pH tới sự khuếch tán của chất kháng sinh
Bảng 3.14 Giá trị Rf của dịch kháng sinh thô trên một số hệ dung môi
Bảng 3.15 Hoạt tính kháng sinh của các chủng xạ khuẩn được lựa chọn sau khi
gây đột biến đối với vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa
Trang 9MỞ ĐẦU
Pseudomonas aeruginosa (hay còn gọi là Trực khuẩn mủ xanh) là một vi
khuẩn phổ biến gây bệnh ở động vật và con người Nó được tìm thấy trong đất, nước, hệ vi sinh vật trên da và các môi trường nhân tạo trên khắp thế giới Vi khuẩn không chỉ phát triển trong môi trường không khí bình thường, mà còn có thể sống trong môi trường có ít khí ôxy, và do đó có thể cư trú trong nhiều môi trường tự nhiên
và nhân tạo Vi khuẩn này dinh dưỡng bằng rất nhiều các hợp chất hữu cơ; ở động vật, nhờ khả năng thích ứng vi khuẩn cho phép nó lây nhiễm và phá hủy các mô của người
bị suy giảm hệ miễn dịch Triệu chứng chung của việc lây nhiễm thông thường là gây
ra viêm nhiễm và nhiễm trùng huyết Nếu vi khuẩn xâm nhập vào các cơ quan thiết yếu của cơ thể như phổi, đường tiết niệu, và thận, sẽ gây ra những hậu quả chết người; vì vi khuẩn này phát triển tốt trên các bề mặt bên trong cơ thể Vi khuẩn cũng được phát hiện trên các dụng cụ y khoa bao gồm catheter, gây ra nhiễm khuẩn bệnh viện và phòng mạch Đây cũng là nguyên nhân gây ra viêm chân lông
Nước ta là một nước nhiệt đới nóng ẩm thuận lợi cho vi sinh vật nói chung và
xạ khuẩn nói riêng phát triển Do đó, có thể tìm thấy nhiều chủng xạ khuẩn có khả
năng sinh kháng sinh quý, trong đó có kháng sinh kháng lại vi khuẩn Pseudomonas
aruginosa gây ra các bệnh về nhiễm trùng
Để giải quyết những vấn đề này, chúng tôi thực hiện đề tài: “Tuyển chọn, cải
biến và nghiên cứu đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn có khả năng kháng vi
khuẩn Pseudomonas aeruginosa phân lập ở Việt Nam”
*/ Mục tiêu của đề tài:
- Phân lập được vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa từ các mẫu thu thập tại một số
bệnh viện
- Sàng lọc và tuyển chọn được chủng xạ khuẩn có khả năng kháng vi khuẩn
Pseudomonas aeruginosa từ bộ sưu tập các chủng xạ khuẩn phân lập ở Việt Nam
Trang 10- Phân loại và nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chủng xạ khuẩn đã tuyển chọn
- Cải biến được chủng xạ khuẩn đã tuyển chọn để nâng cao hoạt tính kháng khuẩn
- Bước đầu xác định được nhóm hoạt chất chính từ chủng xạ khuẩn đã tuyển chọn tác
động lên vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa
*/ Nội dung
- Phân lập vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa từ các mẫu bệnh phẩm, nước thải, đất
thu thập tại một số bệnh viện
- Kiểm tra tính mẫn cảm của các chủng Pseudomonas aeruginosa phân lập được với
một số loại chất kháng sinh
- Kiểm tra hoạt tính kháng sinh của các chủng xạ khuẩn đã phân lập được với vi
khuẩn Pseudomonas aeruginosa để tuyển chọn ra các chủng có hoạt tính cao
- Phân loại và nghiên cứu các đặc điểm hình thái, nuôi cấy, sinh lý – sinh hóa của các chủng xạ khuẩn tuyển chọn
Trang 11TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIỚI THIỆU VỀ XẠ KHUẨN
1.1.1 Sự phân bố và ý nghĩa của xạ khuẩn trong tự nhiên
Xạ khuẩn (Actinomycetales) là một nhóm vi khuẩn thật (Bacteria) phân bố rộng
rãi trong tự nhiên: trong đất, trong nước ao hồ, một phần trong bùn và trong các cơ chất hữu cơ khác, thậm chí trong cả cơ chất mà các vi khuẩn khác và nấm mốc không phát triển được [3] Xạ khuẩn có nhiều nhất trong lớp đất bề mặt, số lượng không chỉ phụ thuộc vào loại đất mà còn phụ thuộc vào mức độ canh tác của đất và khả năng bao phủ của thực vật Đất giầu dinh dưỡng và lớp đất trên bề mặt (đến 40cm) thường
có số lượng xạ khuẩn lớn Số đơn vị sinh khuẩn lạc (CFU- colony forming unit) xạ khuẩn trong 1g đất canh tác thường đạt tới hàng triệu mầm xạ khuẩn, đất hoang hoá chỉ có 10-100 nghìn mầm Số lượng xạ khuẩn trong đất cũng thay đổi theo thời gian trong năm [6, 28]
Xạ khuẩn cũng thường sống trên các cây chết, rơm rạ, thường hoại sinh nhưng
có thể kí sinh trên thân cây, ở củ và rễ cây Một số nghiên cứu cũng cho thấy sự có
mặt của xạ khuẩn trong trầm tích biển như các loài Actinomyces halophila, A
mortivalis và A iraquensis, Streptomyces như S antibioticus (MU106, MU107) và S rimosus (MU114) [15,16, 33] hoặc trong các mẫu nước và bùn ao nuôi trồng thủy sản
đặc biệt là ở lớp bùn, xác các hợp chất hữu cơ lắng đọng nhiều
Ngoài ra, pH của môi trường cũng ảnh hưởng đáng kể đến sự phân bố của xạ khuẩn, thường thì trong môi trường trung tính hoặc hơi kiềm, mật độ xạ khuẩn cao hơn so với các môi trường có độ pH quá cao hoặc quá thấp Xạ khuẩn thường hoạt động ở pH cao hơn so với nấm [6]
Xạ khuẩn được nghiên cứu một cách sâu sắc vì chúng có ý nghĩa quan trọng trong tự nhiên: tích cực tham gia vào các quá trình chuyển hoá nhiều hợp chất trong đất, trong nước, chúng có vai trò rất quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên Chúng sử dụng axit humic và các chất hữu cơ khó phân giải khác trong đất Bên cạnh đó chúng còn sản sinh nhiều sản phẩm trao đổi chất quan trọng nên đã
Trang 12được dùng để sản xuất nhiều loại enzim như proteaza, amilaza, xenlulaza, glucoizomeraza, vitamin và các axít hữu cơ [3] Do có các loại enzim này nên chúng cũng có khả năng phân giải các hợp chất bền vững như kitin, xenluloza, lignin… Một đặc điểm quan trọng của xạ khuẩn là khả năng sinh chất kháng sinh 60-70% xạ khuẩn phân lập được từ đất có khả năng này Trong số khoảng 8000 chất kháng sinh hiện đã được biết đến trên thế giới thì trên 80% là do xạ khuẩn [17] Chúng sống trên rễ cây hoặc củ và gây bệnh, nhất là ở vùng đất kiềm, đất cát khi thời tiết khô hạn, làm cho củ
lở loét, sần sùi ngay từ ngoài đồng ruộng Một số xạ khuẩn (thuộc chi Frankia) có thể
tạo nốt sần trên rễ một số cây không thuộc bộ đậu và có khả năng cố định Nitơ không
khí thành dạng dễ sử dụng cho cây Các chủng Streptomyces spp sinh độc tố
phytotoxin ảnh hưởng lớn tới mùa vụ, do chúng có thể tồn tại trong đất trên 10 năm [3, 6]
1.1.2 Vị trí của xạ khuẩn trong sinh giới
Trước đây, vị trí phân loại của xạ khuẩn luôn là câu hỏi gây nhiều tranh luận giữa các nhà vi sinh học do nó có những đặc điểm vừa giống vi khuẩn, vừa giống nấm Trước thế kỉ 19, xạ khuẩn được xếp vào nhóm nấm Về sau, khi đã nghiên cứu sâu hơn người ta đã tìm ra các bằng chứng về mối liên hệ giữa xạ khuẩn và vi khuẩn như:
- Một số xạ khuẩn như các loài thuộc chi Actinomyces và Nocardia rất giống với các loài vi khuẩn thuộc chi Lactobacillus và Corynebacterium
- Xạ khuẩn giống vi khuẩn ở chỗ không có nhân thật, chúng chỉ chứa nhiễm sắc chất phân bố dọc theo các sợi hoặc các tế bào
- Đường kính của sợi xạ khuẩn và bào tử giống với vi khuẩn Đồng thời xạ khuẩn thường không chứa vách ngăn
- Xạ khuẩn là đích tấn công của các thực khuẩn thể giống như vi khuẩn, trong khi đó, nấm không bị tấn công bởi thực khuẩn thể
- Xạ khuẩn thường nhạy cảm với các kháng sinh có tác dụng lên vi khuẩn nhưng lại thường kháng với những kháng sinh tác dụng lên nấm như các polyen
Trang 13- Xạ khuẩn chứa chitin, chất có mặt trong sợi và bào tử của nhiều nấm, mà không có ở vi khuẩn Đồng thời giống như phần lớn vi khuẩn, xạ khuẩn không chứa xenluloza
- Tương tự với vi khuẩn, xạ khuẩn nhạy cảm với phản ứng axít của môi trường, đặc điểm này không có ở nấm
- Các đặc điểm về sợi và nang bào tử lớn (sporangium) của chi Actinoplanes
cho thấy có thể chi này là cầu nối giữa vi khuẩn và các nấm bậc thấp
Từ những đặc điểm trên (về nhân nguyên thuỷ, kích thước nhỏ bé ) nên người
ta đã xếp xạ khuẩn vào nhóm vi khuẩn thật (Eubacteria)
Vị trí của nhóm vi khuẩn thật (Eubacteria) được xác định như sau: Năm 1978,
Gibbbens và Murray chia các vi khuẩn nhân nguyên thuỷ thành 4 ngành là ngành
Gracilicutes (gồm các vi khuẩn Gram âm), ngành Tenericute (gồm xạ khuẩn và các vi
khuẩn Gram dương), ngành Mendosicutes gồm các vi khuẩn không chứa Peptidoglican trong thành tế bào, và ngành Mollicutes gồm các vi khuẩn chưa có
thành tế bào
Năm 1977 và 1980, Woese và cộng sự chia vi khuẩn nhân nguyên thuỷ thành 2
giới là giới vi khuẩn thật (Eubacteria) (tương đương với 3 ngành Gracilicutes,
Tenericute, Mollicutes theo Gibbbens và Murray) và giới vi khuẩn cổ
(Archaebacteria) (tương đương với ngành Mendosicutes)[3]
Xạ khuẩn thuộc về nhóm vi khuẩn thật (Eubacteria), lớp Actinobacteria, bộ
Actinomycetales, bao gồm 10 dưới bộ, 35 họ, 110 chi và 1000 loài Hiện nay, 478 loài
đã được công bố thuộc chi Streptomyces và hơn 500 loài thuộc tất cả các chi còn lại
được xếp vào nhóm xạ khuẩn hiếm
1.1.3 Cấu tạo của xạ khuẩn
Xạ khuẩn giống nấm mốc ở chỗ có thể tạo thành hệ sợi, nhưng lại là cơ thể
đơn bào, không có nhân thực (procariotic) và có kích thước giống vi khuẩn Cấu trúc
khuẩn lạc xạ khuẩn được phân biệt ở hướng sinh trưởng trong và ngoài mặt môi trường thạch tạo thành khuẩn ty cơ chất và khuẩn ty khí sinh Khuẩn ty cơ chất
Trang 14(substrate mycelium) cắm sâu vào môi trường để lấy nước và thức ăn Khuẩn ty cơ chất phát triển một thời gian thì dài ra trong không khí thành khuẩn ty khí sinh (aerial mycelium) Người ta gọi khuẩn ty khí sinh là khuẩn ty thứ cấp để phân biệt với khuẩn
ty sơ cấp phát triển từ các bào tử nảy mầm Nhiều loại chỉ có khuẩn ty cơ chất nhưng
cũng có loại (như chi Sporichthya) lại chỉ có khuẩn ty khí sinh Khuẩn ty khí sinh phát
triển ra ngoài không khí và thường phần cuối các khuẩn ty này biến thành cuống sinh bào tử Loại khuẩn ty không mang bào tử gọi chung là khuẩn ty dinh dưỡng Khuẩn ty
xạ khuẩn mảnh hơn khuẩn ty nấm mốc, và có đường kính thay đổi trong khoảng từ 0,2-1,0µm đến 2-3µm Đa số xạ khuẩn có khuẩn ty không có vách ngăn và không tự đứt đoạn Một số xạ khuẩn có bao sợi là một bao mỏng bọc bên ngoài khuẩn ty khí sinh, có thể thấy rất rõ khi phân hoá thành bào tử [3]
* Màng tế bào xạ khuẩn khá phức tạp: gồm có thành tế bào và màng tế bào:
- Thành tế bào xạ khuẩn (CW) có dạng kết cấu lưới, dày khoảng 10-20nm, có tác dụng duy trì hình dáng của khuẩn ty và bảo vệ tế bào Căn cứ vào kết cấu hoá học người ta chia thành tế bào xạ khuẩn thành 4 nhóm:
Nhóm CW I: Có chứa L, L-DAP và Glixin (Streptomyces, Streptoverticillium,
Sporichthya, Nocardioides)
Nhóm CW II: Có chứa mezo-DAP và Glixin
Nhóm CW III: Có chứa mezo-DAP
Nhóm CW IV: Có chứa mezo- DAP, arbinoza và galactoza [3, 29]
Thành tế bào xạ khuẩn chủ yếu chia thành 3 lớp: lớp ngoài dày 60-120Å, khi già có thể dày tới 150Å; lớp giữa rắn chắc dầy 50Å và lớp trong dày 50Å Thành tế bào cấu tạo chủ yếu từ các lớp glucopeptit gồm các gốc N-axetylglucozamin liên kết với N-axetylmuzamic bởi liên kết 1,4-glucozit Khi xử lý bằng lizozim các liên kết này bị phá vỡ, thành tế bào bị phá huỷ và màng nguyên sinh chất bao bọc phần còn lại của tế bào tạo thành tế bào trần (protoplast) Cấu trúc sợi cũng mất đi khi xử lý bằng hỗn hợp eter, clorofoc và các dung môi hoà tan lipit Điều đó chứng tỏ lớp ngoài
Trang 15thành tế bào xạ khuẩn có cấu tạo bằng lipit Thành tế bào xạ khuẩn không chứa xenluloza hay kitin [3, 6, 13]
Đối với xạ khuẩn phân lập từ vùng ngập mặn, chúng có thành tế bào dày và độ bền cơ học cao để có thể chống chịu với môi trường khắc nghiệt bên ngoài (nồng độ muối trung bình 3-4%, pH 6,8 - 8,5 và nhiệt độ dao động từ 20-35C) Ở pH trung tính và kiềm như ở biển, so với xạ khuẩn trung tính, thành tế bào của xạ khuẩn chịu kiềm ngoài peptitdoglycan còn chứa nhiều polyme axit như là axit galacturonic, axit gluconic, axit glutamic, axit asparic và axit photphoric Với điện tích âm tạo bởi thành phần axit không thuộc peptidoglican, bề mặt tế bào có thể hấp thụ được ion Na+
và H+trong khi đẩy ion OH- Bên cạnh đó, tuy cấu trúc lớp peptitdoglycan là giống nhau ở
xạ khuẩn trung tính và chịu kiềm nhưng lại khác nhau về thành phần các hợp chất cấu thành, xạ khuẩn ưa kiềm chứa nhiều hesosamin và axit amin [25]
- Màng tế bào chất nằm dưới lớp thành tế bào, dày 7,5-10,0 nm Chúng có cấu trúc và chức năng tương tự như màng tế bào chất của vi khuẩn: chủ yếu gồm 2 thành phần là photpholipit và protein; màng chứa nhiều enzym có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình vận chuyển và trao đổi chất qua màng [6]
* Thể trung gian (mezoxom) nằm ở phía trong màng tế bào chất, có hình phiến,
hình bọng hay hình ống Công dụng của thể trung gian là làm tăng diện tích tiếp xúc của màng tế bào chất và do đó tăng cường hoạt tính enzim, tăng chuyển điện tử [3]
* Các vật thể ẩn nhập nằm trong tế bào chất của xạ khuẩn gồm có các hạt
poliphotphat (hình cầu, bắt mầu với thuốc nhuộm Soudan III), các hạt polisaccarit (bắt màu với dung dịch Lugol) [3]
Xạ khuẩn là nhóm vi khuẩn Gram (+), “nhân” của xạ khuẩn cùng loại với nhân của “vi khuẩn”, nhưng khác với nhóm vi sinh vật không có nhân thực khác là tỉ lệ G+C cao (>70%) trong khi đó ở vi khuẩn là 25 - 40%
Một trong những đặc điểm đáng lưu tâm của xạ khuẩn là chúng không bền vững về di truyền và thường xảy ra sự sắp xếp lại trong phân tử ADN Điều này gây
Trang 16ra một số hiện tượng kì lạ khác: tạo ra tính đa dạng của hình thái, tính kháng thuốc do
sự xuất hiện các dị vòng [3, 6, 23]
1.1.4 Đặc điểm hình thái của xạ khuẩn
Xạ khuẩn là nhóm vi khuẩn đặc biệt Trên môi trường đặc xạ khuẩn phát triển thành những khuẩn lạc khô, kích thước khuẩn lạc thay đổi tùy từng loại và điều kiện hoàn cảnh Khuẩn lạc xạ khuẩn không trơn ướt như ở vi khuẩn, nấm men mà thường
có dạng thô ráp, có các nếp toả ra theo hình phóng xạ vì vậy mới có tên gọi là xạ khuẩn (actinomycetes, tiếng Hi Lạp: Aktis là “tia”, mykes là “nấm”) Khuẩn lạc xạ khuẩn thường chắc (dùng que cấy không di được khuẩn lạc của xạ khuẩn vì khuẩn ty
cơ chất bám sâu trong thạch) Mặt khuẩn lạc xù xì, có dạng da, dạng vôi, dạng nhung
tơ hay dạng màng dẻo Khuẩn lạc của xạ khuẩn không thể lẫn với khuẩn lạc của nấm
vì khuẩn ty của xạ khuẩn thường mảnh hơn của nấm mốc (khuẩn ty cơ chất 0,8µm; khuẩn ty khí sinh 1,14µm), đường kính khuẩn ty nấm có thể lớn hơn 10 lần đường kính khuẩn ty của xạ khuẩn [3]
Khuẩn lạc xạ khuẩn thường có 3 lớp: lớp vỏ ngoài là các sợi bện chặt, lớp trong tương đối xốp và lớp giữa có cấu trúc tổ ong Khuẩn ty trong mỗi lớp có hoạt tính sinh học khác nhau Các sản phẩm trong qúa trình trao đổi chất như: chất kháng sinh, độc
tố, enzym, vitamin, axit hữu cơ… được tích lũy trong mỗi lớp khác nhau Khuẩn lạc
xạ khuẩn có màu sắc khác nhau: đỏ, da cam, vàng, lam, tím tùy thuộc vào loại và điều kiện ngoại cảnh Có loại xạ khuẩn có thể tạo sắc tố tan trong môi trường nuôi cấy, thường gặp các loại mang màu: xanh, tím, đỏ, da cam, vàng, lục, nâu và đôi khi màu đen Có sắc tố tan trong nước, có sắc tố chỉ tan trong dung môi hữu cơ [3, 6, 34]
Trang 17Hình 1.1 Khuẩn lạc xạ khuẩn 1.1.5 Sự hình thành bào tử xạ khuẩn
Xạ khuẩn sinh sản bằng cách tạo bào tử Khuẩn ty khí sinh phát triển ra ngoài không khí và thường phần cuối các khuẩn ty này biến thành cuống sinh bào tử Hai dạng cuống sinh bào tử (sporophore) và cuống sinh nang bào tử (sporangiophorres) có thể riêng rẽ, có thể phân nhánh
Cuống sinh bào tử (sporophore) hình thành bào tử trần (conidia hay conidiospores) Các chuỗi bào tử trần có thể chỉ là 1 bào tử, có thể có 2 bào tử, có thể
là chuỗi ngắn hoặc dài, có thể các bào tử trần nằm trên bó sợi (synnema), tương tự bó sợi của nấm
Cuống sinh nang bào tử (sporangiophorres) mang bào tử kín (sporangio-spores) nằm trong túi (nang) bào và bào tử di động [3]
Hình thái, kích thước của cuống sinh bào tử và bào tử là một đặc điểm quan trọng nhất trong phân loại xạ khuẩn
Cuống sinh bào tử thường có dạng thẳng (R) hay hơi cong (F), dạng xoắn lò so (kí hiệu S) xoắn đơn giản hình móc câu (RA) Cuống sinh bào tử dạng xoắn có chiều dài và số vòng khác nhau Cuống sinh bào tử dạng thẳng có thể là dài hoặc ngắn với các dạng lông cứng hoặc có thể thon lại, uốn cong hay kéo dài Những đặc điểm này
Trang 18rất quan trọng khi định tên xạ khuẩn Cuống sinh bào tử xạ khuẩn hình thành bào tử theo 3 phương thức sau:
- Phương thức phát triển toàn bộ: toàn bộ hay một bộ phận của khuẩn ty hình thành ra các thành của bào tử
- Phương thức phát triển trong thành: thành bào tử sinh ra từ tầng nằm giữa
màng nguyên sinh chất và thành khuẩn ty Trường hợp này gặp ở Planomonospora
- Phương thức phát triển bào tử nội sinh thật: thành khuẩn ty không tham gia
vào quá trình hình thành bào tử Trường hợp này gặp ở Thermoactinomycetes [3]
- Hình thái bảo tử cũng là một đặc điểm quan trọng trong định tên xạ khuẩn Bào tử trần (conodiospore) của xạ khuẩn có thể có hình tròn, hình bầu dục, hình que, hình trụ Bề mặt bào tử xạ khuẩn có dạng trơn nhẵn, xù xì, có vẩy, có gai, có lông Bào tử trần là cơ quan sinh sản chủ yếu của xạ khuẩn Bào tử trần được hình thành đồng thời trên tất cả chiều dài của cuống sinh bào tử theo hai phương thức khác nhau:
- Vách ngăn hình thành dần từ phía trong của màng tế bào và tiến dần vào trong tạo ra những vách ngăn không hoàn chỉnh, sau đó sợi bào tử mới phân cắt thành các bào tử trần
- Thành tế bào và màng tế bào đồng thời xuất hiện vách ngăn tiến dần vào phía trong làm cho sợi bào tử phân cắt, đồng thời tạo thành chuỗi bào tử trần [3]
Muốn kích thích hình thành bào tử, trước hết phải kích thích sự sinh trưởng của
khuẩn ty khí sinh Ví dụ khi nghiên cứu 6 chủng S griseus, Kalakoutski và Agre
(1973) nhận thấy muốn kích thích khuẩn ty khí sinh nên sử dụng các môi trường có bổ sung pepton, NaCl và glixerin Một số tác giả khác cho rằng việc bổ sung CaCO3 và CaCl2 vào môi trường cũng kích thích quá trình hình thành bào tử ở xạ khuẩn Tuy nhiên việc bổ sung các nguyên tố vào môi trường phải được nghiên cứu kỹ và chỉ sử dụng ở nồng độ nhất định Môi trường nuôi cấy nghèo dinh dưỡng sẽ kích thích hình thành bào tử ở xạ khuẩn còn môi trường nuôi cấy giàu dinh dưỡng thì quá trình sinh bào tử thường bị kìm hãm Độ ẩm và nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành bào tử [6]
Trang 19Ở các chủng xạ khuẩn sinh chất kháng sinh thuộc chi Streptomyces, khả năng
sinh kháng sinh liên quan đến sự hình thành bào tử được thể hiện rất rõ Trong nhiều trường hợp khi kích thích hình thành bào tử, hiệu suất sinh tổng hợp chất kháng sinh giảm đi Khi nghiên cứu đột biến và chọn lọc chủng xạ khuẩn sản xuất oxytetraxylin
và streptomyxin người ta nhận thấy nếu sự hình thành bào tử kém thì khă năng sinh tổng hợp kháng sinh lại tăng Đây cũng là đặc điểm cần lưu ý khi nghiên cứu chọn lọc các chủng có hoạt tính cao Như vậy, sự hình thành bào tử và khả năng sinh kháng sinh ở xạ khuẩn có mối quan hệ nghịch [16, 24]
Hình 1.2 Bào tử xạ khuẩn
1.1.6 Sinh tổng hợp chất kháng sinh
Xạ khuẩn là nhóm sinh vật có khả năng sinh kháng sinh cao, 60 - 70% xạ khuẩn phân lập được từ đất có khả năng này Trong số 9000 chất kháng sinh đã được
biết đến trên thế giới thì trên 80% là do xạ khuẩn sinh ra Chi Streptomyces là chi
quan trọng nhất trong nhóm xạ khuẩn, với trên 500 loài đã được miêu tả Chi này có nhiều loài có khả năng sinh kháng sinh, một trong số các kháng sinh rất quan trọng là
Streptomycin do S griseus sinh ra Khả năng sinh chất kháng sinh là kết quả của quá
trình đối kháng giữa các vi sinh vật và thúc đẩy quá trình tiến hoá của xạ khuẩn [17]
Trang 20Chất kháng sinh là chất trao đổi bậc 2, thông thường được hình thành ở cuối pha sinh trưởng, trong pha cân bằng Ở xạ khuẩn, sinh tổng hợp chất kháng sinh có quan hệ nghịch với sự hình thành bào tử Đó là điểm cần lưu ý trong khi nghiên cứu sinh tổng hợp kháng sinh từ xạ khuẩn [12]
Đối với sinh tổng hợp chất kháng sinh ở xạ khuẩn, người ta thường mô tả hai pha: pha sinh trưởng (trophophase): khuẩn ty sơ cấp phát triển nhanh với nguyên sinh chất đồng nhất làm giảm nguồn cacbon, nitơ và pH; pha sinh tổng hợp (idiophase): sinh trưởng chậm lại đôi khi xuất hiện quá trình tự tan của khuẩn ty và sinh tổng hợp chất kháng sinh mạnh [6, 16] Cũng có tác giả chia sự phát triển của giống thành 4 hoặc 6 pha theo các đặc điểm sinh hoá tế bào Trong một số trường hợp quá trình sinh học này lại diễn ra mạnh mẽ trong pha sinh trưởng như trường hợp của chủng xạ
khuẩn Saccharothrix sp SA 103 phân lập từ Sahara của Algeria, sinh kháng sinh
mutactimycin PR (Anthracycline mới) Quá trình tương tự cũng đã thấy ở chủng
Saccharothrix sp SA 233 sinh dithiolopyrrolone và chủng S clavuligerus sinh axit
clavulanic [12,30]
Mặc dù chất kháng sinh có cấu trúc khác nhau và vi sinh vật sinh ra nó cũng đa dạng nhưng quá trình sinh tổng hợp chúng dường như theo một số con đường nhất định Các con đường này chỉ là sự cải biên các con đường sinh tổng hợp của tế bào Các vật liệu ban đầu của của qúa trình chuyển hoá chất trao đổi bậc hai (chất kháng sinh) là những chất trao đổi sơ cấp Chất kháng sinh được tổng hợp từ 1, 2 hoặc 3 chất trao đổi bậc nhất, hoặc có thể là trùng hợp các hợp chất bậc nhất rồi biến đổi chúng bằng các enzim Mọi con đường sinh tổng hợp chất kháng sinh đều có sự tham gia của các enzim hoặc hệ thống enzim đặc biệt Các enzim này được mã hoá bởi các gen nằm trong những cụm (cluster) trên nhiễm sắc thể hoặc trên plasmit Ví dụ tổng hợp
chlotetraxyclin ở S aureofaciens có 3 hệ thống enzim (hay hệ thống gen) tham gia: hệ
thống 1 với hơn 200 gen mã cho các enzim chuyển glucoza thành axetyl-CoA; hệ thống 2 chuyển axetyl-CoA thành malonyl-CoA; hệ thống 3 chuyển malonyl CoA
Trang 21thành chlotetracyclin Tổng số gen ở 3 hệ thống liên quan tới tổng hợp chlotetracyclin lên tới 2000 gen [16,31,32,35]
Các chất kháng sinh từ xạ khuẩn rất phong phú và đa dạng, nguyên nhân là 1 loại kháng sinh có thể do nhiều loài vi sinh vật khác nhau tổng hợp ra, cũng có khi 1 loại vi sinh vật tạo ra nhiều loại kháng sinh khác nhau [31, 32] Ví dụ, có tới 27 chủng
xạ khuẩn khác nhau có thể tổng hợp được kháng sinh oxytetraxyclin, hay
Streptomyces rimosus cùng lúc có thể tổng hợp được oxytetracylin và rimicidin Ngày
nay số lượng chất kháng sinh được sản xuất từ xạ khuẩn tăng lên đáng kể, rất nhiều trong số đó đã được sản xuất ở quy mô thương mại, có ý nghĩa lớn trong y học và mang lại nhiều lợi nhuận
1.2 PHÂN LẬP CÁC CHỦNG XẠ KHUẨN SINH TỔNG HỢP CHẤT KHÁNG SINH
1.2.1 Phân lập các chủng xạ khuẩn sinh chất kháng sinh
Nhu cầu về các chất kháng sinh sử dụng trong nông nghiệp hiện nay rất lớn do
sự xuất hiện của nhiều tác nhân gây bệnh mới, cùng với hiện tượng kháng thuốc kháng sinh ngày càng phổ biến Việc tuyển chọn các chủng xạ khuẩn có khả năng đối kháng các chủng vi sinh vật gây bệnh trên cây trồng sẽ giúp hạn chế thuốc hóa học mà vẫn có tính an toàn cao [31,32,33]
Một trong những chính sách nhằm tách và tinh sạch các chất kháng sinh mới với mong muốn là khám phá các hệ sinh thái đặc biệt, như ở tầng nước sâu, vùng biển
có nồng độ muối cao hay vùng khí hậu khô cằn Từ năm 1975 đến 1994, một số loài
xạ khuẩn mới đã được phân lập và mô tả như Actinopolyspora halophila,
Actinopolyspora mortivalis và Actinopolyspora Trong nỗ lực tìm kiếm những chất
kháng sinh mới, gần đây các nhà khoa học đã phân lập được một chủng xạ khuẩn kí
hiệu Actinopolyspora AH1 ở Alibag, một vùng biển ở phía tây Ấn Độ Chủng này thuộc chi Actinopolyspora, có đặc điểm ưa mặn (sinh trưởng ở nồng độ muối 8-
15%w/v) và sinh trưởng tối ưu ở pH 7,6 Chủng này khác với tất cả các chủng trong
chi Actinopolyspore đã được mô tả trước đây nên được coi là một chủng mới [15, 20]
Trang 22Năm 1928, Fleming tình cờ phát hiện ra nấm Penicilium sinh kháng sinh penicilin
Nhưng ngày nay, cũng như các loại vi sinh vật sinh chất kháng sinh khác, xạ khuẩn được tìm ra theo quy trình tuyển chọn có hệ thống và cân nhắc kỹ lưỡng, thường tuân theo sơ đồ nhất định
Tuy nhiên, hiếm khi phân loại được một chủng từ tự nhiên có khả năng sinh kháng sinh cao đạt yêu cầu cho sản xuất thương mại, do đó công việc tuyển chọn giống luôn gắn liền với những thành tựu của di truyền học và đặc biệt là các phương pháp làm đột biến lí hoá, kỹ thuật khuếch đại gen nhờ plasmit Kết quả của những nghiên cứu cơ bản này đã giúp cho việc lựa chọn những giống có hoạt lực cao trong các điều kiện nuôi cấy ổn định và hình thành quy trình công nghệ áp dụng trong sản xuất có quy mô rộng lớn [1, 9]
1.2.2 Phân loại và định tên xạ khuẩn
Trong số xạ khuẩn đã được đặt tên thì Actinomyces Hart là loài lâu đời nhất
Actinomyces israeli được coi là chủng xạ khuẩn kị khí thuần chủng đầu tiên (1889), vì
trước khi phát triển phương thức giữ giống đông khô thì khó có thể bảo quản vi sinh vật lâu dài và nhiều chủng giống đã bị thất lạc Do vậy không có chủng xạ khuẩn nào được tìm ra sớm hơn các chủng mà Waksman phát hiện và lưu trong danh mục Bộ sưu tập giống của ông (1916-1919) Cho đến nay, có thêm rất nhiều chủng xạ khuẩn được lưu trong danh mục giống xạ khuẩn [6, 14]
Ba phương pháp phân loại xạ khuẩn là phương pháp phân loại truyền thống, phương pháp phân loại bằng kỹ thuật phân tử và phân loại số
a) Phương pháp phân loại truyền thống
Krainski (1914) lần đầu tiên đề ra các chỉ tiêu về đặc điểm sinh lí và coi đó là mấu chốt trong nguyên tắc phân loại để sơ bộ phân loại 17 chủng thuộc chi
Actinomyces Waksman và Curtis (1916), Waksman (1919) đã đề cập đến những dạng
trung gian trong mô tả phân loại của mình và coi đặc điểm hình thái của bào tử là đặc tính quan trọng của các cá thể Do vậy họ đã đưa ra một số loài mới có ý nghĩa Tiếp
đó Millard và Burr (1926) tìm ra 17 loài, Jensen (1930-1931) – 2 loài, Dunche (1934)
Trang 23– 13 loài Baldacci và cộng sự đã bắt đầu nghiên cứu xạ khuẩn từ năm 1936 và đến
năm 1953 công bố một khoá phân loại chi Streptomyces dựa trên cơ sở màu sắc khuẩn
ty khí sinh, khuẩn ty cơ chất và một số đặc điểm trung gian khác nhau [11] Năm
1943, Waksman và Henrici đã đưa ra một số hệ thống phân loại và đến năm 1961 có sửa đổi [36] Trong hệ thống này, xạ khuẩn được xếp thành nhóm gồm 3 họ, chia nhỏ
thành 10 chi và mô tả chi tiết hơn 250 loài thuộc chi Streptomyces Krassilnikov là
một trong những chuyên gia nổi tiếng về nghiên cứu và phát triển khoá phân loại xạ khuẩn Từ năm 1941 đến năm 1949 ông đã phát triển 38 loài mới Năm 1970, ông lại công bố hệ thống phân loại mới dựa trên hệ thống đã công bố năm 1949 Trong đó xạ
khuẩn được phân chia thành 6 họ, gồm 26 chi Theo ông Actinomyces được dùng như một tên gọi chung cho những loài thuộc chi Streptomyces mà Waksman và Henrici đã
phác hoạ năm 1943 [14]
Một số nhà nghiên cứu người Đức (Flaig và cộng sự, 1952; Flaig và Kutzner,
1954; Kuster và Geiuz, 1955) cho rằng chi Streptomyces là một nhóm lớn Lần đầu
tiên họ sử dụng kính hiển vi điện tử để nghiên cứu đặc điểm bào tử của chi này
Kutzner đã phát triển một khoá phân loại Streptomyces dựa trên cơ sở hình dáng
cuống sinh bào tử, cấu trúc hiển vi điện tử của bào tử, sự tạo thành sắc tố tan, hoạt phổ kháng khuẩn và một số đặc điểm sinh lí khác [18]
Năm 1957, Gauze và cộng sự đã công bố hệ thống phân loại mới Hệ thống này dựa vào màu sắc khuẩn ty khí sinh, khuẩn ty cơ chất, hình dạng bào tử và cuống sinh bào tử Hệ thống này cũng được chỉnh lý và tái bản năm 1983 Số lượng hệ thống phân loại xạ khuẩn ngày một tăng trong những năm gần đây (Praceser, 1968; Kuster, 1972; Pridham, 1974; Arai; 1969; Nonomura, 1974; Szabos, 1965…) Đó là hình thức phân loại truyền thống dựa trên đặc điểm hính thái và tính chất nuôi cấy Hình thức này hiện nay vẫn đang được sử dụng phổ biến
b) Phương pháp phân loại sinh học phân tử
Ngày nay nhờ sự phát triển cao của kỹ thuật, phương pháp phân loại phân tử đã được sử dụng vào phân loại xạ khuẩn Trong hệ thống phân loại xạ khuẩn hiện nay
Trang 24người ta vẫn dùng 3 phương pháp chính: lai ADN, lai ARN và phân tích rARN 16S [37, 38] Kết quả được biểu hiện bằng số phần trăm sự đồng nhất (homology) Hiện nay, đại đa số các nhà khoa học đồng ý với quan niệm hai chủng được coi là hai loài riêng biệt nếu chúng giống nhau dưới 70% khi tiến hành lai ADN Phân tích rARN 16S để liệt kê thứ tự các nucleotit đặc trưng của cá thể và so sánh với bảng liệt kê của
cơ thể khác để xác định mức độ giống nhau của chúng Keswani và cộng sự đã chứng minh rằng nếu sự tương đồng giữa hai trình tự rADN 16S là 98.6% thì xác suất để mức độ giống nhau trong phép lai ADN thấp hơn 70% sẽ là 99% Vì thế giá trị tương đồng 98.6% của trình tự rADN 16S được coi là ngưỡng để phân biệt hai loài khác nhau Tuy nhiên, cũng có nhiều nhà khoa học lấy giá trị này là 98%
Bằng phương pháp phân loại này, những kiến thức về phân loại cũng có nhiều
thay đổi Ví dụ các nhà phân loại cho rằng chi Nocardia dị nhân (heterogeneous), nên
về mặt di truyền đã xếp loài Nocardia mediterranci sinh rifamixin vào chi
Streptomyces và mang tên mới là S mediterranci; hợp nhất hai chi Streptomyces và Streptoverticillium vào một chi Streptomyces hoặc chuyển loài Nocardia erythropolis
vào chi Mycobacterium (mang tên mới M rodochrous) [23]
Vì số lượng các loài xạ khuẩn mới được mô tả ngày càng nhiều và để việc phân loại nhanh, chính xác về di truyền phân tử, người ta đã sử dụng phương pháp phân loại số (dùng máy vi tính) cũng như đưa thêm các đặc điểm phân loại và phát sinh chủng loại
c) Phân loại số (Numerical taxonomy)
Phân loại số đã được Williams và cộng sự (1983) sử dụng để phân loại chi
Streptomyces và các chi có quan hệ gần gũi Phương pháp này dựa trên sự đánh giá về
số lượng mức độ giống nhau giữa các vi sinh vật theo một số lớn các đặc điểm, chủ yếu là các đặc điểm hình thái, sinh lý – sinh hoá Để so sánh các chủng với nhau từng đôi một, Sneath (1973) đề nghị tính hệ số giống nhau S (similarity) theo phương trình sau:
Trang 25%S =
d s
s
N N
x N
100
Trong đó: Ns – Tổng số các đặc điểm dương tính của 2 chủng so sánh
Nd – Tổng số các đặc điểm dương tính của chủng này và âm tính của chủng kia
Kết quả phân tích số được biểu diễn bằng sơ đồ nhánh mà trên đó các chủng tuỳ theo mức độ giống nhau được nhóm thành từng cụm (Cluster) [26, 27] Bằng phân
loại số, người ta chia xạ khuẩn chi Streptomyces thành 21 nhóm lớn, 37 nhóm nhỏ và
13 cụm với những đại diện duy nhất Trên cơ sở nhận được, người ta đưa ra thuật toán học để xác định những chủng xạ khuẩn chưa biết Mặc dù nguyên tắc là giảm số lượng các đặc điểm, nhưng cũng còn tới 139 đặc điểm đã được sử dụng trong phân loại số [10, 21, 23]
Cả ba phương pháp phân loại trên hiện vẫn đang được sử dụng độc lập hoặc kết hợp với nhau để định tên loài một cách chính xác trong phân loại xạ khuẩn hiện nay Mỗi phương pháp có một ưu điểm nhất định, tuy nhiên vì lí do thực dụng, người ta vẫn chủ yếu dựa vào phương pháp truyền thống là chủ yếu
1.3 Chất kháng sinh từ xạ khuẩn
1.3.1 Lịch sử nghiên cứu chất kháng sinh
Theo định nghĩa của Outchinnikov Chất kháng sinh là chất có nguồn gốc thiên
nhiên và các sản phẩm cải biến của chúng bằng con đường hóa học có khả năng tác dụng chọn lọc đối với sự phát triển của VSV, tế bào ung thư ở ngay nồng độ thấp Người đầu tiên đặt nền móng cho khoa học nghiên cứu CKS là Alexander Fleming – Nhà sinh vật học người Anh, đã phát hiện ra penixillin vào tháng 10 năm 1928
Sau một thập kỷ, nhờ sự nỗ lực hợp tác của các nhà vi sinh học và sinh hóa học Anh, Mỹ, penixillin đã được nghiên cứu, sản xuất với số lượng lớn và trở thành
“một loại thuốc thần kỳ” Năm 1945, A.Fleming, E.Chain và H.W.Florey đã được
Trang 26nhận giải thưởng Nobel vì đã khám phá ra giá trị to lớn của penixillin mở ra một
kỷ nguyên mới trong y học – kỷ nguyên kháng sinh
Những năm 1940 – 1959 được coi là thời kỳ hoàng kim của việc nghiên cứu
CKS với hàng loạt CKS mới liên tiếp được phát hiện như: gramixidin, tiroxidin do Rene, Jules Dubos phát hiện năm 1939, streptomycin do Waksman phát hiện năm
1941, erythromycin do Gurre phát hiện năm 1952… Cùng với việc phát hiện ra
CKS mới, công nghệ lên men sản xuất CKS cũng ra đời và dần được hoàn thiện Ngay từ những năm 1950, CKS đã được nghiên cứu sử dụng trong việc phòng chống bệnh, kích thích sự tăng trưởng của động vật nuôi và cây trồng CKS thu hút được sự quan tâm của các nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới
Tốc độ tìm kiếm các CKS trong thời gian gần đây vẵn diễn ra nhanh chóng, nhiều trung tâm nghiên cứu khoa học về y học, dược phẩm và nông nghiệp tại nhiều nước trên thế giới vẫn liên tục phát hiện được hàng loạt các CKS mới có giá trị ứng dụng trong thực tiễn
Năm 1999 một kháng sinh mới khác được phát hiện có tác dụng ngăn chặn hiện tượng cholesterol, tăng sức đề kháng đối với các chất độc của chuột, ngoài ra kháng sinh này còn có hoạt tính chống nấm gây bệnh mạnh Đó là kháng sinh
loposomal HA-92, được tách ra từ xạ khuẩn Streptomyces CDRLL - 321
Năm 2003, nhiều nước trên thế giới vẫn tiếp tục phát hiện được hàng loạt các
CKS mới Tại Nhật Bản, chất kháng sinh mới là yatakemycin được tách chiết từ xạ khuẩn Streptomyces sp TP – A0356 bằng phương pháp sắc kí cột CKS này có khả năng kìm hãm sự phát triển của nấm Aspergillus fumigalus và Candida albicans
Ngoài ra chất này còn có khả năng chống lại các tế bào ung thư với giá trị Mic là 0,01 – 0,3 mg/ml
Trang 27Năm 2007, tại Hàn Quốc đã phân lập được loài xạ khuẩn streptomyces sp C684
sinh CKS laidlomycin, chất này có thể tiêu diệt cả những tụ cầu đã kháng methicillin và các cầu khuẩn kháng vancomycin
Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của sinh học hiện đại cùng sự hỗ trợ của nhiều nghành khoa học khác đã giúp cho việc tìm kiếm và ứng dụng CKS đạt được những thành tựu rực rỡ Để sản xuất CKS con người không chỉ tìm kiếm những chủng VSV sinh CKS tự nhiên mà còn cải tạo chúng bằng nhiều phương pháp như dùng kỹ thuật di truyền và công nghệ gene, gây đột biến định hướng, chọn dòng gene sinh tổng hợp, tạo và dung hợp tế bào trần để tạo ra các chủng có HTKS cao, đồng thời nhằm mục đích tìm kiếm các loại kháng sinh mới và quý trong thời gian ngắn
Những thành tựu gần đây trong sinh học phân tử như tái tổ hợp ADN, kỹ thuật
tách dòng gene và biểu hiện tổng hợp ở vi khuẩn E.coli không những đem lại kết
quả to lớn trong phát triển chủng giống mà còn mở ra phương hướng đầy triển vọng trong sản xuất các CKS
1.3.2 Đặc tính chung của các chất kháng sinh
Chất kháng sinh do vi sinh vật sinh ra nên có đặc tính trước hết là chống vi
khuẩn Có loại kháng sinh được vi sinh vật tiết ra môi trường xung quanh như
Penicillin, Stretomycin, Tetracyclin, loại khác lại được tích lũy ở trong tế bào vi
sinh vật và chỉ được giải phóng ra sau khi phá vỡ tế bào Gramycidin, Prodigiozin
Các chất kháng sinh rất đa dạng về thành phần hóa học, chúng có thể có cấu tạo mạch vòng, dị vòng, vòng thơm, có thể là axit, kiềm, polypeptit Nghiên cứu bản chất hóa học của chất kháng sinh là rất cần thiết vì có thể hiểu rõ được cơ chế tác dụng của chất kháng sinh, biết được con đường tổng hợp chúng
Khi ở điều kiện phát triển tối ưu thì các chủng vi sinh vật tích lũy chất kháng sinh
là cực đại Như vậy, trong công nghiệp sản xuất chất kháng sinh, muốn tạo được nhiều sản phẩm thì phải tạo môi trường tối ưu
Trang 28Các chất kháng sinh khác nhau có tính chất lý hóa khác nhau, như: độ hòa tan trong dung môi, khả năng bền vững với axit, kiềm, nhiệt độ Nghiên cứu những tính chất này có ý nghĩa trong việc xác định được phương pháp tách chiết, cô đặc, tinh sạch các chất kháng sinh Độ hòa tan của các chất kháng sinh rất khác nhau trong các dung môi, có loại hòa tan tốt trong nước, trong cồn, trong dung môi lipit,
có loại chỉ hòa tan trong một số dung môi nhất định
Khả năng bền vững với nhiệt độ của các chất kháng sinh cũng rất khác nhau, có loại bị phân hủy nhanh ở nhiệt độ 60oC thậm chí 100oC vẫn không bị mất hoạt tính
như streptomycin, tetracyclin, chloramphenicol Tính chất này được ứng dụng
trong sản xuất các chất kháng sinh
Các chất kháng sinh hòa tan trong huyết thanh và trong dịch mô mà vẫn không
bị mất hoạt tính Đặc tính này của chất kháng sinh có ý nghĩa trong y học
Độc tố của chất kháng sinh đối với cơ thể bậc cao cũng rất khác nhau Đa số các chất kháng sinh từ vi sinh vật thì ngoài tính kháng khuẩn còn gây độc cho cơ thể
bậc cao Ví dụ: chloramphenicol dùng nhiều và lâu sẽ gây suy tủy, tetracyclin dùng
nhiều và lâu sẽ gây ảnh hưởng đến gan Một số chất kháng sinh khác có độ độc trung bình, cho nên chỉ được dùng để điều trị các vết thương tại chỗ
Một trong những đặc tính nổi bật của chất kháng sinh là có tác động chọn lọc đối với vi sinh vật Vì vậy không thể có chất kháng sinh nào có thể tác động lên tất cả các vi sinh vật
1.3.3 Cơ chế tác động của chất kháng sinh
Cơ chế tác động của chất kháng sinh là những cách thức mà chất kháng sinh tác
động lên các vị trí đích khác nhau trong tế bào qua đó ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của vi sinh vật Cơ chế tác động của chất kháng sinh phụ thuộc vào bản chất hóa học và nồng độ của chất kháng sinh Không thể có một cơ chế chung cho sự tác động của chất kháng sinh lên tế bào vi sinh vật Nhìn chung cơ chế tác động của chất kháng sinh được biểu hiện theo các hướng cơ bản sau:
Trang 29- Ức chế tổng hợp thành tế bào
Thành tế bào được cấu trúc chủ yếu bởi thành phần peptidoglycan (PG), có chức năng giữ hình dạng đặc trưng cho tế bào, bảo vệ cho tế bào khỏi vỡ dưới áp lực thẩm thấu cao ở bên trong tế bào PG là một đại phân tử cấu tạo bởi các chuỗi polisaccarit bao gồm các đơn phân là hai loại dẫn xuất của glucoza nằm xen kẽ nhau và lặp lại một cách liên tục (NAG – NAM) Để có thể sinh trưởng và phân chia, tế bào phải tổng hợp các đơn vị PG mới và vận chuyển nó tới đúng vị trí sinh trưởng của thành tế bào Phần lớn các tác nhân kháng khuẩn thông thường ddều hoạt động dựa trên sự ức chế quá trình hình thành liên kết chéo giữa các tetrapeptit
của tiểu phần NAM Nổi bật nhất giữa các chất này là các kháng sinh β-lactam mà đại diện là penixillin và cephalosporin Đây là các chất có vùng chức năng là các vòng β-lactam Các kháng sinh β-lactam ức chế sự hình thành PG mới bằng cách
gắn với transpeptidaza là enzym cần thiết cho sự hình thành liên kết chéo giữa các chuỗi PG, kìm hãm hoạt tính của enzym này và làm gián đoạn sự tổng hợp thành tế
bào của vi khuẩn Các penixillin không thấm qua được màng ngoài của vi khuẩn
Gr (-) nên hiệu quả chống các vi khuẩn này rất thấp Tuy nhiên các penixillin và
cephalosporin phổ rộng hoặc bán tổng hợp có thể vượt qua màng ngoài vi khuẩn
Gr (-)
Một số kháng sinh khác như vancomycin ức chế sự hình thành thành tế bào theo cách cản trở trực tiếp đến sự hình thành cầu D-alanin-D-alanin liên kết tiểu phần NAM của các vi khuẩn Gr (+)
- Phá hủy màng sinh chất
Thuộc nhóm này bao gồm có các kháng sinh: colistin, polymyxin, amphotericin
Các kháng sinh này phá hủy màng sinh chất bằng cách gắn với ergosterol hay cholesterol là thành phần của màng sinh chất, tạo nên các lỗ trên màng và làm thất thoát nội chất ra ngoài dẫn tới gây chết tế bào Màng sinh chất của hầu hết vi khuẩn không có sterol nên chúng có khả năng đề kháng với amphoterixin B Tuy
Trang 30nhiên chúng có thể bị phá hủy bởi polymixin Kháng sinh này gắn vào thành phần photpholipit màng, làm thay đổi cấu trúc màng, dẫn tới làm rò rỉ một số chất của tế bào
- Ức chế quá trình tổng hợp protein
Thuộc nhóm này có khoảng gần 70 chất kháng sinh đã được nghiên cứu Trong
số đó có: streptomycin, gentamycin, neomycin, các tetracyclin, cloramphenicol,
erythromycin, Các kháng sinh nhóm aminoglycoside gắn vào tiểu phần 30s của
ribosome làm biến dạng tiểu phần này và gây ra quá trình dịch mã không chính xác
dẫn đến tổng hợp nên những protein bất thường Các kháng sinh nhóm tetracyclin
gắn vào tiểu phần 30s ngăn cản sự gắn các axit amin vào chuỗi kéo polypeptit đang
được kéo dài Chloramphenicol gắn với tiểu phần 50s của ribosome ức chế enzym
peptidyltransferase, ngăn cản việc gắn kết các axit amin mới vào chuỗi peptit mới
Các kháng sinh nhóm macrolide gắn với tiểu phần 50s của ribosome, ngăn cản sự
dịch chuyển của ribosome từ codon này tới codo kế tiếp, kết quả là quá trình dịch
mã bị cản trở và sự tổng hợp protein bị dừng lại
- Ức chế tổng hợp axit nucleic
Axit nucleic (ADN, ARN) là các đại phân tử sinh học không thể thiếu đối với sự tổng hợp của tế bào Một số chất kháng sinh đã cản trở quá trình tổng hợp axit nucleic bằng cách ức chế sự tổng hợp nucleotit, ức chế sao chép hoặc dừng phiên
mã Do không thể tổng hợp vật chất di truyền nên các vi sinh vật gây bệnh không thể sinh sản và duy trì nòi giống được
Hiện nay người ta đã biết rõ khoảng 20 chất phá hủy trao đổi chất và ức chế tổng hợp ARN, 26 chất ức chế trao đổi hoặc tổng hợp ADN
- Ức chế trao đổi chất
Các chất kháng sinh theo cơ chế này có cấu trúc gần giống với các chất trao đổi
bình thường nên được coi là các chất kháng trao đổi Chúng sẽ cạnh tranh trung
Trang 31tâm hoạt động của enzym với các chất trao đổi bình thường làm cho sự sinh trưởng
và phát triển của vi sinh vật bị ức chế
Các kháng sinh thuộc nhóm này có: sunfonamit, trimethoprim có cơ chế hoạt
động như một chất kháng trao đổi Các chất kháng trao đổi có giá trị trong y học vì chúng chỉ có tác dụng ức chế lên tế bào vi sinh vật mà không có tác dụng lên tế bào người
1.3.4 Sự hình thành chất kháng sinh ở xạ khuẩn
Xạ khuẩn là nhóm sinh vật có khả năng sinh kháng sinh cao, 60-70% xạ khuẩn phân lập được từ đất có khả năng này Trong số 9000 chất kháng sinh đã được biết
đến trên thế giới thì trên 80% là do xạ khuẩn sinh ra Chi Streptomyces là chi quan
trọng nhất trong nhóm xạ khuẩn, với trên 500 loài đã được miêu tả Chi này có nhiều loài có khả năng sinh kháng sinh, một số kháng sinh rất quan trọng là
streptomycin do S griseus sinh ra Khả năng sinh kháng sinh là kết quả của quá
trình đối kháng giữa các vi sinh vật và thúc đẩy quá trình tiến hoá của xạ khuẩn Chất kháng sinh là chất trao đổi bậc 2, thông thường được hình thành ở cuối pha sinh trưởng, trong pha cân bằng Ở xạ khuẩn, sinh tổng hợp chất kháng sinh có quan hệ nghịch với sự hình thành bào tử Đó là điểm cần lưu ý trong khi nghiên cứu sinh tổng hợp kháng sinh từ xạ khuẩn
Đối với sinh tổng hợp chất kháng sinh ở xạ khuẩn, người ta thường mô tả hai pha: pha sinh trưởng (trophophase) khuẩn ty sơ cấp phát triển nhanh với nguyên sinh chất đồng nhất làm giảm nguồn cacbon, nitơ và pH; pha sinh tổng hợp (idiophase): sinh trưởng chậm lại đôi khi xuất hiện quá trình tự tan của khuẩn ty và sinh tổng hợp chất kháng sinh mạnh Cũng có tác giả chia sự phát triển của giống thành 4 hoặc 6 pha theo các đặc điểm sinh hoá tế bào Trong một số trường hợp quá trình sinh học này lại diễn ra mạnh mẽ trong pha sinh trưởng như trường hợp
của chủng xạ khuẩn Saccharothrix sp SA 103 phân lập từ Sahara của Algeria sinh kháng sinh mutactimycin PR (Anthracycline mới) Quá trình tương tự cũng đã thấy
Trang 32ở chủng Saccharothrix sp SA 233 sinh dithiolopyrrolone và chủng S clavuligerus
sinh axit clavulanic Mặc dù chất kháng sinh có cấu trúc khác nhau và vi sinh vật sinh ra nó cũng đa dạng nhưng quá trình sinh tổng hợp chúng dường như theo một
số con đường nhất định Các con đường này chỉ là sự cải biên các con đường sinh tổng hợp của tế bào Các vật liệu ban đầu của của qúa trình chuyển hoá chất trao đổi bậc hai (chất kháng sinh) là những chất trao đổi sơ cấp Chất kháng sinh được tổng hợp từ 1, 2 hoặc 3 chất trao đổi bậc nhất, hoặc có thể là trùng hợp các hợp chất bậc nhất rồi biến đổi chúng bằng các enzim Mọi con đường sinh tổng hợp chất kháng sinh đều có sự tham gia của các enzim hoặc hệ thống enzim đặc biệt Các enzym này được mã hoá bởi các gen nằm trong những cụm (cluster) trên
nhiễm sắc thể hoặc trên plasmit Ví dụ tổng hợp chlotetraxyclin ở S aureofaciens
có 3 hệ thống enzim (hay hệ thống gen) tham gia: hệ thống 1 với hơn 200 gen mã cho các enzim chuyển glucoza thành axetyl-CoA; hệ thống 2 chuyển axetyl-CoA
thành malonyl-CoA; hệ thống 3 chuyển malonyl CoA thành chlotetracyclin Tổng
số gen ở 3 hệ thống liên quan tới tổng hợp chlotetracyclin lên tới 2000 gen
Các chất kháng sinh từ xạ khuẩn rất phong phú và đa dạng, nguyên nhân là 1 loại kháng sinh có thể do nhiều loài vi sinh vật khác nhau tổng hợp ra, cũng có khi 1 loại vi sinh vật tạo ra nhiều loại kháng sinh khác nhau Ví dụ, có tới 27 chủng xạ
khuẩn khác nhau có thể tổng hợp được kháng sinh oxytetraxyclin, hay
Streptomyces rimosus cùng lúc có thể tổng hợp được oxytetracylin và rimicidin
Ngày nay số lượng chất kháng sinh được sản xuất từ xạ khuẩn tăng lên đáng kể, rất nhiều trong số đó đã được sản xuất ở quy mô thương mại, có ý nghĩa lớn trong y học và mang lại nhiều lợi nhuận
1.3.5 Các nhóm chất kháng sinh có nguồn gốc từ xạ khuẩn
Một trong những đặc điểm quan trọng nhất của xạ khuẩn là khả năng hình thành
chất kháng sinh.Trong số 8000 chất kháng sinh hiện biết trên thế giới, có hơn 80%
là có nguồn gốc từ xạ khuẩn Hầu hết các chất kháng sinh có nguồn gốc từ xạ
Trang 33khuẩn đều có phổ kháng rộng Trong số đó đã có rất nhiều chất đã và đang đƣợc sử dụng trong y học để điều trị các bệnh nhiễm trùng
Streptomycin: Đƣợc Waksman phát hiện ra từ năm 1943, có nguồn gốc từ xạ
khuẩn Streptomyces griseus, có khả năng chống các vi khuẩn Gr(-) khá mạnh
Streptomycin đƣợc sử dụng rất có hiệu quả để điều trị các bệnh dịch hạch, ho gà và
đặc biệt quan trọng hơn cả là dùng để chữa các bệnh lao
Neomycin: là chất kháng sinh có hoạt phổ rộng, đƣợc tách ra từ xạ khuẩn Streptomyces fradiae vào năm 1949, có tác dụng chống cả các vi khuẩn Gr (-) và
Gr (+) Đặc biệt là chống đƣợc nhiều loài vi khuẩn đã kháng lại với penixilin và
streptomycin
Gentamycin: Có nguồn gốc từ xạ khuẩn Micromonospora purpurea, có phổ
kháng sinh rộng, có tác dụng chống cả vi khuẩn Gr (+) nhƣ tụ cầu, phế cầu đã kháng lại penixilin và vi khuẩn Gr (-) nhƣ màng não cầu, lậu cầu Trong y học, chủ
yếu dùng để điều trị các bệnh do nhiễm Pseudomonas
Tetracyclin: Là các kháng sinh đƣợc tách chiết từ dịch nuôi cấy một số chủng xạ
khuẩn thuộc chi Streptomyces, các chất kháng sinh này có phổ kháng sinh rộng, chống đƣợc cả vi khuẩn Gram (-), Gr (+), ricketsia và một vài virut lớn Ngoài sử dụng trong y học, tetracyclin còn đƣợc trong chăn nuôi-thú y
Chloramphenicol: có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces venezuelae, đƣợc phát
hiện vào năm 1947, có hoạt tính chống lại đƣợc nhiều loài vi khuẩn Gr (+), Gr (-) Ngoài sử dụng trong y học, chất kháng sinh này còn đƣợc dùng trong chăn nuôi – thú y và thủy sản
Erythromycin: Có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces erythreus, là chất kháng
sinh có phổ rộng đối với các vi khuẩn Gr (+), đƣợc sử dụng nhiều nhất trong điều
trị bệnh viêm phổi do mycoplasma và viêm họng do liên cầu khuẩn
Trang 34Novobicin: Có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces spheroides và Streptomyces niveus, có hoạt tính mạnh đối với vi khuẩn Gr (+) Đặc biệt có khả năng chống các
tụ cầu đã kháng với penixilin và một số chất kháng sinh khác
Vancomycin: Có nguồn gốc từ xạ khuẩn Streptomyces orientaliss, được dùng để
điều trị các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn Gr (+), đặc biệt là các liên cầu, tụ cầu
và phế cầu
1.3.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh tổng hợp kháng sinh
Trong lên men sản xuất kháng sinh từ xạ khuẩn, các cơ chế như điều hoà cảm ứng, điều hoà ngược, điều hoà dị hoá sẽ được sử dụng hoặc loại bỏ bằng các biện pháp dinh dưỡng, công nghệ hoặc kỹ thuật di truyền Chủng lựa chọn cần phải phá
vỡ cân bằng môi trường để làm mất sự điều hoà cần thiết, do đó có thể tổng hợp sản phẩm đáp ứng yêu cầu kinh tế Những hiểu biết về thành phần môi trường lên men (nồng độ nguồn cacbon, nitơ, photphat vô cơ, các chất kích thích hoặc kìm hãm sinh tổng hợp chất kháng sinh) cũng như ảnh hưởng của các điều kiện nuôi cấy khác (như pH, nhiệt độ, độ thông khí, đặc điểm của chủng giống) có ý nghĩa to lớn trong điều khiển quá trình lên men nhằm duy trì trạng thái hoạt động và có thể kéo dài pha sinh tổng hợp của chủng sản Ví dụ bổ sung chất dinh dưỡng nhắc lại hoặc điều chỉnh pH bằng CaCO3 sẽ nâng hiệu suất sinh kháng sinh lên 20-30%; bổ
sung thioxianat vào môi trường lên men S aureofaciens cũng làm tăng tổng hợp
chlotetraxyclin, trong khi bổ sung xanh bromothymol lại cho tác dụng ngược lại
1.3.6.1 Thành phần môi trường
- Ảnh hưởng của nguồn cacbon
Nguồn cacbon có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình sinh trưởng cũng như sinh
tổng hợp chất kháng sinh của chủng S orientalis do nguồn cacbon không những
tham gia vào cấu tạo thành tế bào mà còn tham gia quá trình hình thành lên cấu trúc của sản phẩm
Trang 35Nguồn cacbon thường sử dụng là các nguồn đường đơn như glucoza, fructoza…, các loại đường kép như maltoza, saccaroza…, ngoài ra có thể sử dụng tinh bột, rỉ đường Đối với tinh bột chủng có khả năng sử dụng để tạo ra chất kháng sinh bởi khả năng sinh enzym amylaza thuỷ phân tinh bột sử dụng vào quá trình tổng hợp chất kháng sinh, với nguồn cacbon là glucoza thì cho hoạt tính chất kháng sinh thấp do ảnh hưởng của quá trình ức chế ngược đồng thời glucoza chỉ được sử dụng vào quá trình tăng trưởng Với nguồn cacbon là saccaroza cho hoạt tính tốt nhất
- Ảnh hưởng của nguồn nitơ
Quá trình sinh tổng hợp chất kháng sinh từ xạ khuẩn đòi hỏi cung cấp đầy đủ nguồn nitơ vô cơ và nitơ hữu cơ Nguồn nitơ hữu cơ thích hợp thường sử dụng là cao nấm men, cao thịt, pepton, bột đậu tương,…, còn nguồn nitơ vô cơ thường sử dụng là các muối amon, muối nitrat Trong đó nguồn nitơ vô cơ cho khả năng sinh chất kháng sinh không cao, còn nguồn nitơ hữu cơ có ảnh hưởng tốt đến khả năng sinh tổng hợp chất kháng sinh do nó cung cấp các nguồn axit amin quan trọng dễ dàng đi vào chu trình tổng hợp để hình thành lên mạch heptapeptid
- Ảnh hưởng của nguồn photphat vô cơ
Photphat vô cơ đóng vai trò như là tác nhân điều chỉnh sinh tổng hợp CKS Nồng độ photphat thích hợp cho sinh tổng hợp CKS thường không vượt quá 10mg/ml Nồng độ photphat ban đầu cao sẽ làm tăng lượng axit nucleic dẫn đến kéo dài pha sinh trưởng, rút ngắn pha tổng hợp, làm tăng ATP trong tế bào, dẫn đến giảm hoặc ngừng hẳn sinh tổng hợp CKS
- Ảnh hưởng của các yếu tố vi lượng
Đây là thành phần không thể thiếu trong môi trường lên men Nếu môi trường lên men dinh dưỡng tự nhiên thì hầu hết các nguyên tố vi lượng đã có sẵn Việc bổ sung các chất giàu nguyên tố vi lượng vào môi trường sẽ làm thay đổi đáng kể khả
năng tổng hợp CKS của nhiều chủng xạ khuẩn
1.3.6.2 Điều kiện nuôi cấy